Thứ Năm, 1 tháng 7, 2021

Quán cà phê Lưng Chừng Đà Lạt đẹp tựa thước phim cổ tích

Quán cà phê Lưng Chừng Đà Lạt
đẹp tựa thước phim cổ tích

Quán cà phê Lưng Chừng nằm giữa lưng chừng đồi thông xanh ngát, mang vẻ đẹp cô đơn và lãng mạn, dành cho những trái tim thích sự bình yên.

Dạo Đà Lạt, dừng chân ở quán cà phê Lưng Chừng
Không biết tự bao giờ, Đà Lạt trở thành “liều thuốc” cho những trái tim cô đơn, những tâm hồn mềm yếu. Ừ thì ai cũng đi Đà Lạt được. Ừ thì dịp nào người ta cũng có thể check in thành phố mộng mơ. Riêng những tâm hồn trẻ vẫn còn đầy chênh vênh, hễ khi thấy mệt mỏi lại muốn đến Đà Lạt.
Quán cà phê Lưng Chừng - điểm hẹn 
thanh xuân của nhiều người trẻ.
Rất nhiều người du lịch thành phố Đà Lạt không phải vì để sống ảo, không phải vì để ăn hết mấy món ngon hay cuộn mình trong chăn ngủ nướng. Nhiều người trẻ muốn đến đây chỉ để tìm cho mình góc nhỏ thật bình an, hòa vào cái không khí lãng đãng mơ màng của rừng thông mà vỗ về những vết xước trong tâm hồn.
Thành phố của thông reo mang vẻ đẹp đượm buồn.
Thành phố ngàn hoa tuy không quá lớn nhưng đủ để ôm ấp những người trẻ mộng mơ. Nơi đây luôn thừa những địa điểm đẹp để bạn ngồi hàng giờ, ngắm nhìn bức tranh thiên nhiên dịu dàng mà tạo hóa ban tặng cho nơi này. Cứ thử đi Đà Lạt đi, bạn sẽ tìm thấy nhiều quán cà phê xinh xinh, nhiều góc nhỏ dễ thương cho riêng mình.
Quán cà phê Lưng Chừng nằm giữa lưng chừng đồi thông.
Không biết đã có bao nhiêu quán cà phê đẹp ở Đà Lạt được giới thiệu trên nhiều cộng đồng du lịch. Thế nhưng chẳng bao giờ là đủ. Vì lâu lâu, thành phố này lại lộ diện một tọa độ mới. Gần đây, người trẻ khắp nơi lại được dịp xuyến xao trước vẻ đẹp của quán cà phê Lưng Chừng.
Quán cà phê nằm cách trung tâm thành phố khoảng 4 km.
Được biết, Lưng Chừng cà phê nằm ẩn mình giữa một thung lũng nhỏ, chung quanh là những hàng thông xanh rì. Địa chỉ chính xác của quán là Hẻm 31/8, Đường 3/4, phường 3, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Từ trung tâm thành phố đến đây gần 4km. Bạn chỉ cần đi theo hướng Quốc lộ 20, rẽ vào hẻm 31 rồi đi thêm một đoạn là đến.
Khoảng sân đầy nắng của Lưng Chừng cà phê.
Dù không quá xa trung tâm nhưng đường xuống quán tương đối khó đi. Nếu đi xe máy, bạn lái xe cẩn thận. Còn nếu chưa có kinh nghiệm với những con đường đèo dốc Đà Lạt, bạn có thể đi Grap để được đưa đến tận nơi.
Lưng Chừng là một trong những điểm đến lãng mạn ở Đà Lạt dành riêng cho những tâm hồn yêu thích sự an yên, mơ mộng. Với địa thế nằm giữa rừng thông xanh, tách biệt hẳn phố xá, nơi đây lý tưởng để bạn có những giây phút “trốn tránh” cuộc đời. Hoặc đơn giản là chụp một bộ ảnh đẹp. 
Quán nhỏ bình yên, nép mình giữa rừng thông xanh mướt.
Phong cách của Lưng Chừng cà phê có lẽ không mới lạ hay độc đáo giữa thành phố sương mù đã có hàng trăm quán lớn nhỏ. Thế nhưng một lần đến đây rồi, bạn sẽ đem lòng thương nhớ. Bởi lẽ thiết kế và cách bày trí của quán gần như hòa hợp tuyệt đối với cảnh sắc rừng thông.
Lưng Chừng cà phê có tầm nhìn trực diện ra rừng thông xanh.
Quán cà phê Lưng Chừng được thiết kế theo kiểu vintage mộc mạc, nhẹ nhàng. Chất liệu chủ yếu của quán là gỗ, toát lên màu sắc cổ điển như nhiều thập kỷ trước. Chính cái chất thô mộc, đơn sơ ấy điểm tô cho cảnh sắc nơi đây thêm phần lãng đãng. Để rồi chỉ cần ghé quán một lần, bạn sẽ mang về vô vàn ảnh đẹp.
Nơi đây thích hợp để tìm khoảng lặng bình yên.
Từ trên cao nhìn xuống, bạn sẽ thấy một ngôi nhà gỗ thấp thoáng giữa một đồi thông xanh bạt ngàn. Con đường dẫn vào quán uốn lượn cong cong, nhỏ như sợi chỉ. Ba bên bốn phía đều là thông, ẩn hiện giữa làn sương mờ đặc trưng của phố núi cao nguyên.
Góc nào cũng thích hợp để sống ảo.
Có lẽ vì nằm ở một nơi cô đơn nên vẻ đẹp của quán cũng có phần cô đơn, trầm tư và tĩnh lặng. Đến đây, bạn sẽ tìm được sự bình yên trong căn nhà gỗ nhỏ, nghe được mùi cà phê thơm và cả mùi hương đặc trưng của gió, của lá rừng. Làm gì còn tiếng còi xe, làm gì còn tiếng phố xá ồn ào. Tất cả chỉ còn lại tiếng thông reo, tiếng gió rít.
Không gian thật đẹp để bạn chụp ảnh, ngắm cảnh đẹp rừng thông.
Quán cà phê Lưng Chừng là hiện thân cho giấc mơ của rất rất nhiều người trẻ. Đó là ngôi nhà gỗ nhỏ hai tầng, xung quanh có vườn hoa, xa xa là cảnh sắc thiên nhiên trong lành, êm ả của Đà Lạt. Cứ hễ thấy chán đời mà đến đây thì bao nhiêu u buồn, mệt mỏi cũng dần tan biến.
Quán cà phê Lưng Chừng được thiết kế theo kiểu vintage nhẹ nhàng.
Ngôi nhà với chất liệu chủ đạo là gỗ, có khuôn viên bàn ghế bên trong và bên ngoài cho khách ngồi. Những bộ ghế gỗ, những ô cửa lá sách được sắp xếp gọn gàng, thể hiện được không gian thô mộc, đơn giản. Bên trong có kệ sách, có những chậu cây xinh xinh giúp tăng thêm vẻ đẹp thơ mộng.
Bình yên ở đây chứ có ở đâu xa.
Điểm nhấn của quán cà phê Lưng Chừng là ô cửa sổ hình vòm mang một nét đẹp như kiến trúc châu Âu. Từ trong nhà nhìn ra, bạn sẽ thấy hình ảnh rừng thông hiện lên thật trong trẻo, bình yên. Đây cũng là góc check in đẹp, được nhiều bạn trẻ yêu thích khi ghé đây.
“Một ngày buồn, mang nỗi nhớ ra hong khô”.
Ở khuôn viên bên ngoài, bạn sẽ bắt gặp một khoảng sân rộng trồng những khóm họa mi trắng tinh khôi. Bất kể ngày mưa hay ngày nắng, hoa vẫn khoe sắc dịu dàng như lan tỏa niềm vui nhỏ bé đến những vị khách ghé thăm quán. Nếu bạn muốn tìm một góc nhỏ để sống ảo thì đây đích thực là nơi không thể bỏ qua.
Mưa tí tách bên hiên nhà, vẽ nên một 
khung cảnh lãng mạn trầm buồn cho Đà Lạt.
Lưng Chừng là một quán cà phê đẹp ở thành sương mù. Vẻ đẹp ấy không đến từ sự hào nhoáng của kiến trúc hay nội thất. Mà đó là vẻ đẹp dịu dàng của phong cách vintage, hòa quyện trọn vẹn với bức tranh rừng thông chung quanh. Đó là nét đẹp của sự bình yên, dễ chịu mà ai cũng thích khi đến Đà Lạt.
Đến Đà Lạt, bạn đừng quên đi thăm Lưng Chừng cà phê.
Dù là quán cà phê nhưng hẳn sẽ có nhiều người đến đây không phải vì để uống một món nước nào đó. Nhiều người sẽ tìm đến quán để ngắm cảnh, để chill hoặc đơn thuần là chụp vài bức ảnh lãng mạn cùng người ấy. Dù bạn đến Lưng Chừng để làm gì thì đừng quên thời gian mở cửa của quán là 8 giờ sáng đến 18 giờ chiều.
Góc nhỏ sống ảo được nhiều người 
yêu thích ở quán cà phê Lưng Chừng.
Theo kinh nghiệm du lịch Đà Lạt của nhiều bạn trẻ, để có ảnh check in đẹp ở những quán cà phê view đẹp thế này, bạn nên đến vào những ngày giữa tuần hoặc những thời điểm vắng khách. Đừng quên chọn trang phục nhẹ nhàng, vintage một chút để hài hòa với cảnh vật nơi đây. 
Lưng Chừng cà phê tách biệt phố xá, 
dành cho tâm hồn yêu thích sự bình an.
Thành phố Đà Lạt có mùa đông khách, có mùa vắng khách nhưng mùa nào cũng đẹp. Và một trong những vẻ đẹp đặc trưng nhất của nơi đây chính là các quán cà phê. Nếu một ngày bạn muốn tìm nơi thật thơ, thật vintage để ghé thăm thì Lưng Chừng cà phê là một tọa độ rất đáng cân nhắc.
Cuối tuần 'reset' bản thân bằng chuyến dã ngoại bên đồi thông Gia Lai
Với những ai yêu vẻ đẹp lãng mạn, thích hít hà không khí trong trẻo của thiên nhiên thì hẳn nhiên không thể bỏ qua đồi thông Gia Lai. Nơi sở hữu những cung đường đẹp nên thơ và chuyến đi dã ngoại nhiều lý thú.
Bức tranh cao nguyên đại ngàn Gia Lai luôn quyến rũ du khách bởi sở hữu những thác nước hùng vĩ, núi đồi bao la và bản sắc văn hóa Tây Nguyên đặc sắc. Thế nhưng, có những điểm đến khiến người ta phải si mê bởi vẻ đẹp trong trẻo, nên thơ với những con đường lợp bóng hàng thông cao xanh ngút ngàn đó chính là đồi thông Gia Lai - một điểm đến lãng mạn mà nhất định bạn nên ghé thăm khi về nơi đây.
Khung cảnh nên thơ của đồi thông
Giới thiệu về đồi thông Gia Lai
Đồi thông Gia Lai được nhiều du khách liên tưởng đến như là một phiên bản thu nhỏ của đồi thông Đà Lạt. Những cây thông nơi đây có tuổi đời rất lâu năm và được nối tiếp nhau thành một hàng dài xa tít tắp tạo nên những cung đường lãng mạn, yêu kiều.
Đến Gia Lai và dành trọn một ngày để chinh phục đồi thông bạn sẽ bắt gặp được những thác nước cuộn trào tung bọt trắng xóa. Hay bắt gặp những cung đường đồi uốn lượn quanh co với hai bên lợp bóng hàng thông xanh cao vời vợi hòa cùng với bầu trời trong xanh tạo nên khung cảnh tuyệt đẹp. Và đó cũng chính là background xị sò để bạn tha hồ check-in sống ảo. Nếu đi cùng chúng bạn thân thì hãy tổ chức chuyến dã ngoại, cắm trại vui vẻ nhé bạn.
Thời điểm đẹp nhất để khám phá đồi thông Gia Lai
Khí hậu tại Gia Lai phân chia ra làm hai mùa rõ rệt:
Mùa mưa: bắt đầu từ tháng 5 - tháng 10 dương lịch
Mùa khô: bắt đầu từ tháng 11 - tháng 4 năm sau.
Nhưng địa hình di chuyển đến Gia Lai sở hữu những con đường đèo uốn lượn, quanh co thế nên khi đi tham quan đồi thông Gia Lai thì bạn nên lựa chọn mùa khô để đi. Nếu đi vào mùa mưa, đường trơn trượt sẽ khiến bạn khó đi. Hơn nữa, sẽ không tham gia được chuyến cắm trại, hay tiệc ngoài trời bên trong rừng thông.
Và nếu bạn ghé thăm đồi thông Gia Lai vào thời gian từ tháng 11, tháng 12 thì bạn sẽ được chiêm ngưỡng bức tranh mùa vàng nơi đây óng ánh hay những con đường ngợp sắc vàng tươi mà những bông hoa dã quỳ nở bung. Cũng đi trong thời gian này, bạn còn được trải nghiệm và khám phá những lễ hội đặc sắc nơi đây như: lễ hội cồng chiêng, lễ hội mừng lúa mới, lễ hội cúng làng...
Thời điểm đẹp nhất để khám phá đồi thông ở Gia Lai
Tham quan hai đồi thông Gia Lai với vẻ đẹp lãng mạn
Đồi thông La Dêr
Địa chỉ: Thuộc địa phận xã La Dêr - Huyện La Grai - Tỉnh Gia Lai
Giờ mở cửa: Cả ngày
Giá vé: Free
Di chuyển: Cách trung tâm thành phố Gia Lai tầm khoảng 6km về phía Đông. Muốn đến được đồi thông La Dêr tự trung tâm thành phố bạn di chuyển theo hướng đông đến đường Nguyễn Tất Thành tầm độ 2km thì quẹo sang trái tại Gia Lai Electricity Co. Sau đó vào đường Phan Đình Phùng rồi đi thẳng tầm khoảng 3,2km rồi rẽ chếch sang bên phải tầm khoảng 450m thì sẽ thấy đồi thông La Dêr.
Đồi thông La Dêr
Đồi thông La Dêr sở hữu một khung cảnh nên thơ với bầu không khí trong trẻo, mát rượi. Lạc bước vào rừng thông này, bạn sẽ thấy được những cây thông cao xanh tít mít tận trời cao phủ xanh cả một ngọn đồi. Đưa mắt nhìn lên, bạn sẽ thấy những tán lá thông đang dàn trải đều xung quanh bốn hướng trên nền trời cao trong vắt. Nhìn giống như là một bức tranh sơn dầu đẹp kỳ vĩ. Vào những ngày nắng đẹp, những tia nắng mặt trời chiếu thẳng xuống mặt đất, xuyên qua những tán lá thông tạo lên một dải màu vàng mượt mà, lung linh. Lúc này, chỉ cần đưa máy ảnh lên, chụp vài pic ảnh là bạn sẽ sở hữu những tấm hình với backgourd cực kỳ chất lượng, đỉnh cao nghệ thuật.
Chuyến dã ngoại vui vẻ với tiệc ngoài trời
Và nếu đi cùng hội bạn thân, thì chúng mình có thể dựng lều và tổ chức một buổi party nho nhỏ bên trong đồi thông Gia Lai cũng hết sức lãng mạn và đầy kỷ niệm. Bởi không khí mát mẻ được phủ che bởi nhiều lớp tán lá thông, kèm theo cảnh sắc thiên nhiên tươi xanh sẽ khiến chuyến đi dã ngoại thêm phần sôi động với màn trình diễn như: ca hát, nhảy múa, trò chuyện... Chính những điều đó sẽ xua tan đi mọi mệt mỏi, áp lực cuộc sống ngoài kia và thiết lập một nguồn năng lượng tươi trẻ, nhiệt huyết cho bạn đấy nhé.
Đồi thông Hà Tam
Địa chỉ: xã Hà Tam - huyện Đăk Pơ - Tỉnh Gia Lai
Giờ mở cửa: Cả ngày
Giá vé: Miễn phí
Là một trong những đồi thông đẹp ở Gia Lai, đồi thông Hà Tam cũng là điểm đến được nhiều bạn trẻ yêu thích khi đến Gia Lai. Đồi thông Hà Tam thuộc xã Hà Tam, huyện Đăk Pơ cách quốc lộ 19 tầm khoảng 5km. Đồi thông nằm ở độ cao trung bình khoảng 1150m so với mực nước biển. Và nhiều người ví đồi thông Hà Tam giống phiên bản nhỏ của rừng thông Đà Lạt thơ mộng và quyến rũ.
Đồi thông Hà Tam
Đặc biệt trên quãng đường di chuyển lên đỉnh đồi thông Hà Tam, bạn sẽ bắt gặp một dòng thác chảy cuồn cuộn từ trên đỉnh xuống, tung những dải bọt trắng xóa nhìn rất hùng vĩ với dòng nước mát rười rượi. Đây chính là điểm khác biệt, hiếu kỳ và gây sự hứng thú cho du khách khi đặt chân đến đồi thông này.
Con đường giống phiên bản Hàn Quốc
Bên cạnh đó, đồi thông Hà Tam còn xuất hiện con đường cực đẹp như là những con đường phiên bản Hàn Quốc mộng mơ mà khi ai đến đây rồi cũng phải check-in vài kiểu ảnh sống ảo.
Đến đồi thông Gia Lai lưu ý những điều gì?
Trước khi làm chuyến tham quan đồi thông Gia Lai, bạn nên chú ý đến một số những điều sau:
Hãy tìm hiểu thời tiết thật kỹ trước khi đi. Vì nếu đi vào thời điểm xuất hiện mưa bạn sẽ không được thưởng thức trọn vẹn vẻ đẹp mộng mơ của đồi thông Gia Lai.
Hãy chuẩn bị những bộ trang phục thật đẹp, và nhớ trang bị thêm máy ảnh xịn xò để có những bức hình sống ảo mộng mơ ở nơi đây nhé.
Hãy giữ và bảo vệ môi trường, không vất rác bừa bãi để bảo vệ cảnh quan thiên nhiên.
Khi mua đồ ăn thức uống hãy tham khảo giá thật kỹ, tránh bị chặt chém nhé.
Với một điểm đến lãng mạn, đẹp nức nở khi có sự xuất hiện của những con đường lợp bóng hàng thông thì hẳn nhiên đồi thông Gia Lai là điểm đến mà bạn nên ghé thăm. Chắc chắn, khi đến đây rồi ngoài được thả mình giữa thiên nhiên bao la, rộng lớn. Chắc chắn, bạn sẽ có chuyến cắm trại, dã ngoại lý thú cực chill bên bạn bè ngay trong rừng thông của cao nguyên đại ngàn đấy nhé!.
1/7/2021
Ngọc Anh
Theo https://vietgiaitri.com/

Sự nhất thể của Thiền lạc và thi hứng hay tiếng hoan hỷ của tâm không - luận về ba bài thơ cảnh chiều tà của Trần Nhân Tông

Sự nhất thể của Thiền lạc và thi hứng hay 
tiếng hoan hỷ của tâm không - luận về ba bài thơ 
cảnh chiều tà của Trần Nhân Tông

Trong số trên 30 bài thơ mà Trần Nhân Tông để lại, có ba bài thơ nói về cảnh chiều tà. Đó là các bài Vũ Lâm thu vãn; Lạng châu vãn cảnh; và Thiên trường vãn vọng. Đọc kỹ các bài này thấy chúng có những điểm chung lý thú và hợp lại, chúng tạo nên một phần của phong cách và thế giới thẩm mỹ thơ Trần Nhân Tông. Ba bài thơ về cảnh chiều tà này giúp ta có thể thấy được đôi điều về thiền và thi của Trần Nhân Tông. Việc cần thiết đầu tiên là đọc và lý giải về từng bài một. Ba bài này không rõ bài nào viết trước, bài nào viết sau, do đó người viết tùy tiện sắp đặt thứ tự của chúng.
Bài thứ nhất
Vũ Lâm thu vãn
武林秋晚 [2] 
畫橋倒影蘸溪橫,
一抹斜陽水外明。
寂寂千山紅葉落,
濕雲如梦鐘聲 [3]。
Phiên âm:
Họa kiều đảo ảnh trạm khê hoành,
Nhất mạt  tà dương thủy ngoại minh.
Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc,
Thấp vân như mộng viễn chung thanh.
Dịch nghĩa:
(Cầu hoa bóng ngược vắt qua suối,
Ánh chiều tà hắt sáng trên mặt nước.
Lá vàng rơi  khắp nghìn núi tĩnh tịch,
Mây ướt  như mộng, tiếng chuông chùa xa vẳng lại)
Tiết thu, cảnh chiều, ánh  tà dương, lá thu vàng rơi, núi non trùng điệp tịch mịch và tiếng chuông chùa xa văng vẳng, một bức tranh rất thanh đạm, u tịnh về vùng non nước Ninh Bình dệt bằng ngôn từ của thi ca. Cảnh núi chiều rất sống động, sinh sắc, rất sáng, lấp lánh, đầy màu sắc và âm thanh, hình khối.
Điểm nhấn của bức tranh là cây cầu và bóng cầu đổ ngược xuống dòng suối tạo thành một cặp hư - thực, vật - ảnh. Không gian vô tận trải dài theo ngàn núi non tịch mịch. Màu lá thu vàng và màu mây bạc làm nền cho tất cả. Có ánh sáng hắt xuống nước mà khúc xạ đi xa. Những hình khối của mây nặng nước sà thấp ôm lượn lấy cảnh vật khiến cảnh nửa chân thực nửa hư ảo. Những âm thanh duy nhất cho thấy một cõi đời thực là tiếng chuông. Nó gần gũi mà cũng không khoát hư linh. Nó là âm thanh của cuộc sống mà cũng không gợi gì nhiều về cuộc sống xã hội. Nó lay động tâm nhàn bản thể và sự gọi vẫy về một miền thanh tịnh hơn là cõi đời. Từng cảnh, từng tượng, từng sắc màu và âm thanh, thảy đều đặc tả được cái tĩnh tịch, cổ kính, thanh u. Cái động và cái tĩnh tương sinh tương thành. Việc chọn cảnh, họa diện và điểm nhãn rất hài hòa tạo thành bức tranh sơn thủy thật đẹp. Không có ngôn từ nào mô tả tỷ mỷ, trực diện, nhưng có thể thấy ẩn thấp thoáng sau những cây cổ thụ trong thu vàng là ngôi chùa cổ kính, mà ở đó tiếng chuông chiều đã phát ra. Có một không gian thôn dã, sơn thủy, nhưng cũng là không gian tu hành thờ phụng, không gian tâm linh được mô tả ở tầng trắc diện nhưng lại sâu và ẩn.
Một chiều thu cụ thể ở vùng núi non cụ thể, nhưng cũng như một thứ thu của tự nhiên không bị cá thể hóa của bất kỳ tâm trạng nào. Một thứ thu tự nhiên vĩnh hằng.
Ta cảm nhận tiếp bài thơ thu vãn tiếp theo
Bài thứ hai
Lạng châu vãn cảnh
諒州
古寺淒涼秋靄外,
漁船蕭瑟暮鐘初。
水明山靜白鷗過,
風定雲閒紅樹疏。
Phiên âm:
Cổ tự thê lương thu ái ngoại,
Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ.
Thủy minh sơn tĩnh bạch âu quá,
Phong định vân nhàn hồng thụ sơ.
Dịch nghĩa:
(Chùa cổ vắng vẻ lạnh lẽo [4] trong khí mây mùa thu,
Thuyền câu cô quạnh tiếng chuông chiều vừa dóng.
Nước trong sáng, núi thanh tĩnh, chim trắng bay qua,
Gió lặng, mây thong dong, cây thu lá vàng thưa)
Thêm một bức tranh thu thật đẹp. Một bức tranh về ngôi chùa cổ hư ảo tịch mịch trong bóng thu. Cảnh tĩnh tịch được đăng đối sắp đặt giăng ra toàn thể. Cổ tự thê lương/ ngư thuyền tiêu sắt; sơn tĩnh/ vân nhàn…Bức tranh không dùng một điểm nhấn mạnh bằng một vật cụ thể như nhịp cầu đổ bóng trong bài trên. Hình khối trọng tâm lớn hơn với cả một ngôi chùa cổ chiếm phần lớn không gian. Tác giả cũng dùng phép mô tả trắc diện, không tả cụ thể hơn về ngôi chùa, không nói tới cảnh trong chùa, tới đời sống sư sãi, chuông mõ khói hương, kinh kệ. Người ta cảm nhận một cách toàn thể về ngôi chùa hơn là chi tiết của nó. Cả bài thơ với cái nền hư ảo ấy, ta cảm được theo lối trực cảm một cái tĩnh rất sâu đang diễn ra bên trong ngôi chùa cổ này. Có cái gì đó từ bản tâm thanh tịnh kết ra thành câu chữ, họa ra thành vật. Tác giả đã dùng những từ ngữ tạo ấn tượng Thiền rất mạnh như “minh”, “tĩnh”, “định” “nhàn”, (trong “thủy minh, sơn tĩnh, phong định, vân nhàn”). Cả bốn chữ đó thực chất cũng là một chữ định. Có thể coi chúng đều là những Thiền ngữ. Đọc qua những từ ấy rồi thì không còn phân biệt được đó là đang nói về cảnh hay nói về tâm. Bài trước là sự hài hòa giữa động và tĩnh, gần và xa, nó là cái tĩnh không khoát bàng  bạc, còn bài sau có dụng ý tả cái tĩnh sâu có tính bản thể. Hình tượng chùa cổ bản thân nó đã gợi ra cái tĩnh. Nhiệt độ thấp vừa đủ để tạo cảm giác về sự cô quạnh và sự thanh vắng bóng người được gợi ra bởi hai chữ “thê lương”. Con thuyền câu tịch vắng hoạt động của chính nó, không người, không cá, không câu. Không có âm thanh của cuộc đời, của thế nhân. Con thuyền là vật duy nhất gợi tới cuộc sống con người, nhưng nó không còn là chính nó theo sự định danh, nó cũng như cỏ cây, cũng như một vật tự nhiên, hay nói cách khác là nó đã tự nhiên hóa. Có một hoạt động, cánh chim bay qua bầu trời. Nhưng “âu quá” động mà cũng không động, nó chỉ nói thêm lên rằng bầu trời rất tĩnh. Gió cũng là một loại động, nhưng nó chỉ được nhắc tới khi chủ thể cảm thấy rằng nó đã “định” rồi, tức rất tĩnh. Còn mây trôi, nó trôi theo cách “nhàn trôi”. Những lá vàng còn thưa thớt trên cây, những cây vì không còn nhiều lá nên trở thành thưa ra. Ở đây không có một chữ “lạc” (rụng) nhưng vẫn thấy đầy đủ ý nghĩa của nó ở những lá vàng thưa còn lại. Chỉ có tiếng chuông là thực sự động, nó động nhất trong bức tranh, nhưng lại là một loại tiếng động đặc biệt, tiếng động này còn có thể lay dậy cả những miền tĩnh khác sâu xa hơn từ trong tâm con người, nó hóa giải đi những vọng động khác nếu còn đâu đó trong tâm. Nó là tác nhân đủ đề thăng bằng giữa chiều hướng ngoại xa viễn và chiều thẳm của nội tâm. Tất cả đều tĩnh, các hình tượng động cũng để nói rằng cái tĩnh là rất tĩnh mà thôi. Với tiếng chuông từ bên trong vọng ra, mọi thứ cảnh tượng, ý tượng trở nên đầy đủ, nhiều tầng nhiều lớp, có cảm từ ngoài vào, vọng từ trong ra, cao lên có cổ thụ, cao nữa có mây nhàn trôi, chim từ từ qua, thấp dưới có con thuyền, dòng nước. Cái hư linh tĩnh tịch đạt đến toàn thể, thấu triệt. Tất thảy toát lên một tâm nhàn thanh thản.
Cả hai bài về thu đều có những hình tượng và màu sắc âm thanh khá gần nhau. Hình tượng và âm thanh gần với đời sống tu Thiền mà xa với cảnh đời. Chúng đều rất sống động, nhưng lại bình đạm thanh thoát. Chủ thể và khách thể thành một khối, nhất như và nhất như trong cái tĩnh. Cũng nói về cảnh thu vàng có sơn có thủy, có  lá cây thu và không gian hư ảo man mác, nhưng nó không có cái buồn của người được thấu vào cảnh, cũng không có một chủ thể tình cảm trội lên bình diện thứ nhất.
Chúng ta có thể so sánh với một bài thơ về mùa thu vàng của Nguyễn Trãi, bài Vãn lập
Trường thiên mạc mạc thủy du du,
Hoàng lạc sơn hà thuộc mộ thu.
Tiển sát hoa  biên song bạch điểu,
Nhân gian lụy bất đáo Thương châu.
(Bao la trời rộng nước mênh mang,
Lá vàng rụng phủ khắp non sông vào tiết cuối thu.
Quá thèm được như đôi chim trắng  bên hoa,
Vì lụy nhân gian mà không thể tới bến bờ ẩn dật)
Nguyễn Trãi cũng có những bài thơ mà chất Thiền đạt tới độ tiêu  biểu, nhưng với bài Vãn lập trên, tiết thu vàng đẹp nhưng buồn. Một người đứng trên cao độ phóng tầm nhìn ra xa vút thăm thẳm. Nỗi buồn của một hùng tâm tráng chí nhưng đường hành đạo chẳng còn thênh thang. Con người giằng xé giữa những ràng buộc của tinh thần tự nhiệm việc thế gian với sự vẫy gọi của miền ẩn dật. Một tiếng thở dài không thể kìm nét ở cuối bài. Tình cảm và vóc dáng của thi nhân hiện hữu ở từng lời, từng hình tượng.
Những bài thơ về thu vàng của Trần Nhân Tông không có nỗi buồn chia ly, không có cái nhớ nhung của người xa xứ, không có khách cảm bâng khuâng, không có cái nuối tiếc trước thời gian vô tình, không chạnh buồn khi gặp màu tàn úa, lại càng không có cái vui hội ngộ, cái hồ hởi của trở về. Nhân cảnh thanh tĩnh khế hợp ở nơi ngoại cảnh u tịch, siêu xuất nội ngoại, trước sau.
Bài thứ ba
Thiên Trường vãn vọng
天長
村後村前淡似煙,
半無半有夕陽邊。
牧童笛裡歸牛盡,
白鷺雙雙飛下田
Phiên âm:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lý quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Dịch nghĩa:
(Trước thôn, sau thôn mờ ảo như khói sương,
Nửa có nửa không trong ánh chiều tà.
Trong tiếng sáo mục đồng trâu về hết,
Hai hàng cò trắng sà xuống đồng)
Hai bài thơ dẫn ở trước thể hiện cảnh chiều thu. Thiên Trường vãn vọng không thể hiện rõ mùa của thời gian, có thể là buổi chiều hè, nhưng cũng có thể là một chiều thu. Chiều thu thì có vẻ thích hợp hơn với không gian bình đạm hư ảo được mô tả trong hai câu thơ đầu. Không gian của buổi chiều được mô tả là vùng Thiên Trường (thuộc tỉnh Nam Định), chốn đồng bằng mà không phải cảnh núi non trong tiết thu vàng. Một không gian hư hư thực thục, hữu vô tương sinh tương thành. Nền màu chung của bức tranh là màu vàng bình đạm mờ ảo. Nó mờ nhưng lại không hẳn là mờ, nếu biết nhìn và biết cảm vẫn thấy rõ những cảnh thật sắc nét, thật chi tiết đến từng điểm nhỏ được tả ở hai câu sau. Cái nhìn của tác giả có lướt có dừng, có chuyển có đổi, cảnh chuyển theo tâm, mờ tỏ cùng dụng ý soi rọi của tâm.
Những hình tượng trong bài có tính ước lệ và khá quen thuộc, thường thấy trong cổ thi như mục đồng thổi sáo cưỡi trâu, cánh cò trắng, ánh chiều vàng… Cũng giống như hai bài trên, hình bóng của cuộc sống, âm thanh của cuộc sống là tiếng sáo của trẻ trâu, có người mà cũng tĩnh như không người. Mục đồng với tiếng sáo mà không phải gương mặt một con người lo âu nào hết. Hình dáng của mục đồng cũng ước lệ, cũng như một thành tố của tự nhiên. Giữa cuộc đời mà cũng như cõi ngoại, phương ngoại. Trâu về có mục đồng mà như tự nhiên chúng về. Động tác đọng lại cuối cùng và là điểm nhãn là những đốm trắng của cánh cò từ từ hạ xuống, nhẹ nhàng và nhẹ nhàng đáp xuống như tự nhiên vốn thế. Cuộc sống trôi đi như nhiên, tự nhiên như nó chính nó. Cánh cò hạ điền cũng giống như hình tượng mây nhàn thong dong trôi trong bài viết về chùa cổ ở Lạng châu, đều  tượng cho tâm thiền tự tại, không đón không đưa, không mong không đợi nhưng vẫn đẹp, cái đẹp hư linh không khoát.
Bài thơ thể hiện một cảnh giới nhập thần, vong ngã vong vật, vong nội vong ngoại tất cả nhất thể, nhất thể trong trạng thái không khoát hư tĩnh. Cảnh giới này được xác lập chính do sự xác lập của tâm, đúng như quan niệm của Phật giáo “Tâm sinh chủng chủng pháp sinh, tâm diệt chủng chủng pháp diệt”, tâm không vọng động, cảnh thanh u tĩnh tịch. Dĩ nhiên, cũng có thể cảm thấy ở đó có phần nào cái chất của đạo tự nhiên nhi nhiên của Lão Trang, nhưng căn bản vẫn là Thiền.
Ba bài thơ trên của Trần Nhân tông có thể xếp vào loại thơ điền viên sơn thủy, một tiểu loại thơ thường gặp trong cổ thi Đông Á. Ở Việt Nam so với các tiểu loại thơ khác, loại điền viên sơn thủy chiếm tỷ lệ không nhiều như Trung Quốc, nhưng cũng có số lượng và giá trị nghệ thuật đáng kể. Loại thơ điền viên sơn thủy thường sở trường trong việc thể hiện tinh thần u tịch, tự nhiên phóng khoáng, tự do của ẩn sĩ, cũng có lúc nó được sáng tác để ký ngụ tâm sự, bày tỏ cảm thán…Cũng có khi nó thể hiện cái thanh tân đạm khoát, siêu trần thoát tục của Thiền gia. Vương Duy đời Đường là một ví dụ, một phần rất quan trọng làm nên tên tuổi của bậc “Thi Phật” này chính là mảng thơ điền viên sơn thủy.
Thơ điền viên sơn thủy lấy ngôn họa, lấy tả cảnh, xây dựng hình tượng… làm hình thức tồn tại, để xác lập thi ý. Ba bài thơ của Trần Nhân Tông trên tiêu biểu cho cách thức của thơ điền viên sơn thủy. Cả ba bài  đều đạt tới mẫu mực về ngôn hoạ. Đó là những bức tranh trộn lẫn giữa hư và thực của màu sắc, âm thanh. Chúng đều đăng đối, điển nhã, có điểm nhấn, có vận động, có cảm giác rất rõ về hình khối không gian và thời gian. Cảnh có xa có gần, có thực có ảo, có nền có điểm. Có những hình ảnh rất rõ nét cụ thể nhưng cũng có sự rộng mở mênh mông không giới hạn về không gian và thời gian. Tất cả các hình tượng rất  hài hòa, tương hỗ làm nổi bật lẫn nhau.
Việc lựa chọn cảnh chiều tà cũng là điều đáng chú ý. Cái màu sắc và âm thanh của chiều tà rất phù hợp với việc đặc tả thiên nhiên, nhưng  nó cũng rất thích hợp cho việc gợi tới sự u tịch. Đó là thời gian của một ngày sắp kết thúc nhưng nắng còn đẹp, vào thu nắng thu vàng cùng màu lá thu, sương khói của thời tiết chuyển mùa dễ tạo nên thi ý. Về thời gian, nó cũng là khoảng thời gian thiêng, thời gian tâm linh đẩy lên đậm nhất trong ngày. Đó là lúc dóng chuông tụng kinh buổi chiều. Giới tự nhiên hồi quy hoàn tất vòng hoạt động một ngày. Đặc biệt là cảnh chiều thu, có những nhịp chuyển chuyển luân luân mà người ta cảm nhận được, chuyển của ngày, chuyển của năm, chuyển của màu, chuyển của nhiệt độ. Trong nhịp chuyển ấy, người ta “chụp” lấy một khoảnh khắc bằng tâm không tĩnh tịch.
Niềm hứng thú của tác giả hướng tới những hình tượng tĩnh tịch. Những động thái cũng nhằm gợi thêm cho cái tĩnh. Những hình tượng được cảm nhận, được mô tả là ngôi chùa, là tiếng chuông, màu lá thu vàng, con thuyền câu, cây cầu, cổ thụ… những hình tượng có sức gợi cảm cao thường thấy trong những bức tranh Thiền.
Ở ba bài thơ, cảnh khác nhau, thời điểm viết cũng có khác nhau, nhưng tinh thần thì như nhất. Cái như nhất đó là tâm thanh tĩnh tự tại của chủ thể sáng tạo. Ở cả ba bài ta đều không thể nhận thấy sắc thái tình cảm vọng động hay thăng trầm của tinh thần chủ thể sáng tạo. Cái tĩnh của bản tâm người  thi sĩ, thiền sư trực cảm và bộc lộ ra từng hình tượng thơ. Tâm cảnh thiền lạc an tĩnh làm nền cho tất cả các bài thơ này. Đọc những bài thơ này và lắng tâm cùng tác giả, có thể cảm nhận thấy tâm tĩnh vĩnh hằng, siêu trần thoát tục,… cái trong veo của tâm cảnh.
Cả ba bài đều lấy cái không hư làm nền, làm cảnh, lấy cái tĩnh tịch làm thể, lấy sống động và thực tại làm phương tiện, lấy Thiền ngữ Thiền tượng để gợi dẫn. Thi nhân đời Đường hay lấy sự tu dưỡng, rèn luyện của tinh thần chủ thể làm nền tảng cho thi ý thi tình, nhấn mạnh tầm quan trọng của tinh thần chủ thể. Những bài thơ này cũng có thể xem là biểu hiện sinh động và cụ thể cho một khung cảnh tinh thần và diện mạo tâm linh của Trần Nhân Tông. Đây chính là một loại Thiền lạc, nó là một loại lạc đạo. Đó là tiếng hân hoan của loại tâm không. Nhìn trong tổng thể các sáng tác của Trần Nhân Tông, những bài thơ này cũng là một phần của triết lý cư trần lạc đạo.
Một thi nhân không phải giới tu hành, cũng có thể có được một bài thơ đề vịnh điển nhã tĩnh tịch như những bài thơ vừa nói tới của Trần Nhân Tông, bằng chứng là trong di sản thơ cổ và đặc biệt là thơ Đường có thể gặp. Trong những trường hợp ấy, tác giả của nó, chí ít là khi viết những bài thơ đạt tới  mỹ cảnh tương tự, tâm của họ cũng phải đạt tới sự tĩnh tại như Trần Nhân Tông đã thể hiện. Với một nhóm bài của Trần Nhân Tông đề cập ở trên, có thể thấy một phần phong cách, nhưng trước hết nó là hiện thực của một tinh thần thường tại. Ở ông nó là sản phẩm của quá trình rèn luyện tâm Thiền đem lại.
Nhìn từ góc độ nghệ thuật thi ca, ba bài thơ sơn thủy điền viên của Trần Nhân Tông cho thấy một trình độ thi ca đã rất phát triển và thuần thục ở Việt Nam vào thế kỷ XIII. Chúng có thể sánh với những bài thơ hay nhất, đẹp nhất trong di sản thi ca cổ điển Đông Á. Các yếu tố Thiền tứ và thi tứ, thi tài và Thiền ngộ đã kết hợp nhuần nhuyễn, đã cùng góp sức tạo nên giá trị của chúng.
Thơ Thiền nói chung và thơ Trần Nhân Tông nói riêng đã từng tồn tại và góp phần tạo nên di sản thơ ca cổ điển Việt Nam. Chúng có nét riêng, có giá trị thẩm mỹ và nhân sinh riêng. Đánh giá và thưởng thức loại thơ này việc đầu tiên cần làm là  tiếp cần từ góc độ Thiền học kết hợp với thi học, có như vậy mới hy vọng hiểu được nó gần với nó vốn có. Bất kỳ sự áp đặt, hay cách nhìn mang tính hiện đại, sự kỳ vọng lệch chiều… đều có thể cản trở việc hiểu sâu, hiểu đúng về chúng.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Phạm Hùng: Thơ thiền Việt Nam - Những vấn đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật. NXB ĐHQG, H. 1998
2. Nguyễn Phạm Hùng: Các khuynh hướng văn học thời Lý Trần - NXB ĐHQG,HN. 2008.
3. Viện Văn học: Thơ văn Lý - Trần. Tập I. NXB KHXH, H.1977
4. Viện Văn học: Thơ văn Lý - Trần. Tập III. NXB KHXH, H.1978
5. Viện Văn học: Thơ văn Lý - Trần. Tập II. Quyển thượng. NXB KHXH, H.1989
6. Trần Đình Sử: Mấy vấn đề thi pháp văn học Trung đại Việt Nam, NXB GD, 1999
7. Bùi Duy Tân: khảo luận dòng văn học trung đại Việt Nam. NXB ĐHQG, H. 2005
8. Lê Mạnh Thát: Toàn tập Trần Nhân Tông. NXB TP. HCM, 2000
9. Nguyễn Đăng Thục: Thiền học Việt Nam. NXB Thuận Hóa, 1997
10. Nguyễn Đăng Thục: Thơ Thiền Việt Nam. NXB Thuận Hóa, 1997
11. Ngô Tất Tố: Văn học đời Trần Việt Nam. NXB Mai Lĩnh, H.1942
12. Phan Cẩm Thượng: Bút pháp nghệ thuật Phật giáo. NXB Mỹ Thuật, 1996
13. Nguyễn Duy Hinh: Yên Tử - Vua Trần - Trúc Lâm. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2, H.1977
14. Nguyễn Duy Hinh: Tìm hiểu ý nghĩa xã hội của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần. TM. 217
15. Nguyễn Duy Hinh: Phật giáo với văn học Việt Nam. TCVH, số 4, 1992.
16. Trần Thị Băng Thanh: Thử phân tích hai mạch cảm hứng trong dòng văn học mang dấu ấn Phật giáo thời trung đại. TCVH, số 4. H. 1992
17. Trần Thị Băng Thanh: Những nghĩ suy từ văn học trung đại - KHXH, HN 1999.
18. Đoàn Thị Thu Vân: Một vài nhận xét về ngôn ngữ thơ Thiền Lý - Trần. TCVH, số 2, H. 1992
19. Đoàn Thị Thu Vân: Quan niệm con người trong thơ Thiền Lý - Trần. TCVH, số 3, H. 1993.

Chú thích:
[2] Núi Vũ Lâm ngày xưa, nay thuộc thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Nguyên chú trong Trích diễm thi tập có ghi Vũ Lâm, động danh. (Vũ Lâm, đó là tên động).
[3] Phần chữ Hán của ba bài thơ mà bài viết đề cập đều theo văn bản Trích diễm thi tập. Phần dịch nghĩa người viết dịch lại theo ý hiểu và sự cảm nhận của mình.
[4] Hai chữ 淒涼 (thê lương) không nên hiểu là trạng thái thê lương buồn thảm như cách hiểu về thê lương trong tiếng Việt hiện đại. Hai chữ này vốn chỉ trạng thái nhiệt độ lạnh lẽo.
Hà Nội ngày 11.11. 2011
Nguyễn Kim Sơn
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Văn học, 
số tháng 5 năm 2012
Theo http://tnti.vnu.edu.vn/

Đà Lạt mùa Mai Anh Đào

Đà Lạt mùa Mai Anh Đào

“Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi/ Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi...”. Lời bài hát ấy, cứ ngân nga trong tôi mỗi dịp Mai Anh Đào nở. Năm nay, rét đậm và kéo dài nên Mai Anh Đào nở rộ đúng tết Nguyên đán. Cả Đà Lạt rực hồng, như “Nàng Sơn cước” lộng lẫy trong váy áo hồng, trẻ đẹp và quyến rũ.
 Bên hồ Xuân Hương 
Nhớ lại dịp tết dương lịch, tôi ngóng hoài Mai Anh Đào vẫn chưa nở, thì Nhiếp ảnh gia Trần Thanh Sang (TP Hồ Chí Minh) điện thoại ra Thủy Tạ uống cà phê. Anh khoe chùm ảnh thật ấn tượng. Tôi ngạc nhiên hỏi “Đào đâu ra vậy”. Anh “bật mí”, nhờ bạn ở Viện Hạt nhân “chỉ điểm” có một cây nở sớm “sung” lắm, thế là 10 giờ đêm nhảy xe Phương Trang lên “chụp” đào, ảnh đó, tin chưa? Tôi ngẩn “tòte”, mặt nghệt như “bò đội nón” vì là dân Đà Lạt “mê” nhiếp ảnh mà không biết cây này. Bởi, ngày nào đi làm tôi cũng rảo quanh hồ Xuân Hương xem hoa nở thế nào mới yên tâm đến công sở “chúi mũi” vào vi tính. Vẫn những cây đào sần sùi, mảnh mai “cởi bỏ” hết lá vàng “ngủ vùi” trong sương lạnh. Tôi quan sát từng cây mỗi ngày, nhìn kỹ mới thấy nhú “tí” nụ bé tẹo, rất chậm lớn. Xem ảnh Sang chụp, tôi mê mẩn bần thần. Thế là sớm hôm sau, tôi “phi” xuống Trại Mát (cách chợ Đà Lạt 10km), hỏi dân thấy liền, chụp lia lịa đầy “cạc” mới thôi. Bây giờ thì khắp mọi nẻo đường Đà Lạt, Mai Anh Đào đã nở rộ, hồng rực như mỉm cười, vẫy gọi, níu giữ chân người. Lúc nào ra phố cũng thấy “người người chụp ảnh” Mai Anh Đào. Bất kể người dân hay du khách thi nhau chụp bằng đủ thứ (máy ảnh, điện thoại, camera...). Riêng tôi, ngày nào cũng chụp Mai Anh Đào (sáng, trưa, chiều, tối), mỗi thời khắc có một vẻ đẹp khác nhau. Tôi thường gặp may, lần nào đi chụp cũng gặp người đẹp làm mẫu miễn phí. Khi thì nữ sinh, hoa khôi, nghệ sĩ, sinh viên và cả “đầm tây” nữa với áo dài, măng tô, váy ngắn, váy dài... đủ kiểu. Những lúc ấy tôi chụp như “lên đồng” hết “cạc” mà vẫn “thèm thuồng”. 
Mai Anh Đào (tên khoa học Prunus Cesacoides) là loại cây thân gỗ, khoảng 5 tuổi (cao từ 5-6m, tán lá rộng 2-3m) bắt đầu nở hoa khá sung mãn. Vào đầu mùa khô (tháng 10 hàng năm) Mai Anh Đào vàng lá dần, rụng hết, trơ trọi cành nhánh khẳng khiu và ngủ đông. Khi đất trời chuyển mùa (khoảng giữa tháng 1) là lúc Mai Anh Đào “bừng tỉnh” nở hoa báo hiệu xuân về. Mai Anh Đào nở đồng loạt, chi chít hoa từ gốc đến ngọn thật ấn tượng. Cả thành phố như “mặc” áo hồng, làm lòng người ngất ngây, rạo rực khó quên. Hơn một tháng sau thì hoa nhạt mầu dần, tàn dần, cũng là lúc lá non xuất hiện. Rồi những quả Mai Anh Đào bé tẹo (nhỏ hơn trái xoan) thấp thoáng trong kẽ lá, khi chín có mầu tím, vị chua chua hơi chát rất quyến rũ đám học trò Đà Lạt. Sở dĩ có tên gọi “Mai Anh Đào” là vì thân cành giống cây Đào, hoa 5 cánh giống hoa Mai, dáng cây giống Anh Đào Nhật Bản nên người Đà Lạt ghép “ba trong một” thành Mai Anh Đào. Mai Anh Đào xuất hiện ở Đà Lạt hơn 100 năm nay, có lẽ là loài cây bản địa (vì không phải cây Anh Đào du nhập từ Nhật Bản). Vài chục năm nay, Đà Lạt trồng nhiều cây con (ươm bằng hạt) khắp thành phố. Nhưng, trồng tập trung dày đặc hai bên đường Lê Đại Hành, Hùng Vương, Trần Hưng Đạo, Tương Phố, Hai Bà Trưng, quanh hồ Xuân Hương, trong công viên, khu du lịch và đường Mai Anh Đào (con đường duy nhất ở Đà Lạt mang tên loài hoa này). Đặc biệt, tại Công viên Trần Quốc Toản (soi bóng bên hồ Xuân Hương) mới trồng hơn 2.000 cây Mai Anh Đào, khoảng 5 năm sau sẽ có một rừng đào nở rực mỗi độ xuân về. Khi ấy, sẽ tổ chức “Lễ hội Mai Anh Đào Đà Lạt” tương tự như “Lễ hội hoa Anh Đào Nhật Bản”. Hy vọng rằng ý tưởng này sẽ thành hiện thực. Vì, mùa Mai Anh Đào nở là “Mùa Festival”, “Mùa Cưới”, “Mùa Tết”, “Mùa Chụp ảnh” của công chúng và du khách thập phương hội tụ về Đà Lạt. Mai Anh Đào loài hoa của mùa xuân, báo hiệu tết đến xuân về. Loài hoa này đã làm nên thương hiệu “Đà Lạt - thành phố Mai Anh Đào”, “Đà Lạt - thành phố Festival hoa Việt Nam”. 
Nhà ga Đà Lạt 
“Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa/ Cho tôi bớt mơ mộng chiều chiều nhìn mây trôi xa xa/ Người về từ hôm nao mà lòng còn thương vẫn thương/ Bao nhiêu năm tháng cũ mà hồn nào tôi vấn vương/ Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má ai”. Cảm ơn Nhạc sĩ Hoàng Nguyên sáng tác bài hát “Ai lên xứ hoa Đào”, đã chắp cánh cho Mai Anh Đào Đà Lạt “bay” xa hơn và được nhiều người yêu mến hơn!.

Ai lên xứ hoa Đào
Hoàng Nguyên - Cẩm Ly

12/2/2014 
Hà Hữu Nết
Theo http://baolamdong.vn/

Giọng thơ trầm lắng nhạc ngàn

Giọng thơ trầm lắng nhạc ngàn

Tôi đọc thơ Trần Ngọc Trác đầu thập niên 80 thế kỷ trước, lúc Trác còn là phóng viên biên tập Đài Truyền thanh vùng kinh tế mới Hà Nội. Cũng từ đó biết được Trác đồng hương Huế qua nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian “Folklore” Lâm Tuyền Tĩnh. Năm 1988, Trần Ngọc Trác chuyển về Đài PT-TH Lâm Đồng. Khi ấy chúng tôi mới thường xuyên gặp nhau luận bàn chuyện văn nghệ. Ngày trước, vào dịp cuối tuần, tôi mang đàn Violon đến thu âm chương trình “Tiếng hát quê ta” do nhạc sĩ Mạnh Đạt phối âm và dàn dựng. Ca sĩ chủ yếu là phong trào: thầy cô giáo, học sinh, sinh viên các trường từ mầm non đến đại học, cán bộ, công nhân viên chức cơ quan, xí nghiệp nông lâm trường kể cả già trẻ thôn buôn. Trong đó có một ca khúc lạ nhưng quen quen xưa mà lại rất gần, bùng lên những dư âm dư ảnh nồng ấm bồng trôi, nâng niu tình đất tình người tình cao nguyên bazan khát, câu thơ ấy nhạc điệu ấy cứ lâng lâng rấm rứt, làm tôi nhớ mãi. Đó là tiết mục Khúc hát người K’Ho (thơ Trần Ngọc Trác, nhạc Trần Hoàn).
Bài viết theo thể thức(A-B-A)ngắn gọn. Mở đầu là sự giãi bày chuyện kể hà…à ơi, một khúc ru trong trẻo nỉ non. “Ngủ đi con ngủ đi con hà à ơi ru hỡi ru. Ngủ đi con đêm về rồi hà là hời ru hỡi ru...”.
Từng câu từng tiết, lắng đọng giai điệu dịu ngọt ca từ. Nhạc thơ quấn quyện vào nhau dập dồi qua sông, qua suối, qua vực sầu bao la, qua đại ngàn xa thẳm. Rồi dưỡng chất lễ hội, bập bùng tiếng sáo tiếng khèn gọi bạn, tiếng trống tiếng cồng tạ sấm sét cầu mưa giông. Mùa gái trai cầm bằng múa, cầm bằng hát, cầm bằng đêm thiêng quanh ché rượu cần ngửa nghiêng dưới trăng say vít cong miền cổ tích“Trăng ngả xuống nghiêng già nửa mái. Cho lòng con say nguồn sáng lên sân. Mẹ níu trăng nhịp chày xa vọng lại. Đêm về khuya nện cối gần thêm...”.
Đoạn B dù có phát triển nhưng không tương phản so với hình tượng ban đầu, bởi Khúc hát người K’ho là cội hiền con chim Chơlang trên đỉnh ngàn hoang hoải, hấp hồn đá núi nhập nhòa trời mây, rồi ú òa giữa cao xanh thành Yal yau - Tâm pât (hát nói, kể chuyện), Lah long - Dos choris (giao duyên, huê tình). Thanh âm cứ tuôn dòng nhạc cứ chảy, cứ thế cuốn cuộn sóng tình văn hóa tâm linh, độc đạo bản sắc - một đặc trưng không lẫn vào đâu - một khoảng lặng trinh nguyên hư huyền ma lực của các tộc người Cil, Lạch, K’Ho, Churu, Stiêng, Châu Mạ.
Gốc gác Khúc hát người K’Ho là biến thể từ chuyện tình K’Dung KaLang dân ca dân vũ bản địa nhưng trong tác phẩm vẫn còn đó sợi buồn ngũ cung, nhấn rung luyến láy của Cung Thương Dốc… Thang âm điệu thức Quốc Nhạc Việt Nam. Tôi cho rằng đây là chủ ý của tác giả. Tác giả đã pha trộn giữa hai chất liệu thành một nhịp điệu hoàn thiện, nên khúc thức lời ru càng nghe càng đượm nồng quyến rũ, rất thuận rất vào cho nhiều giọng hát.
Hồ Xuân Hương vào xuân
Ảnh: Phan Văn Em
Thơ Trần Ngọc Trác không mỹ miều, không nhảy múa con chữ, không trầm lụy oán trách, không theo khuôn phép nào, thơ của Trác mộc, giản đơn. Mỗi bài mỗi câu là quãng cung thời gian. Mỗi trang mỗi khổ là bấy nhiêu đồng vọng. Cho nên nhiều nhạc sĩ đã cảm hứng thể hiện giọng thơ trầm lắng nhạc ngàn qua từng gam màu thể loại khác nhau: Ca khúc nghệ thuật, trữ tình quê hương, dân gian cải biên, nhạc nhẹ thịnh hành.
Bên cạnh các nhạc sĩ tên tuổi như Trần Hoàn, Thế Bảo, Trần Hữu Bích, Xuân Cửu, Nguyễn Chính…, tình cờ tôi gặp Vũ Tuấn Hội - chàng nhạc sĩ trẻ mang hàm thiếu tá Quân đội nhân dân Việt Nam chơi guitar nhuyễn, lướt trên phím đàn Piano đệm hát cũng rất duyên tại Trại Sáng tác Hội Nhạc sĩ Việt Nam, tổ chức ở Đà Lạt tháng 4 năm 2011. Và ngay trong đêm chàng nhạc sĩ trẻ mơ màng hóa giải bài thơ “Người yêu nhau nói ít hiểu nhiều” của Trần Ngọc Trác thành khúc hát Giá như có em bời bời cảm xúc.
Giá như có em chọn âm giai La thứ (Am), làm chủ đạo với tốc độ nhanh vừa (Allegretto), thể loại trữ tình lãng mạn (Pop ballad), chia 2 phần (A-B) rõ ràng, mạch lạc.
Phần A giai điệu không quá cầu kỳ, có khi chỉ một cao độ trong cả ô nhịp nhưng trường độ, tiết tấu thì khác, luôn biến đổi đảo phách và kết thúc câu hát lại lửng lơ treo (Demi Cadence) “Nước khua sóng mặt hồ. Lăn tăn làn gió thổi. Tà áo em bay. Một sớm mai về. Cây phượng tím giờ không còn cô đơn nữa…”.
Thơ nhạc khơi gợi trong từng âm vực bổng trầm cao thấp rồi tan giữa không gian thời gian, giữa em và anh, giữa thành phố mộng mị đam si.
Đà Lạt vẫn đó mảng màu Giêng Hai, từng nụ xanh vàng đỏ tím chúm chím lưng trời của Ly Lan Đào Phượng. Đà Lạt vẫn đó giọt hồng bừng soi bông cỏ dại bên triền núi sườn đồi trái mùa chen nở. Tiếng vó ngựa lốc cốc, giòn nẻo đường góc phố, tên đất tên làng thơm quen thương thuộc. Bao nhiêu kỷ niệm đọng lại trang thơ, thấm thía tình yêu lắng sâu hồn nhạc. “Gió miên man cầu Ông Đạo. Như anh qua em không muốn quay về. Nhà em cuối dốc Nhà Làng. Anh như kẻ tình si. Đắm đuối em...”.
Một bản nhạc không ai quy định bao nhiêu note hay chừng đó ô nhịp nhưng phần hòa thanh thì phải trình tự nhất định. Ở đây, Vũ Tuấn Hội sử dụng vốn liếng và thẩm mỹ của mình tiến hành theo công năng Am- Am-F-G-Am… hết sức bình dị thanh thoát, thi thoảng chen vài note ngoài hợp âm nghe rất đã, rất sang. Tôi khẳng định người có “nghề” mới viết được nhanh và nhạy như vậy.
Đúng vậy, nhạc sĩ Vũ Tuấn Hội hiện là nhạc công, sáng tác kiêm hòa âm phối khí cho Đoàn Văn công bộ đội biên phòng. Hành trang mang vào Đà Lạt là khúc “tứ tấu đàn dây” và “tổ khúc giao hưởng”. “Biên cương núi rừng”. Đây là dòng nhạc kinh viện thính phòng, thể loại nếu chỉ có năng khiếu không chưa đủ, bắt buộc phải học bài bản, nghiên cứu tử tế.
Xin nói thêm bài hát Giá như có em - ca sĩ Đình Vỹ Đoàn Ca múa nhạc Lâm Đồng chọn biểu diễn nhiều chương trình khác nhau, được đông đảo công chúng đón nhận cổ vũ mến yêu và điều đó còn lan tỏa cả vùng sâu vùng xa…
Phần B mạch nguồn Ballad vẫn thế lời ca mềm ngấm nên giai điệu dịch chuyển không nhiều, nhưng tiết tấu và cấu trúc hòa thanh có đổi thay đôi chỗ Am-Em-G-D-Am… Ở đoạn này, thơ nhạc lại quay về chủ đề chính.
Ừ, giá như có em để tiếng lá tiếng chim giữa trưa vắng ngày hè thêm xao động, giá như có em để chiều vàng mimosa thắp nắng mùa đông “... Ừ, giá như có em. Đất trời sẽ ấm lên xua tan băng giá...”.
Vâng, giá như, giá như ở đoạn kết Hội phỏng thơ như đề tài thay vì phổ thơ thì tiết nhạc sẽ đòng đành “phê” và uốn lượn hơn nhiều, bởi câu thơ cuối của Trác tôi cảm nhận có màu vị ảo não sướt mướt. Thật ra thơ của Trác đối với tôi không là kinh điển hàn lâm hay mang tầm triết lý cao xa, nhưng một người làm thơ mà có đến 85 bài được phổ nhạc trong khoảng thời gian không lâu, dù ở đó có đôi ba tác giả ngẫu hứng phổ năm đến sáu ca khúc… Suy tận cùng tôi cũng không hiểu, và chắc rằng đây là hiện tượng.
Lững thững ven hàng thông chiều về, đầu óc tôi cứ mông lung ngẫm ngợi chợt trên ô cửa sổ đồi xa văng vẳng câu hát trong bài “Không thể và có thể” của nhạc sĩ Phó Đức Phương “... Còn đâu miền dương gian khi úa tàn mặt trời. Bình minh có lên ngôi khi không còn đêm tối…”.
26/2/2014 
Đình Nghĩ
Theo http://baolamdong.vn/

Giải thích những ca từ khó hiểu và "bí hiểm" trong các bài nhạc Trịnh Công Sơn

Giải thích những ca từ khó hiểu và "bí hiểm"
trong các bài nhạc Trịnh Công Sơn 

Nhắc đến âm nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, có lẽ người ta sẽ nghĩ đến những triết lý, sự đa tầng ý nghĩa của bài hát. Nhạc của ông thường đầy tính ẩn dụ, đôi khi là mông lung khó hiểu, khó nắm bắt được khi nghe một cách hời hợt. Thậm chí là nhiều người thích nghe nhạc Trịnh, nghe đi nghe lại hàng chục năm mà vẫn không hiểu ý nghĩa của một số bài hát. Vì có được sự đặc thù như vậy, nên dù nhạc sĩ Trịnh Công Sơn không thể sánh bằng các nhạc sĩ khác như Phạm Duy hay Văn Cao về tầm vóc, nhưng ông vẫn được người ta ưu ái đặt cho một dòng nhạc riêng mang tên là “nhạc Trịnh”. 
Dù lời ca của nhạc Trịnh Công Sơn có vẻ bí hiểm, khó hiểu, nhưng về nhạc thuật thì so với các nhạc sĩ lớn cùng thời, nhạc của Trịnh khá đơn giản, không có gì cách tân, nhưng nó lại vẫn hấp dẫn vì mang được “tiếng thở dài của thời đại”. Theo như lời của Phạm Duy, đó là “sự đơn giản của một thiên tài”, vì không phải ai cũng viết được loại nhạc đơn giản nhưng lại có thể đồng cảm được với tâm trạng của nhiều người đến như vậy. 
Dù nhạc Trịnh bị coi là khó hiểu, nhưng nhiều người nói rằng họ thích nhạc Trịnh vì luôn thấy được mình ở trong đó, và đôi khi nghĩ rằng nhạc Trịnh đang viết cho chính hoàn cảnh của mình vậy. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng - một người bạn thân của Trịnh Công Sơn - từng nói rằng nghe nhạc Trịnh không hiểu lắm, nhưng thấy có mình ở trong đó. 
Điều này đã tạo nên sự đặc biệt của nhạc Trịnh. Bởi vì đôi khi âm nhạc không cần hiểu rõ cặn kẽ, mà chỉ cần cảm được, là được!. 
Ngay cả những người sâu sắc và từng trải nhất cũng không dám khẳng định là “mình hiểu hết ý nghĩa nhạc Trịnh”. Bài viết này không phải là để giải thích cặn kẽ, chi tiết những ca từ nhạc Trịnh, mà chỉ là những thông tin được gom nhặt trong quá trình tìm hiểu nhạc Trịnh. Hy vọng khi đọc qua bài viết này, người yêu nhạc Trịnh sẽ khám phá ra những điều thú vị… 
1. Nghe Những Tàn Phai 
Khởi đầu bài hát Nghe Những Tàn Phai là một câu hát khá quen thuộc: Chiều nay em ra phố về 
Thấy đời mình là những chuyến xe… 
Có lẽ ai trong chúng ta, đôi khi ngồi ngẫm nghĩ lại đời mình, cũng đã thấy rằng đời mình như là những chuyến xe chuyên chở đầy tâm tư của cả một đời. 
Click để nghe Thái Thanh hát 
Nghe Những Tàn Phai trước 1975 
Toàn bài hát này là những lời than thở muộn phiền, nhưng có ít người hiểu được ý nghĩa thực sự của nó: 
Chiều nay em ra phố về  
Thấy đời mình là những đám đông  
Người chia tay nhau cuối đường  
Ngày đi đêm tới trăm tiếng hư không.  
Có ai đang về giữa đêm khuya,  
rượu tàn phai dưới chân đi ơ hờ  
Vòng tay quen hơi băng giá,  
Nhớ một người tình nào cũ,  
Khóc lại một đời người quá ê chề.  
Chiều nay em ra phố về  
Thấy đời mình là những quán không  
Bàn in hơi bên ghế ngồi  
Ngày đi đêm tới đã vắng bóng người.  
Chiều nay em ra phố về  
Thấy đời mình là con nước trôi,  
Đèn soi trên vai rã rời  
Ngày đi đêm tới còn chút hao gầy. 
Nguyên bài là những lời lẽ có vẻ mông lung, như là không nhắc đến một điều gì cụ thể, giống như là tác giả đang nói về những chiêm nghiệm nào đó về cuộc đời? 
Không phải vậy, thật ra bài hát này được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết về một đối tượng cụ thể: Nhân vật chính là một cô gái làng chơi. Điều đó được ca sĩ Khánh Ly thừa nhận, bà đã được Trịnh Công Sơn trực tiếp giải thích ý nghĩa của bài này khi tập cho bà hát. 
Đó là một người kỹ nữ, một gái giang hồ đã về già và hết thời, với những bước chân trở về nhà trong đêm sau một ngày rã rời. Cô gái đôi khi thấy đời mình là những đám đông, những chuyến xe… rồi rốt cuộc chỉ là tiếng hư không, vắng bóng người trong một đời người đã quá ê chề. 
Rốt cuộc, từ một câu hát trong bài hát về cô gái điếm, giới trẻ biến thành một câu nói có vẻ rất ngầu: Cuộc đời là những chuyến đi… 
2. Dấu Chân Địa Đàng 
Bài hát Dấu Chân Địa Đàng, ban đầu có tên là Tiếng Hát Dạ Lan, được Trịnh Công Sơn viết trong thời gian ông dạy học ở B’Lao - Lâm Đồng. Trong bài này có hình ảnh ẩn dụ vô cùng khó hiểu như “loài sâu ngủ quên trong tóc chiều”, “lời ca dạ lan”…
Click để nghe Trang Nguyễn 
hát Dấu Chân Địa Đàng 
May quá, những hình ảnh đó sẽ được chính tay tác giả giải thích, nếu bạn đọc được cuốn Thư Tình Gửi Một Người (tổng hợp những bức thư tình ông Trịnh gửi cho Dao Ánh). Khi hiểu được những ca từ này, người nghe sẽ thấy bài hát sẽ trở nên hay hơn. 
Loài sâu này chính là một phiên bản khác của phận người, ôm chất chứa những buồn vui của nhân sinh, điều này càng được thấy rõ hơn trong những bức thư của Trịnh Công Sơn gửi Dao Ánh: “Ngôn ngữ đã mất đi với những ngày nằm co như một loài - sâu - chiếu ở Blao” (thư Đà Lạt, 19.9.1964), “Ở đây cũng có loài sâu đất reo đêm” (thư Đà Lạt, 19.9.1964), “Đêm sáng mờ bên ngoài. Sâu đất reo rất trong ở bãi cỏ” (thư Blao, 23.10.1964), “Đêm đã lạnh và đã buồn. Cây cỏ lao xao. Anh chỉ còn nghe rõ tiếng sâu đất và tiếng dế reo…” (thư Blao, 29.12.1964), “Đêm rất dày đen. Sâu đất của núi rừng cũng đã reo lên âm thanh rất nhọn” (thư Blao, 23.9.1965). 
Hình ảnh “dạ lan” cũng được nhắc tới trong bài này: “Nửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng”. Dạ lan là gì? 
Nhà cô gái 16 tuổi Dao Ánh ở Huế (cách nhà Trịnh Công Sơn ở Huế một cây cầu là cầu Phú Cam) trồng nhiều hoa dạ lan và loài hoa này không chỉ thơm ngát trong vườn nhà Dao Ánh mà còn lừng hương trong nhạc Trịnh và trong nhiều bức thư tình tha thiết, da diết của Trịnh Công Sơn gửi Dao Ánh: “Dạ lan giờ này chắc đã ngạt ngào cả một vùng tối đó rồi, đã cài lên từng sợi tóc của Ánh” (thư Blao, 31.12.1964), “Anh ao ước bây giờ mở cửa ra bỗng dưng có chiếc cầu bắc qua dòng sông và anh bước qua cầu rồi rẽ về phía tay phải đi đến căn nhà có mùi thơm dạ lan và đứng đó gọi tên Ánh thật thầm để chỉ vừa đủ Ánh nghe” (thư Blao, 26.9.1965). 
Dĩ nhiên, “dạ lan” trong vùng kỷ niệm của Trịnh Công Sơn cũng như trong nhạc Trịnh, là hiện thân của vẻ đẹp và tình yêu thầm kín, thanh tao, thắm thiết của Dao Ánh, là biểu tượng, là hiện thân của cõi “địa đàng”, cõi “Thiên Thai”, cõi mơ ước hạnh phúc bất tuyệt muôn đời của nhân loại: “Mưa đã trở về cùng với đêm. Như một ngày nào Ánh rời xa anh để trở về với nếp sống bình thường, ở đó Ánh đi trên lối đi quen thuộc của những người đã đi trước mà không cần phải nhìn những bảng số hai bên đường. Sẽ bình thường và thản nhiên quên đã một lần dẫm chân qua một vực - thẳm địa đàng mà anh đã linh cảm trước từ lâu, như “địa đàng còn in dấu chân bước quên” của một thời anh đã âm thầm nghĩ rằng biết đâu Ánh không lớn lên từ một loài dạ lan nào đó” (thư Blao, 27.10.1964), “Bây giờ là tiếng nói đêm của anh với Ánh. Với Ánh dạ lan… ” (thư Blao, 22.11.1964). 
3. Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời 
Bài hát này, Trịnh Công Sơn đã nhân cách hóa “một dòng sông” và cho nó qua đời luôn. Có lẽ bạn sẽ thắc mắc: Dòng sông sau khi qua đời thì nó sẽ trông như thế nào?.
Trịnh Công Sơn giải thích: “Hôm đó mình ở Đà Lạt đi qua cầu, bắt qua cầu Hồ Xuân Hương thì gặp người tình cũ đi với người yêu qua cầu. Mình nhìn thấy. mình cảm thấy sự mất mát quá lớn trong cuộc đời này… 
Bên cạnh đó khi đi qua cây cầu mình nhìn xuống thấy dòng nước chảy, mình nghĩ không chỉ mất người đó thôi mà mất cả dòng sông, dòng nước… mất hết cả. 
Cho nên cái mất mát tưởng là nhỏ nhưng cuối cùng lại lớn. Cho nên có một dòng sông đã qua đời không phải chỉ là mình ví von người tình của mình là dòng sông, nhưng mà nàng đi qua một dòng sông, và mình mất nàng và mất luôn dòng sông. 
Lúc đó dòng sông nó không còn ý nghĩa gì nữa, trước đó đẹp vô cùng tận nhưng mà từ phút đó trở đi thì không có ý nghĩa gì cả. Nó cũng là mang đến cho mình một nỗi buồn giống như sự mất mát kia. Cho nên vì vậy mới có bài có một dòng sông đã qua đời. 
Mình nghĩ như thế này, khi ta đi qua một nơi trốn nào đó, tình cờ bạn đi qua một cái núi, bạn gặp người tình của bạn cùng đi với một người khác, thì cái núi đó cũng qua đời rồi chứ không phải dòng sông đã qua đời, núi cũng qua đời luôn”. 
4. Cát Bụi 
Trong bài Cát Bụi, nhạc sĩ họ Trịnh có cái câu này, chắc hẳn nhiều người nghe cho qua chứ không hiểu lắm ý nghĩa: 
Ôi cát bụi phận này 
Vết mực nào xóa bỏ không haỵ 
Click để nghe Khánh Ly hát Cát Bụi 
Bà Đặng Tuyết Mai (vợ cũ của ông Nguyễn Cao Kỳ) trong một dịp gặp gỡ văn nghệ đã được Trịnh Công Sơn giải thích và mô tả sự khai sinh và khai tử (như được ghi lại trong bài hát “Cát bụi”) ở trong các làng xã xa xôi ở miền quê Việt Nam là: 
“Khi một đứa bé được sinh ra thì bố mẹ đứa trẻ báo cho làng xã biết. Người ta ghi tên đứa bé vào một cuốn sổ bằng viết mực… thế rồi khi đứa bé lớn lên sau lũy tre xanh, trưởng thành, già… nếu chết đi thì người nhà cũng báo cho làng xã biết; người ta cũng lấy cái bút gạch tên người chết trong cuốn sổ đinh này là xong một đời người”. 
Chính vì vậy mà sau khi một cuộc đời được chấm dứt câu “Vết mực nào xóa bỏ không hay” là thật chứ không phải là chuyện “mông lung” như chúng ta vẫn nghĩ. 
5. Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ 
Đây là một bài hát, một bài thơ thuộc dạng nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, mà đảm bảo từ cái tựa đề bài hát thôi là đã làm người nghe thấy mông lung, chóng mặt rồi. Sao tự nhiên đêm thấy ta là thác đổ? Nghe có vẻ siêu nhiên kỳ bí quá. 
Click để nghe Tuấn Ngọc hát 
Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ 
Có một vị đã thiền lâu năm đã thốt lên: “Trịnh Công Sơn phải là sư tổ môn thiền học mới ‘đạt’ được cái trạng thái ‘thác đổ’ này”. 
Những ai theo thiền môn lâu năm đều biết, mỗi khi thiền xong, khi mở mắt ra là nghe thấy trong đầu còn có “âm vang như có tiếng thác đổ”. Thành ra “Nhiều đêm thấy ta là thác đổ” cũng là thật chứ không phải là chuyện siêu nhiên kỳ bí gì cả. Khi tỉnh ra, thì “vẫn như còn nghe”. 
6. Một Cõi Đi Về 
Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi… 
Câu hát này sử dụng từ ngữ rất… Trịnh Công Sơn. Nhiều ca sĩ trẻ không biết “con tinh yêu thương” là gì, nên tự ý đổi lại thành “con tim yêu thương” cho nó thơ mộng. 
Sinh thời, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã rất nhiều lần giải thích cái hay, cái chất Huế độc đáo của từ “con tinh” trong bài này. Theo Trịnh Công Sơn thì các cô gái nhỏ, xinh đẹp và nghịch ngợm ở Huế hay bị gia đình, người thân mắng yêu là “đồ yêu tinh”. Cái “con tinh” đó đã đi vào văn học và đi qua dòng nhạc Trịnh trong bài hát Một Cõi Đi Về mà ông yêu thích nhất, nhưng đa số ca sĩ lại hát là “con tim”, làm cho câu hát không còn gì đặc biệt. 
Click để nghe Trịnh Công Sơn hát 
Một Cõi Đi Về 
7. Chiều Một Mình Qua Phố 
Có khi nắng khuya chưa lên 
Mà một loài hoa chợt tím… 
Đó là câu hát quen thuộc trong bài Chiều Một Mình Qua Phố. Nhưng đêm khuya thì làm gì có nắng, vì sao gọi là “nắng khuya”? Đã có một số ca sĩ đã đổi lại thành “có khi nắng mưa chưa lên” cho hợp lý, làm cho câu hát nghe rất khiêng cưỡng và buồn cười. 
Click để nghe Khánh Ly hát 
Chiều Một Mình Qua Phố
Thật ra đó là một sự ẩn dụ tinh tế của nhạc sĩ. Bời vì người ta thường chờ trăng lên để ngắm hoa quỳnh nở ban đêm. Nhưng bối cảnh của bài hát là buổi chiều, trăng (nắng khuya) vẫn chưa lên nhưng loài quỳnh kia đã nở tím mất rồi. Trịnh Công Sơn có lẽ bị ám ảnh bởi loài hoa đêm này, nên có hẳn hai bài hát dành cho loài hoa quỳnh là bài Quỳnh Hương và Chuyện Đóa Quỳnh Hương. 
8. Mưa Hồng 
Em đi về cầu mưa ướt áo 
Đường phượng bay mù không lối vào 
Hai câu hát nổi tiếng này trong bài Mưa Hồng thực ra không có chứa đựng câu chữ nào là đánh đố hay khó hiểu. Nhưng nếu giải thích rõ ràng câu hát này ra thì sẽ có nhiều điều thú vị đằng sau đó. 
Bài hát này được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết tặng cô Dao Ánh, với bối cảnh ở Huế. Mưa ở Huế thì buồn lắm, có nhiều bài hát đã nói lên nỗi buồn của cơn mưa xứ Huế rồi. Những ai sống ở đất cố đô đều biết con “đường phượng bay” nổi tiếng trong Thành Nội với hai bên trồng toàn cây phượng vĩ. 
Còn câu hát: “Em đi về cầu mưa ướt áo”, nếu ghi rõ nghĩa hơn thì sẽ là: em đi về, cầu cho mưa ướt áo em. Một người con gái đi ngoài mưa mù mịt, mưa rơi ướt sủng áo mỏng, lớp áo dán sát vào cơ thể. Không cần nói thì ai cũng biết hình ảnh đó gợi cảm biết nhường nào. Vấn đề ở đây là “ai cầu cho mưa ướt áo em?”. Hẳn nhiều người sẽ cho rằng chắc chắn đó là “anh”, để anh còn có dịp “thưởng thức” nữa chứ. 
Tuy nhiên, cũng trong một buổi tiệc có mặt bà Đặng Tuyết Mai và Trịnh Công Sơn (đã nhắc đến bên trên), thì bà Mai đã đưa ra ý kiến của bà như sau: 
“Riêng tôi (bà Tuyết Mai) thì cho rằng chính cô gái mới là người cầu mong cho mình bị mưa ướt, bởi lẽ người xứ Huế rất coi trọng gia phong lễ nghĩa, nhất là trong cách ăn mặc - lúc nào cũng phải thật kín đáo, không bao giờ dám để lộ thân thể dù chỉ là một chút xíu. Cô gái trong bài hát tự biết mình có hình dáng đẹp, muốn khoe nhưng không biết làm cách nào nên chỉ dám cầu mưa cho mình bị ướt áo để khoe vẻ đẹp cơ thể một cách tự nhiên mà vẫn giữ được sự ngượng ngùng, e ấp… Khi nghe tôi giải thích như thế, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã đứng dậy, với tay qua bàn tiệc bắt tay tôi kèm theo một nụ cười mãn nguyện”. 
Click để nghe Khánh Ly hát Mưa Hồng 
Nếu bạn đọc có góp ý gì thêm về ý nghĩa của những ca từ trong nhạc Trịnh có vẻ cao siêu bí hiểm, xin vui lòng để lại lời bình luận (comment) bên dưới để người nghe, người đọc thưởng ngoạn được nhiều hơn. 
1/4/2019
Đông Kha
Theo https://nhacxua.vn/

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của  Anatole France, "Tôi đi học"  của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...