Thứ Hai, 1 tháng 12, 2025

Nhà thơ thứ 101

Nhà thơ thứ 101

“Nếu đã có một trăm người nông dân, làm người nông dân thứ một trăm lẻ một, dễ hơn. Nếu đã có một trăm nhà thơ, làm nhà thơ thứ một trăm lẻ một, khó hơn”.
Rasun nói vế thứ nhất đúng với nền kinh tế tự cung, tự cấp trở về trước. Nghĩa là nền kinh tế chưa tới trình độ kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường. Nông dân trong các tổ chức kinh tế đơn giản ấy chỉ cần làm việc theo kinh nghiệm là đủ. Vì vậy người nông dân thứ 101 đã có cả một bồ kinh nghiệm của một trăm nông dân đi trước để lại, chỉ cần làm theo là được, không nhất thiết phải sáng tạo gì thêm. Sản xuất của họ là tự nhiên, tự cung, tự cấp, sản xuất ra sản phẩm cho mình sử dụng, không hướng tới thị trường để bán.
Nhưng khi nền nông nghiệp phát triển đến kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường thì không còn đúng nữa. Đó là nền kinh tế sản xuất ra hàng hóa cho người khác sử dụng, thông qua trao đổi trên thị trường. Các mối quan hệ trong sản xuất đã khác. Nền kinh tế đó phải hướng tới thị trường. Thị trường là nơi kiểm nghiệm cuối cùng của kết quả sản xuất. Họ luôn luôn đứng trước các khả năng bị phân hóa, giàu và nghèo, phát triển và phá sản. Người nông dân thứ 101, nếu cứ trông chờ vào kinh nghiệm của một trăm nông dân đi trước thì không thể chiến thắng trong cạnh tranh và chắc chắn phá sản! Cuộc cạnh tranh kinh tế toàn cầu ngày càng gay gắt, đòi hỏi phải giảm chi phí và tăng năng suất lao động, hàng hóa của họ tạo ra phải khác biệt mới có khả năng lọt qua khe cửa hẹp, sự kiểm nghiệm cuối cùng của thị trường.
Thực chất cạnh tranh là cạnh tranh giá tri. Trong cơ cấu giá trị hàng hóa, có hai loại lao động (trừu tượng) tham gia. Một là lao động cơ bắp và hai là lao động chất xám. Theo đó lao động chất xám càng lớn thì khả năng chiến thắng càng cao. Ngược lại lao động cơ bắp càng lớn thì khả năng thất bại càng lớn. Vì vậy họ phải đủ vốn, thay đổi công nghệ, đào tạo nhân lực và nâng cao trình độ quản lý. Liên kết với khoa học, thay đổi quy trình sản xuất đạt tối ưu, tạo ra sản phẩm mới, hướng tới lợi nhuận bình quân, thậm chí lợi nhuận siêu ngạch. Hoặc có thể tham gia một công đoạn nhỏ trong chuỗi giá trị toàn cầu. Khoa học – công nghệ cũng luôn luôn thay đổi, thời gian rút ngắn và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nền kinh tế thị trường thời văn minh tin học luôn đặt mọi người ở thế lạc hậu tiềm năng. Trong tư duy nền sản xuất đó đòi hỏi phải thay đổi từng ngày, trong hành động phải cập nhật từng giờ, họ mới có thể tạo ra sản phẩm hàng hóa thích ứng.
Thế đấy, anh nông dân thứ 101 của chúng ta sẽ như thế nào khi hàng hóa của Nhật Bản hiện nay, lao động chất xám chiếm 80%? Liệu anh ta có thể bình chân học theo kinh nghiệm của người nông dân đi trước được không? Nền kinh tế thị trường đòi hỏi nông dân phải nhận thức tư giác, trước khi hành động để có một chỗ đứng trong thị trường. Những cái cần nhận thức đều là những công cụ điều tiết thị trường thiện chiến và vô hình, tác động sau lưng họ như quy luật giá trị, quan hệ cung – cầu, quan hệ tiền tệ… Người nông dân thứ 101 không được phép lặp lại một trăm người nông dân đi trước. Hay nói cách khác người nông dân thứ 101 phải tạo ra những loại hàng hoá mà những người nông dân đi trước chưa biết hoặc không thể làm được, đáp ứng thị trường và được thị trường chấp nhận. Quy mô sản xuất nhỏ, họ có thể hướng tới những thị trường ngách. Dù vậy, người nông dân thứ 101 cần nhiều kiến thức, nhạy bén hơn, trình độ quản lý sáng tạo hơn, tạo ra những sản phẩm khác biệt mới hy vọng tồn tại và phát triển.
Từ anh nông dân thứ 101, tôi lại nghĩ về các nhà thơ thứ 101 trong kinh tế thị trường toàn cầu hóa. Bất chấp cơ chế kinh tế – xã hội, bất chấp cả các chế độ chính trị, bất chấp cả quốc gia, nhà thơ chỉ có quyền tồn tại với tư cách là riêng biệt, cá nhân, giọng điệu riêng. Tóm lại là không được giống bất kỳ ai, bất kỳ nhà thơ nào cho dù đó là Puskin, Lecman tôp, Nguyễn Du… thiên tài chăng nữa. Thực tiễn thơ chỉ chấp nhận khi thơ của họ tổn tại khác biệt! Những ai dùng thơ “công thức”, thơ “vần điệu trọng luật”, kiểu phổ lời vào bản nhạc dân gian, gặp nhiều khó khăn hơn.
Ngày nay, làm anh nông dân thứ 101 đã rất khó, làm nhà thơ thứ 101 cũng chẳng dễ dàng gì! Hình thái kinh tế – xã hội đổi thay, nền sản xuất xã hội phải thay đổi. Nền sản xuất đã thay đổi, mọi phản ánh xoay quanh nó đều thay đổi theo. Trong đó có tình người – gốc của thơ. Thơ phản ánh tình người, lịch sử đã chuyển giai đoạn, tình người trong thị trường đã rất khác trước. Tình người được phủ qua các lớp quan hệ tiền tệ. Đó là những thử thách các nhà thơ thứ 101, các thiên tài thơ trước đây chưa gặp. Cái khó của nhà thơ thứ 101 là cái khó của người cắm hoa, khi trên bàn đã có một lọ hoa với một trăm màu sắc rực rỡ. Nhà thơ thứ 101 phải cắm vào lọ hoa đó, một loại hoa của riêng mình mà không được phép trùng lặp những loại hoa đã có. Nhưng nhà thơ thứ 101 có lợi thế mà một trăm nhà thơ trước đó không có. Đó là đời sống luôn tạo ra tình người mới và ngôn ngữ mới, đó là những điều hệ trọng của thơ mà nhà thơ thứ 101 có điều kiện thẩm thấu nhanh hơn vì là thời của họ. Nếu thơ đòi hỏi lạ từ ngôn ngữ đến cấu tứ, giọng điệu, cách diễn đạt hay tổng quát là thi pháp mới… thì nhà thơ thứ 101 là đại diện gần nhất của thời đại đòi hỏi sự đổi thay của thơ. Một trăm nhà thơ đến trước rất khó khăn trong việc làm mới mình trong khi nhà thơ thứ 101 không mất nhiều công sức lắm họ đã có rồi. Đội quân ngôn từ long lanh sự sống biết cách sắp hàng hợp với thẩm mỹ của thời nhà thơ thứ 101 sống nên họ tiếp nhận tốt nhất.
Với thi pháp, một trăm nhà thơ có thể chấp nhận loại thơ có sự tham gia chủ quan của bàn tay con người dựa vào vần, nhạc giàu có trong tiếng Việt, vốn ra đời sau bờ tre, mái rạ của một nền kinh tế tiểu nông, lạc hậu, ngưng đọng hàng ngàn năm. Nhà thơ thứ 101 chỉ nhìn thấy cái cày chìa vôi, cái liềm, cái hái… từ trong các bảo tàng. Họ cũng không thấy con trâu đi cày và vị trí “đầu cơ nghiệp” của nó. Họ cũng không còn chứng kiến cây tre hay các sản phẩm từ tre, rổ rá, dần, sàng… gần gũi trong đời sống nông dân như những nhà thơ trước đó. Nền công nghiệp đã tạo ra các sản phẩm thay thế. Những thay đổi từ công cụ sản xuất cho thấy thời đại đã thay đổi hoàn toàn khác trước. Thơ là một múi cam trong quả cam đời có vô số múi, giữa chúng có mối liên hệ qua lại với nhau. Giờ đây sở hữu tư nhân được tôn trọng và đề cao vì nền kinh tế thị trường đòi hỏi mỗi loại hàng hóa đều có chủ cụ thể của nó. Thi pháp vốn có tính lịch sử. Khi lịch sử thay đổi thì chính nó cũng phải đổi thay. Trong bối cảnh đó, nhà thơ thứ 101 khó chấp nhận thi pháp cũ, nếu họ muốn trở thành nhà thơ thời của họ. Nếu chấp nhận, họ cũng chỉ là nhà thơ thứ một trăm.
Nhưng đó chỉ là lý thuyết. Trong thực tế có nhà thơ tuổi trẻ nhưng thơ rất già và nhà thơ tuổi già nhưng thơ rất trẻ. Trẻ hay già ứng với nhà thơ là tâm hồn ấy có thật sự nhạy cảm và biến hóa thích ứng được với sự thay đổi, đặc biệt khi những thay đổi về chất của cuộc sống không? Raxun cũng từng đặt câu hỏi: “Giữa tôi và bố tôi, ai trẻ hơn ai?”. Một câu hỏi thật thú vị nó chỉ ra, vấn đề của nhà thơ là tài năng, là tâm hồn chứ không chỉ trẻ hay già của bề ngoài, tuổi tác. Tài năng sẽ biết cách vượt qua những hạn chế về thi pháp của một thời là hợp lý để phát hiện và tiếp cận thành công thì pháp mới. Hỗ trợ đắc lực cho họ chính là thời đại  phát triển ngày càng nhanh hơn và hiệu quả hơn của nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa.
Nhưng rồi đến lượt nhà thơ thứ 101 trở thành nhà thơ đến trước. Trong thơ không cần kinh nghiệm mà cần tâm hồn tươi non nảy nở và sáng tạo, tâm hồn ấy thuộc về tuổi trẻ nhiều hơn. Cũng như người nông dân, thời thị trường toàn cầu hóa thách thức họ, các nhà thơ thời tương ứng cần sự tu luyện từ kiến thức, những trải nghiệm và phát hiện thi pháp mới… để có thể vượt qua thách thức, đáp ứng yêu cầu thưởng thức của công chúng và hội nhập với thời đại. Trong hội nhập, thơ đòi hỏi tính dân tộc và hiện đại – chính là đôi cánh bảo đảm cho nhà thơ và thơ được tôn trọng, bình đẳng với các nền thơ khác. Chỉ có trên nền tảng ấy, người ta mới cần thơ của nhà thơ ở một dân tộc nào đó…
Chú thích:
* Rasun Gamzatov - Đaghesstan của tôi, bản dịch của Phan Hồng Giang.
24/3/2025
Vương Cường
Theo https://vanvn.vn/

Đêm trăng tại phố cổ

Đêm trăng tại phố cổ

1- Mùa Thu  đang  trở lại Cali. Buổi sáng trời hơi lạnh. Cái lạnh dễ chịu của miền thung- lũng hoa vàng không giống cái lạnh khó chịu  tại  các tiểu bang miền Bắc Hoa-kỳ, nơi mà Nguyễn đã cư-trú tại đó gần mười năm.
Nguyễn đang ngồi nhâm-nhi cà-phê vói Dũng và vài người bạn tại quán cà-phê Starbucks ở Downtown. 
Dũng nói:  
- Tuần sau, tớ sẽ  về thăm Việt-Nam.
- Cậu về, chừng bao lâu thì qua lại?. Về có việc gì, hay về “hỏi vợ” đó?, Thành hỏi.
- Mình về thăm lại quê-hương sau gần hai mươi năm xa cách. Các bạn cũng đều biết tất cả cha mẹ, anh chị em mình đều đã định-cư tại Mỹ và mình chưa có ý-định “tìm vợ” bên Việt-Nam. Có thể chuyến này mình về chừng hai ba tuần để đi thăm các thắng cảnh từ Nam ra Bắc. Theo  mình nghĩ  tuy mình là người Việt, từ nhỏ đến giờ,  mình  mới biết một vài tỉnh và thành-phố trong Nam  thì coi như “xệ” quá!, Dũng trả lời.
Nguyễn góp ý:   
- Nếu có dịp ra ngoài Trung, cậu nhớ ghé thăm phố cổ Hội-An. Mỗi  tháng một lần vào ngày trăng tròn, tại thành phố cổ đó tất cả đèn điện đều tắt hết, mà chỉ thắp các đèn lồng  để sinh-hoạt ban đêm. Thú vị lắm làm du-khách sẽ nhớ đời!
- Ừ, mình cũng có ý định đó từ lâu rồi, Dũng nói.
- Nếu cậu đến phố cổ, mình dề nghị cậu đến trú tại khách sạn X, phòng 309  sẽ dành cho cậu nhiều “kỷ-niệm nhớ đời” đấy!.
- Sao cậu chưa về Việt-Nam lần nào mà cậu “biết  rõ” vậy, hả Nguyễn?
- Thiên cơ bất khả lậu!
Nguyễn vừa nói vừa cười như tuồng thích thú lắm về câu trả lời của mình.
2- Người tài-xế trẻ tuổi quay sang hỏi Dũng :
- Đây là ngã ba Vĩnh-Điện. Ông muốn đi Đà-nẵng trước, hay ghé xuống Hội-An? Lần đầu tiên, Dũng ra thăm miền Trung nên anh suy nghĩ một chút, rồi mới hỏi:
- Đường nào đi Đà-Nẵng, mà bao xa?, còn đường nào đi Hội-An ?
Người tài-xế trả lời:
- Nếu chạy thẳng theo quốc-lộ 1 này thì đến thành-phố Đà-Nẵng cách đây chừng hai mươi lăm cây-số, còn rẽ phải, thì xuống phố cổ Hội-An, cách đây chừng mười cây-số thôi.
-  Ông muốn đi... ?
- Hội-An trước, vì hôm nay là ngày mười bốn âm-lịch, tôi muốn được tận hưởng một đêm đặc-biệt tại đây.
Dũng nhìn vào tờ giấy mà Nguyễn, bạn chàng đã ghi chi-chít chữ, chàng  đọc lại cho nhớ:
“Vào mỗi đêm 14 âm-lịch, mọi sinh-hoạt của thị-xã nhỏ bé này được quay trở về thế-kỷ thứ 16. Bốn con đường nằm trong khu phố cổ là Trần-Phú, Nguyễn-Thái-Học, Lê-Lợi và đường bờ sông Bạch-Đằng  đã hàng loạt tắt những ngon đèn điện sáng, thay vào đó  là ánh-sáng huyền-ảo của những ngọn đèn lồng nhiều mầu sắc. Dù những chiếc đèn lồng này cũng được thắp sáng bằng những bóng đèn điện thông thường, nhưng ánh-sáng tỏa ra mờ dịu và phảng-phất dấu ấn của thời xa xưa...”
Dũng quay sang tài-xế  rồi nói:
- Anh cho tôi đến khách-sạn X..., nằm trên đường....
Vâng, tôi biết đường này, ông yên tâm.
Người tài-xế đáp không đợi Dũng đang moi trong trí  để nhớ tên con đường xa lạ này. Khách-sạn trông cũng khá sang. Dũng hỏi người quản-lý để thuê phòng. Người quản-lý nhìn vào cuốn sổ đang để trước quày và trả lời ngay:
- Thưa ông, rất tiếc, hôm nay nhằm ngày mười tư  âm-lịch, có nhiều khách đến tham-quan phố cổ, nên không còn phòng nào  trống...  Xin  ông cảm phiền...
Ngừng một giây, khi thấy Dũng tỏ ra thất vọng, người quản-lý nói tiếp:
- À... còn một phòng... mà... mà....
Dũng nghe “còn phòng” nên nói ngay:
- Khỏi phải mà...mà..., để giải-thích dài dòng nữa, cho tôi phòng còn lại đó, và nếu muốn trả thêm chút ít tiền thuê cũng được, vì tôi chỉ cần trú một đêm thôi.
Dũng nghĩ đến mấy anh quản-lý khách-sạn ở Việt-Nam, thuờng  nêu  ra những trường hợp “đặc-biệt” như trên, để vòi thêm tiền của khách “Việt kiều”, nên quyết định ngay không cần suy nghĩ.
- Cám ơn ông. Đây là chìa khóa phòng 309 “đặc-biệt” ở lầu 3,  dãy bên phải đó. Chúng tôi không tính tiền thêm mà chỉ tính theo giá thông thường,  như những phòng khác.
Nhận phòng xong, Dũng thay quần áo ngắn “nhiệt-đới”, mang “xăng-đan”, rồi đi xuống phố để tìm cái gì  lót bụng vì chàng đã thấy thèm cà-phê và đói bụng lắm rồi.   
Đường Trần-Phú, có nhiều quán ăn, mà những du-khách quen đến phố cổ đã đặt tên “Restaurant street” (phố nhà hàng ăn), hoặc nói đúng hơn lphải gọi là “Cao-lầu phố” hoặc “Cao-lau Street” là một phố có nhiều tiệm bán cao-lầu  lâu đời và nổi tiếng  nhất. Đường Trần-Phú dài từ “thượng Chùa-Cầu đến hạ Âm-bổn”, mà nhiều thập-niên trước đây khi còn “Pháp-thuộc” gọi là “Rue du Pont des Japonais” (đường cầu Nhật-bản), dài không quá 500 mét mà có hơn mười lăm quán ăn san sát nhau
Dũng đi ngang qua một  quán  ăn  để hai chữ “CAO LẦU”, thấy có nhiều khách “ba-lô” ngoại quốc đang sắp hàng chờ vào ăn. Chàng ngạc nhiên vì không biết “CAO LẦU” có nghĩa gì? Tên tiệm ăn? Tên món ăn ? hay “CAO LẦU” giống với “ TỬU-LẦU”, hoặc “CAO LÂU (đã xuất hiện trong thơ Trần Tế-Xương: “Cao lâu thường  ăn quỵt, Thổ đĩ lại chơi lường”?), nên chàng quyết-định “nên vào cho biết”. Người hầu bàn  chào chàng và hỏi ngay:
- Thưa ông dùng “cao lầu?” có lấy thêm bánh tráng nướng không?
Dũng rất ngạc nhiên vì thông thường tại các quán  ăn khi thấy khách vào ngồi, thì đưa thực-đơn cho khách chọn món ăn, còn đây sao lại khác. Như vậy “cao lầu” ắt  phải là tên món “dặc-sản” của tiệm ăn này?, Dũng nghĩ thế.
Làm như người ăn chơi sành điệu,  chàng đáp :
Có, bánh tráng nướng và một ly cà-phê sữa  nóng.
Trong khi chờ món ăn bưng ra, chàng thấy vài người khách ngồi bàn bên cạnh chàng hút thuốc “tự-do”, nên chàng cũng móc bao thuốc lá Pall-Mall lấy một điếu, châm lửa hút  thoải-mái” khi người hầu bàn đem  ly cà-phê đến.
Nhìn “tô cao lầu”, món ăn mà lần đầu tiên Dũng biết, Dũng quan-sát kỹ để khi về lại Mỹ sẽ có dịp kể lại cho bạn-bè nghe.
- Thì ra thế, Cao-lầu là một món “mì khô” sợi hơi cứng, trên có thịt xá-xíu, dưới có giá chín, điểm vài tép mỡ và ngò thơm.
Không giống món mì quảng, cũng chẳng giống món mì xá-xíu khô của Tầu, hoặc hủ-tíu khô Nam-Vang mà chàng đã ăn. Đây là món ăn “lạ” đối với Dũng, có hương-vị rất đặc-biệt và hấp-dẫn.
Có lẽ vì bụng đói hay món ăn “lạ và ngon”, nên Dũng đã gọi thêm một tô cao-lầu nữa để ăn tiếp.
Nhìn những người ngoại quốc ngồi các bàn bên cạnh, tay cầm đũa rất thành thạo và ăn rất ngon lành. Dũng nghĩ có lẽ họ là “khách thường-xuyên” của tiệm ăn này.
- Wonderful  meal!
Một “bà đầm trẻ tuổi” nói với người bạn ngồi cạnh, rồi nhờ người này “thông ngôn” để gọi thêm một tô cao-lầu nữa.
- Mô-ột tô-ô  Kau-lau  nữua..., please!
Người đàn ông ngoại quốc nói “tiếng Việt giọng Bắc”.
Mặc dầu ở thành-phố cổ nhỏ bé này, các người “nước ngoài” có thể dùng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Tàu, tiếng Nga... để gọi món ăn, vì đa số người  chủ quán và nhân-viên phục-vụ có khả-năng nghe hiểu những câu nói đơn-giản và thông thường của các ngôn-ngữ đó.
Khi những người khách này đứng lên, đến quày trả tiền, Dũng nghe thêm một câu nói:
- We’ll miss your Kau-lau! Thanks for your wonderful Kau-lau!
Dũng cũng đứng lên, trả tiền .
Ra khỏi quán “cao-lầu”, Dũng đi dọc theo đường Trần-Phú để thăm các ngôi chùa  cổ của các người  Hoa-kiều nằm dọc theo đường này, như Chùa Quảng-Triệu, Chùa Ngũ-Bang, Chùa Phúc-Kiến, Chùa Quan-Thánh, Chùa Âm-bổn. Sau đó, quẹo ra chợ Hội-an để tiến ra bờ sông Bạch-Đằng hóng mát và xem mấy người ngồi câu cá. Chiều dần xuống. Những tia sáng cuối ngày  giảm rất nhanh . Mặt trăng tròn đã hiện ra từ phía bên kia sông Sài-giang hướng ra biển Cửa-Đại. Rất  nhiều người đổ ra dường phố để dón “Đêm huyền-ảo”, chỉ xẩy ra mỗi tháng một lần.
Các ngọn đèn điện ngoài phố, trong các căn nhà lần lượt tắt. Thay vào đó, ngoài đường phố các chiếc đèn lồng  bằng lụa sặc-sỡ mầu sắc , hình dài dài treo trên các cột điện đường và trước  mỗi nhà những đèn lồng bằng lụa hình tròn tỏa ra nguồn ánh-sáng “liêu-trai” và huyền ảo. Tất cả xe cộ, kể cả xe gắn  máy đều cấm di-chuyển trong lúc này. Trong lúc các nhà dọc theo bốn đường chính của phố cổ, các  đèn điện, “nê-ông”, ra-đi-ô, ti-vi, máy hát... đều tạm ngừng sử-dụng trong một đêm “phố cổ trở về thuở xa xưa của mấy trăm năm trước”.
Dưới ánh trăng tròn, dưới các đèn lồng, du-khách và cư-dân phố cổ hưởng trọn vẹn một đêm mờ ảo và rất “thiên-nhiên”. Dọc theo đường phố, đây đó, người ta đánh cờ tướng, người ta đàn hát, người ta nói chuyện phiếm và các nam thanh, nữ tú cũng “ lợi dụng” cảnh mờ mờ ảo ảo đó để tỏ tình hoặc trao cho nhau những nụ hôn thắm-thiết.
Trời đã về khuya, Dũng trở lại khách-sạn.
Chàng lên giường, nằm nhớ lại một ngày vừa trôi qua ở phố cổ rất thích-thú này.
Bỗng chàng nghe tiếng gõ nhè nhẹ vào cửa phòng.
Cộc...cộc...cộc rồi cộc...cộc...côc..
Chàng ngồi dậy, xỏ chân vào dép, ra mở cửa. Chàng nghĩ giờ này có thể công-an địa phương đến xét giấy tờ...tạm trú.
Mở cửa, chàng rất ngạc nhiên khi thấy một thiếu nữ trẻ vận xường-xám e-lệ hỏi chàng:
- Xín-xáng, nị kỏn Koỏng-tống hỏa? (Thưa ông, ông có nói được tiếng Quảng-đông không?) Â
m thanh phát ra nhỏ nhẹ và như có ma-lực làm chàng phải trả lời. Mặc dù trong bụng chàng muốn nói một câu để đuổi người quấy rầy trong lúc khuya-khoắt này đi chỗ khác.
- Mụ, ngộ duỵt-nàm dành, ngộ kỏn ịt-nàm-hỏa, íng-kọt hỏa, phần dậu.(Không, cô bạn, tôi là người Việt-Nam , tôi nói tiếng Việt và tiếng Anh thôi).
- O.K! It’s good. I speak English too! ( Được. Thế thì tốt.  Tôi cũng nói được tiếng Anh).
Nói xong, nàng xin phép Dũng cho nàng vào phòng để tiếp tục câu chuyện muốn nói. Dĩ nhiên, Dũng đồng ý và mời nàng vào phòng, đóng cửa lại ngay vì nói chuyện lâu ngoài phòng e không tiện lúc đêm khuya.
Bằng giọng Anh chuẩn và lưu-loát,  nàng nói với Dũng:
- Tiên-sinh biết không, ở khách-sạn này có một thông-lệ, mà không một ai tiết-lộ cho khách biết trước...
Dũng trố mắt ngạc nhiên, khi nghe cô gái nói tiếp:
- Phòng 309 này chỉ dành riêng cho khách “đặc-biệt”, nghĩa là được chiêu-đãi miễn phí mọi thứ kể cả “người hầu hạ một đêm”. Em được sai bảo đến đây là vì “thông-lệ” mến khách đó.
Dũng nhớ lại lời dặn của Nguyễn trước lúc lên máy bay:
Cậu đừng quên khách-sạn X, ở phố cổ, phòng 309 đó nghe. Thú-vị lắm!
- À, thì ra...có mục này... Dũng lẩm-bẩm.
Đêm đó, Dũng rất vui bên người đẹp. Dũng thấm mệt,  rồi ngủ thiếp lúc nào không biết.
3- Dũng thức giấc khi trời vừa sáng. Chàng rất ngạc nhiên khi thấy mình nằm trần truồng, một chiếc khăn lông lớn vấn ngang bụng.  Chàng cố  nhìn để xem mình đang nằm chỗ nào?. Bên cạnh mấy thùng giấy đựng rác ở tầng basement của khách-sạn. Sao lạ vậy. Ai khiêng  chàng bỏ vào đây? Chàng còn nhớ rõ, tối qua chàng nằm trên phòng 309, lầu 3 với người đẹp Trung-hoa mà!
Chàng vội chạy lên phòng 309, lầu 3. May mà lúc đó còn sớm quá, chưa có ai đi lại, để có thể trông thấy chàng “tô-hô!”.
Mùi thơm da thịt của người đẹp vẫn còn phảng-phất đâu đây.  Nhìn chăn gối xô lệch, chàng tiếc đêm vui đã qua quá mau.  
    Sáng ra, chàng xuống quày người quản-lý để trả phòng.
Người quản-lý hỏi chàng ngủ “có yên-giấc” không? .
 Dũng vừa cười vừa nói:
- Yên thì không yên... nhưng mà “vui”.... và nhất là được “biết cái basement của khách-sạn này”.
- Thưa ông, thế thì chúc mừng ông “được chiêu-đãi tại khách-sạn này không phải trả tiền” và mong ông giữ “bí-mật” này, đừng “bật-mí” cho ai khác nhé!   
Người quản-lý khách sạn vừa bắt tay Dũng vừa cười mà nói thêm:
- Khi ông đến thuê phòng,  khách-sạn chúng tôi không còn phòng nào khác nữa, phòng 309  là phòng được “để trống” từ nhiều năm nay,  vì một số khách đã trú tại đó đều than-phiền “có vấn-đề”. Tôi thấy ông ở xa đến, nếu không có nơi tạm-trú trong đêm, để thưởng thức “đêm huyền-ảo nơi phố cổ”, thì mất vui và lỡ dịp ngày 14 âm-lịch mỗi tháng chỉ có một lần”, nên  tôi mới để phòng 309 cho ông ở. Tôi biết ông  thừa can-đảm và có thể “sống qua đêm” không có “hại” gì đến tính-mạng của ông. Xin ông tha lỗi cho.”
4- Về lại Mỹ, Dũng gọi điện-thoại cho Nguyễn và hẹn gặp thằng bạn “Thiên-cơ bất khả lậu” ngay.
Nguyễn kéo Dũng vào một quán ăn vắng khách. Rồi vừa ăn vùa nói chuyện. Nguyễn bảo Dũng  kể lại chuyện đi thăm phố cổ. Nghe xong, Nguyễn nói thêm:
- Năm 1940, một thương-gia giầu-có người Hoa, trú tại Hội-An, hồi đó còn gọi là “ville de Faifoo” (thành-phố Phe-phô) sang buôn bán bên  Hong-Kong có “bao” một vũ-nữ trẻ chừng mười tám, hai mươi tuổi gì đó, rất xinh đẹp. Khi đem nàng về  phố cổ, bà vợ lớn, người Việt ghen quá cỡ, nên ông mua một ngôi nhà ba tầng này, tầng trệt làm cửa hàng buôn bán tạp-hóa, tầng trên cùng, dành một phòng để  “hú-hí” với bồ nhí. Nàng tên Minh-Lan, ngoài tiếng mẹ đẻ, nàng còn nói giỏi tiếng Anh.  Sợ những người trong thành phố biết việc này, vì Hội-An là thành phố rất nhỏ, việc gì xảy ra “ở trên Chùa Cầu thì dưới Âm-bổn biết ngay”, nên ông cho sửa sang lầu ba thành một “cấm  phòng đặc-biệt” cho Minh-Lan ở. Có đầy đủ tiện-nghi và chỗ giải-trí thoáng mát ngoài trời, có trồng nhiều cây kiểng, có khu hồ tắm lộ-thiên , có nhà bếp riêng và có một bà xẩm nấu ăn và hầu hạ nàng.  Tất cả gia-nhân trong nhà đều cấm lên lầu, dù chỉ lầu hai.
Và nàng Minh-Lan cũng không được bước chân xuống các tầng lầu khác.
Năm 1944, quân Nhật đến trú đóng tại Hội-An trong chiến-dịch “vết dầu loang quân-phiệt” Đại Đông Á của Thiên-Hoàng Nhật-bản. Ông chủ người Hoa kia bị tình-nghi chống Nhật,  nên bị bắt và giết ở Phước-Tường,  gần   phi-trường Đà-Nẵng.
Từ đó, không ai biết thêm số phận của mỹ-nhân Minh-Lan như thế nào.
Những năm tiếp theo đó, ngôi nhà đã đổi thay nhiều chủ. Cho đến 1975, khi Việt-cộng chiếm Hội-An, tịch-thu tài-sản của người thương-gia cuối cùng có cửa hàng bán tạp-hóa tại đó, rồi sửa sang thành khách-sạn để cho thuê. Căn phòng mà nàng Minh-Lan đã ở và có lẽ đã chết trong đó, thành phòng 309 “đặc-biệt như Dũng dã biết ”. Có lẽ, Minh-Lan nhớ nghề cũ hay muốn giải-trí, nên mỗi tháng vào lúc có trăng thật sáng, nàng thường hiện ra và ái-ân với ai thuê đúng nơi nàng đã ở trong nhiều năm tại phố cổ.
Nguyễn cười cười nhìn Dũng và nói:
Chuyến thăm phố cổ của Dũng gặp được Minh-Lan, một mỹ-nữ đôi mươi, thân hình với những đường cong đầy hấp-dẫn, mặc xường-xám và “thỏ-thẻ” tiếng Anh như gió, trong một đêm Trung Thu, trăng sáng diễm-tuyệt, thật  đáng nhớ đời đấy!. 
Phương Duy
Theo https://vietvanmoi.fr/

Nắng vàng Nagasaki

Nắng vàng Nagasaki

Tokyo, ngày... tháng... năm 2009
Anh Nguyễn quý mến,
Em vừa từ thành phố Nagasaki về, vội viết thư cho anh kẻo để anh chờ thư.
Nơi em đến viếng đầu tiên ở thành phố này không phải là “Chukamachi” khu phố Trung Hoa (Chinatown), hoặc một “otera, tera, dera hoặc ji” (ngôi chùa cổ kính) hay những “shoppingu gai “ (siêu thị) như những lần trước đây khi đi thăm viếng một địa danh mới mà là một “Oura tenshudo shita” (nhà thờ, đúng hơn một giáo đường Thiên Chúa giáo) Giáo đường Oura (Oura Catholic Church) xây dựng năm 1864 do một tu sĩ người Pháp là Cha Bernard Petitjean sau ngài trở thành giám mục tiên khởi ở Nagasaki.
Sở dĩ em viếng nơi đây trước nhất của chuyến du lịch vì có dính dáng đến văn hóa, nghệ thuật của người Pháp mà em rất thích.
Giáo đường tọa lạc về hướng đông nam ở cuối thành phố, gần đền thờ Đức Khổng Phu Tử và công viên Glover. Trong khi đó một di tích nổi tiếng khác của Thiên Chúa Giáo là Đền thờ 26 vị Thánh tử đạo lại tọa lạc ở phía cực bắc của thành phố.
Nhìn ngôi tượng Đức Cha Petitjean mặc áo chùng dài đứng nơi nhà thờ, trông ngài hiền từ , khiêm tốn và thánh thiện.
Oura là một trong những ngôi giáo đường cổ nhất tại nước Nhật Bản. Được xây dựng bằng gỗ và theo lối Gothic. Các ngôi nhà chung quanh trong khuôn viên nhà thờ cũng xây dựng bằng gỗ rất mỹ thuật.
Giáo đường sơn màu trắng với những cửa sổ ráp bằng kính nhiều màu phản chiếu lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời trông rất đẹp, được xếp vào cổ tích liệt hạng “quốc gia chi bảo” (National Treasure)
Rời khu giáo đường, em đi đến viếng khu “Hollander Slope”. Nơi đây những đường phố được lát đá hoặc trải sỏi rất mỹ thuật do người Hòa Lan xây dựng. Ngày xưa, theo quan niệm đơn sơ của người dân địa phương, người ngoại quốc nào từ tây phương tới (dù là người Bồ đào nha , người Hòa lan, người Tây ban nha..) cũng gọi chung là “người Hòa Lan” cả.
Người Bồ đào nha và người Hòa lan là những người ngoại quốc từ phương tây đến hải cảng Nagasaki sớm nhất khi hải cảng mở cửa giao dịch thương mại với quốc tế từ năm 1571, tiếp theo sau những tay lái buôn từ Trung hoa đến trước đó và đã tổ chức thành cộng đồng Hoa kiều riêng biệt.
Những tay lái buôn người Bồ đào nha mang đến nhiều tàu bè chở súng đạn đến bán và chở những nhà truyền đạo thiên chúa. Có một thời gian các lãnh chúa cai trị tại địa phương ra lệnh đóng cửa hải cảng không muốn giao dịch với người tây phương vì họ muôn ngăn cấm những nhà truyền giáo hoạt động rất mạnh.
Chỉ riêng người Hòa lan được phép đến giao dịch thương mại vào giữa những năm 1638 đến 1854.
Sau khi hải cảng mở cửa lại, người Pháp, người Anh, người Mỹ, người Đức và người Phổ tới tấp đến buôn bán cho đến ngày nay.
Năm 1992, người Hòa lan đã bỏ ra một ngân khoản lên đến 1.75 tỷ dollars để xây dựng một ngôi làng cổ truyền Hòa lan “Huis ten Bosch” với những giáo đường, cư xá, tiệm buôn, những cối xay gió, nông trại, kênh đào, công viên... theo mẫu tại quê nhà bên Hòa lan. Gồm cả xây lên một tòa nhà giống mẫu lâu đài của nữ hoàng Beatrix và một giáo đường Hòa lan với ngọn tháp cao nhất. Phương tiện giao thông nơi làng này là những chiếc xe cổ do ngựa kéo, những cổ taxi cổ điển và những tàu thuyền kiểu cổ đi lại trên những sông đào trong làng.
Du khách đến viếng khu làng này đều nhiệt liệt ngợi khen kiều dân Hòa lan đã có sáng kiến rất hay và xây dựng tuyệt vời.
Một nơi được du khách ngoại quốc cũng như dân Nhật bản thăm viếng nhiều lần nhất tại Nagasaki là Công viên Hòa Bình “ Peace Park”.
Một trụ bằng đá đen được dưng lên để đánh dấu nơi quả bom nguyên tử thứ nhì của Hoa Kỳ nổ lúc 11:02 ngày 9 tháng Tám năm 1945, ba ngày sau ngày quả bom nguyên tử đầu tiên thả xuống Hiroshima.
Bom rơi gần chỗ bến tàu và sức nổ đã sát hại ngay tại chỗ ước tính 75,000 nhân mạng và chừng hơn 75,000 nạn nhân bị thương. Nhiều công trình xây lên để kỷ niệm kể cả một tượng đài cao 9 mét (30 ft), tạc một người đàn ông Nhật vặm vỡ tay phải dơ lên cao, ngón tay trỏ chỉ lên trời (Thiên), tay trái đưa ngang (Bình), mang tên “Pho Tượng Hòa Bình”(Peace Statue).
Năm 1959 giáo dân tái thiết ngôi giáo đường Urakami Catholic Church tọa lạc cạnh công viên này.Cũng mang một ý nghĩ “cầu nguyên hòa bình cho nhân loại”. Ai bước chân đến Nagasaki không thể nào quên được Viện Bảo tàng “Atomic Bomb Museum”. Nơi đây trưng bày quang cảnh sinh hoạt của thành phố hải cảng Nagasaki trước và sau ngày bị bom nguyên tử, kể cả công cuộc tái thiết sau này. Những bức ảnh chụp, video, tài liệu báo chí (trong nước và thế giới) ghi lại biến cố đau thương này.
Mô hình làm bằng kim loại “Hai quả bom A” hình tròn. Một cái đồng hồ lớn treo tường ngưng hoạt động đã vô tình ghi lại giờ bom nổ... được viết lại trong một tài liệu “ A clock frozen at the moment the exploded “ là một trong những vật trưng bày được người xem chú ý và suy nghĩ nhiều nhất về thảm họa nguyên tử trong chiến tranh. Nghỉ trưa, em đến khu Phố Tàu “Chinatown” để ăn cơm. Em rất thích được ăn cơm Tàu tại chuka-ryori-ya (Chinese restaurant) , có những món em thích như ise-ebi (lobster), kani (crab) và goban (rice cooked).
Bước qua một cái cổng rất lớn trang trí bằng những hàng chữ Hán và chạm trổ những hình hoa văn làm em nhớ đến cái cổng dẫn vào khu phố Tàu “Chinatown”ở thành phố San Francisco mà anh thường đưa em đi mua ô mai, xí mụi, ổi, xoài (em rất mê ăn loại quà vặt này) những ngày chúng mình còn là sinh viên.
Đền thờ Đức Khổng Phu Tử cũng gần khu phố Tàu, nên em ghé đến viếng để biết thêm văn hóa Trung Hoa. Từ xa em đã thấy mái ngói vàng đỏ của ngôi đền thờ nổi bật với lối kiến trúc đặc thù Trung Hoa.
Năm 1982, Cộng đồng Hoa kiều đã góp công của để xây lại và nới rộng thêm ngôi đền thờ này sau khi bị bom nguyên tử phá sập ngôi đền cũ xây dựng năm 1893. Năm 1982 cũng là năm xây dựng viện Bảo Tàøng Quốc Gia Lịch Sử Trung Quốc tại Nagasaki. Những cổ vật trưng bày tại viện bảo tàng tại đây được viện Bảo Tàng Quốc Gia và viện Bảo Tàng Bắc Kinh cho mượn.
Trời ngả về chiều, nắng vàng chiếu rực rỡ trên thành phố hải cảng Nagasaki, trèo lên taxi em đi viếng nốt một di tích cổ của thành phố : Đền Thờ 26 Thánh Tử Đạo.
Năm 1587, shogun Toyotomi Hideyoshi chính thức ra lệnh cấm đạo Thiên chúa hoạt động. kết cuộc là 26 giáo dân bị bắt và giải lên đồi Nishizaka để xử tử trên cây Thánh giá.Theo tài liệu thì số giáo dân bị giết trong đợt đầu tiên có thể hơn 600 vị chỉ tính trong vùng nagasaki không thôi. Năm 1862, Đức Giáo Hoàng đã xét phong Thánh tử đạo cho 26 vị. Một đoạn đường ngắn từ nhà ga dẫn đến đền thờ, giáo dân dựng nên một tảng đá, một nhà nguyện nhỏ, và một viện bảo tàng để vinh danh các thánh tử đạo.
Anh Nguyễn quý mến,
Về lại Tokyo, em ngồi viết thư cho anh mà lòng em vẫn còn buồn vì nhân dịp đi thăm viếng Nagasaki, tìm hiểu để và học hỏi, khi tiếp xúc trực tiếp với những gia đình có liên hệ huyết thống với những nạn nhân của bom nguyên tử ở Nagasaki. Họ cho biết những người chết ngay lúc bom thả tuy xấu số nhưng không chịu đau đớn thân thể trước khi qua đời, còn số người chẳng may bị thương, chất phóng xạ nguyên tử làm họ kéo dài sự đau đớn trước khi vĩnh viễn vào cõi vĩnh hằng. Nghe nhiều câu chuyện, nhiều trường hợp thương tâm đã làm em suy nghĩ nhiều. Những ngày buồn bã kéo theo những đêm thao thức không ngủ được.
Nước Nhật bản , dân Nhật bản của em sao gặp nhiều thiên tai động đất, sóng thần, bão lụt lại thêm họa tai nguyên tử nữa.
Cầu xin Bình An cho mọi dân tộc trên thế giới.
Em nhớ và yêu anh nhiều.
Hôn anh.
MICHIKO kính bút. 
Phương Duy
Theo https://vietvanmoi.fr/

Cái bật lửa zippo made in USA

Cái bật lửa zippo made in USA

Lời mở đầu: Tôi ngồi đọc lại một vài phóng sự trên báo chí, trên mạng ghi lại "Hàng Không Mẫu Hạm HOA KỲ ghé thăm cảng ĐÀ-NẴNG trong 4 ngày...", tôi khá ngạc nhiên khi biết tại Việt-Nam hiện nay vẫn còn người thích sưu tập cái bật lửa ZIPPO. Tại USA, chúng tôi , những cựu quân nhân QLVNCH và con cháu (thế hệ thứ hai, thứ ba...) người Mỹ gốc Việt vẫn tiếp tục thú vui sưu tập "những cái bật lửa ZIPPO thời gian gọi là "VIETNAM WAR của thế kỷ XX vừa qua.
1- Sáng nay, thứ bảy... một ngày đẹp trời sau những ngày mưa lạnh cuối Thu. Tôi nhận được điện thoại báo tin Carl đang lái xe đến thăm tôi.
Carl là cựu sĩ quan cố vấn tiểu khu mà ngày xưa thường phối hợp công tác quân sự với tôi nhiều năm. Carl rất thân với tôi. Anh thường ra cư xá sĩ quan của tôi để gặp tôi. Anh nhờ tôi hướng dẫn thêm cho anh tiếng Pháp vì trước khi nhập ngũ và đưa sang phục vụ tại chiến trường Việt Nam anh đã học tiếng Pháp vài năm. Ðổi lại, anh hướng dẫn tôi thêm môn Anh ngữ mà anh đã tốt nghiệp Master of Arts. Anh rất thích ăn chả giò nhân cua bể và phở Bắc lúc phục vụ ở Việt Nam, nên tôi đã biết ý thích này của Carl.
Sau 1972, anh rời chiến trường Việt Nam và được đưa sang làm tùy viên ở một sứ quán bên Phi Châu vì anh biết Pháp ngữ.
Anh nghỉ hưu giữa thập niên 1980 và về sống tại quê nhà ở thành phố Yountville, bên cạnh đại gia đình bố mẹ và anh em của anh từ lâu đã chuyên trồng nho và sản xuất rượu vang.
Từ ngày Carl biết tin tôi đã sang Hoa Kỳ tái định cư theo chương trình H.O năm 1991, thỉnh thoảng anh lái xe từ Napa Valley đến chơi với tôi. Hai chúng tôi thường đàm thoại tiếng Pháp với nhau khi chén chú chén anh rất thân mật. Lúc nào anh cũng mang theo vài chai rượu vang ngon mang nhãn hiệu gia đình anh vì anh biết tôi cũng là tay mê rượu vang chính gốc Napa Valley từ lâu.
Mấy lần trước anh đều gọi điện thoại báo tin cả tuần nên tôi có thì giờ chuẩn bị thức ăn Việt Nam mà anh thích như “chả giò nhân cua bể” và phở Bắc. Lần này, khi anh đã ngồi trên xe mới dùng cell phone báo tin cho tôi. May mà bà xã của tôi vừa làm xong món “chả giò cua bể” và món “hoành thánh tôm chiên” chuẩn bị ngày mai Chủ nhật đãi mấy đứa cháu nội theo thường lệ đến thăm ông bà nội với bố mẹ chúng. Nên tôi cũng đỡ lo phần ẩm thực với Carl lần này.
2- Tiếng chuông reo, tôi ra mở cửa đón Carl vào nhà. Anh bưng một thùng 6 chai rượu. Carl nói ngay khi nhìn thấy tôi:
- Lần này có lứa nho Cabernet Sauvignon ngon lại được mùa và cuộc thi rượu ngon tại San Francisco vừa rồi đã xếp hạng huy chương vàng cho hãng rượu của Bố mình. Mình đem biếu bạn 6 chai đoạt giải để bạn thưởng thức. Ðược xếp 96 điểm đấy. Ông bố mình rất vui. Lần này, chúng ta không khui ra uống ngay.
Tôi ngạc nhiên hỏi: “Tại sao vậy?”
Carl giải thích ngay:
- Hôm nay kỷ niệm sinh nhật lần thứ 70 của Martin. Martin là bạn rất thân với tôi. Sau đó hai đứa cùng sang phục vụ tại chiến trường Việt Nam. Martin phục vụ ở phòng Tuyên Uý Chaplain office Sư đoàn Americal Division ở Chu Lai. Martin đã nhờ tôi mời thêm một số chiến hữu của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa mà tôi quen biết để có dịp gặp gỡ nói chuyện “quá khứ” cho vui. Tôi mang theo 12 chai Cabernet Sauvignon góp vui với Martin. Nên vì thế mời bạn đi cùng tôi. Ðến nơi mình mới uống rượu được. Bây giờ mà uống thì sẽ phiền với cảnh sát và cũng không an toàn khi lái xe.
- OK. Thế thì tôi sẽ tháp tùng với bạn. Tôi sẽ mang theo một ít “đặc sản Việt Nam” như “chả giò cua bể”, và “hoành thánh tôm” loại “home-made” để góp vui.
3- Nhà của Martin ở Santa Cruz, cách một con đường là ra đến bãi tắm ở biển.
Chừng hai mươi khách tham dự. Tất cả là cựu quân nhân bạn của Martin cùng ở gần nhà.
Họ đang đi quanh các phòng trong ngôi nhà để xem các “kỷ vật” của Martin mang từ Việt Nam về.
Tôi nhìn thấy trưng bày một khẩu súng AK- 47 cũ, một nón cối, một lá cờ GPMN nhỏ, một nón lá (trông đã cũ vì qua thời gian trưng bày lâu rồi) , một chiếc chiếu hoa (sản xuất tại Quảng Nam hay Quảng Tín (?), một tượng thiếu nữ Việt Nam khắc bằng đá “Non Nước”, hơn 30 cái bật lửa ZIPPO, những huy chương của Martin…
Tôi cũng là người từng mê loại bật lửa ZIPPO này vì ngày xưa trước khi quân đội Hoa Kỳ sang Việt Nam, tôi xài loại bật lửa nội địa “Made in Cholon” dẹp dẹp, nho nhỏ, có nhiều lúc ra chỗ trống có nhiều gió, bật lửa chẳng “nghe lời chủ” giống như “trên bảo, dưới không nghe” vậy. Sau đó tôi được một sĩ quan cố vấn Mỹ tặng cho một cái Zippo đầu tiên có khắc huy hiệu đơn vị và tên người được tặng và người tặng cùng ngày tháng. Nên tôi thích loại Zippo từ đấy.
Tôi cầm từng cái Zippo một lên xem và đọc các dòng chữ ghi trên vật lưu niệm. Có những câu thơ rất hay.
Có những câu khắc thật lạ lùng vì ý tưởng ngộ nghĩnh:
“I felt a powerful hit to the left side of my chest and thought I was shot. I didn’t see blood, just a strange bruise. It was only after we returned to the nearest firebase that I realized...”
hoặc:
“Hope is the thing with feathers
that perches in the soul
and sings the tune without the words,
and never stops at all.”
Vài cái khác:
"PLEASE DON’T TRY TO TELL ME ABOUT VIET NAM,
I HAVE BEEN HERE"
Hoặc:
“I love SEX, so baby you can give your SOUL to GOD because your ASS is mine!”
Hay:
"A FRIEND WITH WEED IS A FRIEND INDEED"
Và:
"PRAY FOR PEACE"

Thật đúng như lời quảng cáo của hãng Zippo:
“It who We Are. Every Zippo lighter tells a story”
Tôi cứ tuần tự cầm lên đọc từng cái Zippo. Bỗng tôi reo to cho Carl đứng cạnh tôi nghe:
- Chiếc Zippo này của tôi tặng.
Nghe tôi nói lớn với Carl, Martin chạy lại, anh nhìn tôi: “Anh là Lieutenant...”
Tôi cũng nhìn anh và hỏi :
- Anh là Sergeant Martin F. Kennedy?
Chúng tôi mừng và ôm nhau. Những kỷ niệm một thời chinh chiến tại căn cứ Chu Lai trở về trong ký ức của những người bạn ở tuổi thất thập cổ lai hy!
4- Vào tiệc, khi mọi người nâng ly chúc mừng Martin sinh nhật lần thứ 70 xong. Carl đứng lên giới thiệu tôi là một khách mời đặc biệt của anh, không ngờ lại quen biết với chủ nhân từ lâu mà hai người chưa gặp lại nhau, tuy ở gần nhau. Thật là may mắn trong bữa tiệc hôm nay.
Rồi các bạn khác đề nghị tôi nói vài câu chúc mừng chủ nhân và tôi đã gặp Martin ở chiến trường Việt Nam như thế nào?
Tôi đứng lên chúc mừng Martin rồi nói tiếp:
- Bạn Martin Kennedy thân mến,
Cùng các bạn hiện diện trong ngày vui hôm nay,
Năm 1966 tôi là sĩ quan phục vụ tại Bộ Chỉ Huy tiểu khu Quảng Tín. Trong thời gian này một trận bão lớn thổi qua tỉnh này gây thiệt hại rất nặng cho dân chúng địa phương. Phòng Tuyên Úy của Sư đoàn Americal, Chaplain Office of Americal Division đóng ở Chu Lai muốn phối hợp với phòng Tuyên Úy Phật giáo của Tiểu khu Quảng Tín đóng tại Tam Kỳ để cứu trợ nạn nhân. Vị Ðại Ðức Tuyên úy trưởng Phật giáo nhờ tôi tháp tùng với Ngài để đi đến phòng Tuyên Úy Sư Ðoàn này đóng tại căn cứ Chu Lai để thảo luận và nhận phẩm vật cứu trợ. Tôi chỉ làm nhiệm vụ sĩ quan đi tháp tùng và thông dịch cho vị Ðại Ðức. Nhiều lần vào thảo luận tại văn phòng Tuyên Úy tại Chu Lai nên tôi quen với Martin, lúc đó Martin là hạ sĩ quan phụ trách giao những phẩm vật yểm trợ như tôle, ván ép, carton, sách vở, áo quần cũ, đồ chơi... để cấp phát cho nạn nhân. Tôi rất mến tinh thần làm việc rất thân thiện và nhiệt tình của Martin nên tặng anh một chiếc bật lửa Zippo có khắc tên anh và tên tôi để làm kỷ niệm. Lúc bấy giờ tôi là Trung Úy Bộ Binh. Không ngờ sau hơn 4 thập niên tôi lại may mắn gặp lại người bạn xưa và kỷ vật này. Lúc đó, Martin cũng tặng cho tôi một cuốn Tự điển Webster’s với lời ghi và chữ ký của Anh. Cuốn từ điển bây giờ tuy giấy đã ố vàng nhưng vẫn còn nằm trong tủ sách của gia đình tôi như một vật kỷ niệm một thời “We were soldiers!”
Sau khi rời chiến trường Việt Nam, Martin về Hoa Kỳ và nghỉ hưu trong danh dự với cấp bậc Chuẩn Úy bậc 4 (CW4).
Carl đứng lên khui các chai red wine đặc biệt của gia đình anh sản xuất Cabernet Sauvignon Napa Valley mời các bạn.
Tôi đem các đĩa món ăn đặc sản Việt Nam ra mời khách: chả giò cua bể và hoành thánh tôm chiên giòn.
Mấy người bạn Mỹ, thấy món ăn tôi bưng ra đều ồ lên nói: “ Cha ... gio..o.o!”
Tôi rất vui vì hiểu mấy cựu quân nhân chiến trường Việt Nam này không lạ gì với món ăn mà họ gọi “Eggroll”. Thật ra “Eggroll made by Ba Tàu” khác với món “Chả giò cua bể chính gốc Bắc Kỳ” do nội tướng tôi làm. Chả giò cua bể chính hiệu ngon hơn “eggroll” nhiều.
Mùi ruợu vang thơm quyện với mùi chiên của chả giò và hoành thánh tôm đặc biệt “home made” làm các bạn cựu chiến binh của Martin rất khoái khẩu và họ nhớ lại những năm tháng còn trẻ đã sang đất nước Việt Nam để phục vụ Tổ Quốc Hoa Kỳ và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa.
Chú thích:
Cái bật lửa Zippo được nổi tiếng trong cuộc chiến tại Việt Nam được sách Mỹ ghi lại trong cuốn “ VIETNAM A Visual Encyclopedia” của Philip Gutzman: “During the Vietnam War, Zippo, which was the brand name of a windproof cigarette lighter popular with the troops, was also applied to all of the various flamethrower weapons. Backpack flamethrowers, most frequently used by the Marines, where called Zippos, as were the M67 A1 tank-mounted flamethrowers organic to the Marine tank battalions. Army M-132 mechanized flamethrowers, mounted on the M-113 armored personnel carrier chassis, and Navy riverine LCM-Monitors, which amounted two M10 - 8 flamethrowers were referred to as Zippos as well”.
Phương Duy
Theo https://vietvanmoi.fr/

Nữ trung úy Sharon

Nữ trung úy Sharon

1. Tôi choàng thức dậy sau một giấc mộng dài.
Nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường bên cạnh tủ sách, tôi thấy kim chỉ 3 giờ sáng. Tôi cố gắng tìm lại giấc ngủ tiếp vì tôi mới ngủ được ba tiếng đồng hồ. Bác sĩ thường khuyên tôi mỗi đêm phải ngủ ít nhất năm tiếng, nếu nhiều hơn càng tốt. May mà tối nay tôi nằm mơ một giấc mộng đẹp. Có những đêm nhiều ác mộng đến với tôi.
Thời gian sau 1975, tôi ở tù Cộng sản nhiều năm. Nay qua định cư tại Hoa Kỳ cũng tròm trèm hai mươi năm mà ác mộng ở trại giam vẫn theo đuổi tôi mãi. Sau mỗi cơn ác mộng tôi không thể tiếp tục giấc ngủ cho đến lúc trời sáng.
Tôi thích nhất là những đêm có những giấc mộng “một thoáng liêu trai” vừa thích thú, vừa thỏa mãn một phần đam mê vì tôi là người đang viết truyện ngắn cho nhiều tờ báo và nhiều trang online nên mộng mị cũng giúp tôi đỡ bí đề tài.
Khi tôi còn ở tuổi học sinh trung học, tôi rất mê các tập sách LIÊU TRAI CHÍ DỊ do nhà văn Trung Hoa Bồ Tùng Linh sáng tác và Cụ Ðào Trinh Nhất dịch sang Việt văn. Truyện đưa độc giả vào thế giới ma quái, hồ ly tinh hóa ra làm mỹ nhân, nửa hư nửa thực của đời sống bình thường.
Ðã lâu lắm rồi, không có nhà văn nào sáng tác những truyện như vậy để tôi đọc, có lẽ viết truyện “Liêu Trai” đúng chất lượng phải có một chút “sex”.
Khi còn ở bên Việt Nam, trước 1975 ít nhà văn nào muốn đụng đến lĩnh vực “sex” mà người đời định kiến “dâm tà” này.
Gọi “nhà văn khiêu dâm” còn đỡ, nếu gọi nhà văn “cậu chó” thì còn khổ hơn. Khi đến định cư tại Hoa Kỳ, một nước có hàng nhiều riệu độc giả đọc tạp chí Plaboy, hàng chục triệu người xem loại phim “mà tài tử mặc quần áo ít tốn vải” và quan niệm cởi mở viết truyện có chút “sex” làm cho cuộc sống quá máy móc và bận rộn này, được vui trong chốc lát, nên tôi không e ngại nữa khi viết “Một Thoáng Liêu Trai” cho tôi cùng một số bạn hữu đọc vậy.
Dù không viết truyện “LIÊU TRAI một trăm phần trăm” mà chỉ “MỘT THOÁNG” cũng yên lòng rồi.
Ðọc để quên cuộc sống hiện tại có nhiều khó khăn và nhọc nhằn.
Giống như người nghiện bia mà uống loai beer “lite”, “light”.
Người nghiện thuốc lá phải hút thuốc cigarette “light”, “lite”.
Người đi tù Cộng sản uống nước “cơm cháy” , “bắp cháy” thay cà-phê. ... cũng “phê” vậy.
2. Những năm 1966 - 1968 những ngày nghỉ, tôi thường tháp tùng với các sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ lái xe Jeep vào căn cứ Chu Lai để mua máy móc, nước ngọt, bia, rượu mạnh tại các PX vì giá rẻ và đầy đủ mặt hàng hóa cần mua. Hoặc những ngày trời nắng gắt, ra tắm biển. Biển Chu Lai trong căn cứ này cát trắng và sạch. Phong cảnh, thông xanh, đụn cát nhô cao, nhìn ra biển nước trong xanh về phía trái thấy các cù lao Chàm, Yến... của tỉnh Quảng Nam, xa hơn nữa, về hướng Bắc là dãy núi của bán đảo Sơn Trà, Ðà Nẵng. Nhìn về hướng Nam là cù lao Ré của tỉnh Quảng Ngãi.
Một hôm tôi đang đi dạo trên bãi biển với Porter, đi ngược về hướng chúng tôi là một nữ Trung Úy Hoa Kỳ có gương mặt trông như thiếu nữ Á Ðông.
Ðại úy Porter chào nàng. Tôi hơi ngạc nhiên. Trung Úy phải chào Ðại Úy trước theo nghi lễ quân cách chứ.
Porter hiểu cái nhìn ngạc nhiên của tôi nên anh ta nói ngay với tôi:
- Giới thiệu với bạn, đây là Trung Úy Sharon, một cô bạn của tôi. Sharon chào Porter, xong quay sang chào tôi.
Porter giới thiệu với Sharon:
- Ðây là Trung Úy Nguyễn, bạn chiến đấu của tôi hiện nay.
Tôi chào Sharon trong lúc nhìn nàng rất kỹ. Có lẽ vì tôi cận thị nặng hay thấy nàng xinh đẹp quá lại có nét thiếu nữ Ðông phương, chỉ khác một chút là mắt nàng có màu xanh xanh.
3. Tối qua, hơn ba thập niên trôi qua, tôi gặp lại Sharon. Bây giờ nàng trông xinh hơn và mặc thường phục. Một áo sơ-mi ngắn tay màu trắng và chiếc jupe màu xanh đen.
Nàng vui vẻ chào tôi trước.
Tôi chào nàng trong sự ngạc nhiên vô cùng.
- Chào Sharon, sao bạn biết địa chỉ của tôi mà ghé thăm.
Sharon ỡm ờ trả lời: “Biết chứ, sao lại không?”
“Bây giờ bạn giải ngủ lâu rồi? Cấp bậc cuối cùng? Ðơn vị?”, tôi hỏi nàng.
Gặp lại Sharon, nhìn nàng vẫn còn trẻ, rất xinh, nét thiếu nữ Ðông Phương lại mặc thường phục nên có lẽ vì bất ngờ và vì mừng quá nên tôi chẳng biết nói gì, chỉ hỏi một câu hơi ngớ ngẩn... giống như một trai tân gặp cô bồ lần đầu tiên trong đời.
- Em giải ngũ lâu rồi, cấp bực cũ 1st Lieutenant như ngày gặp anh năm nào ở Chu Lai. Hiện nay em ở Washington, D.C. và vẫn còn độc thân.
“Sau hơn ba thập niên xa cách, sao tôi nhìn Sharon vẫn thấy trẻ”, tôi khen nàng.
Nàng cười, hai hàm răng trắng tinh và đều đặn rồi hỏi tôi:
- Hồi 1975, anh mang cấp bậc gì? Rồi qua Mỹ ngay hay bị kẹt lại và đi lao động khổ sai ở trong các “camps concentration” của Vi-Xi?
- Lúc đó tôi 04 và đi tù gần chín năm trong những khu tập trung trên núi rừng. Sau 1990 đi tái định cư tại Mỹ đến bây giờ.
Sharon nói:
- Em cũng đoán thế, em quen theo lối nhà binh cũ nên 02 Sharon, em phải chào 04 Nguyễn trước.
Nàng vẫn “dí dỏm” và “vui tính” như những ngày chúng tôi thường gặp nhau ở bãi biển Chu Lai sau khi chúng tôi được Ðại Úy Porter giới thiệu lần đầu.
Thời gian ở căn cứ Chu Lai, mỗi khi gặp Sharon, nàng thích tôi kể cho nàng nghe những trận hành quân mà tôi đã tham dự. Nàng cũng hỏi cặn kẻ về văn hóa, văn minh và phong tục Việt Nam vì nàng nghe Porter cho biết trước khi nhập ngũ tôi là một giáo sư trung học. Sharon chăm nghe, ghi “note” lại. Nàng muốn biết rõ ràng để khi về Mỹ sẽ kể lại cho bạn bè nghe.
Sau một ngày trả lời vô số câu hỏi thắc mắc của nàng, 1st Lieutenant Sharon bồi dưỡng cho Trung Úy Nguyễn một nụ hôn nồng ấm rất đam mê kéo dài dài và chỉ có vậy thôi.
Tối nay gặp lại, nàng cũng bắt tôi kể cho nàng nghe những trận hành quân cho đến tháng Tư năm 1975 và những ngày tù tội sau đó.
Sharon chăm chú lắng tai nghe như một nữ sinh nghe thầy giáo giảng bài sử-địa trong một lớp trung học vậy.
Cuối cùng, trước khi từ giã tôi, Sharon cũng không quên ôm tôi hôn một nụ hôn rất ấm, rất đam mê.
Nàng nhìn bà xã tôi ngủ say nằm bên cạnh tôi, nàng nói:
- Chúc Anh Chị hạnh phúc!
Sharon chào tôi và hẹn sẽ gặp lại tại thủ đô Washington, D.C. trong dịp lễ “July Fourth”.
Tôi ôm nàng từ biệt... và tôi thức giấc ngay.
4. Ngày 4 tháng 7
“Ðến Hẹn Lại Lên” như tên một cuốn phim tôi đã xem bên Việt Nam rất nhiều năm rồi, tôi bay sang Washington, D.C. thăm bạn bè. Bạn bè rủ tôi đi viếng “ THE WALL” nơi có những bức tường bằng đá đen khắc danh tính 58,195 tử sĩ Hoa Kỳ hy sinh ở chiến trường Việt Nam.
Tôi rất xúc động khi đứng trước những bức tường tưởng niệm.
Biết danh tính người quân nhân gục ngã đầu tiên là Air Force T- Sergent Richard B. Fitzgibbon Jr. ngày 8 June 1956.
Và người quân nhân sau cùng gục ngã là Kenton Rena Turner, một Thủy Quân Lục Chiến 18 tuổi, tử trận ngày 15 May 1975, hai tuần lễ sau khi Sài Gòn thất thủ.
Tử sĩ trẻ tuổi nhất là Dan Bullock lúc 15 tuổi.
Tử sĩ cao niên nhất là Dwaine McGriff, 63 tuổi.
Trong số những tử sĩ ghi trên, có 44 quân nhân được ân thưởng hoặc truy tặng huy chương cao quý nhất của Hoa Kỳ là The Congress Medal of Honor của Quốc Hội Hoa Kỳ.
Tôi đi vòng vòng để xem và quan sát các du khách, thân nhân của tử sĩ đến đặt các bó hoa, những vật kỷ niệm hay cà bằng bút chì lên trên giấy tên của tử sĩ.
Ðến chỗ nữ quân nhân tử trận ở Việt Nam, mắt tôi bỗng mờ đi, những dòng lệ trào ra khi tôi nhìn dòng chữ khắc 1st Lieutenant SHARON ANN LANE nằm trên đó.
Tôi xúc động mạnh và thốt lên:
“Sharon yêu quý, Em ở đây… đúng như Em đã bảo Anh: “Em hiện nay ở Washington, D.C. mà vẫn còn ÐỘC THÂN!”
Ba ngày ở Washington, D.C. của tôi đều dành cho Nàng, với những bó hoa hồng đỏ tươi .
Tôi thì thầm cầu nguyện. Tôi đặt tay phải lên hàng chữ mà nghĩ rằng tôi đang bắt tay Sharon hay hơn nữa là đang ôm nàng. Một người bạn đã hy sinh tuổi thanh xuân đẹp nhất của mình để PHỤC VỤ TỔ QUỐC HOA-KỲ và Ðồng Minh VIỆT-NAM CỘNG-HÒA.
Sau đó, tôi đi tìm “ lý lịch và quân vụ của nàng”
“Trung Úy 1st Lieutenant Sharon Ann Lane bị tử thương trong khi phục vụ tại chiến trường Việt Nam. Cô phục vụ trong đơn vị 312th EVAC ở Chu Lai bởi hỏa tiễn Rocket của Việt Cộng ngày 8 June 1969.
Sharon sinh ra ở Canton, Ohio, tử thương lúc gần ngày kỷ niệm sinh nhật lần thứ 26 của Nàng.
Cô được “truy tặng” sau khi chết: Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Tuyên Dương Công Trạng trước toàn thể Quân Ðội VNCH. Về phía Quân Lực Hoa Kỳ, ngoài những huy chương khác, cô còn được ân thưởng một “Bronze Star for Heroism” ( huy chương Ngôi Sao Ðồng)
Năm 1970 tại Fitzsimmons Army Hospital ở Denver, nơi trung Úy Sharon phục vụ trước khi sang Việt-Nam tham chiến, có một phòng dành Tưởng Niệm tuyên dương công trạng của người nữ sĩ quan này.
Năm 1973 Aultman Hospital ở Canton, Ohio nơi mà Sharon theo học ngành Ðiều Dưỡng (Nursing School) xây một tượng đứng bằng đồng của cô Sharon Ann Lane. Danh sách 110 quân nhân tại địa phương hy sinh tại chiến trường Việt-Nam đặt phần dưới tượng đài này.
5. Tôi rất hãnh diện là có thời “We were soldiers” với Sharon và được quen biết Nàng khi nàng sang phục vụ cho quê hương tôi.
Tôi cũng hãnh diện, sau thời gian dài định cư tại Hoa Kỳ mà Nàng cũng còn nhớ tôi và đến thăm tôi trong một đêm để tiếp tục những câu chuyện và nụ hôn đam mê dù là trong mộng.
Tôi mong ước có ngày nào đó đến đặt bó hoa hồng thắm tươi, nơi phần mộ an nghỉ vĩnh cửu của Nàng.
Trong tim tôi sẽ dành một “ngăn rất nhỏ” để ghi lại hình ảnh và tình cảm của Nàng giống như những tượng đài mà Tổ Quốc Hoa Kỳ đã vinh danh Nàng.
Phương Duy
Theo https://vietvanmoi.fr/

Miếng vỏ chanh

Miếng vỏ chanh

1. Thuyền nằm trên giường nệm trải tấm drap trắng trong một dưỡng viện chữa trị bệnh tâm trí. Gương mặt nàng trông xanh xao và gầy hẳn.
Thời gian trôi qua, đôi lúc Thuyền chợt tỉnh táo, nàng vẫn nhớ Hoàng và trông mong một tin gì của Hoàng.
Nhìn ra bên ngoài qua khung cửa kính rộng nàng thấy bầu trời xanh xanh, từng đám mây trắng lững lờ trôi qua. Không gian im vắng. Thời gian như ngừng trôi. Mỗi sát-na trôi qua nàng thấy yếu dần. Nàng cảm nhận buồn buồn sống một mình hông có ai bên cạnh để Thuyền có thể chia xẻ nổi cô đơn .
Nàng đang chờ... , nhưng chờ cái gì...?
2. Hoàng và Thuyền yêu nhau khi nàng vừa bước vào tuổi đôi mươi. Ðây là mối tình đầu đời của Thuyền .
Nhiều dịp Thuyền nhìn Hoàng ngập ngừng khi chàng ...hình như muốn tỏ bày với nàng chuyện gì, nhưng lại ngừng lại.
Cho đến một buổi sáng mùa hè, nơi sân giảng đường của trường đại học văn khoa, Hoàng trao cho nàng một lá thư. Trao một cách vội vã...rồi bước đi thật nhanh.
Hoàng rời nơi chỗ Thuyền đứng cũng khá lâu rồi. Thuyền sực tỉnh và nàng mở thư ra đọc. Chỉ là một bài thơ Tình của Nguyên Sa mà Hoàng chép tặng nàng với nét chữ rất chân phương rất mỹ thuật. Chứng tỏ Hoàng đã mất nhiều thì giờ để “o bế” bài thơ này:
Mời
Tôi trân trọng mời em dự chuyến tàu tình ái.
Trong một phút, một giây cuộc hành trình sẽ mở.
Tôi mời em. Trân trọng mời em cùng đi, cùng khai mạc cuộc đời.
Tôi mời em vứt bỏ lại đằng sau những kinh thành
buồn bã với phong tục, thói lề, bạc vàng giả dối :
muốn làm người yêu thì phải đỗ Tú Tài.
Tôi mời em đi ngay. Không cần lấy vé.
Không phải đợi chờ vì diều kiện du hành là những
ngón tay lồng vào nhau và tâm hồn đừng đơn chiếc.
Còn nếu cần thì tôi sẽ làm người bán vé.
Nhưng tôi sẽ không quên làm người đồng hành
duy nhất để đưa em đi. Và tôi sẽ làm người lái tàu
để không ai dược dự phần vào câu chuyện đôi ta.
Vé có thể là những lá thư xanh. Tàu là gian nhà rất nhỏ. Nhưng mỗi ga chắc chắn sẽ là những chiếc hôn nồng cháy cuộc đời.
Tôi mời em đi ngay. Em có thể đến đây với đôi giày gót cao để tôi tưởng mình em vóc hạc. Nhưng nếu em vội vã thì em cứ đi chân không. Tôi sẽ bọc mười đầu ngón chân với tất cả linh hồn say đắm yêu em.
Em có thể tô môi son rất đỏ như khi đi dự một dạ yến tưng bừng. Em có thể để phấn hồng trên má, trên áo màu những vòng kim tuyến kết hoa đăng.
Nhưng nếu vội vàng mà em để vành môi tái nhợt, mái tóc bù tung. Thì có hại gì đâu em? Cuộc hành trình sẽ khởi vào đêm khuya. Tôi không nhìn thấy má hồng non vì còn mải mê với tất cả em tràn đầy trong đáy mắt.
Ttôi cũng đi rất vội vàng. Hành lý chỉ mang theo một vòng tay để ôm em, đôi mắt say sưa để thì thầm nói chuyện và đôi môi để kết hoa đám cưới trên vùng trán dịu hiền.
Em đến ngay đi.
Ðể tất cả gò má em ấp trên bàn tay tôi xóa hết những đường chỉ tay gian khổ.
Em đến ngay đi.
Em đến ngay cho cuộc hành trình được mở. Gió được nổi lên từ mái tóc phiêu bồng, thuyền dong thả từ đường môi óng ả.
và ngực căng buồm, mắt trông tìm vội vã:
Tôi đi vào kiều diễm của thân em.
(Nguyên Sa)
Ðọc bài thơ tình “Mời” hai lần, Thuyền bỏ lá thư vào cặp.
Thuyền suy nghĩ. Tại sao Hoàng yêu say đắm Thuyền đã lâu năm mà chàng không đủ can đảm nói với nàng một tiếng “yêu” hay tỏ bày một cữ chỉ như ôm hôn nàng hay nắm tay nàng? Nàng biết là Hoàng hiểu nàng cũng nhiều lần nàng biểu lộ, tuy kín đáo và e dè cố hữu của người con gái mới lớn, là nàng sẽ đồng tình với chàng dẫn dắt trong yêu đương.
Hoàng thông minh thì phải cảm nhận được. Không lẽ nàng phải “bày” cho chàng hay sao?
Ðây, tuy chỉ là một bài Thơ Tình của một vị giáo sư dạy triết học của Hoàng và Thuyền, nay Hoàng dùng để thay “lá thư tình thứ nhất” chàng muốn gửi cho nàng?
Thi sĩ Nguyên Sa sáng tác nhiều bài Thơ Tình rất hay mà ý tứ lãng mạn nhẹ nhàng. Sao Hoàng lại chọn bài thơ “Mời” này?
Thuyền đọc đi, đọc lại bài thơ để tìm hiểu ẩn ý của Hoàng.
*3. Sau lần trao bài thơ “Mời” đó, Hoàng lặn mất tiêu. Chàng không đến lớp, đến giảng đường nữa. Thuyền rất ngạc nhiên không hiểu tại sao. Nàng tự xét mình trong thời gian qua chưa làm gì để Hoàng có thể giận nàng và lánh xa nàng.
Cùng lứa tuổi với Hoàng nhiều người đang được gọi nhập ngũ vào trường sĩ quan trừ bị Thủ Ðức. Thuyền dọ hỏi mấy người bạn cùng lớp thì được biết hình như Hoàng cũng nhận giấy thông báo của nha động viên. Chẳng lẽ việc “động trời” này mà Hoàng lại không báo tin cho nàng biết dù Hoàng cho đó là tin không vui đi nữa. Nhưng đối với Thuyền trong thời buổi chiến tranh, thanh niên khỏe mạnh, có học thức thì nhập ngũ để phụng sự tổ quốc là một vinh dự, là một trách nhiệm. Trừ những thanh niên không đủ điều kiện học vấn và điều kiện sức khỏe hoặc thuộc loại “ con ông cháu cha” mà người đời gọi C.Ô.C.C tránh né cơm lính hoặc chạy chọt giỏi thì không kể.
Nếu hai người thật sự đã yêu nhau thì thời gian đến quân trường thăm người yêu đang thụ huấn cũng là thời gian ghi nhiều kỷ niệm đáng nhớ của hai người mới yêu nhau.
Tại sao Hoàng đi nhập ngũ mà lại phải dấu nàng? Trong những lần hai người đi chơi với nhau, Thuyền cũng thường kể cho Hoàng nghe về chuyện mấy cô bạn gái của nàng rất hãnh diện trở thành “người yêu của lính”. Tuy ai cũng hiểu lấy chồng lính cũng dễ thành sương phụ. Nhưng nếu nghĩ cho kỹ thì sát xuất này cũng không cao bằng tai nạn giao thông xẩy ra hàng ngày ngoài xã hội.
Hoàng chẳng để lại một dấu vết gì để Thuyền có thể theo dõi. Nàng đến những nơi mà ngày xưa hai người gặp nhau. Nàng hỏi dò những bạn bè quen thân hai người. Nàng lên quân trường võ khoa Thủ Ðức. Mọi nơi mà vẫn không tìm dấu vết gì của Hoàng. Chàng đi đâu?
Nàng buồn bã, không còn muốn đến trường học hành nữa. Nàng không ra khỏi nhà, hàng ngày chỉ quanh quẩn trong gian phòng ngủ hẹp. Nàng không thấy đói nên chẳng muốn ăn. Thuyền càng ngày trông xanh xao, hốc hát. Ðôi lúc nàng bật cười to, đôi lúc khác nàng khóc rưng rức. Trí nhớ của nàng cũng không còn minh mẫn nữa. Nàng đang thất tình. Chỉ mơ ước gặp lại Hoàng. Nàng mất ngủ. Trong lúc chợp mắt lại gặp toàn ác mộng.
Gia đình thấy sức khỏe nàng quá yếu nên phải đưa nàng vào dưỡng viện tâm thần. Hàng ngày những viên thuốc nho nhỏ màu xanh nhạt “Zoloft” rị suy nhược thần kinh giúp nàng an thần nhưng càng ngày đã làm nàng quên....quên hết mọi chuyện đã xẩy ra trước đây.
Bạn bè đến thăm, nàng đều hỏi tin tức của Hoàng. Ai cũng cố tìm giúp Thuyền, nhưng vẫn không biết gì hơn. Tâm bệnh này chỉ hy vọng chửa được khi nào Thuyền biết được đáp số vì sao tự nhiên Hoàng bỏ rơi nàng giữa lúc cuộc tình của hai người đang lũy tiến!
*4. Thủy đến bệnh viện thăm Thuyền. Nhìn người bạn gái ngày xưa xinh đẹp, vui tính, thông minh đang nằm trên giường bệnh. Thần sắc cũ không còn nữa như gặp một người khác hẳn.
“Ông xã của mình vừa gặp lại Hoàng ở một quán cà phê nhỏ...”
Nghe Thủy nói chưa dứt câu, như một sức mạnh vô hình nào thúc đẩy, Thuyền ngồi bật lên như lò xo, nàng hỏi dồn dập:
“Tại đâu, Thủy. Anh Hoàng còn sống à? Trong nhiều lần mình nằm mơ thấy anh ấy đã chết lâu rồi. Tối qua, mình còn thấy “ảnh” đứng đầu giường này xin lỗi mình và cho biết “ảnh” không còn nữa. “Ảnh” còn khẩn cầu mình hãy quên “ảnh” mà lập cuộc sống bình thường mới.”.
“Thuyền, anh Hoàng đang ở tận Ban-mê-thuột khi ông xã mình nghỉ dưỡng quân sau một cuộc hành quân dài ngày tại Vùng II Chiến Thuật này. Gặp anh Hoàng, ông xã mình liền trách bạn sao bỏ đi mà không nói gì với Thuyền để cho nàng phải nhớ nhung rồi lâm bệnh khá nặng từ ngày ấy đến nay. Thật tội nghiệp cho Thuyền!”.
Anh Hoàng rủ ông xã mình về nhà trọ của anh để thổ lộ tâm tình :
“Mình sinh ra trong một ngôi làng nhỏ ở quê miền Trung. Cha mẹ mình chỉ sinh ra có một trai để nối dõi tông đường. Trong tộc họ hiện nay chỉ còn cha mình là người trưởng tộc duy nhất, còn là năm bà “ o” chị em của cha mình. Vì thế khi mình mới thi đậu bằng trung học đệ nhất cấp, cha mẹ mình bắt buộc mình phải cưới vợ để có cháu nối dõi tông đường. Mình phải vâng lời vì nghĩ trong thời chiến tranh dai dẳng trên đất nước này trước sau gì mình cũng phải vào lính. Nay đây, mai đó không có ai phụng dưỡng mẹ cha. Vả lại đời lính sẽ gặp nhiều bất trắc đâu có biết trước được. Sau khi vợ mình sinh được một cháu trai, mình để vợ con sống với cha mẹ mình ở quê. Mình vào Nam sống ờ vùng lục tỉnh. Mình gặp nhiều cô bạn gái dễ thương và dễ tính nên mình đã lem nhem và khi nghe tin các cô này có “bầu” là mình chạy trốn. Như những vỏ chanh đã vắt xong nước thì vứt bỏ. Mình đã có vợ, có hôn thơ, hôn thú chính thức ... đâu còn cưới vợ thêm được nữa.Vì thế mình phải dời chỗ ở lên Sài gòn vừa đi làm vừa ghi danh học đại học. Mình gặp Thuyền , yêu Thuyền thật, và mình biết Thuyền cũng yêu mình, nhưng mình không thể phá hại đời nàng. Cũng may cho nàng, mình nhận giấy gọi động viên vào Thủ Ðức, mình trốn lính.... và tìm lên vùng cao nguyên để “yên thân”. Lên đây, mình lại đường xưa lối cũ, ăn quen, nhịn không quen, mình đang sống với một người tình mới. Với tình trạng không hợp lệ quân vụ của mình, mình không thể về lại Sài gòn thăm bạn bè hoặc về quê mình để thăm cha mẹ và vợ con mình. Mình đã tính sai nước cờ vì bản tính yếu hèn của người thanh niên trong thời ly loạn.”
Nghe Thủy kể xong, Thuyền bỗng buộc miệng:
“Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy,
Nghìn năm chưa dễ mấy ai quên!”
nhưng Thuyền bỗng cười to tiếng, khi nghĩ đến sự may mắn dành cho nàng lúc nàng chưa kịp cho Hoàng thực hiện:
“Tôi đi vào kiều diễm của thân em.” như gợi ý của người tình lãng mạn có máu sở khanh.
Phương Duy
Theo https://vietvanmoi.fr/

Bùi Giáng viết về thơ Tuệ Sỹ

Bùi Giáng viết về thơ Tuệ Sỹ Nhà thơ Tuệ Sỹ, tức Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ nguyên quán tỉnh Quảng Bình, sinh năm 1943 tại Paksé, Lào vừa từ ...