Thứ Ba, 1 tháng 3, 2022
Thơ Phan Trọng Tảo: Giờ đã sang thu
Nhà giáo Phan Trọng Tảo đã có trên chục năm làm thơ, đây là tập
thơ thứ ba của anh. Thơ anh viết không nhiều nhưng những thi phẩm ra đời đều được
sự đánh giá cao của độc giả. Anh vừa trải qua một cơn bạo bệnh, từ chỗ “âm u” ấy trở về được chào đón bằng một niềm vui lớn, đứa con tinh thần của
anh tập thơ Giờ đã sang thu, được Giải thưởng Hội LHVHNT Việt Nam
2016. Sự chăm chút, đam mê Thơ giúp anh vượt qua mọi khổ lụy, để rồi anh hái quả
ngọt trong vòng tay bè bạn…
Thơ và thủ pháp ẩn dụ - Tâm linh
Thơ và thủ pháp ẩn dụ - Tâm linh
Điều mới mẻ nữa không thể không nhắc đến, rất dễ nhận
ra mà các bài thơ mới đạt được để có chỗ đứng lâu dài trong trái tim độc
giả, đó là thủ pháp xây dựng hình tượng giàu yếu tố tâm linh. Hình
tượng trong thơ truyền thống chủ yếu được xây dựng theo phương thức tả thực.
Thơ bây giờ trong sự giao thoa với các dòng văn hoá mới, các phương thức xây dựng
hình tượng đa dạng hơn, kịp hòa nhập cùng dòng chảy văn hoá hiện đại các yếu
tố siêu thực, trường liên tưởng tâm linh, cái “khoảng mờ trong vòng
tròn nhận thức” (Kant), bấy lâu chưa được chú ý lắm nay được gia tăng, từ đó
đưa đến một hệ quả “tính chất cá biệt” ở nhiều bài thơ hiện đại rõ rệt hơn, đa
dạng hơn, tác động thẩm mỹ vào tâm hồn người đọc phong phú không hề thua kém
các thể tài thi ca hiện đại khác. Một bài lục bát hay được nhắc đến:
lá ngô lay ở bờ sông
bờ sông vẫn gió
người không thấy về
xin người hãy trở về quê
một lần cuối… một lần về cuối thôi
về thương lại bến sông trôi
về buồn lại đã một đời tóc xanh
lệ xin giọt cuối để dành
trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha
(Trúc Thông - Bờ sông vẫn gió)
Ngoài sự mới mẻ ở câu chữ, bài thơ còn tạo một hiệu ứng thẩm
mỹ khác lạ nhờ yếu tố hư ảo-tâm linh! Đứng ở bờ sông thấy gió lay lá ngô nhớ
mẹ, theo cách nghĩ dân gian thấy hiu hiu gió tưởng là hồn về, tưởng mẹ về nhưng
không thấy. Lòng mong nhớ khôn nguôi người con“xin” mẹ về một lần nữa
thăm lại những kỷ niệm một thuở. Bài thơ diễn tả sâu sắc tình cảm của những người
con đối với bậc sinh thành đã khuất. Bài thơ hư hư thực thực, lãng đãng khói
sương. Hiện tại và quá khứ, thực và mộng đan lồng vào nhau. Thi đề “nhớ thương
cha mẹ” ta được gặp rất nhiều trong thơ ca nhưng ở đây thể lục bát đã được cách
tân và chất hư ảo làm màu sắc hiện đại khá rõ.
Bằng Việt, một tác giả xuất hiện thời kháng Mỹ với một phong cách tự do tân kỳ
từng được độc giả yêu mến từ những tập thơ đầu tiên sóng đôi cùng Lưu Quang Vũ,
về sau khi hồn thơ đã chín lại làm độc giả yêu thích bởi những vần thơ lục bát
hư ảo.
Quá khuya, chợt thấy mình già
Nhìn ra cửa sổ, mưa sa kín trời
Một đời gọi mãi:
Người ơi!
Một đời khát vọng, một đời bồng bênh,
Mê say là chuyện đã đành
Biết đâu tỉnh lại, nhân tình trắng phau!
(Đọc lại Nguyễn Du)
Trong một không gian hắt hiu “canh khuya mưa bay kín trời”, không ngủ được nghĩ
về nhà thơ tiền bối, tác giả triển khai câu thơ với cái tứ đầy màu sắc hư ảo -
tâm linh nối liền quá khứ với hiện tại, người hiện hữu chuyện trò với người đã
khuất. Tác giả muốn tâm sự với nhà thơ quá cố sự day dứt, thức ngộ về thân phận
của thi nhân với cuộc đời “Biết đâu tỉnh lại, nhân tình trắng phau” và
cả nỗi phân vân bất định về văn chương thời nay "Rạc rài chút phận văn
chương/ Cao sang nhòe lẫn tầm thường ngẩn ngơ ”.
Chính cái màu sắc tâm linh mà các tác giả xử dụng tài tình đã tạo nên vẻ đẹp vừa
hiện đại những cũng rất dân tộc ở các thi phẩm, cái yếu tố này một thời hơi mờ
nhạt, ngắt quảng, nay lại hiện hữu nối tiếp làm liền mạch truyền thống thơ ca
Việt cả dân gian cũng như bác học.
Những so sánh liên tưởng ngầm đưa các chi tiết đời sống vào
trong từ trường nội cảm, vào tâm thức. Hình tượng thơ luôn “hướng
nội” và “hướng thượng”, nhiều khi như một lĩnh hội của đạo giới.
Những hình ảnh so sánh gắn với vô thức được thấu triệt như một
“đốn ngộ” nhờ “con mắt thứ ba” - tuệ nhãn, huệ nhãn - cái nhìn bên
trong theo cách nói của tôn giáo. Cũng một lối ẩn dụ về con đường đi
của đời người nhưng có sắc thái khác đầy nét suy tưởng, ánh lên
một sắc thái tâm linh, đó là sự thể hiện của Trần
Ngọc Tuấn về bước chân con người “Qua dốc sương mù”:
Gánh củi qua dốc sương mù
Mồ hôi giọt giọt gió ù ù bay
Nghìn tia nắng dệt trang ngày
Bước chân hoan hỷ, đêm này lửa reo
Cuộc đời như người gánh củi, gánh lấy bao nhiêu nỗi vất vả, ngày đêm vượt
qua con dốc sương mù, Mồ hôi giọt giọt, gió
ù ù bay. Nhưng “qua dốc sương mù” rồi là bắt gặp rực rỡ
ánh sáng, ánh sáng của “nghìn tia nắng”, ánh sáng của “đêm lửa reo”,
người gánh củi đăng trình trong “bước chân hoan hỷ”. Nỗi vất vả,
thống khổ trở thành con đường hạnh ngộ. Bài thơ không chỉ biểu hiện khách
quan về con đường đời mà trong một gửi gắm sâu xa về sự “tự sáng”
của chủ thể tha nhân là ánh sáng chân lý mà con người “ngộ” ra
khi vượt qua được “dốc sương mù” của tâm trạng.
Hay như Lê Quốc Hán bằng cái nhìn bên trong, khi chiêm nghiệm sự đời
tác giả “ngộ” được cái nghịch lý... Nhắm mắt nhìn xuyên bốn cõi,
Trông ra thế giới mù lòa... Thế giới bên ngoài nhiều khi không tương
thích với bên trong, bằng cái nhìn cơ học chúng ta sẽ bị đánh lừa
dẫu mắt có mở to bao nhiêu, chỉ có thể thức nhận thế giới bằng ánh
sáng tâm linh.
Ánh sáng của cái nhìn tâm linh
sẽ soi dọi xuyên qua màn đêm giả tạo bao bọc sự vật, giúp ta ngộ
được chân lý! Tác giả với một bút pháp nhuần nhuyễn sắc thái tâm
linh Phương Đông đôi khi chỉ chấm phá vài nét cây cảnh nhưng lại nhiều
ngụ ý thâm trầm nội cảm. Nhìn một đóa mai vàng khoe thắm trong sắc
xuân, hẳn nhiều liên tưởng đến nhành mai của Mãn Giác thiền sư như
là một tiếp nối cuộc sống vô tận “chớ tưởng xuân tàn hoa rụng hết,
đêm qua sân trước một nhành mai”, Lê Quốc Hán lại chiêm nghiệm một điều
khác, chiêm nghiệm tâm linh về thân phận con người:
gốc
mai già nua/ lá dần thưa/ sắc rũa
sinh
ra phận hoa/ xuân gõ cửa/ gượng mở (Phận)
Phận con người là thế, kiếp này già nua, chịu đựng
tàn phai, để mong có một kiếp sau tươi nở trong màu xuân! Không
có một hạnh phúc nào, tươi tốt nào nảy ra từ hư không!
Nhiều suy tưởng tâm linh, hình tượng thơ của Hoàng Vũ Thuật không đi
theo lối tả thực mà trong nhiều bài nặng về linh giác - tâm thức.
... người ơi. Người hay trăng muộn/
mọc xế góc đời ta đây/ ta mong manh. Và ta lơ lửng/
vô hồn giữa những đám mây
Hay:
nàng lơ đãng nàng không nhìn rõ/
vòng luân hồi xô đẩy đêm nay/
ta chỉ là linh hồn cây cỏ/
ta muốn ngừng hơi thở sau cùng/
để ánh sáng vầng trăng khâm liệm/ chôn đời ta
dưới gốc trần gian.
(cây trần gian)
Nguyễn Thanh Ngãng với bài haiku hiện đại: Góc
chợ, chiếc lon rỗng, hạt mưa mồ côi (giải nhất thơ haiku 2009),
một bức tranh hiện thực - tâm linh về cõi nhân sinh. Thông điệp mà hình
tượng thơ bộc bạch “hạt mưa mồ côi” không phải là sự nghèo đói của
em bé ăn xin nơi góc chợ mà trùm lên mông lung là một kiếp người
cô đơn trong cõi phù sinh! Lụt lội, hạn hán, động đất, thiên tai, mất
mùa, rồi bệnh tật, chiến tranh... đã khiến bao gia đình tan nát, bao
em bé phải lâm vào cảnh thương tâm mồ côi trong cuộc đời như vậy. Em
bé người Việt, người Ấn, người Hồi, người Á, người Phi...?. Có
thể tất cả các em bé bất hạnh trên thế giới có thể tìm thấy số
phận mình trong bài thơ này. Hình tượng “hạt mưa mồ côi” - một ẩn dụ
tâm linh nói về số phận các em trong cõi đời - một tia chớp nhân sinh
xuyên thấu và soi dọi nhắc nhở tâm hồn con người hướng đến tình
thương đồng loại, trách nhiệm với cuộc đời!.
17/2/2017Yến Nhi
Đến với thơ đương đại - Một góc nhìn mới về thơ hôm nay
Đến với thơ đương đại (*)
Một góc nhìn mới về thơ hôm nay
Đây là cuốn sách thứ mười lăm của tác giả. Sách có hai phần: Phần một, bàn luận về đổi mới thơ trên các bình diện hình thái tổng hợp
thẩm mỹ, thể tài cùng các thủ pháp nghệ thuật đặc trưng; Phần hai , giới
thiệu một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu: Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều, Thanh
Thảo, Vũ Quần Phương, Trần Quang Quý, Phạm Đình Ân, Hoàng Vũ Thuật, Lê Quốc
Hán, Phan Vàng Anh, Vi Thùy Linh, Duy Thảo, Nguyễn Ngọc Phú...
Trong chiều dài lịch sử, những
thời kỳ có giao lưu văn hóa thì văn hóa bản địa đều có những thay đổi, thơ Việt
qua các thời kỳ là một minh chứng cho điều đó. Thời trung cổ chịu ảnh hưởng văn
hóa Hoa hạ ta có dòng thơ luật Đường, thời Pháp thuộc ảnh hưởng thơ Pháp phong
trào thơ Mới nảy nở, thời hai cuộc kháng chiến thơ ta cách tân nhiều với sự tác
động của Nga và thơ phương Tây. Sau ngày thống nhất điều kiện giao lưu càng rộng
mở sự tiếp biến với nền thơ thế giới càng đây đặn, các trào lưu thơ Âu Mỹ du nhập
làm thay đổi nhiều diện mạo nền thơ đương đại Việt. Tác giả tập sách khảo sát sự
thay đổi này không bằng con mắt nệ cổ hoặc phục mới tùy hứng mà trên một
căn bản truyền thống và cách tân có quan hệ biện chứng với đời sống.
Ngay từ đầu tác giả đã đưa ra nhận định:
“Xã hội Phương Tây, có thể vào những thời điểm nhất định các vấn đề nội dung
xã hội, nội dung nhân đạo, dân chủ của nghệ thuật nói chung và thơ ca nói
riêng coi như đã rõ ràng, thống nhất, đã tạo một đương “pit” cho nghệ thuật.
Cái mới chủ yếu là sự tìm tòi phương thức biểu hiện, cho
nên họ hướng mạnh vào hình thức, vào các phương thức biểu hiện; còn ở
phương Đông, đặc biệt ở các nước từ chiến tranh bước ra, từ nghèo nàn lạc hậu
đi lên, nhiều cải cách về nội dung xã hội về đời sống tinh thần đang ở giai đoạn
phân tranh, nên Cái Mới hình thành và phát triển vẫn có một quy luật
riêng, Cái Riêng này tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam trên con đường
độc đáo để xây dựng kinh tế cũng như văn hóa của mình. Nói một cách
khác trong Cái Mới cần chú ý Cái Riêng của Việt Nam. Xóa nhòa hoặc
quên điều này tác phẩm sẽ không có sức sống bền lâu!“
Với những luận điểm đó làm cơ sở tác giả phát triển tập sách của mình trên các
vấn đề khá thời sự nhưng cũng khá cơ bản của thơ ca Việt.
Sự đổi mới của Thơ đương
đại, tác giả trình bày đầu tiên là sự mở rộng đề tài và biên độ cảm xúc. Việc
mở rộng biên độ cảm xúc trong Thơ gắn liền với việc mở rộng phạm vi
đối tượng thẩm mỹ. Đề tài của Thơ không còn độc tôn cho những
vấn đề thời sự chính trị, những vấn đề gắn với thông tấn báo chí,
Thơ có thể đề cấp đến mọi vấn đề của đời sống con người miễn là
với “cái nhìn của Thơ” để tái hiện chân lý cuộc sống. Không có gì
thuộc về con người xa lạ với Thơ! Hay nói như cụ Nguyễn Du hai trăm năm trước:
Trên mặt đất nơi nào chẳng có văn chương! (Đại địa văn chương tùy xứ kiến).
Nhiều sự kiện đời thường được thể hiện và để lại dấu ấn thật sâu
sắc trong thơ.
Tác giả đánh giá
cao vai trò độc giả công chúng trong công cuộc đổi mới và phát triển thơ, nhiều
hiện tượng văn học công chúng đọc khen chê trước sau đó các nhà phê bình tổng hợp
lại nâng cao lên mà thành dư luận chung (phong trào Thơ Mới, hiện tượng thơ Phạm
Tiến Duật, Lưu Quang Vũ…): Sự phê bình đánh giá của công chúng đối với thơ
ca như vậy diễn ra trên hai bình diện: một là ý kiến trực tiếp thổ lộ nhận
xét khen chê, hai là sự chấp nhận và quảng bá sự phê bình đánh giá của người
khác, nhân rộng làm nó sống theo thời gian.
Nói về đặc trưng hình thái tổng hợp thẩm mỹ trong thơ (xây dựng hình tượng), tác giả nêu nhận xét: “Hình tượng trong Thơ đương đại, để biểu đạt
trọn vẹn sâu sắc các thông điệp tác giả gửi tới bạn đọc, thường là một phức thể
kết hợp nhiều yếu tố, nhiều biện pháp, từ miêu tả hiện thực một cách
cụ thể - lịch sử, thể hiện cuộc sống như vốn có, tiến một
cấp chấp nhận các yếu tố tượng trưng, ước lệ, kỳ ảo, đến bây
giờ các thủ pháp tổng hợp thẩm mỹ của văn học đặc biệt là thơ đã
tiến thêm một bước vào địa hạt tâm linh siêu thực.”
Nguyễn Việt Chiến khi xây dựng hình tượng Nguyễn Du
trong bài thơ cùng tên cũng đã xử dụng cách xử dựng các chi tiết có
màu sắc siêu thực:… trước mùa trăng sinh nở/ Nguyễn Du là người mộng du ân ái
cùng trăng/ nhưng chưa đến nửa đêm thì Truyện Kiều đã viêt xong/ và Nguyễn Du đạp
mây trở về sông Tiền Đường./ để lại môt bông trăng thức trong chiếc bình đêm/
thức chầm chậm/ đến sáng thì nở/ nở thành một nàng Kiều trắng trong/ giữa vẫn đục
cõi người./ (Nguyễn Việt Chiến - Trăng Nguyễn Du )
Tác giả đề cao sự cách tân các thể tài nhưng luôn tỉnh táo trước sự chạy theo
mode xa lạ ở xứ người. Đối với hiện tượng Thơ trình diễn, tác giả viết:
“Tác phẩm nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng, sức mạnh và lẽ tồn tại của
nó nằm ở chính “hình tượng nghệ thuật”. Hình tượng nghệ thuật thơ được tạo nên
bởi ngôn ngữ. Nó có màu sắc cũng do ngôn ngữ, nó giàu âm thanh cũng nhờ ngôn ngữ,
và có hình khối cũng bởi ngôn ngữ. Sự tồn tại và phát triển của nó không thể
thoát ly khỏi ngôn ngữ! Ấy thế mà giờ đây cái chỉnh thể tồn tại của Thơ đã thay
đổi, từ Hình Tượng Thơ Ngôn Ngữ, chuyển sang Tác Giả Thơ Vũ Nhạc, từ
một thể loại nghệ thuật thời gian sang nghệ thuật không gian. Liệu như
vậy có còn gọi là phát triển, làm đẹp thơ hay không!“
Về các thủ pháp
nghệ thuật, trong các tác phẩm thơ đương đại tác giả chú ý đến sự gắn bó giữa
các thành tố ý thức và tâm linh, lý trí và bản năng, thực và ảo, đặc biệt sự
chi phối của lý trí và yêu cầu thực tế đời sống. Đó là các yếu tố có tiền đề từ
trước trong văn học cổ cũng như văn học dân gian, trong sự giao lưu văn
hóa thời kỳ mới các tác giả tô đậm lên thành các đặc điểm nổi bật như tính biểu
tượng, tâm linh, siêu thực, sắp đặt, lắp ghép làm cho hình tượng thơ biến
hóa đa dạng giàu sức biểu cảm, kích thích nhiều trí tưởng tượng người đọc
Những yếu tố này được thể hiện rõ đậm đặc ở các cây bút tiên phong. Nguyễn
Quang Thiều chẳng hạn. Thế giới vạn vật trong thơ ông, đó là một thế giới đồng
đẳng, tất cả mọi sinh linh trước ánh sáng của tư duy nghệ thuật đều chung một
tư cách nhân sinh: người - vật, hữu cơ - vô cơ, hữu linh - vô linh... như nhau, chung suy nghĩ, chung cảm giác vui buồn. Cứ thế tác giả tṛò chuyện với tất cả, tất cả tṛò chuyện cùng tác giả và bày tỏ với độc giả
cái thế giới kỳ diệu đó của mình. Chính cái đặc điểm này khiến thơ Nguyễn Quang
Thiều, rất gần với lối suy cảm nghệ thuật phương Đông, cũng như truyền thống
thẩm mỹ dân tộc. Đúng như nhận xét:
“Vũ trụ là một đại hòa điệu mà đức tính là sáng tạo nghệ thuật. Nghệ sĩ phải cảm
thông được với đức tính ấy, qua cảnh vật biến ảo thiên nhiên tìm vào nguồn tâm
sinh linh động không có trong và ngoài, chủ quan và khách quan nữa” (Nguyễn
Đăng Thục - Thiền học Việt Nam - NXB Thuận Hóa 1997 tr.241.)
Tư duy phản biện đậm
màu sắc triết lý nhân sinh mới được đề cao trong thơ. Phê bình thơ Phạm Đình Ân
tác giả nói khá rõ nét nổi trội ở thi sĩ này:
“Con người đi qua bao thế kỷ cùng câu hỏi Sống hay không sống?
Và nếu sống thì chọn thời nào để sống? sống thế nào giữa hai phân cực tốt - xấu.
Trong thực tại Phạm Đình Ân không thể chọn thời mà sống, anh phải sống với thời
nay và chỉ có quyền chọn cách sống. Trong tâm thức tác giả luôn hướng về cái thật,
bất bình với những nghịch lý nhưng nhập vào cuộc sống này thật khó khăn khi nhiều
lúc nhiều nơi cái xấu cơ hồ lấn át điều thiện. Cuộc sống trong cảm nhận của tác
giả nhiều nghịch lý: Cái thật, cái giả sao mà lẫn lộn nhiều đến vậy. Thân đó mà
xa đó, thuận ở đây nhưng chống ở kia. Đen đỏ rối tung, ngọt đắng vào ra đổi
thay trong khoảnh khắc:
… Đang thân,
bỗng lạnh mặt mày/ Lạ xa, thoắt cái bắt tay hẹn thề.
… Rối tung đen đỏ, chơi cùng quỷ ma
Cuộc sống không chỉ lẫn lộn thật giả mà còn đầy những nghịch cảnh, Thấp: cạn nắng,
cao: trũng mưa/ Đây dư đòn phạt, kia thừa lộc khen. Cái phi lý “kẻ ăn không hết
người làm không ra”, “nước chảy về chỗ cao” một thời tưởng đã lùi
xa nay lại xuất hiện. Con người không còn tin vào quy luật, tin vào bản chất cuộc
sống mà chỉ còn tin vào số phận vào rủi may. Cái rủi may bám kiếp người -
một thức nhận mà nhiều phận người đã bao lần thốt lên.”
Về ngôn ngữ, thể tài,
tác giả lý giải sự đổi mới trên cơ sở lý tưởng dân chủ hoá nghệ thuật, chúng được
đưa xích lại gần đời sống và độc giả, không còn là sự độc tôn biểu hiện của chủ
thể. Ngôn ngữ đời thường, khẩu ngữ, câu thơ vắt dòng, leo thang, không dấu chấm, phẩy, tiết tấu tự do, đột biến… tất cả làm thơ đương đại có một âm hưởng mới
về thính giác cũng như thị giác.
Trong thời đại mở cửa và có nhiều phương tiện thông tin hiện đại, người viết
cũng như người đọc có điều kiện để tiếp cận nhiều khuynh hướng sáng tạo,
học tập nhiều nền văn hóa tiên tiến. Các nhà văn, nhà thơ phải tiêu hóa tốt các thứ mới mẻ và hữu ích thì viết có nhiều cái hay, còn ai
vội vã, sống sít thì viết ít cái được! Điều rút ra bài học là nhà văn
trong đời sống hội nhập hiện nay phải biến thành máu thịt những quan điểm triết
học, mỹ học tiên tiến, đồng thời cần thâm nhập sâu sắc vào đời sống cộng đồng
mới có những sáng tạo giá trị. Nghe thì rất cũ nhưng làm được thì không dễ! Đó
là một điều căn bản của quá trình sáng tạo nghệ thuật mà các nhà thơ cần
tâm niệm vì rằng: Tác phẩm được viết ra với bao nhiêu mới lạ về câu chữ chỉ
là những mới lạ của văn bản, bao giờ những mới lạ đó đi vào được cảm xúc
của độc giả để họ cộng hưởng đồng sáng tạo thì văn bản mới trở thành tác phẩm
văn học đích thực.
Chú thích:
(*) Hà Quảng, lý luận - phê bình, Nxb HNV 2017.
20/6/2017Yến Nhi
Tình như còn mới
Tình như còn mới
Cơ nhỡ
Vũ Tú Nam
Đã qua rằm tháng giêng
Cành đào quăng trước ngõ
Con ong nào cô đơn
Cuống quít bên hoa úa
Đào chẳng còn mật ngọt
Ong vẫn sục vẫn đòi
Đào còn đâu hương sắc
Mà ong say miệt mài
Ơi con ong cơ nhỡ
Giữa mùa xuân ngẩn ngơ
Phải chăng đào đã hứa
Ong đã nguyền cùng hoa?
2/1989
(Tạp chí Thơ 09-2008)
Thơ hay nó hư hư thực thực,
nói vậy mà không phải vậy, nói cái này mà xui ta nghĩ đến cái kia!
Bài Cơ nhỡ trên đây có tứ lạ, kể chuyện một con ong hẩm hiu cơ nhỡ,
giữa ngày xuân không may mắn lạc vào chốn trăm hồng ngàn tía mà chỉ
gặp một cành đào úa tàn qua nguyên tiêu ai đem quăng trước ngõ. Ấy
thế mà con ong cô đơn mừng vui cuống quít Con ong nào cô đơn /Cuống
quít bên hoa úa.
Bài thơ thật sống động, tả chim chóc cây
cỏ mà gợi cảm một niềm hoan lạc trần thế! Ca dao có câu
Ra đường nhặt cánh hoa rơi/ Hai tay bưng lấy cũ người mới ta đã quá
nhân đạo vì cái tình người trong đó vượt qua tập tục và dị nghị
bộc lộ rõ tâm tình người nông dân ngày xưa, câu ca đẹp một cách dè dặt và thô mộc. Câu thơ của Vũ Tú Nam giàu yếu tộ tự sự nên
cụ thể, sống động và dạn dĩ hơn: Đào chẳng còn mật ngọt/ Ong
vẫn sục vẫn đòi/ Đào còn đâu hương sắc/ Mà ong say miệt mài. Ong ham
hố và say sưa, một tình cảm đam mê trọn vẹn. Tình yêu làm cho vẻ
đẹp hình hài tàn phai được tái sinh ngọt ngào và mới mẻ như
buổi ban đầu! Cũng cần hiểu đằng sau cái ham hố miệt mài đó không
phải là thứ tình cảm thoáng qua thuần bản năng, mà có cái gì sâu xa hơn. Cái đó như là sự gặp lại nhau của đôi tình nhân
tri kỷ sau bao tháng ngày chia phôi vì hoàn cảnh éo le? Con
ong cơ nhỡ/ Giữa mùa xuân ngẩn ngơ..., loài hoa quý phái xinh đẹp đó
đã từng cùng ong hứa hẹn và ngược lại con ong cơ cận đã từng thề
nguyền cùng hoa: Phải chăng đào đã hứa/ Ong đã nguyền cùng hoa? Và giờ
đây ngoài tình yêu họ còn là tri kỷ vì cùng chung thân phận hoa úa - ong cô
đơn!
Tình yêu ong - hoa vượt qua thời gian vượt lên hình hài
để có mùa xuân vĩnh viễn.
Bài thơ viết cách đây đã mấy chục năm, khi nhà thơ vừa
độ chín trong tuổi tác và tình cảm. Hương tình vẫn nồng nàn và say
đắm. Hình tượng thơ giàu tính liên tưởng, một tình yêu đầy hương vị
trần thế nhưng không thô kệch sỗ sàng. Đã có lần người viết
bài này ngỡ ngàng trước câu thơ của X.Êxênhin Người ta yêu em đến
nhàu nát, người ta chiều em đến sờn mòn... Nhục thể đấy mà không mảy
may gợi dục. Đau đớn mà cũng thật trang nhã! Gặp lại ở bài Cơ
nhỡ cũng cái cảm giác đó...
Bài thơ nói về mùa xuân về tình yêu nhưng nó còn gợi
lên trong tâm tư người đọc một ý tưởng rộng lớn hơn không chỉ về tình
yêu mà còn về nghệ thuật! Cái thi hứng, cái say nồng của tâm hồn
là quyết định của sự sáng tạo! Bình cũ mà rượu mới, bình hư hao
mà rượu say nồng thì vẫn mê hoặc người đời như thường!
Mùa Xuân có trôi qua, hình hài có tàn phai, chỉ
tình yêu làm cuộc đời tươi thắm mãi!.
29/1/2018Yến Nhi
Thêm một lần trò chuyện với "Thông"
Thêm một lần trò chuyện với "Thông"
Dọc con đường hơn chục cây số từ Cửa Hội lên Gia Lách
sang Vinh - thành phố nổi tiếng miền Trung, chúng tôi đi từ ngạc nhiên này đến
ngạc nhiên khác. Vừa qua quê Tả Ao, đã đến quê Nguyễn Du, vừa qua quê Nguyễn
Công Trứ đã đến quê Ngụy Khắc Tuần (1) nơi mà sóng gió chuyến đi sứ Pháp quốc của
ông cùng Phan Thanh Giản còn réo vỗ đến bây giờ… Chưa thôi kinh ngạc với con đường
mới mở qua nhà thờ quan Tư đồ Nguyễn Nghiễm, đã bồi hồi trước lối xóm quê
xưa tác giả “Nho Giáo” (Trần Trọng Kim)… Ít đất nào đậm đặc nhân tài như vùng
ven hạ lưu sông Lam này!
Chúng tôi ghé qua đền thờ Uy Viễn giữa tiết lập thu nhưng đền heo hụt khói
nhang, chỉ rộn tiếng trẻ nô đùa. Đập vào mắt chúng tôi một cây thông bật
trơ gốc rễ, người ta chưa kịp đẵn làm củi có lẽ còn đợi đêm về.
… Ngày thàng qua đi, chuyến đi cũng chỉ còn trong kỷ niệm, chợt gặp bài
thơ Cây thông bị đổ ở đền thờ Nguyễn Công Trứ của Võ Hồng Hải. Kỷ niệm
ùa về kéo theo nhiều cảm xúc.
… Chỉ một vuông trờì nhỏ
Và phi lao, bạch đàn quen quây quần với cát
Cơn gió nào qua đây
Làm cây thông đổ kềnh rễ trơ cùng trời đất…
Tôi ngậm ngùi thắp hương trước bia Nguyễn Công
Lặng ngắm cây thông đang chết dần thân lá
Đã một đờì trai dọc ngang xứ lạ
Giờ Người về yên phận với đất quê?
Mới biết.
Đã là thông
Đâu dề sống chung vớt cát
Đã lã thông
phải cứ can trường hát reo
nơi cheo leo vách đá…
22-02-2004
Đồn rằng Nguyễn Công Trứ một đời tài hoa, phong lưu ít ai bì,
chốn quan trường lại không thôi lận đận. Ông ra đi để lại nhiều thơ phú và giai
thoại, nhưng đáng quý hơn là góp cho đời hai người con gái tài sắc. Một
là nữ sĩ Nguyễn Thị Quyên (Bà Tú Y) suốt một đời gắn bó với quê hương và thứ nữa
là nữ tu pháp danh Diệu Điển (2) sống ở tít trời Nam.
Sinh thời Nguyễn Công Trứ khác Nguyễn Du không tin vào thuyết
“Tài mệnh tương đố”, mà chỉ tin vào thuyết “Hữu tài tất hữu dụng ”Ấy thế mà điều
ngài không tin lại vận vào mình lúc cuối đời, để đến nỗi khóc cười lẫn lộn. Cảm
thông cuộc đời bậc tài danh quá cố, tác giả nhân chuyện gặp cây thông bị
đổ trước đền thờ Uy viễn đã xuất thần một bài thơ khá xúc động. Chữ nghĩa không
nhiều nhưng tình ý miên man…
Đề tài Cây thông chúng ta gặp khá nhiều trong thơ cổ.
Nguyễn Trãi có Tùng, Nguyễn Công Trứ có Vịnh cây thông… Trong quan niệm
truyền thống Tùng (thông) tiêu biểu cho đấng trượng phu, cứng cỏi,
cao cả và nhân ái (nhựa dùng làm thuốc). Hà Tĩnh rất nhiều thông, thông Hồng
Lĩnh khá nổi tiếng với bài Lục bát về thông của Thạch Quỳ:…
Tưởng là nước đã bào trôi
Tưởng là nắng đã khô rồi đá ong
Bây giờ thông, bây giờ thông
Theo chân con gái lên vùng đá khô…
Tâm sự về thông, không mấy ai không thông cảm với tâm trạng
chua chát của Nguyễn Công Trứ một thời: Ngồi buồn mà trách ông xanh/ Khi
vui muốn khóc buồn tênh lại cười/ Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng
giữa trời mà reo…
Đó là tâm trạng của một bậc hiền tài chua xót trước thời cuộc, đượm buồn nhưng
không bi quan, yếm thế; vẫn thể hiện bản lĩnh của một bậc đạt nhân quân tử
luôn tùy ngộ nhi an, đứng vững trước mọi thử thách. Ông trách cái xã
hội oái oăm nhiều ngang trái, nhưng không đủ nhận thức để phủ định, cải tạo nó.
Bởi vậy mà sinh ra bi kịch!
Hai thế kỷ sau Võ Hồng Hải - người đồng hương với Nguyễn, trong bài thơ Cây thông bị đổ ở đền thờ Nguyễn Công Trứ, vẫn
khai thác cái vẻ đẹp kiên cường của tính cách người xưa trong ẩn dụ về “Cây
thông”:
Đã là thông/ Phải cứ can trường hát reo/ nơi
cheo leo vách đá.
Con người tích cực phải được thử thách trong hoàn cảnh gian lao! Đó là ý nghĩa đời sống của những trượng phu, chí sĩ thuở trước, cũng như của những nhà ái quốc, những chiến sĩ Cách mạng, những con
người mới thời nay!.
Nhưng cuộc sống phải chăng lúc nào cũng là thử thách, nơi nào cũng là chiến trường,
hay đèo cao dốc núi? Đời thường, cây thông quen sống nơi cheo leo vách đá đầy
cam go thử thách, nay về nơi cát đất trơ lỳ bằng lặng, nơi chỉ quen với lũ phi
lao, bạch đàn khẳng khiu, còi cọc, cạnh tranh sinh tồn nó đã “đổ kềnh rễ
trơ cùng trời đất”, theo thời gian “chết dần thân lá” .
… Một đời trai dọc ngang xứ lạ
Nay người về yên phận với đất quê.
… Cơn gió nào qua đây
Làm cây thông đỗ kềnh rễ trơ cùng trời đất.
… Tôi ngậm ngùi thắp hương trước bia Nguyễn Công
Lặng ngắm cây thông đang chết dần thân lá.
Cây thông và đất quê, một tương quan đầy kịch tính về thân phận
những con người trí dũng cao cả về với miền gió Lào cát trắng.
Bài thơ hay, chặt chẽ và độc đáo trong cấu tứ. Các tầng
nghĩa đan quyện vào nhau khá tự nhiên. Hình ảnh Cây thông cứ vương vấn
day dứt tác giả cũng như người đọc! Thương cho một đời thông không may mắn, ngậm
ngùi cho một đời người không như ý: Tôi ngậm ngùi thắp hương trước bia Nguyễn
Công…
Cái mạch chìm bài thơ làm người đọc phải suy ngẫm
nhiều, một câu hỏi cứ day dứt tưởng như Nguyễn Công sống lại cũng
tê tái. Lúc làm người thì phải chịu cảnh “khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười”
nên mơ ước thành thông để “giữa trời mà reo”, nhưng kiếp thành thông
thì “đổ kềnh rễ trơ cùng trời đất”. Con người tài trí ấy về đất quê muốn yên phận
sau một thời ngang dọc, mà quê hương cũng không bao dung nổi, vì Đã là
thông đâu dễ sống chung với cát… Cuộc sống tầm thường, cát đất quê chỉ
thích hợp với bạch đàn và phi lao Và phi lao bạch đàn quen quây quần với
cát…
Thể thơ tự do góp phần đưa tâm trạng người đọc đột ngột đi qua nhiều trạng thái
cảm xúc: buồn thương, nghi ngờ, chua xót, cảm thông... Ngôn ngữ thơ hàm súc, nhỏ
nhẹ như một lời tâm sự, ý ngoài lời.
Bài thơ nhắc chuyện người xưa nhưng lưu ý chúng ta một
hiện thực thời nay tuy không phổ biến nhưng cũng không dễ bỏ qua. Nhiều người
con sau nhiều năm đất khách trở về, mong đem chút sức lực đóng góp cùng quê
hương. Nhưng không ít người bẽ bàng vì sau một thời gian ở quê thấy mình
nếu không biến thành phi lao, bạch đàn của sự cơ hội tầm thường thì
cũng sẽ bị lãng quên, chết dần thân lá, mỏi mòn theo thời gian!
Chúng ta mong sao mảnh đất đầy gió lào cát trắng,
vượt qua những tập tục, thành kiến hẹp hòi, động viên được mọi tài năng làm
giàu cho quê hương xứng đáng là nơi mà hai trăm năm trước Bùi Huy Bích (3) từng
ca ngợi:
Nhân tài tự cổ đa hào kiệt
Văn vật như kim tất đại đồng
Dịch:
Từ xưa nhân tài ở đây rất nhiều
Văn vật ngày nay đất cũng không khác xưa.
Chú thích:
(1) Ngụy Khắc Tuần (1789-?) quê Xuân Viên, Nghi Xuân, đỗ tiến
sĩ 1828, làm quan đễn chức Hộ bộ thượng thư, triều Minh Mạng.
(2)Xem thêm: - Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - Nguyễn Q. Thắng
và Nguyễn Bá Thể - Các nhà nho Xứ Nghệ - Ninh Viết Giao.
(3) Bùi Huy Bích: Hoàng giáp thời Lê (1744 -1818) quê làng Định Công, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, làm quan đến chức tể tướng
(có thời gian làm Đốc đồng Nghệ An).
5/6/2018Yến Nhi
Cỏ biếc
Cỏ biếc
Gia đình từ
đấy khá vất vả, mẹ tôi có nhận làm đại lý buôn gạo cho một hãng buôn đằng
trong, nhưng không được bao lâu. Theo sự gợi ý của cụ Tôn Thất Cẩn, năm sau tôi
và chị Bình vào Huế trọ học tại Nam Dao gần chùa Từ Đàm, chỉ về nhà vào dịp
hè. Ở Huế chị học Trường nữ Đồng Khánh, tôi học trường tư thục Bồ Đề do Hội Phật
giáo mở. Trường của Hội nhà Phật, nhưng giáo viên thuê dạy đa phần theo lương
chỉ vài người theo đạo Phật. Tôi nhớ có thầy Võ Đình Cường tác giả “Ánh đạo
vàng” và nhạc sư Nguyễn Hữu Ba theo đạo Phật, còn dạy Pháp văn là cô Mari Thư và
các môn khác đều là giáo viên người lương. Lớp học ngày ấy khó kiếm, trường Bồ
Đề xa chỗ chị em tôi ở trọ nên đi học ban sáng phải bới cơm trưa ở
lại chiều mới về nhà…
Lớp học, tôi có ba người bạn Di, Cận, Trúc. Di ở Gia Hội, Cận,
Trúc ở ngoại ô Nam Dao. Hằng sáng Trúc, Cận và tôi gặp nhau ở trước Chùa Từ
Đàm rồi cùng vào thành nội đến trường. Trưa, ba chúng tôi khi thì chơi đá
cầu ở sân trường, có khi ra phố ăn chè hoặc cốm bắp. Tôi rất thích xem
cái cách bắp được phun lên từ cái máy nổ rơi xuống khay sữa nhào lăn rồi
đóng gói tuôn ra bên cạnh. Rẻ và ngon. Chè Huế khỏi phải nói. Bát chè có
hai ba loại trộn lẫn. Chè hoặc kê - đậu, hoặc đen - đá, hoặc bắp - nếp. Có câu
hát “Ai ăn chè đậu đen, đậu váng, bánh tráng, chè kê sẵn lòng bán chịu. Alê … không tiền…” Câu hát vô nghĩa nhưng dễ nhớ. Những ngày lụt, đường phố
mênh mông có khi đi học chúng tôi phải ngồi lên cả bàn ping pông mà qua
những ngõ phố. Có trưa chúng tôi ra Cửa Thượng Tứ, cửa thành cũ, nơi có mấy cổ
đại pháo thủa xưa nằm vắt vẻo kể chuyện bao đồng cho nhau nghe. Rồi
vào nhà Quốc Tử giám xem đánh thẻ, đi hồ Tịnh Tâm ngắm sen nở… nhiều
kỷ niệm trong thời kỳ học ở trường này tôi nhớ mãi. Tôi học lớp Đệ Thất (như lớp 7 bây giờ), lớp học lúc ấy tôi nhớ hàng tháng bao giờ cũng có cọng điểm
xếp loại học sinh. Điểm thường được cọng theo hệ số. Văn, Toán, Sinh ngữ
- hệ số 2, điểm bậc 20, còn các môn khác như Lý, Hóa, Sử, Sinh vật - hệ số 1,
điểm 10 bậc. Trên tường cạnh bảng đen treo ”Bảng vàng”. Hàng tháng trên
bảng ghi danh theo thứ tự: Vào ô Danh dự là học sinh xuất sắc,
khoảng ba em, vào ô Tưởng lệ, là loại giỏi, khoảng năm em. Tôi cũng
thường được ghi danh ở đấy. Hồi nầy tôi học giỏi cả Văn, Toán và Pháp văn. Có
khi, bài văn được thầy đọc mẫu cho cả lớp nghe. Thầy dạy Văn tôi là GS Võ Đình
Cường, ông là nhà văn Phật tử. Lần ấy ông viết tác phẩm “Ánh đạo vàng”,
có diễn kịch, ông có đưa lớp chúng tôi đi xem. Vở kịch có tên tôi nhớ không lầm
là “Mùa gặt ác”, nói về thuyết nhân quả gieo gì gặt nấy trong đạo Phật. Tôi nhớ
nhiều hình ảnh người đàn bà điên trên sân khấu hôm ấy, như là hậu quả của những
tham, sân, si mà bà trải qua. Chính ông chấm và cho văn tôi nhiều bài điểm
Ưu, cho đọc mẫu cả lớp nghe và ở những lớp khác nữa. Tôi nhớ có bài văn
“Tả buổi tập xe đạp”, cậu bạn bài cũng khá kể khá nhiều về các người đứng xem
xung quanh vui vẻ, hò hét, vổ tay…; tôi lại tả nhiều về người tập xe cách
lấy đà, tăng tốc, giảm, ngã, các động tác quan sát kỹ càng. Ông bảo nên kết hợp
cả hai, bài văn mới sinh động. Nhạc sư Nguyễn Hữu Ba có đến dạy nhạc, luôn xách
theo cái hộp đàn đã sờn trong đựng cây violon cũ... Ông mang áo dài đen đạo
mạo với những bài hát cổ điển như Thu khói lửa, Lửa rừng đêm… Giờ học
nghiêm trang, cổ kính nhưng ai cũng thích vì cái vẻ trang trọng, thần tượng của
ông. Cô giáo Mari Thư nhà ở gần trường, có lần chúng tôi đến thăm, nhà
cô nghèo, bề bộn, tường treo nhiều ảnh diễn viên Pháp…
Thỉnh thoảng chị em tôi sang Gia Hội thăm gia đình Cụ Tôn Thất
Cẩn. Ba tôi quen cụ hồi tản cư, gia đình cụ ra vùng Trầm Hương được gia đình
tôi cưu mang giúp đỡ. Về sau cụ nhớ ân nghĩa cũ, trở về Huế vẫn thư từ giao hảo
với ba tôi. Nhà cụ sát bờ sông Gia hội, nhỏ nhưng đẹp, ngày nghỉ các con cháu
về chơi, họ hay đánh tổ tôm. Gia đình cụ gia phong nệ cổ, nói năng rất ý tứ.
Có bữa cụ giữ chị em tôi ở lại dùng cơm. Chị tôi cứ phải kéo áo tôi nhắc mãi.
Trước lúc ra về chị đưa tôi lên nhà trên chào cụ, phòng cụ làm việc hẹp, bàn
làm việc kê sát cửa nhìn ra bờ sông, gió thoáng mát. Trên bàn ngoài mấy quyển
sách có lọ để bút bằng sứ, trong có cả bút ta, lẫn bút lông chữ nho. Đập
vào mắt tôi chính là bức ảnh trên vách phía trên, một ông cụ bận áo đen, đeo
kính mặt tròn, khăn đóng cũng màu đen. Cụ Cẩn ăn bận dáng dấp cũng hao
hao giống người trên ảnh, chỉ khác cụ không có bộ râu như người trên bức ảnh,
sau này tôi mới rõ, đó là ảnh cụ Phan Bội Châu, một nhà yêu nước nổi tiếng lúc
bấy giờ, rất được các trí thức ái mộ. Gian nhà phía trước cụ cho một tay sĩ
quan thuê. Thỉnh thoảng ông ta vẫn giữ chị tôi lại nói chuyện. Sau này nhờ ông
này giúp đỡ mà chị và anh An tôi kiếm được việc làm trong thời gian đầu
khó khăn sau giải phóng.
Chợ Đông Ba ngày ấy nhỏ mà đẹp vì sát bờ
sông thuyền bè đến phía sau cập bến vào chợ khá tiện lợi. Chị tôi thường đến
dãy lều phía sau gội đầu. Lều nhỏ vừa chiếc chõng người nằm. Gội kỹ, rẻ tiền.
Chị tôi bảo thế. Gội ở đây có nước quê bồ kết, lá chanh, dễ chịu, lại hợp
túi tiền học sinh. Trường chị hoc là Đồng Khánh, lúc ấy tường sơn màu
tím. Có lần đón chị chở xe về, tôi thấy tan trường các chị tỏa ra như một đàn
bướm. Đẹp và rực rỡ vô cùng. Trường học Đồng Khánh cho con gái, khác trường Khải
Định bên cạnh dành cho con trai. Chị em tôi trọ trên dốc Nam Dao
trong ngôi nhà có vườn, có am hầu đồng. Chẳng là nhà này bà chủ ở phố, lập
ra cốt làm nơi hầu đồng hàng tháng, chỉ bà mẹ già ông chủ ở trông coi ngôi nhà
và chị em tôi ở trọ một gian nhỏ đầu hồi. Khi nào hầu đồng bà lên, hết buổi lễ
lại về. Nhà vắng, tuy xa nhưng tiện cho việc học hành của chị em tôi. Những lần
nhà có giá đồng thật rộn rịp, chị em tôi phải xuống nhà chính của bà ở phố, nhường
nơi này cho người ta làm lễ. Đó là những dịp chúng tôi đi thực tế biết thêm về
Huế. Vãn cảnh chùa, ăn cơm chay hoặc thăm thú nơi nào đó tùy thích.
Bánh khoái Huế là món ăn mà chị thường đãi và tôi thấy hợp khẩu
vị mình nhất. Quán không đông khách lắm đủ cho người ăn vui và trò chuyện. Bà chủ nhanh tay trộn bột và trứng đổ vào chảo rán cùng tôm, thịt, giá đổ… xào thơm lừng rối gấp lại cho lên đĩa còn nóng hổi bốc khói. Dĩa rau sống
xanh mướt đủ loại, có cả rau thơm và quả vả . Đặc biệt nước chấm sền sệt thơm
ngon béo ngọt Miếng bánh cho vào miệng tan nhanh như một hoài niệm. Bánh
có hạn, rau thì thoả thích. Nụ cười thân thuộc bà chủ quán như hẹn lần khác lạị
đến.
Tôi, Cẩn,
Di và Trúc, bốn đứa bạn cùng lớp mỗi đứa một hoàn cảnh nhưng khá thân nhau.
Trúc con nhà làm thợ rèn, Cận là tiểu ở chùa cử đi học. Có chủ nhật tôi đến nhà
Trúc, biết nghề rèn khá vất vả và người bố Trúc tật nguyền. Ông một chân
bị liệt vẫn ngồi kéo bể cho người chú rèn các vật dụng. Trúc đánh trần giúp mẹ
làm việc ngoài vườn. Tôi biết để Trúc theo học là một cố gắng hết sức của gia
đình. Từ đấy tôi càng quý Trúc hơn. Di nhà khá giả ở gần nhà cụ Tôn Thất Cẩn,
tình cờ có lần sang nhà cụ về gặp Di đang đi học đàn. Cậu rủ vào nhà, nhà Di
khá giả, mẹ là cô giáo, cha công chức, Di con một, biết chơi violon. Từ đấy
cậu tham gia nhóm chúng tôi, thỉnh thoảng lên Nam Dao cùng đi chơi nhân các dịp
lễ như Phật đản, Vu Lan…
Hồi ấy ở Huế
tôi chưa có dịp đi xa lên vùng các lăng tẩm, và ngoại ô, chỉ quanh quẩn các đền
đài, trong thành nội, và hai bờ sông Hương. Bạn Cẩn của tôi, chú tiểu được cử
đi học, có lần chú đưa lên chùa chơi, chùa rất u tịch, sân nhiều cây cảnh, vài
bức tượng. Đằng sau chùa có vườn rau, có nhiều loại hoa, có vài mộ tháp đã phủ
kín rêu phong. Công việc của Cẩn là đi học về giúp các sư làm các việc vặt, như
quét dọn và chăm cây. Bữa ấy Cẩn còn hướng dẫn tôi dự “chui” một buổi “quy hương” cho một sư ở đó. Quy hương là phép đặt những đốm hương cháy đỏ trên
đầu tăng, ni để chứng nhận trọn đời “quy y Tam bảo”, hiến dâng thân thể cho đạo
giới. Trong ánh sáng hương đèn tôi chỉ nhớ khuôn mặt mơ màng của chú tăng và giọng
đọc kinh bổng trầm hư ảo cùng bàn tay gầy guộc của vị sư già đứng cạnh đặt trên
đầu chú tăng lần lượt từng nụ hương cháy đỏ. Những dấu hương sau này thành sẹo.
Có tăng ba dấu hương, có tăng sáu, có tăng chín dấu, những dấu hương chứng tỏ
sự nhiệt thành chứng đạo hiến thân cho Tam bảo.
Nhớ tiểu Cận nữa là buổi học nào cậu cũng mang đầy bâu
áo đậu nành rang, chùa trữ nhiều để làm tương, cậu lấy một ít mang đi ăn sáng. Vị bùi, ngọt của đậu kéo dài mãi từ cổng chùa cho đến sân trường. Hè năm ấy tôi
có nhận được thư Di, biết cậu sắp theo bố ra nước ngoài, sau đó bặt tin cả
ba.
Ở Huế một năm, đến khi hòa bình lập lại chị em tôi chia
cách, tôi trở về Đồng Hới không còn đi học ở Trường Bồ Đề nữa, chỉ còn chị Bình
ở lại Huế, sau này anh hai tôi cũng vào ở với chị. Những ngày ở Huế với bao kỷ niệm sống dai dẳng mãi trong tôi cho mãi đến sau này cả khi vui lẫn lúc buồn, nhất là những kỷ niệm về văn hóa, nghệ thuật mà tôi có dịp tiếp
xúc dẫu ít ỏi với các ông thầy nổi tiếng lúc bấy giờ.
Sau chiến tranh, với cuộc phân chia hai miền tình cảnh và
kinh tế các gia đình nói chung trong đó có gia đình tôi trải nhiều thay đổi có
nhiều biến cố đã xẩy ra. Tôi có trở lại chốn cũ đôi lần nhưng khác xưa
nhiều.
CHƯƠNG BỐN: NHỮNG NĂM CẤP BA
Về chủ trương, đường lối CCRĐ thì đã nhiều sách báo, nhiều học giả bàn đến, ở đây chỉ đi vào một vài sự kiện cụ thể có liên quan đến gia đình tôi.
Thoát ly làng quê, bỏ ruộng đất từ đầu những năm bốn mươi, ấy thế nhưng trong
CCRĐ nhà tôi lại bị quy là địa chủ, đội triệu tập mẹ tôi về quê tuyên xử,
tịch thu tài sản cả ở thành phố. Sau này sửa sai trả lại thành phần, nhưng than
ôi nhà cửa tài sản còn đâu. Mẹ con phải đi ở nhà thuê buôn bán lặt
vặt độ nhât. Lý do cơ sự như vậy, sau này có người ở quê từng có chân
trong đội lúc bấy giờ cho biết. Một lần cán bộ xã về đi họp ở thành phố, đêm
khuya gõ cửa nhà tôi chắc là muốn trọ qua đêm. Mẹ tôi ngại ngần từ chối
thế là họ thù, về nhân dịp CCRĐ họ nâng thành phần lên!
Với ngôi nhà rộng ba tôi mua hồi trước, vì ở gần bến
xe nên mẹ tôi cho thuê mở quán trọ, mẹ cũng mở một quầy hàng nhỏ kế bên,
đời sống tạm ổn, tôi theo học Trường Cấp hai thị xã cách nhà không xa. Sau khi sự biến xẩy ra tôi vừa đi học vừa phải chạy hàng cho mẹ, ngôi
quán nhỏ bán hàng vặt kẹo bánh, nước ngọt, thuốc lá v.v… Năm sau tôi vào học Cấp
ba, ở Đồng Hới không có trường phải ra Hà Tĩnh trọ học, thi thoảng mới về thăm
nhà, thăm mẹ. Thương mẹ và lo lắng kinh tế eo hẹp nhiều lần tôi định bỏ học,
nhưng mẹ tôi kiên quyết bảo tôi phải tiếp tục. Mẹ bảo đó là ước nguyện
cũng là lời dối dăng cuối cùng của ba tôi. Chị đầu tôi lâý chồng ở Quảng Trị,
gửi một đứa con gái ra ở với mẹ, cháu Hồng giúp bà khuya sớm.
Học ở xa, hè về tôi phải kiếm việc làm giúp mẹ, tôi vào làm phụ việc ở một xưởng
bánh kẹo người Hoa, chú ANị. Cùng học việc với tôi có một cậu nữa, cậu Danh nhà
ở cạnh. Một ngôi nhà nhỏ hai gia đình sống chung, chú ANị làm bánh kẹo, chú
XúLìn bán phở dạo và bánh bao. Chú Nị có vợ người Việt, thím trẻ hơn chú có đến
chục tuổi. Hai vợ chồng có một cháu trai khoảng 4 tuổi. Thím ốm luôn, đặc biệt
bị các hạch ở cổ, có lần nghe ai mách bảo thím phải nuốt cả con thằn
lằn để chữa cơn đau. Chú gốc Quảng Đông sang Việt Nam từ lâu, sinh kế gặp
thứ gì làm thứ nấy, nhưng chủ yếu làm bánh kẹo. Cửa hàng nhỏ, sản xuất thủ
công các loại kẹo như kẹo chanh, sữa, bạc hà, bánh nướng, bánh đậu xanh, bánh
quy… thi thoảng có ai đặt thêm thứ gì cũng làm . Chúng tôi những thợ phụ
làm nhiều việc, nào rang lạc, phết nhân, in bánh, gói kẹo có khi đi giao
hàng, đưa bé đi học. Tôi thạo việc nhanh, thường thì in bánh, nhưng cũng có khi
được nhồi bột, hay vô lò nướng. Chú chỉ bảo nhẹ nhàng, không hay khen chê gì cả.
Nhiều lúc rảnh cũng hay nói chuyện tếu. Vui, chú kể chuyện: Hồi
trẻ có lần bọn bạn rủ đi chơi gái, thách đứa nào chơi lâu được thưởng khỏi
trả tiền. Chú nhỏ con nhưng lần nào cũng được vì có người truyền cho chú cái mẹo
ngậm đồng tiền trong miệng khi giao hợp. Chẳng biết có đứa nào thực hiện mẹo đó nhưng về sau đứa bạn nào đi chơi đâu cũng kêu và đãi chú.
Kinh nghiệm những ngày ở xưởng bánh kẹo giúp tôi sau
này đi trọ học bao giờ liên hoan cũng được gia chủ và bọn bạn khen. Ở xưởng
bánh kẹo, vì một xưởng thủ công nên hầu hết làm bằng tay, xử lý bằng kinh nghiệm,
không có máy móc dụng cụ gì cả. Công việc chúng tôi làm không có gì nặng nhọc
chỉ cần lưu ý một điều “không để cháy”. Nấu đường theo dõi độ nhão, khi
nào thử đường bằng chiếc đũa nhúng vào chảo đường rồi cho nhỏ vào một bát nước,
thấy giọt đường tròn thử bằng tay dẽo mà chưa cứng, ấy là được. Non thì kẹo chảy
nước, già thì khét. Phết nhân cũng vậy, chảo nhân đầy trộn đủ các loại,
nào bột, kẹo rẻo, đường đậu vụn, có cả dầu béo…, phết đều tay để cho bột nhân
không dính chảo, cháy. Đậu rang không phải dăm bảy bát mà cả thúng, đổ vào chảo
gang lớn, dùng một chiếc vên trộn liền tay từ bên này sang bên kia chảo
khi nào nghe thơm, thử vỏ lạc bong ra là được. Khó nhất là nướng bánh. Lò thủ
công đốt nóng bằng củi, chờ củi tàn gạt than ra hai bên, chừa lại khoảng giữa để
nướng bánh. Các mâm bánh dùng vên đưa vào đậy kín, đợi bánh vàng lấy ra. Không
thể mở của lò nhiều lần vì giảm nhiệt mà phải ước chừng bao giờ bánh vàng hườm
thì ra lò. Màu vàng của bánh được tạo nên do việc nó được phết bằng lòng
đỏ trứng, bắt nhiệt rất nhạy. Công việc này thường chú Nị tự đảm nhiệm.
Chú XúLìn bán bánh bao dạo và phở gánh, chú có
bà vợ và một cô con gái. Hai mẹ con gầy đét, ít nói, sợ chú một phép.
Đêm thức khuya làm bánh bao khuôn mặt mẹ con càng thêm hốc hác. Buổi sáng
chú đánh một gánh bánh bao gồm hai thùng nhôm kín có ủ bao tải đi bán dạo quanh thị xã, khoảng chín giờ hết hàng về, chuẩn bị buổi chiều và tối đi bán
phở dạo tiếp tục.
Chú có hai thanh gỗ vừa gánh vừa gõ kêu lách cách
ra hiệu đến cuối con phố dừng lại. Người quen cứ thế đến đầu ngõ phố đợi
đón mua. Phở chú ngon khách quen ưa dùng, khoảng chín giờ tối bán xong
hàng chú mới về nhà ăn cơm. Xong là ngủ, các việc khác đã có vợ con lo. Họ sống
hòa thuận, thỉnh thoảng có đi họp bang Hoa kiều ở hội quán gần đó khi có
người đến nhà thu tiền đóng đậu gì, vợ chồng chú luôn niềm nỡ.
Có hè tôi đi làm ở Xưởng thuỷ tinh, thổi chai lọ bóng đèn,
có lúc làm ở Xưởng đúc gạch, có khi lại làm ở Cửa hàng bánh tráng. Làm đủ
nghề trong hè để có tiền giúp mẹ đi trọ học.
Ở Xưởng thủy tinh công việc chủ yếu của tôi là kéo lò. Kéo lò
để cho thuỷ tinh chảy ở nhiệt độ nhất định. Việc đơn điệu không có gì nặng nhọc
nhưng ngại nhất là ca ba gần sáng buồn ngủ díp mắt, bẹo tay bẹo chân, rửa nước lã đôi khi chẳng ăn thua, cuối cùng chỉ có cái sợ tắt lò, thủy tinh đóng
cục là khiến hết hồn, hết buồn ngủ. Cái hay là thấy các ông thổi bóng đèn, chai
lọ quả là những nghệ sĩ tài danh. Với một ống thép dài họ quấn vào lò thủ tinh
kéo ra từng cục đỏ ròng, dẻo quẹo, kề vào các khuôn, thổi, kéo lên những
chai lọ đẹp như mơ. Công việc cắt gọt sữa sang thường dành cho vợ con các thợ.
Đi làm lò gạch, phải dậy từ sớm, với đùm cơm vắt chạy bộ mấy
cây số cho kịp tới nơi làm. Tôi thường được phân đúc gạch. Mấy cô nữ xẻo đất, chất
thành đống nhồi nhuyễn kỹ. Mấy cậu trai khỏe làm đất, việc mệt nhọc nhất, nắng
nôi nữa vì đa phần là ngoài trời. Tôi và cậu nữa nhận phần đúc. Hồi ấy chúng
tôi đúc gạch ở mặt nền bằng chứ không đúc trên bàn gỗ như sau này. Đúc nhanh
nhưng gạch xấu, thường bán cho khách mua làm công trình phụ. Tôi đúc nhanh khéo
tay, nhanh chân, nên ít phải đổi sang việc khác. Việc nặng nhọc nhưng có bạn
chuyện trò vui cả ngày, trưa góp ăn chung, rất thân thiết. Hai bạn thợ làm gạch
Thị Sang và Ngọc Lợi yêu nhau, sáng đi làm, chiều về, đều đi cùng nhau. Buổi
trưa chúng tôi nghỉ ở lán họ vào xóm tìm mua khoai, dưa… chiều mang về, trước
làm khoán việc rồi thành công nhân, sau này thành đôi luôn.
Có hè hiếm việc tôi phải nhận làm ở Cửa hàng bánh tráng (bánh đa). Phần việc chính các bà làm, họ giao tôi việc xay bột.
Nặng nhọc thì ít nhưng phải quen tay quen mắt nếu không thì bột to, chảy chậm,
có khi văng ra ngoài. Một tay xoay cần cối, một tay đổ nước đều đều vào cối gạo
có sẵn sao cho bột gạo tan vào nước chảy vào cái thau bên cạnh, nước bột sánh
đều nếu không phải làm lại. Chỉ vài buổi sau cũng quen dần, việc làm có
chất lượng các bà khen.
Những chiều hè nghỉ, tôi thường cùng các bạn hoặc đi đá
bóng hoặc đánh bóng bàn. Đá bóng thì xoàng nhưng đánh bóng bàn thì hay. Tôi thường
được các bạn rủ đi, đặc biệt là bạn gái, tôi có mấy cô bạn thân nhờ
việc đánh bóng này. Có lần tôi được giải trẻ thành phố và ngành Giáo dục.
Cả cấp hai và cấp ba tôi đều khá văn và yêu thích văn hơn các môn khác. Thầy
Phạm Vân Sơn dạy hồi Cấp hai, đã phê học bạ và tôi nhớ mãi: “Tính tình thất
thường, đôi khi thiếu khiêm tốn. Học được thâu nhận nhanh, nhiều khi có ý xuất
sắc trong quốc văn”. Lên Cấp ba thầy giáo ảnh hưởng tôi nhiều nhất là thầy Nguyễn
Sĩ Bá. Tôi nhờ đánh bóng bàn mà quen thầy. Giờ nghỉ và thứ bảy, chủ nhật
thầy hay đến hội trường đánh bóng. Thầy đánh khá hay. Tôi lúc ấy đã là cây vợt
đầu tỉnh. Nhiều lần được gọi tập trung đi đấu giải, được tuyên dương dưới cờ về
thành tích thể thao. Nhưng nhớ thầy chủ yếu về môn Văn và những kỷ niệm khác.
Thầy dạy Văn tôi cả ba năm tám chín mười ( hư là lớp mười, mười một, mười
hai hiện nay). Ban đầu các bài tôi làm chỉ trung bình sau khá dần lên cho đến
cuối năm lớp mười thì điểm tổng kết 5, điểm cao nhất. Thầy để ý tôi vì những
lúc đi lao động nói chuyện về văn, nhũng lần phát biểu ở lớp về các tác phẩm cũ
như Nửa chừng Xuân, Hồn bướm mơ tiên, Trống Mái… Những tác phẩm mà
lúc bấy giờ ít có và không mấy người đọc được. Phần tôi ở vùng tạm chiếm
cũ nên đọc những sách này ở thư viện từ những năm học đầu cấp 2. Chỉ kể thôi,
không biết phân tích nội dung nhưng khá gây ấn tượng. Thầy thỉnh thoảng đến nhà
trọ thăm. Năm cuối cấp, về hè biết hoàn cảnh tôi, thầy đã cho mượn một số tiền
để trả tiền trọ… Sau này ra đại học thì thầy đã đổi về quê, không gặp lại thầy
được, theo dõi, biết thầy đã lập gia đình và là người được Bộ Giao duc nhiều lần mời tham gia biên soạn nhiều bộ sách Ngữ văn cho các lớp phổ thông. Phong cách
giảng dạy chân thật, nhẹ nhàng, say sưa của thầy để lại dấu ấn cho nhiều thế hệ
học sinh.
Thầy T.Q. là
người thứ hai gợi cho tôi nhiều cảm xúc. Đời thầy nhiều khúc mắc, có chi tiết
như là giai thoại. Nào là thầy từng là võ sĩ thượng đài hạ nhiều đấu thủ
cả Tây lẫn Việt, cả da đen lẫn da trắng. Nào là thầy tham gia QDĐ từng là thành
viên Ban ám sát, được chỉ định ám sát nhiều cán bộ lãnh đạo cách mạng, sau giác
ngộ theo Việt Minh. Nào là CCRĐ bị quy là phản động, bị đi tù sau này nhờ có học
sinh làm to can thiệp cho mới được trả lại tự do. Naò là thầy dạy có nhiều học
sinh làm đến Thứ trưởng, Giám đốc, Giáo sư, Tiến sĩ, còn nghe kể cả những thói
quen khác như dạy không giáo án, quên xe đạp ở Sân đá bóng ba bốn ngày không ai
lấy… Dạo ấy, trường học là một khu vực chung, phần trước là lớp học, văn phòng,
sân tập thể thao thể dục, hội trường, phòng bóng bàn. Phía sau là khu tập thể
giáo viên và nhà ăn tập thể. Bởi vậy lúc nghỉ là các thầy có thể vài bước lên hội
trường chơi ban bóng. Tôi cũng quen thầy nhờ bóng bàn. Thầy thích bóng
bàn, đánh không hay nhưng lắm mẹo: giao bóng ngắn, nhìn một bên đánh một bên.
Tôi thuộc loại học sinh nhỏ, ở xa về trọ học, thầy hay rủ đi chơi, khi
thăm phụ huynh, khi vãn cảnh xa, đóng vai thị đồng vậy. Thầy hay dẫn đi dạo phố,
ăn kẹo cu đơ, uống chè xanh. Cuối lớp 12 thầy hỏi tôi định vào đại học nào? Tôi
thành thật: Em sẽ vào sư phạm thầy ạ. Sư phạm dễ đậu lại chỉ học ba năm, mau ra
trường, em còn về đi dạy giúp mẹ già! Thầy bảo tôi có đôi mắt và cái miệng dạy
văn được… Có một chi tiết mà giờ đây nhớ lại tôi vẫn chưa hiểu được là có lần đi
chơi, vui miệng thầy hỏi: Này N, cậu bảo giặc vào liệu nó có bắt thầy học cũ
không? Câu hỏi lạ đối với tôi, tôi chỉ đáp vu vơ nhưng lại nhớ lâu. Thầy
giỏi cả Pháp lẫn Anh ngữ, tham gia dịch nhiều tác phẩm như kịch Sêcspia, truyện
Guy đờ Môpatxăng… Có lần bắt phi công bị bắn rơi, ủy ban tỉnh nhờ thầy đi
phiên dịch, thầy kể vui: tao nói chúng không hiểu chỉ Zét và Nô. Tính thầy
phóng túng không ưa nịnh hót. Sau này đề cử mãi không được cái danh
hiệu NGUT chắc cũng vì cái tính đó. Nói về thầy nhiều người đã viết bài
ca ngợi, ở đây tôi chỉ ghi lại vài nét hồi ức về người thầy một thuở như
là kỷ niệm của một cậu học trò nhỏ.
Các bạn
học tôi quen phần nhiều là các bạn đồng hương và cùng nhà trọ. Chúng tôi ở
trọ với nhau: Tài, Danh, Long, Thành, Thống… Tài, người miền
Nam giỏi đá bóng, Danh - bạn bóng bàn, Thống - giỏi Toán, Cà thấp lùn, Long -
chơi xà kép. Sau cấp ba mỗi người một nơi ít gặp lại. Chỉ thương nhớ Thành, cậu
bạn hay đóng cặp tuồng với tôi hồi thiếu niên. Tôi hay đóng tướng, nguyên
soái Thành đóng quân sư. Nhà Thành ở sát Cầu Dài có người anh là nhà thơ,
thường đến trường nói chuyện. Nghe nói học năm thứ nhất bị vu là ăn cắp, đem
ra kiểm điểm Thành thanh minh không được đã nhảy lầu tự tử.
Tôi thuộc loại học sinh nhỏ, ở xa về trọ học, thầy hay
rủ đi chơi, khi thăm phụ huynh, khi vãn cảnh xa, đóng vai thị đồng vậy.
Thầy giỏi cả Pháp lẫn Anh ngữ, tham gia dịch nhiều tác phẩm như kịch Sêcspia,
truyện Guy đờ Môpatxăng… Có lần bắt phi công bị bắn rơi, ủy ban tỉnh nhờ
thầy đi phiên dịch, thầy kể vui: tao nói chúng không hiểu chỉ Zét và Nô. Tính
thầy phóng túng không ưa nịnh hót. Sau này đề cử mãi không được cái
danh hiệu NGUT chắc cũng vì cái tính đó.
Các bạn học tôi quen phần nhiều là các bạn đồng hương
và cùng nhà trọ. Chúng tôi ở trọ với nhau: Tài, Danh, Long,
Thành, Thống… Tài, người miền Nam giỏi đá bóng, Danh bạn bóng bàn, Thống giỏi Toán, Cà thấp lùn, Long chơi xà đơn. Sau cấp ba mỗi người một nơi ít gặp
lại. Chỉ thương nhớ Thành, cậu bạn hay đóng cặp tuồng với tôi hồi thiếu
niên. Tôi hay đóng tướng, nguyên soái Thành đóng quân sư. Nhà Thành ở sát
Cầu Dài có người anh là nhà thơ, thường đến trường nói chuyện. Nghe nói học
năm thứ nhất bị vu là ăn căp, đem ra kiểm điểm Thành thanh minh
không được đã nhảy lầu tự tử.
Kỳ nghỉ hè năm ấy nhờ đánh bóng bàn, về quê tôi quen N.A, học sinh Bắc Lý, loại
điển hình của trường thời bấy giờ. Người gầy nói giọng hơi chơn chớt trẻ con.
Đi chơi vài buổi có ghé nhà. Vườn rộng, mẹ bán vải ở Chợ. Dạo ấy thị xã Đồng Hới không có Trường Cấp 3, số học sinh lên cấp này phải ra ngoại tỉnh học không nhiều.
Tôi ở trong số đó, về hè theo các cậu bạn hay rủ nhau đánh bóng. Tôi, NA và
DL, bạn cô ấy, hay cùng nhau đi chơi khi thì đến thư viện, khi ra ngoại ô hay
đi biển. Hai cô hay rủ tôi đi tập bóng. Khá thân nhau suốt những năm cấp 3, lên
đại học vì mẹ tôi chuyển về Nghi Xuân tôi không về hè ở Đồng Hới nữa nên không
còn gặp, nhưng thỉnh thoảng vẫn biên thư cho nhau kể chuyện học hành, ban bóng
linh tinh. Tôi mến và nhớ NA ấy nhiều. Thư từ qua lại nhưng chỉ nhớ thầm, nghĩ
thầm về nhau còn tịnh không hề có một lời gì khác dù xa ngái.
Những ngày ở quê mặc dầu DL hình như rất mến tôi
nhưng tôi lại hướng nhiều về NA nên tình cảm cứ trôi qua trong cái tam giác mơ
màng của bộ ba đầy lãng mạn ở tuổi học đường. Sau đó DL gắn với một anh
chàng đeo kính cận học giỏi trên cô hai lớp, ở ngoài bắc về.
Những lá thư NA gửi, tôi giữ mãi sau này cho dù nhiều phen di chuyển thất lạc
nhiều thứ.
Mẹ tôi ngày càng yếu, cuối năm Cấp ba, hè thi xong cả hai kỳ
Phổ thông và Đại học tôi định bỏ học, đi làm nghề giúp mẹ. Vừa lúc ấy có
thư các anh ở Bắc về, khuyên mẹ tôi về quê và tôi ra ở cùng các anh theo học tiếp
tục.
25/9/2018Yến NhiNguồn: Trích: CHƯƠNG BA: VÀO HUẾ
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...