Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2017

Đặc điểm từ vựng về sông nước trong tiếng Việt ở Nam Bộ

Đặc điểm từ vựng về sông nước 
trong tiếng Việt ở Nam Bộ
1. Dẫn nhập
Sông nước là đặc điểm nổi bật của môi trường tự nhiên ở Nam bộ. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có viết: "Ở Gia Định, sông suối dọc ngang chằng chịt", "Đất Gia Định nhiều sông, kênh, cù lao, và bãi cát...", "Ở Gia Định, chỗ nào cũng có ghe thuyền hoặc dùng thuyền làm nhà ở, hoặc để đi chơi, đi thăm người thân, chở gạo củi, buôn bán,..." [1]. Cũng theo một số tài liệu xưa, nhữngkinh đào Nam bộ có tổng chiều dài khoảng 2.500km và các sông rạch tự nhiên khoảng 2.400km. Lê Bá Thảo ghi nhận "có 4.900km kênh đào. Như vậy, chỉ với khoảng 40.000km2, tổng chiều dài kênh rạch ở Nam bộ là gần 5000km" [7].
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là quê hương của “văn minh sông rạch”, “văn minh miệt vườn” khá độc đáo. Bờ sông không đắp đê, lại bị cắt từng chặng ở ngã ba, ngã tư, muốn qua kinh rạch nhỏ thì phải bắt cầu, thường làm bằng một số loại cây sẵn có như tre, dừa, gòn, mù u,... Cầu tre còn được gọi là cầu khỉ (người qua cầu phải lanh lẹ tay chân như con khỉ chuyền trên cây), cầu có nhịp giữa với khúc tre rời, đề phòng trường hợp ghe có mui quá cao, hoặc có cột buồm thì giở khúc tre ở giữa lên cao, ghe qua rồi thì hạ khúc tre xuống.
Trong công cuộc khai phá và xây dựng miền đất mới của cư dân người Việt ở Nam bộ, dưới tác động của thiên nhiên, con người càng có ý thức cải tạo thiên nhiên. Lập vườn là công việc lao động đầy sáng tạo của những người mở đất. Khác với vườn ở đồng bằng sông Hồng, vườn ở ĐBSCL rộng lớn, ở từng nơi vườn thường tập trung lại với nhau thành những không gian vườn tược rộng lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao. “Huê lợi vườn nhiều gấp 50 lần huê lợi ruộng” và riêng tỉnh Bến Tre thì “trong tổng số diện tích 154.606 mẫu tây, có 16.500 mẫu vườn tược” [3, tr.74]. Sự ra đời của miệt vườn không chỉ có ý nghĩa vật chất mà còn có ý nghĩa văn hóa, thể hiện khả năng ứng xử phù hợp của con người đối với thiên nhiên.  
"Đồng bằng sông Cửu Long đã phần nào tái hiện cái môi trường sông nước thuở ban đầu của đồng bằng sông Hồng. Do đó, ở một khía cạnh nào đó mà nói, lịch sử chinh phục ĐBSCL của người Việt khi họ vào đây cũng phần nào tái lập lại lịch sử khai thác đồng bằng sông Hồng ở ngoài kia. Đó vẫn là cuộc đấu tranh muôn thuở giữa hai yếu tố vừa tương khắc lại vừa tương sinh là "Đất" và "Nước". Có điều ở ĐBSCL thiên nhiên ưu đãi hơn nên đã kìm hãm thế nước bằng sự điều hòa nhờ hai "hồ nước" tự nhiên là Biển Hồ ở Campuchia và Đồng Tháp Mười ở Việt Nam: khi mùa mưa lũ thì nước sông Mêkông một phần chảy ngược vào Biển Hồ, phần khác thì chảy tràn vào Đồng Tháp Mười, một cánh đồng có diện tích gần 700.000 héc ta, nằm tại 3 tỉnh Long An, Đồng Tháp và Tiền Giang hiện nay, biến vùng này thành một vùng ngập nước. Vào mùa khô, nước lại từ Biển Hồ và Đồng Tháp Mười chảy ra hệ thống sông ngòi kinh rạch ngang dọc đảm bảo nước cho ĐBSCL. Ngoài ra, hàng ngày, khi thủy triều dâng lên, đẩy nước sông chảy ngược vào đất liền theo các kinh rạch tưới tắm cho các khu vườn trồng cây ăn quả. Khi triều hạ, nước sông rút theo còn để lại nhiều tôm cá" [9].           
"Nói tới vùng ĐBSCL, có lẽ hình ảnh dòng sông, con rạch với con nước lớn ròng, có những xuồng ghe xuôi ngược, những cầu tre, những hàng dừa nước, những đám lục bình; những cây mắm, cây đước, cây sú, cây vẹt, cây bần,...; những bông lục bình tim tím, những bông điên điển vàng, những bông so đũa trắng; những sân chim, vườn cò... là những ấn tượng đồng quê sông nước, riêng có của đồng bằng châu thổ" [10, tr. 94].
Sông nước có vai trò rất quan trọng trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần đối với người ĐBSCL. Dòng sông là đường giao thông huyết mạch, là nơi giao thương, lập chợ, cư dân có tập quán sinh sống trên sông, cất nhà ven sông (dân gian có câu: "nhất cận thị, nhị cận giang" theo suy nghĩ của chúng tôi có lẽ cũng xuất phát từ tập quán này). Dòng sông chở nặng phù sa, mang nguồn nước tưới tiêu cho ruộng vườn, mang lại nhiều sản vật dồi dào, đặc biệt là các loài tôm cá.
Theo cách lí giải của ngôn ngữ học hiện đại, "trong quá trình tương tác với tự nhiên, chính nhà đạo học đã dựa vào một bình diện trải nghiệm này để nhận thức một bình diện khác. Nói rõ hơn, thông qua những thuộc tính có tính chất cụ thể, hữu hình của sông nước để khám phá ra đặc tính có tính chất trừu tượng, khó cảm nhận của dân tộc mình. Người ta gọi đó là loại trải nghiệm tự nhiên (natural kinds of experience).Chúng là sản phẩm của một quá trình trải nghiệm thuộc bản chất của con người, trước hết là ngay chính cơ thể chúng ta, thứ đến là sự tương tác giữa con người với môi trường chung quanh và cuối cùng là tương tác giữa con người với con người dưới ảnh hưởng của một nền văn hóa nhất định. Trong quá trình ấy, một mặt, con người sử dụng tất cả những trải nghiệm của chính mình, nhất là những nghiệm thân (embodiment) để phóng chiếu, mặt khác dùng những thuộc tính của hiện thực để ngược chiếu lại chính mình và môi trường xã hội mình đang sống" [5,tr. 2].
2. Đặc điểm từ vựng về sông nước vùng Nam bộ            
Theo Lý Tùng Hiếu "một trong những đặc trưng về từ vựng của tiếng Việt Nam bộ gắn liền với thiên nhiên và văn hóa nơi đây chính là sự phong phú đến mức cực đại về các từ ngữ biểu thị đồng bằng sông nước. Từ vựng về sông nước nơi đây cũng bao gồm các nhóm từ ngữ như ở đồng bằng Bắc bộ nhưng số lượng dồi dào hơn hẳn, vừa phản ánh môi trường sinh thái đặc thù vừa phản ánh kinh nghiệm, nhận thức sâu sắc của cư dân Nam bộ về môi trường sinh thái đó" [2, tr. 53].    
Dưới góc nhìn của ngôn ngữ học, chúng tôi tiến hành thống kê và phân loại từ vựng về sông nước (kể cả các từ chỉ thực thể có liên quan đến sông nước) vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bước đầu, chúng tôi nhận thấy có bảy đặc điểm sau đây:
2.1. Trường từ vựng chỉ động vật sông nước
Nam bộ là vùng đất khí hậu nhiệt đới với lượng mưa dồi dào, nền độ ẩm luôn ổn định. Nam bộ còn có hệ thống kinh rạch chằng chịt, diện tích rừng ngập mặn rộng lớn. Với những điều kiện thuận lợi như vậy, vùng đất này từ lâu đã trở thành môi trường sống lý tưởng cho các loài động vật, nhất là động vật sông nước.
Định danh khái quát
Định danh cụ thể
CÁ
cá ba sa, cá bã trầu, cá bảy màu, cá bổi, cá bổi phệt, cá bông, cá bông lao, cá bống cát, cá bống chẻm, cá bống dừa, cá bống mú, cá bống sao, cá bống thệ, cá bống tượng, cá bống xệ, cá buôi, cá chạch, cá chạch lấu, cá chẻm, cá chép, cá chim, cá chốt, cá cóc, cá cờm, cá cửng, cá dải áo, cá dại, cá dảnh, cá dầy, cá duồng, cá đen, cá đối, cá he, cá hẻn, cá heo (nược), cá hô, cá hồng, cá hú, cá hường, cá kèo, cá khoai, cá kìm, cá lạt, cá lẹp, cá leo, cá lia thia, cá lìm kìm, cá linh, cá liệt, cá lò tho, cá lóc, cá lòng tong, cá lòng tong bay, cá lù đù, cá lưỡi trâu, cá mè vinh, cá mề gà, cá móc, cá ngác, cá ngừ, cá nhái, cá nhám, cá nhạn, cá nhét, cá nóc mít, cá nước, cá ông (cá Voi), cá phé, cá phướn, cá rô, cá rô biển, cá rô dăm, cá rô đồng, cá rô mề, cá rô phi, cá rựa, cá sặt, cá sặt rằn, cá sấu, cá tai tượng, cá tai tượng da beo, cá tèn, cá thác lác (cá nàng hai), cá thu, cá tra, cá tràu, cá tràu cửng, cá tràu dô, cá trắng, cá trèn, cá trê, cá trê dừa, cá trê đỉa, cá trê nọng, cá trê trắng, cá trê vàng, cá vồ (cá dồ), cá vồ đém, cá vược, cá xà, cá xủ.
TÔM
tôm bạc, tôm càng, tôm càng xanh, tôm châm, tôm chì, tôm chấu, tôm chông, tôm chục, tôm cỏ, tôm cù, tôm đá, tôm đất, tôm gậy, tôm gọng, tom hùm, tôm kẹt, tôm lóng, tôm lông, tôm lứa, tôm lửa, tôm mắt tre, tôm quỵt, tôm rằn, tôm rồng, tôm sắt, tôm sú, tôm thẻ, tôm tít, tôm tích, tôm tu, tôm vang.
TÉP
tép bạc, tép bầu, tép chì, tép chong, tép đất, tép mòng, tép rong (tép chấu)
CUA
 cua biển, cua càng, cua đá, cua đinh, cua đồng, cua đỉnh, cua ghê, cua kình, cua lột, cua lửa, cua sữa, cua tối trời.
CHIM
chim ăn giun, chim bánh ít, chim bẹ cát, chim bìm bịp lớn, chim bồ các, chim bông lao mày trắng, chim bồng bồng, chim bồng chanh tai xanh, chim cà kheo, chim cáo già, chim chài chài, chim chàng bè, chim chàng nghịch, chim chắn chó, chim chằng bè, chim chiền chiện lớn, chim cổ rắn, chim cốc đen, chim cốc đế, chim cốc đế nhỏ, chim cồng cộc (còng cọc), chim cu cườm, chim cu xanh đầu xám, chim cú lợn lưng xám, chim cúm núm, chim cuốc ngựa trắng, chim dang sen (dang ốc), chim dẻ quạt, chim diệc lửa, chim diệc xám, chim diều trắng, chim dòng dọc, chim dô nách, chim điên điển, chim già đãi, chim heo, chim học trò, chim hít cô, chim hút mật họng tím, chim két, chim kên kên, chim khoang cổ, chim lá rụng, chim lắc nước, chim le nâu, chim le le, chim liếu điếu, chim mỏ cau, chim mỏ nhét, chim nhạn bụng trắng, chim nhãn ốc, chim nhát bông, chim nhát hoa, chim óc cau, chim quạch quạch, chim rẻ choắt, chim rẻ quạt java, chim rồng rộc, chim sả cá, chim sáo mỏ ngà, chim sáo nâu, chim se sẻ, chim sẻ khoang cổ, chim séo, chim thầy bùa, chim thuyền chài, chim tìm vịt, chim trau trảu (sa sả), chim trảu ngực nâu, chim tu hú, chim ụt, chim vôi.
CÒ
cò bợ, cò bợ java, cò hương, cò lửa lùng, cò mau, cò ngàng nhỏ, cò quắm, cò quắm đầu đen, cò ráng, cò ruồi, cò trắng, cò xanh.
RẮN
rắn bông súng, rắn hổ, rắn hổ đất, rắn hổ hành, rắn hổ mang, rắn hổ mây, rắn mái dầm, rắn hổ ngựa, rắn lục, rắn nẹp (cạp) nia, rắn nước,  rắn ri cá, rắn ri voi, rắn trung.
ỐC
ốc biển, ốc bu, ốc bu vàng, ốc dừa, ốc đắng, ốc gạo, ốc gấm, ốc ghi, ốc lác, ốc lồi, ốc len, ốc mọi, ốc móng tay.
LOẠI KHÁC
ba khía, ba ba, bù tọt (bồ tọt), cáy, cóc, còng còng, chem chép, chàng hiu, cóc bịch, còng lửa, dã tràng, đĩa, đĩa mén, đĩa trâu, ếch, ễnh ương, hà, hến, lươn, lịch, loăng quăng, ma da, mực, ngao, nghêu, ngỗng, nhái, nhái bầu, nòng nọc, rùa, rết, sò, thòi lòi, thòi lòi biển, thòi lòi vi, vịt,...
Về nguồn gốc, trường từ vựng chỉ động vật sông nước chủ yếu có nguồn gốc thuần Việt. Bên cạnh đó, cũng có một bộ phận có nguồn gốc vay mượn từ nhiều ngôn ngữ khác: Hán Việt (cá xà, cá bống tượng, tôm bạc, rắn lục), Khmer (cá linh - trây linh, cá lò tho -trây cần thô, cá hô - trây hô,... và một số ngôn ngữ khác: cá ba sa, cò bợ java, chim rẻ quạt java...
2.2. Trường từ vựng chỉ thực vật sông nước
Nam bộ nói chung, ĐBSCL nói riêng là vùng đất "sông ngòi kinh rạch chằng chịt", là "văn minh sông nước miệt vườn". Dòng sông dường như chảy qua trước cửa mỗi nhà. Theo Trần Ngọc Thêm, "ở tiểu vùng phù sa ngọt không chỉ nghề làm vườn mà cả nghề trồng lúa và các nghề khác cũng đều có điều kiện phát triển thuận lợi. Tiểu vùng Phù sa ngọt cũng là nơi mang dấu ấn đậm nét của văn minh sông nước" [8, tr. 111]. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tri nhận về sông nước trong định danh từ ngữ chỉ thực vật sông nước của người dân nơi đây.  
Định danh
khái quát
Định danh cụ thể
LÚA
lúa ba sao, lúa đen mỡ, lúa đuôi trâu, lúa ếch vàng, lúa gãy xe, lúa hiền, lúa ho so, lúa lạ, lúa lỡ, lúa ma, lúa muộn, lúa nàng hương, lúa nâu, lúa nổi, lúa ráng mây, lúa sớm, lúa tàu lai, lúa trắng lụa, lúa trắng lớn, lúa thơm, lúa trắng soi, lúa trắng tép, lúa xương rồng.
CÂY
cây bần, cây bình bát, cây bòng bòng, cây bồn bồn, cây chiếc, cây chùm rọng, cây cóc kèn, cây dừa nước, cây dừa xiêm, cây dương xỉ, cây đay, cây điên điển, cây đưng, cây đước, cây gạt nai, cây gáo, cây gừa, cây hẹ nước, cây keo, cây lá hẹ, cây lác, cây lùng, cây mái dầm, cây mắm, cây môn, cây năng, cây nga, cây nghễ, cây ô rô, cây quao, cây ráng, cây sậy, cây sen, cây sú, cây tra, cây tràm, cây trầu bà, cây trường sinh (cây trường sanh), cây vẹt, cây xà bông,...
CỎ
cỏ bắc, cỏ ngọt, cỏ nước mặn, cỏ xước, cỏ ống,...
RAU
rau bợ, rau cần, rau cần đước, rau chay, rau chóc, rau co, rau dừa, rau đắng, rau đắng biển, rau lang, rau má, rau mã đề, rau mác, rau muống, rau muốn biển, rau ngò om, rau ngổ, rau nhút, rau răm, rau trại,...
LOẠI KHÁC
ấu, bèo, bèo cám, bèo hoa dâu, bèo tai tượng, bông sen, bông súng, cù nèo (kèo nèo), giá, lá dứa, lục bình, rong biển, rong đá, rong đuôi chồn, rong nhớt, rong mền,...
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, đặc điểm từ vựng chỉ thực vật có liên quan đến sông nước được tri nhận bởi các yếu tố: nguồn gốc (lúa tàu lai, dừa xiêm), hình dáng(rong đuôi chồn, cây gạt nai, lúa đuôi trâu), tính chất (cỏ nước mặn, cỏ ngọt, rau đắng), màu sắc (lúa trắng lụa, lúa đen mỡ, lúa ếch vàng, lúa nâu),... và cách gọi tên khá lý thú theo kiểu "lúa hiền", "lúa nổi", "lúa ma" và có cả "lúa lạ" để chỉ loại lúa chưa có tên khoa học mà người Nam bộ "bí" không biết phải gọi bằng tên gì?   
2.3. Trường từ vựng chỉ địa hình sông nước
Ở Nam bộ, do điều kiện về mặt địa lý khá đặc thù đã tác động không nhỏ đến việc gọi tên địa hình sông nước nơi đây. Về địa hình, "nét nổi bật của Tây Nam bộ như một không gian địa lý liền kề liên tục nằm ở chỗ, đây là một đồng bằng phù sa ngọt lớn nhất nước do hệ thống sông Cửu Long bồi đắp. Với diện tích 40.518,5 km2, Tây Nam bộ được hình thành từ những trầm tích phù sa ngọt cổ, được bồi đắp dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển, kéo theo sự hình thành những giồng cát chạy dọc theo ven bờ biển"[8, tr. 69].Có thể thấy rõ nhất là địa hình tự nhiên và địa hình nhân tạo (cũng có khi là sự tổng hợp cả hai yếu tố tự nhiên và nhân tạo)     
Địa hình tự nhiên
ao, bãi, bàu, bờ, bung, bùng binh, búng, búng tàu, bưng, bưng biền, bưng trấp, cấp, cồn, cù lao, cửa, doi, đảo, đầm, đìa, gành, gảnh, giồng, gò, hào, hòn, hồ, khe, lạch, láng, lung, lòng chảo, mé, mô, mũi, mũi tàu, mương, ngãnh, ngánh, ngọn, rãnh, rạch, rọc, sông, suối, tắt, trũng, vịnh, vàm, xáng, vọi, vũng, xẻo,...
Địa hình nhân tạo
bờ bao, bờ hồ, bờ kè, bờ mẫu, hầm, đập, kinh, vuông,...
Địa hình vừa tự nhiên 
vừa nhân tạo
mương, ao,...  
2.4. Trường từ vựng chỉ phương tiện trên sông nước
Ở Tây Nam bộ, đa phần nhà nào cũng có ghe xuồng riêng, không nhiều thì ít, có nhà đến đôi ba chiếc. Ghe xuồng ở đây được ví như "đôi chân của người dân thành phố". Người ta đi chợ bằng đò, thăm viếng nhau bằng ghe xuồng. Vùng đất này có hẵn dịch vụđò ngang (chở khách qua sông) và đò dọc (chở khách đi huyện, tỉnh hay xa hơn).
Định danh khái quát
Định danh cụ thể
GHE
ghe bầu, ghe bầu nóc, ghe bầu lớn (ghe trường đà), ghe bất mân,ghe be, ghe bè, ghe buôn, ghe cà vom, ghe cá, ghe cào,ghe Cần Đước, ghe câu, ghe cửa, ghe chài (ghe bóc chài),ghe chài lớn, ghe chài lồng, ghe chạp phô, ghe chèo, ghechiến, ghe cui, ghe diệu, ghe đò, ghe đục, ghe đuôi tôm then trỗ, ghe guộc, ghe lê, ghe giàn, ghe hàng, ghe hàng bổ, ghe hát, ghe hầu, ghe neo, ghe máy, ghe máy đuôi tôm, ghe khoái, ghe lái ngoài,ghe lồng (ghe bản lồng), ghe lườn, ghe nan, ghe ngo, ghe rổi, ghe sam bu, ghe tam bản, ghe tam sắc, ghe thương hồ, ghe tôm, ghe trẹt, ghe son, ghe sai, ghe vạch (ghe mỏ vạch), ghe vẹm, ghe vợi, ghe xệp.
XUỒNG
xuồng ba lá, xuồng bộng, xuồng be chín, xuồng be mười, xuồng be tám, xuồng cui,...
LOẠI KHÁC
bè cá, bè thủy lục, cầu dừa, cầu bắc, cầu đúc, cầu khỉ, cầu mống, cầu nước, cầu thang, cầu tiêu, cầu tiêu hầm, cầu tiêu máy, cầu tre, cầu ván, dớn, đòn dài, lù, lú, máy đuôi tôm, nò, ống trúm, tàu đò, tắc ráng, trái nổi, trại đáy, trại ghe, trẹt, vỏ lãi, xáng, xáng cạp, xáng múc (xúc), xáng thổi,...
Sự phân loại nêu trên trước hết dựa vào các tiêu chí khác nhau như cách thức di chuyển, nguồn gốc, hình dáng, cấu tạo, chức năng, và cả tính chất điển dạng của từng tiểu loại, cũng rất khác nhau. Có thể nói rằng, trong số các định danh vừa nêu, có sự xuất hiện hình thức định danh nhiều yếu tố vay mượn của người Khmer và người Hoa (Triều Châu) như ghe cà vom, ghe chạp phô, ghe chài (tuk pokchay hay pok chay), ghe sam bu(sampou)...
2.5. Trường từ vựng chỉ hoạt động của con người trên sông nước
- Hoạt động của con người trên mặt nước: bẻ bánh lái, bẻ bờ, bẻ cua, bẹo, cập bờ, cập bến, cào, cắm câu, cặm, câu giăng, câu nhấp, câu thược, câu thả, câu rê, câu viền, chài, chạy đồng, chạy nò, chèo mái cuốc, chèo mái dài, chèo mái một, dậm cù, đánh cá, đạp triều, đặt chà, đậu, đóng đáy, giăng lưới, hàng đáy, kéo trúm, khẳm, khẳm đừ, khẳm lừ,lộp, lú, lưới chụp, kéo lưới, vó, lui ghe, neo, nò, nò-ngo, nhổ sào, rà cá, thả cá, trết lái, trết mũi,...
- Hoạt động của con người trong nước: cà hớp, cà hớp cà hớp, cà hụp, cà hụp cà hụp, cà ngoi, cà ngoi cà ngoi, chết chìm, chết hụt, chết ngộp, chết sình, chết trôi, lặn, lặn đất, lặn hụp, lặn sâu, lội, lội qua lội lại, lội ruộng, mò, thả trôi, thả ngữa, trầm mình, trầm nghịch, trầm thủy, trấn nước, xổ phèn,...
2.6. Lối diễn đạt đậm chất sông nước đồng bằng
Ngôn ngữ học tri nhận không xem xét con người tách khỏi môi trường xung quanh, tách khỏi người khác mà như một chủ thể tương tác. Trên cơ sở đó, những tổng thể trải nghiệm được hình thành và các chủng loại trải nghiệm này không chỉ luôn được mở rộng mà còn thường xuyên được kiểm tra thông qua sự nhận hiểu của các thành viên trong một cộng đồng diễn ngôn. Hãy quan sát cách diễn đạt sau đây của người dân vùng sông nước đồng bằng: anh em cột chèo, ăn như xáng múc mần như lục bình trôi, bắt cá hai tay, cá chốt rỉa, cá độ, cá cược, cá rô rỉa, cái đầu sặt rằn, câu độ, câu giờ, cầu khỉ, chụp ếch, chìm xuồng, chơi tới bến, chốt qua sông, chữa lửa (khi uống rượu, bia), có giang, cù lao, cười mắm chưng, dậy sóng, đâm xuồng bể, đi cầu, đổ lọp, đứng giữa hai dòng nước, ghe chài, hạng cá kèo, húp nước mắm, húp nước lèo, lảng như cái đìa, làm mắm, lặn hụp, (uống) lấy ngót (uống ly rượu đầu tiên sau buổi nhậu hôm trước), lép như con tép, lớn thuyền lớn sóng, mất cả chì lẫn chài, mò tôm, mũi dại lái chịu đòn, ngồi kiểu nước lụt, nhấm môi cắn lưỡi, nhấp môi, nhậu, neo, ngâm tôm, phá mồi, rể điên điển, rộng (rọng), quậy, quậy nát nước, quắc cần câu, râu cá chốt, thả con tép bắt con tôm, tép lặn tép lội, tép rong tép riu, thòi lòi đeo bập dừa, trút lọp, sắc kẹo, vô khẳm, vuốt đuôi lươn, vượt cạn, xuồng ba lá, lên bờ xuống ruộng, đổ hầm nhảy, thừa nước đục thả câu, đục nước béo cò, còn nước còn tát, còn tát còn nước, nước tới chưn (chân) mới nhảy, tức nước vỡ bờ, lươn chê lịch, ốm như khô cá lẹp, chân ướt chân ráo, chân lắm tay bùn, ướt như chuột lột, té giếng (sông, hồ, ao, mương, đìa...), lẹ như con tép, câm như hến, ngang như cua, dai như đĩa, chim sa cá lặn, chậm như rùa, dính như sam, đi biển mồ côi, hàng tôm hàng cá, nước mắt cá sấu, giận cá chém thớt, cá mè một lứa, như cá gặp nước, cá chép hóa rồng, mò kim đáy biển, cá lớn nuốt cá bé, cá ăn kiến kiến ăn cá, nước mặn đồng chua, nước đổ đầu vịt, nước đổ lá môn (khoai...), tát nước vào mặt, đi bắt cá hôi (dơ bẩn, sình lấy), hai lúa, tát nước theo mưa,...
Dễ nhận thấy rằng, trong tiếng Việt toàn dân, khi gọi ai đó là hũ chìm, với năng lực tri nhận bình thường, không khó khi giải mã nó bởi nó đã trở thành ngữ nghĩa phổ biến của nhiều vùng. Tuy nhiên, khi nói Anh Hai là chiếc xuồng ba lá, anh Ba là chiếc ghe chài, nếu không phải là người Nam bộ, người ĐBSCL với một tri thức nền xuồng ba lá là người có tửu lượng thấp, uống ít, mau say nhưng mau tỉnh, chẳng hạn: Gặp xuồng ba lá nên có mấy li mà đã ngủ rồi [11, tr. 1834]; ghe chài là người có tửu lượng cao, uống nhiều, lâu say, lâu tỉnh thì để hiểu được chúng là điều không phải dễ dàng.
2.7. Định danh nước trong tiếng Việt Nam bộ
2.7.1. Mô hình: X + nước
ao nước, ấm nước, bát nước, bàu nước, bình nước (bình thủy nước), bụm nước, ca nước, cân nước, cầu nước, chai nước, chậu nước, chén nước, chĩnh nước, cốc nước, đầm nước, đập nước, đìa nước, gảnh nước, gáo nước, gàu nước, giếng nước, hầm nước, hồ nước, hớp nước, húp nước, hứng nước, khe nước, lạch nước, lọ nước, lu nước, ly nước, lít nước, mương nước, ngãnh nước, ngánh nước, ngụm nước, nồi nước, ngòi nước, phá nước, phích nước, rạch nước, ruộng nước, sàn nước, thau nước, thìa nước (muỗng nước), tô nước, trũng nước, vũng nước,...
(1) Vật chứa liên quan gián tiếp đến bộ phận cơ thể con người: tay (bụm nước), miệng (hớp nước, húp nước, hứng nước, ngụm nước),...
(2) Vật chứa là dụng cụ nhân tạo: ấm nước, bát nước, bình nước, chai nước, chĩnh nước, gàu nước, lít nước, lu nước, phích nước, thìa nước,...
(3) Vật chứa là sự vật tự nhiên hay nhân tạo: ao nước, hồ nước, ngòi nước, vũng nước, ruộng nước, rạch nước, mương nước, giếng nước...  
2.7.2. Mô hình: nước + X
nước ấm, nước bạc, nước biển, nước bò, nước bọt, nước bổi, nước cam, nước cạn, nước cái, nước cất, nước cốt, nước chế, nước chanh, nước chạy, nước chảy, nước chân, nước chè, nước chụp, nước chưn, nước chìm, nước cốt, nước cơm, nước cụt, nước dão, nước đá bào, nước đầy, nước đái, nước đục, nước đổ, nước đồng, nước đứng, nước giựt, nước kém, nước kênh, nước kiệt, nước lạnh, nước lăn, nước lèo, nước lên, nước lềnh, nước lợ, nước lạt, nước lớn, nước lụt, nước lưng, nước mát, nước màu, nước mắm, nước mặn, nước mía, nước muối, nước đường, nước tương, nước mắt, nước miếng, nước mũi, nước nạp, nước ngập, nước ngược, nước nhảy, nước nhỉ, nước nhửng, nước nóng, nước nội, nước nổi, nước nếp, nước phông tên, nước quay, nước rạch, nước rặc, nước rằm, nước rẻo, nước ròng, nước rọt, nước rông, nước rút, nước sát, nước sặt, nước son, nước sông, nước suối, nước súp, nước thánh, nước trong, nước trôi, nước thốt nốt, nước ương, nước vận, nước xiết, nước xoáy, nước xuôi, nước xuống, nước vãi, nước jave,...
(1) X là bộ phận cơ thể của con người hoặc có liên quan đến chúng:nước mắt, nước mũi, nước miếng, nước bọt, nước đái, nước ối, nước vãi,...
(2) X là các từ ngữ chỉ sở thuộc:nước suối, nước sông, nước kênh, nước rạch, nước rẻo, nước đồng,...
(3) X là hoạt động, trạng thái, tính chất của nguồn nước:
- nước chảy, nước lên, nước xuống, nước nổi, nước chìm, nước đứng, nước nhảy, nước lăn, nước bò, nước trôi,...
- nước mát, nước lạnh, nước ấm, nước nóng, nước đầy, nước lưng, nước cạn, nước đục, nước trong...
- nước javel, nước mềm, nước cất, nước muối, nước súp,...
- nước ngọt, nước mặn, nước lợ, nước lạt, nước chè, nước hai...
- nước bạc, nước chế, nước lũ, nước cam, nước trà, nước chanh, nước mía, nước thốt nốt...
Bên cạnh cách tri nhận theo mô thức: vật chứa (nhân tạo hay tự nhiên) + vật được chứa là nước, kiểu như: lu nước, lạch nước, ghè nước,... cho thấy tính thích nghi của nước và một số hoạt động, tính chất, trạng thái của nó như: lên/xuống, đầy/vơi, đục/trong, lớn/ròng, nổi/chìm, bơi/lặn/lội, ngụp... làm miền nguồn để phóng chiếu lên miền đích trong nhiều phạm trù tinh thần rất phổ biến trong tiếng Việt. Rõ ràng, người Nam bộ phân loại nước rất chi tiết và có phần khác lạ hơn so với người dân ở các vùng miền khác của đất nước. Bên cạnh 117 kết hợp quen thuộc [4], để định danh loại chất lỏng không màu, không mùi tồn tại trong tự nhiên, theo khảo sát trong quyển Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, có trên 30 ngữ đoạn định danh nước có nét riêng của phương ngữ.
Trong hai mô hình vừa trình bày ở trên, chúng tôi đặc biệt chú ý mô hình 2 (X+nước), đây là cách phóng chiếu theo thang độ nhân tính (human scale) để nhận diện nước, kiểu như: nước đứng, nước nằm, nước bò, nước nhảy, nước lăn, nước chạy, nước ươn, nước quạu, nước cà tửng,... như cách nói khá phổ biến của người Nam bộ hiện nay. Theo Trịnh Sâm, "điều này có thể giải thích được, sông nước vốn là một thực thể liên tục, nhưng để đạt được một mục đích nào đó, con người phải áp đặt một ranh giới nhân tạo làm cho chúng phân lập, riêng lẻ như chính sự hiện hữu của con người cá thể trên một mặt phẳng. Và trong trường hợp này, không gì thích hợp hơn là dùng trải nghiệm về đặc điểm, về hoạt động của chính con người chúng ta gán cho sông nước" [6,tr. 6].  
3. Kết luận
Nam bộ là vùng đất sông nước, ruộng vườn. Sông rạch chằng chịt gắn bó bao đời với sinh hoạt, chi phối đời sống kinh tế cũng như đời sống tinh thần của con người. Khảo sát Đặc điểm từ vựng về sông nước trong tiếng Việt Nam bộ, chúng tôi muốn nhấn mạnh tác động của thiên nhiên đến môi trường sống, đến tính cách, tâm lý của con người và tính cách, tâm lý đó sẽ ảnh hưởng đến cách sử dụng ngôn từ đặc trưng của mỗi vùng, miền.
Ở Nam bộ, hầu hết đều có con sông chảy qua trước cửa mỗi nhà. Do vậy, số từ ngữ chỉ những sự vật, hiện tượng liên quan đến sông nước vì vậy vô cùng phong phú, là nguồn đóng góp của phương ngữ Nam bộ vào ngôn ngữ toàn dân, chẳng hạn như: rạch, xẻo, con lươn, bùng binh, tắt, rỏng, vàm, lung, láng, bưng, bàu, cù lao, cồn, giồng…; nước lớn, nước ròng, nước rông, nước nổi, nước kém, nước đứng, nước nhửng, nước ương…; ghe tam bản, xuồng ba lá, vỏ lãi, tắc ráng… Những từ ngữ này không chỉ đi vào lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân vùng đất này, là yếu tố cấu tạo của nhiều địa danh mà còn phản ánh bối cảnh sáng tác của những câu hò, điệu hát dân gian và là mảnh đất tốt để các văn nghệ sĩ khai thác trong các sáng tác của mình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lý Việt Dũng, Huỳnh Văn Tới (2004), Gia Định Thành thông chí, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai.
2. Lý Tùng Hiếu (2010), Ngôn ngữ văn hóa vùng đất Sài Gòn và Nam bộ, Nxb. Tổng hợp Tp.HCM.
3. Sơn Nam (1992), Văn minh miệt vườn, Nxb. Văn hóa.
4. Nguyễn Thị Thanh Phượng (1997), Tìm hiểu từ ngữ sông nước trong đời sống văn hóa Việt Nam, Trường ĐH KHXH và NV Tp.HCM.
5. Trịnh Sâm (2011), Miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 12.
6. Trịnh Sâm (2013), Miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Nam bộ, Tạp chí Khoa học (KHXH và NV), Trường ĐHSP Tp.HCM, Số 46.
7. Lê Bá Thảo (1989), Thiên nhiên Việt Nam, Nxb. Khoa học kỹ thuật.
8. Trần Ngọc Thêm (chủ biên), (2013), Văn hóa người Việt vùng Tây Nam bộ, Nxb. Văn hóa - Văn nghệ.
9. Đỗ Lai Thúy (2010), Đồng bằng sông Cửu Long: ứng xử với đất và nước, Kỷ yếu Hội thảo Văn hóa phi vật thể người Việt miền Tây Nam bộ.
10. Huỳnh Công Tín (2006), Cảm nhận bản sắc Nam bộ, Nxb. VHTT.
11. Huỳnh Công Tín (2010), Từ điển từ ngữ Nam bộ, Nxb. KHXH.
*Bài đã đăng Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 08/2014.
Tăng Tấn Lộc
Theo http://llc.tdu.edu.vn/



Lịch sử hình thành, con người và nếp sống Huế

Lịch sử hình thành, 
con người và nếp sống Huế 
Hoàng thành triều đại nhà Nguyễn
1. Lịch sử hình thành
Tuy có sự khác nhau giữa các nguồn sử liệu, song đã có nhiều ý kiến đồng tình với khẳng định vùng đất này trong những thế kỷ đầu Công Nguyên (CN) thuộc huyện Tượng Lâm quận Nhật Nam thời thuộc Hán.
Từ năm 192 sau CN vùng đất này thuộc địa bàn nước Lâm Ấp và sau đó là vương quốc Champa kéo dài gần 12 thế kỷ. Sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, biên giới Đại Việt mở rộng dần về phía Nam. Năm 1306, vua Trần Anh Tông gả Huyền Trân Công chúa cho Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô - Rí. Năm sau vua Trần cho đổi thành châu Thuận, châu Hóa và đặt chức quan cai trị. Thành Hóa châu (nằm cách Huế 9 km về phía hạ lưu sông Hương) là trị sở và trung tâm chính trị kinh tế hành chính và quân sự của châu Hóa. Sau hơn hai thế kỷ mở mang khai khẩn, đến giữa thế kỷ thứ XVI, lộ Thuận Hóa đã thành nơi "đô hội lớn của một phương". Năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ đến Kim Long là bước khởi đầu cho quá trình đô thị hóa trong lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Huế sau này. Hơn nửa thế kỷ sau, năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Thái lại dời phủ chính đến làng Thụy Lôi, đổi là PHÚ XUÂN, ở vị trí tây nam trong kinh thành Huế hiện nay, tiếp tục xây dựng và phát triển Phú Xuân thành một trung tâm đô thị phát đạt của xứ Đàng Trong. Chỉ trừ một thời gian ngắn (1712-1738) phủ chúa dời ra BÁC VỌNG, song khi Võ Vương lên ngôi lại cho dời phủ chính vào Phú Xuân nhưng dựng ở "bên tả phủ cũ", tức góc đông nam Kinh thành Huế hiện nay. Sự nguy nga bề thế của Đô thành Phú Xuân dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát đã được Lê Quý Đôn mô tả trong sách Phủ biên tạp lục năm 1776. Đó là một đô thị phát triển thịnh vượng trải dài hai bờ châu thổ Sông Hương, từ Kim Long - Dương Xuân đến Bao Vinh - Thanh Hà. Tiếp đó, Phú Xuân là kinh đô của nước Đại Việt thống nhất dưới triều Tây Sơn (1788-1801) và là kinh đô của nước Việt Nam gần 1,5 thế kỷ dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn (1802-1945).
Phu Vân Lâu
Nhưng Phú Xuân được thay bằng tên gọi HUẾ từ bao giờ?
Cho đến nay chưa có tư liệu nào chính xác để khẳng định thời điểm ra đời đầu tiên của danh xưng Huế. Chỉ biết rằng từ HUẾ đã xuất hiện rất sớm, muộn lắm cũng từ khi giáo sĩ A. De Rhodes (1591-1660) dùng từ KẺ HUẾ để gọi thủ phủ Kim Long của chúa Nguyễn. Từ đó dần dần KẺ HUẾ, rồi HUẾ được dùng để chỉ đô thị - thành phố, nơi tập trung sinh hoạt phồn vinh về kinh tế lẫn chính trị, quân sự, văn hóa, học thuật. Trong trường hợp này, Huế chỉ là một địa bàn lãnh thổ nhất định, có ranh giới cụ thể, có phân cấp quản lý hành chính rõ ràng, và qua mỗi thời một khác, khi thu hẹp, lúc mở rộng, chẳng hạn:
Ngày 20-10-1898, dụ của Vua Thành Thái lập thị xã Huế, ngày 30-8-1899 Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định chuẩn y đạo dụ và ngày 12-12-1929 được nâng thành thành phố Huế (địa giới hành chính chỉ gồm 9 phường nằm ngoài Kinh thành, từ phường đệ nhất đến phường đệ cửu, đến năm 1934 được sắp xếp thành 11 phường).
Sau Cách mạng Tháng Tám, thị xã Huế bao gồm cả khu vực nội ngoại thành, là tỉnh lỵ của Thừa Thiên.
Năm 1956 Ngô Đình Diệm ban hành dụ 37A cải tổ hành chính, Huế là thành phố (về sau là thị xã) ngang cấp với tỉnh Thừa Thiên nhưng tỉnh lỵ Thừa Thiên vẫn đặt tại Huế.
Sau năm 1975 Huế là tỉnh lỵ của tỉnh Bình Trị Thiên (cũ) gồm 18 phường, 22 xã.
Năm 1989 Thừa Thiên tách khỏi tỉnh Bình Trị Thiên, Huế là thành phố tỉnh lỵ của Thừa Thiên - Huế gồm 18 phường, 5 xã  và hiện nay là 24 phường, 3 xã.
Cổng ra vào thành
Song, dù là Thủ phủ - Đô thành - Kinh đô - Thị xã hay Thành phố thì Huế vẫn luôn luôn là một TRUNG TÂM quan trọng về nhiều mặt. Ngày nay Huế là thành phố Anh hùng, thành phố có hai Di sản thế giới, thành phố Trung tâm văn hóa du lịch, thành phố Festival; một trong những đô thị cấp quốc gia.
2. Con người và nếp sống
Vùng đất Huế là lợi địa của một thế kỷ rưỡi vương triều, đã xây đắp những giá trị tập truyền, hình thành những nếp gấp trong suy nghĩ, đời sống, phong cách ăn và mặc, nói năng, ứng xử...
Kinh đô Huế làm nảy sinh nơi người dân một phong cách mà người ta nương tình gọi là “đài các”, tức là một vẻ cao sang mơ hồ nào đó, nhưng cái đài các này không khu biệt trong vòng hoàng thành mà còn lan tỏa trong dân gian. Từ cái đài các ấy còn rẽ riêng một nét tinh mà người tại chỗ gọi là tính “đài đệ”, có nghĩa là một sự giữ kẽ, giữ ý, và luôn cả một tính cách mà người ta gọi là “đế đô”. Khi người mẹ mắng con gái “đừng có đế đô!” thì có nghĩa là đừng có đòi hỏi, đừng với cao, đừng học làm sang.
Cái tính “đài đệ” được thể hiện rộng rãi, tràn lan, chẳng hạn ở chiếc áo dài mà có lẽ Huế là nơi được mang mặc nhiều hơn cả. Cho đến những năm 1970, người nữ ở Huế ra khỏi nhà là mặc áo dài, kể cả chị tiểu thương ở chợ hoặc bà bán hàng rong. Thậm chí nhiều bà danh giá đi ngủ vẫn mặc luôn áo dài.
Thiếu nữ Huế thường là kín đáo, không bộc lộ tâm tình cho người khác biết, có khi là e ấp, cũng có khi là ỡm ờ. Trong hai câu thơ của Đông Hồ nhắc đến cô gái Huế: “Gió chiều vương áo nàng Tôn Nữ, quai lọng nghiêng vành chiếc nón thơ”, ta cảm thấy các món trang sức như tà áo, chiếc nón, bài thơ trong nón đều góp phần tạo nên nét duyên e ấp của “nàng Tôn Nữ” và nàng Tôn Nữ ở đây dùng để chỉ chung các thiếu nữ Huế. Một tác giả Pháp chấm phá dung nhan này như sau: “... Các cô gái Huế kiêu sa và dễ làm ra vẻ khinh khỉnh, họ là đám hậu sinh của các phi tần không bao giờ quên rằng một giọt máu thiên tử đang chảy truyền trong huyết quản của mình” (Jean Hougron, Soleil au ventre, trang 67).
Trong khi sông Hồng và sông Cửu Long đi vào địa lý và hiên ngang đi vào kinh tế, thì sông Hương êm đềm đi vào thơ nhạc. Văn hóa nghệ thuật là một cõi mênh mông, rất ít tính chất thực tế, nhưng làm đẹp cho đời, giống như bông hoa trong đời sống.
Sông Hương hiển nhiên như đóa hoa tô điểm cho thành phố. Không có con sông nào làm hao tốn giấy mực cho bằng sông Hương. Không có con sông nào làm tuôn trào suối nhạc cho bằng sông Hương. Và cũng chính nó là nguyên ủy cho sự ra đời của bao nhiêu hiệp hội ái hữu, đồng hương với nó ở trong nước cũng như ở hải ngoại.
Vẻ đẹp của sông Hương
Như ta vừa nói, sông Hương đã khơi nguồn cho nhiều suối thơ. Nó cắm được nhiều điểm lưu khách, nhiều bến sông hữu tình dễ neo thuyền. Một số lớn các chúa, các vua, các vương, các hoàng thân công nữ đã chấm bút vào nghiên thơ. Các thi xã, hội thơ, thi đàn nối tiếp nhau ra đời.
Về lĩnh vực thơ của các tôn thất, hãy khoan nói đến chất lượng có cao như lời khen tặng của vua Tự Đức chăng, hay là ngược lại, có thấp như lời phê nghiêm khắc của Cao Bá Quát, ta chỉ cần ghi nhận rằng thi ca trở thành một sinh hoạt tinh thần rộng khắp, cho già trẻ trai gái, cho mọi nghề, mọi nhà, như thể là một sinh hoạt bình thường hằng ngày, giống như người ta hít thở không khí vậy.
Tuy nhiên, cũng chính con sông Hương mà người ta dễ tưởng là suốt đời lặng lẽ ngoan hiền ấy hằng năm vùng dậy quẫy nước tràn bờ. Bởi Huế không những nổi tiếng nắng nóng mùa hè, nó còn nổi tiếng về lụt lội nhiều lần trong năm và những lúc ấy nước sông đục ngầu, dữ dội, có khi chảy ngược dòng. Nước sông cuồn cuộn ấy, dù là trái ngược hẳn với thường ngày, vẫn đúng là hình ảnh của sông Hương, là lòng dạ sâu thẳm của nó đã lộ diện, là bộ mặt bổ túc vào bộ bộ mặt thường bắt gặp của nó.
Tóm lại, nắng cháy với mưa dầm bão lụt, ấy là Huế. Nước chảy lờ đờ và nước phăng phăng cuồn cuộn, ấy là sông Hương. Người thiếu nữ nghiêng nón dạ thưa nhưng yêu thương say đắm, dữ dội, ấy là con gái Huế.
Người Huế thường phản ứng chậm. Vẻ bề ngoài và hành động không hô ứng tiếp liền nhau. Hay nói cách khác, giác quan tiếp nhận cảm giác và nội tâm cứ hành hai nhịp khác nhau và giữa hai nhịp đó là một khoảng dành cho nụ cười, tiếng dạ thưa, sự e dè, cân nhắc. Đó là một loại “phản ứng hẹn giờ”, nhưng một khi phản ứng phát ra, nó có tính cách dứt khoát, không vãn hồi. Đó là nét tinh Huế mà người ta gọi là “thâm trầm”, “thâm thúy”.
Nếu không có lịch sử sẵn chực những bằng chứng cụ thể, hùng hồn thì ít ai ngờ rằng cái đất Huế trầm mặc này lại có thể là sân khấu phát động, châm ngòi những biến cố lớn của đất nước từ trong lòng những học sinh sinh viên chăm học hoặc những chị tiểu thương hiền lành tần tảo. Hóa ra đất Huế là đất nuôi trồng những thái cực, và con người xứ Huế để ra cả một đời mình để gỡ rối mớ bòng bong tâm lý và mâu thuẫn nội tâm này.
Con người Huế làm nên Huế là những con người đi ngược lại những thuộc tính ban đầu của vùng địa lý. Nó vật lộn thường trực với những mố giằng co tâm lý.
Trịnh Công Sơn trong ca khúc Diễm xưa có nói tới một loài chim di. Chim di là một loài chim di trú, không định cư tại một nơi chốn, tùy theo mùa xoải cánh đi tìm nơi khí hậu ôn hòa.
Người dân Ô Lý chất chứa trong tâm khảm mình một món nợ tinh thần đời đời với công chúa Huyền Trân ngày xưa đã vùi quên tuổi thanh xuân của mình mưu cầu hạnh phúc cho người khác. Đó là một sự lưu đày biệt xứ nhưng tự nguyện và vị tha.
Nó đã ghi dấu sâu đậm vào ca nhạc của xứ sở này. Cái hơi “ai” của ca Huế không hẳn là sầu bi nhưng đầy hoài bão, vừa tự sự mà vừa khơi dậy mạch tình bắt nguồn từ xa xưa, hòa tan vào huyết mạch, hầu như khó lòng truy cứu, khó lòng giải mình. Nó như thể một loại tình cảm nguồn cội, lắng sâu, dằn lòng xuống kết tạo thành một trọng lượng của tâm hồn. Sợi dây tình cảm này trói buộc bước chân con người, níu kéo con người không cho nó rời xa cái phố đẻ của nó.
Người ta bảo đất Thừa Thiên này vừa là vườn ươm vừa là bệ phóng nhân tài, cũng có nghĩa nơi đây vừa là địa điểm đào tạo, rèn luyện con người vừa là môi trường thiên nhiên hun đúc bồi dưỡng tư chất cho tuổi thanh niên, lập nghiệp để rồi sau đó đàn chim rời tổ bay xa.
Người con của Huế cảm thấy khó lòng rời xa bàn thờ tổ tiên hoặc cõi nhà vườn của mình. Tuy nhiên vẫn có cảm nghĩ chưa bỏ nhà ra đi vẫn chưa viên thành vận số của mình. Và một khi xa xứ, bắt đầu nảy nở trong tâm thức kẻ ly hương một loại tình cảm mới: tình cảm hoài hương. Loại tình cảm này có tính cách siêu hình, thâm sâu như tình con với mẹ, nó âm ỉ như mạch ngầm, như than hồng vùi dưới tàn tro. Xin đừng xem đó là một thứ tình cảm nhi nữ thường tình, ủy mị. Nó vừa giúp con người không quên nguyên quán của mình, vừa thôi thúc con người sống chẳng phải cho bản thân, mà cho một vận hội chung, có tính vị tha, hướng thượng. Trong nhận thức ấy, con người lưu vong gầy dựng hội đoàn, tập thể ái hữu hướng vọng về quê hương, xem đó như những ốc đảo tình cảm giữa đời sống mênh mông.
Theo http://www.huefestival.com/

IQ quan trọng hay EQ

IQ quan trọng hay EQ?
Một số nghiên cứu khoa học cho thấy chỉ 25% số người thành công là có chỉ số IQ cao hơn trung bình...
Việt là học sinh giỏi và rất thông minh. Cậu luôn có điểm số cao ở hầu hết các môn học và là người đứng đầu trong các kỳ thi. Tuy vậy tính của Việt tự cao và khó gần.
Khi ra trường, Việt được nhiều công ty mời chào nhưng kết quả của các cuộc phỏng vấn lại không khả quan. Đã bảy năm kể từ khi ra trường, Việt vẫn chưa làm được những gì cậu mong muốn. 
Trái với Việt, thời còn đi học Hùng không phải là học sinh giỏi. Tuy nhiên với tính cách hòa đồng, hay quan tâm giúp đỡ người khác, cậu rất được bạn bè quý mến và tin yêu. Khi ra trường Hùng không có nhiều lời mời phỏng vấn như Việt nhưng kết quả cậu cũng đã tìm được một công việc yêu thích. 
Hiện tại, với vị trí trưởng phòng kinh doanh, được ban lãnh đạo công ty tin cậy, đồng nghiệp và khách hàng quý mến, Hùng đang có một tương lai sáng sủa. 
Trong cuộc sống chúng ta gặp không ít những câu chuyện như vậy. Tại sao người ít thông minh lại thành công hơn người giỏi hơn mình? Có phải do họ may mắn, làm việc chăm chỉ, hay họ có những năng lực đặc biệt? 
Thông minh và thông minh cảm xúc 

Trí thông minh (Intelligence) được đo bằng hệ số IQ - Intelligence Quotient. IQ đo lường khả năng trí lực, năng lực học hỏi, khả năng hiểu và xử lý tình huống, năng lực suy nghĩ logic, phản biện, sự nhạy bén trong suy nghĩ… Trí thông minh có thể được đo tổng quát trong mọi lĩnh vực, và được đo theo từng lĩnh vực cụ thể. 
Thông minh cảm xúc (Emotional Intelligence) được đo bằng hệ số cảm xúc EQ - Emotional Quotient. EQ đo lường năng lực, khả năng hay kỹ năng của một người trong cảm nhận, đánh giá, và quản lý cảm xúc của bản thân, của người khác hay của một nhóm người. 
Trong một thời gian dài người ta dùng chỉ số IQ để tìm kiếm người tài vì tin rằng người có IQ cao sẽ có xác suất thành công cao hơn người khác. Tuy vậy một số nghiên cứu khoa học lại cho thấy chỉ 25% số người thành công là có chỉ số IQ cao hơn trung bình. Nghĩa là chỉ số IQ không giải thích được sự thành công vượt trội của 75% số người còn lại. Kết quả nghiên cứu đã loại yếu tố về năng lực chuyên môn. 
Cuối cùng những người nghiên cứu khẳng định rằng chỉ số EQ mới là yếu tố quyết định sự thành công trong cuộc sống và công việc của mỗi chúng ta. 
Năng lực cảm xúc trong môi trường làm việc 
Trong khi chỉ số thông minh ít khi thay đổi theo thời gian, thì chỉ số thông minh cảm xúc có thể được “học” và thay đổi vào bất cứ giai đoạn hay môi trường nào. 
Để thành công trong môi trường làm việc, ông Daniel Goleman - người được xem là nhà nghiên cứu hàng đầu về EQ hiện nay đã đề xuất chúng ta phải có những năng lực xúc cảm cá nhân gồm: năng lực tự nhận biết bản thân, năng lực tự điều chỉnh, năng lực tạo động lực; và những năng lực thông minh xúc cảm xã hội gồm: năng lực thấu cảm với người khác và năng lực giao tiếp xã hội. 
Năng lực tự nhận biết cảm xúc bản thân giúp chúng ta biết rõ cảm xúc hiện tại của mình và giúp chúng ta nhận biết vai trò quan trọng của cảm xúc đối với kết quả công việc của mình. Biết tự đánh giá bản thân còn giúp chúng ta hiểu điểm mạnh, điểm yếu của mình, giúp chúng ta can đảm thể hiện những suy nghĩ chưa được chấp nhận, và dám một mình theo đuổi cái đúng. Trong khi đó năng lực tự điều chỉnh giúp chúng ta kềm giữ các cảm xúc bốc đồng của bản thân, giữ được sự bình tĩnh, lạc quan ngay cả trong những khoảnh khắc khó chịu nhất. 
Đối với những người có năng lực tạo động lực, họ thường xem kết quả của công việc là thước đo cuối cùng cho sự thành bại. Chính vì thế họ luôn cố gắng phát triển bản thân và mong muốn vượt qua hay ít nhất đạt được những tiêu chuẩn hoàn hảo. Những cá nhân này luôn tìm thấy mục tiêu của bản thân trong mục tiêu của tập thể. Họ luôn chú ý đến giá trị, mục tiêu của tổ chức trước khi ra quyết định. 
Bên cạnh một số năng lực kể trên, có những người còn có khả năng thấu cảm người khác. Họ có thể cảm nhận, dự đoán được cảm xúc và hoàn cảnh của người khác, có khả năng bày tỏ sự quan tâm của mình một cách chủ động đối với người khác. Hoặc cũng có người có năng lực phát triển người khác. Họ có năng lực cảm nhận được nhu cầu phát triển bản thân của người khác, sẵn sàng kèm cặp, hỗ trợ cho những người đó phát triển. 
Nói đến năng lực giao tiếp xã hội của một người, chúng ta có thể kể đến năng lực truyền đạt thông tin, năng lực quản lý xung đột, năng lực lãnh đạo hay năng lực tạo sự thay đổi, năng lực hợp tác với người khác… 
Người có năng lực quản lý sự xung đột có khả năng “xử lý” những tình huống căng thẳng một cách êm đẹp. Họ có khả năng thương thuyết và giải quyết những mối bất hòa, đưa ra giải pháp để hai bên cùng thắng. 
Trong khi đó người có năng lực lãnh đạo sẽ tạo cảm hứng cho mọi người làm việc, làm cho họ tin và hướng theo một tầm nhìn, một mục tiêu chung. Dù ở vị trí nào họ cũng sẵn sàng tiến lên để nhận lãnh trách nhiệm, họ tạo ảnh hưởng lên người khác bằng chính những hành động của mình. Còn người có năng lực hợp tác luôn tạo ra một môi trường làm việc vì mục đích chung, trong đó mọi người đều có cơ hội để phát triển. 
Đọc những điều vừa kể chắc hẳn bạn cũng như tôi sẽ cảm nhận rằng những năng lực trên tuy nghe hết sức bình thường nhưng lại là những phẩm chất lý tưởng của mỗi cá nhân trong môi trường làm việc. Đó là những phẩm chất mà chúng ta mong muốn có cho bản thân mình cũng như cho sếp và đồng nghiệp. Đó cũng là chìa khóa mở cánh cửa thành công cho mọi người. 
Dù ở độ tuổi nào, mỗi người đều có tiềm năng để phát triển những năng lực trên. Đừng quá ỷ lại vào trí thông minh, trình độ chuyên môn mà nên tập trung nhiều hơn đến việc phát triển chỉ số EQ, phát triển năng lực cảm xúc của bản thân trong môi trường làm việc. 
Từ từ, chúng ta sẽ nhận biết, quản lý bản thân tốt hơn, hiểu biết và giao tiếp với người khác hiệu quả hơn, và chắc chắn sẽ gặt hái nhiều thành công hơn trong công việc và cuộc sống. 
Theo http://vneconomy.vn/

Tản mạn về thời gian

Tản mạn về thời gian Ngày trôi, tháng trôi, đời trôi. Rồi đây cỏ cây úa tàn. Thời gian lướt trên màu tóc. Nhạt nhòa phấn son phù du. Hỡi n...