Các thi sĩ lãng mạn thuộc
phong trào Thơ mới (1932-1945) nhìn chung đều giàu có cảm xúc về vũ trụ. Thiên
nhiên tràn ngập trong thơ họ, đến mức đôi lúc nhìn vào một cái đĩa bình thường
mà hình dung, tưởng tượng ra: “Lẵng xuân/ Bờ giũ trái xuân xa/ Đáy đĩa mùa đi nhịp
hải hà” (Nguyễn Xuân Sanh - “Buồn xưa”). Xuân Diệu không là một ngoại lệ. Thơ
ông, theo như sự cảm nhận của độc giả nhiều thế hệ, đầy chật niềm cảm hứng sống
“vội vàng” và bung tỏa khát vọng giao hòa với thiên nhiên. Con người luôn luôn
là một bộ phận hữu cơ của tự nhiên. Thơ Xuân Diệu nồng nàn mối duyên tơ giữa
con người và thiên nhiên: “Ta ôm bó, cánh tay trần làm rắn/ Làm dây đa quấn quýt
cả mình xuân/ Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần/ Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất”
(“Thanh niên”). Nhà thơ Thế Lữ trong Tựa cho “Thơ thơ” (1938) của Xuân Diệu đã
viết: “Cho nên Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân”. Một nhận
định hay ngang với Hoài Thanh - Hoài Chân trong “Thi nhân Việt Nam” (1941):
“Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới”. Trước Cách mạng, Xuân Diệu nổi tiếng
trên văn đàn bởi hai tập thơ: “Thơ thơ” (1938) và “Gửi hương cho gió” (1945).
Xuân
Diệu “hăng hái với mùa xuân”, hiểu là trong thơ ông mùa xuân ngự trị, mùa xuân
bất diệt, mùa xuân thường trực, mùa xuân là nơi bày tỏ khát vọng sống và là nơi
lưu giữ cái đẹp của trần thế. Thi sỹ viết nhiều bài thơ về mùa xuân: “Nụ cười
xuân”, “Nguyên Đán”, “Xuân rụng”, “Xuân đầu”, “Xuân không mùa”. Đã đành. Nhưng
trong nhiều bài thơ khác không trực tiếp về mùa xuân thì độc giả vẫn có thể cảm
nhận được cái tinh thần “hăng hái với mùa xuân” của thi sĩ. Trong bài thơ “Vội
vàng” thi sỹ Xuân Diệu viết: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần/ Tôi sung sướng.
Nhưng vội vàng một nửa/Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân/ Xuân đương tới nghĩa
là xuân đương qua/ Xuân còn non nghĩa là xuân đã già/ Mà xuân hết, nghĩa là tôi
cũng mất/ Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật/ Không cho dài tuổi trẻ của
nhân gian/ Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn”. Vội vàng sống, vội vàng hưởng
thụ, vội vàng yêu. Thi sĩ Xuân Diệu là thế, lúc nào cũng cuống quýt, nói như bạn
thơ Thế Lữ là “tham lam tình yêu”. Một thi sĩ bé nhỏ về thể xác nhưng tâm hồn
thì rộng mở vô biên, ông hình dung mình đủ dư thừa cái sức vóc: “Ta muốn ôm/ Cả
sự sống mới bắt đầu mơn mởn/ Ta muốn riết mây đưa và gió lượn/ Ta muốn say cánh
bướm với tình yêu/ Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều/ Và non nước, và cây, và
cỏ rạng/ Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng/ Cho no nê thanh sắc của
thời tươi/ Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”.
Đúng là thi sĩ Xuân Diệu hăng hái với mùa xuân. Nhưng đôi khi cái ham muốn kỳ quặc muốn được cắn vào “xuân hồng” có nguôi ngoai. Ấy là khi tự dưng con người cảm thấy cô đơn lẻ loi. Lúc đó thì “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Cũng có khi thi sĩ thay lời người khác mà thốt lên: “Mùa xuân khó chịu quá đi thôi/ Cảnh đẹp làm em thấy lẻ loi”. Thi sĩ là một người tinh tế. Tất nhiên. Nhưng lắng nghe được: “Những tiếng ân tình hoa bảo gió/ Gió đào thỏ thẻ bảo hoa xuân” (“Với bàn tay ấy”) thì không phải ai cũng thẩm thấu hết được. Bất chợt lúc nào đó thi sĩ có cái cảm giác chống chếnh vì: “Mùa xuân tôi chưa hề có hoa tươi” (“Dối trá”). Mùa xuân trong tâm cảm của thi sĩ như một cô gái đẹp, thơm tho và quyến rũ. Nhưng mùa xuân cũng như cô gái đẹp ấy luôn chuyển động, thoắt ẩn thoắt hiện. Vì thế đôi khi khiến thi sỹ hẫng hụt: “Xuân bước vội nhưng mà hương chẳng mất/ Tôi với tay giam giữ ở trong nầy” (“Lời thơ vào tập Gửi Hương”). Với con người thời hiện đại mới có cái cảm thức đặc biệt về cái đêm cuối tuần - đêm thứ bảy. Xuân Diệu gọi đó là “đêm thứ nhất”. Vì sao? Vì có những chàng trai tưởng rằng trong lòng mình “sẵn kho xuân, quên cả túi không tiền” nên cứ háo hức chờ đợi những cuộc vui bất tận. Hóa ra thực tế không như thế. Nên tối về “Trên gác về trống lạnh cả lòng xuân” (“Đêm thứ nhất”).
Đúng là thi sĩ Xuân Diệu hăng hái với mùa xuân. Nhưng đôi khi cái ham muốn kỳ quặc muốn được cắn vào “xuân hồng” có nguôi ngoai. Ấy là khi tự dưng con người cảm thấy cô đơn lẻ loi. Lúc đó thì “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Cũng có khi thi sĩ thay lời người khác mà thốt lên: “Mùa xuân khó chịu quá đi thôi/ Cảnh đẹp làm em thấy lẻ loi”. Thi sĩ là một người tinh tế. Tất nhiên. Nhưng lắng nghe được: “Những tiếng ân tình hoa bảo gió/ Gió đào thỏ thẻ bảo hoa xuân” (“Với bàn tay ấy”) thì không phải ai cũng thẩm thấu hết được. Bất chợt lúc nào đó thi sĩ có cái cảm giác chống chếnh vì: “Mùa xuân tôi chưa hề có hoa tươi” (“Dối trá”). Mùa xuân trong tâm cảm của thi sĩ như một cô gái đẹp, thơm tho và quyến rũ. Nhưng mùa xuân cũng như cô gái đẹp ấy luôn chuyển động, thoắt ẩn thoắt hiện. Vì thế đôi khi khiến thi sỹ hẫng hụt: “Xuân bước vội nhưng mà hương chẳng mất/ Tôi với tay giam giữ ở trong nầy” (“Lời thơ vào tập Gửi Hương”). Với con người thời hiện đại mới có cái cảm thức đặc biệt về cái đêm cuối tuần - đêm thứ bảy. Xuân Diệu gọi đó là “đêm thứ nhất”. Vì sao? Vì có những chàng trai tưởng rằng trong lòng mình “sẵn kho xuân, quên cả túi không tiền” nên cứ háo hức chờ đợi những cuộc vui bất tận. Hóa ra thực tế không như thế. Nên tối về “Trên gác về trống lạnh cả lòng xuân” (“Đêm thứ nhất”).
Nhưng
nói về tinh thần “hăng hái với mùa xuân” trong thơ Xuân Diệu trước 1945 thì phải
ngưng lại đọc những bài thơ tiêu biểu nhất của thi sĩ: “Nụ cười xuân”, “Nguyên
Đán”, “Xuân rụng”, “Xuân sầu” và “Xuân không mùa”. Tôi gọi đó là năm ngón tay
(có “hoa tay”) trên một bàn tay cầm bút viết về mùa xuân. Mỗi bài thơ là một mầm
xuân, sắc xuân, hương xuân, giọng xuân. Nhớ lại câu thơ mà có người bạo mồm bạo
miệng gọi là khẩu khí phồn thực của Xuân Diệu khi thi sĩ ca lên: “Hỡi xuân hồng,
ta muốn cắn vào ngươi!”. Với thi sĩ Xuân Diệu thì thiên nhiên cũng là một sinh
thể, sinh linh. Hơn thế, mùa xuân tựa như một thiếu nữ trẻ trung, duyên dáng,
và đầy gợi cảm. Hẳn vì thế mà thi sĩ nhìn thấy một “Nụ cười xuân”. Thể thơ bảy
chữ khiến câu thơ cứ như chầm chậm đến: “Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui/ Thiếu
nữ nhìn sương chói mặt trời/ Sao buổi đầu xuân êm ái thế!/ Cánh hồng kết những nụ
cười tươi”.
Câu thơ cuối của khổ thơ thứ nhất làm sáng bừng lên cả không gian nhờ “những nụ cười tươi”. Thi sĩ nhìn thấy: “Mùa xuân chín ửng trên đôi má”. Hẳn là đôi má thiếu nữ trẻ đẹp. Và rồi chính người thiếu nữ ấy tượng trưng cho mùa xuân: “Thiếu nữ bâng khuâng đợi một người/ Chưa từng hẹn đến - giữa xuân tươi/ Cùng chàng trai trẻ xa xôi ấy/ Thiếu nữ làm duyên, đứng mỉm cười”. Ai bảo Thơ mới là “một tiếng thở dài”, ai bảo Thơ mới chỉ có nỗi buồn, sự cô liêu, ai bảo Thơ mới là tuyệt vọng sầu bi?!. Cảm thức về thiên nhiên (trong đó có mùa xuân) đã tạo nên sự thanh khiết và nền nã của Thơ mới. Và độc giả cũng đã nhân đó mà tìm thấy cái nhã thú văn chương. Nếu “Nụ cười xuân” có cái rạng rỡ của niềm vui sống thì “Nguyên Đán” là một bài thơ tứ tuyệt, có thể nói là hàm súc nhất về mùa xuân. Cái cấu tứ của bài thơ nằm ở câu thơ thứ hai: “Trong tôi xuân đã đến lâu rồi” dẫu cho: “Xuân của đất trời nay mới đến”. Lại một lần nữa thi sĩ “chơi” thơ bảy chữ/bốn câu. Nó tạo nên một khối thống nhất, đọc lên thấy ngân nga: “Xuân của đất trời nay mới đến/ Trong tôi, xuân đã đến lâu rồi/ Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi/ Trong vườn thơm ngát của hồn tôi”.
Câu thơ cuối của khổ thơ thứ nhất làm sáng bừng lên cả không gian nhờ “những nụ cười tươi”. Thi sĩ nhìn thấy: “Mùa xuân chín ửng trên đôi má”. Hẳn là đôi má thiếu nữ trẻ đẹp. Và rồi chính người thiếu nữ ấy tượng trưng cho mùa xuân: “Thiếu nữ bâng khuâng đợi một người/ Chưa từng hẹn đến - giữa xuân tươi/ Cùng chàng trai trẻ xa xôi ấy/ Thiếu nữ làm duyên, đứng mỉm cười”. Ai bảo Thơ mới là “một tiếng thở dài”, ai bảo Thơ mới chỉ có nỗi buồn, sự cô liêu, ai bảo Thơ mới là tuyệt vọng sầu bi?!. Cảm thức về thiên nhiên (trong đó có mùa xuân) đã tạo nên sự thanh khiết và nền nã của Thơ mới. Và độc giả cũng đã nhân đó mà tìm thấy cái nhã thú văn chương. Nếu “Nụ cười xuân” có cái rạng rỡ của niềm vui sống thì “Nguyên Đán” là một bài thơ tứ tuyệt, có thể nói là hàm súc nhất về mùa xuân. Cái cấu tứ của bài thơ nằm ở câu thơ thứ hai: “Trong tôi xuân đã đến lâu rồi” dẫu cho: “Xuân của đất trời nay mới đến”. Lại một lần nữa thi sĩ “chơi” thơ bảy chữ/bốn câu. Nó tạo nên một khối thống nhất, đọc lên thấy ngân nga: “Xuân của đất trời nay mới đến/ Trong tôi, xuân đã đến lâu rồi/ Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi/ Trong vườn thơm ngát của hồn tôi”.
Cảm thức
về mùa xuân trong thơ Xuân Diệu trước năm 1945, có thể nói, kết tinh trong bài
thơ “Xuân không mùa”. Cái cấu tứ: “Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng” trùng
phùng với cấu tứ của bài thơ “Nguyên Đán”, như vừa nhắc ở trên. Xuân đến một
cách tự nhiên như tuần hoàn của trời đất: “Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều”.
Xuân không phải là một khách không mời mà đến. Xuân là một khách quen. Hơn thế
là một khách nữ yêu kiều, đáng yêu. Xuân không chỉ bó hẹp trong ba tháng tính
theo thời gian: “Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng/ Xuân là khi nắng rạng đến
tình cờ/ Chim trên cành há mỏ hót ra thơ/ Xuân là lúc gió về không định trước/ Đông
đang lạnh, bỗng một hôm trở ngược/ Mây bay đi để hở một khung trời/ Thế là xuân.
Trời chỉ ấm hơi hơi/ Như nắm được một bàn tay son trẻ/ Xuân ở giữa mùa đông khi nắng
hé/ Giữa mùa hè khi nắng biếc sau mưa/ Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa/ Lùa
thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng”. Cách điệp “thế là xuân” làm cho hơi thơ tự
nhiên như hơi thở vậy. Nó tiêu biểu cho thơ của thi sĩ Xuân Diệu lúc nào cũng hồn
nhiên nên dễ cảm thông và chia sẻ. Đôi khi quá phấn khích thi sĩ như phải kêu
to lên mới hả lòng hả dạ: “Xuân ơi xuân, vĩnh viễn giữa lòng ta”. Thậm chí như
là một đinh ninh: “Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng”.
Từ sau
Cách mạng tháng tám 1945, Xuân Diệu vẫn được coi là một thi sĩ “hăng hái với
mùa xuân”. Ông đã viết tất cả chín bài thơ xuân: “Một ngày xuân”, “Xuân”, “Thơ
tình mùa xuân”, “Mùa xuân”, “Xuân bên Hồ Tây”, “Lá mùa xuân”, “Mùa xuân trong rừng
Cúc phương”, “Một sớm mai xuân”, “Sáng xuân sang xuân”. Nếu thi sĩ luôn tự hào
“thơ tôi giàu đôi mắt” thì mùa xuân giờ đây cũng ánh lên biêng biếc: “Một ngày
xuân xanh tươi như mắt biếc” (“Một ngày xuân”). Cảm thức về mùa xuân
trong lòng thi nhân giờ đây mới mẻ, tinh khôi: “Tôi đi giữa buổi đầu
ngày, đi giữa/ Buổi đầu xuân - đi giữa buổi đầu tiên/ Như sáng nay cuộc đời vừa mới
mở/ Và ban đầu cây với gió cười duyên” (“Xuân”). Hà Nội có thắng cảnh Hồ Tây.
Thi sĩ đã hơn một lần thưởng thức hương vị xuân Hồ Tây: “Bên cạnh Hồ Tây gió thổi
xuân/ Gió đưa thanh sắc cảnh thanh tân/ Hương rơm quấn cỏ chen hương nước/ Sau một
đêm mưa, đất níu chân” (“Xuân bên Hồ Tây”). Thơ Xuân Diệu, như người ta nói,
không chỉ có màu sắc mà còn có âm thanh, mùi vị. Xuân Diệu như ai đó nói, là một
thi sĩ mở lòng mình đến tận bao la. Xuân đến, thi sĩ cảm thấy: “Gió xuân thổi tới
tận miền Nam” (“Lá mùa xuân”). Tứ thơ này ta bắt gặp trong bài thơ “Tôi
muốn đến thăm khắp cả miền Nam”. “Sáng xuân sang xuân” là bài thơ xuân hay nhất
của Xuân Diệu từ sau 1945, như nhiều người thưởng thức thống nhất bình giá. Với
thi sĩ Xuân Diệu thì cuộc đời này, thiên nhiên này bao giờ cũng rộng mở, hào hiệp
và vui tuơi: “Sáng xuân trời đất mở liên hoan”. Thi sĩ như nghe thấy quanh mình
những âm thanh của sự sống vốn chẳng bao giờ chán nản: “Thánh thót đâu đây tiếng
núi sông/ Như là khúc nhạc ở bên trong/ Sáng xuân trời đất sang xuân đó/ Anh đứng
ru em ở cạnh lòng…”. Với thi sĩ Xuân Diệu thì làm sao thiếu được “anh anh, em
em”. Nhưng dẫu cho nhiều lắm những “anh anh, em em” thì cả “đôi” đó vẫn cứ khao
khát sống hòa điệu với thiên nhiên, nhất là mùa xuân - mùa của sinh sôi nảy nở
và hi vọng, mùa của tình yêu. Xuân Diệu, như chúng ta thấy, xứng đáng là một
thi sĩ “hăng hái với mùa xuân” và niềm thao thức với “xuân không mùa”.
Hà Nội tháng 1 năm 2016
Bùi Việt Thắng





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét