Viết về phụ nữ và chiến tranh như một phương thức gián đoạn huyền thoại
Bàn về văn học, Jean-Luc
Nancy thừa nhận đây là loại hình nghệ thuật có liên quan đến huyền thoại nhưng
tác động tới cộng đồng theo cách khác huyền thoại. Thay vì tiết lộ một thực tại
cuối cùng hoặc một tầm nhìn tổng thể, văn học “tiết lộ điều không thể tiết lộ”[1],
và điều không thể tiết lộ đó làm nên sự gián đoạn của cộng đồng từng được hình
dung như là thực thể thống nhất.
Từ góc nhìn này, câu chuyện về phụ nữ và chiến tranh trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều đã làm gián đoạn huyền thoại cộng đồng khi nhà văn chia sẻ những bi kịch số phận cá nhân. Qua đó, bạn đọc nhận ra rằng, tình huống chiến tranh đã khiến quá nhiều phụ nữ Việt Nam phải chịu đựng những thương tổn lớn ở mọi chặng khác nhau trong một đời người.
Jean-Luc Nancy cho rằng,
bản chất của huyền thoại là toàn trị vì huyền thoại “tạo ra một cộng đồng có xu
hướng đồng hóa mọi thứ vào trong tổng thể của nó”[2]. Trong khi đó,
luôn luôn có những khoảng im lặng, những vùng không gian sẽ đi ngược lại sự hợp
nhất hay tính toàn thể của cộng đồng. Trong “Bên ô cửa những toa tàu thời chiến”,
Nguyễn Quang Thiều chỉ ra một khoảng lặng, đó là nỗi đau tinh thần tan hoang mà
rất nhiều người phụ nữ Việt Nam đã phải gánh chịu trong và sau chiến tranh. Có
bao nhiêu người con trai ra trận thì (gần như) có bấy nhiêu người mẹ khóc mong
con, bấy nhiêu người vợ khóc mong chồng. Có những nỗi chờ mong khắc khoải đến
hóa thành điên dại:
“Ở ga Tía, thuộc huyện
Thường Tín của Hà Nội mở rộng bây giờ, người ta thường thấy một người đàn bà mắc
bệnh tâm thần. Ngày ngày bà lang thang trên sân ga. Cứ mỗi khi có một chuyến
tàu dừng lại, bà lại hỏi những hành khách xem có ai thấy thằng Đức con bà đâu
không? Đó là một người lính đã xa mẹ mình năm 18 tuổi đi vào mặt trận”[3].
Người mẹ ấy vì thương nhớ
con mình mà trở thành một phụ nữ tâm thần. Người phụ nữ tâm thần ấy gần như
quên tất cả mọi điều nhưng có một điều bà không bao giờ nguôi quên: ngày con
trai bà bước lên tàu đi vào mặt trận và vĩnh viễn không trở về. Đó là một số phận,
một nỗi đau mà Nguyễn Quang Thiều tận chứng trên quê hương mình, đó cũng là đại
diện cho hàng trăm ngàn số phận, trăm ngàn nỗi đau của những người mẹ khác ở khắp
các miền quê trên dải đất hình chữ S. “Có hàng trăm ngàn bà mẹ sau 35 năm chiến
tranh kết thúc vẫn giật mình khi nghe tiếng còi tàu chạy qua cánh đồng làng
mình. Và những bà mẹ ấy vẫn mơ một ngày, đứa con bé bỏng của mình bước xuống
tàu đi qua cánh đồng trở về nhà trong buổi hoàng hôn”[4]. Đất nước
yên tiếng súng, nhưng nỗi đau của bao người mẹ mất con thì không khi nào yên lắng.
Hình ảnh những chuyến tàu, trong ngữ cảnh này, trở thành một biểu tượng. Nó gợi
nhắc nỗi ám ảnh về sự chia lìa, mất mát – một thứ chứng tích đau thương mà chiến
tranh để lại cho dân tộc Việt Nam.
Ở lời tựa cuốn Phụ
nữ và người đọc chiến tranh[5], Jennifer Turpin chỉ ra rằng chiến
tranh ảnh hưởng đến phụ nữ theo những cách khác với đàn ông. Ngay cả khi phụ nữ
tham dự vào chiến tranh với tư cách một người lính thì kinh nghiệm chiến trường
của hai giới vẫn không hề giống nhau. Bởi lẽ, tình huống xung đột vĩ mô này vận
hành theo những luật định vốn không dành cho nữ giới. Đây cũng là lí do mà nhà
văn Belarus Svetlana Alexievich đã đặt tên cho cuốn sách nổi tiếng của bà
là Chiến tranh không có một gương mặt phụ nữ. Đó là cách tác giả
truyền đi một thông điệp: diễn ngôn về chiến tranh thường xuyên được biểu đạt bằng
tiếng nói của đông đảo nam giới, và vì thế, giọng nam trở thành giọng đại diện
về chiến tranh. Trong quán tính ấy, tiếng nói của nữ giới dễ bị khúc xạ từ lăng
kính nam giới trung tâm. Những nữ cựu binh khi được Svetlana Alexievich kích hoạt
ký ức đã thừa nhận: sau buổi tuyển quân, người phụ nữ bước vào với bím tóc có
đuôi, áo dài, giày ban, rồi bước ra với tóc cắt lởm chởm kiểu đàn ông, áo varơi
và ủng lính lớn hơn chân họ 5 số. Hết phụ nữ, chỉ còn lính. Trở lại với các tác
phẩm của Nguyễn Quang Thiều, có thể thấy nhà văn không tái hiện hình ảnh người
phụ nữ trong vai một người lính chiến đấu ngoài mặt trận mà mô tả họ ở không
gian hậu phương. Tuy nhiên, giống như người phụ nữ ra trận, người phụ nữ chốn hậu
phương cũng rơi vào tình huống “không được là phụ nữ” dù theo một cách khác. Họ
phải nén lại, phải quên đi những nhu cầu bản năng giới tính. Nguyễn Quang Thiều
mô tả:
“Những người đàn bà góa bụa
làng tôi – những ví dụ – chân không giày không dép. Họ tránh con đường dẫn đến
những đêm trăng. Bầu vú họ mệt mỏi nằm ngoẹo đầu và trở nên nghễnh ngãng, không
còn nghe được tiếng gọi đàn ông nồng mùi thuốc lào và ruộng bùn ngai ngái,
trong những đêm gió từng đôi quấn nhau qua vườn hổn hển”[6].
Tái hiện chân dung người
đàn bà, Nguyễn Quang Thiều lựa chọn một chi tiết vốn được hình dung như là đại
diện của tính nữ: bầu vú. Nhưng ở đây, hình ảnh bầu vú không được mô tả như một
dấu hiệu cho thấy sức hấp dẫn giới tính, không mang chút dấu vết nào của những
bầu vú “gió núi thổi mát rượi”, mà ngược lại, là minh chứng của sự héo hon, tàn
tạ, rã rời qua trạng thái “mệt mỏi”, qua hình dáng “ngoẹo đầu”, qua phản ứng
“nghễnh ngãng” – phản ứng thất bại khi đón nhận những tác động thanh âm mà ở
đây cụ thể là “tiếng gọi đàn ông”. Đó là một tình thế quái dị của chiến tranh,
tình thế đẩy những con người sinh ra để trở thành phụ nữ lại không được là phụ
nữ. Và với tình thế quái dị này, nhà văn cho thấy cách người phụ nữ hiện diện
trong chiến tranh. Họ không có mặt trực tiếp trên chiến trường nhưng lại bị chiến
tranh thay đổi vĩnh viễn vai trò giới tính của mình.
Trong văn học chiến
tranh, lịch sử và kinh nghiệm nữ giới vốn ít khi xuất hiện ở vị trí trung tâm.
Thực tế này có thể xuất phát từ một quan niệm rằng, người phụ nữ đang ở “nhà”
và được an toàn chứ không phải ở “chiến trường” và không có trải nghiệm đau
thương về chiến tranh như những nam quân nhân trực tiếp chiến đấu. Tuy nhiên, lịch
sử cũng đã cho thấy: có nhiều hơn một cách mà con người bị tổn thương bởi chiến
tranh. Và rõ ràng, những người được coi là không tham chiến đều có trải nghiệm
đau thương của riêng họ. Ở “Hai người đàn bà xóm Trại”, Nguyễn Quang Thiều
trình hiện cách nhìn cuộc chiến qua lịch sử của những người phụ nữ. Từ góc nhìn
của nhân vật khác trong truyện kể – góc nhìn bên ngoài, sự tồn tại của hai người
đàn bà bên bờ sông Đáy bị trượt về phía tách biệt đời sống cộng đồng người: “Mẹ
Phấn nó bảo tết năm nay đón hai cụ vào nhà nó ăn Tết. Nó bảo hai cụ sống ngoài
bãi như ma ấy”[7]. Nhưng từ góc nhìn của chính người đàn bà, cái vỏ
sống lặng lẽ “như ma” ấy lại bọc chứa bên trong nó muôn vàn lớp sóng ký ức chỉ
trực cuộn lên, đau thắt: “Bà lão Mật […] từ từ ngồi xuống nhìn dòng sông trong
đêm. Nơi đây, mấy chục năm về trước bà đã tiễn chồng theo bộ đội sang sông. Và
chính nơi đây, bà đã tiễn Bấc đi trong lần người lính ghé qua nhà không gặp vợ
mình”[8].
Ở đây, không gian người
đàn bà thuộc về là không gian bến sông, nơi họ ngày ngày phải đối mặt với ký ức
về những cuộc chia tay biền biệt. Không gian này gợi liên tưởng về một trường
ký hiệu đã trở thành biểu tượng trong văn hóa Việt Nam: bến sông gắn với bản
tính thủy chung đợi chờ của người phụ nữ. Nhưng cũng từ không gian này, Nguyễn
Quang Thiều hé lộ một bi kịch khác trong đời sống của người đàn bà thôn quê: bi
kịch trốn chạy những ẩn ức giới ngấm ngầm mà mãnh liệt. Ẩn ức đó lách qua vùng
kiểm duyệt của lí trí để hiện lộ trong giấc mơ của bà cụ Mật. Trong mơ, bà cụ Mật
thấy người lính trở về không phải là Ngữ, chồng bà, mà là Bấc, chồng bà cụ Ân:
“Khoảng canh tư thì Bấc
khoác ba – lô lên đường. Mật tiễn Bấc lên đến mặt đê. Bỗng Mật ôm lấy Bấc và
khóc nấc lên.
‘Anh Bấc ơi! Em thương chị
Ân quá. Em thương anh hu… hu… và thương cả thân em nữa. Nếu anh Ngữ về được một
lần thì em đỡ khổ, đỡ ân hận biết bao. Anh Bấc ơi, sao em không phải là chị Ân,
sao anh không phải là anh Ngữ, hả anh?”[9].
Nội dung giấc mơ này có
thể được giải mã từ một tình huống thực tế trớ trêu là Bấc đã từng một lần trở
về nhưng không gặp được Ân mà chỉ gặp Mật. Và trong mơ, Mật một lần nữa tiễn
người trai lên đường – là Bấc, không phải Ngữ. Ở tầng sâu vô thức, giấc mơ như
là sự phản ứng trước một truyền thống vốn tồn tại lâu đời trong cộng đồng: truyền
thống người phụ nữ bị lệ thuộc vào các quy chuẩn đạo đức xã hội. Họ phải đáp ứng
nhiều tiêu chí được coi như là hiện thân của giá trị. Trong đó, quan niệm về
chính chuyên tiết hạnh đặt ra những đòi hỏi vô cùng khắt khe. Với cơ chế tập
nhiễm nam quyền, bản thân người phụ nữ cũng tự khuôn mình vào các chuẩn mực đạo
đức nghiêm ngặt. Ngay trong “Hai người đàn bà xóm Trại”, khi Mật kể cho Ân nghe
giấc mơ về sự hoài thai, Ân đã nhắc nhở Mật và cũng là tự nhắc nhở chính mình:
“Có chuyện gì thì tôi và cô cứ là bỏ cái xóm bãi này mà lên rừng”[10].
Chiến tranh đã buộc người đàn bà hậu phương đi qua những tháng năm thanh xuân
trong vò võ cô độc. Đạo đức xã hội một lần nữa trở thành áp lực vô hình buộc họ
phải kìm nén những ham muốn về thể xác. Hai người phụ nữ trong câu chuyện của
Nguyễn Quang Thiều đã lựa chọn một lối sống khắc kỷ ở không gian xóm bãi chật hẹp
bên bờ sông Đáy. Nhưng cảm xúc của con người, đặc biệt là nỗi khao khát bản
năng vô thức vốn có những mạch ngầm nằm ngoài sự kiểm soát của lí trí. Nguyễn
Quang Thiều đã khơi trúng cái mạch ngầm ấy để cho thấy đời sống tâm lí đàn bà đầy
ẩn ức. Trong giấc mơ của bà cụ Mật, người lính trở về là một người đàn ông khác
không phải chồng bà. Đó là diễn biến tâm lí thành thực nhất thuộc vùng vô thức
bất tuân lí trí. Hóa ra, bà cụ Ân và bà cụ Mật đã cùng mong ngóng một người đàn
ông. Dù niềm mong ngóng ấy, với bà cụ Mật, không phải là tiếng nói được dễ dàng
thừa nhận/ chấp nhận, thậm chí bởi chính bà. Nhưng xét cho cùng, hé lộ vùng ẩn ức
nén sâu chôn chặt chính là cách nhà văn từ chối thánh hóa con người để chia sẻ
tận cùng những mảng khuất lấp nhân bản của cảm xúc người. Và từ đó, câu chuyện
của Nguyễn Quang Thiều như là sự diễn giải luận điểm của Nancy rằng: “Khi huyền
thoại bị gián đoạn, văn học một lần nữa kể cho chúng ta nghe về lịch sử. Nhưng
nó không thuần túy là một truyện kể – không lớn cũng không nhỏ – mà còn là một
kiến tạo: lịch sử đang được kiến tạo”[11]. Gián đoạn huyền thoại về
người đàn bà hậu phương trong vai những người vợ, người mẹ như là “thánh nữ” hy
sinh cho chiến thắng, Nguyễn Quang Thiều kiến tạo một tiểu tự sự về chân dung
phụ nữ như một “con người”.
Bên cạnh bi kịch chôn vùi
những khát khao tính dục bản năng, người đàn bà đi qua chiến tranh phải chịu đựng
một vết quất đau đớn khác là bị tước đoạt thiên chức làm mẹ. Xét cho cùng,
không được làm mẹ là nỗi bất hạnh của tất cả phụ nữ nói chung. Nhưng trong hoàn
cảnh chiến tranh thì tình huống ấy có nguy cơ xảy đến với người phụ nữ nhiều
hơn. Nói về tác động của chiến tranh tại Việt Nam lên trải nghiệm của phụ nữ Mỹ,
Carol Acton lưu ý rằng: “khuôn mẫu điển hình về người phụ nữ của những ngôi nhà
đẹp, những người chồng và những đứa con yêu thương”[12] đã bị
phá hủy. Trong “Hai người đàn bà xóm Trại”, những người vợ chờ chồng cũng rơi
vào tình thế tương tự. Họ không có niềm hạnh phúc sinh ra những đứa trẻ – biểu
tượng cho sự tiếp nối tới tương lai mà phải sống một đời trong vò võ đơn chiếc.
Nguyễn Quang Thiều để cho nhân vật nữ trực tiếp lên tiếng về nỗi khát khao làm
mẹ. Ân nói: “Giá có đứa con… thì họ đi đến bao giờ cũng được”[13]. Đứa
con sẽ trở thành niềm an ủi người đàn bà trong chờ đợi. Mật kể cho Ân nghe giấc
mơ thấy chồng trở về, và “ngay đêm đó em mơ em có mang. Lúc tỉnh dậy sờ bụng cứ
thấy khang khác”[14]. Ảo giác về sự “khang khác” bắt nguồn từ niềm
khao khát bản năng đàn bà: khao khát được nuôi dưỡng trong mình một mầm sống,
khao khát được sinh con. Nhưng sự thực là, hai người đàn bà đã cùng nhau sống một
cuộc đời lầm lũi cô độc và đã an ủi lẫn nhau bằng chính sự lầm lũi cô độc của
mình.
So sánh điểm khác biệt
trong lối viết nam và lối viết nữ về đề tài chiến tranh, tác giả Lê Hương Thủy
lưu ý rằng: “Các chị thường chú trọng khai thác “giới tính” của mình, đi vào
khai thác những mảnh đời thầm lặng, những số phận cá biệt, những đau thương mất
mát người phụ nữ phải gánh chịu trong chiến tranh. Cảm quan tinh tế, bén nhạy của
người phụ nữ giúp họ viết “thật” về giới mình hơn”[15]. Trong trường
hợp các tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều, những nông nỗi thiệt thòi, những đớn
đau bản thể nữ được phản ánh từ góc nhìn của một nhà văn nam. Nhưng không vì thế
mà tác phẩm thiếu đi sự tinh tế, sâu sắc, ngay cả khi nhà văn chạm vào vùng khuất
lấp trong đời sống nữ giới, vùng của niềm khao khát bản năng tự nhiên. Sự đồng
cảm trước những số phận chịu nhiều thương tổn do chiến tranh đã xóa nhòa ranh
giới phân định lối viết nam hay lối viết nữ. Cao hơn việc phân định giới là tiếng
nói của tình yêu thương, của sự sẻ chia mà nhà văn dành cho những cảnh đời khổ
đau. Điều này tạo nên điểm gặp gỡ giữa sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều với quan
điểm của nhà phê bình sinh thái hậu thuộc địa Donelle Dreese khi bà nói về sự kết
nối giữa cá nhân và cộng đồng của họ. Theo Donelle Dreese, quan tâm nhiều hơn đến
người khác “có nghĩa là nhận ra vị trí của một người giữa vô số sinh thể cùng tồn
tại trong vũ trụ và chịu một số trách nhiệm đối với hạnh phúc của họ. Nếu một
người không an toàn, sẽ không ai được an toàn”[16]. Nguyễn Quang Thiều
cho thấy việc “chịu trách nhiệm đối với hạnh phúc” của một người khác bằng cách
sử dụng hành vi viết như là một động thái “chạm”, “chia sẻ”, “kiến tạo” chân
dung phụ nữ Việt Nam:
“Thời gian cứ lặng lẽ… lặng
lẽ chảy vào chiếc bình gốm cổ khổng lồ. Những người đàn bà góa bụa làng tôi như
những con cào cào nâu cứ khuất dần… khuất dần sau cỏ. Tôi như kẻ mắc bệnh tâm
thần đứng khóc. Tôi khóc vì những VÍ DỤ đã vĩnh viễn ra đi.
Và đến khi tôi không còn
gì để đếm. Những người đàn bà góa bụa làng tôi từ sau cỏ trở về. Họ đi trên ánh
trăng gồ ghề dọc con đường phơi đầy rơm rạ tháng Mười. Mái tóc đẫm hương lá bưởi
của họ chảy lênh láng trong trăng. Bầu vú họ nghiêng về phía ngọn lửa giới tính
vừa nhóm lên đâu đó. Sau bước chân họ, sau tiếng kẹt cửa trong khuya là bát
hát. Bài hát vút lên xuyên qua đỉnh đầu những người mắc bệnh tâm thần mất ngủ
nhìn trăng. Những người mắc bệnh tâm thần mất ngủ nhìn trăng mở cửa và bước ra
khỏi nhà. Họ cùng bài hát kia đi mãi, đi mãi và đi mãi, về nơi không có những
VÍ DỤ bao giờ”[17].
Phép ẩn dụ dựng nên cấu
trúc thời gian vũ trụ để chuyển tải giấc mơ thiêng về một sự tái sinh kì vĩ.
Hai chiều vận động tương phản được đặt cạnh nhau: những người đàn bà góa bụa
khuất dần sau cỏ và những người đàn bà góa bụa từ sau cỏ trở về. Họ trở về
trong một diện mạo khác, không còn những mỏi mệt, khuyết thiếu, tiêu biến mà
ngược lại, chỉ có ánh sáng của sức sống, của sự tròn đầy, của những vẻ đẹp giới
tính phục sinh. Hình dung về hành trình “đi mãi, đi mãi và đi mãi, về nơi không
có những VÍ DỤ bao giờ” là cách nhà văn chuyển tải ước vọng nhân bản, nhân đạo,
nhân văn: ước vọng về một đời sống hòa bình, cho hiện tại, cho tương lai, cho cộng
đồng và cho mỗi cá nhân.
Benedict Anderson đề xuất hình dung về dân tộc như một cộng đồng hài hòa, thuần nhất, được hình thành trên cơ sở tương đồng về gia đình, về bộ lạc hay sự chia sẻ cùng nhau một lịch sử chung, một thể chế văn hóa giống nhau. Tuy nhiên, cũng chính văn học lại cho thấy khả năng phân mảnh huyền thoại khi nó tiết lộ một sự khuyết thiếu, một giới hạn làm cho nền tảng huyền thoại của cộng đồng bị gián đoạn. Theo cách này, Nguyễn Quang Thiều tạo nên các diễn ngôn tiểu tự sự về thân phận cá nhân, về nông nỗi bất hạnh riêng tư của người phụ nữ trong tình huống chiến tranh và cả những tháng năm hậu chiến. Việc đọc các tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều viết về chiến tranh và phụ nữ đồng thời như là sự cộng hưởng với quan điểm của Jean-Luc Nancy rằng: cả huyền thoại và văn học đều vận hành trong một tác phẩm, và văn học làm gián đoạn huyền thoại thông qua việc tác phẩm không bao giờ trọn vẹn mà luôn luôn luân chuyển, luôn luôn chia sẻ. Tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều một lần nữa cho thấy chiều kích của văn chương, nói như Jean-Luc Nancy, là vô tận – theo nghĩa chủ động, bởi nó là văn chương.
Chú thích:
[1] Jean-Luc
Nancy. 1991. The Inoperative Community. University of Minnesota
Press. Minneapolis. tr.63.
[2] Jean-Luc
Nancy. 1991. The Inoperative Community. Bđd. tr.57.
[3] Nguyễn
Quang Thiều. 2012. Có một kẻ rời bỏ thành phố. Nxb Hội Nhà văn.
tr.50.
[4] Nguyễn
Quang Thiều. 2012. Có một kẻ rời bỏ thành phố. Bđd. tr.50.
[5] Lorentzen
Lois Ann & Turpin Jennifer E. 1998. The Women and War Reader.
New York: New York University Press.
[6] Nguyễn
Quang Thiều. 2015. Sự mất ngủ của lửa. Nxb Hội Nhà văn. tr.49.
[7] Nguyễn
Quang Thiều. 2011. Nguyễn Quang Thiều Tác phẩm chọn lọc. Nxb Hội
Nhà văn. tr.148.
[8] Nguyễn
Quang Thiều. 2011. Nguyễn Quang Thiều Tác phẩm chọn lọc. Bđd.
tr.149.
[9] Nguyễn
Quang Thiều. 2011. Nguyễn Quang Thiều Tác phẩm chọn lọc. Bđd.
tr.153-154.
[10] Nguyễn
Quang Thiều. 2011. Nguyễn Quang Thiều Tác phẩm chọn lọc. Bđd.
tr.144.
[11] Jean-Luc
Nancy. 1991. The Inoperative Community. Bđd. tr.69.
[12] Carol
Acton. 2001. “Dangerous Daughters: American Nurses and Gender Identity in World
War One and Vietnam”. War, Literature, and the Arts: an International
Journal of the Humanities. 13/1&2(2001): 87-113. Web. 31 January 2014.
tr.96.
[13] Nguyễn
Quang Thiều. 2011. Nguyễn Quang Thiều Tác phẩm chọn lọc. Bđd.
tr.143.
[14]
Nguyễn Quang Thiều. 2011. Nguyễn Quang Thiều Tác phẩm chọn lọc.
Bđd. tr.144.
[15] Lê
Hương Thủy. 2020. “Chiến tranh nhìn từ truyện ngắn của một số cây bút nữ”, http://vannghequandoi.com.vn/.
Dẫn theo “Gặp gỡ một số nhà văn nữ”. Tạp chí Tác phẩm mới. 10/1991.
[16] Donelle
Dreese. 2002. Ecocriticism: Creating Self and Place in Environmental
and American Indian Literatures. American Indian Studies. Vol 15. New York:
Peter Lang Publishing. tr.116.
[17] Nguyễn Quang Thiều. 2015. Sự mất ngủ của lửa. Bđd. tr.50.
7/6/2024
Đặng Thị Bích Hồng
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét