Truyện ngắn Trúc Phương:
Chứng từ gốc
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hai anh em tôi đều can trường sống
sót, trở về. Đó là hạnh phúc lớn nhất đối với cha mẹ và gia đình tôi. Ở Xã Bình
Hòa Phước hiếm có nhà nào mà vinh quang và niềm tự hào lại chảy tràn vào cả bữa
ăn, giấc ngủ suốt mấy tháng liền sau ngày Giải phóng như nhà tôi. Một bầy heo,
bầy bò, và cả những bầy gà vịt nữa, đều được người mẹ rộng rãi hiếu khách và vô
cùng tốt bụng của anh em tôi dốc vào những bữa trọng tiệc triền miên để mừng
cho sự hiện diện quá ư to tát của niềm vinh quang mà theo lời cha tôi là phải mất
mấy đời người mới có được trong nhà nầy.
Đúng như vậy. Cả làng đều tán tụng. Nhà tôi là nhà duy nhất ở
xã kềm trắng sát nách Thị xã có được hai cán bộ còn nguyên lành từ đầu đến
chân, lại làm to nữa, súng lục giắt kè kè bên lưng, tươm tất, oai vệ, ăn nói
thì nhã nhặn, lịch lãm có thừa, lại sở hữu trình độ học vấn tú tài, am hiểu đường
lối chính sách, nói về Cách Mạng thì đến bùi tai, nghe hết ngày nầy đến ngày
khác không chán. Với hoàn cảnh thiếu cán bộ nghiêm trọng, anh Hai tôi lập tức
được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Kinh tài Thị xã, quyền uy và đường tiến thân thì
“thênh thang tám thước ”. Anh tôi hay gật gù mượn câu thơ của nhà thơ Tố Hữu để
nói về hoạn lộ của mình như vậy. Tôi lúc đó được nâng đỡ chuyển từ chuyên viên
Ban Tuyên giáo Tỉnh xuống Thị xã nhằm tăng cường cho công tác giáo dục với chức
vụ Quyền Trưởng ban, sau đó đổi thành Phòng thì được làm Trưởng phòng.
Suốt cuộc chiến tranh, không biết vô tình hay cố ý mà tôi
chưa hề trông thấy một tên Mỹ, lính Sài Gòn nào, chỉ thấy được chúng qua hình vẽ,
hoặc hình ảnh từ báo ngoài thành gởi vô. Đó là nói những thằng giặc bằng xương
bằng thịt có súng ống trong chiến tranh-chứ hồi ở nhà đi học thì tôi đã tận mặt
nhìn thấy không biết bao nhiêu lần, và còn được ăn cả kẹo socola của bọn Mỹ
phát cho con nít. Anh tôi cũng vậy, cũng chỉ chiến đấu chống kẻ thù mà anh biết
rằng nó có đấy, có thật trên đời, ở đâu cũng có, nhưng chẳng một lần tận mắt được
nhìn. Điều ấy tưởng như khôi hài, nhưng quả thật là rất hợp lý, hợp lẽ. Biết thế,
nhưng cả hai anh em tôi đều nhất trí giấu kín chuyện thật như đùa nầy trước
công chúng, bởi nói ra nó chẳng có lợi ích gì, lại nghe trong người áy náy thế
nào ấy khi nhận mình là người thoát ly theo Cách Mạng suốt những năm dài khói lửa.
Chúng tôi phải chịu khó đi “xin”, hoặc cop-py từng mẩu nhỏ những câu chuyện và
hình ảnh lũ ác ôn ác bá tề ngụy, ghi lòng tạc dạ từng chút sự hung hăng, xảo
quyệt, thói hóng hách, côn đồ, mị dân từ bọn lính Mỹ cho đến lính Biệt Động
Quân, lính Sư Đoàn, thám báo, đến mánh khóe thâm độc bôi đen gia đình Cách Mạng
của bọn bình định nông thôn, bọn cảnh sát, bọn phượng hoàng, hoặc xa hơn, trừu
tượng hơn nữa là bọn CIA … để có thêm phần chất liệu sinh động phục vụ những cuộc
thuyết trình, những buổi lên lớp cho thành phần công chức cũ lưu dụng, thanh
niên học sinh ngoài thành, tạo điều kiện chính trị tinh thần cho họ đứng vào
hàng trận của Nhân Dân để tiến lên xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, bỏ qua thời kỳ
quá độ Tư Bản Chủ Nghĩa, hướng thẳng tới thiên đàng.
Vậy mà hay ra phết, nói chuyện đến đâu tiếng vỗ tay tán dương
rầm rộ đến đó, nghe mà sướng, tưởng như bay trên không khí vậy. Anh em tôi thường
bổ túc kinh nghiệm, kiến thức mới thu lượm được cho nhau dưới cái nhìn đằm thắm
như tiên ông của Cha tôi .
– Các con như thế là tốt. Đó là tấm gương để các em học tập ở
hai anh. Phải làm Cách Mạng phục vụ người đời bằng tri thức các con à. Cha sẽ
cho các em của hai con vào Đại Học hết. Nhà ta có đức hơn người, ráng mà giữ
cái phúc trời cho.Nhà văn Trúc PhươngMột hôm, để tôi được chứng kiến tài ăn nói uyên bác, anh tôi
mời tôi đi nghe anh nói chuyện với toàn thể cán bộ các hộ, phường, ngành ban Thị
Xã về những vấn đề kinh tế tài chánh của đất nước, vấn đề phải “ thủ tiêu ngay
Chủ Nghĩa Tư Bản xấu xa ” đang sinh sôi nẩy nở hàng ngày trong đời sống con người,
tôi về nằm gác tay lên trán, thắc mắc không hiểu anh tôi lĩnh hội được ở đâu
cái tinh thần “ triệt để Cách Mạng ” tối tân quá thể như vậy. Khi mọi người
đang nín thở thì anh tôi nghiêm giọng nói rằng:
– Sẽ là tội ác nếu chúng ta không làm cho người dân thành thị,
dân vùng ven quanh Thị Xã thay đổi cách sống. Tôi đơn cử một ví dụ thôi. Ví dụ
tại sao ta cứ nuông chiều thói quen ăn bánh, ăn quà của người Việt Nam. Hơn lúc
nào hết, bây giờ nước ta đang thiếu lương thực trầm trọng. Mà bánh, cả hũ-tíu lẫn
phở và các loại bánh khác hàng ngày làm mất đi bao nhiêu tấn lương thực. Phải
chấm dứt tình trang vô nguyên tắc, vô chính phủ trong sử dụng lương thực để bảo
đảm cái hầu bao cho đất nước.
Nghe xa nghe gần, Mẹ tôi sợ ảnh hưởng tới uy tín của con trai
cả nên đã lén lút đưa cái cối xay bột xuống ao, giấu. ( Lẽ ra phải đập bể trước
mặt giới chức trách theo tinh thần phổ biến của cán bộ địa phương-chứ làm như Mẹ
tôi thì vẫn còn vi phạm công lệnh quản lý) Phải đến hôm bọn em gái nhà tôi-bảy
đứa tất cả-đòi ăn bánh xèo, tìm mãi không thấy cái cối xay bột ở đâu, Mẹ tôi lấm
la lấm lét nhìn trước nhìn sau một lượt rồi mới nháy mắt, đưa tay ra hiệu cái cối
đang nằm im dưới lớp bùn dày. Bà kiên quyết không cho mấy đứa em tôi ăn bánh với
giọng thật nghiêm trọng của một người luôn giác ngộ Cách Mạng ở mức cao nhất-lại
trong tư cách là Mẹ của một cán bộ đương quyền của Thị Xã-rằng :
– Cán bộ ở đây phổ biến mệnh lệnh của anh Hai con và căn dặn
mọi người, nhất là gia đình cán bộ phải gương mẫu chấp hành, cho lệnh nó
nghiêm, mọi người trông nhau mà thực hiện, các con à. Nhịn thèm chút chẳng sao,
để anh Hai con còn chỉ huy được Cách Mạng. Mình làm bánh mà không cho dân người
ta làm thì đâu có được, họ sẽ kèo nài, phân bì phân lõm mà thành ra chuyện.
Phải đợi đến tôi can thiệp, lén mò cối đem lên, mang vô buồng,
đóng cửa, phân công một người gác chừng anh Hai và Cha tôi vế bất tử, hì hục
mãi, mấy đứa em tôi mới có một bữa bánh xèo-ăn một lần nhớ đến suốt đời, muốn
quên cũng không thể nào quên được. Cũng từ đây, từ cái bữa bánh xèo phạm pháp nầy,
bảy đứa em gái nhà tôi bắt đầu nghi ngờ cái “chân lý Cách Mạng” quái gở của anh
Hai tôi. Các em than:
– Cách Mạng riết rồi không còn mặc áo dài, áo kiểu, không cho
uốn tóc, để móng tay, lúc nào cũng thủy lợi, cũng đào kinh, không được ăn bánh,
không được đi cắm trại… Làm sao tụi em và mọi người chịu nổi hở anh Tư?
– Cố mà chịu. Chắc một lúc nào đó tàn dư xã hội cũ được quét
sạch, nợ nần với chế độ thực dân mới-tư bản, đế quốc chủ nghĩa được thanh toán
triệt để, mọi cái lại bình thường.
Tôi cố tưởng tượng ra những điều hợp nhĩ, những viễn cảnh khả
biến nhất về một cuộc Cách Mạng lúc nào cũng đề cập đến tính cao cả nhân văn
cho các em vui, chứ thực lòng tôi cũng bắt đầu ngao ngán khi nhìn mấy đứa nhỏ cắt
tháo hết các chiếc áo dài, áo kiểu để chữa lại thành các chiếc áo bà-ba bà-tư
cho hợp với trào lưu quét dọn cái cũ, cái xấu-vệ sinh đường phố, đồng ruộng,
tâm hồn-mà công cuộc bão táp Cách Mạng cuồn cuộn kéo về từ suốt năm qua đang cuốn
phăng đi cho bằng sạch tất cả mọi thứ có liên hệ máu thịt với chế độ cũ tồn tại
suốt trăm năm. Sách tiếng Anh, tiếng Pháp phải đốt thành tro. Ai bạo gan giữ lại
các cuốn từ điển thì phải giấu biệt, muốn tra cứu phải đợi đêm về, đốt nến mà đọc.
Nghe chó sủa, sợ cán bộ, du kích đi tuần thì phải thổi đèn, im thin thít. Guốc
cao gót phải đem chụm lửa. Quần áo hầu như không cần ủi nữa, để cho nó có vẻ cần
lao, giai cấp. Dẫu hà khắc và quái lạ đến bất nhẫn như vậy, nhưng không hiểu
sao mấy đứa em tôi vẫn hăng hái vào Đoàn với một tinh thần Bôn-sơ-vích của Cách
Mạng Tháng Mười Nga. Vì thế nó phải luôn luôn gương mẫu đi đầu. Nhìn tóc chúng
nó cháy, mặt mày đầy mụn trứng cá, cả năm trời không một bận thoa kem lên mặt
hay một chút son phấn vào má môi cho xinh con gái, tôi thấy buồn như mối cắn
trong lòng. Một không khí oi nồng, bức bối, ngột ngạt khiến đầu óc tôi cảm thấy
bất an với nhiều linh cảm xấu, nhiều giấc mơ quái dị. Muốn hỏi, không hỏi được
; muốn nói, không biết nói cùng ai. Rồi kể từ cái hôm tôi cãi tay đôi với ông
anh về chuyện “ quan điểm ” đến giờ, nhà tôi bắt đầu phân hóa thành hai phe.
Hôm ấy, sau khi anh Hai tôi đụng độ với một Cô giáo “đầu quăn môi trớt”, về đến
nhà mặt hầm hầm như vừa bị chó táp, gọi tôi đến để tảo thanh về sự “hữu khuynh”
của ngành giáo dục.
– Chú lãnh đạo giáo dục à?
– Dạ, em tưởng anh đã biết?
– Hừ, biết ! Tại sao chú để Cô giáo tự do ăn mặc, sơn phết
móng tay, móng chân, tự do đầu quăn môi trớt, coi thường thuần phong mỹ tục và
những quy định của chính quyền mới?
– Phải từ từ chờ đợi ở họ anh hai à. Nếu người nông dân cần
có thời gian suy nghĩ trên mảnh đất của mình thì anh cũng phải để cho người thị
dân họ đứng trước gương mà soi lại họ. Từ cũ chuyễn qua mới, phải có thời gian
tối thiểu cho sự chuyển hóa. Với lại, bây giờ cũng không còn mấy người ương ngạnh
đâu. Uy vũ Cách Mạng đang che phủ cả bầu trời, một hai người thì có uống mật
cóc, gan công họ cũng không dám chống lại. Cô giáo ấy chắc là có vấn đề về tâm
thần. Để em kiểm tra lại xem.
– Chú có biết nếu như bữa nay không phải gặp tôi mà gặp đồng
chí Bí Thư Thị Ủy thì hậu quả sẽ còn tồi tệ đến chừng nào ? Chú phải coi lại
cái lối giáo dục tư tưởng, đạo đức đối với bọn giáo viên tiểu tư sản bấp bênh,
chế độ cũ ấy. Phải Quân quản cả tư tưởng, đạo đức, chú biết không ? Đầu quăn
môi trớt, móng tay móng chân xanh đỏ là hạng người nào chú biết chứ ? Một lũ ăn
không ngồi rồi, một lũ đĩ thõa ! Tôi đề nghị chú tống cổ ngay lập tức Cô giáo mất
tư cách tôi gặp bữa nay ra khỏi ngành giáo dục, coi lại thành phần, lập hồ sơ
cho đi kinh tế mới, hoặc đưa đi trại phục hồi nhân phẩm ! Chú phải biết, đất nước
nầy ( nhất định là ) của người lao động, chứ không bao giờ của những kẻ ăn
không ngồi rồi ấy ! Hiểu chưa !?
Tôi nghe lỗ tai lùng bùng, nhưng không tiện tranh cãi vì Cha
tôi đã về tới nhà với cái sắt-cốt và cây súng lục vừa lột ra bỏ lên kệ, cùng
chiếc nón cối ông xin được của ai nhằm trang bị bổ sung cho mình để tướng dạng
có thêm vẻ cán bộ chính thống nhà nòi. Với Cha tôi, việc anh em trong nhà cãi
nhau là không thể chấp nhận được. Cái gia giáo ấy có từ thời Ông Nội, được lưu
truyền lại qua sự tiếp thu tròn vẹn của Cha tôi. Hơn nữa, sau Giải Phóng, nhà
tôi nghiễm nhiên là gia đình Cách Mạng gương mẫu, nên càng không thể có chuyện
bất nhất trong bất kỳ vấn đề gì có liên quan đến Cách Mạng. Tôi lặng lẽ tìm đến
trường của nữ giáo viên vừa mạo phạm với anh tôi và tất nhiên là phải đề nghị
Ban Giám Hiệu tổ chức kiểm điểm, có bản tự kiểm của đương sự kèm theo gởi về
Phòng. Trong khi tôi cố tình che chắn cho cô giáo lưu dung tội nghiệp mới lỡ điệu
đàng lần đầu trong tác phong sinh hoạt ấy, ( có thể cô ta cố sặc sỡ thêm lên
hơn bình thường tí chút để đón tiếp một cán bộ uy danh khắp vùng, được mọi người
ngưỡng mộ như anh Hai tôi mà đã chưng dọn thân thể mình cho nó lung linh ra thế
) thì anh Hai tôi lại truy kích đến cùng. Và Cô giáo xấu số kia bị đuổi việc.
Tôi, vì liên đới nhận chịu hậu quả của việc lãnh đạo không tốt hoạt động giáo dục
Thị Xã, liền được thuyên chuyển và bị giáng chức về Thị Đoàn, phụ trách công
tác Thanh Niên trong học sinh, sau đó thêm một lượt chuyển, tôi ôm quần áo về Tổng
Đội Thanh Niên Xung Phong vừa được xây dựng lại, trong diện mạo của một kẻ bơ
phờ vì thất sủng.
Đã bị còn lụy đến thân. Trong khi tôi long đong chuyển hết cơ
quan nầy tới đơn vị khác thì không ngờ Cha tôi được kết nạp vảo Đảng và được cử
làm Phó Chủ Tịch Xã. Tôi bị anh Hai lấy tấm gương cầu tiến của Cha tôi mà chê
trách đến buồn lòng:
– Chú là thanh niên mà còn thua Cha mình đã 60 tuổi. Chú hãy
học Ông Già nhà mình mà phấn đấu để còn tiến thân.
– Em thấy Cha ở nhà tốt hơn là đi làm việc, tốt hơn vào Đảng
.
– Chú nói sao ? Cả xã nầy có tới 95 phần trăm là Ngụy, gia
đình Cách Mạng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Chi Bộ mới thành lập có 4 đảng viên,
Cha vào Đảng là tốt, là có ích, là để làm cho Đảng ở đây nó mạnh lên, đảm
đương, cầm chịch được phong trào. Chẳng lẽ để cho mấy thằng ngụy tề nó vào Đảng?
– Không phải Cha không vào để tề ngụy nó vào. Em muốn nói
mình phải có quan điểm phát triển, phải chiếu cố đến lực lượng trẻ, và phải có
cái nhìn hòa hợp, cởi mở hơn.
– Về chính trị ta không có mơ hồ, chú biết chứ? Hãy nghiên cứu
lại để có cách tẩy trừ cái chất “tiểu tư sản”, “mơ hồ” trong chú và hãy cảnh
giác với thằng giặc không hình thù đó!
Ôi! Giá như ngày trước hai anh em đừng ở trong “hang”, giá
như ngày trước anh em tôi dám bồng súng chiến đấu, dám nhìn thấy mặt thằng Mỹ,
thằng Ngụy thì giờ nầy tâm tính chúng tôi chắc cũng đã khác hơn. Chúng tôi chống
Mỹ và làm Cách Mạng chủ yếu bằng truyền thuyết-chỉ nghe kể về Cách Mạng để biết
Cách Mạng tốt, vĩ đại, mà làm thôi. Có lẽ vì thế nên ông anh tôi luôn nhìn thấy
kẻ thù nhiều hơn (bởi tưởng tượng thì bao giờ cũng dễ hơn phải qua trải nghiệm
thực tiễn) những kẻ từng lăn lộn chiến trường nhìn tận mặt kẻ thù, để biết thế
nào là thực dân mới, biết thế nào là Việt Nam hóa chiến tranh, thế nào là đoàn
kết Dân Tộc, liên hiệp các thành phần. Cái sự bé nhỏ, khô héo về tình cảm cũng
như sự hiểu biết do cuộc sống ở trong “ hang ” (lúc nào cũng chui rúc vào cứ
sâu với lãnh đạo cùng hàng hàng lớp lớp các tầng bảo vệ từ xa đến gần, và sẵn
sàng giở nấp hầm bí mật để tọt xuống khi giặc còn ở ngoài tiền duyên, không hề nhìn
thấy dạng hình) đã biến hai anh em tôi thành hai đơn vị thực vật, hai cây kiểng
trong “buồng kín” Cách Mạng. Bọn tôi-những người chẳng bao giờ đánh giặc, chẳng
bao giờ đột vô vùng kềm-nơi của sống chết. Xung quanh chúng tôi lúc nào cũng có
tài liệu, sách vở, chủ trương đường lối để đọc, để học. Chúng tôi trộn lẫn
chúng tôi với nhau để làm ra những trải nghiệm tinh tấn về Cách Mạng. Chúng tôi
nói hay như những bậc Thầy. Chúng tôi được nuôi như con vẹt, con nhồng lột lưỡi
được nuôi giấu tận thâm cung bí hiểm-một nơi cách biệt với sinh hoạt của xã hội
nhân quần. Da thịt chúng tôi trắng còn hơn da thịt con gà mái bị vặt trụi lông.
Sau Giải Phóng, khi được thả ra vùng trời tự do lồng lộng cao xa, vinh hưởng
phúc nhàn, không còn chết chóc, khổ đau, đạn bom, bắn giết, chúng tôi mặc sức
tung hoành. Để rồi có một ngày nào đó tôi chợt nhận ra tính chất, bản chất thật
của chúng tôi : một lũ quan liêu, giáo điều và cực kỳ thiếu đạo lý với cuộc sống
thực của mọi người. Và bây giờ, tôi cùng mấy đứa em gái của tôi-những đồng minh
hữu khuynh trên con đường xây dựng một xã hội ngàn lần tươi đẹp, đang dần dần
tách ra khỏi những quy tắc đáng e sợ mà tính cách và sự lịch lãm trong chúng
tôi vừa mách bảo rằng: nó có cái gì đó bất hoàn, so le, kệch cởm và cả thô bạo,
dường như còn bao gồm cả sự ám ảnh khủng khiếp của cuộc Cách Mạng văn hóa tàn bạo
từ Trung Quốc thổi sang. Anh tôi, Cha tôi là hình ảnh của sự tàn khốc chưa rõ
ràng ấy. Chỉ thương Mẹ tôi (vinh quang cũng không còn mãi cho Bà) vì Bà vừa phải
tạo ra thế giới tình cảm để nuôi dưỡng gia đình chúng tôi, vừa phải là người
đàn bà thực tế trước đời sống của mười hai con người phải ăn, phải uống, phải
tiêu vặt mỗi ngày, mỗi tháng, với bao nhiêu nhu cầu từ trong nhà dài ra tới chợ.
Bò, heo, gà vịt đã hết sau bao nhiêu lượt gây đàn. Đã bắt đầu lén bán lúa chợ
đen để mua từng hộp kem đánh răng, xà phòng tắm và chút ít hàng nhu yếu phẩm
thiết thân mà dùng. Cây trái trong vườn lúc có lúc không. Mẹ tôi cùng các đứa
con gái chia nhau gánh nặng để ba người đàn ông trong nhà được ưu tiên lo cho
Cách Mạng. Mẹ tôi và các em gái tôi trở thành hậu phương trực tiếp cho tiền tuyến
lớn chôn vùi Chủ Nghĩa Tư Bản của ba Cha con chúng tôi. Trồng rau cải, bẻ mận,
hái chanh, xạ lúa… đã đương nhiên là việc của Mẹ và mấy cô em gái-cả cô Út năm
nay mới vào năm cuối cấp một. Tôi bắt đầu cảm thấy vô lý cho cái tinh thần đạo
đức kỳ quặc nầy. Mấy đứa em gái tôi phải mặc tới quần đùi đi ruộng, chân tụi nó
đen mốc chẳng khác mấy cu chàng mục tử ngoài đồng. Trong khi đó thì Cha tôi trắng,
anh Hai tôi trắng (da) hơn cả đám con gái nhà tôi. Ô hay! Có một cuộc đổi đời
tinh vi và lạ lùng đến mức khó hiểu. Tôi lắc đầu và xin nghỉ phép năm về phụ Mẹ
tôi, chia sẻ chút mệt nhọc cùng các em yêu quý của tôi. Trời hỡi! Nó cực hơn
biết bao nhiêu lần những tháng năm tôi đi làm Cách Mạng.
Rồi tất cả vào Tập đoàn. Tiếng loa phóng thanh, tiếng chó sủa
mèo kêu, bò róng, trâu nghé ngọ làm tròng trành cả mặt đất quê làng. Chỉ có những
người không có cục đất liệng chim thì họ vui mừng ra mặt, họ nhảy múa hát ca
trước cuộc cào bằng đại trà mang lại sự bình đẳng tối ưu cho họ. Mẹ tôi lo mà
không dám nói ra, cứ nhắm mắt đánh liều ai sao mình vậy. Như một linh thần cứu
rỗi, anh Hai tôi xử trí kịp thời tình huống bi tráng nầy, bằng cách bí mật cho
đào mương, lên líp 15 công đất ruộng, biến nó thành vườn-bởi vườn chưa có chủ
trương vô Tập đoàn. Năm công đất còn lại không đủ định suất để chia cho 6 lao động
chính trong nhà theo tiêu chuẩn bình quân. Là gia đình cán bộ, đương nhiên tôi,
ông anh tôi, và cả Cha tôi cũng phải được các đồng chí địa phương quan tâm chiếu
cố cho thêm ba suất đất nữa. Đấy rồi chẳng bao lâu Tập đoàn tan vỡ, gia đình
tôi lại được trời và Nhân Dân cùng thương. Khi vào Tập đoàn, gia đình tôi mang
theo 5 công đất. Lúc Tập đoàn rã, gia đình tôi lời thêm một mẫu Tây đất nữa-thành
ra sau trước giờ cộng lại tới 35 công-chưa tính những công vườn có trước. Anh
tôi quả là một thiên tài về việc tính toán, xứng đáng với vị trí Trưởng Ban
Kinh Tài Thị Xã. Cứ thế nhà tôi như ba-gong tàu được kéo êm ái lên Chủ Nghĩa Xã
Hội, không có gì phải than van ta thán cả. Một chiến thắng quá ư ngoạn mục. Anh
Hai tôi được bổ sung Ban Thường Vụ Thị Xã Ủy sau khi X-I, X-II vừa kịp hoàn
thành. Còn bây giờ thì anh như đầu đạn tên lửa được gắn thêm liều thuốc tống vậy,
sẵn sàng rời bệ phóng bay cao và bay xa tới những mục tiêu cần đến trong vòm trời
nầy. Còn tôi, tôi trở thành cán bộ trong Ban chỉ huy Tiểu Đoàn Thanh Niên Xung
Phong-phụ trách hậu cần-hồi nào không biết, khi cùng 500 thanh niên vác ba lô,
leng vá, cuốc xuổng hành quân xuống biển-thuộc miền duyên hải Trà Vinh với rừng
chà là, rừng giá, mắm bạt ngàn-để làm công việc của các lưu dân ngày xưa nhì
đâm hà bá, nhất phá sơn lâm. Con đường công danh của tôi tiếp tục “ ăn xuống ”.
Mấy đứa em gái thì động viên ông anh khốn khó của nó bằng một câu của người
theo đạo Phật “Ở hiền gặp lành” không dính dáng gì đến những khẩu hiệu Cách Mạng
đang bừng bừng khí thế lấp biển vá trời của Tỉnh Cửu Long-Vĩnh Trà anh hùng suốt
hai cuộc chiến.
Trong khi đó thì ông anh cả của tôi cưới một Thị Xã Ủy Viên
trẻ làm vợ. Cuộc tân hôn được tổ chức đúng mức Cách Mạng : lễ Tuyên Bố tại Văn
Phòng Thị Xã Ủy với 3 con chó nấu kiểu Nam lẫn Bắc để thể hiện tinh thần đoàn kết
Bắc Nam, cùng mấy chục gà vịt dành cho người không xơi được thịt cầy bảy món.
Anh tôi lại đi đầu trong việc cưới xin nếp sống mới giữa phố phường đầy tàng
tích thực dân xa hoa cách biệt, tràn ngập thán khí của ngày hôm qua. Anh nhận
thêm một điểm cộng về phẩm hạnh cán bộ, đảng viên tiêu biểu trong mắt các đồng
chí lãnh đạo. Anh được đánh giá là đỏ từ đầu đến chân, đỏ từ trong tới ngoài.
Sau đó ít lâu, anh tôi lại trở thành một trong mấy cán bộ đầu tiên của Tình lấy
được bằng Đại Học hạng ưu. Tôi lấy làm lạ, bèn hỏi thăm mới biết việc học của
anh chủ yếu bằng việc nhậu và cho quà các ông Thầy từ Trung ương, hoặc Sài Gòn
xuống tỉnh dạy tại chức. Chẳng mấy chốc sau khi có bằng Đại Học, anh tôi được cử
đi học kinh tế ở Liên Xô và được đề bạt chức vụ Trưởng Ty Tài Chính khi tốt
nghiệp khóa cấp tốc trở về từ xứ sở Nga La Tư Cách Mạng.
Còn tôi, tôi đang cặm cụi cùng đồng đội chặt rừng chà là làm
nông trường trồng dừa cuối biển. Tôi đang tận tụy với cuộc sống gã tiều phu để
được làm chàng An Tiêm của thời hiện đại hào hùng-chỉ khác là trồng dừa chứ
không phải trồng dưa .
Giật mình nhớ lại thì mình đã sắp bước vào tuổi “băm” , tôi
quyết định lấy vợ sau mấy đếm nằm chiêm bao thấy đàn bà trẻ đẹp nhào vô mùng ngủ
với mình liên tục. Anh hai tôi sốt sắng làm mai cho tôi cô con gái của đồng chí
Phó Chủ Tịch Tỉnh-từng là Khu ủy viên Khu 9 trước Giải Phóng cho đến ngày cấp
Khu được giải thể. Cha tôi ủng hộ hết mình. Hào quang sẽ mãi mãi tỏa sáng mái
nhà của chúng tôi-một “đẳng cấp đỏ ” theo cách gọi mai mỉa của Đài BBC đòn xóc
đâm bị thóc chọc bị gạo. Tôi xin phép Ban chỉ huy về nhà đi coi vợ theo mệnh lệnh
của anh và Cha. Và tôi đã xẻ dọc rừng chà là đầy gai góc có đến 20 cây số để ra
bến xe huyện, rồi từ huyện sẽ lại nối xe, ngồi lên mui, gập ghềnh đến nửa đêm
gà gáy mới kịp về đến Thị Xã thương nhớ của minh. Nhưng tôi nào có ra được tới
bến xe của huyện Duyên Hải tại Thị Trấn Long Toàn. Một câu chuyện không đâu đã
cản trở hành trình quan trọng của đời tôi. Cũng từ đây tôi bắt đầu ngoặt trái
cuộc đời về hướng khác làm mất đi vĩnh viễn ánh hào quang sắp chiếu vào mình mà
anh và Cha tôi đã sắp đặt sau khi chấm điểm tọa độ cho tôi đỗ quân.
Đêm ấy, mệt quá tôi tấp mình lên bờ trảng có trồng mấy cây
đào lộn hột để ngủ một chút lấy sức. Khi giật mình thức dậy thì người tôi nóng
như cục than hầm. Tôi lê từng bước đi vào xóm kinh tế mới lụp sụp một dãy nhà lợp
lá, vá tol, leo lét những bấc đèn dầu lúc sáng lúc tối như những ngọn đèn ma.
Cơn rét lại ập tới bất thần, nó tinh ranh luồn lốc vào đến tận xương tủy, cứ giật
bắn lấy người tôi quây mòng vật vụa. Tôi cố đi, nhưng chưa được mấy bước thì lại
đổ kềnh ra, nằm vắt lên bờ đất. Một con chó cứ sủa vố lấy tôi. Có tiếng quát
thét. Mấy người gác kho báo động trộm. Chờ mãi không bắt được trộm, một cô gái
rẫy đã bắt được tôi mang về. Cả nhà, rồi cả xóm xúm nhau lấy thuốc rừng trị bệnh
cho tôi. Nắng lửa, mưa dầu, gai góc và những gương mặt người đen sạm, khắc khổ,
những cánh tay không quen lao động phải tự cải tạo mình bằng cuốc xuổng đã làm
tê dại lòng tôi sau mấy ngày chung sống. Nhất là hai Mẹ con người thiếu phụ đã
trực tiếp chăm sóc tôi trong lúc bệnh. Bà Mẹ cứ khóc và nói với tôi, kể cho tôi
nghe những điều hãi hùng xảy đến với gia đình Bà sau chiến dịch X-I mở màn. Chồng
Bà đã chết vì không chịu nổi cảnh thống khổ của vùng kinh tế mới và cơn bệnh trầm
uất đeo nặng bên mình. Còn Bà và cô gái chưa tròn hai mươi tuổi của mình thì thối
hết cả móng chân, móng tay, tóc vàng cháy như râu bắp khô, da mặt nám khô, đôi
mắt đen chìm khuất những giọt mồ hôi mặn chảy tràn cả giấc ngủ. Họ đã đốt khét
đời họ bên những rọc rừng mà vẫn chưa biến đổi được bản thân mình thành những
nông dân, ngư dân, viêm dân như bao nhiêu người khác có lai lịch khai phá từ mấy
thuở Ông Cha. Họ vẫn không thích nghi được với cuộc sống quá ư xa lạ nầy. Họ
kinh khủng trước cuộc đổi đời do Cách Mạng mang lại cho một số ít người trong bọn
họ. Họ đang thoái hóa dần bàn chất NGƯỜI sinh động với một lịch sử gấm hoa trưởng
giả của kẻ lắm của nhiều tiền. Họ đau đớn triền miên khi thấy mình vô lý bị tước
đoạt sạch sành sanh. Họ không hề nhận ra sự bóc lột xấu xa mà Cách Mạng đã cố
tình dán, nhét vào tai họ và số phận oan nghiệt của giai cấp họ. Họ thấy bất
công. Và họ đã chết dần chết mòn khi ngồi bên nắng biển mưa rừng, vắt từng giọt
mồ hôi, nước mắt mà nuốt vào lòng để nhớ tiếc về quá khứ vàng son, nhung lụa của
mình. Rồi tự dưng tôi thấy thông cảm với họ, buồn lây với họ cái nỗi buồn của một
thằng người. Khi hết bệnh, hơn một chục nam nữ đòi theo tôi để gia nhập Thanh
Niên Xung Phong với hai lý do : làm sạch lại lý lịch gia đình, sau đó là để có
cái ăn cái mặc, không rách rưới lang thang thành kẻ ăn mày. Trong đó không ngờ
có cả cô gái mà tôi đã chịu ơn đi ra từ gia đình Bà góa phụ. Tôi trở lại rừng
và hoản chuyến đi phép cho tháng sau khi sức khỏe hồi phục.
Lại những bức thư và những cuốc điện thoại nhắn tin qua nhiều
đơn vị của Cha và anh tôi. Tôi sốt ruột lên đường lần thứ hai về nhà coi vợ. Về
đến nhà, Mẹ và mấy em tôi khóc sướt mướt vì không nhận ra con người khốn khổ tiều
tụy, trông như ma đói vừa trở về từ cõi âm của tôi. Để nguyên thân xác ngạ quỷ,
tôi theo anh và Cha đến chào gia đình đồng chí Phó Chủ Tịch. Họ sang trọng và uy
nghiêm như bậc vương tước hiện triều. Tôi được phép đi theo người nhà ra nhà
sau trò chuyện với mấy ông em, bà chị và những người chưa một lần quen. Không
ngờ người tôi coi mắt lại là chị Cửa hàng Trưởng phân phối lương thực-thực phẩm
từng duyệt chi cho tôi mua 4 cái đầu heo đem về đơn vị tổ chức liên hoan ngày
Nhà Giáo Việt Nam 20-11 hồi tôi còn đương chức Trưởng Phòng. Chị Cửa hàng Trưởng-ái
nữ của Ngài Phó Chủ Tịch chỉ học mới hết chương trình lớp ba bổ túc, lớn hơn
tôi 2 tuổi, mặt trái trâm, mỗi lần cười thì đưa hết lợi, lưỡi ra ngoài.
– Anh đó hả? Tui nhớ ra rồi. Tui có lần duyệt bán cho cơ
quan anh 4 cái đầu heo về làm tiệc. Tôi tưởng ai chớ đâu dè là anh? Không ngờ
mình có duyên dữ hén. Anh không biết tui là con của Ba tui sao?
– Bữa nay mới biết. Nhưng chị…
– Sao lại kêu tui bằng chị, người ta cười chết. Kêu lại bằng
em thôi. Tui tên là Hường-bông hường đó. Bông hường mà trồng trong chiến tranh,
phải mạng số lắm mới còn mà ra tới thành thị để khoe sắc khoe hương. Anh bao
nhiêu tuổi rồi?
– Hăm chín …
– Chết cha hông? (Cô gái bịt miệng nhìn lên nhà trên). Vậy
anh nhỏ hơn tui tới hai tuổi lận. Không lẽ…?
Có người điền vào chỗ trống của câu nói bỏ lửng:
– Nhất gái lớn hai, nhì trai lớn một, lo gì.
Mấy mâm tiệc đã được dọn sẵn. Mọi người được mời ra. Tôi phản
ứng bằng cách ai đưa bao nhiêu rượu là ực hết bấy nhiêu. Vì gốc bị bệnh sốt
rét, người xanh xao vàng vọt, chẳng mấy chốc tôi lờ đờ như cá trúng thuốc, rồi
ngả nghiêng, lịch sự, dịu dàng xin phép kiếu từ.
– Con thấy thế nào?
Tôi lắc đầu khi Cha tôi hỏi sau lúc về nhà.
– Mẫu người của con không hợp với gia đình người ta đâu. Với
lại…
– Cha thấy chỗ nầy thật xứng vợ xứng chồng, xứng sui xứng gia
lắm, con à.
– Cô ấy lớn hơn con tới hai tuổi.
– Cha và anh Hai con có đắn đo một chút chỗ tuổi tác, nhưng
bù lại là thân thế của người ta sẽ rất có lợi cho con và gia đình mình. Thời đại
Cách Mạng mà con. Phải chọn cho đúng dòng, đúng giống.
– Cô ta chỉ mới học lớp ba, chữ viết như cua bò. Con đã từng
thấy chữ viết của cô ấy. Chẳng lẽ con phải lấy một người phụ nữ mà học hành chỉ
có vậy ? Đó là chưa nói họ nhìn mình thấp tè dưới con mắt của họ. Họ đã và che
miệng cười khùn khục đến văng nước bọt khi nhìn thấy bộ dạng rừng rú như chồn
rái của con. Họ là quý tộc đỏ. Nhà đó chỉ có thể hợp với anh Hai con thôi.
– Nhưng anh Hai mầy có vợ rồi… Còn họ cười là vì thấy cái
dáng người miệt biển của con. Dù gì thì mình cũng đến nhà người ta rồi. Còn phải
tính đến cái duyên của con gái người ta.
– Nếu có duyên thì để cho người khác họ cưới, lo gì ế. Hôn
nhân chứ có phải công việc từ thiện.
– Cha thấy tiếc cho gia đình mình. Một đời, chẳng mấy lần được
may vậy đâu con .
– Vậy là Cha với anh Hai muốn “cưới” cái chức Phó Chủ Tịch
cho nhà mình chứ nào phải cưới vợ cho con.
– Mầy nói bậy, nói bạ…
Còn anh Hai thì sau khi về đến nhà bèn nổi trận lôi đình tụng
cho tôi một trận ra trò. Cuối cùng anh bảo tôi là thằng ngu, thằng ba trợn, khi
bỏ lỡ một cơ hội để rắn trun đen có mạng hóa thành rồng.
Tôi trở về rừng khi được Mẹ và các em khao cho một bữa bánh
xèo (cũng phải mang cái cối xay bột từ dưới ao bùn lên) và trang bị thêm ít
thuốc men, dao kéo, kim chỉ. Khi tôi về đến rừng thì cô gái tôi chịu ơn đã bỏ
đi mất. Tôi phải ra mãi tận thảm rừng già sát vàm biển mới tìm được cô em về. Hỏi
ra thì cô bảo: “Em buồn vì anh bỏ em về nhà lấy vợ”. Tôi trố mắt buồn cười
và thấy mình lẩm cẩm như một cụ già trước cô gái xinh đẹp nhỏ bé-người khách
oan khiên của rừng kia.
– Em còn trẻ, thậm chí còn nhỏ quá, mà theo Thanh Niên Xung
Phong chi cho cực. Nên ở nhà với Mẹ, em nhỏ à.
– Không, em chỉ theo Thanh Niên Xung Phong một nửa, còn một nửa
là… đi theo anh!
– Trời đất, sao lại vậy. Em là con nít, còn nhỏ xíu so với
anh…
– Nhưng em tự thấy mình có duyên nợ. Em nhất định đi theo
anh, rồi mai kia tới đâu thì tới…
– Sao lại vậy...? Anh… Anh sao dám…
– Có gì mà dám với không dám. Anh lớn, anh làm lãnh đạo mà
không biết gì hết.
– Ừ thì… Để anh xem lại coi có kỳ không đã. Anh chỉ ngại em
còn con nít, trong khi anh đã thành một cụ già…
– Già cũng được… Còn hơn em phải sống bơ vơ một mình…
Tôi vẫn chưa tin cô gái ấy yêu tôi, nên hỏi lại một cách ngây
ngô đến ngớ ngẩn:
– Bộ em thương anh thật à. Mà em không thấy kỳ sao: một đôi
đũa lệch, đũa so le đó. Anh lớn hơn em đến hơn 10 tuổi… Anh lại bệnh hoạn, già
như ông cụ rồi, lấy làm gì cho uổng đời thiếu nữ.
– Cụ cũng được. Mẹ em bảo em yêu anh, lấy anh, còn Mẹ thì về
Sài Gòn tá túc với người Dì trên ấy, chờ cơ hội đi ra nước ngoài… Giờ em chỉ
còn một mình. Anh chê em thì em sẽ không sống trên đời nầy nữa…
Nhìn vào mắt cô gái, nhớ đến sự ra đi tức tưởi của người chị
theo lời cô kể, tôi biết cô gái đang nói rất thật lòng mình. Như được hồi sinh
từ ánh mắt dịu hiền và có chút dạy khờ của con gái mới lớn ở môi trường sống
không quen thuộc trong hoàn cảnh nghịch nghiệt của gia đình, lại gặp lúc cùng
đường do cuộc đời đưa đẩy, tôi bước đến bên cô gái, đưa tay ra ngoéo với cô như
hai người bạn nhỏ chơi nhau cách đây từ xa xưa lắm:
– Được, mình ngoéo tay nhau. Anh sẽ cho em cái quyền có thể
chán anh và bỏ anh để lấy người khác xứng đáng hơn bất cứ lúc nào.
– Ngoéo...! Em cũng cho anh cái quyền bỏ em bất cứ lúc nào…
Từ đó tôi xem như mình đã có hôn ước. Thật lạ kỳ, không giống
ai hết, lại càng khác anh Hai. “Một thằng người vô tổ chức, vô kỷ luật, bỏ hết
mọi khuôn phép”. Anh Hai đã nói nhắn với tôi như vậy. Và tôi lại cười cho cái
cuộc sống không giống ai của mình. Đấy mới đích thực là tự do-vì nó cứ tuần tự
mà vượt khỏi mọi cái tất yếu một cách khả dĩ nhất, lại đầy tính khôi hài. Khi
tôi sắp đưa cô gái về làm quen với những người thân trong gia đình, thì… bất
ngờ chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ. Mọi dự định về tương lai lấy vợ, có
con của tôi dừng lại. Tất cả bọn tôi được lệnh ra tiền tuyến phục vụ chiến trường.
Chúng tôi lên đường không một chút vướng bận. Chào biển, chào rừng, tạm biệt những
kỷ niệm giầm trong đất của Thanh Niên Xung Phong. Rồi quảy lên vai, quấn lên
thân súng đạn, leng, vá, cuốc xuổng, xoong chảo, nồi niu, đàn và những chiếc ba
lô sờn rách, bọn tôi vừa đi vừa hát vang những bài ca ra trận. Lời bài hát ngày
nào giục giả bước chân : “ Đồng chí ơi người chiến sĩ Giải Phóng Quân miền Nam
anh hùng thành đồng Tổ Quốc. Anh đi về đâu, từ Quy Nhơn đến Biên Hòa về Phước
Long xây chiến thắng…” Đoàn xe lao vun vút với bài hát Chào em cô gái Lam Hồng
làm bọn tôi sống lại với những giờ phút hào hùng của Dân Tộc ngày xưa. “Xe ta
bon trên những dặm đường, giữa làng quê ta băng qua bao suối đèo, đồi nương mà
xe ta bon ra chiến trường. Chào em cô gái Lam Hồng, giữa tiếng bom gào đạn dội,
vẫn nghe vang vang câu hò trên đường… Tiền phương tay lái mang tình em đảm
đang… Hỡi la hơi là, hơi là…”. Cảm ơn Tổ Quốc đã dành cho tôi dịp cuối cùng của
thời trai trẻ. Lần nầy thì nhất định tôi phải nhìn cho được khuôn mặt đáng ghét
của kẻ thù.
Trận tấn công đầu tiên quá quyết liệt, tôi bị thương và chạy
lạc đơn vị. Pônpôt đặc đất-theo lời kể của anh em-nhưng tôi vẫn buồn cho mình
là không hề trông thấy tận mắt một thằng kẻ thù tàn ác, man rợ nào. Có lẽ tại
cái số của tôi vậy, chứ chẳng lẽ lại một lần nữa tôi hèn nhát? Ơi! Kẻ thù ngồi
ngay trên ụ pháo, nó ăn và tiêu tiểu lên cả công sự, chỗ tôi trốn, vậy mà tôi vẫn
không nhìn thấy chúng. Thật quái gỡ, bực mình. Tuần lễ sau tôi được mang về đơn
vị thì cô gái bé nhỏ vì yêu tôi mà tập hát bài ca Cách Mạng “ Nếu là chim tôi sẽ
là loài bồ câu trắng. Nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương…” con chim sẽ,
con chim câu, cái vầng mây ấm bồn chồn thương nhớ mỗi lần xa vắng của tôi, thật
buồn là đã bị thương cụt cả hai cánh tay nhỏ nhắn xinh đẹp của mình ! Trơi ơi,
có lẽ nào ..!? Hai cánh tay với hai bàn tay từng đi hái lá mảng cầu, bình bát
đâm nát để chận cữ sốt rét cho tôi, từng đào mì, mót khoai lang nấu cho tôi ăn.
Cả mấy ngón tay hay vén tóc, có một ngón đã ngoéo với ngón tay tôi thề sống trọn
đời, lỡ có bỏ nhau nàng cũng không hờn không giận… Một buổi sáng rừng yên, tôi
cố lê thân hình còn đầy thương tích đến với cô gái ở quân y dã chiến. Tôi chỉ
còn biết nuốt ngược những tiếng khóc vào lòng. Ôi! Con chim sẻ, con chim câu
hoạn nạn của tôi! Cô gái đau khổ nhìn tôi rưng nước mắt. Chúng tôi ngồi với
nhau, lặng lẽ nuốt từng giọt nước mắt mặn đắng và chát ngầm vào lòng.” Em đã là
đàng mình, là Cách Mạng chưa anh… Có phải em bị thương là vì Tổ Quốc? Mẹ em
biết được chắc là Mẹ em vui lắm… Nhà em bây giờ gần gủi với Cách Mạng rồi, phải
không anh? ” Mẹ sẽ buồn chứ làm sao mà vui được. Con gái của Mẹ đã…” Tôi kịp
dừng lại trước những từ không vui đã trào ra tới miệng. Bị thương cụt cả hai
tay mà cô gái lại mừng vì được xem là Cách Mạng, không là thực dân mới, tư bản
chủ nghĩa, ngụy quân, ngụy quyền nữa. Ôi, sao em ngây thơ thế, sao em hồn nhiên
như lá như hoa giữa chiến trường khét khói và đầy chết chóc thế nầy...? Tôi hiểu
đời cô gái ấy chẳng còn gì ngoài tinh yêu trong trắng em đã dành cho tôi. Cũng
chính trong những ngày u ám của chiến tranh, cô gái mới kể cho tôi nghe chuyện
mất mát của gia đình cô. Tôi chỉ nhớ được một đoạn mà bất kỳ ai được nghe cũng
nhớ.
– Hôm ấy, khi mấy ông Cách Mạng lục soát khắp nhà, không lấy
được gì hơn những thứ trong tủ, trong két sắt, Ông cán bộ đưa tai vào tường, gõ
mạnh, quả như thần! Lập tức Ông trừng mắt ra lệnh cho Mẹ Ba em lên lầu nói
chuyện. Ba Mẹ em trao đổi gì đó với Ông chỉ huy. Ông ấy lắc đầu, mãi mới chịu gật
đầu. Hai bên cuối cùng đã thỏa thuận với nhau về một giao dịch bí mật. Ông chỉ
huy đình ngay công việc đục tường mà Ông và đám thuộc hạ đã chuẩn bị. Đến giữa
khuya, Ông chỉ huy đi xe Honda trở lại một mình, chui vào cửa sau, không làm mất
giấc ngủ của các Du kích, Dân quân đang ngủ canh dưới tầng nhà trệt. Ông ấy
cùng Mẹ và Ba em lấy từ trong tường ra một bao nilon đựng 127 lượng vàng. Theo
thỏa thuận mà ông đã gật đầu là chia hai mỗi bên một nửa. Gia đình em sẽ cầm một
nửa số vàng, giao nhà, giao xưởng, ra đi tìm đường mưu sinh ở vùng đất khác. Vậy
rồi, Ông chỉ huy không hiểu sao lại đổi ý, không chịu. Ba Mẹ nài nỉ thêm mấy lần,
không được, đành cố hạ mình, nhẹ lời không đòi chia hai, chia ba nữa, chỉ xin lại
20 cây, rồi 10 cây để làm lộ phí cho cuộc đào thoát, cũng không được. Cuối
cùng, thấy Mẹ em khóc lóc, van xin, Ông chỉ huy động lòng cho lại 2 lượng, còn
bao nhiêu mang đi hết bằng con đường cửa sau. Ba em đòi có giấy tờ, biên bản của
chính quyền, Ông cán bộ chỉ cho một tờ giấy viết tay. Ba em không chịu thì Ông ấy
móc súng ra, dọa bắt vô tù vì tội man trá. Sáng lại, cả nhà em bị tống lên xe
đi kinh tế mới với mấy gia đình tư sản bóc lột vừa bị tịch biên tất cả gia nghiệp
bao đời. Về đến biển với mấy tháng gạo cấp, mấy cái rựa phát rừng, vài tháng
sau gia đình em kiệt quệ, chị Tư em tự vận chết… Chị kế em, cùng đứa em 15 tuổi
thì bỏ rừng đi biệt. Còn em… Tới bây giờ em mới thấy chị Tư và chị Năm em có
lý …
Tôi chìm lỉm trong nỗi kinh hoàng mà cô gái bé nhỏ kia và gia
đình phải chịu. Tôi sợ em lại quẩn trí mà liều mình theo chị Tư của em cho được
yên đời. Tôi nhìn thân thể em, nhìn hai cánh tay, một cụt sát nách, một còn được
cẳng tay phía trên mà như nhìn em từ chân trời xa, nhìn hoài không ra cô gái
ngoéo tay tôi mấy ngày chiến tranh chưa đến. Từ xa xăm nghĩ ngợi, bỗng tôi giật
mình khi thấy hai giọt nước mắt phản chiếu với bóng nắng đỏ như máu vừa rơi xuống
má em. Tôi cố vỗ về em, hứa sẽ yêu em, cưới em làm vợ như đã ngoéo tay hôm nào.
Tôi thấy cô gái đưa cánh tay ngắn ngủn còn lại quẹt lên mắt và cười khô héo với
tôi như đứa trẻ vừa được dỗ bằng món quà không cầm tay được.
– Nhưng em tàn phế rồi, anh lấy em làm gì nữa cho khổ thân?
– Anh lấy em làm vợ… Em sẽ làm vợ của anh…
Bất chợt tôi đưa tay về phía em như để ngoéo tay em thêm một
lần cho em tin vào lời nói của tôi, nhưng em chỉ đưa cái cùi tay, chứ không con
đưa ngón tay để ngoéo nữa . Rồi thay vì ngoéo tay, tôi đã cầm lấy khúc tay yêu
thương còn lại trên cơ thể em mà lặng im, không nói lời nào. Hai cánh tay em, bộ
ngực con gái hôm nào xối nước giếng trong trăng, giờ như một đám mây trắng
loang lỗ, sần sùi bởi những bệt máu và nước vàng rịn ra từ các vết thương do một
quả đạn 105 ly của bọn diệt chủng nổ gần.
Khi cầm giấy xuất viện, trở về đơn vị, tôi đến thăm em và từ
giã:
– Chỉ còn vài trận nữa thôi, tụi nó sắp thua rồi. Anh đi chiến
dịch mấy hôm lại về…
Cô gái gật đầu nhìn tôi, mắt long lanh như muốn nói điều gì.
Tôi định hôn cô gái từ biệt, nhưng mấy cô y tá đã bước vào yêu cầu cô gái thay
băng. Tôi đành gởi cái hôn lên tay vẫy về phía con chim sẻ, con chim câu thương
đến trào nước mắt của tôi.
– Hãy đi nhanh rồi trở về với em nghen…
– Sẽ trở về. Ngoéo tay…
Em ở lại phía sau cái vẫy tay của tôi. Từ đó cho đến lúc tôi
trở về đơn vị để cùng anh em theo bộ đội vượt phà Niết Lương để tiến về
Phnompênh, tôi lại luôn nghĩ đến cô gái đòi làm vợ tôi không khác trò chơi chòi
của trẻ thơ xưa. Khói lửa ngút trời. Tôi quyết tâm cùng anh em hoàn thành nhiệm
vụ và trở về với em ngay. Bọn Pônpôt cuống cuồng tháo chạy. Các hướng tiến quân
của ta như bão cuộn, thác gầm. Trên đường hành quân thần tốc, chỉ đụng vài trận
nhỏ với đám tàn quân chạy lạc đường, cách chừng 10 km là đến Thủ Đô Phnompênh,
lợi dụng lúc đoàn xe dừng lại vì gặp chướng ngại, tôi đột ngột vỗ vai và nhắn
nhỏ với thằng bạn “ Tao đào ngũ. Mầy báo cáo chỉ huy giùm tao. Thà tao không bước
qua được lời nguyền nhìn tận mặt kẻ thù, chứ tao không thể để nàng cu ky một
mình trên đời nầy được. Tao là cứu tinh của nàng. Hãy hát giùm tao bài ca mừng
chiến thắng.” Thằng bạn nhìn tôi một lúc, gật đầu, rồi tháo đưa cho tôi trái lựu
đạn phòng thân. Người ta lũ lượt kéo nhau ra chiến trường với vinh quang đang
chờ sẵn, có cả sự hy sinh nữa, còn tôi đang đi ngược đường. Tôi cam phận làm một
thằng hèn đớn sau hai cuộc chiến tranh không hề nhìn thấy mặt kẻ thù. Tôi vừa
đi, vừa chạy về phía hậu phương yên bình còn nghi ngút khói.
– Thắng rồi à ? Nhanh thật. Chúc mừng!
– Tới Phnompênh rồi à. Bọn Pônpôt chạy hết rồi à? Bọn nó
thua rồi à?
– Chưa, chỉ có mình tôi về… Giặc sắp thua. Còn tôi thì đã
thua trước khi giặc đầu hàng. Một mình tôi thua thôi…
Những người đi đường trố mắt nhìn tôi như nhìn một thằng tâm
thần ngớ ngẩn. Tôi ngượng, muốn chạy nhanh, hay kiếm chỗ để trốn, nhưng chỉ có
con đường thẳng: hoặc đi tới vinh quang, hoặc trở về nhục nhả. Tôi thẳng hướng
trở về.
Tiếng pháo vẫn nổ. Khi về đến biên giới thì tôi bị giữ lại,
sau đó là bị dẫn đi theo lệnh khi biết tôi là thằng đào ngũ mang theo bao nhiêu
bí mật quân sự. Tôi được đưa về trại kỹ luật. Ở đây tôi bị lên án như là phần tử
xấu xa phản bội Tổ Quốc, phản lại tinh thần quốc tế vô sản cao cả của người Việt
Nam. Không ai hiểu được lòng tôi. Tôi cúi mặt như một kẻ hèn nhát để mong giữ
được tôi cho cuộc đời vốn đã tan nát của cô gái yêu tôi. Chiến tranh! Nó là cơ
hội cuối cùng để tôi thử thách mình, và tôi đã chọn cho tôi lối thoát xấu xa nhất.
Bởi với cuộc đời của cô gái đáng thương kia tôi lại là cơ hội cuối cùng cho một
đời người. Sau nửa tháng bị giam lỏng, tôi quyết tâm trốn trại, băng rừng đến
Quân y dã chiến tiền phương để được thăm cô gái. Khi bước vào dãy phòng điều trị
bên lán trại, gọi lớn tên em, và chỉ kịp ôm em vào lòng, chưa nói với em lời
nào, thì lực lượng an ninh ập đến. Tôi bị bắt. Em nhìn theo tôi mà không biết
chuyện gì. Tôi cũng chưa tiện nói với em tôi là thằng đào ngũ. Cũng chưa kịp
nói với em rằng tôi trở về là vì để em vui, vì tôi muốn còn được sống mà thực
hiện cái ngoéo tay cho suốt cuộc đời với người con gái tật nguyền-tàn dư còn lại
mang hình hài của giai cấp tư sản bóc lột. Tôi không thể để em lại địa ngục.
Tôi phải cùng em lên thiên đàng. Và những ngày khủng khiếp ấy chậm chạp qua đi…
Chiến tranh kết thúc. Tôi ra khỏi trại kỷ luật và trở về nhà
với con số không đen đúa làm u ám cả vòm sáng trong nhà của Cha Mẹ tôi. Người
làng nhạy cảm đã sớm mang đến tặng Cha Mẹ, anh em tôi những lời dè bĩu cay độc.
Tôi thành hình ảnh hèn mạt đáng ghê tởm trong mắt Cha và hai con ngươi của anh
tôi. Chỉ có Mẹ tôi, và chừng mực nào đó trong tấm lòng trong trắng của mấy đứa
em, tôi còn có được chỗ đứng vị tha bên tình yêu thương của họ. Tôi đến Trạm điều
dưỡng gần biên giới đưa cô gái của tôi về quê và ra phường nhờ họ làm hộ tôi tờ
giấy kết hôn. Phải có bao nhiêu bạn bè anh em quen biết đến phường xác nhận,
hai chúng tôi mới thành vợ thành chồng. Hai chúng tôi không làm đám cưới. Đơn vị
Thanh Niên Xung Phong cho vợ chồng tôi xây tổ uyên ương tạm trong cái nhà xe không
còn xe để đậu của Trung Đoàn. Tôi cảm thấy thật hạnh phúc vì ở đây-ở cái đơn vị
bán quân-bán chánh-bán công-bán dân nầy vẫn còn có vài thằng bạn hiểu tôi và ủng
hộ cuộc hôn nhân ngọt ngào, quái dị như cóc nhái của tôi. Ngày ngày tôi đi chạy
xe đạp ôm để kiếm tiền sinh sống. Một hôm, được sự giới thiệu của Tổng Đội
Thanh Niên Xung Phong về trường hợp cần cứu đói, cứu khổ, Trưởng đoàn bảo trợ-từ
thiện của Thị Xã cho người mang đến chỗ cư trú của vợ chồng tôi một giạ gạo, mấy
ký khô, mấy chai nước mắm, một bịt bột ngọt và một chiếc phong bì. Vợ tôi cảm động
đến ra nước mắt. Còn tôi, khi vừa dắt xe đạp vào trong nhà, quây trở ra định
nói lời cảm ơn vị Trưởng đoàn và mấy người đi chung, cùng anh xích lô, thì…
người phụ nữ Trưởng đoàn nhìn tôi, trố mắt, tưởng như trên đời nầy không còn
trường hợp nào có thể ngạc nhiên hơn khi thấy tôi lễ phép cúi đầu chào … Đó là
con gái của ông Phó Chủ Tịch, người phụ nữ bẽ bàng duyên phận cùng tôi hồi năm
trước cùng trân lôi đình mà tôi nhận được.
– Ồ, anh đấy à, rễ hụt của Ba tôi đấy à. Nhiệt liệt hoan
nghênh anh!
Rồi bọn họ lắc người đi một mạch như chạy ra đường, không biết
để lẩn trốn cái cảnh đời chật hẹp khốn nạn của tôi, hay họ chạy nhanh ra ngoài
để có khoảng không gian thoáng đãng cho một trận cười đẳng cấp. Tôi quay lại
nhìn vợ. Vợ tôi nhìn tôi thỏa mãn, hai con mắt bồ câu ngân ngấn lệ.
– Họ tốt với mình quá. Họ thật có tình.
– Ừ, họ rất có tình…
– Có người quen với anh à ?
– Họ quen với Cha và anh Hai nhiều hơn…
– Hèn gì. Cảm ơn Cha và anh Hai của mình.
Tôi nghỉ chạy xe ôm nguyên buổi chiều hôm ấy để ở nhà cho vợ
thưởng công. Bài hát “Cuộc Đời Vẫn Đẹp Sao” từ loa phóng thanh đầu ngõ cứ rả
rích hát vào hạnh phúc bé mọn của vợ chồng tôi cùng cơn mưa cuối hạ, khi ngoài
kia thành phố đã lên đèn.
Trong khi đó-bất kể tôi có làm kỳ đà cản mũi, có gây ra sự
nhơ nhớp ít nhiều cho danh giá của anh tôi-anh vẫn được cất nhắc lên đến chức
Phó Chủ Tịch Tỉnh bởi công lao và tài năng đích thực của mình. Anh còn được cấp
riêng cho một ngôi biệt thự sang trọng bên bờ sông Tiền thơ mộng. Cha tôi lên tới
chức Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Xã. Em tôi bốn đứa vào Đại Học, hai đứa học Phổ
Thông, một đứa ở nhà làm nông dân với Mẹ. Thỉnh thoảng Mẹ say mấy đứa em mang gạo,
nước mắm, khô cá lù đù, tiêu tỏi, bột ngọt và một tấm vải cho hai vợ chồng tôi.
Bà thương tôi và cô dâu tật nguyền mà hay khóc thầm. Cha tôi thì giận thằng con
hại đời phá đạo mà chẳng màng trông ngó tới cuộc sống của tôi. Anh Hai tôi thì
coi tôi như người không còn biên chế trong gia đình Cách Mạng có đẳng cấp nhất
nhì quận Long Hồ của ông cò nổi danh trong tuồng hát cải lương ngày nào. Anh
còn chỉ vào mặt tôi, mắng tôi là vật chướng ngại cho con đường công danh của
anh. Anh xạc thẳng vào tôi mỗi lần không may mắn phải gặp: “Chú là một kẻ
thoái hóa, biến chất, xấu xa, lạc lõng trong vận trình Cách Mạng. Chú đã bị luật
tiến hóa đào thải. Chú có biết là chú đã làm hại tới tôi không? Lẽ ra tôi phải
lên đến tận Trung ương để làm…” Tôi chỉ cười và quạt cái nón tai bèo vải mốc
vào mặt, vào cổ mình cho mát, để không phải phật lòng Cha tôi.
Sau đó tôi còn phải nhận lệnh của anh tôi là không được đạp
xe ôm hay xích lô trong cái Thị Xã nầy để không phải gây phiền nhiễu cho vị thế
của anh. Cái hôm có chiến dịch ổn định trật tự trị an, tôi bị Công An bắt, tịch
thu xe và tạm giam vì tôi chở đúng tên ăn trộm-được xem là đồng lõa với bọn xấu.
Anh hai tôi nghe tin, điện thoại cho Trại giam, và không quên căn dặn những người
có trách nhiệm phải bí mật thông tin. Tôi hiểu ra một điều: uy quyền, danh vọng
và sự khôn lõi chính trị đã làm biến dạng đi con người của anh tôi, đã làm cho
đứa con gia giáo nhất nhà của Cha tôi mọc vuốt trong bóng tối.
Tôi được ra tù để đưa vợ vào Bệnh Viện sinh con. May mắn đến
với tôi : Mẹ tròn con vuông! Người Mẹ bị cụt hai tay lại sinh ra cho tôi một
thằng con nguyên vẹn, kháu khỉnh! Thật biết ơn thiên nhiên lành thiện. Hôm rước
vợ con về nhà, tình cờ tôi lục trong xấp giấy tờ cũ của vợ tôi và nhặt ra từ bụi
bặm thời gian một mảnh giấy biên nhận và một cái băng ghi âm nhỏ gói trong bọc
cao su. Tôi cầm tờ biên nhận lên, đọc kỹ và run bần bật khi vợ tôi quẹt nước mắt
bảo: “Đừng anh… Chuyện cũ… Chuyện đã qua rồi… Lại nữa nó dính đến gia đình
mình… Cái băng ghi âm là của chị Tư em-người tự vận chết, dùng máy cassette
trong nhà ghi được đêm trước khi phải rời nhà. Cái máy cassette đã bi tịch thu,
chỉ còn có cuộn băng. Em nhớ chị, chỉ giữ lại làm kỷ niệm thôi, không phải để
trả thù…”
– Có lẽ nào… Trời Phật ơi… Bác Hồ ơi! Đảng ơi...! Nước ơi...!
Làng ơi … Đoàn thể Nông Thanh Phụ ơi...! Có lẽ nào chính anh tôi … Chữ ký của
anh ấy… Chữ ký tên ngày trước của anh… Bây giờ chữ ký anh đã khác… Người ta
có thể có nhiều chữ ký cùng được sử dụng trong một đời … lúc thì ký thế nầy,
lúc thì ký thế khác. Hèn nào..?
Tôi không nói không rằng, đạp xe ra chợ phô tô mấy tờ biên nhận,
chép băng ghi âm ra mấy bản, và chạy ngay đến Ngân Hàng để hỏi xem có phải số
vàng ấy đã vào kho Nhà Nước, hay chạy đi đâu? Chả ai đếm xỉa gì đến những câu
hỏi ngớ ngẩn của tôi. Tôi hộc tốc đạp xe đến Ủy Ban Tỉnh xin phép vào gặp anh
tôi, nhưng anh đã từ chối. Cuối cùng tôi cũng vào được đến phòng làm việc của
ông Phó Chủ Tịch phụ trách Tài Mậu. Anh tôi hậm hực, hầm hứ một lúc rồi miễn cưỡng
ngồi xuống tiếp tôi.
– Muốn gì thì nói. Chỉ hai phút thôi. Cần giấy giới thiệu mua
cám heo phải không?
– Cái đó anh hãy kêu vợ anh, hay những người giúp việc nhà
anh làm, tôi không cần cám. Nhà tôi không có heo.
– Vậy chớ chú cần cái gì?
– Cần hỏi anh. Hồi X-I diễn ra trong Thị Xã, có phải anh đã
làm biên nhận để nhận 125 cây vàng của một nhà tư sản bị đánh?
– Cái đó thì mắc gì tới chú. Chú đang lên cơn điên hay sao vậy? Không biên nhận, chứng nhận gì hết. Đồ vớ vẩn !-Mắt anh tôi thoáng nhấp nháy,
rồi nhìn tôi giận dữ-hai con mắt đen lạnh, sắc như dao mới mài, cái màu mắt chỉ
riêng những kẻ chuyên chính hung tợn thời nầy mới có.
– Anh bình tỉnh mà nhớ kỹ lại xem…
– Không việc gì tôi phải báo bẩm với chú. Chú về đi!
Tôi chậm chạp móc tờ giấy ra đưa tới trước mặt anh và không
kiềm chế được nữa:
– Cái nầy không phải của anh thì của thằng phản động nào?
Tôi phải truy cho ra thằng phản động đê hèn nầy. Nó là thằng ăn cướp!
Anh tôi thoáng run rẫy, mặt biến sắc xanh tái, thở hốc ra, mồm
ấp a ấp úng. Nhưng với bản lĩnh của một người đã từng uống phân khô của người
và súc vật vào bụng để được nôn thốc nôn tháo, khỏi phải đi theo những chuyến
công tác vùng kềm có thể nguy hiểm đến tính mạng, nuốt đến độc dược vô bụng cho
nám phổi, nám gan để được vào viện, trốn đi Campuchia theo sự phân công mà vẫn
không bị phê bình kiểm điểm, không cần học vẫn có được bằng cấp đỏ, tư hữu hóa
ruộng đất nhà mình mà vẫn được khen, anh gườm gườm nhìn tôi-cái nhìn phân nửa của
thánh hiền, phân nửa của kẻ cướp ngày .
– Chú nên nhớ anh của chú là một cán bộ có chức trách… Chú
không nên đem chuyện gia đình, anh em đùa cợt ở đây-giữa chốn công đường nầy được.
Chú cần gì thì để tôi nói lại với chị Hai chú … Chú không được làm càn… Đưa miếng
giấy cho tôi xem...!
Anh tôi chụp lấy tờ biên nhận trong tay tôi, đưa lên, liếc
đôi mắt bồ cắt xem qua rồi xé vụn.
Tôi rung lên như bị cơn sốt rét đột ngột. Tôi ném cái nhìn
ghê tởm vào anh cùng với bãi nước bọt dành cho kẻ tiểu nhân đê tiện đang khoác
áo thánh hiền đức trọng đạo cao.
– Còn cái giọng nói của thằng quan đốn mạt nầy, có phải của
anh không?
Tôi kéo cái túi zết lại gần, lấy chiếc máy cassette mượn của
người quen, cầm lên tay, ấn nút cho nó phát lại cuộn băng có giọng nói của ông
quan X-I cùng tiếng mặc cả trả treo qua lại của mấy người.
“ - Tôi lạy Ông! Nếu Ông không chia hai như đã hứa, thì chia
ba cũng được. Hãy cho vợ chồng và mấy đứa con tôi còn được sống. Tôi xin Ông chỉ
huy hãy thương tình.
– Tôi tha mạng, không bắt giam ngay Ông Bà là đã nhân đạo,
khoan hồng lắm rồi. Phải giao hết 127 lượng cho tôi!
– Sao lúc đầu ông hứa với vợ chồng tôi?
– Đó là thủ đoạn nghiệp vụ. Không như vậy thì Ông Bà đâu có
chịu lôi số vàng đó ra.
– Thôi thì Ông cho nhà tôi xin lại 20 lượng để làm lộ phí.
Hay ít ra thì cũng 10 lượng. Dẫu gì thì nó cũng là mồ hôi nước mắt của vợ chồng
tôi…
– Mồ hôi nước mắt nào của Ông Bà. Cái nầy là giá trị thặng
dư, là bóc lột giá trị thặng dư mà có, biết không!? Chỉ 2 lượng. Ở đây không
phải ngoài chợ mà trả giá. Đây là mệnh lệnh. Ông Bà rõ chưa?
– Nếu Ông thất tín thì thà để sáng mai, mời mọi cán bộ đến
làm biên bản bàn giao trước mặt chính quyền, chứ tôi không giao riêng cho một
mình ông. Ông về đi! Không thì tôi sẽ gọi mấy chú Dân quân, Du kích thức dậy
làm chứng.
– Hai Ông Bà không được lớn tiếng. Tự tôi nhận rồi tôi nạp
cho Nhà Nước Quân Quản. Tôi có đủ tư cách để làm bất cứ việc gì thuộc phạm vi
trách nhiệm của mình. Tôi có quyền trừng trị tất cả những kẻ chống lại việc thực
thi nhiệm vụ của tôi, nghe chưa!?
Sau đó là im lặng. Rồi một giọng nói cất lên mạnh mẽ, uy quyền:
– Cầm lấy 2 lượng nầy. Đây là biên nhận có chữ ký tên của
tôi. Giữ lấy để làm bằng. Muốn được yên ổn thì phải biết điều, phải biết tôn trọng
người đại diện cho Cách Mạng. Rõ chưa!?
Anh tôi đanh mặt lại lắng nghe, vẻ mặt cứ trở màu theo từng
câu đối đáp trong băng. Sau đó, anh tôi hạ giọng, đổi cả cách xưng hô, cười gượng,
rồi khéo léo kéo câu chuyện về phía khác, mặc dù đã quá hai phút anh hẹn giờ đến
mấy lần:
– Chú uống trà. Cái băng nầy ở đâu chú có. Tụi xấu nó dàn cảnh,
dựng chuyện đó chú à. Dạo nầy bọn Khme tự do, bọn Khme xấu cấu kết với Pônpôt,
đế quốc, và cả bọn bành trướng bá quyền hay tìm cách phá hoại, xuyên tạc sự
nghiệp Cách Mạng của Nhân Dân ta. Tôi nghe giọng nói ấy có giống giọng nói của
tôi đâu. Chú đưa cái băng ấy cho anh để anh còn nghe kỹ lại, hoặc nhờ bên kỹ
thuật của Công an nó phân tích, nó giải mã hầu tìm ra thủ phạm giùm. Tụi nó
cũng ghê gớm thật. (Anh tôi đột ngột chuyển hướng câu chuyện qua một cái ngoặt
khác nữa) À, rốt rồi… À, như vậy là chú có hơn anh tới một cuộc chiến tranh đó
nhen. Kể ra thì chú cũng đáng được tôn trọng, thậm chí tôn vinh. Anh sẽ có ý kiến
xét thành tích của chú mà khen thưởng để chú có được chút gì. Cứ về nhà và ăn
yên ở ổ tạm thời chỗ trụ sở Tổng Đội Thanh Niên Xung Phong, mai mốt anh sẽ lo
cho chú một chỗ ở khác tương đối đàng hoàng. Mà nè, ngày xuất quân sang
Campuchia nghe anh em họ nói chú cũng dũng cảm lắm mà, sao sắp đến Phnompênh rồi
lại quay về cho uổng phí công lao vậy. Như vậy là chú cũng khá hơn anh Hai của
chú, ít nhất chắc cũng nhìn thấy được mặt thằng kẻ thù bằng xương bằng thịt rồi
chứ?
Tôi trả lời cộc lốc:
– Vẫn chưa thấy…
– Chưa thấy là sao? Muốn làm bản thành tích để được khen với
thứ hạng cao, thì chú phải ghi là nhìn thấy rõ kẻ thù, nó ném lựu đạn, nó bắn,
nó đánh mìn thế nào mới được chứ. Nhất định là phải thấy, nhớ như vậy …
– Chưa thấy là chưa thấy. Tới hôm nay mới thấy…
– Hôm nay chú thấy gì...?
– Kẻ thù. Hôm nay tôi mới nhìn ra khuôn mặt kẻ thù đáng sợ nhất
của Dân Tộc. Nó đáng sợ hơn Mỹ Ngụy, đáng sợ hơn Pônpôt, bá quyền… Nó đang đứng
ngay trước mặt tôi...!
– Chú… Chú...!? Tôi sẽ cho chú vô tù vì tội vu khống, phỉ báng
cán bộ cao cấp của Nhà Nước Cách Mạng…
Tôi đứng dậy, không cần chào anh, bước thẳng ra cửa, đóng mạnh
cánh cửa cái “rầm”! Vừa ra đến cổng thì anh tôi chạy theo, la ơi ới “Giữ nó lại!
Nó…” Nhưng tôi đã nhanh chân chạy thoát. Nhờ có mấy anh bảo vệ quen, quá biết
tôi là em ruột của anh Hai tôi nên cứ tưởng anh muốn dặn thằng em thêm điều gì,
mà không kịp, nên thôi, không đuổi theo tôi nữa.
Tôi về gặp Cha tôi với một tờ biên nhận khác đã được sao từ
trước. Anh Hai tôi có lẽ đã lòa nên không nhận ra tờ biên nhận anh xé chỉ là một
bản phô tô. Tôi mở cả máy cassette cho cha tôi nghe lại giọng nói quen thương từ
đứa con yêu quý của mình.
Cha tôi tự tin và điềm tỉnh như trụ đá để cố nhầm lẫn về người
con cả-viên ngọc trai của dòng họ, xóm làng, với cái lung linh, lấp lánh được
làm nên từ vết xước trong bụng của một loài nhuyễn thể ăn tạp bùn cặn-vi sinh,
nhưng rất cao thượng của biển dã, nhận chịu sự đau đớn, nguyền tật vào mình để
tạo ra cái đẹp cho hạnh phúc con người.
– Anh Hai con là trí thức Cách Mạng, nó làm việc và học hành
đến nơi đến chốn. Nó là người có giáo dục với phương chấm: có công mài sắt có
ngày nên kim. Cha đã nuôi dạy nó từ nhỏ, Cha biết tính nết nó. Nó không thể là
hạng người xấu xa như thế được. Đây có thể là chữ giống chữ, lời giống lời. Với
lại cái biên nhận tay thì ai viết không được, nó đâu có giá trị pháp lý gì. Cả
cái đoạn băng ghi âm cũng vậy. Ba cái thứ vu vơ ấy trẻ con chơi chòi cũng làm
được. Bọn phản động thì thiếu gì thủ đoạn để ly gián, bôi nhọ cán bộ cốt cán,
rường cột của chúng ta. Coi chừng bọn địch đang tìm cách tấn công anh con khi
thấy nó tiến bộ nhanh và triệt để Cách Mạng. (Rồi Ông quay sang tôi) Cha vẫn
buồn vì con =… Có lẽ con nên bình tâm lại mà học cách làm người, cách sống của
anh con. Vẫn còn chưa muộn con à. Còn chuyện tờ giấy bá vơ, cái băng ghi âm bá
vơ thiếu căn cứ nầy, con hãy vứt nó đi. Con hãy nhớ rằng : Anh con là cây cao
bóng cả của xã hội, của gia đình ta, và của cả chế độ nầy. Tài năng, trí tuệ,
công lao của nó còn quý hơn vàng. Một trăm lượng, hay năm trăm, một ngàn lượng
cũng không cân, không sánh được với nó, con hiểu không? Hãy để yên cho nó làm
việc phục vụ Nhân Dân, phục vụ Cách Mạng. Cha lệnh cho con, nghe chửa!?
Tôi nhìn Cha tôi như nhìn một người xa lạ-một người mà trong
đời, tôi chưa từng trông thấy bao giờ. Tôi cắn răng, nghiến răng, tụt lại từng
bước. Tôi nói mà không biết mình đã nói gì, và nói với những ai.
– Vợ tôi… Trời ơi! Vợ tôi như vậy. Bao nhiêu người Việt Nam
như vậy… Các người còn chưa nhận ra sao… Các người là… Phải, tới bây giờ tôi mới
được nhìn thấy tân mặt kẻ thù-những kẻ thù đáng sợ đang ở ngay trong ngôi nhà ấm
áp của mình...!
Tôi chạy riết về với vợ con tôi trong cơn mưa Nồm Nam trái
mùa tầm tã đầy sấm giăng, chớp giật.
Ngày mai, ôi! Ngày mai của tôi, của những người dân lương thiện,
hay của anh tôi và Cha tôi…?.
Cửu Long, 4/4/1983 Trúc Phương
Cửu Long, 4/4/1983


.png)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét