“Tai vách mạch ”… gì?
Có những câu tục ngữ, thành ngữ nghe rất quen. Nhiều người cùng sử dụng, thế nhưng mỗi người nói/ viết mỗi phách. Lại tủm tỉm cười, duyên dáng tệ ắt cho rằng tôi nói vống chứ gì? Thì đây, “Tai vách mạch dừng” hay “Tai vách mạch rừng”? Đâu nguyên bản, đâu “dị bản”? Lâu nay đã có nhiều cuộc tranh luận, hầu như không ai chịu ai. Vì lẽ đó, câu trả lời dứt khoát vẫn còn “lửng lơ con cá vàng”, mỗi người hiểu mỗi phách giữa “rừng” và “dừng”.
1. Có
ý kiến cho rằng câu này đã có từ Hán ngữ: “Tường bích hữu nhĩ” (Tường vách có
tai) hoặc “Tường hưu phùng, bích hữu nhĩ” (Tường có kẽ, vách có tai) để khẳng định
từ “dừng” là chính xác. Thế nào là “dừng”? “Việt Nam từ điển” (1931) giải
thích: “Dừng: Cùng nghĩa như chữ dứng: Rút dây động dứng. Dứng: Nan để làm cốt
vách. Cũng như là dứng”: Trát vách dứng. Dứng: Đan: Dứng phên”. Tất nhiên dừng/
dứng còn nghĩa khác nữa, nhưng không bàn ở đây. Chỉ bàn “dừng” trong quan hệ có
liên quan đến “vách”.
Do hiểu như thế này, câu
thơ trong “Truyện Kiều”, nhiều bản ghi là dừng: “Ở đây tai vách mạch dừng/ Thấy
ai người cũ cũng đừng nhìn chi”. Theo “Truyện Kiều chú giải” (NXB Diên Hồng –
1959) của Văn Hòe: “Mạch dừng là dừng có kẽ hở. Dừng là những thanh tre dựng
vào vách để trát vữa lên. Vách và dừng đều có tai để nghe, nói chỗ nào cũng có
người nghe ngóng tình hình, dù nói năng ở nơi chỗ vắng vẻ chỉ có dừng với vách
cũng sẽ người nghe biết” (tr.352).
Ngược lại cũng có không
ít bản Kiều, lại ghi: “Ở đây tai vách mạch rừng”. Bản của Bùi Kỷ và Trần Trọng
Kim (1925) khảo đính, còn dẫn câu “Phương ngôn: Rừng có mạch, vách có tai” như
một cách xác định chọn từ “rừng” là đúng. Bản của Đào Duy Anh cũng chọn “Ở đây
tai vách mạch rừng” và giải thích: “Mạch rừng: Khe hở của cái dừng, hay cái rừng,
một thứ vách làm bằng nứa đập bẹp” (tr.340). Rõ ràng, ở đây “dừng” cũng đồng
nghĩa với “rừng”. Tại sao “dừng” cũng là “rừng”? Hỏi như thế, bởi dừng và rừng
hoàn toàn khác nhau. Chỉ có thể chọn 1 chứ không thể “nước đôi”.
Như vậy, căn cứ vào các bản “Truyện
Kiều” – sở dĩ, chọn “Truyện Kiều” bởi đây là “thiên
thu tuyệt diệu từ” mà đại thi hào Nguyễn Du đã chứng minh sức sống và nội lực
phi thường của tiếng Việt, chúng ta vẫn chưa thể xác định Tố Như vận dụng câu tục
ngữ “Tai vách mạch dừng” hay “Tai vách mạch rừng”. Do
đó, từ bản “Liễu Văn đường”, bản cổ nhất khắc in năm 1866 đến nay, các bản Kiều
không thống nhất chọn giữa “rừng” và “dừng”.
2. Vậy,
các nhà làm tự điển đã ghi lại thế nào? “Tai vách mạch rừng” đã xuất hiện trong
“Đại Nam quốc âm tự vị” (1895), “Tự điển Việt – Pháp” (1898) của
J.F.M Génibrel… Riêng câu “Rừng có mạch, vách có tai” đã có trong “Từ
điển Latinh” (1887) của Taberd. Tuy nhiên, “Việt Nam từ điển” (1931)
ghi nhận “Tai vách mạch dừng”, về sau “Việt Nam từ điển” (1970)
của Lê Văn Đức cũng ghi “dừng”, nhưng “Việt Nam tân tự điển” (1965)
của Thanh Nghị, “Từ điển tiếng Việt” (1988) của Hoàng Phê ghi
“rừng”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) của Nguyễn Như Ý lại
ghi cả “dừng” lẫn “rừng”… Ta thấy, ngay cả từ điển cũng có sự khác biệt.
Sở dĩ như thế, còn bởi lời
ăn tiếng nói của dân tộc Việt thể hiện qua ca dao, tục ngữ, thành ngữ được truyền
miệng từ đời này qua đời khác, vì lẽ đó, có “dị bản” là lẽ tất nhiên. Có câu,
ta hiểu nội dung nhưng mỗi nơi ghi mỗi phách, giống từ này nhưng lại khác từ
kia. Một trong những lý do quan trọng vì trải theo năm tháng, có từ đã phai
nghĩa, người ta phải “cập nhật” bằng một từ khác mà họ cảm thấy dễ hiểu, “hợp
lý” hơn. Điều này có tính cách phổ biến, chứ không riêng gì câu “Tai vách mạch
dừng/ rừng”.
3. Để
xác định từ “dừng” hay “rừng”, trước hết cần phải khảo sát về “quy luật” có
tính phổ biến của việc hình thành câu tục ngữ, đó là vế “tiểu đối” trong một
câu. Vế đầu và vế kế tiếp cùng có từ liên quan nhau về sự vật/ sự việc để trở
thành câu hoàn chỉnh, thí dụ “Giòn cười tươi khóc”, “Chó treo mèo đậy”, “Tay
làm hàm nhai”, “Chùa đất Phật vàng”, “Dạ cá lòng chim”, “Tai to mặt lớn”, “Lên
thác xuống ghềnh”, “Cạn tàu ráo máng” v.v… Xin nhấn mạnh, từ sử dụng trong hai
“vế đối” có liên quan nhau, chứ không phải là một.
Vậy, nhìn từ “Tai vách mạch
dừng” ta thấy gì?
“Vách” và “dừng” lại là một,
cùng nghĩa: “Vách: Dừng bằng tre bằng nứa, ngoài trát đất để ngăn hay che chung
quanh nhà” – theo “Việt Nam tự điển” (1931). Rõ ràng vách/ cái vách cũng là dừng/
cái dừng đó thôi. Vậy, xét ra ở đây không có yếu tố “tiểu đối” giữa “vách” và
“dừng”. Muốn đối xứng với “vách” phải là một từ khác, đó chính là từ mà từ ngàn
xưa người Việt đã chọn: “rừng”.
Hơn nữa, “Tai vách mạch dừng”
chỉ mới phản ánh được một yếu tố là dù ở một nơi kín đáo như trong phòng được
che bằng vách/ dừng thì cũng giữ mồm giữ miệng vì bản thân vật dụng đó có tai,
ngụ ý câu chuyện đang bàn đó, người ngoài cũng có thể biết đến. Trong khi đó,
ta biết câu tục ngữ bao giờ cũng đạt đến sự khái quát, “không chỉ thế này mà
còn cả thế kia” nữa, ở đây, khi chọn “Tai vách mạch rừng” còn nhấn mạnh thêm
không chỉ nơi kín đáo, mà, ngay nơi vắng vẻ như ở ngoài rừng cũng không “mồm
mép tép nhảy” bởi rừng có mạch cũng như vách có tai.
4. Sở
dĩ lâu nay, chúng ta phân vân không biết nên chọn “dừng” hay “rừng” vì không giải
quyết được từ “mạch” trong “mạch rừng”. Do đó, người ta mới chọn “dừng/ mạch dừng”
nhằm giải thích: “dừng có kẽ hở”, “khe hở của cái dừng” nghe ra hết sức có lý,
chứ nếu chọn “mạch rừng” thì bó tay bởi rừng làm gì có mạch? Đúng là thế.
“Đại từ điển tiếng Việt”
(1999) cho biết “mạch” có cả thẩy 7 nghĩa: 1. Đường ống dẫn máu trong cơ thể: mạch
máu…; 2. Đường chảy ngầm dưới đất: giếng mạch; 3. Đường vữa giữa hai lớp gạch
khi xây: bắt mạch cho thẳng; 4. Đường lưỡi cưa ăn theo chiều dọc cây gỗ: cưa
vài mạch; 5. Hệ thống dây dẫn tiếp nối nhau để cho dòng điện đi qua thông suốt:
đóng mạch điện, ngắt mạch; 6. Đường, chuỗi tiếp nối liên tục: mạch than, mạch
quặng; 7. Hệ thống ý được phát triển liên tục, không đứt đoạn trong suy nghĩ,
diễn đạt: mạch suy nghĩ, mạch văn”.
Với các nghĩa này, từ “mạch” không thể đi chung với “rừng” để trở thành “mạch rừng”; hơn nữa, một khi “tai vách/ vách có tai” (để nghe), ắt “mạch” cũng phải có nghĩa tương tự thì mới “đối xứng” với vế trước trong cấu trúc của một câu tục ngữ.
Vậy mạch/ mạch rừng là
gì?
Xin thưa, mạch còn có
thêm nghĩa khác nữa, nay đã mất dấu vết, “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) cho biết
“Mạch: Chỉ chọc, tỏ vẻ, nói ra”, văn liệu: “Tai vách mạch rừng: Ấy là rừng có mạch,
vách có tai, phải cẩn thận lời nói”. Từ “mạch” theo nghĩa này, ta có thể tìm thấy
trong “tọc mạch”/ “thóc mách” là “Hay lục lạo rìm kiếm để biết chuyện bí mật của
người ta” – theo “Việt Nam tự điển” (1931).
Sự việc đến đây đã rõ
ràng như ban ngày, không còn phân vân gì nữa. Rằng, dù nơi hết sức kín đáo hoặc
nơi vắng vẻ cũng đều có “tai mắt” của thiên hạ cả đấy, hãy cẩn thận. Từ câu tục
ngữ này, tôi nhớ ngay sau ngày thống nhất đất nước (1975), ở Đà Nẵng có mấy câu
tuyên truyền của Ủy ban Quân quản thành phố gửi đến từng hộ gia đình và dán tại
các nơi công cộng:
Ở đây tai vách mạch rừng
Những chuyện công tác xin
đừng nói ra
Cho dù bão táp mưa sa
Khách lạ đến nhà phải báo
công an.
5. Trở
lại với ý kiến cho rằng, câu “Tai vách mạch rừng” là “phiên bản” của Hán ngữ:
“Tường bích hữu nhĩ” (Tường vách có tai) hoặc “Tường hưu phùng, bích hữu nhĩ”
(Tường có kẽ, vách có tai), liệu chừng có đúng? Tôi nghĩ cần phải xem lại. Đơn
giản, trên trái đất này, dân tộc nào cũng có những câu nói mang tính khái quát,
dù cùng nội dung nhưng cách diễn đạt khác nhau tùy theo tính cách, tâm lý dân tộc,
do đó, có những câu giống nhau nhưng không thể xác định “bản quyền” thuộc về
dân tộc nào. Người trước nhất chứng minh điều này là học giả Nguyễn Văn Tố viết
trên tạp chí Tri Tân số 44-7148, ra ngày 28-29 Juin 1944, trong bài “Tục ngữ ta
đối với tục ngữ Tàu và tục ngữ Tây”. Qua tập sách “Từ điển tục ngữ, thành ngữ,
danh ngôn Anh – Pháp – Việt” (NXB Khoa học Xã hội -2024) của Lê Ngọc Tú, ta còn
có thể tìm thấy rất nhiều câu cùng nội dung chỉ khác về cách diễn đạt.
Tất nhiên chúng ta không
loại trừ khả năng có lúc dân tộc này vay mượn “nguyên si” câu thành ngữ, tục ngữ
của dân tộc kia, nhưng cần phải xét trong trường hợp cụ thể. Cụ thể, “Tai vách
mạch rừng” là cách nói của người Việt, dấu vết rõ nét nhất, không thể chối cãi
là từ của tiếng Việt cổ đã sử dụng: “mạch/ mạch rừng”.
Vậy có câu hỏi rằng: Văn
bản Truyện Kiều cụ Nguyễn Du đã sử dụng từ “dừng” hay “rừng”? Rằng thưa, trước
đây các nhà nghiên cứu cho rằng bản Kiều có niên đại cổ nhất còn lưu giữ lại
đươc là bản “Liễu Văn đường”, khắc in năm 1871. Thế nhưng, thông tin này đã
thay đổi, cụ thể là năm 2004, nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân đã được Bảo tàng
Khu lưu niệm Nguyễn Du photocopy tặng cho bản “Liễu Văn đường”, khắc in năm
1866. Như vậy, đến thời điểm này, đây là bản Kiều cổ nhất đã được ông Nguyễn Quảng
Tuân phiên âm, khảo dị và chú giải (NXB Văn Học – 2004). Về câu tục ngữ đang
xét, theo bản này: “Ở đây tai vách mạch rừng”.
Thêm chứng cứ này, từ bản Kiều cổ nhất, ta thêm yên tâm khi chọn “rừng”.
22/5/2024
Lê Minh Quốc
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét