Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2022

XXXXXÐiều kiện hậu hiện đại: Bản tường trình về tri thức

Ðiều kiện hậu hiện đại:
Bản tường trình về tri thức

(Từ bài "The Postmodern Condition: A Report on Knowledge" của Jean-Francois Lyotard)
1. Lãnh Vực Nghiên Cứu: Tri Thức Trong Các Xã Hội Điện Toán Hóa
Giả thuyết tạm dụng cho lý luận của chúng ta là hiện trạng của tri thức bị thay đổi khi các xã hội bước vào thời kỳ gọi là hậu kỹ nghệ và các nền văn hoá bước vào thời kỳ gọi là hậu hiện đại. Quá trình chuyển tiếp này ít nhất cũng đã bắt đầu từ những năm cuối thập niên 1950, thời điểm Âu châu hoàn tất công cuộc tái thiết. Nhịp độ thay đổi nhanh hoặc chậm tuỳ thuộc vào từng quốc gia, và trong mỗi quốc gia cũng có sự khác nhau tuỳ theo từng lãnh vực hoạt động: hoàn cảnh chung là những sự tách biệt (ở các lãnh vực khác nhau đó) chỉ có tính cách tạm thời, nên rất khó vạch ra một hình ảnh khái quát. Một phần nào đó của việc diễn tả (các ý tưởng trong bài viết này) sẽ cần đến tính phỏng đoán. Dẫu sao đi nữa, chúng ta cũng biết được rằng, thật chẳng khôn ngoan chút nào khi đặt quá nhiều tin tưởng vào ngành tương lai học (futurology).
 
Thay vì không thể nào tránh khỏi việc vẽ lên một bức tranh thiếu hoàn chỉnh, tôi sẽ khởi sự từ một tiền đề duy nhất, một tiền đề mà ngay lập tức sẽ chỉ ra đối tượng nghiên cứu của chúng ta. Tri thức khoa học là một dạng thức của giải trình ngôn ngữ (discourse). Công bình mà nói, trong suốt bốn mươi năm qua những ngành khoa học và kỹ thuật hàng đầu phải hoạt động với ngôn ngữ: âm vị học và những lý thuyết về ngôn ngữ học, những vấn đề của truyền thông và điều khiển học, những lý thuyết hiện đại về đại số học và tin học, máy điện toán và những ngôn ngữ điện toán, những khó khăn về sự chuyển dịch và sự tìm kiếm những lãnh vực tương hợp giữa các ngôn ngữ điện toán, những vấn đề về việc dự trữ thông tin và các trung tâm lưu trữ dữ kiện, viễn thông và sự hoàn thiện các điểm tiếp nhận tin tức, cho đến nghịch thuyết học (paradoxology). Thực tế sẽ tự chúng nói lên nhiều hơn (và danh sách không dừng lại ở những điều đã viện dẫn).
 
Người ta cho rằng những sự chuyển đổi khoa học kỹ thuật này sẽ có những tác động đáng kể đến tri thức. Hai chức năng chính yếu của nó – sự nghiên cứu và sự truyền dẫn những kiến thức thu nhận được – đang tiếp thụ những hiệu ứng [của các sự chuyển đổi đó] hoặc sẽ có trong tương lai. Tương ứng với chức năng thứ nhất, di truyền học có thể cung ứng một ví dụ mà một người ngoài chuyên môn có thể hiểu được: những hệ lý thuyết then chốt của nó nhờ vào điều khiển học. Còn nhiều thí dụ khác có thể được chỉ ra. Đối với chức năng thứ hai, ai cũng biết rằng sự thu nhỏ và thương mại hoá máy móc đang làm thay đổi cách kiến thức được tiếp nhận, phân loại, sắp sẵn, và tận dụng. Có thể có lý để giả định rằng sự phổ biến của các máy móc truyền dẫn thông tin đang và sẽ có những hiệu ứng trong việc lưu hành kiến thức giống như những tiến bộ trong quá khứ về sự lưu thông của nhân loại (các hệ thống vận tải), và sau này, trong sự lưu hành những âm thanh và hình ảnh (truyền thông).
 
Bản chất của tri thức không thể nào tồn tại bất biến trong một khung cảnh biến đổi toàn thể như thế. Nó có thể gắn kết vào những hệ thống mới, và trở nên hoạt tác, chỉ khi kiến thức được chuyển dịch thành những dung lượng thông tin. “Chúng ta có thể dự đoán rằng bất cứ một hình thái cấu trúc nào của tri thức mà không chuyển dịch được theo cách này sẽ bị loại bỏ, và hướng nghiên cứu mới sẽ được điều khiển bởi khả năng mà những kết quả sau cùng có chuyển dịch được sang ngôn ngữ điện toán hay không. Những nguồn cung – cầu của tri thức bây giờ, và trong tương lai, sẽ phải sở hữu những phương tiện chuyển dịch sang các loại ngôn ngữ [điện toán] bất cứ thứ gì họ muốn phát minh và tiếp thụ. Nghiên cứu về các loại máy chuyển dịch đã đạt được những tiến bộ tốt đẹp.” Sự độc tôn của máy điện toán dẫn đến một hệ thống lý luận nhất định, và từ đó kéo theo những bản chỉ dẫn nhất định để xác định loại phát ngôn nào được chấp nhận như những phát ngôn của "tri thức".
 
Vì vậy có lẽ chúng ta đang mong đợi một sự ngoại hiện thông suốt của kiến thức tương ứng với một “kẻ hiểu biết”, ở bất cứ một điểm gì anh/chị ta có thể thủ đắc trong tiến trình tri thức. Nguyên tắc cổ điển, ở đó sự thu đạt tri thức, không thể tách rời với sự rèn luyện những tư tưởng, hoặc ngay cả những cá nhân (trí thức), đang trở nên hủ lậu và sẽ càng cổ lỗ hơn. Những quan hệ cung – cầu của tri thức đối với tri thức được cung cấp hoặc sử dụng ngày nay đang có khuynh hướng, và sẽ tiếp tục gia tăng khuynh hướng, chiếm lấy một dạng thức đã từng thể hiện bởi quan hệ cung – cầu trong hàng hoá đối với những loại hàng hoá sản xuất và tiêu thụ – nghĩa là hình thức giá trị. Tri thức đang và sẽ được sản xuất để rao bán, nó đang và sẽ được tiêu thụ để được định giá trong một nền sản xuất mới: trong cả hai trường hợp (tri thức và hàng hoá), mục đích là trao đổi.
 
Tri thức tự thân không còn là một sản phẩm sau cùng, bản thân nó mất đi “giá trị sử dụng” [để chỉ giữ lại giá trị trao đổi].
 
Người ta chấp nhận một cách rộng rãi rằng tri thức đã trở thành lực lượng sản xuất chính yếu trong vài thập niên vừa qua, điều này đã có những tác động đáng chú ý trong cấu trúc các lực lượng lao động ở các nước phát triển cao và tạo ra những đình trệ lớn lao (của việc ứng dụng tri thức vào nền sản xuất mới) cho các quốc gia đang phát triển. Trong thời hậu kỹ nghệ và hậu hiện đại, khoa học sẽ tiếp tục duy trì và tăng cường tính vượt trội của nó như là nguồn cung cấp khả năng sản xuất cho quốc gia – nhà nước. Thật vậy, tình trạng này là một trong những lý do dẫn đến kết luận rằng khoảng cách giữa các quốc gia đã và đang phát triển sẽ còn gia tăng ngày một rộng hơn trong tương lai.
 
Nhưng khía cạnh này của vấn đề không nên để che lấp một khía cạnh khác có tính cách bổ sung cho nó. Tri thức trong dạng thức hàng hoá tin học không thể tách rời được với lực lượng sản xuất, đang và sẽ là nguồn lợi chính trong sự cạnh tranh quyền lực trên khắp thế giới. Người ta nhận thức được rằng, một ngày nào đó các quốc gia – nhà nước sẽ tranh đấu để giành quyền kiểm soát tin học, hệt như họ đã từng lâm chiến để chiếm giữ đất đai, để rồi sau đó chiếm đoạt của cải, nguyên liệu và nguồn nhân công rẻ mạt. Một trận địa mới đang được mở ra, cho bên này là những chiến lược về công nghệ và thương mãi, còn bên kia là những chiến lược về chính trị và quân sự.
 
Nhưng quan điểm tôi đưa ra trên đây không đơn giản như tôi đã trình bày. Vì sự thương mại hoá tri thức được gắn kết để tạo ảnh hưởng tính đặc quyền mà các quốc gia đang thụ hưởng và sẽ tiếp tục thụ hưởng, tương ứng với việc sản xuất và phân phối kiến thức. Khái niệm cho rằng tri thức rơi vào phạm vi hoạt động của nhà nước, như là não bộ và trí óc của xã hội, sẽ ngày càng trở nên lỗi thời khi những nguyên tắc đối nghịch đang gia tăng sức mạnh, một nguyên tắc mà xã hội có thể tồn tại và tiến bộ, chỉ khi những thông điệp lưu hành trong xã hội đó thật giàu có lượng thông tin và dễ dàng giải mã. Ý thức hệ của sự bạch hoá truyền thông, để có thể trao đổi trong tiến trình thương mại hoá tri thức, sẽ bắt đầu cảm nhận được rằng chính Nhà Nước đóng vai trò như một yếu tố mập mờ và “nhiễu tạp” (noise). Chính từ quan điểm này – vấn đề quan hệ giữa kinh tế và quyền lực nhà nước, đang đe doạ làm bùng lên một tình hình khẩn trương mới.
 
Trong vài thập niên vừa qua, những quyền lực kinh tế đã đạt đến đỉnh điểm, đẩy sự ổn định của quốc gia vào tình thế hiểm nghèo, thông qua những hình thức lưu hành tư bản mới, đi đôi với một tên gọi chung – những tổ hợp đa quốc. Những hình thức lưu hành (tư bản) mới này có hàm ý rằng những quyết định đầu tư, nếu không hoàn toàn, thì ít nhất cũng một phần nào đó, đã vượt qua sự kiểm soát của quốc gia – nhà nước. Vấn đề chắc chắn sẽ trở nên vô cùng gai góc với sự phát triển của kỹ thuật điện toán và viễn thông. Lấy thí dụ, một công ty như IBM chẳng hạn, được quyền chiếm giữ một vành đai ngoài quỹ đạo trái đất và phóng (lên đó) những vệ tinh truyền thông hoặc những trung tâm lưu trữ dữ kiện vệ tinh. Ai sẽ có quyền sử dụng chúng? Ai sẽ quyết định kênh nào hay loại dữ kiện nào sẽ bị cấm (sử dụng)? Nhà nước độc quyền chăng? Hay nhà nước cũng chỉ là một trong số nhiều người/cơ quan sử dụng khác? Những vấn đề pháp lý sẽ được đặt ra và cùng với chúng là câu hỏi: “Ai sẽ biết những hiến định sắp ban hành như thế nào?”
 
Sự biến đổi bản chất của tri thức, đến lượt nó, sẽ có tác động mạnh mẽ lên những quyền lực hành chính công cộng đang tồn tại, buộc các hệ thống quyền lực này phải tái thẩm định những quan hệ của chúng (một cách chính thức hoặc không chính thức) với những tổ hợp lớn và, khái quát hơn, với xã hội dân sự. Sự tái mở rộng những cạnh tranh khốc liệt về kinh tế trên thị trường thế giới, sự phá bỏ tính độc chiếm của tư bản Mỹ, sự thoái lui của xu thế xã hội, khả năng mở rộng thị trường Trung Quốc [xin chú ý bài viết này xuất hiện vào năm 1979, Trung Quốc chỉ mới bắt đầu chương trình hiện đại hoá do Deng Xao Ping chủ xướng], những vấn đề này cùng với nhiều yếu tố khác, vào cuối thập niên 1970, đang đặt Nhà nước vào những sự tái lượng định một cách nghiêm túc về vai trò mà nó đã từng thi hành kể từ những năm 1930s: đó là hướng dẫn, thậm chí cả chỉ đạo, trong những sự đầu tư. Trong chiều hướng này, những thành quả khoa học kỹ thuật mới có thể chỉ làm tăng thêm tính khẩn trương của một sự tái thẩm định như thế, vì chúng làm cho thông tin được sử dụng trong các việc hình thành một phán quyết (và theo đó là những phương tiện kiểm soát) sẽ càng trở nên linh động và có tính chất riêng tư hơn.
 
Chẳng có gì khó để thấy rằng lưu hành kiến thức cũng sẽ tiến hành như sự lưu hành tiền tệ, thuần tuý là thay thế giá trị tiền tệ bằng giá trị “giáo dục” và tầm quan trọng chính trị (hoặc các tầm quan trọng về ngoại giao, quân sự, quản trị) của trí thức; sự phân biệt giữa trí thức và dốt nát sẽ không còn thích ứng nữa, thực ra, cũng giống như trường hợp của tiền tệ, là sự phân biệt giữa “tri thức dùng để chi trả” và “tri thức dùng để đầu tư” – nói một cách khác, là sự phân biệt giữa những đơn vị tri thức dùng để trao đổi hàng ngày nhằm bảo trì một cơ/thể chế (như việc tái cấu trúc lực lượng lao động để sống còn) đối lại với những nguồn vốn tri thức tập trung vào việc tối ưu hoá sự thực hành một đề án.
 
Nếu sự lưu hành kiến thức xảy ra đúng như vậy, sự bạch hoá truyền thông sẽ tương tự như sự giải phóng. Sự giải phóng không loại trừ những tổ chức lưu hành tiền tệ, trong đó một số nguồn vốn được sử dụng để tạo vai trò quyết định, trong khi một số khác chỉ đáng giá để chi trả những món nợ. Người ta có thể tưởng tượng những dòng lưu chuyển tri thức y hệt như những dòng lưu chuyển tiền tệ với cùng một bản chất, một số nguồn vốn tri thức dùng để tạo vai trò quyết định, trong khi một số khác sẽ được dùng để trả lại những món nợ không ngừng tạo ra của một cá nhân gắn kết vào xã hội.
 
2. Vấn Đề: Sự Hợp Pháp Hoá
Sự hợp pháp hoá là giả thuyết tạm dụng nhằm làm sáng tỏ một lãnh vực, trong đó tôi có ý định đặt ra nghi vấn về trạng thái của tri thức. Cảnh quan này, gần gũi với cảnh quan gắn liền bởi tên gọi “sự điện toán hoá của xã hội” (mặc dầu giả thuyết tạm dụng của chúng ta được phát triển theo một tinh thần hoàn toàn khác biệt), không tuyên xưng cội nguồn, hay ngay cả sự thật. Giả thuyết tạm dụng đòi hỏi phải có khả năng phân biệt rõ ràng. Toàn cảnh của sự điện toán hoá ở những xã hội phát triển cao nhất cho phép chúng ta soi rọi (mặc dầu có nguy cơ phóng đại quá lố) những khía cạnh nhất định của sự chuyển đổi tri thức và hiệu ứng của nó lên quyền lực hành chính công cộng và các thể chế dân sự – những hiệu ứng khó mà cảm nhận được từ những quan điểm khác. Vì vậy, những giả thuyết của chúng ta đưa ra không nên tuỳ thuộc vào giá trị dự đoán tương quan với hiện thực, mà nên tuỳ thuộc vào giá trị chiến lược tương ứng với nghi vấn nêu lên. Tuy nhiên, nó vẫn có độ khả tín cao, và trong ý nghĩa đó, sự chọn lựa của chúng ta về giả thuyết này không mang màu sắc tự ý. Điều này (giả thuyết xã hội điện toán hoá) đã được các học giả chuyên môn mô tả hết sức rộng rãi và đang hướng dẫn các cơ quan công quyền cũng như các công ty tư nhân đưa ra các quyết định then chốt mà họ trực tiếp quan tâm nhiều nhất, chẳng hạn như các vấn đề quản trị kỹ nghệ truyền thông. Thế nên, ở một phạm vi nào đó, giả thuyết tạm dụng chúng ta đưa ra, đã là một phần của thực tế có thể quan sát được. Sau hết, ngoại trừ một sự trì chậm hoặc một sự suy thoái kinh tế rộng lớn (ví dụ như thất bại liên tục trong sự giải quyết các vấn đề khan hiếm năng lượng thế giới), cảnh quan này có một cơ hội tốt đẹp để thăng tiến: thật khó mà thấy được một hướng đi nào khác để khoa học kỹ thuật đương đại có thể thay thế được cho sự điện toán hoá xã hội.
 
Cũng có nhiều người cho rằng giả thuyết chúng ta đưa ra là tầm thường. Nhưhg nó chỉ tầm thường trong một giới hạn: một khi nó thất bại trong việc thách thức khuôn mẫu tổng quát về tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, một khuôn mẫu, đối với nó sự phát triển kinh tế và sự nới rộng quyền lực chính trị xã hội dường như là những bổ thể tự nhiên. Những tri thức khoa học và kỹ thuật tích luỹ này, đã chưa bao giờ bị đặt thành nghi vấn. Quá lắm thì người ta tranh luận với nhau về dạng thức tích luỹ, tỉ như một số người vẽ lên một quá trình tích luỹ tri thức có tính cách đều đặn, liên tục và đồng nhất, trong khi một số khác xem sự tích luỹ tri thức có tính cách chu kỳ, không liên tục và đối kháng.
 
Nhưng những điều “rất thật” này lại mang tính gian dối. Trước hết, tri thức khoa học không đại diện cho tính toàn thể của tri thức; nó luôn luôn tồn tại để bổ sung, để cạnh tranh và ngay cả mâu thuẫn với, những ‘hình thái tri thức khác’, và để đơn giản một chút, tôi gọi ‘các hình thái tri thức khác’ là tự sự (narative) (những đặc tính của nó sẽ được mô tả ở phần sau). Tôi không có hàm ý cho rằng tri thức tự sự có thể vượt trội hơn khoa học, nhưng khuôn mẫu của nó liên hệ đến những ý tưởng của sự cân bằng và hoà hợp nội tại, mà bên cạnh nó tri thức khoa học đứng tách ra như một hình ảnh nghèo nàn, nhất là khi nó phải trải qua một sự ngoại hiện tương ứng với “kẻ hiểu biết”, và sự chán ghét từ những kẻ sử dụng còn lớn hơn cả trường hợp tri thức khoa học được xét đến một cách riêng lẻ. Sự băng hoại đạo đức của các nhà nghiên cứu và các nhà giáo đã quá đà và không thể bỏ qua được; ai cũng biết rằng trong thời gian của thập niên 1960s, trong hầu hết các xã hội phát triển cao nhất, trong số những người đang chuẩn bị trở thành các nhà khoa học chuyên nghiệp, sinh viên khoa học, sự suy đồi đạo đức đã đạt đến giới hạn bùng nổ, đã có một sự suy giảm đáng kể trong năng suất ở các phòng thực nghiệm, và các trường đại học không thể tránh khỏi những tiêm nhiễm của nó. Lo sợ hay hy vọng, hiện trạng này sẽ dẫn đến một cuộc cách mạng (thông thường là như vậy) là điều không còn nghi vấn: nhưng nó sẽ không thay đổi nhanh chóng trật tự các thực thể của xã hội hậu kỹ nghệ. Nhưng sự nghi ngờ này, nhắm đến một số nhà khoa học, cần phải được tính đến như một tác nhân chính yếu trong sự lượng định trạng thái của tri thức khoa học cho bây giờ và cho tương lai.
 
Điểm thứ hai, sự suy đồi đạo đức cần cân nhắc hơn cả vì đạo đức băng hoại của các nhà khoa học tác động lên vấn đề trung tâm của sự hợp pháp hoá. Tôi dùng chữ hợp pháp hoá ở nghĩa rộng hơn các nhà lý thuyết đương đại người Đức sử dụng, khi bàn luận đến vấn đề của thẩm quyền. Lấy bất cứ một luật dân sự nào làm ví dụ: nó tuyên bố rằng một tầng lớp công dân nào đó phải thi hành một dạng thức hành động đặc thù. Tiến trình hợp pháp hoá là một quá trình mà nhờ vào đó nhân viên lập pháp được quyền ban hành một luật lệ dân sự như một chuẩn mực. Bây giờ thử lấy một ví dụ về lời tuyên bố khoa học: nguyên tắc đặt ra là một bản tuyên bố phải thi hành đầy đủ dựa theo một hệ quy ước định sẵn để được chấp nhận có tính khoa học. Trong trường hợp này, sự hợp pháp hoá là một quá trình trong đó một “nhân viên lập pháp” có quan hệ với giải trình ngôn ngữ khoa học được quyền ban hành những điều kiện đặt ra (một cách tổng quát, đó là những điều kiện của sự hoà hợp nội tại và sự xác minh thực nghiệm) nhằm xác quyết một bản tuyên cáo có được quy vào giải trình ngôn ngữ (khoa học) để thẩm định bởi cộng đồng khoa học hay không.
 
Sự song hành (giữa sự hợp pháp hoá điều luật dân sự và sự tuyên cáo khoa học) có vẻ như ràng buộc với nhau. Nhưng chúng ta sẽ thấy, nó không nhất thiết như vậy. Vấn đề của tính hợp lý cho khoa học đã từng được liên kết một cách không thể tách rời với tính hợp lý của sự hợp pháp hoá cho một nhân viên lập pháp kể từ thời Plato. (Một cách khác để diễn tả rõ hơn, sự hợp lý của khoa học cũng giống như sự hợp lý của một nhân viên lập pháp làm luật vậy). Từ quan điểm này, quyền quyết định cái gì là sự thật không độc lập với quyền quyết định cái gì là đúng, cho dẫu những tuyên cáo uỷ thác cho những quyền hạn đó khác hẳn nhau về căn bản. Nói rõ hơn, có một sự liên kết song phương chặt chẽ giữa một loại ngôn ngữ gọi là Khoa Học và một loại (ngôn ngữ) gọi là đạo đức và chính trị: chúng có gốc rễ từ một khái niệm chung, cùng một sự chọn lựa nếu bạn thấy thích – sự chọn lựa ấy gọi là Văn minh Âu Tây.
Khi chúng ta kiểm tra hiện trạng của tri thức khoa học ở vào thời điểm mà khoa học dường như lệ thuộc một cách toàn diện hơn trước đây vào những quyền lực thắng thế, và cùng với những kỹ thuật mới, tri thức khoa học có nguy cơ trở thành một quyền lợi chính trong các cuộc xung đột giữa các trung tâm quyền lực – tính chất hai mặt của sự hợp pháp hoá, còn lâu mới lùi vào hậu trường, một cách cấp thiết hơn, nó phải giữ vị trí lãnh đạo. Vì khi xuất hiện ở dạng hoàn thiện nhất của nó, dạng thức nghịch đảo, sẽ cho thấy tri thức và quyền lực thuần tuý là hai mặt của cùng một vấn đề: ai có quyền quyết định tri thức là gì, và ai biết được những gì cần phải quyết định? Trong thời đại điện toán, hơn bao giờ hết, vấn đề của tri thức vào lúc này là một vấn đề của chính quyền.
 
3. Phương Pháp: Trò Chơi Ngôn Ngữ
Độc giả sẽ để ý rằng khi phân tích vấn đề này, trong khung lý luận đặt ra từ trước, tôi thích một thể thức nhất định: nhấn mạnh những thực tế ngôn ngữ và đặc biệt là khía cạnh thực dụng của nó. Để làm rõ những điều bàn đến sau này, sẽ rất hữu ích để tóm tắt, chỉ có tính cách ngắn gọn, từ ngữ thực tiễn ở đây có nghĩa gì.
 
Một cách nói biểu thị tỉ như “Trường đại học chán chết”, được trình bày trong một ngữ cảnh của một cuộc đàm thoại hay trong một cuộc phỏng vấn, đặt người gởi (người phát biểu lời tuyên bố), người thụ nhận (người nhận lời tuyên bố), và vật quy chiếu của nó (những gì bản tuyên bố đề cập đến) vào một cách thức chuyên biệt: lời phát biểu đặt (và bộc lộ) người gởi vào vị trí “kẻ hiểu biết” (hắn ta biết tình trạng của trường đại học ra sao), người thụ nhận được đặt vào vị trí tán thành hoặc chối bỏ, và vật quy chiếu tự thân được giải quyết bằng một cách thế duy nhất đối với sự biểu hiện, chẳng hạn như một điều gì đó đòi hỏi xác định và diễn tả một cách chính xác bởi lời tuyên bố quy chiếu về nó.
 
Nếu chúng ta thẩm định một bản công bố tỉ như “Trường đại học mở cửa”, được phát biểu bởi một liên khoa trưởng hoặc hiệu trưởng trường đại học tại hội trường, rõ ràng tính chất đặc thù phân tích ở phần trên không áp dụng được nữa. Dĩ nhiên, lời phát biểu phải được hiểu rõ, nhưng đó là điều kiện tổng quát cho một sự truyền thông và không giúp cho chúng ta phân biệt những dạng thức khác nhau của lời phát biểu hoặc những hiệu ứng chuyên biệt của chúng. Tính chất khác biệt của loại phát biểu “thi hành” thứ hai này là, hiệu ứng của nó ảnh hưởng lên vật quy chiếu, trùng hợp với sự đề xuất. Trường đại học mở cửa, vì, nó đã được thông báo mở cửa trong hoàn cảnh đã được đề cập ở trên (ông khoa trưởng hay ông hiệu trưởng đã tuyên bố với sinh viên trong hội trường). Vấn đề như vậy không cần phải bàn luận hoặc xác minh ở vai trò của người nhận, cá nhân ngay lập tức bị đặt vào một ngữ cảnh mới tạo ra bởi lời tuyên bố. Trong vai trò người gởi, hắn ta phải có đủ quyền hạn để đưa ra một tuyên cáo như thế. Thực ra, chúng ta có thể nói theo một cách khác: người gởi là khoa trưởng hay hiệu trưởng nghĩa là, hắn ta được tập trung quyền lực để tạo ra loại tuyên cáo này – miễn là chính hắn có thể trực tiếp ảnh hưởng đến cả vật quy chiếu (trường đại học) và người thụ nhận (nhân viên trường đại học) theo cách thức mà tôi đã chỉ ra ở trên.
 
Một trường hợp khác liên quan đến những lời tuyên bố đại loại như, “Biếu tiền cho trường đại học”; đây là những truyền lệnh. Người ta có thể đưa những truyền lệnh đó ra như những đơn đặt hàng, những nghiêm lệnh, những hướng dẫn, những đề nghị, những đòi hỏi, những lời nguyện cầu, van xin vân vân. Ở đây, người gởi rõ ràng được đặt vào vị trí có thẩm quyền, dùng ở nghĩa rộng (như thẩm quyền của một tội đồ có quyền van xin thượng đế ban ân sủng): nghĩa là, hắn ta mong đợi người thụ nhận thực thi hành động mà nó nhắm đến. Tính chất thực tiễn của sự truyền lệnh đưa đến những thay đổi đồng thời trong những vị trí của người thụ nhận và vật quy chiếu.
 
Ở một trật tự khác nữa là tính hiệu quả của sự tra vấn, sự hứa hẹn, sự miêu tả văn chương, một chuyện kể vân vân. Tôi đang tóm tắt. Wittgenstein, trở lại nghiên cứu ngôn ngữ từ con số không, tập trung sự chú tâm của ông vào những hiệu ứng của những hình thái giải trình ngôn ngữ khác nhau; ông ta gọi những loại phát biểu khác nhau ông đã xác định được (một số tôi đã liệt kê) trong quá trình nghiên cứu là Trò Chơi Ngôn Ngữ (language games). Hàm ý của ông trong việc sử dụng thuật ngữ này được hiểu như sau: mỗi thể loại tuyên bố khác nhau có thể được đặt định trong ý nghĩa của những luật lệ đặc trưng cho những tính chất và sự ứng dụng mà người ta có thể quy định cho chúng – giống hệt như trò chơi đánh cờ được đặt ra bằng một bộ luật quyết định tính chất cho mỗi con cờ, nói cách khác, một cách thức đi cờ đúng nguyên tắc.
 
Thật bổ ích để chú tâm đến ba sự quan sát sau đây về những đặc tính của Trò Chơi Ngôn Ngữ. Thứ nhất, những luật lệ của chúng không chứa đựng sự hợp pháp hoá tự trong bản chất, nhưng là đối tượng của một khế ước, rõ ràng, hoặc không rõ ràng, giữa những người tham gia trò chơi (nhưng tôi không nói rằng những người này phát minh ra luật lệ). Thứ hai, nếu không có luật chơi thì không có trò chơi; một sự biến đổi ở mức vi phân của chỉ một luật chơi sẽ làm thay đổi bản chất của cuộc chơi; một nước đi (trong cờ tướng) hay một lời phát biểu trong trò chơi ngôn ngữ không thoả mãn được những luật định sẽ không còn nằm trong cuộc chơi đặt ra. Thứ ba, như vừa nói trong điều hai, mọi lời phát biểu nên được xem như là một nước đi (trong môn cờ tướng) của cuộc chơi.
 
Trong biểu hiện cuối cùng của ba sự quan sát vừa trình bày ở trên, đưa đến nguyên tắc đầu tiên làm cơ sở thống nhất cho toàn thể phương pháp luận của chúng ta: phát ngôn là tranh đấu, trong nghĩa của một cuộc chơi, và, những hành động diễn ngôn nằm trong phạm vi của một cuộc luận chiến tổng quát. Điều này không nhất thiết chơi là phải thắng. Một sự chuyển động (của con cờ hay một giải trình ngôn ngữ) có thể được tạo ra để gây nên một lực căng có tính chất sáng tạo: thế thì, hoạt động nhiễu loạn ngôn ngữ tạo ra bởi diễn ngôn đại chúng hay bởi văn học, có liên hệ đến cái gì khác nữa không? Có, những nguồn sáng tạo vô tận trong việc xoay chuyển của một nhóm chữ, của những từ và nghĩa, một tiến trình đổi mới đằng sau sự tiến hoá ngôn ngữ ở tầm mức của ngôn, tất cả điều đó sẽ đem đến một sự hứng thú tuyệt vời. Nhưng ngay cả niềm hạnh phúc lớn lao đó, không có gì nghi ngờ, là phải tuỳ thuộc vào một cảm giác của sự thành công, mang lại từ việc đánh đổi một đối thủ – chí ít cũng là một đối thủ nguy hiểm: ngôn ngữ đã được chấp nhận, hay sự hàm ý của từ ngữ.
 
Ý tưởng luận chiến ngôn ngữ không nên làm cho chúng ta bỏ sót nguyên tắc thứ hai có tính chất bổ sung đến nguyên tắc thứ nhất [ngôn ngữ luận chiến] và điều khiển sự phân tích của chúng ta: những liên kết xã hội quan sát được cấu tạo bởi “những chuyển động ngôn ngữ”. Làm sáng tỏ giả định này sẽ đem trọng tâm vấn đề đến trong tầm tay chúng ta.
 
4. Bản Chất Của Liên Kết Xã Hội: Quan Điểm Hiện Đại
Nếu chúng ta mong muốn bàn luận về tri thức trong một xã hội đương đại phát triển cao nhất, chúng ta phải trả lời cho một vấn đề tiên khởi: phương pháp luận nào đại diện để áp dụng cho xã hội đó. Đơn giản hoá đến mức tối đa, công bình mà nói, trên nguyên tắc đã có hai khuôn mẫu căn bản đại diện cho xã hội (hiện đại), ít nhất là trong một nữa thế kỷ vừa qua: xã hội hoặc hình thành một thể chức năng thống nhất, hoặc được chia thành hai cực. Minh hoạ cho khuôn mẫu thứ nhất đã được đề xướng bởi Talcott Parsons (ít nhất là Parsons thời hậu chiến) cùng trường phái của ông, đại diện cho khuôn mẫu phân cực thứ hai là những xã hội Marxist (tất cả những trường phái liên hệ, dù những trường phái đó có khác nhau nhưng tựu trung đều chấp nhận nguyên lý đấu tranh giai cấp và phép biện chứng được sử dụng như một tương tác vận hành xã hội).
 
Sự phân chia phương pháp luận như vừa trình bày ở trên, tạo ra hai loại giải trình ngôn ngữ chính trong xã hội [hiện đại] và được vận dụng kể từ thế kỷ thứ 19. Ý tưởng cho rằng xã hội là một thể hữu cơ thống nhất mà nếu không hiện diện một thể chức năng thống nhất như thế sẽ không còn cấu trúc xã hội, (xã hội cũng không còn là đối tượng để nghiên cứu), đã chi phối những sáng lập viên của trường phái [xã hội] Pháp. Chi tiết bổ sung cho trường phái này được cung cấp từ thuyết chức năng; đến thập niên 1950s nó biến đổi thêm một lần nữa bằng đưa vào khái niệm của Parsons, theo đó xã hội là một hệ thống tự vận hành. Khuôn mẫu lý thuyết và thực tiễn của xã hội không còn được xem như một thể hữu cơ thống nhất nữa; thay vào đó sự gắn kết xã hội được tạo ra bởi điều khiển học, một lý thuyết được ứng dụng rộng rãi trong thời kỳ đệ nhị thế chiến và sau khi chiến tranh kết thúc.
 
Dựa theo công trình của Parsons, tôi có thể nói như thế này, nguyên lý đằng sau hệ thống lý thuyết của ông vẫn là tính lạc quan: nó tương ứng với một nền kinh tế phát triển và một xã hội thịnh vượng dưới sự bảo kê của một tình trạng phúc lợi điều hoà. Còn theo công trình của các nhà lý thuyết đương đại tại Đức quốc, hệ lý thuyết (systemtheorie) là thư lại, thậm chí là yếm thế, và không hề nhắc đến sự thất vọng: sự hoà hợp giữa các nhu cầu, những hy vọng của những cá nhân hoặc của các nhóm người và những chức năng bảo đảm bởi hệ thống, bây giờ chỉ còn là thành phần thứ yếu trong chức năng của nó. Mục đích thực sự của hệ thống, lý do một hệ thống lập trình cho nó như một máy điện toán, là sự tối ưu hoá quan hệ toàn cầu giữa thu nhập và chi phó, nói một cách khác, là khả năng thực hiện. Ngay cả khi những luật lệ của nó đang xảy ra một quá trình thay đổi và cải tiến, ngay cả khi hệ thống đó bị tê liệt (như bị đình công, khủng hoảng, thất nghiệp, hoặc, cách mạng chính trị) vẫn cố tạo ra niềm hy vọng và dẫn đến sự tin tưởng vào một chọn lựa khác, nhưng cho dẫu có những khuynh hướng như thế đi chăng nữa, những gì thực sự xảy ra cũng chỉ là một sự điều chỉnh nội tại, và kết quả của nó chẳng có gì khác hơn là làm tăng thêm tính chất sống còn của chính cái hệ thống cũ kỹ đã được xây dựng. Cách chọn lựa duy nhất để một hệ thống như thế cải thiện được sự vận hành của nó là sự vận động ngẫu nhiên của các thành tố trong xã hội (entropy) hoặc sẽ suy tàn.
 
Trong khi tránh những sự đơn giản hoá gắn liền với môn xã hội học của lý thuyết xã hội, khó mà phủ nhận được ít nhất một sự song hành giữa hình ảnh xã hội thư lại cứng nhắc và sự cố gắng tiết chế đòi hỏi bởi những xã hội phát triển cao nhất để làm cho chúng có tính cạnh tranh – và vì thế tối ưu hoá “tính chất phi lý” của chúng – trong bối cảnh phục vụ cuộc chiến tranh kinh tế thế giới vào thập niên 1960.
 
Ngay cả khi tạo ra một sự thay đổi lớn lao xen vào giữa tư tưởng của Comte và của Luhman, chúng ta vẫn có thể nhận thức rõ một khái niệm chung về xã hội: xã hội là một tổng thể thống nhất, “một quần hợp”. Parsons trình bày điều này một cách rõ ràng: “Điều kiện căn bản nhất cho một sự phân tích thành công và năng động là, sự đối chiếu mọi vấn đề một cách liên tục và có hệ thống, vào trạng thái tổng thể của một hệ thống… Một tiến trình hoặc một hệ quy ước hoặc đóng góp vào sự bảo trì (hoặc sự phát triển) của hệ thống hoặc nó sẽ mất chức năng, qua đó làm giảm giá trị sự thống nhất, hiệu quả, vân vân, của hệ thống.” Giới thư lại cũng chia sẻ quan điểm này của Parsons. Nguồn gốc tín nhiệm: có những phương tiện để trở thành hiện thực, và đó là tất cả những tín chỉ nó cần đến. Đây là điều mà Horkheimer đặt cho nhãn hiệu: “chứng hoang tưởng” của lý lẽ.
Nhưng sự tự điều hoà của hệ thống này, và vòng tròn hoàn toàn khép kín của các sự thật và những sự diễn dịch của chúng, chỉ được phán xử là hoang tưỏng khi, một cá nhân sở hữu, hoặc là tuyên bố sở hữu, ở sự chuẩn bị của cá nhân đó, một quan điểm về nguyên tắc không bị lây nhiễm bởi lý thuyết trên. Đó là chức năng của nguyên lý đấu tranh giai cấp trong lý thuyết xã hội dựa theo công trình của Marx.
Lý thuyết “truyền thống” luôn luôn có nguy cơ bị gắn kết vào chương trình hoá của tổng thể xã hội như là một công cụ đơn giản để tối ưu hoá sự thực hành; sở dĩ như vậy là vì mong ước có được một tính thống nhất và toàn thể hoá sự thật tạo cho lý thuyết “truyền thống” đó trở thành công cụï thực hành thống nhất và toàn thể cho mọi cơ chế quản lý của hệ thống.
 
Lý thuyết “phê bình”, đặt căn bản trên nguyên tắc thuyết nhị nguyên cùng với tính cẩn trọng trong những sự tổng hợp và hoà giải, nên tránh lối suy diễn đó. Những hướng dẫn của thuyết Marxist là một khuôn mẫu khác biệt của xã hội, và một khái niệm khác biệt về chức năng của tri thức, một tri thức có thể được sản sinh và tiếp nhận từ xã hội. Khuôn mẫu này nảy sinh bởi những cuộc đấu tranh xảy ra đồng thời với tiến trình xâm lấn của chủ nghĩa tư bản vào những xã hội dân sự truyền thống. Không có đủ chỗ ở đây để bàn luận về những thịnh suy của các cuộc đấu tranh trong lịch sử xã hội, chính trị, và ý thức hệ kéo dài đến một thế kỷ. Chúng ta đành phải bằng lòng với một sự sơ lược qua đó giúp tổng kết những hệ luỵ của lý thuyết mà hôm nay chúng ta đã biết được: trong những quốc gia có sự quản lý cấp tiến hoặc tự do bậc cao, những sự đấu tranh cùng với những công cụ của nó được biến đổi thành những yếu tố điều hoà hệ thống; trong các quốc gia cộng sản, khuôn mẫu toàn thể và hiệu ứng toàn trị của nó đã quay về với chính chủ thuyết Marx, và vấn đề đấu tranh đơn giản là cướp đoạt quyền được tồn tại của đối tượng. Khắp mọi nơi, Sự Phê Bình của kinh tế chính trị và những vấn đề liên hệ, sự phê bình của xã hội đã được chuyển nhượng, được sử dụng bằng cách này hoặc cách khác để chương trình hoá hệ thống.
 
Dĩ nhiên, một thiểu số nhất định, như trường phái phê bình Frankfurt hoặc nhóm Socialisme ou barbarie, đã bảo tồn và làm cho tinh tế hơn khuôn mẫu phê bình theo hướng đối nghịch với quá trình này. Nhưng nền tảng xã hội của nguyên lý phân chia (giai cấp) hoặc đấu tranh giai cấp, đã bị làm mờ nhạt đến mức mất hẳn tính chất cực đoan của nó; chúng ta không thể che đậy được một sự thực, khuôn mẫu phê bình cuối cùng đã đánh mất chân đứng lý thuyết và thoái lui thành một hiện trạng “không tưởng” hoặc “hy vọng”, một biểu hiện đối kháng đưa ra nhân danh con người hoặc sự hợp lý hoặc sự sáng tạo, hoặc một hình thái xã hội nào đó như thế giới thứ ba hoặc sinh viên – giới bị cho là thành phần cực đoan, và kể từ đó chức năng phê bình của chủ thể không còn khả năng xảy ra.
 
Mục đích duy nhất của sự gợi ý sơ lược này là nhắm vào một nghi vấn, dựa vào đó tôi cố ý đóng khung vấn đề tri thức ở những xã hội công nghệ tiên tiến. Vì sẽ không thể nào biết được trạng thái tri thức là gì – nói một khác, những vấn đề phát triển và phân phối tri thức đang đặt ra hôm nay – nếu không biết gì về xã hội trong đó tri thức tồn tại. Và ngày nay, hơn bao giờ hết, hiểu biết về xã hội đó bao gồm trước tiên một sự chọn lựa cách tiếp cận nào để điều tra vấn sẽ đạt đến, và đó là sự chọn lựa để làm thế nào xã hội có thể trả lời. Người ta có thể quyết định rằng vai trò chính yếu của tri thức như một yếu tố không thể tách rời với chức năng của xã hội, và hành xử tương ứng với một quyết định như thế, chỉ khi người ta đã xác quyết rằng xã hội là một guồng máy khổng lồ.
Ngược lại, người ta có thể chỉ chú ý đến chức năng phê bình của tri thức, và tập trung sự phát triển và phân phối của nó theo hướng này, chỉ sau khi đã được minh định rằng xã hội không hình thành một tổng thể thống nhất, nhưng tồn tại gắn kết bởi nguyên lý của những đối kháng. Cách thức này có vẻ rõ ràng: đó là sự chọn lựa giữa sự đồng nhất và tính nhị nguyên nội tại của xã hội, giữa tri thức chức năng và tri thức phê bình. Nhưng sự xác quyết này vẫn có vẻ khó khăn hoặc là tự ý.
Thử tránh mọi sự xác quyết bằng cách phân biệt hai loại tri thức. Một, loại (tri thức) thực chứng, có thể áp dụng trực tiếp vào những kỹ thuật liên quan đến con người và vật chất, và sẽ làm cho nó hoạt tác như một lực lượng lao động không thể thiếu trong hệ thống. Loại (tri thức) khác, tri thức phê bình, phản thân, hoặc loại tri thức diễn dịch bằng cách phản ánh trực tiếp hay gián tiếp lên giá trị hoặc của bố thí, sẽ chống lại bất cứ một sự phản hồi nào (nghĩa là dùng tri thức để phê bình hay định đoạt giá trị một đối tượng, nhưng đối tượng sẽ không có quyền phê bình tri thức).
5. Bản Chất Của Liên Kết Xã Hội: Quan Điểm Hậu Hiện Đại
Tôi thấy lối giải thích vấn đề theo kiểu phân chia từng phần (theo quan điểm hiện đại) không thể nào chấp nhận được. Tôi cho rằng chọn phương pháp giải thích vấn đề (liên kết xã hội) theo mô thức hiện đại, nhưng cũng chỉ mô phỏng, không còn thích hợp với những xã hội tạo cho chúng ta phải để tâm, và tôi cũng cho rằng chính lối giải thích vấn đề này vẫn còn bị vướng vào những ý nghĩ trái ngược vượt ra khỏi những khuôn mẫu sinh động nhất của tri thức hậu hiện đại. Như tôi đã đề cập, sự tái phối trí kinh tế của chủ nghĩa tư bản vào giai đoạn đương thời, hỗ trợ bởi một chuyển biến trong kỹ năng và kỹ thuật, xảy ra một cách đồng thời với sự thay đổi trong chức năng của nhà nước: hình ảnh xã hội mà hội chứng này đề ra cần đến một sự tái xét nghiêm túc những phương pháp thẩm định. Một cách vắn tắt, có đầy đủ chứng cứ để nói rằng những chức năng điều hoà (xã hội), kéo theo chức năng tái sản xuất, đang và sẽ được rút khỏi hệ thống quản trị và dựa hẳn vào máy móc. Người ta đang gia tăng đặt ra một vấn đề then chốt là ai sẽ có quyền kiểm tra những thông tin các máy móc phải có trong kho lưu trữ để bảo đảm rằng những quyết định đưa ra là đúng đắn. Tiếp cận với dữ kiện, đang và sẽ tiếp tục là, đặc quyền của các nhà chuyên môn thuộc mọi lãnh vực. Giai cấp lãnh đạo đang và sẽ tiếp tục là tầng lớp tạo ra những quyết định. Cho dẫu ngày nay giai cấp lãnh đạo không còn được hình thành bởi một tầng lớp chính trị truyền thống, những vẫn bao gồm một lớp nguời của các nhà lãnh đạo tổ hợp, những chuyên viên quản trị cao cấp, và lãnh tụ của những tổ chức chuyên nghiệp lớn như: tổ chức chính trị, công đoàn, và tôn giáo.
 
Điều mới mẻ hơn cả là những trung tâm thu hút quyền lực đại diện bởi quốc gia – nhà nước, các đảng phái, những nhà chuyên môn, những hiệp hội và những truyền thống lịch sử đang mất dần sức hấp dẫn. Và những tổ chức này sẽ không còn nguyên dạng một khi đã được thay thế, ít nhất cũng không còn giống với hệ thống quyền lực trước đó, Thể Thức Tam đầu chế không còn là trung tâm thu hút đại chúng. Nhận diện những tên tuổi lớn, những anh hùng của lịch sử đương đại, càng trở nên ngày một khó hơn. Chúng ta quyết tâm “bắt kịp nước Đức”, đó mục tiêu suốt đời của vị tổng thống Pháp (Valery Giscard d’Estaing vào thời điểm cuốn sách này xuất bản) cống hiến cho đồng bào của ông, dường như chẳng làm ai phấn khởi. Nhưng một lần nữa, đây không phải là mục tiêu đời người. Nó tuỳ thuộc vào sự tận tụy của mỗi cá nhân. Mỗi con người đều đối chiếu với bản thân họ. Và mỗi một chúng ta đều biết rằng cái bản ngã đó của chúng ta không đáng kể gì.
 
Sự phá vỡ này của Đại Tự Sự dẫn đến điều mà một số tác giả phân tích ra ý nghĩa của sự giải thể liên kết xã hội và sự phân rã tập hợp xã hội thành khối đông của những nhân tố riêng lẻ bị ném vào sự phi lý của chuyển động ngẫu nhiên (Brown motion: chuyển động Brown, chuyển động ngẫn nhiên của các hạt phân tử trong môi trường lỏng). Điều này sẽ không xảy ra: quan điểm đó theo tôi, dường như bị ám ảnh bởi hiện thân thiên đường của một xã hội hữu cơ đã mất.
 
Bản ngã không đáng kể bao nhiêu, nhưng không có một bản ngã nào cô lập; mỗi bản ngã tồn tại trong một mạng lưới của những quan hệ mà ngày nay phức tạp và linh động hơn trước đây. Trẻ hay già, nam hoặc nữ, nghèo hay giàu, một con người luôn luôn được đặt vào những “mấu chốt” của những mạch thông tin đặc thù, nhưng những điểm này rất nhỏ bé. Hoặc rõ hơn một chút, cá nhân luôn luôn được đặt vào một vị trí, để qua đó những loại thông điệp khác nhau truyền đi. Không có ai, ngay cả những người ít đặc quyền nhất trong chúng ta, là hoàn toàn không có quyền hạn trên một thông điệp đã truyền qua và đặt hắn ta vào vị trí của người gởi, người nhận hay vật đối chiếu. Chuyển động của một cá nhân trong tương quan với những hiệu ứng của trò chơi ngôn ngữ (những trò chơi ngôn ngữ, dĩ nhiên, là bao hàm tất cả những điều này) có thể chịu đựng được, ít nhất là trong những giới hạn nhất định (và những giới hạn này rất mù mờ); nó bị thu hút bởi những cơ chế điều hoà, và đặc biệt bởi những quá trình tự điều chỉnh hệ thống (xã hội) phải tiến hành để hoàn thiện khả năng thực hiện của nó. Người ta cũng có thể nói rằng hệ thống có thể và phải cổ xuý những khuynh hướng như thế để mở rộng tính tranh đấu với những chuyển động ngẫu nhiên của nó, nguyên thuỷ của một chuyển động không dự tính, cùng với sự dịch chuyển tương quan của một hội viên hay một nhóm các hội viên, có thể cung cấp cho hệ thống những động hướng làm gia tăng khả năng thực hành mà xã hội mãi mãi đòi hỏi và hấp thụ.
 
Bây giờ người ta phải thấy rõ từ quan điểm nào tôi chọn những trò chơi ngôn ngữ như là những phương pháp tiếp cận của tôi. Tôi không tuyên xưng rằng toàn thể mọi quan hệ xã hội phải có bản chất này – điều này vẫn là một vấn đề bỏ ngỏ. Nhưng cũng không cần thiết phải lùng sục cho ra một hư cấu nào đó về những nguồn gốc xã hội để khẳng định rằng những trò chơi ngôn ngữ là một quan hệ tối thiểu đòi hỏi xã hội phải có để tồn tại: ngay cả trước khi đứa bé chào đời, trên danh nghĩa của một cái tên người ta đặt cho nó, em bé đó đã được đặt vào vị trí đối chiếu của một câu chuyện người ta kể cho nhau nghe xung quanh em, tương ứng với điều không thể nào tránh khỏi, em sẽ vẽ lên biểu đồ về tiến trình của em. Hoặc còn đơn giản hơn nữa, vần đề của liên kết xã hội, cho đến nay vẫn còn là nghi vấn, tự bản thân liên kết xã hội là một trò chơi ngôn ngữ, trò chơi của sự tra vấn. Nó đặt ngay một con người vào vị trí để hỏi, cũng như câu hỏi mà người gởi và vật đối chiếu thắc mắc về nó: chính điều đó tạo nên liên kết xã hội.
 
Mặt khác, trong một xã hội mà thành tố truyển thông của nó ngày càng nổi bật hơn, cả về thực tiễn lẫn thu hoạch, rõ ràng ngôn ngữ có tầm quan trọng mới. Thật nông cạn để hạ thấp vai trò của ngôn ngữ như một chọn lựa truyền thống giữa một bên là diễn ngôn vận động và sự truyền dẫn thông điệp đơn tuyến, còn bên kia là sự biểu cảm và đối thoại tự do.
 
Một ý nữa cho điểm cuối này. Nếu vấn đề được mô tả đơn giản trong ý nghĩa của lý thuyết truyền thông, hai điều bị bỏ sót:
 
Thứ nhất, thông điệp có những dạng thức và hiệu ứng khác nhau tuỳ thuộc vào chúng có phải là, lấy ví dụ, biểu thị, truyền lệnh, lượng định, thực hành… hay không. Rõ ràng, điều quan trọng không phải chỉ giản dị của thực tế trao đổi thông tin. Hạ thấp chúng xuống chức năng này là phải chấp nhận một cách nhìn, trong đó [xã hội đã] tạo nên một đặc quyền quá mức về lợi ích và quan điểm của chính hệ thống [chúng ta đang khảo sát]. Hệ thống điều khiển học quả thật dựa vào thông tin, nhưng những mục đích đã lập trình trong đó, lấy vi dụ, xuất phát từ những mệnh lệnh hay những lượng định nó không thể nào sửa đổi trong quá trình thi hành chức năng của nó – chẳng hạn, tự bản thân hệ thống gia tăng tối đa khả năng thực hiện, làm thế nào mà người ta bảo đảm rằng sự tột đỉnh trong thực hành là mục đích tuyệt hảo cho một hệ thống xã hội trong mọi trường hợp. Và câu hỏi đặc trưng cho vấn đề này là, có phải trong bất cứ trường hợp nào mọi nhân tố trong xã hội đều có khả năng để thực hiện những mệnh lệnh như thế.
Thứ hai, hình ảnh điều khiển học tầm thường của lý thuyết thông tin đã bỏ qua một điều có tầm quan trọng quyết định, điều mà tôi đã tập trung chú ý: khía cạnh luận chiến của xã hội. Những nhân tố được đặt ở điểm giao thoa của các quan hệ thực dụng, nhưng chúng cũng bị dịch chuyển bởi những thông điệp truyền qua chúng trong một chuyển không ngừng nghĩ. Mỗi thành viên ngôn ngữ, khi một "nước đi" gắn liền với nó được tạo ra, trải qua một sự “chuyển chỗ” một loại thay đổi không những ảnh hưởng hắn ta trong khả năng như một người nhận và vật đối chiếu, mà còn cả khả năng như một người gởi. Những nước đi này cần thiết phải gây ra "những nước đi ngược lại" (countermoves), và như ai cũng biết, chuyển động nghịch hành một cách bị động không phải là một hướng đi tốt. Một chuyển động nghịch hành có tính cách phản ứng không khác gì là một hiệu ứng đã được lập trình theo chiến lược của đối phương; chúng hoạt động trong sự điều khiển của đối phương và vì vậy không có tác dụng gì đến thế cân bằng quyền lực. Đó là lý do tại sao phải gia tăng sự chuyển dịch trong trò chơi, và ngay cả việc làm sai hướng, theo một cách tạo ra một "nước đi" bất ngờ.
 
Những gì cần đến để chúng ta có thể hiểu được những quan hệ xã hội trong kiểu mẫu này, ở bất cứ tầm mức nào mà bạn chọn, không phải chỉ lý thuyết của truyền thông, nhưng là lý thuyết của những trò chơi trong đó chấp nhận luận chiến như một nguyên lý nền tảng. Theo ngữ cảnh này, người ta dễ dàng thấy được rằng, yếu tố cốt lỏi của sự mới không phải chỉ thuần tuý “làm mới” (từ cái củ). Ủng hộ cho phương pháp này có thể tìm thấy được trong các công trình của các nhà xã hội học đương thời, cùng với những nhà ngôn ngữ hay những triết gia của ngôn ngữ. Sự phân tố hoá của xã hội thành một mạng lưới linh động của những trò chơi ngôn ngữ có lẽ rời xa khỏi tính hiện thực hiện đại, trong đó vẽ lên hình ảnh hoàn toàn trái ngược, cảm thấy đau đớn vì sự tê liệt của giới thư lại. Sự phản đối sẽ được tạo nên, ít nhất, là áp lực của những thể chế nhất định đặt ra những giới hạn lên các trò chơi ngôn ngữ, và vì thế sẽ bó buộc tính chất sáng tạo của những thành viên trong sự xây dựng những chuyển động của họ. Tôi nghĩ, những điều này có thể tính tới, nhưng không gây nên khó khăn gì.
 
Trong sự sử dụng bình thường của giải trình ngôn ngữ – chẳng hạn, một cuộc đàm luận giữa hai người bạn, người đối thoại có dùng đến mọi lý lẽ có thể có, thay đổi cuộc chơi từ lối hành ngôn này đến lối hành ngôn khác: hỏi, yêu cầu, quả quyết, và tự sự đều ném một cách hỗn loạn vào cuộc luận (khẩu) chiến. Cuộc chiến không phải là không có luật lệ, nhưng những luật lệ đó cho phép và cổ vũ tính linh hoạt của sự hành ngôn ở khả năng lớn nhất.
 
Từ quan điểm này, áp đặt một lề luật khác với một cuộc đàm luận vì nó luôn luôn cần đến những sự cưỡng ép phụ trợ để những phát biểu được tuyên xưng chấp nhận được trong những phạm vi của nó. Sự kềm chế có chức năng gạn lọc những tiềm tàng không mạch lạc, can thiệp những nối kết có thể có trong mạng lưới truyền thông: có những điều không nên nói. Chúng cũng đặc quyền những loại tuyên bố (đôi khi chỉ có một) có ưu thế đặc trưng cho giải trình ngôn ngữ của một thể chế đặc biệt: có những điều nên nói, và có nhiều cách để tránh chúng. Vì vậy mà có: những mệnh lệnh trong quân đội, lời nguyện ở nhà thờ, biểu hiện ở nhà trường, chuyện kể trong gia đình, nghi vấn trong triết học, hiệu suất trong doanh nghiệp. Sự thư lại hoá chính là giới hạn bên ngoài của khuynh hướng này.
Tuy nhiên, giả thuyết này về thể chế vẫn còn hơi “khó giữ”: khởi điểm là một quan điểm cụ thể hoá quá mức những gì bị thể chế hoá. Ngày nay chúng ta biết rằng những giới hạn mà thể chế áp đặt lên những chuyển động ngôn ngữ tiềm tàng đã chưa bao giờ thiết lập được dù chỉ một lần (mặc dầu chúng đã được chính thức vạch định), Có chăng, những giới hạn tự bản thân chúng là những nguyên tắc và những hệ quả tạm thời của các chiến lược ngôn ngữ, bên trong hay bên ngoài thể chế. Ví dụ: Đại học có chỗ cho những cuộc thử nghiệm ngôn ngữ (thi pháp)? Bạn có thể kể chuyện trong một cuộc họp nội các không? Biện hộ một lý do trong những trại binh? Câu trả lời rõ ràng: Có, nếu đại học mở những khu sáng tác; có, nếu nội các làm việc với những cảnh quang về tương lai; có, nếu những giới hạn của thể chế cũ bị thay thế (trong đó quân lệnh không cần biện giải). Một cách thuận nghịch, người ta có thể nói rằng những lằn ranh chỉ ổn định khi chúng không còn là những nguyên tắc trong trò chơi.
Điều này, tôi nghĩ, là một phương pháp thích hợp đối với những thể chế của tri thức đương đại.
28/7/2007
Jean-Francois Lyotard
Nguyễn Minh Quân dịch
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Chân lý là đất không lối mònXXXXX

Chân lý là đất không lối mòn

Lời người dịch:
Jiddu Krishnamurti (thường được gọi tắt là K) chào đời tại miền nam Ấn Ðộ năm 1895 trong một gia đình nghèo, thuộc đẳng cấp Bà la môn. Thân phụ của K là nhân viên ban Bí truyền của Hội Thông thiên học (Theosophy Society), một hội được thành lập chủ yếu bởi nữ nhà văn Nga Helena Petrovna Blavatsky (1831-1891), tác giả đại tác phẩm The Secret Doctrine, the Synthesis of Science, Religion and Philosophy (1888, Mật thuyết, một tổng hợp khoa học, tôn giáo và triết học) và  cựu đại tá Anh Henry S. Olcott (1832–1907), người trình bày Phật giáo theo lối hiện đại cho phương Tây và vẽ nên lá cờ ngũ sắc của Phật giáo.
Hội TTH là một tổ chức có tính cách tôn giáo và thần bí, mưu tìm sự tổng hợp của Ðông và Tây cho một tình huynh đệ đại đồng và chuẩn bị thế giới cho biến cố được Hội gọi là sự ra đời lần thứ ba của Ðấng Cứu thế, tức Bồ tát Di lặc hoá thân làm Ðạo sư Thế giới (Teacher of the World). Hai lần hoá thân trước, theo Hội, là tại Ấn trong thần Krishna và tại Do Thái trong Ðức Giêsu Kitô. Hội có cơ sở tại hơn 40 quốc gia, đa số hội viên thuộc giới trí thức hoặc quí tộc hay doanh gia thành đạt. Trụ sở quốc tế của Hội đặt tại Madras, nam Ấn. Tại Sài Gòn trước tháng 5.1975, Hội có trụ sở ở Phú Nhuận, với nhiều hội viên khá nổi tiếng trong chính giới và thương giới, sinh hoạt đều đặn và xuất bản một số kinh điển của TTH. 
Năm 1909, K 14 tuổi, được Hội TTH “khám phá sẽ là hoá thân của Ðức Di lặc”. Ông được đem sang Luân Ðôn, Anh, để chuẩn bị vào đại học. Nhưng sau đó, K không đủ điểm tuyển sinh, và suốt đời không tiếp nhận một nền giáo dục chính qui nào, cũng như theo K, ông không bao giờ đọc một cuốn sách nào về triết học và tôn giáo.  
Song hành với việc giáo dưỡng K, Hội TTH còn chuẩn bị cho vai trò Ðấng Cứu thế của ông bằng cách lập Dòng tu Ngôi sao (Order of the Star) năm 1911 mà có lúc lên tới 40.000 thành viên, với ngân khoản lớn lao và nhiều bất động sản do các hội viên hiến tặng tại châu Âu, châu Úc, Ấn – và đặt K làm Thủ lãnh. Năm 1923, Hội xác nhận sự thành tựu “chuyển biến tâm linh” của K và chuẩn bị thời điểm đăng vị hoá thân của ông.
Thế nhưng đến ngày 2 tháng 8 năm 1929, trước 3.000 thành viên trong một cuộc trại hằng năm tại Ommen, Hà Lan, K tuyên bố giải tán Dòng tu Ngôi sao, có nghĩa từ khước ngôi vị “Giáo chủ”, đồng thời tuyên bố rằng chân lý là “đất không lối mòn, không thể đến với chân lý qua bất cứ thẩm quyền, hệ thống, tổ chức tôn giáo, xã hội, chính trị nào”. Mỗi người phải đích thân khám phá chân lý qua sự tự biết mình, quan sát và lắng nghe cái đang là (what is), với sự chú ý bằng toàn bộ con người mình. Ngay tự thân hành động ấy ẩn chứa sự biến đổi tận gốc bản thân mỗi người, cái làm một với thế giới. Như thế, bước đầu tiên cũng là bước cuối cùng, và cá nhân mỗi người phải là ánh sáng cho chính mình.
Kể từ đó, K đoạn tuyệt với Hội TTH, quyết định cư trú chính thức tại Hoa Kỳ và chia đều thời gian để đi rao giảng khắp thế giới, tại châu Âu, Nam Phi, Ấn Ðộ và Hoa Kỳ, Nam Mỹ, v.v. Tuy không phủ nhận vai trò Ðạo sư Thế giới, nhưng K đến với cử tọa như một người bạn đời đầy minh triết và “cầm tay nhau” cùng khám phá chân lý. Suốt hơn 60 năm, trong hàng chục ngàn cuộc diễn thuyết, thảo luận nhóm, gặp gỡ những cá nhân muốn tâm sự riêng tư, K mời gọi cử tọa cùng với ông, như những người bạn, thăm dò các chủ đề muôn thuở như tư tưởng, đau khổ, cái chết, thời gian, không gian, sự tĩnh lặng, tính thiêng liêng...  
Cũng theo K, con người có thể chấm dứt đau khổ ngay lập tức để có tình yêu, lòng từ bi, trí tuệ và đạt tới cái bên kia tư duy, cái được con người gọi là chân lý, Thượng đế, bản ngã tối cao, nguyên lý tối thượng, cái thiêng liêng nhất, cái hằng cửu... Và nhiệm vụ của tôn giáo là đồng hành với con người trong cuộc hành trình khám phá thực tại đó, chứ không phải là thực hiện những cái vô nghĩa như phẩm trật, nghi lễ, mê tín...
Ðược xem là nhà thuyết giảng tôn giáo tuy đứng riêng và hoàn toàn thù nghịch với các tôn giáo có tổ chức, Krishnamurti cung ứng cho tôn giáo một ngôn ngữ thích hợp với thời đại, một lối nói chuyển tải được những sắc thái và những cái nhìn thấu suốt mà lối nói “thần bí, thẩm quyền” thuở trước ngày nay lắm khi không còn thích đáng với các vấn đề và những thao thức của con người thời hiện đại.
Lời giảng, sự từ bỏ thế tục và lòng từ bi của K tác động lên vô số người trên khắp thế giới, thuộc nhiều trình độ và lãnh vực khác nhau, trong đó có những người quen biết ông, thân tình hoặc chỉ mới đọc ông, nghe ông diễn thuyết, như Pablo Casal, Aldous Huxley, Joseph Campbell, Henry Miller, Van Morrison, Lý Tiểu Long..., đặc biệt các trào lưu tư tưởng, nghệ thuật và các phong trào thanh niên. 
Sau lần đầu gặp K. tại Ấn năm 1956, Ðức Ðạt lai Lạt ma (1937-  ) đã cảm giác ông là “Một Long Thọ,” gọi ông là “Một tâm hồn vĩ đại, một kinh nghiệm vĩ đại”. Gần 40 năm sau, 1995, ngài tuyên bố tại Madras rằng, “Krishnamurti là một trong những triết gia vĩ đại nhất của thời đại”. David Bohm (1917-1992), triết gia và nhà vật lý cơ học lượng tử hàng đầu đã nói, “Tác phẩm của Krishnamurti thẩm thấu cái cốt tủy của lối tiếp cận khoa học trong hình thức cao nhất và thuần khiết nhất”. Sau khi nghe K diễn thuyết, nhà văn Aldous Huxley (1894-1963) dõng dạc tuyên bố, “Như thể nghe huấn từ của Ðức Phật. Quyền năng như thế, thẩm quyền nội tại như thế”.
Radha Rajagopal, nhà văn Mỹ, người từ lúc chào đời sống chung một mái nhà với K cho tới khi tốt nghiệp đại học, trong một cuốn sách đặt nhiều vấn đề gây tranh cãi về cuộc đời của K, cũng phải thừa nhận: “Với Krinsh [tên thân mật bà thường dùng để gọi K], tôi cảm thấy biết ơn vì nhiều việc. Từ những ngày thơ ấu của tôi, ông đã dạy tôi giải thoát khỏi cuộc tìm kiếm và truy lùng vô vọng sự vị vọng và sự an toàn, các đại sư, tôn sư, các ý thức hệ. Từ ông, tôi học được rằng những so sánh và những nhãn hiệu đưa đến thành kiến và bất hạnh, rằng sự qui thuận đưa đến sự bắt chước tầm thường và rằng không thể có tự do khi còn phạm tội và sợ hãi. Ông khiến tôi tự do thoát khỏi ông và dạy tôi chớ sợ khi đi trên vùng đất không có lối mòn nào”. Lives in the Shadow with Krishnamurti (Những cuộc đời trong bóng tối với Krishnamurti), Nxb Bloomsbury Publishing Ltd., London, 1991, t.323.
Thuyết giảng từ thời hoang mang sau Ðệ nhất Thế chiến tới thời cao kỹ và bùng nổ thông tin, phong cách của K gợi cho ta nhớ tới Trang Tử trong Nam hoa kinh và bước nhảy giải thoát của K làm ta nghĩ tới diễn biến đốn ngộ của Phật giáo. Một sự liên tưởng như thế có thể giúp cho người á đông dễ tiếp cận K hơn nhưng không khỏi gượng ép và chắc chắn bị K phản đối quyết liệt.
Krishnamurti qua đời tại Ojai, California, Hoa Kỳ, năm 1986, hưởng thọ 91 tuổi; tro cốt hoả táng được đem rải tại Ấn, Anh và Mỹ. Ông để lại cho đời các Sáng hội Krishnamurti và các trung tâm sinh hoạt, các trường học mang tên Krishnamurti tại Ấn, Anh và Mỹ, cùng một số lượng khổng lồ lời giảng trong hàng chục ngàn cuốn băng ghi âm, ghi hình, cả chục ngàn trang sách, bản viết tay và thư từ. Lời giảng của K được nghiên cứu trong hơn 200 trường đại học và cao đẳng. Sách ghi lại tư tưởng của K hoặc viết về ông lúc nào cũng thuộc danh sách các sách bán chạy nhất, và thường được dành riêng một khoảng trên kệ sách của các nhà sách lớn.
Tại Nam Việt, từ giữa thập niên 1960, có tới cả chục cuốn sách giới thiệu và dịch tác phẩm của Krishnamurti; tư tưởng của ông rất được các sinh viên, trí thức và giới tu học đón nhận rộng rãi, háo hức tìm đọc. Kể từ tháng 5.1975, Hội TTH Việt Nam bị giải tán, toàn bộ sách Krishnamurti bị tịch thu, tiêu hủy, cấm tàng trử và lưu hành, trong lúc tuổi trẻ ở thế giới bên ngoài ngày càng quan tâm đến ông, đặc biệt trong học giới, tôn giáo, nghệ thuật, các phong trào môi sinh và nhân quyền.... Mãi tới hơn 25 năm sau (2000), sách Krishnamurti mới được phép xuất bản trở lại.
Dưới đây là toàn văn bài ứng khẩu Truth is a Pathless Land  (Chân lý là đất không lối mòn) của Krishnamurti khi ông tuyên bố giải tán Dòng tu Ngôi sao, lấy từ cuốn Krishnamurti: Total Freedom, The Essential Krishnamurti, (Krishnamurti: Tự do hoàn toàn, Krishnamurti tinh yếu), Nxb The Krishnamurti Foundation of America, 1966, tt. 14-18. Bạn đọc có thể tìm thấy bản tiếng Anh ở www.tphta.ws/TPH_TIPL.HTM
Trước khi đi vào phần chính văn, chúng tôi xin được nhắc lại lời K thường nói, “Hãy cùng nhau thăm dò như những người bạn. Hãy quên vị đạo sư và hãy chỉ để ý tới lời giảng, dùng nó như chiếc gương, soi mình trong đó và đích thân khám phá.” Và trả lời cho một người đặt câu hỏi về ông, K nói rằng “K là ai, không quan trọng, điều quan trọng là bạn nên thắc mắc mình là ai?” N.U
 
Chân lý là đất không lối mòn
Sáng nay, chúng ta sẽ thảo luận việc giải tán Dòng tu Ngôi Sao. Nhiều người sẽ hài lòng và nhiều người khác sẽ cảm thấy buồn bã. Việc này không mang tính cách hân hoan hoặc buồn bã vì đó là việc không thể tránh, như tôi sắp sửa giải thích.
Có thể các bạn còn nhớ câu chuyện con quỉ và một người bạn của nó cùng đi xuống phố. Cả hai thấy đằng trước họ một người cúi xuống đất, lượm cái gì đó, nhìn cái đó rồi đút nó vào túi mình. Người bạn nói với con quỉ, “Người kia lượm cái gì vậy?” “Anh ta lượm một mảnh của Chân lý”, con quỉ nói. “Thế thì đó là việc rất tệ hại cho ngươi”, người bạn nói. “Ô, không, chẳng tệ hại chút nào”, con quỉ trả lời, “Tôi sắp sửa để cho anh ta tổ chức cái mảnh đó”.
Tôi xác nhận rằng Chân lý là miền đất không có lối mòn, và các bạn không thể tiếp cận nó bằng bất cứ con đường có sẵn nào, bất cứ tôn giáo nào, bất cứ tông phái nào. Ðó là quan điểm của tôi và tôi trung thành với quan điểm đó một cách tuyệt đối và vô điều kiện.
Vốn không giới hạn, không điều kiện, không thể tiếp cận bằng bất cứ lối đi có sẵn nào, Chân lý  không thể bị tổ chức, cũng không nên thành lập bất cứ tổ chức nào để dẫn đạo hoặc để thúc ép người ta đi theo bất cứ con đường cá biệt nào. Nếu trước tiên các bạn hiểu điều đó, thì kế tiếp các bạn sẽ thấy việc tổ chức một tín ngưỡng là bất khả thi biết bao. Lòng tin thì thuần khiết và là một việc cá nhân, và các bạn không thể và không được tổ chức nó. Nếu các bạn làm như thế, nó trở nên chết cứng, cô kết; nó trở thành một tín điều, một tông phái, một tôn giáo, áp đặt lên người khác. Ðó là việc mà mọi người trên khắp thế giới này đang ra sức hoàn thành. Chân lý [vì thế] bị thu hẹp và làm đồ chơi cho những kẻ yếu đuối, cho những kẻ chỉ bất mãn thoáng qua. Chân lý không thể bị hạ xuống mà đúng ra, cá nhân phải nỗ lực tiến lên nó.
Các bạn không thể đem đỉnh núi xuống thung lũng. Nếu muốn lên tới đỉnh núi, các bạn phải vượt qua thung lũng, trèo dốc, không sợ hãi các vách dựng đứng nguy hiểm. Các bạn phải leo tới Chân lý, Chân lý không thể “bước xuống” hoặc tổ chức hóa cho các bạn. Phúc lợi bằng ý tưởng được lưu giữ chủ yếu nhờ các tổ chức, thế nhưng các tổ chức lại chỉ nhận thấy phúc lợi từ bên ngoài. Một phúc lợi không phát sinh từ tình yêu Chân lý vì Chân lý mà phát sinh từ một tổ chức thì phúc lợi ấy chẳng có chút giá trị nào. Tổ chức trở thành một bộ khung và các thành viên của nó có thể tùy nghi thích ứng mình vào đó. Không còn phấn đấu đi theo Chân lý hoặc leo lên đỉnh núi, họ chỉ khoét lấy cho mình một lỗ hốc để chính tay mình hoặc phó cho tổ chức đặt mình vào lỗ đó và họ cho rằng qua đó, tổ chức sẽ dẫn dắt họ tới Chân lý.
Vậy đó là lý do đầu tiên, theo quan điểm của tôi, tại sao nên giải tán Dòng tu Ngôi sao. Bất chấp việc này, có lẽ các bạn sẽ thành lập các Dòng tu khác, các bạn sẽ tiếp tục thuộc về các tổ chức khác đang tìm kiếm Chân lý. Tôi không muốn thuộc về bất cứ tổ chức thuộc loại tinh thần nào, xin các bạn hiểu cho điều này. Hẳn tôi sẽ phải dùng đến một tổ chức mang tôi về Luân Ðôn, thí dụ như vậy; nhưng đó là một loại tổ chức hoàn toàn khác, hoàn toàn có tính cách máy móc như nhà bưu tín hoặc bưu điện. Tôi sẽ dùng xe cộ hoặc tàu bè để đi đó đi đây; những cái đó là máy móc vật chất, hoàn toàn không dính dáng tới trạng thái tâm linh. Thêm lần nữa, tôi xác nhận rằng không một tổ chức nào có thể dẫn đường con người tới trạng thái tâm linh.
Nếu một tổ chức được lập ra vì mục đích ấy, nó trở thành một cái nạng, một yếu kém, một câu thúc, và chắc chắn làm cho cá nhân què quặt, ngăn cản khiến cá nhân không trưởng thành, không xây dựng được tính độc đáo của mình, cái vốn nằm sẵn ở đó để bản thân y tự khám phá Chân lý tuyệt đối và vô điều kiện. Như thế, đó là một lý do nữa tại sao tôi, kẻ ngẫu nhiên làm Thủ lãnh của Dòng tu, quyết định giải tán nó. Ðối với quyết định này, không một người nào thuyết phục tôi cả.
Ðây không là một hành động cao cả, [chẳng qua là] vì tôi không muốn có đệ tử, và tôi có ý như thế. Hễ khoảnh khắc nào các bạn đi theo ai thì khoảnh khắc ấy các bạn ngưng đi theo Chân lý. Tôi không quan tâm việc các bạn có chú ý tới điều tôi nói hay không. Tôi muốn làm một điều nhất định trên thế giới này và tôi sắp sửa làm điều đó với sự tập trung kiên định. Bản thân tôi chỉ đang quan tâm tới việc cốt tủy độc nhất đó: là sao cho con người tự do. Tôi khao khát giải phóng con người khỏi mọi chiếc lồng, khỏi mọi sợ hãi và không mưu tìm một tôn giáo, một tông phái mới, cũng không kiến lập các học thuyết mới, các triết thuyết mới.
Thế thì tất nhiên các bạn sẽ hỏi tôi tại sao tôi lại đi khắp thế giới và liên tục phát biểu. Tôi sẽ nói cho các bạn biết lý do nào khiến tôi làm như thế: không phải vì tôi thèm muốn có sự đi theo mình, không phải vì tôi thèm muốn có một nhóm đặc biệt gồm các môn đệ đặc biệt. (Người ta thích biết mấy được khác biệt với đồng môn, tuy sự phân biệt đó của họ có thể là khôi hài, phi lí và tầm thường! Tôi không muốn khích lệ sự phi lí ấy). Tôi không có môn đệ, không có tông đồ, cả ở chốn trần tục lẫn ở cảnh giới tâm linh.
Sức quyến rũ của tiền tài cũng như sự thèm muốn sống đời tiện nghi không thu hút tôi. Nếu muốn theo đuổi cuộc sống tiện nghi tôi đã không đến dự Trại này hoặc sống ở xứ sở ẩm ướt này! Tôi nói một cách thẳng thắn vì tôi muốn việc này được giải quyết dứt khoát một lần rồi thôi. Tôi không muốn những cuộc thảo luận ấu trỉ này kéo dài hết năm này qua năm nọ.
Một phóng viên báo chí phỏng vấn tôi, anh ta đánh giá lớn lao hành động giải tán một tổ chức có hàng ngàn và hàng ngàn thành viên. Ðối với anh ta thì đó là một việc làm cao cả vì anh ta nói:
“Sau đó ông sẽ làm gì, ông sẽ sống như thế nào? Ông sẽ không có ai theo, người ta không còn lắng nghe ông nữa” Nếu chỉ có năm người sẽ lắng nghe, sẽ sống, hướng mặt tới vĩnh cửu, thế là đủ. Lợi ích gì khi có hàng ngàn người không am hiểu, những kẻ hoàn toàn ghi sâu, một cách trang trọng, trong lòng họ các thành kiến, những kẻ không muốn cái mới, nhưng đúng hơn, chỉ muốn thông giải cái mới ấy sao cho phù hợp với cái tôi cằn cỗi, mụ mẩm của họ? Nếu tôi có phát biểu một cách mạnh mẽ thì xin đừng hiểu lầm tôi; tôi làm như thế không phải là thiếu lòng từ bi. Nếu bạn đến với một bác sĩ để được giải phẩu, và trong khi tiến hành mỗ xẻ, vị bác sĩ ấy làm bạn đau đớn thì có phải ông ta không tử tế với bạn? Vậy, bằng cách giống như thế, nếu tôi có nói một cách thẳng thắn thì đó không phải là thiếu lòng thương cảm chân chính, mà ngược lại.
Như đã nói, tôi chỉ có một mục đích: làm cho con người tự do, thúc giục con người hướng tới giải thoát và giúp cho con người phá vỡ hết thảy các giới hạn, vì chỉ riêng hành động đó cũng sẽ cho con người hạnh phúc vĩnh cửu, sẽ cho nó một sự nhận biết không bị điều kiện hóa cái bản ngã của mình.
Vì tôi tự do, không bị điều kiện hóa, toàn bộ – không phải một phần, không phải tương đối, nhưng toàn bộ Chân lý là vĩnh cửu – nên tôi khao khát những ai tìm cách am hiểu tôi đều được tự do, không đi theo tôi, không từ tôi làm ra chiếc lồng, cái sẽ trở thành tôn giáo, tông phái. Mà là họ được giải phóng khỏi mọi sợ hãi – khỏi sự sợ hãi tôn giáo, khỏi sự sợ hãi của tình trạng nô lệ, khỏi sự sợ hãi của trạng thái tinh thần, khỏi sự sợ hãi của tình yêu, khỏi sự sợ hãi của cái chết, khỏi sự sợ hãi của chính cái sống. Như một nghệ sĩ vẽ bức tranh vì người ấy tìm thấy niềm thích thú trong bức tranh, vì nó là sự tự thể hiện mình, là vinh quang của mình và hạnh phúc của mình, thì tôi làm việc này cũng như thế, tôi không muốn bất cứ điều gì từ bất cứ ai.
Các bạn quen với tình trạng có thẩm quyền hoặc với bầu khí thẩm quyền mà các bạn nghĩ rằng nó sẽ dẫn dắt mình tới trạng thái tâm linh. Các bạn nghĩ và hy vọng rằng một người khác có thể, bằng những quyền năng khác thường – bằng phép lạ – mang các bạn tới cảnh giới giải thoát vĩnh cửu, cái là Hạnh phúc. Toàn bộ cách nhìn của các bạn về cuộc đời bị đặt trên tính chất thẩm quyền ấy.
Các bạn đã lắng nghe tôi suốt ba năm nay, bền lòng chẳng chút đổi thay trừ một ít người. Giờ đây các bạn hãy phân tích những gì tôi phát biểu, hãy phê bình, để có thể hiểu trọn vẹn, hiểu tận nền tảng. Khi tìm kiếm một thẩm quyền để dẫn dắt mình tới trạng thái tâm linh, các bạn buộc lòng phải tự động dựng lên một tổ chức chung quanh kẻ thẩm quyền đó. Bằng chính việc tạo ra một tổ chức mà các bạn cho rằng nó sẽ giúp cho kẻ thẩm quyền hướng dẫn các bạn tới trạng thái tâm linh, các bạn lại khiến cho mình bị nhốt vào một chiếc lồng.
Nếu tôi phát biểu một cách thẳng thắn thì xin nhớ cho rằng tôi làm như thế không phải phát xuất từ sự khắc nghiệt, không phải phát xuất từ sự thô bạo, không phải phát xuất từ lòng sôi nổi với cứu cánh của mình, mà chỉ vì tôi muốn các bạn hiểu rõ điều tôi có ý nói. Ðó là lý do tại sao các bạn có mặt nơi đây, và hẳn sẽ mất thì giờ nếu tôi không giải thích quan điểm của mình một cách rõ ràng và dứt khoát.
Mười tám năm nay các bạn đã chuẩn bị cho biến cố này, cho sự Giáng lâm của Ðạo sư Thế giới. Trong suốt 18 năm, các bạn tổ chức, các bạn tìm kiếm ai đó ban cho tâm hồn và tâm trí của các bạn niềm thú vị mới, ai đó làm biến đổi toàn bộ cuộc đời của các bạn, ai đó cho các bạn sự am hiểu mới, ai đó nâng các bạn lên và đưa các bạn vào một tầm mức phát triển mới cho cuộc sống, ai đó cho các bạn sự khích lệ mới, ai đó làm cho các bạn được giải thoát – và giờ đây các bạn hãy nhìn những gì đang xảy ra!
Các bạn hãy cân nhắc, hãy lý luận bằng chính bản thân mình và hãy khám phá bằng cách nào niềm tin làm cho mình khác biệt – không phải là sự khác biệt bề mặt của việc đeo phù hiệu, [vì] cái đó vốn tầm thường và phi lý. Bằng cách nào mà niềm tin quét sạch tất cả những gì không cốt tủy của cuộc sống? Chỉ có một cách thẩm xét thôi:  bằng cách nào các bạn tự do hơn, lớn lao hơn, nguy hiểm hơn cho mọi Hiệp hội đang đặt nền tảng trên sự giả trá và trên những gì không cốt tủy? Bằng cách nào mà thành viên của tổ chức Ngôi sao này trở nên khác biệt?
Như tôi đã nói, suốt 18 năm nay các bạn đã chuẩn bị cho tôi. Tôi không màng tới việc các bạn có tin tôi là Ðạo sư Thế giới hay không. Ðiều ấy chỉ quan trọng chút ít thôi. Vì thuộc về tổ chức của Dòng tu Ngôi sao nên các bạn cống hiến thiện cảm của các bạn, năng lực của các bạn, trong việc thừa nhận Krishnamurti là Ðạo sư Thế giới – một cách cục bộ hay toàn bộ: toàn bộ đối với những ai đang thật sự tìm kiếm, cục bộ đối với những ai đang mãn nguyện với một nửa mảnh chân lý của mình.
Các bạn đã và đang chuẩn bị suốt 18 năm nay và hãy nhìn bao nhiêu nỗi khó khăn đang ở trên con đường am hiểu của các bạn, bao nhiêu sự phức tạp, bao nhiêu cái tầm thường. Thành kiến của các bạn, sợ hãi của các bạn, các kẻ thẩm quyền của các bạn, các giáo hội tân và cựu của các bạn – hết thảy những cái đó, tôi quả quyết rằng, đều là hàng rào ngăn cản sự am hiểu. Ðiều này tôi không thể tự mình làm cho rõ ràng hơn. Tôi không muốn các bạn đồng ý với tôi. Tôi không muốn các bạn đi theo tôi. Tôi chỉ muốn các bạn am hiểu điều tôi đang phát biểu.
Sự am hiểu này là thiết yếu vì niềm tin của các bạn chẳng những đã không tạo được sự khác biệt cho các bạn mà chỉ khiến cho các bạn rối rắm, và cũng vì các bạn không có ý muốn đối mặt với mọi sự đúng như chúng đang là. Các bạn muốn có những thần linh của chính mình – những thần linh mới thay thế cho những thần linh cũ, những tôn giáo mới thay thế cho những tôn giáo cũ, những hình thức mới thay thế cho những hình thức cũ – tất cả những cái đó đều vô giá trị như nhau, đều hoàn toàn là những rào cản, những giới hạn và là những chiếc nạng.
Thay thế vào những phân biệt tinh thần cũ, thay thế vào những thờ phượng cũ, các bạn có những thờ phượng mới. Các bạn hoàn toàn để tinh thần của mình lệ thuộc vào người nào khác, để hạnh phúc của mình lệ thuộc vào người nào khác, để sự giác ngộ của mình lệ thuộc vào người nào khác; và mặc dù các bạn đã và đang chuẩn bị cho tôi suốt 18 năm nay nhưng khi tôi nói rằng hết thảy những việc đó không cần thiết, khi tôi nói rằng các bạn phải bỏ hẳn chúng mà nhìn vào nội tâm mình, để giác ngộ, để cho sự vinh quang, sự thuần khiết và sự bất hoại của bản ngã, thì không một người trong các bạn đang có ý muốn làm điều đó. Có thể có một ít, nhưng rất ít, rất ít.
Thế thì tại sao có tổ chức?
Tại sao có người giả dối, giả nhân giả nghĩa đi theo tôi, xem tôi là biểu hiện của Chân lý? Xin các bạn nhớ cho rằng tôi không có ý nói tới điều gì khắc nghiệt hoặc không tử tế nhưng chúng ta đang với tới một tình trạng ở đó có những vấn đề các bạn phải đối mặt. Năm ngoái tôi đã nói rằng tôi sẽ không thỏa hiệp. Lúc ấy chỉ rất ít người lắng nghe tôi. Năm nay tôi nói rõ ra điều ấy, minh bạch một cách tuyệt đối. Tôi không hiểu tại làm sao hàng ngàn người trên khắp thế giới – thành viên của Dòng tu – đã và đang chuẩn bị cho tôi suốt 18 năm qua, nay lại không có ý muốn nghe, một cách vô điều kiện và toàn bộ, những gì tôi nói.
Thế thì tại sao có tổ chức?
Như tôi đã nói trước đây, mục đích của tôi là làm cho con người giải thoát vô điều kiện, vì tôi xác nhận rằng chỉ có tâm linh là trạng thái bất hoại của bản ngã, là vĩnh cửu, là sự hoà hợp giữa lý trí và tình yêu. Ðó là Chân lý tuyệt đối, vô điều kiện, và là chính Sự sống. Bởi thế tôi muốn sao cho con người tự do, hân hoan như chim giữa bầu trời trong trẻo, không nặng gánh, độc lập và ngây ngất trong tự do đó. Và vì các bạn, những người đã chuẩn bị 18 năm nay, lúc này tôi nói rằng các bạn phải được giải thoát khỏi toàn bộ những điều ấy, giải thoát khỏi những rối rắm của mình. Vì sự giải thoát ấy nên các bạn không cần có một tổ chức đặt căn bản trên niềm tin tinh thần. Tại sao có một tổ chức cho năm hoặc mười người trong một thế giới mà họ am hiểu, họ phấn đấu, họ đặt sang một bên tất cả những cái lặt vặt không đáng kể? Còn đối với những kẻ nhu nhược thì không tổ chức nào có thể giúp cho họ nhận ra Chân lý, vì Chân lý ở trong mỗi người; nó không ở xa, nó không ở gần; nó vĩnh viễn ở ngay đó.
Các tổ chức không thể làm cho các bạn tự do. Không ai bên ngoài có thể làm cho các bạn giải thoát: không sự thờ phượng có tổ chức và không sự hãm mình vì một nguyên cớ có thể khiến cho các bạn được giải thoát, không việc lao bản thân mình vào công tác có thể khiến cho các bạn được giải thoát. Các bạn dùng máy đánh chữ để viết thư nhưng các bạn không đặt nó lên bàn thờ mà thờ phượng nó. Thế nhưng đó là điều các bạn hẳn sẽ làm khi các tổ chức trở thành mối quan tâm chính của các bạn. 
“Có bao nhiêu trại sinh ở đây nằm trong tổ chức?” Ðó là câu đầu tiên các phóng viên báo chí hỏi tôi.
“Ông có bao nhiêu người theo ông? Bằng vào số lượng người đi theo ấy chúng tôi sẽ phán xét điều ông phát biểu đúng hay sai.” Tôi không biết có bao nhiêu người đang ở đây. Tôi không quan tâm tới điều đó. Như tôi đã nói, thậm chí nếu chỉ có một người muốn sao cho giải thoát thì đối với tôi như thế là đủ.
Thêm nữa, các bạn có ý tưởng rằng nhất định phải có người đang giữ chìa khóa của Vương quốc Hạnh phúc. Không ai giữ chìa khóa ấy. Không ai có quyền giữ nó cả. Chìa khóa ấy chính là bản ngã của bạn, và Vương quốc Vĩnh cửu ấy hiện hữu trong sự triển khai, trong sự thuần khiết và trong sự bất hoại của tự thân bản ngã mà thôi.
Như thế các bạn thấy phi lý biết bao toàn bộ cấu trúc được các bạn dựng lên trong khi các bạn tìm kiếm sự phù trợ vĩnh cửu, trong khi lệ thuộc vào người khác để có ủi an, để có hạnh phúc, để có sức mạnh của mình. Các bạn chỉ có thể tìm kiếm những cái ấy trong chính bản thân mình, trong chính các bạn.
Thế thì tại sao có tổ chức?
Các bạn có thói quen để cho ai đó nói cho biết rằng các bạn đã tiến bộ ngang đâu, trạng thái tâm linh của các bạn tới lúc này ra sao? Thật ấu trỉ! Nếu nội tâm các bạn đẹp đẽ hoặc xấu xa thì ngoài các bạn ra còn ai có thể nói cho các bạn biết? Nếu các bạn bất hoại thì ngoài các bạn ra còn ai có thể nói cho các bạn biết? Trong các việc này, các bạn chẳng nghiêm chỉnh chút nào!
Thế thì tại sao có tổ chức?
Nhưng chính những người thật sự khao khát thông hiểu, những người đang trông mong sẽ tìm thấy cái là vĩnh cửu, không bắt đầu, không kết thúc và cùng nhau bước đi với sự tập trung sâu xa các nỗ lực của mình, họ sẽ là mối nguy cho tất cả những gì không cốt tủy, cho những gì không hiện thực, cho các bóng tối. Và những người ấy sẽ tập họp, họ sẽ trở thành ngọn lửa, vì họ am hiểu. Chúng ta phải tạo ra bộ phận như thế và đó là mục đích của tôi. Do bởi sự am hiểu chân chính mà sẽ có tình bằng hữu chân chính. Do bởi tình bằng hữu chân chính – cái hình như các bạn không biết – sẽ có sự hợp tác thật sự trong phần của mỗi người. Và điều đó không do bởi thẩm quyền, không do bởi sự cứu độ, không do bởi sự hi sinh cho một nguyên cớ, nhưng do bởi các bạn thật sự am hiểu, và từ chỗ đó có các bạn có khả năng sống trong vĩnh cửu. Ðây là cái lớn lao hơn mọi khoái cảm và mọi hy sinh.
Như thế, đó là một số lý do tại sao, sau khi cân nhắc kỹ lưỡng suốt hai năm qua, tôi lập quyết định này. Nó không xuất phát từ sự bốc đồng trong khoảnh khắc. Tôi không bị bất cứ ai thuyết phục về quyết định này – tôi không để cho mình bị thuyết phục trong những sự việc như thế này. Trong hai năm qua, tôi đã suy nghĩ về vấn đề này, một cách chậm rãi, thận trọng, nhẫn nại, và giờ đây tôi quyết định giải tán Dòng tu như tôi đã ngẫu nhiên là Thủ lãnh của nó. Các bạn có thể hình thành các tổ chức khác và kỳ vọng vào người nào đó khác. Tôi không quan tâm tới việc đó, cũng như tới việc làm ra các chiếc lồng mới cùng những trang trí mới cho chiếc lồng ấy. Quan tâm độc nhất của tôi là sao cho con người tự do một cách tuyệt đối, vô điều kiện. 
3/6/2009
Krishnamurti 
Nguyễn Ước dịch
Theo https://www.vanchuongviet.org/

XXXXXXMột buổi sớm bình minh trên biển vắng

Một buổi sớm bình minh
trên biển vắng

Trong một không gian bao la khoáng đãng, Trái Tim và Tâm hồn đang thảnh thơi ngắm trời biển Bao la. Con Người lúc này cũng nhàn hạ ngồi vắt vẻo trên tảng đá mà thả lòng... trống rỗng như không... bỏ mặc Tâm hồn và Trái Tim đối thoại.
- Này Trái Tim ơi! ngươi có thấy Con người hôm nay là lạ, như thể đang vô vi tận đẩu đâu ấy nhỉ!
- Tâm hồn nhíu mày: Ừ nhỉ! hiếm khi thấy Con Người được thảnh thơi thế này đâu nhỉ! Vì Con Người tham lắm cứ lao vào bao nhiêu là chuyện để tìm kiếm cái chi chi ấy!
- Trái tim tán đồng: ừ! nhiều lúc Ta cũng không thở nổi bởi cường độ gấp gáp quá sức của Con Người!
- Tâm hồn đưa đẩy: Trái tim nên thương Con người, đừng khiến Con Người phải ngã gục! Tâm hồn cảm tưởng Con Người đang sống chắt chiu, "sống như có thể sẽ chết đi ngày mai ấy" Ta cũng ray rứt lắm, bởi Con Người chết hụt mấy lần rồi...Tâm hồn ta cũng đã mấy phen lìa khỏi xác con người chốt lát... nên Con Người bây giờ cứ tranh thủ mà cố sống thôi, đôi khi lại gạt qua những cái mà xưa nay Con người vốn hay nhẫn nhịn, vì vậy mà cũng có khi bị cho là ... sân hận!
 
Rồi Con Người lại co ro buồn và tự đày đọa Trái Tim! Nhưng mà, Trái tim này! Anh can Con Người thở thong thả chút được không!? Chứ ai mà chẳng muốn sống thật lâu, thật khỏe! mà sao con Người này chỉ muốn sống cho cạn lòng để có thể nếu chết đi ngày mai mà không hối tiếc!
- Trái tim dịu dàng lên tiếng:"Ngươi đừng có quá tin Con Người! vì sẽ ... mất niềm tin! Con Người có lúc ngược đãi Trái Tim ta lắm!
- Tâm hồn ủ rũ: Ta thà bị mất niềm tin! hơn là chẳng thể tin nổi Con Người”
- Trái tim giận dỗi: "Vậy thì chính Ngươi sẽ bị Con Người phụ thôi"
- Tâm hồn ngưng đọng (nuốt nước mắt vào lòng) rồi nói: Thôi thì Con Người cứ phụ Ta (nếu Con Người muốn) nhưng còn Ta thì chẳng thể phụ Con Người đâu! Vì Ta tin Ta nhiều hơn tin Con Người ! nếu Ta không thể tin Con Người làm sao Ta có thể để tin Ta được!
 - Trái tim tức giận! mà ... chẳng biết nói gì! nên co thắt thật đau! Khi trái tim cũng cảm nhận sự đau đớn bắt đầu lan ra.
- Tâm hồn cũng bị dày xéo.. rên xiết : Dù có đau đớn thế nào Tâm hồn Ta cũng nhận lãnh, vì Ta đã chấp nhận, nhưng còn Con Người thì sao! liệu Con Người có biết để mà chịu đựng nổi không!?
- Trái Tim bắt đầu ... Tím tái, còn Tâm hồn thì co quắp chịu trận, rồi thều thào: Xin đừng làm Con Người đau như Ngươi đã làm Ta đau! vì chúng ta đều tá túc trong Con Người mà. Khi Con Người đau thì cả Ta và Ngươi đâu có bình an được.
 
Nói rồi Tâm hồn kiệt sức ... và thoát khỏi trái tim mà bay lên trên ... trời cao ... để bắt kịp các vì sao!
 
Còn thân thể Con Người thì nước mắt lệ trào lần cuối trước khi cả 3 (trái tim - tâm hồn và Con Người) đồng loạt ... tan ra và hòa vào cát bụi...
 
*
 
Rồi .... từ đó! Gió khẽ lùa từng sát-na giao cảm của tâm hồn, gởi tâm hồn hóa thân làm bọt sóng để suốt đời vỗ về, suốt đời nâng niu  những  bàn chân trần ,  ôm ấp trái tim nóng ấm, xoa dịu niềm đau và hàn gắn vết thương lòng cho những ai ... có đủ niềm tin lướt trên  ....  sóng gió cuộc đời.
 
Và Trái tim mong manh, nắng phủ lên một lớp cát vàng mịn màng  hóa thân thành những tinh thể  pha lê hồn nhiên dưới nắng ấm. Cát dễ bị tổn thương nên sẽ ghi dấu những vết tích hằn lên cát nóng, định hình những ai khiến cát... dị hình. Nhưng vì  Trái Tim đã tá túc quá lâu trên Con người  ôn hòa nhân hậu, Cát bao dung xóa hết mọi  lỗi lầm  không để lại những gì trên cát trắng.
 
Còn... Con Người thì điềm nhiên hóa thân thành dòng nước mặn! len lõi khắp mọi ngóc ngách giữa tâm hồn và Trái tim để hòa tan mọi nỗi đau khốn cùng của đời Người bằng dòng lệ mặn mòi vĩnh cửu và vì ưu ái chủ nhân đã một thời lặng lẽ. Con Người lại ẩn thân trong... dòng lệ của bà mẹ thiên nhiên... lặng lẽ tan ra bôi xóa làm vơi cạn niềm đau và âm thầm lan tỏa... chảy dài theo năm tháng... ùa tràn ra biển khơi hòa vào biển mặn muôn đời ....
 
Hãy ngước lên vòm trời!
Để nước mắt đừng rơi
Xin đừng hỏi vì sao!?
Người chẳng hiểu Con Người
Vì có như thế nào!
Cho dù phải ra sao...
Vì sao ... và tại sao!?
Thì cũng ... chẳng có ... sao!
Cuối cùng là ... niềm đau!
"Cuộc đời là bể khổ"
Xin đừng ... hành hạ nhau!. 
11/6/2011
Nguyễn Thị Kim Lan phóng tác 
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Một ngày như mọi ngày

Một ngày như mọi ngày X in vội vàng thưa ngay: Đây là một ngày của một ông già Việt Nam trên xứ Mỹ, một người đang dè dặt đặt những "...