Thứ Hai, 1 tháng 12, 2025
Nhà thơ thứ 101
“Nếu đã có một trăm người nông dân, làm người nông dân thứ một trăm lẻ một, dễ hơn. Nếu đã có một trăm nhà thơ, làm nhà thơ thứ một trăm lẻ một, khó hơn”.
Đêm trăng tại phố cổ
Đêm trăng tại phố cổ
1- Mùa Thu đang trở lại
Cali. Buổi sáng trời hơi lạnh. Cái lạnh dễ chịu của miền thung-
lũng hoa vàng không giống cái lạnh khó chịu tại các tiểu bang miền
Bắc Hoa-kỳ, nơi mà Nguyễn đã cư-trú tại đó gần mười năm.
Nguyễn đang ngồi nhâm-nhi cà-phê vói Dũng và vài người
bạn tại quán cà-phê Starbucks ở Downtown.
Dũng nói:
- Tuần sau, tớ sẽ về thăm Việt-Nam.
- Cậu về, chừng bao lâu thì
qua lại?. Về có việc gì, hay về “hỏi vợ” đó?, Thành hỏi.
- Mình về thăm lại quê-hương sau gần
hai mươi năm xa cách. Các bạn cũng đều biết tất cả cha mẹ, anh chị em mình đều
đã định-cư tại Mỹ và mình chưa có ý-định “tìm vợ” bên Việt-Nam. Có thể chuyến
này mình về chừng hai ba tuần để đi thăm các thắng cảnh từ Nam ra Bắc.
Theo mình nghĩ tuy mình là người Việt, từ nhỏ đến giờ,
mình mới biết một vài tỉnh và thành-phố trong Nam thì coi như “xệ”
quá!, Dũng trả lời.
Nguyễn góp ý:
- Nếu có dịp ra ngoài Trung, cậu nhớ ghé thăm phố
cổ Hội-An. Mỗi tháng một lần vào ngày trăng tròn, tại thành phố cổ
đó tất cả đèn điện đều tắt hết, mà chỉ thắp các đèn lồng để sinh-hoạt ban
đêm. Thú vị lắm làm du-khách sẽ nhớ đời!
- Ừ, mình cũng có ý định đó từ lâu rồi,
Dũng nói.
- Nếu cậu đến phố cổ, mình dề
nghị cậu đến trú tại khách sạn X, phòng 309 sẽ dành cho cậu nhiều
“kỷ-niệm nhớ đời” đấy!.
- Sao cậu chưa về Việt-Nam lần nào mà cậu “biết rõ” vậy,
hả Nguyễn?
- Thiên cơ bất khả lậu!
Nguyễn vừa nói vừa cười như tuồng thích thú lắm về câu trả lời
của mình.
2- Người tài-xế trẻ tuổi quay sang hỏi
Dũng :
- Đây là ngã ba Vĩnh-Điện. Ông muốn đi Đà-nẵng trước, hay ghé
xuống Hội-An? Lần đầu tiên, Dũng ra thăm miền Trung nên anh suy nghĩ một chút,
rồi mới hỏi:
- Đường nào đi Đà-Nẵng, mà bao xa?, còn đường nào đi Hội-An ?
Người tài-xế trả lời:
- Nếu chạy thẳng theo quốc-lộ 1 này thì đến thành-phố Đà-Nẵng
cách đây chừng hai mươi lăm cây-số, còn rẽ phải, thì xuống phố cổ Hội-An, cách
đây chừng mười cây-số thôi.
- Ông muốn đi... ?
- Hội-An trước, vì hôm nay là ngày mười bốn âm-lịch, tôi muốn
được tận hưởng một đêm đặc-biệt tại đây.
Dũng nhìn vào tờ giấy mà Nguyễn, bạn chàng đã ghi chi-chít chữ,
chàng đọc lại cho nhớ:
“Vào mỗi đêm 14 âm-lịch, mọi sinh-hoạt của thị-xã nhỏ bé này
được quay trở về thế-kỷ thứ 16. Bốn con đường nằm trong khu phố cổ là Trần-Phú,
Nguyễn-Thái-Học, Lê-Lợi và đường bờ sông Bạch-Đằng đã hàng loạt tắt những
ngon đèn điện sáng, thay vào đó là ánh-sáng huyền-ảo của những ngọn đèn lồng
nhiều mầu sắc. Dù những chiếc đèn lồng này cũng được thắp sáng bằng những bóng
đèn điện thông thường, nhưng ánh-sáng tỏa ra mờ dịu và phảng-phất dấu ấn của thời
xa xưa...”
Dũng quay sang tài-xế rồi nói:
- Anh cho tôi đến khách-sạn X..., nằm trên đường....
Vâng, tôi biết đường này, ông yên tâm.
Người tài-xế đáp không đợi Dũng đang moi trong trí để
nhớ tên con đường xa lạ này. Khách-sạn trông cũng khá sang. Dũng hỏi người quản-lý
để thuê phòng. Người quản-lý nhìn vào cuốn sổ đang để trước quày và trả lời
ngay:
- Thưa ông, rất tiếc, hôm nay nhằm ngày mười tư âm-lịch,
có nhiều khách đến tham-quan phố cổ, nên không còn phòng nào trống...
Xin ông cảm phiền...
Ngừng một giây, khi thấy Dũng tỏ ra thất vọng, người quản-lý
nói tiếp:
- À... còn một phòng... mà... mà....
Dũng nghe “còn phòng” nên nói ngay:
- Khỏi phải mà...mà..., để giải-thích dài dòng nữa, cho tôi
phòng còn lại đó, và nếu muốn trả thêm chút ít tiền thuê cũng được, vì tôi chỉ
cần trú một đêm thôi.
Dũng nghĩ đến mấy anh quản-lý
khách-sạn ở Việt-Nam, thuờng nêu ra những trường hợp “đặc-biệt” như
trên, để vòi thêm tiền của khách “Việt kiều”, nên quyết định ngay không cần suy
nghĩ.
- Cám ơn ông. Đây là chìa khóa phòng 309 “đặc-biệt” ở lầu
3, dãy bên phải đó. Chúng tôi không tính tiền thêm mà chỉ tính theo giá
thông thường, như những phòng khác.
Nhận phòng xong, Dũng thay quần áo ngắn “nhiệt-đới”, mang
“xăng-đan”, rồi đi xuống phố để tìm cái gì lót bụng vì chàng đã thấy thèm
cà-phê và đói bụng lắm rồi.
Đường Trần-Phú, có nhiều quán ăn, mà những
du-khách quen đến phố cổ đã đặt tên “Restaurant street” (phố nhà hàng
ăn), hoặc nói đúng hơn lphải gọi là “Cao-lầu phố” hoặc “Cao-lau Street” là một
phố có nhiều tiệm bán cao-lầu lâu đời và nổi tiếng nhất. Đường Trần-Phú
dài từ “thượng Chùa-Cầu đến hạ Âm-bổn”, mà nhiều thập-niên trước đây khi còn
“Pháp-thuộc” gọi là “Rue du Pont des Japonais” (đường cầu Nhật-bản), dài không
quá 500 mét mà có hơn mười lăm quán ăn san sát nhau
Dũng đi ngang qua một
quán ăn để hai chữ “CAO LẦU”, thấy có nhiều khách “ba-lô” ngoại quốc
đang sắp hàng chờ vào ăn. Chàng ngạc nhiên vì không biết “CAO LẦU” có nghĩa gì?
Tên tiệm ăn? Tên món ăn ? hay “CAO LẦU” giống với “ TỬU-LẦU”, hoặc “CAO LÂU (đã
xuất hiện trong thơ Trần Tế-Xương: “Cao lâu thường ăn quỵt, Thổ đĩ lại
chơi lường”?), nên chàng quyết-định “nên vào cho biết”. Người hầu bàn
chào chàng và hỏi ngay:
- Thưa ông dùng “cao lầu?” có lấy thêm bánh tráng nướng
không?
Dũng rất ngạc nhiên vì thông thường tại các quán ăn khi
thấy khách vào ngồi, thì đưa thực-đơn cho khách chọn món ăn, còn đây sao lại
khác. Như vậy “cao lầu” ắt phải là tên món “dặc-sản” của tiệm ăn này?,
Dũng nghĩ thế.
Làm như người ăn chơi sành điệu, chàng đáp :
Có, bánh tráng nướng và một ly cà-phê sữa nóng.
Trong khi chờ món ăn bưng ra, chàng thấy vài người khách ngồi
bàn bên cạnh chàng hút thuốc “tự-do”, nên chàng cũng móc bao thuốc lá Pall-Mall
lấy một điếu, châm lửa hút thoải-mái” khi người hầu bàn đem ly
cà-phê đến.
Nhìn “tô cao lầu”, món ăn mà lần đầu tiên Dũng biết, Dũng
quan-sát kỹ để khi về lại Mỹ sẽ có dịp kể lại cho bạn-bè nghe.
- Thì ra thế, Cao-lầu là một món “mì khô” sợi hơi cứng, trên
có thịt xá-xíu, dưới có giá chín, điểm vài tép mỡ và ngò thơm.
Không giống món mì quảng, cũng chẳng giống món mì xá-xíu khô
của Tầu, hoặc hủ-tíu khô Nam-Vang mà chàng đã ăn. Đây là món ăn “lạ” đối với
Dũng, có hương-vị rất đặc-biệt và hấp-dẫn.
Có lẽ vì bụng đói hay món ăn “lạ và ngon”, nên Dũng đã gọi
thêm một tô cao-lầu nữa để ăn tiếp.
Nhìn những người ngoại quốc ngồi các bàn bên cạnh, tay cầm
đũa rất thành thạo và ăn rất ngon lành. Dũng nghĩ có lẽ họ là “khách thường-xuyên”
của tiệm ăn này.
- Wonderful meal!
Một “bà đầm trẻ tuổi” nói với người bạn ngồi cạnh, rồi nhờ
người này “thông ngôn” để gọi thêm một tô cao-lầu nữa.
- Mô-ột tô-ô Kau-lau nữua..., please!
Người đàn ông ngoại quốc nói “tiếng Việt giọng Bắc”.
Mặc dầu ở thành-phố cổ nhỏ bé này, các người “nước ngoài” có
thể dùng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Tàu, tiếng Nga... để gọi món ăn, vì đa số
người chủ quán và nhân-viên phục-vụ có khả-năng nghe hiểu những câu nói
đơn-giản và thông thường của các ngôn-ngữ đó.
Khi những người khách này đứng lên, đến quày trả tiền, Dũng
nghe thêm một câu nói:
- We’ll miss your Kau-lau! Thanks for your wonderful Kau-lau!
Dũng cũng đứng lên, trả tiền .
Ra khỏi quán “cao-lầu”, Dũng đi dọc theo đường Trần-Phú để
thăm các ngôi chùa cổ của các người Hoa-kiều nằm dọc theo đường
này, như Chùa Quảng-Triệu, Chùa Ngũ-Bang, Chùa Phúc-Kiến, Chùa Quan-Thánh, Chùa
Âm-bổn. Sau đó, quẹo ra chợ Hội-an để tiến ra bờ sông Bạch-Đằng hóng mát và xem
mấy người ngồi câu cá. Chiều dần xuống. Những tia sáng cuối ngày giảm rất
nhanh . Mặt trăng tròn đã hiện ra từ phía bên kia sông Sài-giang hướng ra biển
Cửa-Đại. Rất nhiều người đổ ra dường phố để dón “Đêm huyền-ảo”, chỉ xẩy ra
mỗi tháng một lần.
Các ngọn đèn điện ngoài phố, trong các căn nhà lần lượt tắt.
Thay vào đó, ngoài đường phố các chiếc đèn lồng bằng lụa sặc-sỡ mầu sắc ,
hình dài dài treo trên các cột điện đường và trước mỗi nhà những đèn lồng
bằng lụa hình tròn tỏa ra nguồn ánh-sáng “liêu-trai” và huyền ảo. Tất cả xe cộ,
kể cả xe gắn máy đều cấm di-chuyển trong lúc này. Trong lúc các nhà dọc
theo bốn đường chính của phố cổ, các đèn điện, “nê-ông”, ra-đi-ô, ti-vi,
máy hát... đều tạm ngừng sử-dụng trong một đêm “phố cổ trở về thuở xa xưa của mấy
trăm năm trước”.
Dưới ánh trăng tròn, dưới các đèn lồng, du-khách và cư-dân phố
cổ hưởng trọn vẹn một đêm mờ ảo và rất “thiên-nhiên”. Dọc theo đường phố, đây
đó, người ta đánh cờ tướng, người ta đàn hát, người ta nói chuyện phiếm và các
nam thanh, nữ tú cũng “ lợi dụng” cảnh mờ mờ ảo ảo đó để tỏ tình hoặc trao cho
nhau những nụ hôn thắm-thiết.
Trời đã về khuya, Dũng trở lại khách-sạn.
Chàng lên giường, nằm nhớ lại một ngày vừa trôi qua ở phố cổ
rất thích-thú này.
Bỗng chàng nghe tiếng gõ nhè nhẹ vào cửa phòng.
Cộc...cộc...cộc rồi cộc...cộc...côc..
Chàng ngồi dậy, xỏ chân vào dép, ra mở cửa. Chàng nghĩ giờ
này có thể công-an địa phương đến xét giấy tờ...tạm trú.
Mở cửa, chàng rất ngạc nhiên khi thấy một thiếu nữ trẻ vận xường-xám
e-lệ hỏi chàng:
- Xín-xáng, nị kỏn Koỏng-tống hỏa? (Thưa ông, ông có nói được
tiếng Quảng-đông không?) Â
m thanh phát ra nhỏ nhẹ và như có ma-lực làm chàng phải trả lời.
Mặc dù trong bụng chàng muốn nói một câu để đuổi người quấy rầy trong lúc
khuya-khoắt này đi chỗ khác.
- Mụ, ngộ duỵt-nàm dành, ngộ kỏn ịt-nàm-hỏa, íng-kọt hỏa, phần
dậu.(Không, cô bạn, tôi là người Việt-Nam , tôi nói tiếng Việt và tiếng Anh
thôi).
- O.K! It’s good. I speak English too! ( Được. Thế thì tốt.
Tôi cũng nói được tiếng Anh).
Nói xong, nàng xin phép Dũng cho nàng vào phòng để tiếp tục
câu chuyện muốn nói. Dĩ nhiên, Dũng đồng ý và mời nàng vào phòng, đóng cửa lại
ngay vì nói chuyện lâu ngoài phòng e không tiện lúc đêm khuya.
Bằng giọng Anh chuẩn và lưu-loát, nàng nói với Dũng:
- Tiên-sinh biết không, ở khách-sạn này có một thông-lệ, mà
không một ai tiết-lộ cho khách biết trước...
Dũng trố mắt ngạc nhiên, khi nghe cô gái nói tiếp:
- Phòng 309 này chỉ dành riêng cho khách “đặc-biệt”, nghĩa là
được chiêu-đãi miễn phí mọi thứ kể cả “người hầu hạ một đêm”. Em được sai bảo đến
đây là vì “thông-lệ” mến khách đó.
Dũng nhớ lại lời dặn của Nguyễn trước lúc lên máy bay:
Cậu đừng quên khách-sạn X, ở phố cổ, phòng 309 đó nghe. Thú-vị
lắm!
- À, thì ra...có mục này... Dũng lẩm-bẩm.
Đêm đó, Dũng rất vui bên người đẹp. Dũng thấm mệt, rồi
ngủ thiếp lúc nào không biết.
3- Dũng thức giấc khi trời vừa sáng.
Chàng rất ngạc nhiên khi thấy mình nằm trần truồng, một chiếc khăn lông lớn vấn
ngang bụng. Chàng cố nhìn để xem mình đang nằm chỗ nào?. Bên cạnh mấy
thùng giấy đựng rác ở tầng basement của khách-sạn. Sao lạ vậy. Ai khiêng
chàng bỏ vào đây? Chàng còn nhớ rõ, tối qua chàng nằm trên phòng 309, lầu 3 với
người đẹp Trung-hoa mà!
Chàng vội chạy lên phòng 309, lầu 3. May mà lúc đó còn sớm
quá, chưa có ai đi lại, để có thể trông thấy chàng “tô-hô!”.
Mùi thơm da thịt của người đẹp vẫn còn phảng-phất đâu
đây. Nhìn chăn gối xô lệch, chàng tiếc đêm vui đã qua quá mau.
Sáng ra, chàng xuống quày người quản-lý để
trả phòng.
Người quản-lý hỏi chàng ngủ “có yên-giấc” không? .
Dũng vừa cười vừa nói:
- Yên thì không yên... nhưng mà “vui”.... và nhất là được “biết
cái basement của khách-sạn này”.
- Thưa ông, thế thì chúc mừng ông “được chiêu-đãi tại khách-sạn
này không phải trả tiền” và mong ông giữ “bí-mật” này, đừng “bật-mí” cho ai
khác nhé!
Người quản-lý khách sạn vừa bắt tay Dũng vừa cười mà nói
thêm:
- Khi ông đến thuê phòng, khách-sạn chúng tôi không còn
phòng nào khác nữa, phòng 309 là phòng được “để trống” từ nhiều năm
nay, vì một số khách đã trú tại đó đều than-phiền “có vấn-đề”. Tôi thấy
ông ở xa đến, nếu không có nơi tạm-trú trong đêm, để thưởng thức “đêm huyền-ảo
nơi phố cổ”, thì mất vui và lỡ dịp ngày 14 âm-lịch mỗi tháng chỉ có một lần”,
nên tôi mới để phòng 309 cho ông ở. Tôi biết ông thừa can-đảm và có
thể “sống qua đêm” không có “hại” gì đến tính-mạng của ông. Xin ông tha lỗi
cho.”
4- Về lại Mỹ, Dũng gọi điện-thoại cho
Nguyễn và hẹn gặp thằng bạn “Thiên-cơ bất khả lậu” ngay.
Nguyễn kéo Dũng vào một quán ăn vắng khách. Rồi vừa ăn vùa
nói chuyện. Nguyễn bảo Dũng kể lại chuyện đi thăm phố cổ. Nghe xong, Nguyễn
nói thêm:
- Năm 1940, một thương-gia giầu-có người Hoa, trú tại Hội-An,
hồi đó còn gọi là “ville de Faifoo” (thành-phố Phe-phô) sang buôn bán bên
Hong-Kong có “bao” một vũ-nữ trẻ chừng mười tám, hai mươi tuổi gì đó, rất xinh
đẹp. Khi đem nàng về phố cổ, bà vợ lớn, người Việt ghen quá cỡ, nên ông
mua một ngôi nhà ba tầng này, tầng trệt làm cửa hàng buôn bán tạp-hóa, tầng
trên cùng, dành một phòng để “hú-hí” với bồ nhí. Nàng tên Minh-Lan, ngoài
tiếng mẹ đẻ, nàng còn nói giỏi tiếng Anh. Sợ những người trong thành phố
biết việc này, vì Hội-An là thành phố rất nhỏ, việc gì xảy ra “ở trên Chùa Cầu
thì dưới Âm-bổn biết ngay”, nên ông cho sửa sang lầu ba thành một “cấm
phòng đặc-biệt” cho Minh-Lan ở. Có đầy đủ tiện-nghi và chỗ giải-trí thoáng mát
ngoài trời, có trồng nhiều cây kiểng, có khu hồ tắm lộ-thiên , có nhà bếp riêng
và có một bà xẩm nấu ăn và hầu hạ nàng. Tất cả gia-nhân trong nhà đều cấm
lên lầu, dù chỉ lầu hai.
Và nàng Minh-Lan cũng không được bước chân xuống các tầng lầu
khác.
Năm 1944, quân Nhật đến trú đóng tại Hội-An trong chiến-dịch
“vết dầu loang quân-phiệt” Đại Đông Á của Thiên-Hoàng Nhật-bản. Ông chủ người
Hoa kia bị tình-nghi chống Nhật, nên bị bắt và giết ở Phước-Tường,
gần phi-trường Đà-Nẵng.
Từ đó, không ai biết thêm số phận của mỹ-nhân Minh-Lan như thế
nào.
Những năm tiếp theo đó, ngôi nhà đã đổi thay nhiều chủ. Cho đến
1975, khi Việt-cộng chiếm Hội-An, tịch-thu tài-sản của người thương-gia cuối
cùng có cửa hàng bán tạp-hóa tại đó, rồi sửa sang thành khách-sạn để cho thuê.
Căn phòng mà nàng Minh-Lan đã ở và có lẽ đã chết trong đó, thành phòng 309 “đặc-biệt
như Dũng dã biết ”. Có lẽ, Minh-Lan nhớ nghề cũ hay muốn giải-trí, nên mỗi
tháng vào lúc có trăng thật sáng, nàng thường hiện ra và ái-ân với ai thuê đúng
nơi nàng đã ở trong nhiều năm tại phố cổ.
Nguyễn cười cười nhìn Dũng và nói:
Chuyến thăm phố cổ của Dũng gặp được Minh-Lan, một mỹ-nữ đôi
mươi, thân hình với những đường cong đầy hấp-dẫn, mặc xường-xám và “thỏ-thẻ” tiếng
Anh như gió, trong một đêm Trung Thu, trăng sáng diễm-tuyệt, thật đáng nhớ
đời đấy!.
Phương Duy
Theo https://vietvanmoi.fr/
Nắng vàng Nagasaki
Nắng vàng Nagasaki
Tokyo, ngày... tháng... năm 2009
Anh Nguyễn quý mến,
Em vừa từ thành phố Nagasaki về, vội viết thư cho anh kẻo để
anh chờ thư.
Nơi em đến viếng đầu tiên ở thành phố này không phải là
“Chukamachi” khu phố Trung Hoa (Chinatown), hoặc một “otera, tera, dera hoặc
ji” (ngôi chùa cổ kính) hay những “shoppingu gai “ (siêu thị) như những lần
trước đây khi đi thăm viếng một địa danh mới mà là một “Oura tenshudo shita”
(nhà thờ, đúng hơn một giáo đường Thiên Chúa giáo) Giáo đường Oura (Oura
Catholic Church) xây dựng năm 1864 do một tu sĩ người Pháp là Cha Bernard
Petitjean sau ngài trở thành giám mục tiên khởi ở Nagasaki.
Sở dĩ em viếng nơi đây trước nhất của chuyến du lịch vì có
dính dáng đến văn hóa, nghệ thuật của người Pháp mà em rất thích.
Giáo đường tọa lạc về hướng đông nam ở cuối thành phố, gần đền
thờ Đức Khổng Phu Tử và công viên Glover. Trong khi đó một di tích nổi tiếng
khác của Thiên Chúa Giáo là Đền thờ 26 vị Thánh tử đạo lại tọa lạc ở phía cực bắc
của thành phố.
Nhìn ngôi tượng Đức Cha Petitjean mặc áo chùng dài đứng nơi
nhà thờ, trông ngài hiền từ , khiêm tốn và thánh thiện.
Oura là một trong những ngôi giáo đường cổ nhất tại nước Nhật
Bản. Được xây dựng bằng gỗ và theo lối Gothic. Các ngôi nhà chung quanh trong
khuôn viên nhà thờ cũng xây dựng bằng gỗ rất mỹ thuật.
Giáo đường sơn màu trắng với những cửa sổ ráp bằng kính nhiều
màu phản chiếu lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời trông rất đẹp, được xếp vào cổ
tích liệt hạng “quốc gia chi bảo” (National Treasure)
Rời khu giáo đường, em đi đến viếng khu “Hollander Slope”.
Nơi đây những đường phố được lát đá hoặc trải sỏi rất mỹ thuật do người Hòa Lan
xây dựng. Ngày xưa, theo quan niệm đơn sơ của người dân địa phương, người ngoại
quốc nào từ tây phương tới (dù là người Bồ đào nha , người Hòa lan, người Tây
ban nha..) cũng gọi chung là “người Hòa Lan” cả.
Người Bồ đào nha và người Hòa lan là những người ngoại quốc từ
phương tây đến hải cảng Nagasaki sớm nhất khi hải cảng mở cửa giao dịch thương
mại với quốc tế từ năm 1571, tiếp theo sau những tay lái buôn từ Trung hoa đến
trước đó và đã tổ chức thành cộng đồng Hoa kiều riêng biệt.
Những tay lái buôn người Bồ đào nha mang đến nhiều tàu bè chở
súng đạn đến bán và chở những nhà truyền đạo thiên chúa. Có một thời gian các
lãnh chúa cai trị tại địa phương ra lệnh đóng cửa hải cảng không muốn giao dịch
với người tây phương vì họ muôn ngăn cấm những nhà truyền giáo hoạt động rất mạnh.
Chỉ riêng người Hòa lan được phép đến giao dịch thương mại
vào giữa những năm 1638 đến 1854.
Sau khi hải cảng mở cửa lại, người Pháp, người Anh, người Mỹ,
người Đức và người Phổ tới tấp đến buôn bán cho đến ngày nay.
Năm 1992, người Hòa lan đã bỏ ra một ngân khoản lên đến 1.75
tỷ dollars để xây dựng một ngôi làng cổ truyền Hòa lan “Huis ten Bosch” với những
giáo đường, cư xá, tiệm buôn, những cối xay gió, nông trại, kênh đào, công
viên... theo mẫu tại quê nhà bên Hòa lan. Gồm cả xây lên một tòa nhà giống mẫu
lâu đài của nữ hoàng Beatrix và một giáo đường Hòa lan với ngọn tháp cao nhất.
Phương tiện giao thông nơi làng này là những chiếc xe cổ do ngựa kéo, những cổ
taxi cổ điển và những tàu thuyền kiểu cổ đi lại trên những sông đào trong làng.
Du khách đến viếng khu làng này đều nhiệt liệt ngợi khen kiều
dân Hòa lan đã có sáng kiến rất hay và xây dựng tuyệt vời.
Một nơi được du khách ngoại quốc cũng như dân Nhật bản thăm
viếng nhiều lần nhất tại Nagasaki là Công viên Hòa Bình “ Peace Park”.
Một trụ bằng đá đen được dưng lên để đánh dấu nơi quả bom
nguyên tử thứ nhì của Hoa Kỳ nổ lúc 11:02 ngày 9 tháng Tám năm 1945, ba ngày
sau ngày quả bom nguyên tử đầu tiên thả xuống Hiroshima.
Bom rơi gần chỗ bến tàu và sức nổ đã sát hại ngay tại chỗ ước
tính 75,000 nhân mạng và chừng hơn 75,000 nạn nhân bị thương. Nhiều công trình
xây lên để kỷ niệm kể cả một tượng đài cao 9 mét (30 ft), tạc một người đàn ông
Nhật vặm vỡ tay phải dơ lên cao, ngón tay trỏ chỉ lên trời (Thiên), tay trái
đưa ngang (Bình), mang tên “Pho Tượng Hòa Bình”(Peace Statue).
Năm 1959 giáo dân tái thiết ngôi giáo đường Urakami Catholic
Church tọa lạc cạnh công viên này.Cũng mang một ý nghĩ “cầu nguyên hòa bình cho
nhân loại”. Ai bước chân đến Nagasaki không thể nào quên được Viện Bảo tàng
“Atomic Bomb Museum”. Nơi đây trưng bày quang cảnh sinh hoạt của thành phố hải
cảng Nagasaki trước và sau ngày bị bom nguyên tử, kể cả công cuộc tái thiết sau
này. Những bức ảnh chụp, video, tài liệu báo chí (trong nước và thế giới) ghi lại
biến cố đau thương này.
Mô hình làm bằng kim loại “Hai quả bom A” hình tròn. Một cái
đồng hồ lớn treo tường ngưng hoạt động đã vô tình ghi lại giờ bom nổ... được viết
lại trong một tài liệu “ A clock frozen at the moment the exploded “ là một
trong những vật trưng bày được người xem chú ý và suy nghĩ nhiều nhất về thảm họa
nguyên tử trong chiến tranh. Nghỉ trưa, em đến khu Phố Tàu “Chinatown” để ăn
cơm. Em rất thích được ăn cơm Tàu tại chuka-ryori-ya (Chinese restaurant) , có
những món em thích như ise-ebi (lobster), kani (crab) và goban (rice cooked).
Bước qua một cái cổng rất lớn trang trí bằng những hàng chữ
Hán và chạm trổ những hình hoa văn làm em nhớ đến cái cổng dẫn vào khu phố Tàu
“Chinatown”ở thành phố San Francisco mà anh thường đưa em đi mua ô mai, xí mụi,
ổi, xoài (em rất mê ăn loại quà vặt này) những ngày chúng mình còn là sinh
viên.
Đền thờ Đức Khổng Phu Tử cũng gần khu phố Tàu, nên em ghé đến
viếng để biết thêm văn hóa Trung Hoa. Từ xa em đã thấy mái ngói vàng đỏ của
ngôi đền thờ nổi bật với lối kiến trúc đặc thù Trung Hoa.
Năm 1982, Cộng đồng Hoa kiều đã góp công của để xây lại và nới
rộng thêm ngôi đền thờ này sau khi bị bom nguyên tử phá sập ngôi đền cũ xây dựng
năm 1893. Năm 1982 cũng là năm xây dựng viện Bảo Tàøng Quốc Gia Lịch Sử Trung
Quốc tại Nagasaki. Những cổ vật trưng bày tại viện bảo tàng tại đây được viện Bảo
Tàng Quốc Gia và viện Bảo Tàng Bắc Kinh cho mượn.
Trời ngả về chiều, nắng vàng chiếu rực rỡ trên thành phố hải
cảng Nagasaki, trèo lên taxi em đi viếng nốt một di tích cổ của thành phố : Đền
Thờ 26 Thánh Tử Đạo.
Năm 1587, shogun Toyotomi Hideyoshi chính thức ra lệnh cấm đạo
Thiên chúa hoạt động. kết cuộc là 26 giáo dân bị bắt và giải lên đồi Nishizaka
để xử tử trên cây Thánh giá.Theo tài liệu thì số giáo dân bị giết trong đợt đầu
tiên có thể hơn 600 vị chỉ tính trong vùng nagasaki không thôi. Năm 1862, Đức
Giáo Hoàng đã xét phong Thánh tử đạo cho 26 vị. Một đoạn đường ngắn từ nhà ga dẫn
đến đền thờ, giáo dân dựng nên một tảng đá, một nhà nguyện nhỏ, và một viện bảo
tàng để vinh danh các thánh tử đạo.
Anh Nguyễn quý mến,
Về lại Tokyo, em ngồi viết thư cho anh mà lòng em vẫn còn buồn
vì nhân dịp đi thăm viếng Nagasaki, tìm hiểu để và học hỏi, khi tiếp xúc trực
tiếp với những gia đình có liên hệ huyết thống với những nạn nhân của bom
nguyên tử ở Nagasaki. Họ cho biết những người chết ngay lúc bom thả tuy xấu số
nhưng không chịu đau đớn thân thể trước khi qua đời, còn số người chẳng may bị
thương, chất phóng xạ nguyên tử làm họ kéo dài sự đau đớn trước khi vĩnh viễn
vào cõi vĩnh hằng. Nghe nhiều câu chuyện, nhiều trường hợp thương tâm đã làm em
suy nghĩ nhiều. Những ngày buồn bã kéo theo những đêm thao thức không ngủ được.
Nước Nhật bản , dân Nhật bản của em sao gặp nhiều thiên tai động
đất, sóng thần, bão lụt lại thêm họa tai nguyên tử nữa.
Cầu xin Bình An cho mọi dân tộc trên thế giới.
Em nhớ và yêu anh nhiều.
Hôn anh.
MICHIKO kính bút.
Phương Duy
Theo https://vietvanmoi.fr/
Cái bật lửa zippo made in USA
Cái bật lửa zippo made in USA
Lời mở đầu: Tôi ngồi đọc lại một vài phóng sự trên báo chí, trên mạng ghi
lại "Hàng Không Mẫu Hạm HOA KỲ ghé thăm cảng ĐÀ-NẴNG trong 4
ngày...", tôi khá ngạc nhiên khi biết tại Việt-Nam hiện nay vẫn còn người
thích sưu tập cái bật lửa ZIPPO. Tại USA, chúng tôi , những cựu quân nhân
QLVNCH và con cháu (thế hệ thứ hai, thứ ba...) người Mỹ gốc Việt vẫn tiếp tục
thú vui sưu tập "những cái bật lửa ZIPPO thời gian gọi là "VIETNAM
WAR của thế kỷ XX vừa qua.
1- Sáng nay, thứ bảy... một ngày đẹp trời sau những ngày mưa lạnh
cuối Thu. Tôi nhận được điện thoại báo tin Carl đang lái xe đến thăm tôi.
Carl là cựu sĩ quan cố vấn tiểu khu mà ngày xưa thường phối hợp
công tác quân sự với tôi nhiều năm. Carl rất thân với tôi. Anh thường ra cư xá
sĩ quan của tôi để gặp tôi. Anh nhờ tôi hướng dẫn thêm cho anh tiếng Pháp vì
trước khi nhập ngũ và đưa sang phục vụ tại chiến trường Việt Nam anh đã học tiếng
Pháp vài năm. Ðổi lại, anh hướng dẫn tôi thêm môn Anh ngữ mà anh đã tốt nghiệp
Master of Arts. Anh rất thích ăn chả giò nhân cua bể và phở Bắc lúc phục vụ ở
Việt Nam, nên tôi đã biết ý thích này của Carl.
Sau 1972, anh rời chiến trường Việt Nam và được đưa sang làm
tùy viên ở một sứ quán bên Phi Châu vì anh biết Pháp ngữ.
Anh nghỉ hưu giữa thập niên 1980 và về sống tại quê nhà ở
thành phố Yountville, bên cạnh đại gia đình bố mẹ và anh em của anh từ lâu đã
chuyên trồng nho và sản xuất rượu vang.
Từ ngày Carl biết tin tôi đã sang Hoa Kỳ tái định cư theo
chương trình H.O năm 1991, thỉnh thoảng anh lái xe từ Napa Valley đến chơi với
tôi. Hai chúng tôi thường đàm thoại tiếng Pháp với nhau khi chén chú chén anh rất
thân mật. Lúc nào anh cũng mang theo vài chai rượu vang ngon mang nhãn hiệu gia
đình anh vì anh biết tôi cũng là tay mê rượu vang chính gốc Napa Valley từ lâu.
Mấy lần trước anh đều gọi điện thoại báo tin cả tuần nên tôi
có thì giờ chuẩn bị thức ăn Việt Nam mà anh thích như “chả giò nhân cua bể” và
phở Bắc. Lần này, khi anh đã ngồi trên xe mới dùng cell phone báo tin cho tôi.
May mà bà xã của tôi vừa làm xong món “chả giò cua bể” và món “hoành thánh tôm
chiên” chuẩn bị ngày mai Chủ nhật đãi mấy đứa cháu nội theo thường lệ đến thăm
ông bà nội với bố mẹ chúng. Nên tôi cũng đỡ lo phần ẩm thực với Carl lần này.
2- Tiếng chuông reo, tôi ra mở cửa đón Carl vào nhà. Anh bưng một
thùng 6 chai rượu. Carl nói ngay khi nhìn thấy tôi:
- Lần này có lứa nho Cabernet Sauvignon ngon lại được mùa và
cuộc thi rượu ngon tại San Francisco vừa rồi đã xếp hạng huy chương vàng cho
hãng rượu của Bố mình. Mình đem biếu bạn 6 chai đoạt giải để bạn thưởng thức.
Ðược xếp 96 điểm đấy. Ông bố mình rất vui. Lần này, chúng ta không khui ra uống
ngay.
Tôi ngạc nhiên hỏi: “Tại sao vậy?”
Carl giải thích ngay:
- Hôm nay kỷ niệm sinh nhật lần thứ 70 của Martin. Martin là
bạn rất thân với tôi. Sau đó hai đứa cùng sang phục vụ tại chiến trường Việt
Nam. Martin phục vụ ở phòng Tuyên Uý Chaplain office Sư đoàn Americal Division ở
Chu Lai. Martin đã nhờ tôi mời thêm một số chiến hữu của Quân đội Việt Nam Cộng
Hòa mà tôi quen biết để có dịp gặp gỡ nói chuyện “quá khứ” cho vui. Tôi mang
theo 12 chai Cabernet Sauvignon góp vui với Martin. Nên vì thế mời bạn đi cùng
tôi. Ðến nơi mình mới uống rượu được. Bây giờ mà uống thì sẽ phiền với cảnh sát
và cũng không an toàn khi lái xe.
- OK. Thế thì tôi sẽ tháp tùng với bạn. Tôi sẽ mang theo một
ít “đặc sản Việt Nam” như “chả giò cua bể”, và “hoành thánh tôm” loại
“home-made” để góp vui.
3- Nhà của Martin ở Santa Cruz, cách một con đường là ra đến bãi
tắm ở biển.
Chừng hai mươi khách tham dự. Tất cả là cựu quân nhân bạn của
Martin cùng ở gần nhà.
Họ đang đi quanh các phòng trong ngôi nhà để xem các “kỷ vật”
của Martin mang từ Việt Nam về.
Tôi nhìn thấy trưng bày một khẩu súng AK- 47 cũ, một nón cối,
một lá cờ GPMN nhỏ, một nón lá (trông đã cũ vì qua thời gian trưng bày lâu rồi)
, một chiếc chiếu hoa (sản xuất tại Quảng Nam hay Quảng Tín (?), một tượng thiếu
nữ Việt Nam khắc bằng đá “Non Nước”, hơn 30 cái bật lửa ZIPPO, những huy chương
của Martin…
Tôi cũng là người từng mê loại bật lửa ZIPPO này vì ngày xưa
trước khi quân đội Hoa Kỳ sang Việt Nam, tôi xài loại bật lửa nội địa “Made in
Cholon” dẹp dẹp, nho nhỏ, có nhiều lúc ra chỗ trống có nhiều gió, bật lửa chẳng
“nghe lời chủ” giống như “trên bảo, dưới không nghe” vậy. Sau đó tôi được một
sĩ quan cố vấn Mỹ tặng cho một cái Zippo đầu tiên có khắc huy hiệu đơn vị và
tên người được tặng và người tặng cùng ngày tháng. Nên tôi thích loại Zippo từ
đấy.
Tôi cầm từng cái Zippo một lên xem và đọc các dòng chữ ghi
trên vật lưu niệm. Có những câu thơ rất hay.
Có những câu khắc thật lạ lùng vì ý tưởng ngộ nghĩnh:
“I felt a powerful hit to the left side of my chest and
thought I was shot. I didn’t see blood, just a strange bruise. It was only
after we returned to the nearest firebase that I realized...”
hoặc:
“Hope is the thing with feathers
that perches in the soul
and sings the tune without the words,
and never stops at all.”
Vài cái khác:
"PLEASE DON’T TRY TO TELL ME ABOUT VIET NAM,
I HAVE BEEN HERE"
Hoặc:
“I love SEX, so baby you can give your SOUL to GOD because
your ASS is mine!”
Hay:
"A FRIEND WITH WEED IS A FRIEND INDEED"
Và:
"PRAY FOR PEACE"
Thật đúng như lời quảng cáo của hãng Zippo:
“It who We Are. Every Zippo lighter tells a story”
Tôi cứ tuần tự cầm lên đọc từng cái Zippo. Bỗng tôi reo to
cho Carl đứng cạnh tôi nghe:
- Chiếc Zippo này của tôi tặng.
Nghe tôi nói lớn với Carl, Martin chạy lại, anh nhìn tôi:
“Anh là Lieutenant...”
Tôi cũng nhìn anh và hỏi :
- Anh là Sergeant Martin F. Kennedy?
Chúng tôi mừng và ôm nhau. Những kỷ niệm một thời chinh chiến
tại căn cứ Chu Lai trở về trong ký ức của những người bạn ở tuổi thất thập cổ
lai hy!
4- Vào tiệc, khi mọi người nâng ly chúc mừng Martin sinh nhật lần
thứ 70 xong. Carl đứng lên giới thiệu tôi là một khách mời đặc biệt của anh,
không ngờ lại quen biết với chủ nhân từ lâu mà hai người chưa gặp lại nhau, tuy
ở gần nhau. Thật là may mắn trong bữa tiệc hôm nay.
Rồi các bạn khác đề nghị tôi nói vài câu chúc mừng chủ nhân
và tôi đã gặp Martin ở chiến trường Việt Nam như thế nào?
Tôi đứng lên chúc mừng Martin rồi nói tiếp:
- Bạn Martin Kennedy thân mến,
Cùng các bạn hiện diện trong ngày vui hôm nay,
Năm 1966 tôi là sĩ quan phục vụ tại Bộ Chỉ Huy tiểu khu Quảng
Tín. Trong thời gian này một trận bão lớn thổi qua tỉnh này gây thiệt hại rất nặng
cho dân chúng địa phương. Phòng Tuyên Úy của Sư đoàn Americal, Chaplain Office
of Americal Division đóng ở Chu Lai muốn phối hợp với phòng Tuyên Úy Phật giáo
của Tiểu khu Quảng Tín đóng tại Tam Kỳ để cứu trợ nạn nhân. Vị Ðại Ðức Tuyên úy
trưởng Phật giáo nhờ tôi tháp tùng với Ngài để đi đến phòng Tuyên Úy Sư Ðoàn
này đóng tại căn cứ Chu Lai để thảo luận và nhận phẩm vật cứu trợ. Tôi chỉ làm
nhiệm vụ sĩ quan đi tháp tùng và thông dịch cho vị Ðại Ðức. Nhiều lần vào thảo
luận tại văn phòng Tuyên Úy tại Chu Lai nên tôi quen với Martin, lúc đó Martin
là hạ sĩ quan phụ trách giao những phẩm vật yểm trợ như tôle, ván ép, carton,
sách vở, áo quần cũ, đồ chơi... để cấp phát cho nạn nhân. Tôi rất mến tinh thần
làm việc rất thân thiện và nhiệt tình của Martin nên tặng anh một chiếc bật lửa
Zippo có khắc tên anh và tên tôi để làm kỷ niệm. Lúc bấy giờ tôi là Trung Úy Bộ
Binh. Không ngờ sau hơn 4 thập niên tôi lại may mắn gặp lại người bạn xưa và kỷ
vật này. Lúc đó, Martin cũng tặng cho tôi một cuốn Tự điển Webster’s với lời
ghi và chữ ký của Anh. Cuốn từ điển bây giờ tuy giấy đã ố vàng nhưng vẫn còn nằm
trong tủ sách của gia đình tôi như một vật kỷ niệm một thời “We were soldiers!”
Sau khi rời chiến trường Việt Nam, Martin về Hoa Kỳ và nghỉ
hưu trong danh dự với cấp bậc Chuẩn Úy bậc 4 (CW4).
Carl đứng lên khui các chai red wine đặc biệt của gia đình
anh sản xuất Cabernet Sauvignon Napa Valley mời các bạn.
Tôi đem các đĩa món ăn đặc sản Việt Nam ra mời khách: chả giò
cua bể và hoành thánh tôm chiên giòn.
Mấy người bạn Mỹ, thấy món ăn tôi bưng ra đều ồ lên nói: “
Cha ... gio..o.o!”
Tôi rất vui vì hiểu mấy cựu quân nhân chiến trường Việt Nam
này không lạ gì với món ăn mà họ gọi “Eggroll”. Thật ra “Eggroll made by Ba
Tàu” khác với món “Chả giò cua bể chính gốc Bắc Kỳ” do nội tướng tôi làm. Chả
giò cua bể chính hiệu ngon hơn “eggroll” nhiều.
Mùi ruợu vang thơm quyện với mùi chiên của chả giò và hoành
thánh tôm đặc biệt “home made” làm các bạn cựu chiến binh của Martin rất khoái
khẩu và họ nhớ lại những năm tháng còn trẻ đã sang đất nước Việt Nam để phục vụ
Tổ Quốc Hoa Kỳ và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa.
Chú thích:
Cái bật lửa Zippo được nổi tiếng trong cuộc chiến tại Việt Nam được sách Mỹ ghi
lại trong cuốn “ VIETNAM A Visual Encyclopedia” của Philip Gutzman: “During the
Vietnam War, Zippo, which was the brand name of a windproof cigarette lighter
popular with the troops, was also applied to all of the various flamethrower
weapons. Backpack flamethrowers, most frequently used by the Marines, where
called Zippos, as were the M67 A1 tank-mounted flamethrowers organic to the
Marine tank battalions. Army M-132 mechanized flamethrowers, mounted on the
M-113 armored personnel carrier chassis, and Navy riverine LCM-Monitors, which
amounted two M10 - 8 flamethrowers were referred to as Zippos as well”.
Phương Duy
Theo https://vietvanmoi.fr/
Nữ trung úy Sharon
Nữ trung úy Sharon
1. Tôi choàng thức dậy sau một giấc mộng dài.
Nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường bên cạnh tủ sách, tôi thấy
kim chỉ 3 giờ sáng. Tôi cố gắng tìm lại giấc ngủ tiếp vì tôi mới ngủ được ba tiếng
đồng hồ. Bác sĩ thường khuyên tôi mỗi đêm phải ngủ ít nhất năm tiếng, nếu nhiều
hơn càng tốt. May mà tối nay tôi nằm mơ một giấc mộng đẹp. Có những đêm nhiều
ác mộng đến với tôi.
Thời gian sau 1975, tôi ở tù Cộng sản nhiều năm. Nay qua định
cư tại Hoa Kỳ cũng tròm trèm hai mươi năm mà ác mộng ở trại giam vẫn theo đuổi
tôi mãi. Sau mỗi cơn ác mộng tôi không thể tiếp tục giấc ngủ cho đến lúc trời
sáng.
Tôi thích nhất là những đêm có những giấc mộng “một thoáng
liêu trai” vừa thích thú, vừa thỏa mãn một phần đam mê vì tôi là người đang viết
truyện ngắn cho nhiều tờ báo và nhiều trang online nên mộng mị cũng giúp tôi đỡ
bí đề tài.
Khi tôi còn ở tuổi học sinh trung học, tôi rất mê các tập
sách LIÊU TRAI CHÍ DỊ do nhà văn Trung Hoa Bồ Tùng Linh sáng tác và Cụ Ðào
Trinh Nhất dịch sang Việt văn. Truyện đưa độc giả vào thế giới ma quái, hồ ly
tinh hóa ra làm mỹ nhân, nửa hư nửa thực của đời sống bình thường.
Ðã lâu lắm rồi, không có nhà văn nào sáng tác những truyện
như vậy để tôi đọc, có lẽ viết truyện “Liêu Trai” đúng chất lượng phải có một
chút “sex”.
Khi còn ở bên Việt Nam, trước 1975 ít nhà văn nào muốn đụng đến
lĩnh vực “sex” mà người đời định kiến “dâm tà” này.
Gọi “nhà văn khiêu dâm” còn đỡ, nếu gọi nhà văn “cậu chó” thì
còn khổ hơn. Khi đến định cư tại Hoa Kỳ, một nước có hàng nhiều riệu độc giả đọc
tạp chí Plaboy, hàng chục triệu người xem loại phim “mà tài tử mặc quần áo ít tốn
vải” và quan niệm cởi mở viết truyện có chút “sex” làm cho cuộc sống quá máy
móc và bận rộn này, được vui trong chốc lát, nên tôi không e ngại nữa khi viết
“Một Thoáng Liêu Trai” cho tôi cùng một số bạn hữu đọc vậy.
Dù không viết truyện “LIÊU TRAI một trăm phần trăm” mà chỉ “MỘT
THOÁNG” cũng yên lòng rồi.
Ðọc để quên cuộc sống hiện tại có nhiều khó khăn và nhọc nhằn.
Giống như người nghiện bia mà uống loai beer “lite”, “light”.
Người nghiện thuốc lá phải hút thuốc cigarette “light”,
“lite”.
Người đi tù Cộng sản uống nước “cơm cháy” , “bắp cháy” thay
cà-phê. ... cũng “phê” vậy.
2. Những năm 1966 - 1968 những ngày nghỉ, tôi thường tháp tùng với
các sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ lái xe Jeep vào căn cứ Chu Lai để mua máy móc, nước
ngọt, bia, rượu mạnh tại các PX vì giá rẻ và đầy đủ mặt hàng hóa cần mua. Hoặc
những ngày trời nắng gắt, ra tắm biển. Biển Chu Lai trong căn cứ này cát trắng
và sạch. Phong cảnh, thông xanh, đụn cát nhô cao, nhìn ra biển nước trong xanh
về phía trái thấy các cù lao Chàm, Yến... của tỉnh Quảng Nam, xa hơn nữa, về hướng
Bắc là dãy núi của bán đảo Sơn Trà, Ðà Nẵng. Nhìn về hướng Nam là cù lao Ré của
tỉnh Quảng Ngãi.
Một hôm tôi đang đi dạo trên bãi biển với Porter, đi ngược về
hướng chúng tôi là một nữ Trung Úy Hoa Kỳ có gương mặt trông như thiếu nữ Á
Ðông.
Ðại úy Porter chào nàng. Tôi hơi ngạc nhiên. Trung Úy phải
chào Ðại Úy trước theo nghi lễ quân cách chứ.
Porter hiểu cái nhìn ngạc nhiên của tôi nên anh ta nói ngay với
tôi:
- Giới thiệu với bạn, đây là Trung Úy Sharon, một cô bạn của
tôi. Sharon chào Porter, xong quay sang chào tôi.
Porter giới thiệu với Sharon:
- Ðây là Trung Úy Nguyễn, bạn chiến đấu của tôi hiện nay.
Tôi chào Sharon trong lúc nhìn nàng rất kỹ. Có lẽ vì tôi cận
thị nặng hay thấy nàng xinh đẹp quá lại có nét thiếu nữ Ðông phương, chỉ khác một
chút là mắt nàng có màu xanh xanh.
3. Tối qua, hơn ba thập niên trôi qua, tôi gặp lại Sharon. Bây
giờ nàng trông xinh hơn và mặc thường phục. Một áo sơ-mi ngắn tay màu trắng và
chiếc jupe màu xanh đen.
Nàng vui vẻ chào tôi trước.
Tôi chào nàng trong sự ngạc nhiên vô cùng.
- Chào Sharon, sao bạn biết địa chỉ của tôi mà ghé thăm.
Sharon ỡm ờ trả lời: “Biết chứ, sao lại không?”
“Bây giờ bạn giải ngủ lâu rồi? Cấp bậc cuối cùng? Ðơn vị?”,
tôi hỏi nàng.
Gặp lại Sharon, nhìn nàng vẫn còn trẻ, rất xinh, nét thiếu nữ
Ðông Phương lại mặc thường phục nên có lẽ vì bất ngờ và vì mừng quá nên tôi chẳng
biết nói gì, chỉ hỏi một câu hơi ngớ ngẩn... giống như một trai tân gặp cô bồ lần
đầu tiên trong đời.
- Em giải ngũ lâu rồi, cấp bực cũ 1st Lieutenant như ngày gặp
anh năm nào ở Chu Lai. Hiện nay em ở Washington, D.C. và vẫn còn độc thân.
“Sau hơn ba thập niên xa cách, sao tôi nhìn Sharon vẫn thấy
trẻ”, tôi khen nàng.
Nàng cười, hai hàm răng trắng tinh và đều đặn rồi hỏi tôi:
- Hồi 1975, anh mang cấp bậc gì? Rồi qua Mỹ ngay hay bị kẹt lại
và đi lao động khổ sai ở trong các “camps concentration” của Vi-Xi?
- Lúc đó tôi 04 và đi tù gần chín năm trong những khu tập
trung trên núi rừng. Sau 1990 đi tái định cư tại Mỹ đến bây giờ.
Sharon nói:
- Em cũng đoán thế, em quen theo lối nhà binh cũ nên 02
Sharon, em phải chào 04 Nguyễn trước.
Nàng vẫn “dí dỏm” và “vui tính” như những ngày chúng tôi thường
gặp nhau ở bãi biển Chu Lai sau khi chúng tôi được Ðại Úy Porter giới thiệu lần
đầu.
Thời gian ở căn cứ Chu Lai, mỗi khi gặp Sharon, nàng thích
tôi kể cho nàng nghe những trận hành quân mà tôi đã tham dự. Nàng cũng hỏi cặn
kẻ về văn hóa, văn minh và phong tục Việt Nam vì nàng nghe Porter cho biết trước
khi nhập ngũ tôi là một giáo sư trung học. Sharon chăm nghe, ghi “note” lại.
Nàng muốn biết rõ ràng để khi về Mỹ sẽ kể lại cho bạn bè nghe.
Sau một ngày trả lời vô số câu hỏi thắc mắc của nàng, 1st
Lieutenant Sharon bồi dưỡng cho Trung Úy Nguyễn một nụ hôn nồng ấm rất đam mê
kéo dài dài và chỉ có vậy thôi.
Tối nay gặp lại, nàng cũng bắt tôi kể cho nàng nghe những trận
hành quân cho đến tháng Tư năm 1975 và những ngày tù tội sau đó.
Sharon chăm chú lắng tai nghe như một nữ sinh nghe thầy giáo
giảng bài sử-địa trong một lớp trung học vậy.
Cuối cùng, trước khi từ giã tôi, Sharon cũng không quên ôm
tôi hôn một nụ hôn rất ấm, rất đam mê.
Nàng nhìn bà xã tôi ngủ say nằm bên cạnh tôi, nàng nói:
- Chúc Anh Chị hạnh phúc!
Sharon chào tôi và hẹn sẽ gặp lại tại thủ đô Washington, D.C.
trong dịp lễ “July Fourth”.
Tôi ôm nàng từ biệt... và tôi thức giấc ngay.
4. Ngày 4 tháng 7
“Ðến Hẹn Lại Lên” như tên một cuốn phim tôi đã xem bên Việt
Nam rất nhiều năm rồi, tôi bay sang Washington, D.C. thăm bạn bè. Bạn bè rủ tôi
đi viếng “ THE WALL” nơi có những bức tường bằng đá đen khắc danh tính 58,195 tử
sĩ Hoa Kỳ hy sinh ở chiến trường Việt Nam.
Tôi rất xúc động khi đứng trước những bức tường tưởng niệm.
Biết danh tính người quân nhân gục ngã đầu tiên là Air Force
T- Sergent Richard B. Fitzgibbon Jr. ngày 8 June 1956.
Và người quân nhân sau cùng gục ngã là Kenton Rena Turner, một
Thủy Quân Lục Chiến 18 tuổi, tử trận ngày 15 May 1975, hai tuần lễ sau khi Sài
Gòn thất thủ.
Tử sĩ trẻ tuổi nhất là Dan Bullock lúc 15 tuổi.
Tử sĩ cao niên nhất là Dwaine McGriff, 63 tuổi.
Trong số những tử sĩ ghi trên, có 44 quân nhân được ân thưởng
hoặc truy tặng huy chương cao quý nhất của Hoa Kỳ là The Congress Medal of
Honor của Quốc Hội Hoa Kỳ.
Tôi đi vòng vòng để xem và quan sát các du khách, thân nhân của
tử sĩ đến đặt các bó hoa, những vật kỷ niệm hay cà bằng bút chì lên trên giấy
tên của tử sĩ.
Ðến chỗ nữ quân nhân tử trận ở Việt Nam, mắt tôi bỗng mờ đi,
những dòng lệ trào ra khi tôi nhìn dòng chữ khắc 1st Lieutenant SHARON ANN LANE
nằm trên đó.
Tôi xúc động mạnh và thốt lên:
“Sharon yêu quý, Em ở đây… đúng như Em đã bảo Anh: “Em hiện
nay ở Washington, D.C. mà vẫn còn ÐỘC THÂN!”
Ba ngày ở Washington, D.C. của tôi đều dành cho Nàng, với những
bó hoa hồng đỏ tươi .
Tôi thì thầm cầu nguyện. Tôi đặt tay phải lên hàng chữ mà
nghĩ rằng tôi đang bắt tay Sharon hay hơn nữa là đang ôm nàng. Một người bạn đã
hy sinh tuổi thanh xuân đẹp nhất của mình để PHỤC VỤ TỔ QUỐC HOA-KỲ và Ðồng
Minh VIỆT-NAM CỘNG-HÒA.
Sau đó, tôi đi tìm “ lý lịch và quân vụ của nàng”
“Trung Úy 1st Lieutenant Sharon Ann Lane bị tử thương trong
khi phục vụ tại chiến trường Việt Nam. Cô phục vụ trong đơn vị 312th EVAC ở Chu
Lai bởi hỏa tiễn Rocket của Việt Cộng ngày 8 June 1969.
Sharon sinh ra ở Canton, Ohio, tử thương lúc gần ngày kỷ niệm
sinh nhật lần thứ 26 của Nàng.
Cô được “truy tặng” sau khi chết: Anh Dũng Bội Tinh với Nhành
Dương Liễu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Tuyên Dương Công Trạng trước toàn
thể Quân Ðội VNCH. Về phía Quân Lực Hoa Kỳ, ngoài những huy chương khác, cô còn
được ân thưởng một “Bronze Star for Heroism” ( huy chương Ngôi Sao Ðồng)
Năm 1970 tại Fitzsimmons Army Hospital ở Denver, nơi trung Úy
Sharon phục vụ trước khi sang Việt-Nam tham chiến, có một phòng dành Tưởng Niệm
tuyên dương công trạng của người nữ sĩ quan này.
Năm 1973 Aultman Hospital ở Canton, Ohio nơi mà Sharon theo học
ngành Ðiều Dưỡng (Nursing School) xây một tượng đứng bằng đồng của cô Sharon
Ann Lane. Danh sách 110 quân nhân tại địa phương hy sinh tại chiến trường Việt-Nam
đặt phần dưới tượng đài này.
5. Tôi rất hãnh diện là có thời “We were soldiers” với Sharon và
được quen biết Nàng khi nàng sang phục vụ cho quê hương tôi.
Tôi cũng hãnh diện, sau thời gian dài định cư tại Hoa Kỳ mà
Nàng cũng còn nhớ tôi và đến thăm tôi trong một đêm để tiếp tục những câu chuyện
và nụ hôn đam mê dù là trong mộng.
Tôi mong ước có ngày nào đó đến đặt bó hoa hồng thắm tươi,
nơi phần mộ an nghỉ vĩnh cửu của Nàng.
Trong tim tôi sẽ dành một “ngăn rất nhỏ” để ghi lại hình ảnh
và tình cảm của Nàng giống như những tượng đài mà Tổ Quốc Hoa Kỳ đã vinh danh
Nàng.
Phương Duy
Theo https://vietvanmoi.fr/
Miếng vỏ chanh
Miếng vỏ chanh
1. Thuyền nằm trên giường nệm trải tấm drap trắng trong một dưỡng
viện chữa trị bệnh tâm trí. Gương mặt nàng trông xanh xao và gầy hẳn.
Thời gian trôi qua, đôi lúc Thuyền chợt tỉnh táo, nàng vẫn
nhớ Hoàng và trông mong một tin gì của Hoàng.
Nhìn ra bên ngoài qua khung cửa kính rộng nàng thấy bầu trời
xanh xanh, từng đám mây trắng lững lờ trôi qua. Không gian im vắng. Thời gian
như ngừng trôi. Mỗi sát-na trôi qua nàng thấy yếu dần. Nàng cảm nhận buồn buồn
sống một mình hông có ai bên cạnh để Thuyền có thể chia xẻ nổi cô đơn .
Nàng đang chờ... , nhưng chờ cái gì...?
2. Hoàng và Thuyền yêu nhau khi nàng vừa bước vào tuổi đôi mươi.
Ðây là mối tình đầu đời của Thuyền .
Nhiều dịp Thuyền nhìn Hoàng ngập ngừng khi chàng ...hình như
muốn tỏ bày với nàng chuyện gì, nhưng lại ngừng lại.
Cho đến một buổi sáng mùa hè, nơi sân giảng đường của trường
đại học văn khoa, Hoàng trao cho nàng một lá thư. Trao một cách vội vã...rồi bước
đi thật nhanh.
Hoàng rời nơi chỗ Thuyền đứng cũng khá lâu rồi. Thuyền sực tỉnh
và nàng mở thư ra đọc. Chỉ là một bài thơ Tình của Nguyên Sa mà Hoàng chép tặng
nàng với nét chữ rất chân phương rất mỹ thuật. Chứng tỏ Hoàng đã mất nhiều thì
giờ để “o bế” bài thơ này:
Mời
Tôi trân trọng mời em dự chuyến tàu tình ái.
Trong một phút, một giây cuộc hành trình sẽ mở.
Tôi mời em. Trân trọng mời em cùng đi, cùng khai mạc cuộc đời.
Tôi mời em vứt bỏ lại đằng sau những kinh thành
buồn bã với phong tục, thói lề, bạc vàng giả dối :
muốn làm người yêu thì phải đỗ Tú Tài.
Tôi mời em đi ngay. Không cần lấy vé.
Không phải đợi chờ vì diều kiện du hành là những
ngón tay lồng vào nhau và tâm hồn đừng đơn chiếc.
Còn nếu cần thì tôi sẽ làm người bán vé.
Nhưng tôi sẽ không quên làm người đồng hành
duy nhất để đưa em đi. Và tôi sẽ làm người lái tàu
để không ai dược dự phần vào câu chuyện đôi ta.
Vé có thể là những lá thư xanh. Tàu là gian nhà rất nhỏ.
Nhưng mỗi ga chắc chắn sẽ là những chiếc hôn nồng cháy cuộc đời.
Tôi mời em đi ngay. Em có thể đến đây với đôi giày gót cao để
tôi tưởng mình em vóc hạc. Nhưng nếu em vội vã thì em cứ đi chân không. Tôi sẽ
bọc mười đầu ngón chân với tất cả linh hồn say đắm yêu em.
Em có thể tô môi son rất đỏ như khi đi dự một dạ yến tưng bừng.
Em có thể để phấn hồng trên má, trên áo màu những vòng kim tuyến kết hoa đăng.
Nhưng nếu vội vàng mà em để vành môi tái nhợt, mái tóc bù
tung. Thì có hại gì đâu em? Cuộc hành trình sẽ khởi vào đêm khuya. Tôi không
nhìn thấy má hồng non vì còn mải mê với tất cả em tràn đầy trong đáy mắt.
Ttôi cũng đi rất vội vàng. Hành lý chỉ mang theo một vòng tay
để ôm em, đôi mắt say sưa để thì thầm nói chuyện và đôi môi để kết hoa đám cưới
trên vùng trán dịu hiền.
Em đến ngay đi.
Ðể tất cả gò má em ấp trên bàn tay tôi xóa hết những đường chỉ
tay gian khổ.
Em đến ngay đi.
Em đến ngay cho cuộc hành trình được mở. Gió được nổi lên từ
mái tóc phiêu bồng, thuyền dong thả từ đường môi óng ả.
và ngực căng buồm, mắt trông tìm vội vã:
Tôi đi vào kiều diễm của thân em.
(Nguyên Sa)
Ðọc bài thơ tình “Mời” hai lần, Thuyền bỏ lá thư vào cặp.
Thuyền suy nghĩ. Tại sao Hoàng yêu say đắm Thuyền đã lâu năm
mà chàng không đủ can đảm nói với nàng một tiếng “yêu” hay tỏ bày một cữ chỉ
như ôm hôn nàng hay nắm tay nàng? Nàng biết là Hoàng hiểu nàng cũng nhiều lần
nàng biểu lộ, tuy kín đáo và e dè cố hữu của người con gái mới lớn, là nàng sẽ
đồng tình với chàng dẫn dắt trong yêu đương.
Hoàng thông minh thì phải cảm nhận được. Không lẽ nàng phải
“bày” cho chàng hay sao?
Ðây, tuy chỉ là một bài Thơ Tình của một vị giáo sư dạy triết
học của Hoàng và Thuyền, nay Hoàng dùng để thay “lá thư tình thứ nhất” chàng muốn
gửi cho nàng?
Thi sĩ Nguyên Sa sáng tác nhiều bài Thơ Tình rất hay mà ý tứ
lãng mạn nhẹ nhàng. Sao Hoàng lại chọn bài thơ “Mời” này?
Thuyền đọc đi, đọc lại bài thơ để tìm hiểu ẩn ý của Hoàng.
*3. Sau lần trao bài thơ “Mời” đó, Hoàng lặn mất tiêu. Chàng
không đến lớp, đến giảng đường nữa. Thuyền rất ngạc nhiên không hiểu tại sao.
Nàng tự xét mình trong thời gian qua chưa làm gì để Hoàng có thể giận nàng và
lánh xa nàng.
Cùng lứa tuổi với Hoàng nhiều người đang được gọi nhập ngũ
vào trường sĩ quan trừ bị Thủ Ðức. Thuyền dọ hỏi mấy người bạn cùng lớp thì được
biết hình như Hoàng cũng nhận giấy thông báo của nha động viên. Chẳng lẽ việc
“động trời” này mà Hoàng lại không báo tin cho nàng biết dù Hoàng cho đó là tin
không vui đi nữa. Nhưng đối với Thuyền trong thời buổi chiến tranh, thanh niên
khỏe mạnh, có học thức thì nhập ngũ để phụng sự tổ quốc là một vinh dự, là một
trách nhiệm. Trừ những thanh niên không đủ điều kiện học vấn và điều kiện sức
khỏe hoặc thuộc loại “ con ông cháu cha” mà người đời gọi C.Ô.C.C tránh né cơm
lính hoặc chạy chọt giỏi thì không kể.
Nếu hai người thật sự đã yêu nhau thì thời gian đến quân trường
thăm người yêu đang thụ huấn cũng là thời gian ghi nhiều kỷ niệm đáng nhớ của
hai người mới yêu nhau.
Tại sao Hoàng đi nhập ngũ mà lại phải dấu nàng? Trong những lần
hai người đi chơi với nhau, Thuyền cũng thường kể cho Hoàng nghe về chuyện mấy
cô bạn gái của nàng rất hãnh diện trở thành “người yêu của lính”. Tuy ai cũng
hiểu lấy chồng lính cũng dễ thành sương phụ. Nhưng nếu nghĩ cho kỹ thì sát xuất
này cũng không cao bằng tai nạn giao thông xẩy ra hàng ngày ngoài xã hội.
Hoàng chẳng để lại một dấu vết gì để Thuyền có thể theo dõi.
Nàng đến những nơi mà ngày xưa hai người gặp nhau. Nàng hỏi dò những bạn bè
quen thân hai người. Nàng lên quân trường võ khoa Thủ Ðức. Mọi nơi mà vẫn không
tìm dấu vết gì của Hoàng. Chàng đi đâu?
Nàng buồn bã, không còn muốn đến trường học hành nữa. Nàng
không ra khỏi nhà, hàng ngày chỉ quanh quẩn trong gian phòng ngủ hẹp. Nàng
không thấy đói nên chẳng muốn ăn. Thuyền càng ngày trông xanh xao, hốc hát. Ðôi
lúc nàng bật cười to, đôi lúc khác nàng khóc rưng rức. Trí nhớ của nàng cũng
không còn minh mẫn nữa. Nàng đang thất tình. Chỉ mơ ước gặp lại Hoàng. Nàng mất
ngủ. Trong lúc chợp mắt lại gặp toàn ác mộng.
Gia đình thấy sức khỏe nàng quá yếu nên phải đưa nàng vào dưỡng
viện tâm thần. Hàng ngày những viên thuốc nho nhỏ màu xanh nhạt “Zoloft” rị suy
nhược thần kinh giúp nàng an thần nhưng càng ngày đã làm nàng quên....quên hết
mọi chuyện đã xẩy ra trước đây.
Bạn bè đến thăm, nàng đều hỏi tin tức của Hoàng. Ai cũng cố
tìm giúp Thuyền, nhưng vẫn không biết gì hơn. Tâm bệnh này chỉ hy vọng chửa được
khi nào Thuyền biết được đáp số vì sao tự nhiên Hoàng bỏ rơi nàng giữa lúc cuộc
tình của hai người đang lũy tiến!
*4. Thủy đến bệnh viện thăm Thuyền. Nhìn người bạn gái ngày xưa
xinh đẹp, vui tính, thông minh đang nằm trên giường bệnh. Thần sắc cũ không còn
nữa như gặp một người khác hẳn.
“Ông xã của mình vừa gặp lại Hoàng ở một quán cà phê nhỏ...”
Nghe Thủy nói chưa dứt câu, như một sức mạnh vô hình nào thúc
đẩy, Thuyền ngồi bật lên như lò xo, nàng hỏi dồn dập:
“Tại đâu, Thủy. Anh Hoàng còn sống à? Trong nhiều lần mình nằm
mơ thấy anh ấy đã chết lâu rồi. Tối qua, mình còn thấy “ảnh” đứng đầu giường
này xin lỗi mình và cho biết “ảnh” không còn nữa. “Ảnh” còn khẩn cầu mình hãy
quên “ảnh” mà lập cuộc sống bình thường mới.”.
“Thuyền, anh Hoàng đang ở tận Ban-mê-thuột khi ông xã mình
nghỉ dưỡng quân sau một cuộc hành quân dài ngày tại Vùng II Chiến Thuật này. Gặp
anh Hoàng, ông xã mình liền trách bạn sao bỏ đi mà không nói gì với Thuyền để
cho nàng phải nhớ nhung rồi lâm bệnh khá nặng từ ngày ấy đến nay. Thật tội nghiệp
cho Thuyền!”.
Anh Hoàng rủ ông xã mình về nhà trọ của anh để thổ lộ tâm
tình :
“Mình sinh ra trong một ngôi làng nhỏ ở quê miền Trung. Cha mẹ
mình chỉ sinh ra có một trai để nối dõi tông đường. Trong tộc họ hiện nay chỉ
còn cha mình là người trưởng tộc duy nhất, còn là năm bà “ o” chị em của cha
mình. Vì thế khi mình mới thi đậu bằng trung học đệ nhất cấp, cha mẹ mình bắt
buộc mình phải cưới vợ để có cháu nối dõi tông đường. Mình phải vâng lời vì
nghĩ trong thời chiến tranh dai dẳng trên đất nước này trước sau gì mình cũng
phải vào lính. Nay đây, mai đó không có ai phụng dưỡng mẹ cha. Vả lại đời lính
sẽ gặp nhiều bất trắc đâu có biết trước được. Sau khi vợ mình sinh được một
cháu trai, mình để vợ con sống với cha mẹ mình ở quê. Mình vào Nam sống ờ vùng
lục tỉnh. Mình gặp nhiều cô bạn gái dễ thương và dễ tính nên mình đã lem nhem
và khi nghe tin các cô này có “bầu” là mình chạy trốn. Như những vỏ chanh đã vắt
xong nước thì vứt bỏ. Mình đã có vợ, có hôn thơ, hôn thú chính thức ... đâu còn
cưới vợ thêm được nữa.Vì thế mình phải dời chỗ ở lên Sài gòn vừa đi làm vừa ghi
danh học đại học. Mình gặp Thuyền , yêu Thuyền thật, và mình biết Thuyền cũng
yêu mình, nhưng mình không thể phá hại đời nàng. Cũng may cho nàng, mình nhận
giấy gọi động viên vào Thủ Ðức, mình trốn lính.... và tìm lên vùng cao nguyên để
“yên thân”. Lên đây, mình lại đường xưa lối cũ, ăn quen, nhịn không quen, mình
đang sống với một người tình mới. Với tình trạng không hợp lệ quân vụ của mình,
mình không thể về lại Sài gòn thăm bạn bè hoặc về quê mình để thăm cha mẹ và vợ
con mình. Mình đã tính sai nước cờ vì bản tính yếu hèn của người thanh niên
trong thời ly loạn.”
Nghe Thủy kể xong, Thuyền bỗng buộc miệng:
“Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy,
Nghìn năm chưa dễ mấy ai quên!”
nhưng Thuyền bỗng cười to tiếng, khi nghĩ đến sự may mắn dành
cho nàng lúc nàng chưa kịp cho Hoàng thực hiện:
“Tôi đi vào kiều diễm của thân em.” như gợi ý của người tình
lãng mạn có máu sở khanh.
Phương Duy
Theo https://vietvanmoi.fr/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Bùi Giáng viết về thơ Tuệ Sỹ
Bùi Giáng viết về thơ Tuệ Sỹ Nhà thơ Tuệ Sỹ, tức Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ nguyên quán tỉnh Quảng Bình, sinh năm 1943 tại Paksé, Lào vừa từ ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...





