Trịnh Công Sơn 2
1991 - 1996 Những đứa trẻ bể dâu
Kể từ đó, ngày 8 tháng 3, có những đưa trẻ lạc
loài gặp nhau và tụ lại, quây quần, thành một nhóm gọi là nhóm “Những người
bạn”. Trần gian có những ngày hạnh phúc và cả những ngày bất hạnh. Những đứa
trẻ này đã có một tuổi thơ thăng trầm cùng vốn biết rằng đời không có gì quý bằng khi gió mùa đông tới, một bếp lửa riêng tư để cùng ngồi lại bên nhau sưởi
ấm những bàn tay và nhân tiện, cũng sưởi ấm tâm hồn mình.
Cũng kể từ đó, bên bếp lửa nhen nhúm những
trái tim chân thật, những đưa trẻ đã lớn lên cùng lòng tin yêu của quần chúng
anh em bạn bè. Những người bạn chỉ là những đứa trẻ muốn kêu gọi lòng yêu
thương vô bờ của những tâm hồn lục địa anh em - trong cuộc đời này.
Vì thế những người bạn đã cố gắng thu mình lại, mỗi người ở một góc đời riêng, để
viết và vắt hết đời mình thổ lộ cùng cuộc đời những gì riêng chung nhất mà đời
kia có thể trong phút chốc, hoặc trong dặm dài của đời riêng biết đâu sẽ chia
sẻ được.
Cũng kể từ đó nhóm “Những người bạn“ đã là
những người bạn thực sự với mọi người, đã là những kẻ hành giả lên đường và đi
bằng những bước chân của mình, dù khổ ải hay không. Những bước chân đã và sẽ
khắc ghi trên lối đi những nỗi niềm riêng với một ước mơ không bao giờ cạn là
sẽ tìm được một thông điệp nhỏ nhoi để gửi đến cho bạn bè khắp nơi khắp chốn.
Một hành giả và một thông điệp, đó là sứ mệnh khắc nghiệt mà kẻ không được cứu
chuộc giữa đời này phải gánh chịu. Không một ai trong những người bạn than van
về điều này vì sực nghĩ ra đó là một hàm ân, một quà tặng quý báu mà cuộc đời
ban cho.
Kể từ đó, năm năm rồi, nhóm “Những người bạn”
không rời con đường được vẽ ra cho sứ mệnh hành giả và tiếng nói vui, buồn
trong những ca khúc được viết ra đôi khi chỉ là một tiếng thở dài hoặc một lời
tán tụng cuộc sống đáng yêu nhưng tựu chung nó vẫn là tấm lòng thuỷ chung của
một nhóm những đứa trẻ có một tuổi đời ngang ngửa với dâu bể của đời.
Kể từ đó bắt đầu những ngày tháng thương yêu
nhau mà sống, mà viết, mà hát những khúc đồng dao với cuộc đời quá hiếm hoi chỉ
có ai may mắn mới gặp gỡ được. Kể từ đó không thấy gì quý hơn con người giữa
trần gian này. Kể từ đó thấy ai cũng là bạn, không ai là kẻ thù. Kể từ đó nhóm
“Những người bạn” biết rằng sống là khó biết dường nào và cũng nhắc nhở nhau
hằng phút hằng giây rằng cuộc sống ơi hãy để tất cả thời gian của cuộc đời này
cho việc yêu nhau chứ đừng mơ màng một phút giận hờn nữa.
Kể từ đó nhóm “Những người bạn” vẫn sống còn
để trở thành mãi mãi nhóm Những người bạn của tất cả những người bạn có mặt ở
trên đời này.
Áo Xưa Dù Nhàu
(Viết thêm của Trịnh
Công Sơn)
“Áo xưa dù nhàu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau“.
Đó là lời trong bài hát Hạ Trắng của tôi. Bạc
đầu có phải là chớm già không. Theo tôi, bạn Đỗ Hồng Ngọc ạ, đó chỉ là thay đổi
một màu tóc. Trời đất có bốn mùa. Con người cũng có những mùa riêng của nó. Hết
mùa đông, thiên nhiên trở lại mùa Xuân. Tôi cũng nghĩ như thế, con người có
trái tim biết chìu chuộng và yêu thương cuộc đời cũng sẽ có lại những mùa xuân.
Mùa Xuân là bất tận đối với thiên nhiên và của cả nhân loại. Đừng bao giờ ngại
ngùng nói với đời riêng chung là tôi còn rất trẻ. Sống trong cùng thời đại, có
cùng ngôn ngữ, một phong tục tập quán, theo tôi, nói với một người trẻ, tôi già
rồi em ạ là một điều vô lễ. Hãy nói rằng: Tôi với em là hai kẻ đồng hành trong
cuộc đời này. Sống trong cùng thời đại, tôi nghĩ rằng, không có già không có
trẻ. Nếu không thì làm sao cảm thông nhau được. Tất cả mọi người là bạn dù đó
là con của bạn đi nữa. Nếu cuộc đời này ai cũng nghĩ rằng mọi người đều là bạn
của nhau chắc là cuộc sống sẽ thêm da thêm thịt đẹp đẽ biết bao nhiêu. Đây có
thể chỉ là giấc mơ riêng của tôi nhưng trong đời sống tôi đã nhiều lần thấy
giấc mơ ấy có thực. Cái biên giới giữa tuổi chớm già và tuổi trẻ chỉ là một ước
lệ mà nghìn năm trước đã bịa ra. Cái khuôn phép ấy đã làm cho thế hệ này và thế
hệ kia có những ngăn cách không cần thiết và từ đó đã làm cho cuộc đời buồn tẻ
hẳn đi. Tôi cho rằng cách xử thế như vậy là thiếu lòng nhân ái. Có những thứ
tôn ti trật tự cần giữ gìn nhưng cũng có những thứ tôn ti cần xóa bỏ. Xóa bỏ để
cuộc đời trở nên thân ái hơn. Yêu thương nhau ai mà không mơ ước. Tóc trắng tóc
xanh đáo cùng cũng chỉ một màu hư vô mây nước trong trời đất mà thôi.
Bài hát đầu tiên bài hát cuối cùng
Ngạn ngữ Pháp có nói rằng bất cứ cái gì bắt
đầu tốt thì sẽ kết thúc tốt. Tôi không hiểu trong những địa hạt như kinh tế, xã
hội, khoa học như thế nào nhưng trên lĩnh vực văn nghệ đôi khi hoặc nhiều khi
nó không hoàn toàn như thế… Có không ít những trường hợp người nghệ sĩ đã khởi
đầu rất hay và kết thúc rất tệ.
Tôi bước chân vào đất đai của nghệ thuật tương
đối sớm. Từ tuổi mười ba mười bốn tôi đã làm những lưỡi sóng liếm láp mạn
thuyền văn nghệ. Trong huyết quản tôi có thể thời ấy đã luân lưu
những lượng máu bất bình thường.
Sau một vài biến cố lớn của gia đình, tôi bắt
đầu một cuộc sống riêng tư không phẳng lặng.
Và từ đó tôi rơi vào một cơn mộng mị triền
miên.
Có một vài câu hỏi, với tôi, đã trở thành nỗi
ám ảnh: Bài hát đầu tiên của anh là bài gì?
Câu hỏi buộc tôi phải trở về những năm tháng
xa xôi. Nhưng khi về đến nơi ấy, trong thời điểm ấy, thì vô tình tôi lạc mình
về một quá khứ khác xa xăm hơn nữa. Và rồi tự hỏi: Cái đầu tiên ở nơi nào mà có
và điều gì đã sinh ra cái đầu tiên kia?
Bài hát “Ướt mi” được nhà xuất bản An Phú ấn
hành tại Sài Gòn năm 1959, Thanh Thúy hát quanh những phòng trà và nổi tiếng.
Thời ấy hình như Nguyễn Ánh 9 đã có lúc đệm đàn piano cho Thanh Thúy hát. Thanh
Thúy trở thành giọng hát liêu trai. Anh Nguyễn Văn Trung, giáo sư triết thời ấy
ở Văn khoa cũng đã từng có bài viết về một tiếng hát liêu trai Thanh Thúy.
Thế thì, cố nhớ lại và tôi đã nhớ một lần nào
đó, trong phòng trà, năm 1958, tôi thấy Thanh Thúy hát “Giọt mưa thu” và khóc.
Bà mẹ Thanh Thúy dạo ấy lao phổi hằng đêm nằm hát “Giọt mưa thu” chờ Thúy về.
Những giọt nước mắt ấy như một cơn mưa nhỏ trên tâm hồn mỏng mảnh của tôi đã
khiến tôi phải lùi xa hơn nữa về một cõi đời nào còn xa xôi hơn đã từng làm tôi
nhỏ lệ…
Phải có một nỗi tuyệt vọng nào đó khởi đầu để
tôi không ngừng dan díu với những giọt nước mắt của đời làm của cải riêng tư.
Eva ăn trái cấm và sự sống thành hình. Tôi e cũng đã từng nuốt những giọt nước
mắt để biết tận tình nói về những giọt nước mắt kia.
Rất nhiều bài hát đã được viết trước bài “Ướt
mi” nhưng riêng bài “Ướt mi” thì tồn tại như số phận của nó và của tôi. Hình
như người Nhật rất thích nó vì dàn nhạc giao hưởng Nhật đã thu bài hát này.
Riêng tôi không thích lắm.
Dù sao thì trong những năm 59-60 trong thành
phố này nhiều người đã thích và hát.
Người ta có nhiều lý do để thích một bài hát
đầu tiên của một tác giả để rồi không quên thắc mắc: Thế thì bài hát cuối cùng
của anh là bài gì? Sẽ như thế nào? v.v…
Sự kết thúc của mọi câu chuyện đời đều không
giống nhau. Tôi vẫn thường muốn trầm mình trong cái lẽ vô thủy vô chung nhưng
người đời cứ thích níu kéo tôi về trong cái lề thói hữu hạn.
Trên đường băng chạy có cái đích để mình đến.
Trong nghệ thuật thì khác. Cái cuối cùng có thể là cái vô hạn và biết đâu, nó
đã từng có trước thời hạn mà mình không ngờ.
Sự bất tử không có trước có sau mà thường nó
nằm ở điểm mà mọi cơ duyên cùng hội tụ.
Tôi không hề có ý định viết bài hát cuối cùng
bởi vì tôi nghĩ rằng thời điểm cuối cùng là điều mà mình không thể nào bắt gặp
được. Nếu vì một lý do nào đó tôi buộc mình phải lên đường để viết những ý nghĩ
cuối cùng của mình trong một ca khúc thì tôi tin rằng vào lúc đó tôi sẽ cố gắng
cởi trói mình thoát khỏi mọi hệ lụy của đời để sống chứ không cần phải nói thêm
một điều gì nữa.
Bài hát cuối cùng có lẽ sẽ chỉ mãi mãi là một
giấc mơ. Một giấc mơ buồn thảm mà chúng ta cần phải quên đi để mọi thứ biên
giới trong cuộc đời trở thành vô nghĩa và nó sẽ không còn tồn tại như một lời
thách thức kiêu hãnh nữa.
Bài hát đầu tiên và bài hát cuối cùng, ngẫm ra
cũng chỉ là những bọt bèo vô hình vô tướng. Chúng ta vui chơi với nó và chúng
ta quên đi. Có kẻ gieo cầu cho người nhặt được. Kẻ nhặt được không chắc là vui
mãi. Kẻ không được cũng chẳng nên lấy nó làm điều.
Hơn ba mươi năm trước có một bài hát đầu tiên,
như một trái cầu gieo, có chắc gì hạnh phúc? Không chắc gì hạnh phúc thì sao
lại cần phải có bài hát cuối cùng?.
Xuân Tân Mùi 1991
Bản Tình Ca ở Lại Với Ai?
Buổi sáng ở hội Âm nhạc. Tôi đến hội như mọi
ngày, ngồi ở tòa soạn báo Sóng Nhạc, người bạn tôi nói: Trưa nay anh về nhà đi.
Tôi hỏi: vì sao ông nói vậy. Có hôm nào mà tôi không về đâu. Có khi về sớm có
khi trễ. Trễ vì những ly bia chưa cạn. Nhưng bao giờ cũng có về. Vả lại, có ai
mà cứ đi mãi không về đâu. Có đi tất phải có về. Chắc chắn rồi sẽ có một lần về
vĩnh viễn để mãi mãi không bao giờ còn ra đi nữa. Sống gửi thác về mà.
Vui thay, một tác phẩm nghệ thuật, trong đó có
âm nhạc, khi đã thực sự có mặt ở đời và đời nhận, là ra đi mãi mãi.
Có một người đàn bà, qua nhiều lá thư, có nhã
ý tặng tôi trái tim. Hãy cứ cho đi và đừng đòi hỏi gì cả. Tôi đã nghĩ như thế.
Một tác phẩm âm nhạc đã dâng tặng đời cũng
không đòi hỏi phải trả lại một điều gì cả.
Có những bản tình ca một thời tôi đã viết cho
một người. Người ấy sẽ đi hết đời mình và biến mất. Tôi cũng sẽ biến mất.
Bản tình ca kia ở lại với ai?
Nhiều lá thư gửi về tòa soạn báo Sóng Nhạc nói
rằng: Chúng tôi không quan niệm nổi rằng đời sống mà có thể thiếu âm nhạc.
Âm nhạc cũng vậy, âm nhạc không thể tồn tại
nếu vắng bóng con người.
Có một lá thư thiếu nữ trẻ trung viết cho tôi:
Mỗi ngày nếu chịu khó nhìn lại phía sau trên đường đi đến hội Âm nhạc tôi sẽ
thấy một chiếc xe PC khác chạy theo. Thiếu nữ chỉ tiếc rằng cuộc vui đùa trẻ
trung ấy không kéo dài được lâu nữa vì đã lớn rồi và phải lo toan nhiều chuyện
khác?
Một bản tình ca nhiều khi đi theo suốt đường
đời một con người cho đến tàn cơn mộng mị. Tiếc lắm thay!
Có một bạn đọc Sóng Nhạc hỏi tôi: Lòng tốt có
làm thay đổi cuộc đời được không? Tôi nghĩ là có.
Âm nhạc cũng vậy. Nghe một bản nhạc hay, những
lời ca đẹp, có thể tâm hồn con người sẽ thánh thiện hơn. Âm nhạc thánh thiện sẽ
không bao giờ khơi dậy lòng độc ác.
Có những trái tim chỉ biết nuôi dưỡng lòng thù
hận của quỷ dữ. Những trái tim gây hấn chỉ muốn bày ra những bữa tiệc đời bằng
gai và đá nhọn. Những bữa ăn như thế đã làm khô héo dần thực phẩm trần gian.
May thay một bản tình ca chỉ có khả năng mang
đến một nỗi thương nhớ khôn nguôi đối với Đời, Người.
Bùi Giáng, Ngô Văn Tao
Làm thơ chỉ là chuyện bình thường giữa một
triều đại mà mọi quần thần ai cũng có thể làm thi sĩ. Có người thi sĩ xa những
lạch sông khe suối quê nhà lâu năm trở về và thảng thốt viết vội những bài thơ
trên những tờ giấy trắng mỏng manh của cái nóng miền nhiệt đới. Có người thi sĩ
điên thơ, tự mình phong tước quyền uy bệ hạ hoàng đế, cầm cây trượng hư vô ngộ
vắt vẻo trên cài ngai vàng bằng khói phù du mệnh bạc và hát:
“Kể từ dâu biển thênh thênh
Bất ngờ tao ngộ còn nên nói gì...”
Họ đã từng gặp nhau ở một bờ cõi mộng mị hoang
phế nào xa xôi và từ đó lại tiếp tục dắt dìu nhau tìm về quê quán bày biện lại
một tiệc đời đìu hiu lau lách. Họ mở ra một đầu trường vô nhiễm và múa lên
những đường kiếm hư không để đánh cuộc với thịnh suy của chữ nghĩa, của lời lời
tiếng tiếng.
Trên dặm đường hun hút của thi ca, họ mang cái
đoạn trường riêng chung để mở ra một khúc luân vũ sóng đôi có khi náo nhiệt có
khi ngậm ngùi.
Mười chín bài thơ Pháp Việt chỉ là một trò
chơi nhỏ của mưa nắng, của hội ngộ chia lìa, của đêm đã qua, của mai sắp tới.
Nhưng giữa bầu trời tháng Ba này, có những con mưa nhỏ chuyển mùa đã làm cho
người điên thơ tỉnh giấc trong thơ và người thức tỉnh lại chìm đắm trong cơn
mộng mị hoang đường.
Đánh cuộc với chính mình là đánh cuộc với hữu
hạn. Hữu hạn của những cuộc bể dâu đã đi qua đời mình. Thi ca nằm trong một
cuộc thách đố khác. Cái thách đố của bài thơ thứ hai mươi đang chờ đợi những
điều không bao giờ có thể nói hết. Đó cũng chính là cái sinh mệnh vô hạn vô
cùng của thơ.
Saigon 26.3.1994
(Lời ngỏ cho tập thơ “Vào Chung Cục Thơ” của
Bùi Giáng, Ngô Văn Tao)
Bửu Chỉ, tự bản chất là một con người phản kháng
Trong những năm chiến tranh ác liệt nhất ở
miền Nam, nếu ở địa hạt âm nhạc tôi viết những ca khúc phản chiến và khát vọng
hòa bình thì ở phía hội họa, họa sĩ Bửu Chỉ gần như là người duy nhất vẽ rất
nhiều về đề tài chiến tranh và hòa bình. Anh nổi tiếng vào thời ấy với những
tranh nhỏ trên giấy vẽ bằng bút sắt mực đen. Tranh anh được in trên các tạp chí
nước ngoài và gây được một dư luận rộng rãi.
Trong phong trào sinh viên học sinh ở Huế gần
như Bửu Chỉ và tôi luôn luôn có mặt bên nhau. Chúng tôi cùng hát với nhau trong
những đêm không ngủ, những ngày xuống đường và nhiều nhất là những buổi hát
nuôi dưỡng hào khí ở quán cà phê Tổng Hội.
Bửu Chỉ, tự bản chất là một con người phản
kháng. Anh không chỉ nổi loạn vời chính bản thân mình mà còn muốn phá phách những
trật tự xung quanh. Đó cũng chính là tiền đề cho những cuộc dấn thân không
ngừng nghỉ trong cuộc đấu tranh thời chiến và bây giờ muốn tiếp nối con người
ấy trong hội họa. Hội họa đối với Bửu Chỉ chính là đời sống và đời sống với anh
cũng chính là hội họa. Ngày xưa đã thế, ngày nay còn hơn thế nữa. Nhất là trong
thời gian này. Cuộc sống đã đi qua. Thời gian đã đi qua. Đi qua nhưng không
đánh mất mà ngược lại đã thai nghén một cái nhìn khác sâu thẳm hơn trong tâm
tưởng về một số phận không thể nào cứu rỗi được trong định mệnh mỗi một con
người. Tôi có cảm giác càng ngày anh càng đi sâu hơn vào sự nghiệt ngã của một
sự chọn lựa bất khả kháng của chính bản thân mình, một sự lựa chọn hình như đã
được định hình từ ngày còn trẻ, những ngày mà đấu tranh và nhà tù chỉ được xem
nhẹ như một sư đam mê phiêu bồng phiêu nhiên của cuộc sống.
Đừng đòi hỏi ở Bửu Chỉ những gì không thuộc về
anh. Cái gì chúng ta đòi hỏi hoặc tìm kiếm ở một con người chính là cái điều mà
người ấy có chứ không phải cái của ta và càng không phải cái của tất cả mọi
người. Lại càng không phải cái mà người ấy sẽ có.
Hãy trả lại tự do cho mọi cuộc dấn thân hoặc
không dấn thân. Cho mọi cái nhìn phóng khoáng hoặc trì trệ. Cho mọi trí tuệ
hoặc u uất lặng thinh. Cho cuộc đời rộng mở hoặc khép lại.
Không có cuộc đấu tranh nào chấm dứt. Ở bề mặt
của một số ao hồ, bể sông có thể yên tĩnh nhưng những cơn cuồng nộ ở đáy sâu
vẫn sục sôi một đời sống riêng. Đó là nỗi đam mế sâu thẳm nhất của những tâm
hồn muốn mãi mãi đánh thức mình, muốn mình mãi mãi là kẻ tỉnh thức để cuộc sống
không còn giấc ngủ nào khác hơn là giấc ngủ của sấm sét.
Những điều tôi viết loanh quanh trên đây hình
như là nói về Bửu Chỉ. Nói về một người không thể nào nói hết dù cho kẻ ấy có
như là hòn sỏi, cục sạn bên đường.
Bửu Chỉ đã đi qua con đường đấu tranh hiện
thực trong cuộc sống cũ và bây giờ rỗi rảnh thiền tọa đi đứng ngủ ngáy trong
cuộc đời riêng để dấn thân vào một cuộc đấu tranh mới. Cuộc đấu tranh siêu thực
không bờ bến, chẳng cần lập ngôn gì cả, nhưng rõ ràng biên giới cuối cùng chính
là tự tại bản thân.
Nói đúng về một người là điều rất tốt. Nhưng
nói sai về một người lại có thể là một điều tốt hơn. Bởi vì cuộc đời chuyển
động và cái sai hôm nay có thể là cái đúng của ngày mai hoặc là ngược lại.
Bửu Chỉ nằng nặng. Hình như là rất nặng nữa.
Sự nặng nhẹ trong cuộc đời này biết lấy trong tình huống nào để đo lường đây.
Đo lường chỉ là cái cớ để những bức tranh mới
của Bửu Chỉ nhảy cỡn trong một cuộc truy hoan mới, một cuộc truy hoan vô tận về
cõi chết hoặc nhẹ hơn, vào một cõi vô thường.
Ca khúc mang đến sự cảm thông giữa mọi người
Đối với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, quá trình 40
năm sáng tác của ông là một cuộc hành trình dài vào bề sâu của âm thanh và ngôn
ngữ. Ông coi ca khúc là một mô hình gần gũi, thiết thân và hoàn chỉnh; là cuộc
hôn phối kỳ diệu giữa thi ca và âm nhạc. Công việc sáng tác ca khúc không chỉ
cho phép ông giãi bày những niềm vui, nỗi buồn của mình, mà cao hơn, nó còn
mang tình yêu, lòng nhân ái tới mỗi người.
Soi gương
Mỗi sáng nhìn vào mặt gương soi lại thấy thêm
rất nhiều sợi tóc bạc.
Tôi là một đứa bé thích ca hát. Mười tuổi biết
solfège, chép lại những bài hát yêu thích đóng thành tập, chơi đàn mandolin và
sáo trúc. Mười hai tuổi có cây đàn guitar đầu tiên trong đời và từ đó sử dụng
guitar như một phương tiện quen thuộc để đệm cho chính mình hát.
Tôi không đến với âm nhạc như một kẻ chọn
nghề. Tôi nhớ mình đã viết những ca khúc đầu tiên từ những đòi hỏi tự nhiên của
tình cảm thôi thúc bên trong. Như những họa sĩ tập sự bắt đầu sự nghiệp mình
bằng cách sao chép lại tác phẩm của những nhà danh họa, tôi cũng chọn một số
mẫu mực âm nhạc mà tôi yêu thích và thay đổi giai điệu bên trong ở thời kỳ đầu.
Đó là những năm 56 - 57, thời của những giấc mộng ngổn ngang, của những viễn
tưởng phù phiếm non dại. Cái thời tuổi trẻ xanh mướt như trái quả đầu mùa ấy,
tôi rất yêu âm nhạc nhưng tuyệt nhiên trong tôi không hề gợi lên ham muốn trở
thành nhạc sĩ. Đối với cái bề mặt xã hội lúc bấy giờ, tương lai có nhiều tiếng
gọi khác hấp dẫn hơn, quyến rũ hơn cho một con người còn trẻ tuổi.
Dạo ấy ba tôi đã mất, mẹ tôi ở xa, tôi một
mình giữa Sài Gòn phải tự quyết định mọi chuyện về đời mình. Cái gánh đời tuổi
tác còn quá nhẹ. Có lúc tôi đã bỏ dở cái trò lãng mạn viết lách này với nỗi ám
ảnh ngu ngốc "xướng ca vô loài". Tôi trằn trọc đêm này qua đêm khác,
ray rứt ngày này qua tháng nọ. Nhưng càng cố quên lãng thì tiếng hát trong tôi
càng vang lên rõ rệt, tràn ngập cả lúc đứng ngồi, cả trong giấc ngủ.
Dần dà những năm về sau, mới bắt đầu hình
thành trong tôi một quan niệm rõ rệt: Sống là sống với người khác và muốn có
cảm thông chúng ta phải luôn luôn tự diễn đạt mình. Trong những cách diễn đạt
bằng tiếng nói, bằng chữ viết và nhiều phương tiện khác, tôi thấy tâm hồn mình
có khuynh hướng nghiêng về phía ca khúc. Trên mảnh đất nghệ thuật nhỏ nhắn này,
tôi tìm thấy tự do và tôi nghĩ rằng ở đây tôi có thể bày tỏ được với người khác
về những niềm vui nỗi buồn của cuộc sống.
Mấy mươi năm nhìn lại quãng đường mình đã đi,
tôi cảm thấy không có gì phải ân hận. Tôi vẫn là đứa trẻ thơ trong nghệ thuật,
lòng còn tràn đầy cảm hứng. Tôi vẫn còn ham mê học hỏi quanh mình và còn đủ hào
hứng mở ra những cuộc đối thoại với cây cỏ thiên nhiên, với con người qua ca
khúc dưới ánh sáng hiền hòa nhân hậu của những ngày tôi đang sống.
Phải chờ đến lúc soi gương nhìn thấy tóc không
còn mang mầu xanh cũ nữa, mới nhận ra được hết nỗi khát khao được yêu thương
mãi mãi con người và cuộc sống. Yêu thương con người cũng là yêu thương tiếng
hát bởi vì tiếng hát mang trong nó tâm hồn của con người. Tiếng hát sẽ mọc lên
xanh tươi trên cuộc đời này như những cây tử đinh hương mọc tràn thơm tho trên
những cánh đồng vô tận.
Với ca khúc, tôi là người tình của thiên
nhiên, là người bạn của những em bé. Qua ca khúc, tôi đã đến gần và đã đi xa
những chuyện tình; đã tham dự những nỗi hân hoan của đời người và cũng đã gánh
nhẹ giùm những phiền muộn.
Ca khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thể
mà cha mẹ đã sinh thành
Trái đầu mùa
Bài hát đầu tiên do Nhà xuất bản An Phú phát
hành năm 1959 tại Sài Gòn. Đó là những cảm xúc được ghi lại từ những giọt nước
mắt của một ca sĩ nữ sinh vừa rời ghế nhà trường. Cô hát để kiếm tiền nuôi mẹ
đang hấp hối trên giường bệnh.
Dạo ấy, trong đầu hoàn toàn chưa có một khái
niệm nào về tiền tác quyền. Ở tuổi hai mươi, trong tâm trí đang còn phơi phới
những ý đồ hiệp sĩ. Số tiền năm ngàn hồi ấy quá lớn đã được dùng một phần tặng
người ca sĩ và phần còn lại chia đều cho các bạn cùng ở trọ. Mỗi tháng, tiền ăn
ở cho một học sinh, sinh viên chỉ có năm, sáu trăm đồng.
Nguồn cảm hứng đầu tiên ấy đã làm cơ sở cho
một loạt những cảm xúc khác thành hình. Như một khu rừng mùa thu yên tĩnh được
một cơn gió thổi bùng lên đánh thức lớp lá vàng dậy, tâm hồn tôi đã bắt đầu
biết xôn xao theo những tín hiệu, dù nhỏ nhất của cuộc sống. Tôi không còn nhìn
ngắm cuộc sống một cách lơ đãng như trước nữa mà càng lúc càng thấy mình bị
cuốn hút về phía những tình cảm phức tạp của con người.
Những trái cây đầu mùa ấy còn vụng về, chưa có
vóc dáng riêng, nhưng nó mang đến niềm thích thú để từ đó sẵn lòng làm một cuộc
hành trình dài lâu đi vào cái bề sâu của âm thanh và ngôn ngữ.
Gặp gỡ
Năm 64 - 65, tôi được các bạn tổ chức buổi ra
mắt đầu tiên trước quần chúng tại khu đất trống sau lưng trường Văn Khoa Sài
Gòn cũ (nay là Thư viện Quốc gia).
Với tôi, đây cũng là buổi thể nghiệm xem mình
có thể tồn tại trong lòng quần chúng được không. Trước mặt đám đông đến mấy
nghìn người gồm đủ thành phần văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên tôi
cảm thấy mình quá trơ trọi và đầy lo âu trên bục gỗ với cây đàn guitar dưới ánh
sáng đèn. Với một hành trang nhẹ nhàng bằng hai mươi ca khúc nói về quê hương,
ước mơ hòa bình và những bài sau này được gọi là "phản chiến", tôi đã
cố gắng hết sức để một mình đảm nhận vai trò đưa nỗi lòng của mình đến với quần
chúng. Buổi hát đã để lại một ấn tượng khá tốt đẹp cho cả người trình bày lẫn
người nghe.
Trong buổi diễn có một bài hát được yêu cầu
hát đến lần thứ tám và cuối cùng mọi người tự động hát theo. Sau buổi diễn tôi
đã được "bồi dưỡng" bằng một tiếng đồng hồ ngồi ký tên trên những
trang giấy của tập bài hát quay roneo dành cho người nghe.
Đó là buổi gặp gỡ đầu tiên giữa người sáng tác
và người nghe. Những buổi trình diễn nối tiếp ở các giảng đường đại học khác
cũng được lặp lại trong một bầu không khí nồng nhiệt như thế. Trong tôi bắt đầu
sáng lên một khái niệm: đó là ý thức về trách nhiệm của người sáng tác đối với
công chúng.
Thuở ấy Nhị Xuân. Em ở nông trường. Em ra biên
giới.
Đêm Nhị Xuân không còn thấy rõ mầu đất đỏ và
những bãi mía, bãi dứa cùng lán trại cũng khoác một mầu áo khác. Mưa xuống. Hội
trường dã chiến như một cái rá lọc nước thả xuống những giọt dài. Chúng tôi
(Phạm Trọng Cầu, Trần Long ẩn và tôi...) cùng anh em thanh niên xung phong nam
nữ hát với nhau dưới một bầu trời được trang trí lạ mắt như thế. Đêm cứ dài ra
và những tiếng hát cứ dài ra. Nước ở con kênh dâng lên. Mặc kệ. Cứ đứng, cứ
ngồi, cứ hát. Gần khuya có cô gái thanh niên xung phong nhanh nhẹn vui tươi
mang cho chúng tôi những bát cháo gà trước khi chia tay. Những khuôn mặt ấy,
tôi đã quen đã nhìn thấy nhiều lần. Một giờ khuya, lên xe giã từ Nhị Xuân, lòng
còn âm vang tiếng cười, tiếng hát. Những bàn tay siết chặt, những cái vẫy tay
trong đêm không nhìn thấy. Quá giờ giới nghiêm, xe nằm lại giữa đường, không
được vào thành phố. Ngủ lại chờ sáng. Về lại thành phố, trở lại công việc
thường ngày. Nhưng ở Nhị Xuân, có hai mươi người con gái thanh niên xung phong
đi về phía khác. Mấy tháng sau, tôi được tin tất cả hai mươi khuôn mặt tôi đã
nhìn, đã gặp trong đêm hôm nào ở Nhị Xuân cùng nhau ca hát, đã hy sinh ở biên
giới Tây Nam. Những tiếng hát, giọng cười còn đó. Những cây mía, cây dứa các
bạn trồng vẫn còn đó, vẫn lớn lên. Tôi bồi hồi nhìn ra quãng trời rộng và thấy
lại trong trí nhớ những con người trẻ trung ấy. Trong những trái tim ấy có gì
khác chúng ta không. Trong giấc ngủ ban đêm, trên những vầng trán khỏe mạnh ấy,
đã có những cơn mơ nào. Chúng ta nói quá nhiều đến sự tròn đầy và chúng ta quên
đi sự mất mát. Chúng ta vẽ ra lắm nụ cười mà quên đi những nỗi ngậm ngùi riêng
tư. Những người bạn nhỏ ấy đã ra đi vĩnh viễn, nhưng nỗi nhớ thương về họ chưa
được hát đủ như một nỗi đau. Còn thiếu sót biết bao nhiêu điều chưa nói hết lúc
ở nông trường và càng chưa nói được một mảy may lúc ra biên giới. Làm một điều
gì chưa đến nơi đến chốn với một người không còn nữa, có phải cũng là có lỗi
với cuộc đời rồi hay không. Xin hãy tha thứ những dòng chữ óng mượt, những sắp
xếp tinh khôn, những cân nhắc đong đo xuôi chèo thuận lái.
Thông điệp
Mỗi người đều có một cách riêng và một lý do
riêng khi đến với nghệ thuật. Cánh cửa mở ra, chúng ta bước vào. Có những cánh
cửa rộng hẹp không đều nhau. Có những cách nhìn và lòng đam mê không giống
nhau. Và làm sao có thể giống nhau được khi bản chất của nghệ thuật
là một đòi hỏi miên man cái muôn hình vạn trạng. Từ đó hình thành tính cách của
mỗi con người muốn lân la kết tình bằng hữu với nghệ thuật.
Có một điều chắc chắn là không có ai làm nghệ
thuật một cách không nghiêm túc. Con người còn lắm chỗ, lắm nơi để bày ra những
trò phù phiếm. Tuy nhiên, cũng có không ít những người quan niệm rằng làm nghệ
thuật không vì một mục đích nào cả nghĩa là muốn hoàn thành một thứ nghệ thuật
không có cứu cánh.
Đã từ lâu tôi muốn qua ca khúc nói được thật
nhiều điều. Tôi không chọn ca khúc như một chặng đường để rồi sau đó tu dưỡng
hòng nhảy vào những thể loại to lớn hơn. Ca khúc đối với tôi là một mô hình gần
gũi, thiết thân và hoàn chỉnh. Nó là một cuộc hôn phối kỳ diệu giữa thi ca và
âm nhạc.
Ở nơi nào trên mặt đất này có con người, ở đó
có tiếng hát. Con người có thể hát một mình ở bất kỳ nơi đâu. Ca khúc là nỗi
lòng của một con người trong cuộc sống. Cuộc tình giữa âm nhạc và văn học này
đã khiến ca khúc tự nó có thể chạm đến mọi bờ cõi tri thức của đời sống con
người. Nó đủ khả năng hát về một cái chồi non vừa nhú cho đến cái chết của một
con người. Nó chính là tiếng chim buổi sáng, tiếng gà gáy trưa bên đồi mang âm
vang của một nỗi nhớ nhung. Nó là nắng, là mưa, là nụ cười, là tiếng khóc. Nó ở
cùng với điều nhỏ nhất và đồng thời cũng sống chung với những cõi bờ bao la.
Tôi chưa bao giờ cảm thấy
ca khúc bối rối trước những điều tưởng không nói được. Nó đã đi qua bao nhiêu
mùa mang giữa lòng cuộc sống con người và thường nó có mặt bên cạnh con người
như một lời an ủi. Cũng vì thế, tôi đã có lần nuôi tham vọng gán ghép cho ca
khúc một cái gì đó lớn hơn, tràn đầy ra ngoài cái hình thể nhỏ nhắn và khiêm
tốn của nó. Đó chính là sứ mệnh truyền đạt những âu lo, những chờ đợi của con
người khi đối diện với chính mình trước cuộc sống. Nó có bổn phận phải cưu mang
trong từng dòng nhạc dòng chữ cái phần tinh khiết nhất của hạnh phúc và bất
hạnh. Như vậy, ca khúc ngoài cái vai trò mua vui cũng được một vài trống canh,
nó còn phải đảm nhiệm cái sứ mệnh đẹp đẽ mà các anh chị em họ hàng nghệ thuật
của nó đã và đang làm.
Tôi nghe một tiếng hát và tôi thấy lại cả một
khoảng trời đầy kỷ niệm. Tiếng hát đi từ tôi đến anh bằng con đường ngắn nhất.
Cái khả năng to lớn sau cùng của ca khúc là mang đến sự cảm thông giữa mọi
người bằng tiếng hát. Tôi ước mơ một ngày nào đó trên hành tinh này tiếng hát
sẽ được trả về với vẻ đẹp thuần khiết của nó. Đó là tiếng hát bay qua các lục
địa, các đại dương, mang trong lòng nó tình yêu và tình nhân ái. Cái sứ mệnh
huy hoàng nhất của nó là phải mang được cái thông điệp ấy đến với từng con tim.
Không những chỉ với những tâm hồn vốn yêu chuộng hòa bình mà cả những con tim
đang ngộ độc bởi những ngòi thuốc nổ.
Cát bụi
Vào một buổi chiều ngày tháng không còn nhớ,
tôi một mình đến rạp Casino xem phim ”Hiệp sĩ mù nghe gió kiếm” tập 6. Đây là
bộ phim nhiều tập, đã xem tập này thì không thể không chờ xem tập khác. Nói
chung là tập nào cũng hấp dẫn. Trong 6 tập có đoạn hiệp sĩ mù xuất kiếm giải
cứu cho một nàng Kiều xinh đẹp. Cứ mỗi tuyệt chiêu xuất ra là nghe có một tiếng
nói bình giả ca ngợi. Đường kiếm như có thêm sức mạnh mỗi lúc một uyển chuyển
huy hoàng hơn. Sau khi cứu được nàng Kiều, hiệp sĩ mù quay về phía tiếng nói
vái tay chào hỏi., Hoá ra bên vệ đường dưới gốc cây to có một người mù khác
đang ngồi xếp bàn, trên hai chân có cây đàn bọc trong bao vải gác ngang.Người
nghệ sĩ mù có nhã ý chơi một bản đàn tặng hiệp sĩ mù. Hai người bèn kéo nhau
vào một khu rừng gần đấy. Hình như rừng vào thu nên các cành đều trơ lá, chỉ
thấy một đám lá vàng đỏ trải dài trên mặt đất. Hai người ngồi tựa vào hai gốc
cây đối diện nhau. Tiếng đàn cất lên như một lời than thở ngậm ngùi về đất
trời, về kiếp người. Tiếng đàn nửa chừng bỗng đứt giây. Người nghệ sĩ mù nói :
có kẻ bất thiện dang nghe lén. Quả đúng như vậy, có một tên gian đang rình rập
hiệp sĩ mù. Thế là hai người lặng lẽ chia tay.
Hết phim, tôi tản bộ ngang trên đường phố.
Không hiểu sao cái đoạn phim ngắn ngủi ấy khiến tôi buồn buồn. Chiều tôi về
nhà, sau khi ăn, tôi ngồi đọc lại cuốn “Zorba le Grec”. Đến đoạn Zorba than
thở: “Chim đa đa ơi thôi đừng hót nữa, tiếng hót mày làm tan nát tim ta”, tôi
bỗng gập sách lại và không đọc nữa. Có một cái gì đó thật trùng hợp trong cùng
một buổi chiều. Một nỗi buồn hay một điều gì đó gần với sự rời xa ly biệt đang
cựa mình thức dậy trong tôi.Tôi lại ra đường tìm một góc quán quen thuộc ngồi.
Trên đường trở về nhà, trong đầu bỗng vang lên một tiếng hát. Tôi lập đi lập
lại nhiều lần trong đầu, hát thành tiếng khe khẽ. Đến khi về nhà ghi lại thì
bài hát đã gần như hoàn chỉnh. Sáng hôm sau mang hát cho một số bạn bè nghe,
hầu như ai cũng thích.
Đó là câu chuyện sự ra đời của bài “Cát bụi”
Mỗi bài hát đều bắt nguồn từ một duyên cớ nào
đó. Có khi từ một câu chuyện không đâu.
Bây giờ thì người hiệp sĩ mù kia đã chết rồi.
Khoảng hai năm nay.
Người viết Zorba đã qua đời dĩ nhiên con chim
đa đa kia cũng đã chết. Và nếu Zorba là một con người có thật được Nikos
Kazantzakits tỉểu thuyết hóa thì nay ông cũng mất rồi.
“Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi…”
Thời gian đã nghiền nát tất cả thành cát bụi
hết rồi.
Chợt tôi thấy thiên thu là một đường không bến bờ
Những con đường trăng tròn là những con đường
trăng khuyết. Vẫn là những con đường cũ en đi qua và tôi đi qua. Thế rồi, có
những lúc tôi đi qua những con đường mù mịt không trăng. Những tro tàn quá khứ
bỗng dậy lên một cơn lốc cuốn tôi về với những con đường ma quái ảo ảnh chập
chờn.
Cái chập chờn của một thân thể phiền não không
biết mai nay mốt nọ ra sao, cứ thắc thỏm muốn gởi gắm vào cuộc đời một linh hồn
phiêu lạc. Tôi phiêu lạc bao nhiêu năm rồi trên một dòng đời không bờ bến. Có
khi tưởng bờ là bến. Có khi tưởng bến là bờ. Cái tạm và cái thường hằng lắm khi
là một. Thế mà cứ lại là khác nhau. Cái bờ mỏng manh khoảnh khắc ra đi. Cái bến
nhiều khi bền bền ở lại. Bờ mở ra những bến. Có dâu bể cho bờ. Nên định mệnh bờ
thường trói buộc thân phận bến.
Tôi là bờ em ra đi. Em là bến tôi ghé lại
Con đò ghé qua bờ này bờ nọ, nhưng sẽ đậu lại
ở một bến kia.
Mùa xuân là bờ hay bến? than ôi, mùa xuân chỉ
là bờ. Ai ai trong đời này cũng có lần ghé qua cái bến tạm mùa xuân. Cái bờ bến
mùa xuân nhập nhằng những dặm trường lận đận. Thoắt nhiên bến xuân chỉ còn lại
là bờ. Cái biến đi qua, rồi cái bờ ở lại. Cái bến hiu hắt của một thuở tưởng
rằng thời hoàng kim bến sẽ mãi mãi không bao giờ là bờ. Thế rồi tuổi đời người
người - đến đến - đi đi cứ mộng vờ, hoang tưởng hão huyền một thứ bờ bờ - bến
bến, không biết nơi nào để neo lại một thân thể phiêu bồng.
Có thể bến cho em và bờ cho tôi. Tôi cứ mãi đi
và em ở lại. Cái thân phận thuyền quyên ấy đừng làm đau xót đời. Cuối cùng,
trong cõi mông lung mờ mờ ảo ảo, em vẫn chính là cái bến hư ảo một cách vẹn
toàn mà tôi có lúc mỏi mệt sẽ tìm về nương tựa.
“Ru đời đi nhé cho ta nương nhờ lúc thở than”…
Cái bờ ru lời hiu quạnh lau lách. Cái bến ru
chập chờn một đốm lửa chiều…
Trong một giấc ngủ bồng bềnh không giờ giấc
của mùa xuân, tôi thảng thối thấy bờ bến bỗng rã tan thành những cánh bèo mông
lung vô định. Em tôi không bến và tôi không bờ. Em trôi đi và tôi cũng trôi đi.
Em và tôi cũng là bến. Em và tôi cũng là bờ. Chúng ta tan biến vào nhau thành
một khối bến bờ không còn chia lìa nữa. Trong em không còn trí nhớ về bến.
Trong tôi cũng mất hết những ký ức về bờ. Bến ở đâu và bờ ở đâu?
Chuyển hoán
Ở vào thời điểm này, chuyện đi, ở, nghe ra đã
nhuốm màu cũ kỹ. Kẻ ở người đi dường như chỉ còn là chuyện riêng tư của mỗi
người, của câu chuyện đời riêng. Cái hăm hở của người này không còn làm xao
động sự trầm tĩnh của kẻ khác.
“Trong số bạn bè thân thiết của tôi, qua nhiều
thời kỳ, số người ra đi nhiều hơn người ở lại.
Trong số bạn bè thân thiết của tôi, qua nhiều
thời kỳ, số người ra đi nhiều hơn người ở lại. Những năm gần đây có người ra đi
tuồng như muốn dấu kín một nỗi ân hận trong lòng. Đi mà cứ như muốn nhắn gởi
lại một lời minh oan: đừng phiền trách mình nghe bạn. Tôi chẳng bao giờ có một
lời trách cứ nào đối với bạn bè tôi. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng những người ra đi
ấy muốn thể nghiệm mình trong một đời sống khác.
Bên cạnh đó, có những con người, chỉ vì giao
tế trong đời, tôi đã gặp. Họ là những người có học và thậm chí đã có những vị
trí tương đối trong xã hội. Thế rồi, bỗng trong những bữa tiệc chia tay, họ ăn
nói huyên hoang, họ mặc trước cho mình những phong cách thiếu khiêm tốn và họ
cùng vẽ ra cho nhau những dự án huy hoàng, những buổi gặp gỡ thần tiên trên xứ
sở xa xôi mà họ sẽ đến. Có điều lạ là thường những loại người này đều tập trung
vào một nơi sẽ gánh vác họ là đất Mỹ.
Trước năm 1975 tôi có vài người bạn Mỹ. Họ đều
thuộc thành phần trung lưu của xã hội đó. Họ yêu mến Việt Nam, và qua đó họ đã
dành những tình cảm đặc biệt đối với tôi. Ở họ, tôi chưa hề một lần bắt gặp cái
kiểu cách hợm hĩnh, phô trương như những người tương lai sẽ là Mỹ da vàng kiểu
nói trên.
Trong xã hội, cái thành phần bị xem thường
nhất là lớp người bị liệt vào loại du đãng, du thủ du thực. Thời còn trẻ, không
hiểu cơ duyên nào đã đưa tôi đến chỗ quen biết khá nhiều những kẻ được sắp xếp
vào thứ thành phần không được coi trọng đó. Tôi có một số kinh nghiệm về họ bởi
vì chính bản thân tôi và cả những bạn bè tôi đã một vài lần được họ bênh vực và
thậm chí che chở trước những hăm dọa vô lý của những bạo lực không đâu. Đó là
những con người vì một oán giận hay một bức bách nào đó từ cuộc sống mà đã tự
biến mình thành kẻ vô lại. Tôi gọi họ là những tên du đãng có tâm hồn. Và một
ngày đẹp trời, bỗng những tên du đãng ấy khoác áo thiện tính bước vào cõi đời
chung.
Cuộc sống càng dài thì mắt ta càng được nhìn
thấy nhiều chuyện đời lạ lắm. Tâm hồn đẹp là tài sản chung của con người. Nhưng
rõ ràng đã có những sự chuyển hoán của tâm hồn từ vị trí này sang vị trí khác,
từ người này sang người khác. Đã có biết bao con người tưởng chừng tử tế đã
biến thành kẻ vô lại và cũng không thiếu những kẻ vô lại chuyển mình thành con
người hào sảng.
Tôi thường có cảm giác mình là một kẻ thiếu
may mắn. Sống qua nhiều thời kỳ, ngoài cái vốn bạn bè ít ỏi, tôi thấy không ít
những người vẫn dường như thiếu lòng tín cậy ở tôi. Và nếu như trong một ý
nghĩa phù phiếm nào đó, tôi đã quan niệm cuộc sống như một trò chơi lớn nhỏ,
thì người đời thường ép tôi vào một cuộc chơi không sòng phẳng.
Vào những ngày cuối năm 90 này tôi bỗng muốn
nhớ lại một chặng đường dài mình đã đi qua. Nhớ những khuôn mặt đã gặp, những
tấm lòng đã thấy. Nhớ mà không vui. Bởi những lời đàm tiếu độc địa vẫn như
những viên sỏi bắn vào thân tôi không chống đỡ. Từ một lời nguyền rủa nào đó,
những lời vu khống đầy ác ý vẫn còn bay quanh đời tôi như những đàn ong độc.
Ở thời điểm này tôi không còn thấy có trong có
ngoài vì mọi cánh cửa đời đã mở. Chuyện đi về giữa những sở địa xa xôi không
còn là vấn đề thời thượng nữa. Ai rồi cũng sẽ gặp nhau. Duy chỉ có điều là làm
thế nào để gặp lại nhau trong một niềm vui chất ngất mà không ngượng ngùng,
ngượng mặt. Chúng ta hãy xếp lại những lời nói dối và tẩy sạch một thứ lòng oán
hận không có niềm tin.
Tôi có đọc được một bài viết của anh Thế Uyên
nói về chuyện anh đi và tôi ở lại. Tôi cám ơn cách suy nghĩ sòng phẳng và rất
dễ hiểu đó. Quả đúng là dù ở đâu chúng ta cũng chỉ có mỗi một công việc là làm
nghệ thuật. Cái nghiệp này xét cho cùng cũng không tồi mà cũng chẳng sang.
Không thiên đường không địa ngục. Chỉ có điều như người làm vườn tôi gắng thu
xếp để chọn được cho hạt giống của mình một thứ đất phù hợp, một bầu khí hậu
thuận lợi nhất cho hạt giống thở được bằng chính lá phổi của nó, không vay
mượn, không van xin.
Với tôi, sự tự do sau cùng của mỗi số phận là
sự tự do chấp nhận.
Có Duyên Mà Không Nợ
Có duyên không nợ là câu chuyện đã có tự nghìn
xưa. Yêu nhau mà lấy nhau chẳng đặng. Trong dân gian người ta hát hò về điều
này cũng không phải là ít. Cái sự trắc trở này có nhiều nguyên nhân. Thời phong
kiến do vấn đề giai cấp mà đã làm nảy sinh không biết bao nhiêu là câu chuyện
đau lòng. Thời nay con người tự do hơn, gần như mỗi người tự lựa chọn và tự
quyết định lấy số phận của mình. Thế mà vẫn còn không ít những câu chuyện có
duyên không nợ. Hóa ra dù xã hội biến thái ra sao, dù đã thay hình đổi dạng
qua tầng tầng lớp lớp thời gian thì con người vẫn chưa thể thoát ra một số cảnh
ngộ bất biến của định mệnh.
Trước thềm năm mới, cái năm sẽ khép lại giai
đoạn cuối cùng của một thế kỷ, không biết những máy móc tinh vi nhất có thể báo
trước hoặc hoạch định được con đường tình duyên của mỗi con người hay không?
Máy vi tính đã đánh được cờ, thắng ngay cả đệ nhất kiện tướng. Máy đã vẽ, đã
làm nhạc và nhiều khả năng khác nữa. Ta thử chờ xem máy có thể vạch ra một con
đường yên lành cho duyên và nợ không còn là hai phần của một cuộc tình nữa
không.
Có Nghe Ra Điều Gì
Nỗi bất hạnh lớn nhất của chúng ta là luôn
luôn có một kẻ thù để chống lại. Trong suốt hành trình của lịch sử, những kẻ
thù mang tên khác nhau. Bất hạnh lớn dần để trở thành hiểm họa khi hai kẻ thù
nghịch mang cùng một tên chung.
Tôi chưa bao giờ được biết về sự công bằng.
Nhưng tôi muốn rằng những xác chết anh em phải được chia đều lòng thương tiếc.
Trên những nhân danh chúng ta không cúi đầu, nhưng chúng ta phải quàng vòng hoa
phúng điếu cho phận người hiu hắt. Chân lý chưa biết nằm ở đâu, nhưng tôi tin rằng
chân lý không đến từ bạo lực.
Đời sống Việt Nam đã dạy chúng ta những bài
học vĩ đại. Dạy biết từ một tấm lòng nhỏ nhen đến một tâm hồn cao cả. Dạy từ
mưu toan giết chết một người đến kế hoạch giết chết hàng vạn người. Chúng ta
biết rõ từ một tên hề mặt phấn môi son đến một tên ngụy quân tử.
Làng mạc, núi rừng đã thành đấu trường. Phố
thị làm sân khấu.
Thời thơ ấu, qua những bài học lịch sử, lòng
tôi xao xuyến biết bao về những tấm gương ái quốc. Tôi đã yêu mến những biên
giới quê hương như vòng tay người mẹ ôm hôn che chở đàn con. Lòng tôi, những
biên giới cũng được dựng lên từ đó. Không phải những biên giới của thù hận mà
chỉ là lằn mức địa lý chia những cuộc chơi riêng đầy quen thuộc và thân ái.
Lớn lên, tôi dần dần rơi vào những hoài nghi.
Những hoài nghi như đám mây đen, đe dọa cơn bão lớn. Tôi biết rằng khi cơn bão
đến, những gì đẹp đẽ được nuôi dưỡng từ ấu thơ sẽ bị cuốn phăng đi.
Đã bao nhiêu năm tháng tôi ngồi nhìn những mùa
nước lên. Thành phố Huế mỗi năm đều có những cơn lụt. Một đôi lần lụt lớn, nước
nguồn ồ ạt mang về bao nhiêu của cải của rừng sâu: voi, cọp, bò rừng, trăn, gỗ
quý... Vốn liếng ẩn giấu của thiên nhiên lao đi trong một tốc độ cuồng nhiệt.
Tất cả đều ngơ ngác, lạc lối, trần trụi.
Nhiều lần, tôi đã mong được thấy những giá trị
hão huyền, bén rễ sâu xa trong tâm não tôi, được tống ra ngoài, trong cách thế
đó.
Tôi không phải là kẻ dễ mất niềm tin, nhưng
trong tôi, rất vô tình những trái độc đã làm mùa của chúng.
Tôi đã đi qua nhiều thành phố của quê hương.
Mỗi nơi đều có những đêm gặp gỡ cùng tuổi trẻ. Chúng tôi nuôi dưỡng hy vọng và
gửi đến nhau sự phân ưu chung bằng tiếng hát. Chính trong lúc, khi tiếng vỗ tay
đập vào nhau nhịp nhàng và đều đặn cùng tiếng hát, lòng tôi bỗng chùng lại
trong một ái ngại vô bờ. Tôi bỗng muốn thu mình thành một bóng tối nhỏ trước
những con mắt trong sáng vây quanh. Với những trái tim quý báu kia, có thật tôi
đã mang đến một điều gì tốt đẹp?
Chưa bao giờ tôi có ý nghĩ tự đề nghị với mình
một trách nhiệm quá lớn. Nhưng khi đã lỡ nhận chịu những cảm tình nồng hậu từ
đám đông, thì những tình cảm kia phải được đền bồi.
Quanh tôi, bỗng dưng những chấn song được dựng
lên. Những chấn song dù êm ái nhưng làm mỏi mệt. Mỏi mệt vì tôi biết rõ mình
chỉ cưu mang nổi một tiếng thở than quá ư phù du từ một con tim bén nhạy. Đời
sống chung quanh thì tự bản chất vốn hủy hoại và vô tình. Tôi không đủ là một
con đê hay một báo hiệu mới mẻ.
Nhưng dù sao, mọi sự đã lỡ. Lịch sử đã lỡ lên
đường và tôi cũng đã lỡ để một bàn chân trong cơn xung động.
Mọi sự hoàn tất đều có đôi chút bị hiểu lầm.
Người trong cuộc mới thấu hiểu được cái tang thương của từng kết quả. Lịch sử
có niềm đau riêng của nó. Cá nhân cũng có cái xót xa riêng. Bởi lẻ chưa có một
tổng hợp đích xác nào về thân phận con người. Vũ trụ luôn luôn biến đổi, làm
sao toan tính nổi. Cho nên điều hiển nhiên là mọi sự thành tựu càng lớn lao,
càng ẩn giấu niềm tuyệt vọng.
Mỗi dự phóng về hạnh phúc con người đều là
nguồn cội của hố thẳm. Luôn luôn có sự nhầm lẫn về chữ nghĩa. Người ta đánh
bóng sự đổ vỡ và gọi đó là niềm bi tráng của phận người. Dự phóng càng lớn,
càng dài càng xa cách con người. Và tất nhiên càng mở rộng hố thẳm. Đến lúc đạt
được đỉnh cao thì chính là lúc kề cận nhất với vực sâu. Và có thực sự đó là một
đỉnh cao?
Vì thế, tôi gọi những kẻ muốn lấp biển vá trời
là những con người đam mê tuyệt vọng.
“Mọi đam mê đều vô ích”. Đam mê tuyệt vọng dẫn
ta về hư vô. Bao nhiêu cánh cửa hư vô đã mở toang cuối những chặng đường đẫm
máu của lịch sử nhân loại. Những thế hệ về sau, khi lần giở lịch sử ông cha,
giữ cái án chung thân trong ý thức cùng niềm im lặng. Từ đó, nói đến ý thức
trong thời đại chúng ta là muốn nhắc lại cái ý thức về sự tịch lặng. Sự tịch
lặng của những vết thương trời đất và trong lòng. Cõi vô âm của mọi chủ thuyết,
mọi triết lý. Đời sống đã mất hẳn sự bình an. Những con đường nhân sinh không
có chốn đến. Sở tại chính là sự ra đi. Ra đi để biết rằng quê quán chỉ là tiếng
hoàng oanh trên đời người khổ hạnh. Là một an ủi thoáng qua. Là “nền cũ lâu đài
bóng tịch dương” để ngậm ngùi.
Trong đời sống chúng ta, thiếu gì những trái
tim vững chãi. Đâu thiếu những ý lực siêu nhân. Mỗi khi ý thức được vót nhọn
người ta có cảm tưởng sẽ bắn rụng những niềm tuyệt vọng chung quanh. Nhưng hỡi
ơi, niềm tuyệt vọng đã ẩn trú trong đường bay của ý thức đó. Ý thức càng được
vót nhọn, niềm tuyệt vọng càng đào những hang sâu. Trái tim con người, nếu
không biến thành mộ địa, sẽ vang lên tiếng tru thảm thiết của loài sói.
Những ngày mệt mỏi tôi thường tìm về bên một
dòng sông. Nơi thành phố của quá khứ. Một quá khứ chưa đủ dài nhưng đã thừa
thãi tang thương. Thành phố trên bề mặt yên tĩnh có những cơn sóng ngầm đáng
ngại. Những ngọn lửa ủ dưới tro than, đã liên tục tạo những cơn phong ba, đã
làm bật rễ những triều đại.
Những hoạn nạn, qua nhiều thời kỳ không đếm
xiết. Nhưng mỗi lần có cơ hội trở lại đời sống bình thường thành phố lại mang
khuôn mặt thơ mộng và nhẹ nhàng của những ngọn phong lau trong thành cổ.
Về những năm sau này thành phố có vẻ tiêu điều
hơn trước. Mỗi cơn hoạn nạn thường mang đi ít nhiều bạn bè. Tôi như con bệnh
kinh niên, mỗi lần trở về tĩnh dưỡng, có cảm tưởng về thăm một cố tri hơn hơn
là một thành phố. Vẻ xác xơ như khởi chung từ một mối. Không như ngày xưa, tôi
vui chơi trong thành phố. Bây giờ chúng tôi song hành trong niềm tư lự.
Ngồi bên dòng sông, nhiều đêm tôi nghe ra
những đổi thay quá lớn. Huế quả thực đã biến đổi rất nhiều. Những cuộc biển dâu
vô hạnh đã giết chết phần nào tình cảm đẹp đẽ nơi đây. Huế ngày xưa ấm áp biết
bao. Nay đã quá lạnh lùng. Vẻ lạnh lùng sương phụ. Trong những hoàn cảnh nghiệt
ngã người ta không còn nhìn nhau bằng con mắt cũ. Đã thấp thoáng thấy dưới
những trũng mắt năm xưa, những bình phong e ngại. Ngờ vực là phải. Thời đại của
đố kỵ, tỵ hiềm đã thành hình từ bao giờ mà không hay. Không phải chỉ riêng nơi
đây. Nơi nơi đều thế. Tôi đã qua nhiều thành phố. Đã góp mặt. Cuối cùng mới vỡ
lẽ ra, mỗi nơi đều đã thành tựu những sâu khấu và những đấu trường bỏ túi.
Những tuồng tích được soạn sửa cẩn mật. Mỗi người đóng dăm ba vai trò. Đám giả
hình múa những đường gươm vừa khắc nghiệt vừa chu đáo.
Nhiều đêm trở về, xương sống bỗng buốt lạnh.
Bởi đâu đây, luôn luôn sẵn sàng những nhát dao không minh bạch. Phải sống
thường trực trong khí hậu như thế làm sao khỏi e dè.
Tôi biết rõ phần nào mình đã đuối sức. Những
tiếng hát hân hoan nhiều khi chỉ để lấp liếm sự phiền não. Có cái gì gần như
những vết hoen trên một phía của nạn đời. Dường như tôi đang ẩn thân ở mặt đời
không kiêu hãnh. Nơi có nhiều bóng tối và sự tròn lẵn vô liêm.
Không phải mọi chọn lựa đều bế tắc. Nhưng tôi
không dại gì tự dẫn mình đến một pháp trường bất xứng. Trong cuộc sống nhiễu
nhương nơi đây, sống đã là một cách chọn lựa. Ai cũng có một lần phủi tay với
cuộc đời. Cho nên những chọn lựa nhỏ nhặt chỉ làm hao mòn ta thôi. Nếu đủ sức
giương cung, hãy chọn mũi tên định mệnh.
Tôi rất buồn bã khi nhìn thấy những tâm hồn
đẹp đẽ quanh đây bị cuốn hút vào những chọn lựa trào lưu. Những chọn lựa có vẻ
đẹp bề mặt. Những chọn lựa không can dự gì với ý thức. Hay nếu có, chỉ là loại
ý thức con vẹt.
Trong cách thế đó, chọn lựa chỉ còn có nghĩ là
hủy hoại. Tự hủy và kéo theo những cái chết thanh xuân.
Tôi không có ý ngờ vực lòng can đảm. Nhưng tôi
sợ hãi ngộ nhận.
Hãy chọn lấy lời phán xét. Nếu cần làm tên tử
tội, ta chỉ là tên tử tội của định mệnh riêng tư. Đừng mơ mộng trên xương máu.
Chưa bao giờ tôi nghe được một tiếng hát nói về sự sinh nở tốt đẹp của hận thù.
Gắng che chở cho tâm hồn. Nấm hoang đã mọc quá nhiều trên đó.
Trong thành phố, mùa hạ có những cơn bão qua.
Một ít mùa màng và hoa quả không đậu. Vào buổi lập thu, bỗng dưng những hồ ao
quanh thành cổ thơm tho một mùa sen muộn. Những sớm mai âm u đi về dưới cổng
thành, lòng tôi bất ngờ có những nỗi hân hoan kỳ lạ. Một cái gì gần như niềm hy
vọng vừa nhú lên. Tôi nghĩ rằng tuổi trẻ quanh đây, qua những bất hạnh quá đủ,
sẽ tạo dựng được cái mùa muộn màng của sự thật. Sẽ khởi công từ những ước mơ
chân thật. Những phát biểu mới sẽ là những đường gươm sắc bén chém rụng huyền
thoại. Mỗi bước đi tới tuổi trẻ tự cưu mang lấy mình, không nương nhờ nữa. Mỗi
người là hy vọng của chính mình. Giải thoát quyết liệt khỏi những khối nam châm
phù thủy. Bấy lâu, sự sợ hãi đã làm rêu phong trên đời ta. Những sự thật tối
tăm được chở che an toàn. Những nhầm lẫn không bị truy tố. Có lẻ không phải vì
thiếu lòng can đảm. Chúng ta dường như là những đứa con quá tình cảm, không nỡ
buộc tội ông cha.
Nhưng đã muộn. Chúng ta đang chênh vênh trên
con dốc hủy diệt. Cái gia đình chung đã có lắm điều tồi tệ.
Chúng ta được thương xót từ mọi phía. Được vỗ
tay từ khắp nơi. Bị chê bai cũng lắm. Nhưng sá gì những lời bình phẩm kia.
Hãy bắt đầu phá bỏ đấu trường. Phá bỏ sân
khấu. Vở tuồng đã quá dài. Bao nhiêu năm nay, chúng ta đã nuôi nấng tình cảm
nhân loại bằng tấm thảm kịch quá lớn. Không thể tiếp làm những diễn viên giác
đấu nữa.
Chúng ta hiểu rõ hạnh phúc ở đâu. Trên con
đường đã qua tuyệt nhiên không có.
Dù thế nào cũng đã ra đi. Chỉ xin được ra đi
êm ái. Những đứa con nhân loại đã thật sự mất dấu về quê quán cũ. Đã bao nhiêu
sa mạc. Sa mạc quả là mênh mông. Chúng ta đang cần chút nước cho hành trình.
Những thiệt thòi đã đủ lớn lao. Điều cần nhớ là đừng để cả một dân tộc bị hụt
hơi vì vô vọng.
Con Đường Thanh Tịnh
Ai không đi về phương Đông, kẻ đó lạc hướng.
Chữ nghĩa đã nói như thế.
Désorienté. Lạc hướng là đánh mất con đường.
Và là Đạo. Đạo là con đường dẫn đến sự hoan lạc của tâm hồn và trí tuệ.
Con đường Tây phương đỏm dáng và dễ sạt
nghiệp. Con đường Hiệp Chủng Quốc mạnh khỏe nhưng hời hợt. Con đ̣ường Đông
phương khắc khổ mà thâm tình. Cả ba con đường đã thành tựu một ngã ba nơi đây.
Vì giao tế, mỗi ngày chúng tôi phải đi trên
trên cả ba con đường đó. Đi và tự nhủ lòng đừng sa ngã. Điều gì đã khiến cho
đất nầy được chọn để thành tựu một ngã ba? Một ngã ba đã biến chúng tôi thành
những con người trận mạc. Từ mấy nghìn năm luân phiên cầm giáo mác trên tay.
Chưa từng được ngơi nghỉ.
Phải chăng đây là đất hứa của mọi bước chân
trần gian? Thật khó lòng tin được. Chưa có một mạch đất nào hé lộ cho thấy dấu
vết của địa đàng.
Chúng tôi như những bộ lạc lang thang để mưu
sinh. Lắng nghe gió mùa trên đầu những ngọn cỏ. Vào những ngày nhật thực, chúng
tôi lo âu trên những lời sấm truyền.
Tiếc thay vẻ thơ mộng kia không được dùng để
thăng hoa đời sống. Chúng tôi có không bao nhiêu ngày nhàn hạ. Những thi sĩ nơi
đây đã phải cầm giáo nhọn và cung tên lên đường. Lời thơ phải viết trên lá rừng
và đá núi (...). Nghìn năm dằng dặc. Trên tờ di chúc của ông cha chúng tôi nhận
lãnh lòng can đảm cùng với sự mỏi mệt.
Soi mình trên những lục địa khác, chúng tôi dễ
dàng nhận ra vẻ già cỗi của mình. Những bờ vai nơi đây đã chai lỳ sự gánh vác.
Có lẽ một phần nào, chúng tôi là những tên phu tàu định mệnh. Trong trái tim,
mờ nhạt tiếng hát trữ tình. Sông bể không còn dành cho những chuyến ra đi. Núi
non không còn dành cho những giờ thưởng ngoạn. Thiên nhiên nép mình dưới ý chí
của con người. Cái ngây thơ biến thành cạm bẩy. Cái vô tội thành lầm lỡ điêu
tàn.
Đã biến đổi quá nhiều đến độ chúng tôi lấy sự
bất thường làm điều tự nhiên. Sống cái bất thường không còn ngượng ngập. Gọn
ghẽ lạ kỳ. Với định mệnh mới chúng tôi là những con chim xa lạ của loài chim.
Những anh em xa lạ của loài người.
Trên con lộ mịt mù thương tích, chúng tôi nói
lời tịch mịch. Làm sao thế giới nghe ra.
Nơi ngã ba, qua những lần gặp gỡ, chúng tôi
đau lòng nhận ra những thành trì. Thành trì ngăn chận sợ cảm thông. Có lẽ tiếng
nói ưu ái mỗi ngày mỗi thêm vắng vẻ...
Qua những ngôi tường nhỏ, tôi đã đọc được vẻ
rực rỡ trên những khuôn mặt trẻ thơ. Vốn liếng đau thương thừa đủ để chúng tôi
dựng nghiệp. Trên ngã ba, chúng tôi sẽ khai mở một con đường mới...
Tôi đang nhận ra, mỗi ngày, vẻ lạnh lẽo của
ngày mai. Những thâm tình không còn được xem như là dự phóng của nhân loại.
Những phát biểu tình cảm sẽ có những công thức tinh vi. Đời sống sẽ ngăn nắp
trong ký hiệu. Đó cũng là giờ phút ra đời của đám giã hình ngoan ngoãn mang
trong lòng niềm kiêu hãnh toàn bích của người máy.
Một đời sống thiếu vắng hoàn toàn sự ấm áp của
tình người. Thế giới sẽ có một bề mặt thịnh vượng cùng cực, nhưng đồng thời sự
hoan lạc trong tâm hồn đã mất.
Với tôi, đó sẽ là cái chốn đến của ngày mai.
Cuộc phiêu lưu của nhân loại sẽ có bước đi tối hậu đó...
Tôi đang lắng nghe phút tàn tạ của mọi sự
huyên náo. Cái giờ giấc lặng lẽ của thức tỉnh. Đó cũng là giờ phút về nguồn của
nghiệp dĩ. Khoảnh khắc chung thẩm của mọi con đường. Để từ đó viên thành một
con đường thanh tịnh trên mọi ngã ba ...
Trong những giờ tĩnh tâm, tôi đã loáng thoáng
thấy những bước chân nhân loại trở về. Thoát đi từ một hoàng hôn đ̣ang tàn tạ.
Những vầng trán thấm nhuần sự thất bại, những ánh sáng rực rỡ, cái áng sáng của
kẻ đã thấy được cội nguồn.
Chỉ có những dân tộc sống tận cùng khổ đau mới
xứng đáng đốt lên ngọn lửa trong căn nhà trở về đó. Và chỉ có những kẻ chạm
đ̣áy hố thẳm mới biết được đỉnh cao.
Cuộc Sống Không Thể Thiếu Tình Yêu
Quả thật "trong cuộc sống không thể thiếu
tình yêu" và lắm khi người ta rơi vào tình trạng "đi thì dở, ở không
xong". Hay nói một cách khác, theo nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là "tiến
thoái lưỡng nan".
Người ta nói trên trái đất không có gì ở ngoài
quy luật cả. Nhưng tình yêu hình như cũng có lúc là một ngoại lệ. Tình yêu có
thể nâng bổng con người nhưng cũng lắm lúc nhấn chìm kẻ háo hức. Tôi không tin
những người quá lạc quan khi nói về tình yêu bằng thể khẳng định. Người ta có
thể tin rằng mình được yêu và cũng có thể hiểu nhầm mình không được yêu.
Tôi không thể nói về một vấn đề mà chính bản
thân mình cũng chưa hiểu hết. Chưa hiểu hết là nói theo kiểu đại ngôn chứ thật
sự là hoàn toàn không thể hiểu. Nếu có người nào đó thách thức tôi một trò chơi
nghịch ngợm thì tôi sẽ mang tình yêu ra mà đánh đố. Tôi e, không ai dám tự xưng
mình am tường hết nội dung phong phú và quá phức tạp của tình yêu.
Có người yêu thì hạnh phúc; có người yêu thì
đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc thì con người vẫn muốn yêu. Tình yêu vì
thế mà tồn tại. Con người không thể sống mà không yêu. Hàng nghìn năm nay con
người đã sống và đã yêu - yêu thật lòng chứ không phải giả. Thế mà đã có không
biết bao nhiêu là tình yêu giả. Cái giả mà rất thật trong đời. Sự giả trá đó
lúc biết được thì làm khổ lòng nhau biết bao nhiêu mà kể. Người giả, người thật
nhìn nhau lúc bấy giờ ngỡ ngàng không biết thế nào nói được. Người thật thì nằm
bệnh, người giả thì nói, cười huyên thuyên. Đời sống vốn không bất công. Người
giả trong tình yêu thế nào cũng thiệt. Người thật thế nào cũng được đền bù.
Tình yêu thời nào cũng có. Nhưng có tình yêu
kết thúc bi thảm đến độ có khi con người không dám yêu. Yêu mà khổ quá thì yêu
làm gì. Có người đã nói như vậy.
Tôi đã có dịp đứng trên hai mặt của tình yêu
và dù sao chăng nữa, tôi vẫn muốn giữ lại trong lòng một ý nghĩa bền vững: "Cuộc
sống không thể thiếu tình yêu, nhưng yêu thì cay đắng lắm".
Da Vàng Ca Khúc
Tất cả đã bể, đã vỡ toang.
Tiếng thét đã chìm xuống biển trành tiếng nói
trầm tư, thành lời kêu uất về than thế Việt Nam.
Tiếng nói vang lên từ những hố bom đào lên
cùng khắp.
Ơi những bạn bè thân yêu đã chết từ đỉnh cao
hay vực thẳm.
Con người đã hóa thân làm vết thương.
Cái chết hóa thân làm biểu tượng vô nghĩa.
Ðã biến hình đổi dạng từ những cơn hiểm họa
cay nghiệt nhất của nhân loại.
Lìa cha mẹ, anh em, bằng hữu yêu dấu vô
cùng.
Hãy kết hỏa châu làm đèn đãi ngộ quỷ dữ.
Ðốt thuốc cho người điên ấm phổi mùa đông.
Cả một hành trình hùng vĩ của giống nòi từ
miền Triết Giang đổ về bây giờ như thế đó.
Hỡi người yêu da vàng của tôi hãy duỗi tay
thật dài về phía hố thẳm vốc lấy những hạt đất mềm mỏng đó mà hôn.
Tôi sẽ làm người tiều phu đi nhặt từng cánh
tay, bàn chân, từng đốt xương , sọ người vung vãi khắp nơi về làm củi đốt sáng
cho đêm tìm lại dấu vết của một hành tinh Việt Nam da vàng bặt tăm.
Ám khí dày đặc, làm sao thấy rõ mặt nhau. Hãy
thử bắt đầu bằng tiếng hát như ca dao của tổ tiên ta ngày xưa đó.
7.1967
Danh Mục Các Bài Hát
và Lời Giới Thiệu
1. Diễm Xưa
Diễm là tên của một thiếu nữ. Diễm cũng có
nghĩa là đẹp. “Diễm Xưa” là một vẻ đẹp của quá khứ. Mỗi người trong chúng ta,
ai cũng đã từng yêu và cũng đã từng có một vẻ đẹp đi qua đời mình. Chúng ta vẫn
luôn luôn nhớ lại mối tình đẹp đẽ đó dù thời gian qua đi, dù đã có bao nhiêu
đổi thay trong cuộc sống. Trong bài hát có hai câu: “Làm sao em biết bia đá
không đau” và “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” như một lời nhắc nhủ rằng “sỏi
đá” cũng cần sống cạnh bên nhau thì con người lại cần có nhau hơn nữa.
2. Một Cõi Đi Về
Bài hát nói về thân phận con người ở giữa cuộc
đời này. Con người đến với cuộc đời này, sống và yêu thương mặt đất
này nhưng một ngày nào đó sẽ ra đi, sẽ từ giã mãi mãi những vui buồn của cuộc
sống. “Đi Về” là đi đến với cuộc đời và về lại với hư vô hoặc về lại với một
quê nhà nào đó mà mình không còn nhớ rõ.
3. Ru Đời Đi Nhé
Đây là một bài tình ca cũng như “Diễm Xưa”.
Trong đời sống chúng ta luôn luôn cần có nhau để quên đi những buồn phiền,
những giây phút cô đơn. Người con gái bao giờ cũng là nguồn an ủi để giúp ta đi
qua cuộc sống mà thấy lòng không nặng trĩu.
4. Bống bồng ơi.
Bống là tên của một loài cá nhỏ. Trong cổ tích
Việt nam có câu chuyên con cá bống được một bà tiên hóa phép trở thành người
con gái đẹp. Bống cũng là tên gọi của Hồng Nhung một cách thân mật ở trong nhà.
Đây là một bài tình ca nhẹ nhàng mượn cái mầu nắng vàng của buổi chiều để nói
lên một nỗi nhớ nhung lãng đãng.
5. Sóng Về Đâu
Bài hát này lấy cảm hứng từ câu chú trong Kinh
Phật: “Gaté Gaté paragaté para sam gate bodhisvaha” khi nhìn biển. Cám ơn sóng
đã cho ta qua bên kia bờ giác ngộ. Sóng trong bài hát này là sóng tình. Những
đợt sóng tình xô đẩy ta, làm ta đau khổ. Ta phải đẩy lùi lại nhưng với một tấm
lòng khoan dung, nhân ái để thoát khỏi khổ đau. Và mơ ước sóng với ta cùng sống
hòa hợp, hiền hòa trong đời sống ngắn ngủi, mỏng manh này.
Đành vậy với tình yêu
Cho đến cuối thế kỷ này, khi mà những khám phá
khoa học đã bóc trần mọi lớp vỏ huyễn hoặc của thế giới quanh ta thì con người
vẫn tiếp tục hồn nhiên chất vấn mình và chất vấn nhau: Tình yêu là gì? Tình yêu
có thật hay không?
Bao nhiêu thế kỷ qua đi và tình yêu cũng thay
hình đổi dạng. Đắm chìm vào những cuộc vong thân ngoạn mục, tình yêu đã hoá
thân và theo từng thời kỳ, mang những khuôn mặt khác.
Tình yêu cuối thế kỷ này không còn mộng mị
nữa. Những giấc mơ hão huyền đã ra đi. Con người đến với tình yêu bằng một
ngôn ngữ khác. Có một thứ hình bóng của mộng du len lỏi vào giữa cái điều mà
người ta gọi là tình yêu. Và cứ thế người ta lao vào cái điều "tưởng
như" ấy một cách đồng bóng và đánh mất dần cái hồn phách thơ mông của
những ngày đã xa xưa.
Đừng bao giờ nói một lời có tính cách khẳng
định về tình yêụ Mới ngày hôm qua là như thế hôm nay đã khác rồi. Tình yêu
tưởng vĩnh viễn ra đi mà không ra đi. Tình yêu vờ như ở lại mà không ở lại. Kể
lại một chuyện tình thường khi là kể lại một cái gì đã mất. Nhưng cũng không
hiếm những trái tim lạc hướng bỗng một hôm lại ngoạn mục quay về\. Không thể
nói nhiều về tình yêu mà không mắc lỗi lầm\. Cứ để nó yên ở một vị trí nào đó
và nhìn ngắm, quan sát hoặc chờ đợi. Tình yêu là bất khả tư nghì.
Không ai điên gì mà tự xưng mình là kẻ biết rõ
về tình yêu nhất. Đau khổ cả trăm lần vẫn cứ là một đứa trẻ thơ trong tình yêu.
Tình yêu có lẽ là lời nói dối uyên thâm nhất của trái tim. Một trái tim kim
cương không tì vết, không thách thức nhưng ngạo nghễ và thích đùa. Một thứ đùa
cợt làm bằng bi hài kịch và trên sân khấu của cuộc hành trình đã làm nổ tung ra
những cơn thịnh nộ của núi lửa hoặc của những mùa băng rã tuyết tan.
Dù thế nào cũng đừng phỉ báng tình yêu bởi nghĩ cho cùng nó vẫn là nguồn an ủi duy nhất. Nó là trò chơi dối trá cần thiết và qua nó chỉ có con người mới hiểu được thế nào là đau khổ để rồi có lúc phải thốt lên: Tôi buồn quá...
Tình yêu là không khoan nhượng. Cái khía cạnh
ác độc của tình yêu không ai có thể đo lường được. Khi cần dập chết một cuộc
tình nó sẽ không cần biết nương tay. Nó lạnh lùng thản nhiên trước cơn hấp hối
của "con bệnh tình". Vì thế xin các hoàng tử, quý công nương hãy biết
kềm giữ mình khi đứng bên mép bờ hiu hắt và luôn luôn chuẩn bị sẵn cho mình một
bài kinh thiền định để giữ được cõi lòng bình an, tĩnh lặng. Mọi cơn bão sẽ qua
đi và trên các bờ bãi, biển đã để lại bao nhiêu là sinh vật biển cho một bữa
tiệc dù muộn màng, phù du, nhưng cũng đủ để làm hồi sinh một nỗi khát sống và
xóa đi những thương tích tuồng như không đáng có.
Tình yêu không có thắng bại. Ở đây không phải
đấu trường mặc dù vẫn có những vết thương. Thậm chí đôi khi còn mang đến những
cái chết, những cái chết không báo trước nhưng cũng nhuốm đầy đủ màu sắc tai
ương, của một kiếp nạn. Những cái chết như thế không còn mới mẻ gì nữa, chỉ đủ
gây ngạc nhiên thoáng qua để có dịp nhắc nhở lại một thời kỳ vàng son của triều
đại lãng mạn. Thế nhưng ở đâu đó trên các vỉa hè trong lòng các đô thị, nhất là
dưới ánh đèn mờ tỏ ở các ngoại ô, tiếng xì xào vẫn cứ vang lên như một ngọn gió
xót thương qua các đền thờ của ảo giác. Đó cũng là lời tôn vinh phù phiếm nhằm
làm thăng hoa tình yêu hầu khôi phục lại một thứ lòng tin đã bị đánh mất.
Nếu có dịp chạm vào tình yêu thì hãy thử mượn
một cỗ xe chở lòng bất kính đến trước. Có thể không hẳn là lòng bất kính mà một
cái gì đó gần với sự thờ ơ, lãnh đạm hoặc một phương cách lịch sự bóng bẩy
phường tuồng. Đó là lá chắn cần thiết, một thứ bùa hộ mạng để chống đỡ những
mũi dao vô đạo có thể gây thương tích bất ngờ trên lòng tự trọng.
Tình yêu hình như không di chuyển trên một mặt
phẳng. Nó thường dẫn người trong cuộc đi qua những nơi chốn không hề dự phòng
trước. Thế rồi một hôm bỗng dưng mọi chuyện cứ lệch lạc hẳn đi và người trong
cuộc thấy mình không còn là mình nữa. Như trong mùa biển động, những con sóng dữ
tha hồ nhảy múa và nó rút dần tinh lực của con người.
Có những kẻ thấy được thiên đường. Có những kẻ
thấy được địa ngục. Và có không ít những kẻ bị chọc mù đôi mắt khi đi qua tình
yêu. Những giấc mơ hồng, những ác mộng đen. Đôi khi có những cái bóng vô hồn
ngoan ngoãn tới lui trong không gian vô hình của những câu thần chú\. Khi nhóm
lửa đốt lòng mình trên những mê hoặc của lời thề nguyền thì lúc ấy chỉ còn âm
binh nói chuyện với âm binh. Giấy vàng bạc bay lả tả phủ hết con đường tỉnh thức
để mở ra một cõi đời son phấn ngào ngạt hương hoa mơ mơ, tỉnh tỉnh, muội muội,
mê mê nhưng đầy một thứ lạc thú riêng tư, một cõi trời bay bổng.
Chấp nhận tình yêu là chấp nhận một thứ có có,
không không, đùa đùa, thật thật\. Nó vô hình tướng nhưng làm rã tan hồn phách.
Không có nó thì đời sống không biết sẽ tẻ nhạt đến dường nào. Thôi thì đành có
nó vậy.
Để bắt đầu một hồi ức
Viết hồi ký về đời mình là quyền của mỗi con
người. Ai cũng muốn ghi lại những kỷ niệm buồn, vui trong đời. Tuy nhiên cũng
có những hồi ký tự thuật và những tường trình về đời mình có tính cách thiếu
khiêm tốn và đôi khi không gần gũi với sự thật lắm. Ðiều đó dễ dẫn ta đi vào
một thứ trận đồ bát quái tâm linh, không có thật. Tôi rất ngại nói về mình mặc
dù đã có nhiều cơ sở xuất bản trong và ngoài nước đề nghị viết về một quá trình
khá dài trong cuộc đời làm nghệ thuật của tôi. Cái tôi đáng ghét (Le moi est
haissable) nhưng cái tôi cũng có lúc đáng yêu vì cái tôi đó biết mình và cuộc
đời là một. Tôi yêu cuộc đời và cuộc đời cũng đã yêu tôi. Ðó là niềm an ủi lớn
trong cuộc sống này. Vì thế trong lòng tôi không có một giây phút nào nuôi một
lòng oán hận với cuộc đời. Dù có đôi khi nhân gian bạc đãi mình, và con người
phụ rẫy mình nhưng cuộc đời rộng lớn quá và mỗi chúng ta chỉ là những hạt bụi
nhỏ nhoi trong trần gian mà thôi. Giận hờn, trách móc mà làm gì bởi vì cuộc đời
sẽ xoá hết những vết bầm trong tâm hồn chúng ta nếu lòng ta biết độ lượng. Ta
biết tha thứ những điều nhỏ thì cuộc đời sẽ tha thứ cho ta những điều lớn hơn.
Ai cũng biết cuộc đời này là quý vì vậy ai
cũng muốn ôm lấy mãi cuộc đời. Như đôi tình nhân. Nhưng mà nợ trần không dễ,
không dài. Rồi sẽ có phút chia lìa. Phút ấy không biết còn ai nhớ ai nữa không
trên mặt đất trần gian này.
Tôi đến với âm nhạc có lẽ cũng vì tình yêu
cuộc sống. Một phần cũng do một khúc quanh nào đó của số phận. Thời trẻ tôi học
võ và chơi những môn điền kinh. Sau một cơn bệnh nặng kéo dài hơn hai năm do
tập dợt judo với người em trai và bỗng nhiên muốn bày tỏ một điều gì đó với
cuộc đời. Tôi vốn thích triết học và vì thế tôi muốn đưa triết học vào những ca
khúc của mình. Một thứ triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu được như
ca dao hoặc những lời ru con của mẹ. Triết học Việt Nam có đó nhưng không được
hệ thống hóa vì nó bàng bạc trong đời sống nhân gian.
Tôi không bao giờ có tham vọng trở thành một
người viết ca khúc nổi tiếng nhưng đời đã tặng cho tôi món quà ấy thì tôi không
thể không nhận. Và khi đã nhận rồi thì mình phải có trách nhiệm đối với mọi
người. Vì thế tôi đã cố gắng làm thế nào để có thể trong những bài hát của mình
chuyên chở được một thông điệp của lòng nhân ái đến với mọi người.
Vì có tình yêu nên có âm nhạc. Vì có khổ đau
nên có âm nhạc. Có hạnh phúc nên cũng có âm nhạc. Do đó khi tôi viết lên một
bài hát ca tụng tình yêu, hạnh phúc hoặc than thở về một nỗi tuyệt vọng nào đó
thì hình như tôi đã không mắc phải một lỗi lầm nào cả.
Đêm giao thừa
Tôi có bao nhiêu tuổi thì tôi cũng có bấy
nhiêu đêm giao thừa. Có Tết tây và Tết ta. Tờ lịch cuối cùng bóc ra và tự dưng
thấy trơ trọi một nỗi buồn vu vơ. Nỗi buồn đó thuộc về lịch tây. Chờ thêm mấy
mươi ngày nữa thì lại thêm một nỗi buồn ta. Nỗi buồn của một người thấy mùa
xuân thuộc về kẻ khác. Nỗi buồn của kẻ không dám thốt lên hai tiếng tương lai...
Có những đêm nằm không ngủ được. Nghĩ đến
tương lai thuộc về người khác mà lòng cứ rầu rầu. Vì sao phải vậy. Quy luật tự
nhiên là cái quái gì vậy mà làm não nề những cõi lòng ham sống, thèm yêu cuộc
đời. Yêu đời và cứ muốn tồn tại mãi đâu phải là một cái tội. Nếu là tội lỗi thì
xưng tội, sám hối với ai.
Cuộc đời sắm ra cái sự yêu thương nhức nhối
này làm tình làm tội biết bao nhiêu thân phận con người. Yêu cuộc đời và muốn ở
lại mãi mãi. Vì sao không cho ở lại. Trái đất quá chật và vì vậy phải có kẻ ở
người đi. Buồn lắm mà không thể than phiền với ai cả.
Ðêm giao thừa dù tây dù ta tôi vẫn luôn luôn
một mình một cõi. Số phận vẫn thường hay hậu hỹ với kẻ này mà lại bạc đãi kẻ
kia. Có rất nhiều bạn bè thân hữu chứng nhân cứ thấy mỗi lần vào dịp lễ là tôi
lại một mình một cõi. Ðành vậy biết làm sao - Người ta có thể vui chơi, đàn
đúm, quây quần một đời nhưng vẫn cứ lạc loài lẻ loi một chốc. Một chốc mà là
tất cả. Cái sát na nhỏ bé của thời gian đôi khi cũng quy định cả đời người. Một
người mẹ bỏ đi. Một người tình bỏ đi cũng nằm trong cái sát na đó.
Ðừng than thân trách phận. Ðời không có lỗi
với ai, chỉ có ta có lỗi với đời. Ðêm giao thừa không có người yêu thì buồn lắm
nhưng cũng không vì thế mà chết được. Những lễ lạc đi qua đời người mà thiếu
vắng hồng nhan thì vẫn có thể vui nhưng là một niềm vui không trọn. Như một
khúc hát dở dang. Symphonie inacheveé. Một mùa thu không có lá vàng. Một mùa hè
không có nắng. Một đêm đông không giá rét.
Ðêm giao thừa ngồi một mình và hát:
“Ðừng tuyệt vọng tôi ơi đừng tuyệt vọng
Lá mùa thu rơi rụng giữa mùa đông...”
Ðừng tuyệt vọng vì cuộc đời hồn nhiên đôn hậu
vẫn luôn luôn cho ta những ngày vui khác. Những ngày vui của đời thì thênh
thang vô tận. Hết cuộc tuyệt vọng này đến một cuộc tuyệt vọng khác biết đâu
cũng là một niềm vui. Một niềm vui dù không có thật thì cũng đủ an ủi trong
phút chốc.
Cuộc sống là một niềm an ủi vô bờ. Cuộc sống
chỉ cho ta mà không cần lấy bớt đi. Cuộc sống cho ta tất cả và mỉm cười khi
thấy ta dại dột. Con người sinh ra vốn bất toàn và để làm những điều lầm lỗi.
Nó đẹp vì bất toàn. Nó đáng yêu vì nó luôn luôn lầm lỗi. Vậy thì cứ yêu mà đừng
tuyệt vọng. Hết cuộc tình này sẽ có một cuộc tình khác. Không có ai lang chạ.
Không có ai phản bội ai. Có thứ tình này có thứ tình nọ. Có tội lỗi và có thiên
thần. Ðừng khen chê, bôi bác, thẩm định. Ðược yêu hay bị từ chối cũng là số
phận của đời. Mà đời thì rộng quá không yêu được chốn này thì yêu nơi khác. Còn
yêu thì còn sống. Còn được yêu thì còn sống dài lâu.
Không bao giờ có điều gì tuyệt đối. Và như thế
phải có một đêm giao thừa nào đó phải có người yêu. Có những đêm không phải
giao thừa mà vẫn có người yêu. Những đêm như thế ta cứ xem như là đêm giao thừa
vậy.
1993
Đi và ở
Đối với tôi, anh Văn Cao chưa ra đi, một
chuyến đi xa, mà người chờ đợi có thể mòn mỏi nhìn một con đường ở đó không có
bóng dáng một con người trở lại.
Ra đi là bỏ lại bạn bè ở đằng sau. Anh Văn Cao
đâu nỡ đành bỏ lại những cuộc vui nhẹ nhàng nhỏ nhẻ mà nó có một âm hưởng dài
lâu lạ kỳ. Cứ ngồi bên cạnh nhau mà nhâm nhi những khúc rượu cao rượu thấp và
cười nói những câu chuyện không đâu vào đâu mà sự thật là những câu chuyện nghe
xong cũng có thể buồn vui đôi chút.
Anh Văn Cao ơi, đi và ở lại có quan trọng gì
đâu. Anh đi mà vẫn còn ở lại. Cái chỗ anh ngồi đó từ mấy mươi năm nay vẫn là
cái chỗ của anh. Ly rượu trước mặt anh mỗi sáng mỗi chiều hàng mấy mươi năm vẫn
ở đó. Anh đi xa và chiếc ghế, ly rượu ở lại. Ở lại để ôm ấp một hình hài tạm
thời vắng bóng. Có phải khóc phải buồn không khi một người hẹn chiều nay uống
một ly rượu mà không trở lại. Anh đang bận uống rượu ở nơi nào. Anh cứ uống mà
đừng say để nhớ lại con đường dẫn anh về nơi này. Nơi đây bạn bè cứ mỗi ngày
chờ anh. Thế nào cũng gặp nhau mà. Anh phải về vì cuộc đời vui quá
và ai cũng chờ anh. Đừng hờn dỗi cuộc đời và hờn dỗi bạn bè, nhất là Sơn.
Nhớ anh quá. Anh Văn Cao ơi, sống là vui mà ly
biệt cũng đừng quá não nề. Anh đang làm một cuộc đi xa, đi xa mà không hề báo
trước. Thế thì này vậy, anh phải xin lỗi tụi em vì anh đã phụ tấm lòng yêu mến
anh của những đứa em của anh còn ở lại nơi này.
Đò Đưa 1 (12-1998)
Thế mà đã gần 5 năm Đò đưa vắng mặt trên Sóng
Nhạc. Cùng với thời gian này dòng thư tín cũng bị gián đoạn và Đò đưa cùng bạn
đọc Sóng Nhạc đành phải thất lạc nhau. Một sự thất lạc hoàn toàn không cố tình
cố ý mà chỉ vì một sự thất thoát hồn nhiên của một vài sự kiện trong đời sống
rồi nó đẩy đưa lui tới làm rối tung một thứ trật tự không phải tự nhiên mà được
hình thành.
Hôm nay Đò đưa trở lại. Đứa con thất lạc đã về
lại nhà. Đứa con đi hoang đã trở về cố quận. Lời nói đầu tiên là xin lỗi gửi
đến bạn bè khắp khắp nơi nơi. Xin lỗi là vì không có đất để trả lời thư của các
bạn gửi đến, còn trả lời thư riêng thì cho dù được sống cùng một lúc 3 cuộc đời
cũng không thể nào trả lời hết được.
Ai cũng muốn có một tâm tình dành riêng cho
mình. Điều đó dễ hiểu. Một lá thư từ miền cực Bắc. Một lá thư từ vi vu gió thổi
ở cuối trời đất nước cực Nam. Làm sao không cảm động, nhưng để thỏa mãn một nhu
cầu về tình cảm đòi hỏi phải có thì giờ, phải có một khoảng trời riêng để nói,
để viết, và để tâm sự. Nhưng tâm sự với một người chưa quen thì cũng không phải
là điều dễ. Vì vậy, chúng ta nên có một giao ước chung là mọi lời thăm hỏi,
thắc mắc, đòi hỏi một điều gì đó đều được điều trần trên trang Đò đưa của Sóng
Nhạc bộ mới.
Đò đưa trở lại có nghĩa là có một bến sông
thức dậy. Thức dậy cũng có nghĩa là có một đời sống đã tỉnh thức bên bờ một
dòng sông. “Đưa người ta không đưa sang sông - Mà nghe tiếng sóng ở trong
lòng”. Không có liên hệ gì với Đò đưa ở đây. Tuy nhiên đò nào mà chẳng đưa. Dù
chỉ một người. Phải đưa vì nếu không bờ này sẽ nhớ bến nọ và những bến bờ hoang
vu của những năm xa cách sẽ nghĩ rằng người người đời đời đã phụ mình. Đò đưa
đưa đò. Đò lại đưa, đưa lại về chốn cũ nào đây.
Thong dong sẽ có nơi này.
Bạn bè bốn phía có rày có mai.
Đò đưa 2 (1 - 1999)
Thường người ta vẫn nghĩ rằng kẻ làm việc từ
thiện phải là kẻ giàu có. Thật sự không phải là như vậy. Ai cũng có thể làm
việc thiện. Người ca sĩ hát một xuất và hiến hết số tiền lãnh được.Người nhạc
sĩ tổ chức một chương trình nhạc của mình và tặng hết số tiền thu được. Đó là
cách dùng tài sản vừa trời ban cho vừa chính bản thân mình tạo dựng để chia sẻ
cho đời.
Không ai tự nhiên mà giàu có. Phải làm việc
bằng cách này cách nọ. Nhưng giàu cũng có lắm cách. Không phải ai cũng giống
ai. Có kẻ quá giàu mà không muốn cho, không muốn san sẻ của cải cho bất cứ một
ai khác. Có kẻ không giàu nhưng tràn đầy hạnh bố thí. Hạnh bố thí thường dễ mà
khó. Cho nhưng cách cho như thế nào để sự cho trở thành một đức hạnh, một sự
mầu nhiệm của lòng nhân từ, một thứ hạnh chan chưa lòng yêu thương.
Khi ta cho mà tâm ta vô cầu thì mầm từ bi đã
đâm chồi và quả hân hoan đã kết trái. Lòng ta vui sướng tràn trề hạnh phúc mà
không hiểu vì đâu. Không hiểu vì đâu vì cái ta cho đã được trả lại gấp nhiều
lần hơn và làm ta mất phương hướng.
Khi làm việc thiện người ta không chờ kẻ xin.
Người làm việc thiện chân chính là kẻ phải tự mình mang đến một cách tình
nguyện để dâng hiến những của cải dù khiêm tốn hay tráng lệ cho đời, cho người.
Và ngược lại người chờ lòng từ thiện cũng không tự biến mình thành kẻ ăn xin.Từ
đó cho và nhận đã trở thành vấn đề khiến ta cần suy nghĩ. Người nhạc sĩ khi
viết được một bài hát hay, đó là làm được một việc thiện. Đó là một quà tặng
mang đến cho đời. Người ca sĩ khi hát hay một bài hát cũng là một quà tặng mang
đến cho người. Đã biết cho thì sẽ được nhận. Thường cái quà nhận được lớn hơn
gấp vạn lần cái điều mình đã mang cho. Sống trong cuộc đời, vì vậy phải mang
trái tim ra mà sống, để đừng bao giờ phải ân hận là mình chưa sống hết lòng.
Làm việc thiện không phải là lưu giữ một thứ
của cải riêng cho mình. Nếu cần tích luỹ thì hãy tàng trữ cái kho báu ngọt ngào
mà dời đã ban tặng cho ta. Chính điều đó đã nuôi sống ta và làm cho trái tim ta
trở thành bất hoại.
Đò đưa 3 (2 -1999)
Tự nhiên những ngày cuối năm 1998 hàng đống
thơ bỗng như những cánh én chao lượn trên bầu trời nơi tôi ở. Sắp là mùa xuân
nhưng chưa phải là mùa xuân. Những lá thư xa lạ từ miền Bắc gửi vào. Không phải
thư của bạn, cũng không phải thư người yêu. Người yêu thì dĩ nhiên không có
rồi. Lá thư trẻ nhất: 12 tuổi. Lá thư lớn nhất là của một giáo viên đi dạy
trên 10 năm. Số còn lại là lứa tuổi sinh viên học sinh trong độ 16 đến 19 tuổi.
Xin cảm ơn tất cả các bạn. Vì một chút vô tình
mà báo “Hoa học trò” đã mách bảo cho các bạn địa chỉ của tôi. Đã từ lâu rồi tôi
muốn lánh mình trong một cuộc chơi khác. Cuộc chơi chỉ có mình với mình. Một
mình với mình không có nghĩa là không có những người xung quanh. Nhưng tôi chỉ
tham dự như một thành phần ở ngoại cuộc và không có đối thoại. Tôi muốn giữ một
sự tịch lặng cho riêng mình và để cho những tiếng nói xung quanh trở thành một
sự xao động bình thường của thiên nhiên.
Đa số những lá thư đều tập trung vào một yêu
cầu: xin ảnh và chữ ký. Điều này không lạ. Ngược lại điều này biểu lộ một tình
cảm yêu thương vô hạn và đôi khi khiến tâm hồn mẫn cảm của người làm nghệ thuật
muốn khóc. Vì sao vậy? Vì như thế cuộc đời vẫn còn đẹp quá. Tuy nhiên tôi đang tìm
một biện pháp hay nhất để mọi người đều có ảnh và chữ ký của tôi mà khỏi vất vả
gửi đến địa chỉ của từng người. Chỉ mong các bạn đừng có giận vì khi giận chúng
ta sẽ đánh mất lòng thương yêu.
Các bạn trẻ ơi! Mùa xuân đến các bạn thử để
thì giờ xếp quanh co những con hạc như những lời chúc phúc. Đừng bao giờ xếp
những lá thư theo kiểu khó gỡ như một sự thách thức sự kiên nhẫn của người
nhận.Tôi rất mệt mỏi khi nhận những lá thư kiểu đó.
Khi nói đến thư là nói đến một thông điệp được
gửi đi. Thông điệp có thể dài, có thể ngắn. Có những thông điệp dài mà không
chứa đựng một nội dung đáng kể. Lại có những thông điệp ngắn, rất gọn ghẽ, mà
lượng thông tin có thể quật ngã một con người. Con đường thư tín vì vậy đôi khi
rất hiền hòa, nhưng đôi khi cũng đầy hiểm họa. Nó mang đến niềm vui cho người
nhận nhưng lắm lúc cũng mang đến nỗi buồn.
Những lá thư từ miền Bắc nói chung và Hà Nội
nói riêng, hình như nó mang một âm hưởng từa tựa nhau. Một thứ âm hưởng mang
giọng nói và tình cảm của một miền đất nước. Rất thiết tha và để lại một điều
gì đó trong lòng người nhận. Xin cám ơn tất cả vì qua những lá thư đã gửi cho
tôi tôi tìm thấy được một tấm lòng yêu thương thắm thiết.
Mùa xuân này, qua Đò đưa, xin gửi đến tất cả
các bạn xa gần một mùa xuân lớn hơn kéo dài cho đến thế kỷ tới.
31-12-1998
Đò đưa 4 (3 - 1999)
Hằng trăm lá thư tiếp tục bay về nơi chốn tôi
ở sau khi báo Hoa Học Trò đăng địa chỉ trên báo. Có một điều chung trong tất cả
những lá thư ấy là lời hỏi thăm, lời chúc sức khỏe, sau đo là chờ đợi thư trả
lời cùng với một tấm ảnh có ký tên. Một số lá thư khác thì xin chép tay cho bài
nhạc này hoặc bài hát nọ. Hầu hết những lá thư đều mang tên những địa danh ở
miền Bắc. thư nào cũng mang một nội dung chứa chan tình cảm và lòng tôi thấy
được an ủi vô cùng. Tuy nhiên, để làm tròn trách nhiệm với hàng trăm lá thư
trên thì thú thật, các bạn ạ, tôi không thể nào có đủ khả năng làm vừa lòng các
bạn được. Vì vậy tôi đề nghị các bạn tìm đọc tờ Sóng Nhạc thuộc Hội Âm nhạc
thành phố để theo dõi trên mục Đò Đưa hằng tháng đều có bài viết của tôi cũng
như thư trả lời chung cho các bạn trên khắp đất nước. Về ảnh thì các bạn có thể
đề nghị báo Sóng Nhạc làm phiếu tặng ảnh hoặc nhờ báo Hoa Học Trò làm thay công
việc ấy cũng được.
Tháng Hai năm nay đi qua cùng với ngày Tết rất
thầm lặng rồi ngày Valentine’s Day (Ngày tình yêu) cũng trầm trầm không có gì
khởi sắc. Hoa đẹp đủ loại cũng lắm người mua với giá rất đắt nhưng hình như
thiếu một bàn tay phù thủy có khả năng để biến những ngày lễ ấy thành những
ngày hội tưng bừng.
Hết tháng hai, chúng ta đang chờ đón gì đây
trong ngày 8 tháng 3? Lại những cơn mưa hoa đắt tiền trao đến các chị, các
em... Làm thế nào để tránh cho những cơn mưa hoa ấy không mang màu thủ tục và
hờ hững?
Ngày 8 tháng 3 là ngày sinh nhật của nhóm
“Những người bạn” gồm có Trịnh Công Sơn, Tôn Thất L65p, Trần Long Ẩn, Thanh
Tùng, Từ Huy, Nguyễn Ngọc Thiện, Nguyễn Văn Hiên... Điều này thì nhiều người đã
biết và hình như đã biết. Vì sao lại chọn ngày lễ phụ nữ để làm ngày Khai Sinh
của nhóm. Cũng chỉ là tình cờ và khi làm mâm cơm cúng tạ Trời Đất mới biết là
nhóm đã rơi vào cái “cung oan nghiệt” này. Tuy vậy nhóm “Những người bạn” từ
khước theo chế độ mẫu hệ, ngược lại, những người trong nhóm rất muốn luôn luôn
mình là kẻ mạnh.
Nhân ngày Phụ nữ tôi muốn thay mặt nhóm và tạp
chí Sóng Nhạc chúc tất cả các bạn gái và các em nơi này nơi kia một mùa Phụ nữ
xanh tươi và rực rỡ. Tôi xem mùa Phụ nữ cũng như mùa Giáng sinh, mùa Tết. Tất
cả các mùa rồi sẽ đi qua đời sống của chúng ta như những giấc mộng. Cũng có
những mùa đầy đặn và cũng có những mùa hao mòn. Cố gắng giữ lại trong lòng ta
một số mùa màng ấy như những kỷ niệm đẹp.
Và cũng trong ngày 8 tháng 3 này, tội muốn gửi
đến tất cả những tấm lòng phụ nữ khắp nơi lời cám ơn chân thành về những lời
chúc bình an và sức khỏe cho tôi. Đó là điều quý giá nhất mà không phải ai ai
cũng nhận được.
Mong sẽ gặp lại tất cả các bạn trên tạp chí
Sóng Nhạc trong mục Đò Đưa, ở đó tôi hy vọng sẽ có rất nhiều điều chúng ta nói
với nhau về cuộc sống, về nghệ thuật.
(Tạp Chí Sóng Nhạc số 6, Tháng 3-1999)
Đò đưa 5 (1 - 2000)
Huyên Náo Và Tĩnh Lặng. Trong những ngày nằm
bệnh không có gì thích thú bằng sự tĩnh lặng. Không có một ai quấy rầy đến sự
nghỉ ngơi. Không có gì làm xao động cái không gian đã được đóng kín alị cho một
cõi riêng tư.
Nằm yên và nghe mình thở.Nằm yên và theo dõi
những suy tưởng của mình trước cuộc đời. Nằm và cảm nhận cùng một lúc sự gần
gũi và cả sự xa vắng đối với tất cả những gì đang cùng tồn tại hay đang vây
quanh đời sống của ta.
Đau ốm chỉ là sự tạm dừng chân trong cuộc hành
trình về phía trước.
Vắng bạn đương nhiên là buồn. Nhưng bạn nào và
sự có mặt của bạn như thế nào đó mới thật là một niềm vui. Có những sự có mặt
của bạn bè tương đương với một dấu lặng trong âm nhạc nên sự có mặt đó thường
có khả năng mang đến cho ta một sự thoải mái thảnh thơi tựa hồ như niềm hoan
lạc. Đó là những trường hợp ta không cần phải đối phó, không cần phải cố gắng
lấp đầy khoảng trống bằng những câu chuyện gắng gượng, nhạt nhẽo.
Nếu trong âm nhạc không có những dấu lặng, dấu
nghỉ, thì đó là một tai hoạ. Đám đông và sự ồn ào không phải luôn luôn là đại
diện của sự sống. Ta cần sự nghỉ ngơi và tĩnh lặng không phải chỉ trong lúc nằm
bệnh mà ngay cả trong lúc đang sinh hoạt bình thường. Tiếng động ầm ĩ cũng
giống như sự phát ngôn huyên thuyên không có cơ may chấm dứt trong những cuộc
họp mặt hoặc trong những buổi trà dư tửu hậu. Đó chỉ là sự phá sản của những
não trạng không bình thường. Nó làm mệt mọi người và cả cuộc sống.
Có sự ồn ào của chợ và sự huyên náo của nghị
trường. Nhưng giữa sự ồn ào của chợ và sự huyên náo dị thường của những cái loa
vô tội phát thanh về bất cứ vấn đề gì bất chấp người nghe muốn hay không thì
tôi chọn sự ồn ào của chợ. Bởi vì đằng sau sự ồn ào còn có thực phẩm trần gian.
Nó hứa hẹn những bữa ăn ngon không khí một gia đình sum họp.
Đi qua cuộc sống hàng ngày tôi biết có rất
nhiều người không biết hoặc không hề quan tâm đến sự tĩnh lặng. Họ thích nói và
hình như cần phải nói với bất kỳ giá nào. Họ nói về bất cứ vấn đề gì miễn là có
một kẻ thứ hai để chịu đựng những điều họ muốn nói. Họ nói cười sảng khoái cho
riêng họ bất chấp kẻ khác có đồng tình hay không.
Huyên náo và tĩnh lặng là hai trạng thái tinh
thần khác nhau. Người ta có thể phát bệnh vì tiếng la hét quá độ chứ không bao
giờ mệt mỏi vì sự yên tĩnh.
Giấc mơ Hạ Trắng
Ở Huế mùa hạ, ve kêu râm ran trên những cành
cây như một giàn hợp xướng và nắng nóng oi bức như địa ngục. Thêm vào đó lại
còn có gió lào. Vừa tắm xong là người đã ướt đẫm mồ hôi. Bao nhiêu nhiên liệu
tích lũy trong cơ thể đều tan ra thành nước. Những đồ vật và áo quần sờ vào đâu
cũng có cảm giác như vừa rút trong lò lửa ra. Những mặt đường gần như bốc khói
với nhiệt độ 42º-43º.
Có một mùa hạ năm ấy tôi bị một cơn sốt nặng,
nhiệt độ trong người và bên ngoài bằng nhau. Tôi nằm sốt mê man trên giường
không còn biết gì. Và bỗng có một lúc nào đó tôi cảm thấy có một hương thơm phủ
ngập cả căn phòng và tôi chìm đắm vào giấc mơ như một cơn mê sảng. Tôi thấy
mình lạc vào một rừng hoa trắng thơm ngào ngạt, bay bổng trong không gian đó.
Đến lúc tỉnh dậy người ướt đẫm mồ hôi và tôi nhìn thấy bên cạnh giường có một
người con gái nào đó đã đến cắm một bó hoa dạ lý hương trắng rất lớn. Chính mùi
thơm của dạ lý hương đã đưa tôi vào giấc mơ kia. Giấc mơ trong một mùa hạ nóng
bức. Trong vùng tôi ở, quanh đó chỉ có một nhà duy nhất trồng dạ lý hương nên
tôi biết ngay người mang hoa đến là ai.
Sau một tuần lễ tôi hết bệnh. Nghe tin bố
người bạn đang hấp hối tôi vội vàng đến thăm. Ông chẳng có bệnh gì ngoài bệnh
nhớ thương và buồn rầu. Câu chuyện rất đơn giản. Hai ông bà đã lớn tuổi thường
nằm chung trên một sập gụ xưa. Cứ mỗi sáng bà cụ thức dậy sớm và xuống bếp nấu
nước sôi để pha trà cho ông cụ uống. Một buổi sáng nọ, cũng theo thường lệ, bà
cụ xuống bếp bị gió ngã xuống và chết. Mấy người con ở gần đó tình cờ phát hiện
ra và đưa bà cụ về nhà một người để tẩm liệm. Sau đó chôn cất và giấu ông cụ.
Khi ông cụ thức dậy và hỏi con, mẹ các con đi đâu rồi, thì họ trả lời mẹ sang
nhà chúng con để chăm sóc mấy cháu vì chúng bị bệnh. Vài ngày sau vẫn chưa thấy
bà về ông mới trầm ngâm hỏi các con có phải mẹ các con đã chết rồi phải không.
Lúc ấy mọi người mới khóc òa lên. Từ đó ông nằm trên sập gụ một mình, cơm không
ăn, trà không uống cho đến lúc kiệt sức và đi theo cụ bà luôn.
Câu chuyện ám ảnh tôi một thời gian. Và sau đó
kết hợp với giấc mơ hoa trắng mùa hạ với mối tình già keo sơn này như áo xưa dù
nhầu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau để viết nên bài “Hạ Trắng”.
Hư Vô
Có một thứ tuổi đời mà cứ mỗi mùa Xuân đến,
lòng cứ nhẹ đi những niềm vui mong manh mà lại nặng thêm những nỗi buồn vu vơ
không nắm bắt được. Thời trẻ cũng thường có những lúc buồn buồn như vậy. Một
thứ buồn vô cớ mélancolic. Có người cho rằng đó là nỗi nhớ nhung vô hình về một
thứ thiên đường đã bị thất lạc. Một thứ quê quán không có chân dung rõ rệt,
không có một địa lý rõ ràng, không biết được mùa màng thời tiết ra sao. Không
biết mà vẫn nhớ nhung buồn buồn. Tôi thì lại có lúc thơ thẩn nghĩ rằng nỗi buồn
vô thường vô cớ kia là bắt nguồn từ nỗi nhớ về cái quê hương đầu tiên từ cái
bào thai trong bụng mẹ. Nhớ về cái cõi ở đó thành hình dần dần trong nỗi vui
cùng những lo âu của người phụ nữ.
Cái sự buồn buồn kia không giống chút nào với
nỗi buồn bây giờ khi một năm vừa cạn, vừa tàn, vừa tắt. Một mùa xuân bắt đầu
cho tuổi này nhưng lại mang đến âu lo phiền muộn cho tuổi khác. Cái thứ tuổi
đời khác này cứ mãi giật mình nhìn lại một năm qua đi mà vốn liếng gom góp cho
đời chẳng có gì cả, chẳng được bao nhiêu. Hoá ra nỗi buồn này chẳng vu vơ chút
nào. Có thể nắm bắt được. Nắm bắt nhưng rồi lại buông ra vì muốn lãng quên,
muốn tự tha thứ cho mình.
Khi một người biết tự tha thứ cho mình thì
đồng thời cũng phải biết tha thứ cho kẻ khác. Đừng bao giờ để lại những ân oán
trong lòng. Ân oán là những tảng đá nặng nề ngăn chặn, giết chết lòng yêu
thương. Sống mà không còn khả năng yêu thương được nữa thì cũng xem như đã chết
rồi. Tôi yêu và tôi tồn tại. Yêu và tha thứ. Tha thứ và yêu. Sự phản bội đôi
khi cũng cần thiết để cho tình yêu đẹp hơn, đậm đà hơn, buồn bã một thứ nhan
sắc lạ lùng hơn. Từ đó câu thơ ra đời. Tiếng hát ra đời.
Ba mươi năm ca hát mộng mị giữa đời, ngoái
nhìn lại nhiều khi cứ tưởng chỉ là giấc mộng của người khác. Người khác hay
mình thì cũng thế thôi. Lãng đãng một điều gì vừa thật vừa không thật. Ngày xưa
ca hát với người ca sĩ này, hôm nay ca hát với cô ca sĩ khác. Mộng mị quá rồi.
Lệ Mai ngày trước hát ở Đà Lạt trong một căn phòng bên đồi lạnh lẽo. Hôm nay
Lan Nhung hát ở Q.bar. Đêm tiếng hát cất lên bên một bàn rượu có Lý Quý Chung
và tự nhiên nhớ lại những thời xưa cũ. Đêm cuối năm một giọng hát khàn khàn,
một giọng hát trẻ thơ nghe bùi ngùi nhớ đời quá. Thì yêu đời mà hát và khi cất
lên tiếng hát thì càng thấy yêu đời hơn. Đời cứ mãi lạ, cứ mãi mới một cách
hồn nhiên lộng lẫy. Lộng lẫy như nụ cười, như sự thông minh của em, như thân
thể của em ấm áp một mùa nắng của miền nhiệt đới.
Có những giấc mộng ngày cũ và có những giấc
mộng bây giờ. Giấc mộng nào cũng có một nụ cười an ủi. Nằm sống bên nhau hoặc
nằm chết bên nhau điều đó khác xa một lời nguyền rủa. Đừng nguyền rủa và cố
quên đi những ai đã mang đến phiền muộn cho ta. Quên và biết quên cũng là một
lẽ sống ở đời. Biết quên nên đời bỗng nhiên biết cất tiếng hát. Tiếng hát có
thể mang di trong gió một nỗi ưu phiền nhưng có lúc cũng gửi gắm đâu đây, trong
những góc hồn lặng lẽ, những niềm an ủi về một cõi đời, về một cuộc tình chưa
trọn. Không trọn là dấu hiệu của một thứ nghệ thuật tròn vẹn của thiên tài.
Hãy đau đớn đi. Biết đau nỗi đau của người
khác và của chính mình là dấu hiệu của lòng nhân ái. Cái tín hiệu ấy phát đi và
mọi người nhận được. Nhận được và bỗng cảm thấy cuộc đời đáng yêu hơn, bỗng
đáng sống hơn và bỗng nhiên thấy rằng chiến tranh giết chóc là điều không có
thật. Kẻ làm ra chiến tranh buộc lòng phải gọi là kẻ ngu dốt. Cuộc đời vốn
không có thật mà còn rắp tâm hủy hoại nó. Hủy hoại một điều không có thật có
nghĩa là hủy hoại hư vô. Hư vô là một tiếng cười bất hoại ném trả lại cho hư
không.
Tình yêu cứu vãn hư không. Chỉ có tình yêu mới
cứu được cái thứ tuổi đời nặng nề một nỗi buồn không cứu chuộc nổi. Mùa xuân sẽ
được phục sinh cho tấm lòng trinh bạch lẫn những đớn đau. Thôi cũng đành, đừng
ân hận nữa. Có điều ta làm được và có điều thuộc về hư không. Tôi đã làm mà
không làm được gì cả. Cám ơn cuộc đời đã ưu ái quá nhiều về những điều tôi chưa
làm được.
Không Đề *
Buổi sáng ấy ở Nha Trang nhìn biển, tự
nhiên câu kệ trong kinh Phật bỗng vang lên trong đầu “Gaté. Gaté.
Paragaté. Para sam gaté. Bodhi svaha (tiếng Phạn). Có nghĩa là: Đã đi
qua. Đã đi qua. Đã đi qua bên kia rồi. Tất cả đã qua được bên kia rồi.
Giác ngộ. Reo vui.
Bờ bến của một cuộc tình cũng không
phải hẹp đâu. Có biết bao nhiêu kẻ đã bị dìm chết giữa dòng để
mãi mãi không đến được bờ bên kia. Kẻ đã đến được bờ bên kia rồi,
khi quay nhìn lại sẽ thấy rất rõ, sẽ nhận thức được mọi thất vọng,
khổ đau đã qua đều là giả tạo, phù phiếm. Và bỗng nhiên một nụ
cười thanh thản bỗng nở ra. Một khi đã qua được bờ bên kia rồi tất
cả sẽ thấy lòng mình tràn ngập một nỗi hân hoan lạ thường và từ
đó cái nguồn cội của khổ đau không còn lừa gạt ta được nữa.
Hãy đọc câu kệ trên để có đủ nội lực
đẩy lùi lại mọi con sóng độc hại. Đẩy lùi lại chứ đừng giết chết
nó. Bởi nó có thể tàn bạo với ta mà lại rất hiền hòa với kẻ
khác.
* Tựa đề do NTH tự đặt.
Không Đề 1 *
Hai mươi năm qua con người Việt nam khốn khổ
đã hiểu được thấm thía rằng không còn một nhân danh nào đủ ý nghĩa và xứng đáng
để còn được một chỗ đứng trên cái điêu tàn to lớn phủ ngập đời sống nơi đây
nữa. Họ đã chống đỡ bằng những cố gắng cuối cùng. Hơi thở đã mõn. Đam mê đã
cùn. Hy vọng chỉ là đám phù vân - Thanh xuân của một thế hệ chỉ còn trong trí
tưởng - Đời sống là một cuộc đánh đu hiểm nghèo thường xuyên. Sự vây khốn muôn
mặt, muôn cách bởi cái chết chưa hề biết nghỉ ngơi.
Như thế mà bên dưới cái hạn điêu linh này vẫn
còn những tâm hồn hòa nhã. Vẫn còn những cánh tay khắc khổ dương ra chống đỡ
một mái tranh, một vách đất vì lòng nuối tiếc một quá khứ của quê hương, một
quá trình của dân tộc. Nhờ đó trong cái ám khí dày đặc của hôm nay lòng Việt Nam
bỗng ươm lại những hy vọng và nuôi lớn cái xanh mướt của một luống khoai, cái
vàng óng của những bông cải trong vườn. Và mắt của ta ơi, của bao nhiêu bằng
hữu Việt nam này sao không thấy được một rạng động mới sẽ được khai sinh. Đồng
cỏ sẽ khai hoa. Ruộng lúa sẽ sống bừng. Nhựa mới sẽ luân lưu cuồn cuộn trong
những thân thể Việt Nam ngày mai đây.
Tháng 8, 1969
* Tựa đề do NTH tự đặt.
Kinh Việt Nam
Kinh Việt Nam là những tiếng kêu thương thống thiết, khởi từ một thực trạng máu
xương.
Kinh Việt Nam cũng là lòng mơ ước về một rạng
đông cho đêm tối dài lâu này.
Những bài ca được viết từ những hân hoan lắng
nghe được trong lòng người.
Ðó là nỗi hân hoan của đám đông chờ mong ngày
hồi sinh.
Ðã có điều gì không thật suốt hai mươi năm
nay. Một lầm lỡ đã lên đường và phải đi cho trót con đường máu xương. Như một
mũi tên vô tri bỗng lỗi thời trong một nhiệm kỳ vô định.
Chúng ta, dù muốn dù không, bị biến thành
những mũi tên đinh hướng được bắn đi từ những đồ hình huy hoàng tưởng tượng và
ngần hạn. Dân ta tàn phế hai mươi năm. Nước mắt và máu đã làm thành những con
suối lớn chảy mòn tiềm lực sáng tạo.
Ðến lúc chúng ta phải dừng tay và nhìn lại.
Xác thân anh em thừa đủ biến thành con đập lớn
ngăn chận những mưu toan phi nhân.
Ðã mười năm nay, anh em ta săn đuổi nhau bằng
hận thù giả tạo. Không thể có một thứ hạnh phúc nào chờ đợi ta sau cuộc săn
đuổi dài hạn đó.
Hố tham đã mở ra dưới chân dân tộc này. Lương
tâm con người đang trên đà bị phát mãi. ở cuối chân trời Việt Nam, những tia
nắng nghèo nàn và bệnh hoạn từ một mặt trời hết sinh khí sắp đi vào hôn mê.
Xin hãy dừng tay và cùng chờ nhìn một mặt trời
tươi trẻ sẽ được khai sinh ở phương Ðông. Xin hãy dừng tay để mọi căn nhà Việt
Nam có thể mở rộng cửa chờ đón một sớm mai hòa bình.
Còn rất nhiều con đường mở ra cho tương lai
chúng ta. Những con đường đưa ta về dựng lại một tổ quốc đích thực.
Xin hãy dừng tay đề được nghe ba mươi mốt
triệu tiếng hò reo trong cùng một phút hân hoan. Ðể cho con sông, dòng suối,
núi rừng và mặt đất cằn khô nầy được thở lại điều hòa.
Tiếng hát đã có thể cất lên để nuôi lớn ước
mơ.
Ta đã có sẵn một hành trang quý giá của hơn
bốn nghìn năm đê còn mãi bước đi trên những lộ trình mới về tương lai.
Ta phải đi tới bằng con tim sứ giả mang niêm
tin và lời hứa hẹn cửa những người đã nằm xuống.
Ta phải tìm lại quê hương bằng sức sống mãnh
liệt vì trong cơ thể ta đã luân lưu thêm dòng máu của anh em không còn.
Quanh đây, những trường học, những bệnh viện,
những đình làng, những phiên chợ, những cánh đồng sẽ được bắt đầu lại với những
ngày nhân đạo, với một dân tộc nhân bản.
Xin đừng bao giờ làm kẻ phản bội với một quá khứ hiển linh.
1968
Mái nhà
Hình như chữ "quê nhà" phải được
hiểu là ở quê hương đó có một mái nhà của mình. Vì có một mái nhà nên dù lưu
lạc ở nơi đất khách quê người thường vẫn có một nỗi hoài hương. Muốn về để được
đặt bàn chân lên thềm, để ngắm nhìn lại những kỷ niệm đã trở thành linh hồn của
mỗi nơi nằm, ngồi, đi, đứng.
Căn nhà có thể nhỏ, lớn, rộng, hẹp nhưng những
kích thước ấy phải mang đầy đủ linh hồn của mỗi đời người mới khiến mình tìm
được đầy đủ sự yên lành khi trở về.
Mỗi căn nhà, khi có điều kiện, thường phải là
một phản ánh gần như trung thực tâm hồn của con người cư ngụ trong nó.
Có người khách lạ đến nhà chỉ cần nhìn kiến
trúc và cách bày biện, sắp xếp trong nhà - architecture et décor intérieur, có
thể biết ngay chủ nhân của nó là ai, thuộc thành phần nào trong xã hội.
Trong những ngày bão giông, nắng cháy, mưa
dầm, không thể nào không thấy gợn lên trong lòng một nỗi biết ơn thầm kín dành
cho người đã nghĩ ra một nơi cư trú cho con người.
Không có bất cứ một sinh vật nào trên mặt đất
này mà không có một nơi chốn cư ngụ riêng. Từ loài có cánh cho đến
loài đi trên mặt đất rồi loài bơi lội dưới biển sông.
Con người vì một sự thông minh thiên phú đã
biết biến nơi cõi tạm này thành một chốn cư trú đầy huyễn hoặc. Nhà cửa, đền
đài trên mặt đất cứ theo thời gian mà lung linh, biến hóa, thay hình đổi dạng
theo sự sáng tạo của con người.
Mái nhà là một tiếng có một âm vang tình cảm
sâu kín trong lòng mỗi con người. Chỉ có ở đó mình mới tìm thấy được mình đầy
đủ nhất. Ðó là cái nôi thứ hai ru mỗi đời người khi lớn lên. Vì vậy mỗi người
phải cố gắng đừng bao giờ để dưới mái nhà ấy có một địa ngục. Vẫn có những kẻ
đã rời bỏ mái nhà đi không một chút tiếc thương nhưng kể từ đó trong tâm hồn
người ấy sẽ không bao giờ còn sự bình an nữa.
Rứt bỏ mái nhà để ra đi cũng như phụ rẫy một
tình yêu. Mái nhà ở lại hoàn toàn vô tội. Mái nhà vẫn chờ cửa để đón người trở
về nhưng người ra đi thì không bao giờ kéo được mái nhà về với mình nữa.
Có được một mái nhà riêng trong lúc sống là
một hạnh phúc. Nhất là mái nhà ấy là hình ảnh của chính mình.
Trong những ngày cuối năm này tôi cùng mấy
người em suốt ngày đứng trông coi những người thợ xây mộ cho mẹ tôi. Mộ cũng là
một thứ kiến trúc dùng làm nơi cư ngụ cho một người không còn sống.
Thường ở các nghĩa trang, mộ được xây theo một
kiểu mẫu đồng dạng. Ðó là một loại nhà tập thể cho những người đã khuất. Nhìn
vào thấy buồn, ngậm ngùi và sự vô nghĩa của cái chết càng vô nghĩa hơn.
Có một kiến trúc sư tôi không còn nhớ tên,
cũng vì sự buồn bã trên, đã tự mình biến tất cả các ngôi mộ trong nghĩa trang
mà anh có người thân đã mất thành những tảng màu đá ghép - mosaique. Và từ đó
nghĩa trang trở thành một vườn chơi cho trẻ em. Người sống và người chết đã có
một sự giao lưu mới và cuộc đời bỗng nhân ái hơn.
Tôi mong là mẹ tôi cũng vậy. Nhờ những người
bạn kiến trúc giúp thể hiện trên bản vẽ những ý nghĩ của tôi và cũng là tâm hồn
của chính mẹ tôi, chúng tôi đã có được một giường nằm cho mẹ thật nhàn nhã, nhẹ
nhàng và thanh thoát. Ðó không phải là một ngôi mộ mà chỉ là nơi yên nghỉ của
một con người. ở đó không có dấu vết u ám của cái chết mà chỉ là lời từ biệt
của một con người đã có lời hứa với riêng tôi sẽ còn gặp nhau ở năm 2000.
Kiến trúc không chỉ là cái đẹp mà phải mang trong nó lòng nhân ái nữa. Nghĩa là một cái đẹp có tâm hồn.
Mở Lời Theo Điệu
Bao la là tiếng nói của độ lượng. Đời không
thấy tha thứ cho nhau mà vẫn mơ ước bao la. Ai cũng thích những cánh đồng mênh
mông, những chân trời rộng mở. Sao mà lắt léo thế? Con người luôn luôn sẵn sàng
tham dự những chuyến đi bồng bềnh, sảng khoái với những chân trời không thấy.
Thèm gió bể khơi. Thèm núi đồi trùng điệp. Hân hoan reo ca cùng chim chóc. Nâng
niu những hoa đồng cỏ nội. Ai cũng thế. Không riêng ai. Đến với đất trời như
những đứa con của vũ trụ, mà tấm lòng thì đóng kín tối tăm. Sao mà biển lận với
trời đất quá vậy?
Đời đã mở cho ta những cõi rộng. Mà lòng nhân
gian thì quá hẹp hòi. Có cái gì bất trắc mà nẩy sinh như thế. Đã vậy thì không
nên sàm sỡ thốt tiếng bao la, mở lời rộng rãi. Đánh lừa thiên hạ còn khả thứ.
Đừng bất kính với đất trời. Chưa bao giờ đóa sen, đóa hồng nở một cách gian
dối. Lòng không nở được một điều gì tốt đẹp thì thôi. Đừng ép gượng.
Con người ta cũng hay đấy chứ. Dễ quên có phải
là cái vốn liếng ở đời? Sống với người thì hẹp. Hẹp quá! Mai đây ra đứng trước
cõi bao la thì nói chuyện phiêu bồng. Vả chăng, trời đất cũng dễ tính. Làm gì
có chuyện trời đất ganh đua với người. Có chăng, chỉ là ganh với hồng nhan, với
tài mệnh.
Thế ra, ông Trời cũng khéo lắm. Cũng bày ra
những cuộc chơi riêng. Chơi với kẻ tương xứng. Hiểu ra như thế thì những định
mệnh nổi trôi mới khỏi buồn.
Thời nào cũng có những hồng nhan đa truân. Bất
cứ ở đâu. Kiều năm xưa hay Kiều nay thì cũng vậy. Gặp được người đồng điệu thì
nói ngay tiếng nặng tình. Tinh lắm. Đã gặp được thì không bao giờ gieo lời mắc
mỏ. Làm vậy, không những xấu mặt, mà xấu lòng.
Hình như có sự xếp đặt của ai đây. Bàn tay
ghép gán quả là tài tình lắm. Tài tình và tài tử. Tài tử trong cái nghĩ ẩn báu
lộng ngọc của cuộc đời. Bởi khi ta chạm đến tấm lòng quý giá kia của Kiều thì
lập tức ta gặp cái bao la của trời đất. Hay lắm! Quỷ quyệt đến thế thì hết sức.
Và cái bao la kia là gì vậy? Là gì mà ai nấy
đều nặng lòng với? Có kẻ đứng trước bao la mà không thấy được bao la. Có kẻ ở
buổi bình minh, nghe tiếng chim hót đã chạm mặt với cõi vô lượng. Biết được vô
lượng là cùng lúc đến với vô biên. Hay đôi khi gắn bó, hòa lẫn với nhau trong
một cuộc hôn phối son sắt. Qua tay kẻ phàm nhân, cái vô biên được ví von đối
chiếu nghịch lý với cuộc đời hữu hạn của con người. Nhưng nếu rảnh rỗi một chút
hãy ra nhìn sông nước thử. Cái vô biên nằm đâu đó trên cánh vạc chở hoàng hôn
về núi mỗi chiều.
Chạm đến vô biên là nhắc nhở cái lý sinh tử ở
đời. Là muốn tầm tích con đường vô định của sự sống chết. Thường khi nó gây nên
sự buồn bã không nguôi trong kiếp nhân sinh. Trái lại, đi vào cõi bao la người
ta nhận ra được nỗi hân hoan trong lòng. Khi bắt được cái nhịp của trời đất,
lòng ta bỗng reo ca, nhảy múa trong một hòa âm thuận chiều. Một cái gì đó soi
tỏ đời ta như đạo đạt. Đó là cái bước nhảy hân hoan, nối liền trời với đất, của
Zorba trên bờ biển. Cái phút hạnh phúc đó không đến với mọi người. Cái sự hòa
nhịp kia cũng không thể có nếu lòng ta không được trang bị vẻ thênh thang của
vũ trụ. Có thực sự chạm đến cõi vĩnh phúc vô hình, mới hý lộng, mới nhảy múa
say sưa đến thế được.
Cho nên, nói đến chuyện riêng chung của trời
đất là nói trong cái lý đó vậy. Cũng không dễ gì tập tành sự độ lượng. Muốn có
được phải làm cả một cuộc đổi đời. Thay cái nhìn. Thay trí óc. Và tuyệt đối
phải có một con tim đẹp đẽ.
Nếu không, cái tình với cõi bao la kia chỉ là
cái tình gian lận. Và còn thú vị gì một cuộc chơi thiếu hào hứng như thế. Trời
đất nương ta, nhưng ta vốn như con bệnh, thủy chung không phát giác được gì.
Con mắt rêu phong đã đóng kín ta lại với thế giới ích kỷ, hẹp hòi, riêng tư.
Làm sao còn nghe ra tiếng hoan ca của thế giới bên ngoài. Nếu bảo là nghe, thì
sao lại có thể thiếu hòa điệu đến thế được. Chân tay trì trệ. Đời sống như đóng
đinh, xa cách. Đừng mưu toan với trời đất. Hạnh phúc xa lạ kia chỉ dành cho
người có lòng. Kẻ hời hợt dễ đàm tiếu, thị phi về cái hạnh phúc đó lắm. Bởi
nhìn gần, hạnh phúc đó có vẻ phù du quá. Không mang lại áo cơm. - Đến thế thì
còn nói thêm được một lời nào nữa. Hãy ôm lấy cái phần của mình. Kẻ nổi trôi
gặp người trôi nổi. Cứ theo trời xa đất rộng kia mà rong chơi vui thú một đời
vậy.
Một cõi đi về
Một bài hát không nhất thiết phải buồn mới
hay. Nhưng hầu như những bài hát hay cho đến nay ta còn giữ lại được trong trí
nhớ, thường có những giai điệu buồn. Khi một bản tình ca buồn ra đời, không
nhất thiết tác giả của nó phải sống trong một câu chuyện tình phụ. Nhưng thường
khi sau mỗi cuộc oan trái của tình thì người nhạc sĩ vẫn hay muốn xé vụn lòng
mình thành những lời than thở. Lời than thở biến thành âm thanh. Âm thanh liên
kết nhau thành giai điệu. Rồi giai điệu ôm lấy lời than thở kia cùng nhau đi
qua một quãng đường ngắn để mang cái tâm sự riêng đến với đời chung.
Cái riêng không nhất thiết chỉ cho một người.
Một người thì không thể có Tình Yêu. Và không có Tình Yêu thì hạnh phúc, đau khổ
với ai. Không hạnh phúc, không đau khổ thì âm nhạc mà làm gì? Trong đời sống,
vì sợ mất nhau mà phải dự phòng than thở trước. Than thở như dự kiến một điều
bất hạnh có thể phải xảy ra. Cho nên khi nói đến sự mất mát có thể đó là sự mất
mát của người khác chứ không phải của mình. Phút ấy, cái chung bỗng biến thành
cái riêng và vì sao lại ái ngại không mang cái riêng để nhờ cõi chung chia sẻ
cùng mình.
Ai cũng biết than thở. Than thở là cái nghề
chung của loài người mà không cần phải học. Không hề có ranh giới giữa than thở
chuyên nghiệp và tài tử. Trong nghệ thuật, hình như nhà thơ và nhạc sĩ là những
kẻ có năng khiếu về chuyện thở than. Người viết ca khúc là đứa con riêng của
hôn phối giữa thơ và nhạc. Nó thường hay mộng mị, than thở, thở than, bởi nó biết
Hạnh Phúc là một dự báo của hư vô.
Hạnh phúc là một điều không bao giờ có thật.
Nếu có thật thì những nhà tiên tri vĩ đại đã không nhọc lòng bịa đặt thêm Thiên
Ðường và Niết Bàn để làm gì nữa. Cái hạnh phúc ở Trần Gian chính là ý thức được
khổ đau. Ðau khổ nên phải biết rộng lòng với nhau hơn, tử tế hơn, độ lượng hơn,
biết tha thứ, nhân hậu hơn. Bài học ấy không dề gì, bởi Cuộc Sống cho đến nay
điều Thiện vẫn còn vắng bóng.
Có những bản thánh ca trong giáo đường. Có
những bài kinh tụng niệm theo nhịp mõ. Người nhạc sĩ vẫn muốn hát lên để xua
dần đi điều Ác.
... Triết học Ấn Độ nói rằng nếu ở nơi này vừa
có một kẻ bỗng dưng giàu lên thì lập tức ở một nơi khác sẽ có một kẻ mất hết
sản nghiệp.
Chiều nay ở sân bay vừa đưa tiễn những người
thân đi xa. Về nhà, người bạn tôi nói: ở nơi này vừa thiếu đi bốn người thì lập
tức ở nơi xa xôi kia nhận được thêm bốn người...
Có một nỗi buồn ở nơi này thì sẽ có một niềm
vui ở chốn khác.
Có một trái tim khổ nạn ở người này thì tất nhiên sẽ có mọt trái tim hân hoan ở
kẻ khác.
Những ai đã đi đến với đời thì phải có lúc lìa xa nó.
Một cõi đi về...
Trong Phật giáo một trong những "hạnh" cao nhất là hạnh bố thí.
Cho kẻ này nhưng sẽ nhận lại ở kẻ khác.
Thanh Tùng nói với tôi: Tôi muốn làm một điều
gì đó thật tốt đẹp cho người đã khuất, người vợ một đời lo âu tận tụy vì tôi.
Vợ Tùng đã một đời cho Tùng nhiều quá thì sẽ
nhận được quà tặng ở một nơi khác. Tùng biết cách cho thì vợ Tùng sẽ nhận được.
Những đứa con của vợ Tùng sẽ nhận được. Những thân quyến, bạn hữu của bạn Tùng
sẽ nhận được.
Chết là sự tan biến của thể xác. Nhưng sống
không chỉ là sự tồn tại của thân xác. Nhiều người còn sống mà tưởng chừng như
đã chết. Nhiều người chết mà vẫn còn sống trong trí nhớ mọi người.
Trong câu chuyện đời chung, kẻ này quên thì
người kia phải nhớ. Một ý tưởng chợt tắt để làm mầm chuyển hóa cho một ý tưởng
khác nảy sinh.
Cái mất không bao giờ mất hẳn
Cái còn không hẳn mãi là còn.
Mưa Bình Minh
Các bạn đừng tưởng lầm tôi muốn nhắc lại câu
chuyện tình thơ mộng của Pautôp-xky Mưa Trong Bình Minh (“Pluie a l’Aube”,
trong tuyển tập truyện ngắn Contes Russes).
Tôi buộc lòng phải mượn lại cái nhan đề ấy để nói về mưa, những buổi mưa sớm,
rất sớm, ở thành phố của chúng ta.
Saigon ai cũng rõ chỉ có hai mùa mưa nắng là đậm nét nhất. Những thoáng thu
đông chỉ ai tinh ý mới nhìn ra. Nó như những nét bút tài tình của nhà danh họa
chấm phá vào trong cõi xuân hạ trên một bức tranh phác thảo thủy mặc.
Mùa mưa ở thành phố sắp chấm dứt. Có nghĩa là mùa hạ cũng đã qua. Hết rồi mùa
hoa phượng.
Hết rồi những tháng ngày nhàn tản nghỉ ngơi vui đùa thỏa thích của tuổi học
trò.
Mưa. Cái mưa bao giờ cũng chuẩn bị cho nó một bầu trời ẩm đục, xám ngắt. Không
phải đã từ xưa lắm, chỉ hai mươi năm trước đây, mưa đã không phải như bây giờ.
Mưa xưa ồ ạt, vội vàng. Mưa như tính khí của con người Nam bộ. Thẳng thắn, rõ
ràng, dứt khoát. Trái đất có thể đã già nua, đâm ra trở chứng. Mưa bây giờ hóa
ra rỉ rả, day dứt, để lỡ bao nhiêu là buổi hẹn. Mưa dài trong đêm, mưa đầy
trong ngày. Có thể thế mà hay. Đêm nghe mưa gõ đều như mõ trên tàu lá chuối,
trên tàu lá dừa.
Từ khi đất nước thống nhất, thời tiết hình như
cũng bắt chước theo. Cái lẽ thuận hòa của trời đất và con người biết đâu không
phải là cái lý đương nhiên phải vậy.
Tôi ở trong thành phố này đã ba mươi bốn năm
chẵn. Đó là chưa trừ đi cái khoảng thời gian ngao du sơn thủy và nhiều bậm tạm
thời quay lộn trở lại Huế và cả miền Trung.
Tôi đã biết gì về mưa trong thành phố này? Tôi
biết những cơn mưa thịnh nộ không kịp trốn không kịp chạy. Những cơn mưa đàn
ông mạnh khỏe. Nó thiếu cái chất trữ tình, da diết, rất đàn bà phụ nữ của miền
Bắc, miền Trung. Để bù lại, nó có cái vẻ thơ mộng đáng buồn mà cũng rất đáng
nhớ, đáng yêu là sau mỗi cơn mưa giận dữ đó, cả thành phố như trôi nổi trên
những dòng sông.
Vẫn còn lác đác những cơn mưa vội vã như thế
trong thành phố chúng ta. Nhưng trên bầu trời hôm nay đã có thêm những cơn mưa
dịu dàng, trầm tĩnh hơn. Không phải ai cũng sợ hãi, sốt ruột bởi những cơn mưa
dài, vì có ai biết đâu, dưới những mái hiên thành phố đã là nơi tao ngộ của
những tình cảm bất chợt, của những hạnh phúc bất ngờ. Nhờ mưa.
Nói về mưa, chắc còn phải nhiều điều để nói
hơn nữa. Những cơn mưa ngắn, những cơn mưa dài.
Tôi đang muốn nói về mưa trong bình minh. Mưa
vào lúc bốn năm giờ sáng. Mưa vào lúc các bạn có giấc ngủ đẫy nhất, mắt vẫn
nhắm, tay kéo vội tấm chăn mỏng cuốn vào người.
Ít ai nhớ rõ mùa mưa đã bắt đầu như thế nào.
Có thể bắt đầu từ một buổi sáng, một buổi trưa hoặc một buổi chiều tối nào đó.
Và cứ như thế, mưa trong suốt mùa mưa. Có lúc ngừng nghỉ như đứa bé được dỗ
dành rồi lại mưa tiếp.
Đầu mùa thường mưa nhiều. Giữa mùa chuyển dần
về trưa, về sáng. Đến gần cuối mùa, thời tiết đâm ra đãng trí, mưa cả sáng, cả
chiều, cả đêm. Rồi như một cơ thể kiệt sức, mưa vương vãi lúc này một ít, lúc
kia một ít.
Trong những cơn mưa khuya cuối mùa, mưa thường
cố ý nấn ná lại đôi chút như người tình dứt đi không đành, để kéo dài thành
những cơn mưa lúc bình minh.
Mưa bình minh đánh thức cây cỏ trở mình tắm
gội. Đứng nhìn mưa lúc bình minh trong thời khắc của một ngày mới bắt đầu, cơn
ngái ngủ cũng vội vàng ra đi. Có một chút rét trong gió ban mai cùng những âm
thanh tươi tỉnh của những bầy mưa sớm khiến da thịt ta như trẻ trong hẳn lại.
Có kẻ lười, tiếc nuối những giờ còn lại cứ thế nằm co người, nhắm mắt mà mơ
màng nghĩ đến một cơn mưa trẻ đi qua suốt tuổi thơ của mình. Có những bằng hữu
đầy đủ tuổi đời phút ấy đội mưa tìm đến nhau mà cùng uống một chung rượu nhỏ, vừa
nhìn những sợi mưa chẻ dọc bóng tối lấp lánh như từng sợi kim khí, cũng mua
thêm được một cái thú ở đời.
Âm thanh mưa của buổi bình minh bao giờ cũng
cho ta cái cảm giác về một niềm hưng phấn. Mưa vốn không có tuổi nhưng ở cái
buổi thơ ấu của một ngày, ta vẫn nghĩ rằng những hạt mưa kia còn trẻ lắm. Nhưng
mưa bình minh lại là những cơn mưa cuối cùng của mùa mưa.
Tôi đang ngồi viết những dòng này vào đúng giờ
giấc đó. Tôi đang chờ một cơn mưa rào nhỏ xuống tắm mát những đóa hồng trước
hiên nhà.
(Tuổi Trẻ - tháng 10/1983)
Nắng Thủy Tinh
Ở Huế mùa hạ thường có những cơn mưa bất chợt.
Có khi vào buổi sáng, thường là vào buổi chiều, một thứ chiều chưa chiều lắm.
Mưa chưa kịp tạnh hẳn, nắng đã đột ngột bừng lên, sáng bằng một thứ ánh sáng
trong vắt như pha lê, như những mảng thủy tinh long lanh trong vườn qua những
kẽ lá, qua những khoảng cách hẹp giữa những hàng cây. Không ai đã đặt tên cho
cái màu nắng ấy. Cả tôi cũng vậy. Chính bản thân nắng ấy tự có tên là nắng thủy
tinh. Cái tên cúng cơm của một thứ tinh thể vô nhiễm ở một phút giây màu nhiệm
khi được lọt lòng từ thiên nhiên.
Nắng chiều lên cao để nắng tắt. Và trong phút
chốc lạ thường kia những đốm nắng thủy tinh lung linh chập chờn trên đầu những
vòm lá long não xanh mướt để hai hàng cây long não dài suốt một con đường biến
thành những ngọn nến thiên nhiên được thắp lên cho một ngày sắp hết.
2.1994
Nhật ký ở tuổi 30
Vào đầu mùa xuân này tôi có ba mươi tuổi chẵn.
Câu nói đã xa lặp lại mãi âm thầm trong trí tôi: Tam thập nhi lập. Riêng tôi
chả lập được gì cả.
Tôi đang ở trong một thành phố có những vết
tích cổ xa của đền đài thành quách. Bây giờ những thứ đó cũng không nói lên
được điều gì. Thỉnh thoảng nhìn lại cũng có gợn lên trong lòng một chút buồn
bâng quơ vậy thôi. Người ta chỉ còn chú ý đến những đổ nát quanh thành phố và
ngay trên những đền đài đó. Có lần tôi cùng vài người bạn đưa một cô bạn từ xa
đến, đi thăm những đền đài này, cô bạn thắc mắc hỏi sao người ta chưa lo sửa
sang lại những nơi này. Người bạn tôi cười bảo: lo gì, cứ làm một cuộc cách mạng,
lo cho mọi việc khác xong thì một trăm cái đền đài này xây cũng nổi. Ðó là câu
chuyện nhỏ của năm vừa qua, vào khoảng đầu mùa hạ. Bây giờ là mùa xuân của một
năm mới. Mùa xuân mà tôi vừa đến tuổi ba mươi.
Tôi đã dự định sẽ tổ chức sinh nhật của mình
thật lớn để mừng tuổi khởi đầu cho sự trưởng thành thật sự. Tôi có nói điều đó
với mấy đứa em, cả với mẹ tôi nữa. Những đứa em gái có vẻ mừng, nhắc nhở luôn
và chờ đợi. Chúng nó hỏi tôi tổ chức như thế nào, dọn ăn ra sao và mời những ai
đến. Tôi cũng vẽ ra một không khí thật rực rỡ và bảo thôi chờ đến đó hẵng hay.
Ngày sinh nhật cuối cùng đã đến cùng với mùa
xuân. Hàng cây trước nhà đã thay lá xanh nõn. Và tôi, cũng như những đứa em đã
quên hẳn ngày sinh nhật đã vẽ ra từ năm ngoái. Hai ngày sau ngày sinh nhật, tôi
nhận được một điện tín. Ðó là điện tín của một người con gái dễ thương nhưng
không yêu gửi một lời chúc mừng sinh nhật.
Tôi đã bỏ một buổi chiều để nghĩ về ngày sinh
của mình cách đây ba mười năm. làm sao còn nhớ được cái ngày khởi đầu cho một
đời người xa heo hút như thế. Tôi thử kiểm điểm lại xem mình đã làm được gì.
Tôi nhớ năm mười lăm tuổi có lần tôi đã mơ ước được đến tuổi hai mươi để làm
người lớn, để được hút thuốc, được tự do đi chơi nơi này nơi nọ, được làm tất
cả những gì mà với tuổi 15 tôi chưa có quyền làm.
Như thế mà đã 15 năm nữa. Tuổi mơ ước làm
người lớn cũng đã đi qua. Ði qua với một số kỷ niệm buồn vui có khi không còn
nhớ rõ.
Thời gian mơ ước được làm người lớn cũng là
thời gian của mối tình đầu tiên. Cũng là thời gian đã được yêu và được nhìn
người yêu mình đi lấy chồng. Cuộc tình duyên này không cân xứng về tuổi tác
nhưng cân xứng về danh vọng và nhan sắc. Ðiều này đã trở thành cổ điển và không
gây thêm được một chút ngạc nhiên nào trong xã hội nho nhỏ của thành phố. Tuy
thế, riêng tôi là một thất vọng lớn không lường được. Sau đó là những mối tình
khác nhưng tôi vẫn khó xoá được mặc cảm (tuy càng ngày càng mỏng dần trong tôi)
đối với thành phố này.
Bây giờ tôi đã 30 tuổi.
Ba mươi cây nến không cây nào được đốt lên.
Buổi chiều trong căn phòng chỉ còn lại mình tôi, những đứa em gái đã đi học.
Một thằng em trai làm ăn ở xa. Một đứa khác đang hành quân trên đỉnh một núi
cao mà có lần nó bảo là sương mù quanh năm lạnh lắm. Mẹ tôi thì sang phố từ sau
bữa cơm trưa.
Tôi nhớ đến tên những thằng bạn thân, bây giờ
mỗi đứa đang ăn, ngủ, nhậu hay hiểm nguy trên những địa thế khác nhau của mặt
đất này. Ví dụ lúc này có thằng Tường (*) ở đây thì nó sẽ uống thật cạn một ly
rượu và mang cái ly ra dòng sông bên cạnh nhà để vứt xuống. Không hiểu nó đã vứt
được bao nhiêu cái ly xuống biển, xuống sông, xuống đèo cho những sinh nhật bạn
bè. Ðó cũng là một thói quen làm người khác dễ nhớ đến. Tất cả đều đã phiêu
bạt. Như tôi cũng đã phiêu bạt.
Những lần quay về lại với căn nhà này tôi luôn luôn mang cảm giác sự trở về của một đứa con đi hoang. Thời gian trở về bao giờ cũng là thời gian để nằm nghỉ và dưỡng sức. Như một con bệnh mệt mỏi, rã rời...
Chú thích:
(*) Hoàng Phủ Ngọc Tường
Nhật ký Huế
■ Đã lâu lắm tôi không ra khỏi nhà để thực hiện những chuyến đi xa. Thế rồi nó trở thành một thói quen. Một thói quen không hiểu là tốt hay xấu. Nhưng dù sao đó cũng là thói quen của một người không có sức khoẻ tốt hoặc đã đạt đến một thứ tuổi lười. Đã từng có những cuộc mời mọc trong vài năm nay để ra nước ngoài nhưng tôi đều từ chối. Và khi kiếm được một cớ nào đó để từ chối mà không phụ lòng người mời, tôi bỗng thấy lòng thảnh thơi, nhẹ nhõm.
■ Tháng 4 năm nay ở Huế có tổ chức Festival 2000. Tôi không được mời, nhưng điều đó không có gì quan trọng. Bởi vì rất nhiều người khác cần được mời hơn tôi cũng không được mời. Đã hiểu lý do làm sao mà có một sự thiếu sót như thế thì cần phải viện đến những cơ sự rất phức tạp, thậm chí lạ lùng khó hiểu.
■ Thành phố Huế là thành phố của những đứa con thân yêu của Huế, chứ không phải chỉ để dành riêng cho một số người. Càng không phải chỉ để dành cho một thế lực nào đó. Quê hương là quê hương chung, chứ không phải quê hương của riêng ai. Vì thế cho nên muốn làm đẹp cho quê hương cũng phải được chia đều.
■ Thế mà cuối cùng tôi cũng đến Huế trong những ngày nằm giữa bề dài của cuộc Festival. Tôi đã sẵn sàng tham dự một vài buổi trình diễn không lấy gì làm hứng thú. Những bữa ăn không mùi vị, thậm chí là nhạt nhẽo. Nhưng tôi không mất nụ cười và sự vui tươi hồn nhiên, vì tôi là thằng con của Huế. Tôi an ủi đám bạn bè cùng đi là hãy vui đi, vì đây là xứ sở của tôi.
■ Khi bạn có một xứ sở để trở về hoặc là để thỉnh thoảng trở về, thì bạn còn có hạnh phúc nhiều lắm. ở đó bạn có một dòng sông, một ngọn núi, và bạn tìm lại được những đứa bạn một thời tóc xanh nay đã lốm đốm bạc đầu. Bạn sẽ gặp một cô gái Huế bất chợt trên đường và hỏi rằng: Huế bây gờ có gì lạ không em? thì lập tức, hoặc tình cờ cô gái ấy sẽ đọc lại hai câu thơ của Bùi Giáng:
Dạ thưa phố Huế bây giờ
Ngự Bình vẫn đứng bên bờ sông Hương.
■ Huế trăm năm trước và trăm năm sau không có gì thay đổi. Nó hình như muốn giữ trọn một lời thề sắt son, không bao giờ thay lòng đổi dạ. Đó là nét đáng yêu của một thành phố, nhất là một thành phố rất cổ kính. Tuy nhiên thời đại này người ta không cho phép một thành phố với những con người cứ mải mê ngủ hoài trên những vàng son của quá khứ hoặc ôm mãi những giấc mộng huyễn hoặc trên những tàng kính các.
■ Huế lần này đã kéo tôi ra khỏi cái góc nhà nhỏ hẹp của tôi. Nếu không có Huế trong dịp Festival này, chưa chắc tôi đã rời được nơi ẩn trú của mình. Tuy vậy, xét cho cùng, không phải vì Festival lôi cuốn sự tò mò của tôi, mà chỉ đơn giản chính là Huế. Tôi về Huế chính vì Huế chứ không phải vì Festival Huế 2000. Nếu nói một cách chính danh, thì đây không phải là một Festival trong đúng nghĩa của nó. Tổ chức luộm thuộm, không có một không khí hội hè đúng như yêu cầu, và thực sự nhìn chung, người dân của Huế không tích cực lắm trong việc chia sẻ một niềm vui chung.
■ Dù sao tôi cũng cảm ơn một cái cớ nhỏ để tôi đi giang hồ vặt trong vài ngày ở Đà Nẵng, Hội An và Huế. Ngày xưa, thời còn trẻ lắm, những chuyến đi chơi nhỏ mọn này không thể nào đủ để làm nguội bớt máu giang hồ trong tôi. Bây giờ thì những chuyến đi ngắn cùng đông đảo bạn bè cũng tạm an ủi cho những giấc mộng phiêu lưu không còn thực hiện được nữa.
■ Huế là người yêu của tôi, là giấc mộng của tôi. Nhưng bây giờ tôi còn Sài Gòn và Hà Nội. Tôi thấy đâu cũng là quê nhà. ở đâu tôi cũng có giấc mộng và tình yêu. Và vì vậy, đôi lúc tôi không còn cảm thấy mình thuộc về một xứ sở nào nữa. Nhưng ngẫm cho cùng, thì Huế vẫn là quê nhà của tôi, và ngày nào Huế chưa phụ bạc tôi, thì tôi vẫn là đứa con không bị từ chối của Huế.
Nhật ký ghi chậm - Tháng Mười Hai Tháng Giêng
* Tháng mười hai mở cửa một phòng tranh.
Một hành lang dẫn vào khách sạn phút chốc bỗng
đổi đời, hoá thân, hoá kiếp.
Bắt đầu bằng những panneaux quét sơn trắng
được dựng lên, che dần những khoảng trống trần truồng. Thu hẹp ở quãng này, thư
giãn một chút ở phía kia.
Thế rồi những bức tranh được treo lên, che
khuất, lấp đầy những vết sẹo của gỗ, những đường sơn quét vụng về của những mảng
panneaux trắng.
Hành lang không còn là hành lang. Phút trước
còn của một đời tục lụy vào ăn vào ngủ. Phút sau đã là chốn tạm trú của tinh
thần.
Bữa tiệc đời trông ra như nhẹ nhõm nhưng đã
cuốn đi một phần không nhỏ sinh lực của người mở tiệc.
Cái hành lang ấy có phần nào làm ta nghĩ đến khuôn mặt của kép hề, của một cô đào hát khi bước vào sàn diễn.
* Đời sống của phòng tranh ấy không dài. Phòng
tranh đi qua một mùa Giáng Sinh và khép lại ở đêm giao thừa của một năm mới.
Đầu năm những bức tranh được gỡ xuống.
Có những bức tranh theo chân người lạ làm một
cuộc viễn hành xa xứ.
Có bức lại theo chân khách, sau một cuộc gá
nghĩa, về làm bầu bạn ở một nơi nào đó trong thành phố này.
Những bức còn lại trở về chốn cũ.
Những panneaux trắng chỉ còn là panneaux, trơ
ra một nỗI buồn vắng lặng.
Rồi panneaux cũng được dỡ ra, xếp lại, thu gọn
phận mình trong một góc tối của phòng kho.
Cái hành lang đã trở lại làm thân hành lang.
Nơi đây đã từng có một cuộc chơi trang nhã và
hành lang kia sẽ không còn giữ lại một điều gì trong trí nhớ của mình.
Cũng như những panneaux sẽ xoá đi trong ký ức
của mình những phúc giây ngắn ngủi của ngày hội.
Tôi không trở lại phòng tranh cũ. Không chứng
kiến buổi tiệc tàn. Nhưng tôi vừa biết được có một cô gái giữ hộ phòng tranh cũng
ra đi.
Một cuộc chơi đã mở ra và khép lại.
Cũng như thế, một cuộc đời khi đã mở ra sẽ có lúc khép lại. Đừng buồn.
* Tháng Giêng ra phố.
Có những quãng đường đầy lá vàng. Những đoạn
đường khác thì hoa phượng vàng như lót thảm.
Tự nhiên nhớ câu hát của mình: “Sài Gòn mùa
xuân còn thoáng lá vàng bay… Mặt đường bình yên nằm ngoan như con suối. Kết hoa
vàng cho lộng lẫy đời…”
Ghé vào khách sạn Bông Sen thăm người bạn ở xa
về. Nhân viên phục vụ ở phòng ăn mừng rỡ hỏi thăm. Ba năm rồi còn gì.
Cô Hương phục vụ bàn hỏi: “Vừa rời em của anh
có triển lãm tranh phải không?”
Đời sống có những nhầm lẫn trẻ thơ, không nên
giận dỗi.
Nó như thế này: TRỊNH CUNG, ĐỖ QUANG EM, TRỊNH
CÔNG SƠN
Triển lãm tranh sơn dầu
Có người đi qua đọc vội hàng chữ ở banderole
và vô tình để quên dấu phẩy sau chữ QUANG nên mới ra nông nỗi ấy.
Tôi hỏi thăm cô Hương về một người không thấy
mặt trong phòng ăn. Mọi người đồng loạt trả lời: “Anh Tài chết cách đây hơn một
năm rồi.”
Một năm rồi, còn bao nhiêu người quen đã chết
mà tôi không biết được?
Anh Tài là một người đã lớn tuổi nhưng rất
thích hát sau vài ly rượu mời. Hình như nhà văn Nguyễn Quang sáng, Nguyễn Duy,
Nguyễn Trung… cũng chưa biết tin này.
Có lẽ phải biết cách sắp xếp để thường lui tới
những nơi chốn cũ. Khi ân hận thì mọi chuyện đã qua. Trong mỗi giờ phút đầy rủi
may của đời sống, con người sẵn sàng chực bỏ nhau đi nào ai ngờ trước được.
Dẫu sau, một cuộc đời khi đã mở ra sẽ có lúc khép lại. Đừng buồn.
* Tháng Giêng Tây có trong không khí chút se
lạnh lúc chiều hôm. Loáng thoáng đâu đó cái dáng dấp mong manh của một mùa Tết
sắp đến.
Một cuối năm âm lịch sắp đóng lại để mở ra một
tháng Giêng là tháng ăn chơi mới.
Những phòng tranh của tháng Mười Hai đã đóng
lại để mở ra những phòng tranh khác.
Những sân khấu đã mở ra khép lại hàng đêm,
chập chùng như cánh bướm, không kịp để dấu vội một nỗi buồn.
Những cuộc đời đã mở ra, khép lại và còn mở ra
mãi mãi…
Có chút hờn giận gì không trên những khoảng khắc trần trụi của mỗi đời sống, của mỗi căn nhà.
Nhật Ký 1961
Đã nhiều đêm tôi đứng từ hành lang này nhìn qua tu viện trước mặt. Đời sống bên sau những khung cửa đóng kín đó thường gây những xao xuyến lớn trong ý nghĩ của tôi. Thường sau những phút nghĩ về một cách thế sống khắc khổ nào đó tôi nghe rõ một nỗi giá buốt trong lòng. Nhiều hình ảnh đã xưa về lại trước mắt thật lặng thinh trên nền bóng tối. Như khuôn mặt của một vị tu già ở ngôi chùa ngày xưa tôi vẫn đến những ngày hè. Tôi còn nhớ được cả chiếc võng mắc vào hai chiếc cột lớn ở một mái hiên thấp. Nằm ở đó tôi thường ngủ hồn nhiên trong tiếng tụng kinh đều đặn từ bên trên chỗ thờ Phật. Những khung cảnh đó dội vào hồn tôi một âm vang sâu xa. Đôi lúc nghe như một nỗi chết mơ hồ trong mình.
Tôi bỗng thiết tha nghĩ rằng trong đời sống lớn này có quá nhiều đời sống nhỏ. Mỗi đời sống nhỏ là một định mệnh lẻ loi. Có khi là một hòn đảo hiu hắt với một loại đam mê buồn tẻ riêng biệt. Những ý nghĩ như thế thường kéo dài, nối liền với những ý nghĩ khác vào bao giờ cũng tan biến bằng một nỗi thất vọng mơ hồ cùng với sự mỏi mệt của trí óc.
Một vài khi tôi muốn tránh thật sự những ý nghĩ tuyệt nhiên không có lợi ích gì cho hạnh phúc của mình. Nhưng sao tâm hồn tôi dễ mở ra để đón nhận những điều buồn bã quá. Nhất là những hình ảnh mà dưới con mắt tôi, không mặc lấy thứ ánh sáng bình thường của cuộc đời này.
Nhớ Lại
Mười tám năm. Thời gian đủ để một người con
gái sinh ra, lớn lên và trở thành hoa hậu trong một cuộc thi nhan sắc vóc dáng
hình hài của thành phố. Tôi ngồi ở bàn giám khảo trong vài cuộc thi hoa hậu và
nhìn ngắm nghĩ ngợi. Tôi chiêm ngưỡng và không thể nào không nghĩ về thời gian.
Mười tám năm, đời làm nên một nhan sắc. Một nhan sắc là một tác phẩm không phải
bất cứ nghệ sĩ tạo hình nào cũng có thể làm nên dù trong phút giây đột hứng.
Ði ngược dòng thời gian, tôi thấy em trong bào
thai của mẹ. Và tôi, tôi ở trong bào thai của một xã hội, một chế độ hoàn toàn
lạ lẫm với tôi. Em thì được sinh ra nhưng tôi thì lại được tái sinh trong một
cuộc đời khác. Trong hội họa cũng đã từng có thời kỳ phục hưng. Renaissance.
Ðược sinh lại một lần nữa cũng có nghĩa là được sống lại một lần nữa và cũng có
nghĩa là được đầu thai vào một kiếp khác. Em bỡ ngỡ khóc tiếng đầu đời và tôi
cũng bỡ ngỡ cười khóc tiếng đầu đời. Em là đứa bé và tôi cũng là đứa bé. Chỉ
khác một điều là em thì hồn nhiên thơ mộng còn tôi thì thấp thoáng lo âu.
Em thả đời em lớn lên như cây cỏ xanh tươi đôn
hậu mỹ miều còn tôi thì cũng cứ thả đời tôi như con thuyền không lèo lái.
Ngày ấy, cách đây mười tám năm, tôi đứng ở một
bờ bến khác. Tôi gọi con đò, con đò dừng lại và chở tôi đi. Sau giờ phút ấy,
điểm khởi đầu của mười tám năm sau, tôi ngần ngại không dám gọi đò. Em tập tễnh
bước đi. Tôi ngần ngại bước đi. Em không sợ ngã nhưng tôi thì lại sợ vấp ngã.
Em không né tránh. Em thơ thới hân hoan còn tôi thì dè dặt. Mỗi bước chân tôi
là vụng về e ngại. Là tự nhủ, băn khoăn.
Ngày ấy xa rồi. Em lớn lên và tôi cũng đã lớn
lên. Em yêu đời và tôi cũng yêu đời. Chỉ khác một điều là tôi già dặn mà em thì
non nớt. Cái non nớt đáng yêu và cái già dặn đáng ghét.
Ðôi khi tôi tự hỏi: Có phải tôi là kẻ hạnh
phúc hơn nhiều người? Không phải bất kỳ ai cũng có thể sống trong một đời dưới
nhiều hình thái xã hội khác nhau. Tôi là ai vậy? - Tôi, hình như, đã có lúc
mang thân phận chiến tranh, rồi hòa bình, rồi tư sản và rồi cộng sản. Cái lý
lịch đa mang này cũng đủ để tôi tự thấy mình là một loại công dân ngoại hạng.
Ngoái nhìn lại, mười tám năm, hun hút sâu như
một lối đi biền biệt, một con đường xa ngái, tôi bần thần nhận ra mình là một
kẻ khác. Một kẻ khác mà vẫn là mình, không xa lạ, không oán hờn, không hề có
một chút trách móc tự thân. Mà lạ thay, giờ phút này tôi lại hân hoan cười đùa
về một thứ số phận gần như muốn đùa cợt tôi trên những dặm đường tưởng như
không có thật. Tôi đi trồng và gặt lúa. Tôi đi trồng khoai, sắn, ở Cồn Tiên,
trên bãi đất chằng chịt mìn có thể nổ bất cứ lúc nào ở cửa ngõ Trường Sơn. Tôi
đi chợ nấu ăn. Tôi chở bột mì rải trắng cả một con đường như ngày xưa Mỵ Châu
làm dấu cho Trọng Thủy. Tôi xếp hàng mua từng điếu thuốc hạng tồi. Tôi lãnh
hàng tháng một lóng tay thịt mỡ không đủ cho một con mèo ăn. Và cứ thế nhiều năm,
mù mịt. Nhưng có hề gì đâu, vì trên tất cả những vụn vặt, nhiễu nhương đó là Hà
Nội, Huế, Sài Gòn. Là tình yêu chan chứa, là những mặn nồng mà cả một cuộc đời
ngày trước chưa bao giờ được đời trao tặng một cách rộn rã, đậm đà và lộng lẫy
đến như vậy.
Tôi đã yêu cuộc đời hơn bao giờ cả. Tôi yêu
cuộc sống và cuộc sống cũng mở hết vòng tay cho tôi.
Mười tám năm, em đã là xứ sở, em cũng là quê
hương. Tôi cũng đã là một thành phần nhỏ bé của xứ sở, của quê hương. Những gì
đẹp nhất thuộc về em và cũng thuộc về tôi. Em và tôi là những phân tử không thể
tách rời của đất nước này. Ðừng mơ ước gì xa xôi bởi vì giấc mộng của chúng ta
là có thật hoặc sẽ có thật trong bờ cõi nhỏ nhắn nhưng đôn hậu và tình tứ này.
Tôi mở lòng tin vào tương lai. Tôi tự nhủ mình
không bao giờ lập lại những điều đã cũ. Ðừng để hồn mình mòn đi vì những tổn
thương tưởng có thật mà không thật. Tôi đã từng bị chẻ ra làm nhiều mảnh trên
quê nhà nơi tôi sinh ra nhưng tôi loại bỏ hình ảnh đó bởi vì với tôi, cái xấu,
cái ác không bao giờ có thật. Vì thế cái tình yêu đất nước quê hương trong tôi
không có gì làm suy suyển được. Tôi đã trầm tư trong nhiều ngày tháng để tập
cho mình giữ được lòng vô ngại, tính vô ưu trước mọi đắng cay. Không thể có một
thứ bạo lực nào khiến em có thể xa lìa đất nước. Sự phản bội còn mạnh hơn bạo
lực. Và chỉ có sự phản bội mới làm ta xa lìa nhau. Còn bạo lực thường không có
một đời sống lâu dài.
Cái dòng sông mười tám năm ấy đã làm nên em mỹ
miều xinh đẹp và đồng thời cũng đã cuốn đi hết trong tôi những vướng mắc cuối cùng.
Sống mà không còn biết đến oán hờn thì đương nhiên là hạnh phúc quá. Tôi biết
tôi hạnh phúc mà có lúc không biết chia xẻ với ai. Tôi tin rằng sẽ có lúc tất
cả mọi người đều cảm thấy mình thật sự hạnh phúc khi biết xóa đi cái biên giới
thù nghịch trong lòng mình. Hai con người cùng màu da cùng xứ sở gặp nhau nơi
này hoặc nơi kia, mà không vồ vập yêu thương nhau là điều vô nghĩa. Mười tám
năm có người ở lại có kẻ ra đi nhưng cái biên giới địa lý ấy làm sao có thể gây
chia lìa những tình cảm trong sáng trong mỗi con người được. Cứ mỗi ngày tôi
càng thấy yêu cuộc đời hơn. Yêu cuộc đời cũng có nghĩa là yêu cái tuổi mười tám
trên cơ thể của một đất nước nguyên vẹn. Từ Bắc vô Nam đi nơi nào cũng có thể
tìm được tình yêu. Chỉ có thần thoại mới làm được công việc đó. Ðã hết rồi cái
ngàn năm, trăm năm, ba mươi năm chia lìa loạn lạc. Em còn mơ ước gì nữa. Em
mười tám tuổi, em là hạnh phúc. Tôi chia buồn với tôi vì tôi có một hạnh phúc
ngắn ngủi hơn em. Nhưng có hề gì, cuộc đời còn dài lắm cho em và tôi thì em không
cần thắc mắc. Tôi đã sống đủ và làm đủ những gì cần thiết. Chỉ tiếc là không
nhiều thời gian để làm những gì lợi ích cho đời. Ðời sống thì đẹp mà rộng dài
quá còn đời người thì hạn hữu. Biết làm sao bây giờ.
Viết bài này như một tấm thiệp mừng mười tám năm nhan sắc lừng lẫy. Cám ơn tuổi mười tám của đời Việt Nam.
Nhớ Về Một Bài Hát
Cách đây nhiều năm, sự kiện thanh niên xung
phong đến các nông trường xa thành phố Hồ Chí Minh để lao động là một tin thời
sự nóng bỏng và còn mới lạ đối với nhiều người trong thành phố.
Những cuộc xuất quân rầm rộ cấp thành, rồi cấp quận, cấp phường, cấp xã. Những thanh niên, thanh nữ ra đi với một tâm trạng còn bề bộn những vui buồn lẫn lộn, những băn khoăn, âu lo thắc mắc trăm điều.
Đã qua đi cái thời kỳ ấy. Bây giờ người thanh
niên xung phong ra đi, bất kỳ nơi đâu, với một sự tự nguyện và với một tâm
trạng ổn định hoàn toàn. Không phải ngẫu nhiên mà có được thành quả đó. Tất cả
hoa trái hôm nay có được là nhờ những bước chân dũng cảm đi trước, nhờ những ý
chí tiên phong, nhờ những hy sinh mất mát qua những tấm gương tuổi trẻ của
những đội ngũ xung kích làm thành những biểu tượng đẹp đẽ, đáng yêu kính trong
những ngày đầu.
Trong những ngày đầu ấy chúng tôi đã có dịp
đến thăm và sinh hoạt cùng với anh em thanh niên xung phong ở một vài nông
trường. Lần đến nông trường Nhị Xuân là lần để lại nhiều kỷ niệm nhất. Xe chở
chúng tôi đến nông trường lúc trời còn sáng đang ngả dần về chiều. Đường vào
nông trường bụi đỏ bay đầy. Bụi đỏ bay cao, tỏa về phía các rẫy mía, ở đó thanh
niên xung phong nam nữ cũng đang chuẩn bị trở về các lán trại sau một ngày lao
động.
Chiều bắt đầu thẫm màu, đã nghe vang lên tiếng
cười, tiếng hát, tiếng đàn ghita từ phía các lán dựng về phía bờ kinh. Đêm
xuống mà lòng người như cứ muốn bay lên. Tự nhiên thấy muốn yêu người yêu đời
hết sức. Cái không khí bao trùm xung quanh gợi lên khung cảnh thơ mộng lãng mạn
của những kẻ phiêu lưu đi khai phá ở những vùng đất mới.
Chúng tôi dùng cơm tối với nhau. Các cô thanh
niên xung phong vừa phục vụ, vừa chào hỏi, đùa nghịch vui vẻ. Cô nào trông cũng
rắn chắc, khoẻ mạnh, nước da nâu hồng, sự tươi trẻ lan truyền khắp cả phòng ăn.
Tôi thử hỏi tên một vài cô, cô nào cũng bảo em tên là thanh niên xung phong.
Sau giờ ăn chúng tôi bắt đầu ca hát. Mưa đổ
xuống bất chợt. Nơi trình diễn là một nhà tranh dài, bốn bề không có vách. Mọi
người đều ngồi bệt xuống đất. Mưa cứ tiếp tục đổ xuống, ướt cả người hát lẫn
người nghe. Tạm ngừng? Không! Và cứ thế chúng tôi hát, người nghe vẫn yên tĩnh
ngồi nghe rồi lại hát chung, hát riêng, không còn phân biệt ai là người trình
diễn ai là người nghe nữa.
Đến khuya, nước tràn qua các bờ kinh, leo lên
gần chỗ ngủ các lán thì chúng tôi về. Xe sắp vào thành phố thì chúng tôi buộc
phải dừng lại vì lực lượng dân phòng ngại không đảm bảo được an ninh. Lúc bấy
giờ đã gần 2 giờ sáng. Chúng tôi buộc phải ngủ lại tại trụ sở của lực lượng
thanh niên xung phong gần đó.
Sự ra đời của một bài hát nào thường cũng gắn
liền với một thực tế nào đó, hoặc một câu chuyện tình cảm hoặc một bối cảnh
ngẫu nhiên.
Một buổi sáng cách đây bốn năm tôi tình cờ gặp
anh Mai ở căng tin Hội văn nghệ. Chúng tôi uống cà phê. Anh Mai người nhỏ, cao
không quá một sải tay, nhưng là người nhiều năm tận tụy phụ trách phần ca hát,
nhạc cho lực lượng thanh niên xung phong. Anh Mai hỏi tôi còn nhớ những cô có
tên là "Thanh niên xung phong" ở Nhị Xuân không? Mới sáu bảy tháng
làm sao quên được. Qua câu chuyện anh Mai kể tôi được biết là sau lần chúng tôi
đến sinh hoạt văn nghệ có hai mươi cô trong số chúng tôi biết mặt đã tình
nguyện tham gia chiến đấu ở biên giới Tây Nam. Trong một chuyến tải đạn các cô
bị bọn Pôn Pốt phục kích và đã hy sinh rất thảm thương. Tôi không muốn kể lại
chi tiết về những cái chết đó, nhưng nếu ai còn là người Việt Nam thì nghe xong
câu chuyện không thể không căm thù. Tôi cảm thấy lòng mình tràn ngập một tình
yêu thương và một nỗi buồn quá lớn. Những khuôn mặt yêu đời ấy tôi còn nhớ rõ.
Những tiếng cười đùa nghịch ấy tôi cũng còn nghe rõ. Tôi tiếc là chưa được nắm
lấy một lần những bàn tay trẻ trung đó đã chai đi vì những tháng ngày lao động
ở nông trường. Những đôi vai thanh xuân đó đáng lẽ phải được gánh nhẹ nhàng
những hạnh phúc của đời, thì đã phải quên mình để gánh hết những nhọc nhằn của
những biên giới chưa yên. Người ta có thể làm được những kỳ công nhưng không ai
dễ dàng sáng tạo ra những con người đẹp đẽ như thế. Tất cả những hình ảnh ấy
sáng lên trong tôi như một huyền thoại. Một huyền thoại mang đầy đủ nét trữ
tình và chất lãng mạn mới của thời đại chúng ta.
Những bản anh hùng ca mới rồi sẽ ra đời. Ở
tôi, đáng tiếc vì những hạn chế của khả năng, chỉ mới thành hình được một ca
khúc nhỏ: "Em ở nông trường, em ra biên giới". Tôi đã viết bài hát
này như một nỗi nhớ thương của riêng tôi đối với những người bạn trẻ. Bài hát
nào cũng có một sự tích của nó. Đó cũng là kỷ niệm, những khói trầm hương tôi
đốt lên để nhớ những người con gái mà tôi không bao giờ còn gặp lại.
Nhị Xuân bây giờ đã khang trang, không còn những lán trại dã chiến như xưa nữa. Hội trường, nhà cửa, đường sá đã mọc lên thành nếp ngăn trật tự. Tôi hy vọng trên những con đường vào Nhị Xuân trong tương lai sẽ không thiếu tên những người con gái đó trên những tấm biển đường.
Như Lời Tựa
Có những bài thơ viết vì một nỗi mơ màng
không uẩn khúc
Những bài thơ tuyệt vọng
Những bài thơ sáng lạnh
một tình cảm rộn ràng
trong phút chốc
Đừng nhớ niềm tuyệt vọng
Hãy nhớ trời cao
Mây và mây
bay trên bầu trời lãng đãng
Tình yêu
và gió
Gió thổi mênh mông
Một cuộc đời
Cuộc đời
lận đận
Em ơi
gió thổi
Có những con đường xa xôi
em sẽ đi và đi mãi
Tôi, người thợ nặng nề
vác nặng những cuồng điên
Em ơi
ở lại
ưu phiền
Đừng tuyệt vọng
Gió thổi
Trời cao
Áo dày
bận rộn
Có thể mai này ....
Có thể mai này không có gì nặng nợ với trầm
luân cuộc đời gió hàm oan cứ thổi, mà tôi đi đi mãi
Không cần ai giữ lại một tấc lòng, tấc lòng không đáng kể, vì có bao giờ ai hiểu rõ chút vô thường vô lượng của lòng tôi...
Những Bài Thơ Không Tựa
Đường xa mỏng mộng vô thường
Trái tim chợt tỉnh tôi nhường nhịn tôi
Montreal 1992
Đưa em một nửa lên đường
Nửa kia còn lại nỗi buồn quẩn quanh
Mùa Xuân phố bội bạc tình
Bước chân phiền não một mình ta hay
Montreal 21 Avril,1992
Em đi tuyết đổ
Bàng hoàng tuyết rơi
Mùa xuân tuyết khổ
Lá cỏ ngậm ngùi
Em đi nho nhỏ
Giữa mùa tuyết bay
Ta đi vô độ
Giữa mùa tuyết say
Tim ta vò võ
Tuyết trở mặt rồi
Mùa xuân năm ấy
Mùa xuân năm này
Hồn ta bỏ ngỏ
Ai nào ai hay
Montreal 11.4.1992
Chỗ em ngồi ngày xưa còn ấm lắm
Anh gối lên và ngủ một giấc dài
Em có hiểu đời cho em là mộng
Để anh về cứ tưởng một là hai
Montreal 1992
Ở đây nếu ở trăm năm
Xa em tôi có hằng trăm nỗi buồn
Ở đây nếu ở đây luôn
Xa em tôi sẽ hồn nhiên ngậm ngùi
Chiều 22 Avril 1992 ở Montreal với bạn
Nắng trở, mưa trở, trời trở tuyết
Ngày ấy xa rồi em đi đâu
Đi đâu về đâu em hời hỡi
Ơi hởi em là giọt tuyết đau
Giọt tuyết đau ơi hỡi em là mộng
Là mộng bây giờ cho mãi sau
Giọt tuyết mai sau em là khói
Là khói nhưng là là mãi mãi
Em là khói ấy mà chưa phải
Một đốm nhang đèn thức đêm sâu
Montreal 11 Avril 1992
Mặc đời ô trượt vừa qua
Tấm thân nhỏ nhặt người la mắng người
Buồn phiền vỡ mộng đường dài
Ta xin một góc ta ngồi với ta
Montreal 1992
Trịnh Công Sơn
Những Định Mệnh Kỳ Lạ
Lên đường, đối với chúng tôi là một tiếng nói định mệnh.
Hầu như chưa có một dân tộc nào mà lịch sử được chứng nghiệm một hành trình dài lâu đến thế. Dài lâu trong đêm tối máu xương.
Không phải chỉ cần một đôi chân rắn chắc, bền bỉ và một ý chí không hề mỏi mệt, mòn lụt mà một cái gì khác hơn, trên tất cả những thứ đó: Định mệnh.
Không phải từ những ngàn năm trước, mỗi một người dân nơi đây đã nhận lãnh “định mệnh đi lên” từ một bàn tay quyền uy nào đó như bây giờ những người lính trẻ nhận tấm thẻ bài và vũ khí để ra chiến trận. Định mệnh đó không biết từ một phép mầu quỷ quái và hiểm độc nào, đã hòa tan trong dòng sữa của những bà mẹ đầu tiên. Đã làm nên máu huyết và mỗi dòng máu chảy ngược về tim là từng nhát búa đánh mạnh vào chiếc cồng làm vang lên những bình minh rực rỡ.
Và như thế họ đã ra đi
cùng với giấc mơ.
Bàn chân cha mẹ làm
thành bàn chân con cháu. Núi cao thành đồng bằng. Đồng bằng thành nhà cửa,
ruộng nương phố xá. Đất của mãnh thú thu gọn lại trong những biên giới khiêm
nhường hơn. Những giống chân yếu đuối biến mất.
Hành trình đã được làm bằng máu xương và nước mắt. Bằng vinh quang và tuyệt
vọng. Bằng hăm hở và hối hận. Tất cả những kinh nghiệm đã vót nhọn những cơ
năng của con người. Và trong mớ tên sắc bén đó, mũi tên quý giá nhất: ý thức đi
lên.
Đi lên! Không còn là một lời kêu gọi nữa mà chính mỗi chúng tôi là sự đi lên
đó.
Cả một dân tộc lên đường rất hồn nhiên. Như những đứa con của sứ mệnh gian
truân và cao cả.
Tôi đã từng qua nhiều nơi trên quê hương sau những trận đánh lớn. Không thể kể
hết những tang thương của từng thành phố, từng quận lỵ, từng xóm làng, thôn ấp.
Những gì là hình ảnh của đời sống đều biến dạng, rũ tan. Thoạt nhìn, không ai
tin nổi về quá khứ của một nơi định cư phồn thịnh, huyên náo. Tất cả đã trở
thành sa mạc gạch hồng cao nguyên tro than. Vốn liếng của một đời người tan ra
thành tiếng khóc vắng lặng. Một vài nơi gần như không còn một cái gì được tha
thức dưới sự tàn bạo khắc nghiệt của chiến tranh. Con người chỉ là trò chơi của
một định mệnh rẻ rúng. Chỉ là những mẩu tàn của một người hút thuốc cuồng
nhiệt, được vứt bỏ nhẹ nhàng, nhanh chóng.
Cái chết tự nó dĩ nhiên không biết thở than. Nhưng mọi sự rồi cũng qua đi rất
nhanh. Một thời gian ngắn, trên những đổ nát kia đã mọc lên nhà cửa, trường
học, bệnh viện. Trên đường đã khua vang những bước chân họp chợ. Tiếng cười nói
tung vào đời sống như những thách thức không ngừng với định mệnh. Hồi sinh
nhanh chóng. Những con người nhỏ bé, nghèo nàn kia đã thức dậy rất sớm từ cơn
đau. Họ không tàn trữ lời thở than. Không cất giữ những xót xa. Họ là những nhà
ảo thuật tài tử và tài tình. Họ đã biến những vết tích chiến tranh thành những
phần hữu dụng của đời sống. Những hố bom sau cơn mưa là hồ nuôi vịt, cá. Những
hố lớn hơn làm hồ tắm cho trẻ con. Những vỏ đạn làm đèn, thành lò bếp. Cuộc
sống cứ như thế mà tiếp tục.
Dường như chúng tôi thoáng biết rằng còn có một cõi hạnh phúc ngoài những bất
hạnh mỗi ngày phải biết sống cùng. Phải đi tới mãi và chờ đợi. Nhẫn nại và tiến
lên không ngừng. Hai mươi ba năm. Ba mươi năm. Hơn thế nữa và hơn mãi thế nữa.
Cho mỗi thế hệ. Đi, đi, đi. Trên mọi ngõ ngách, trên mọi làng mạc, đô thị,
người dân chúng tôi, mỗi giờ phút, mang định mệnh trên vai và bước tới. Không
quay nhìn lại bao giờ nữa. Đã từ lâu không muốn nhớ những bước chân đã bỏ lại.
Phải đi lên. Nhìn về phía trước. Mỗi ngày đã ra đi. Ra đi và nuôi dưỡng hy
vọng. Chúng tôi đã đi mấy ngàn năm. Và chưa biết sẽ còn đi đến bao giờ. Chúng
tôi không là người thất vọng. Dù mỗi phút trong đời người là những con số mang
tên thất vọng nhảy đều trên một chiếc máy. Chiếc máy thảm khốc của thời gian.
Nó không ngừng làm chúng tôi hoảng hốt. Mỗi ngày trôi qua là một lời thúc giục.
Những bình minh những hoàng hôn chớp nhanh như ảo ảnh bên cạnh những đổ nát và
thây người càng ngày càng gia tăng. Mức độ hủy diệt to lớn quá đã gây nên khủng
hoảng trầm trọng trên lương tâm chúng tôi. Dù ý lực được phân bón và chăm sóc
từng giây, chúng tôi cũng không che giấu nổi sự phiền não hiện ra trong đôi
mắt. Những đứa bé đã già đi quá sớm. Những nụ cười chúng tôi kém tươi.
Sau mỗi giai đoạn nguy nan và chết chóc, mỗi đứa bé là một kinh nghiệm đau
thương. Chúng nó biết về địa ngục và vực thẳm như những đứa trẻ Tây phương biết
về hạnh phúc. Sự khôn ngoan của chúng đôi khi làm xót xa những nhà hiền triết.
Chúng đã sống tận cùng sự sợ hãi. Và cũng đã sống tận cùng cái chết của những
người thân. Từ đó chúng tôi biết rằng chúng tôi sinh ra từ vựng thẳm. Và nếu
không muốn bị hủy diệt, chỉ có con đường duy nhất là: Đi lên!
Hy vọng của chúng tôi thường nẩy mần sau mỗi cuộc tang thương. Chúng tôi chỉ có
hai mùa để sống. Màu bão tố phải chống đỡ, vượt qua. Và mùa xuân, chúng tôi
thổi lửa vào những gốc cây ẩm ướt để làm hồi sinh từng thớ gỗ. Bắt cây phải đâm
chồi. Đó là mùa phục sinh của bao nhiêu tâm hồn tan nát. Chúng tôi không ngừng
vá lại những rách nát, khâu lại từng vết thương. Và nhờ ơn trời, tất cả đều
lành lặn và được bồi dưỡng kịp thời.
Sau mỗi giai đoạn bình phục chúng tôi lại lên đường. Tuy nhiên, mỗi khởi hành
mới lại bớt đi một chút hăm hở. Chúng tôi ít nói về hạnh phúc trong những câu
chuyện. Chân những đứa bé đã biết dè dặt hơn trên cách đồng chè, trên những
ruộng mía. Những con trâu trên đồng lúa cũng được lèo lái thận trọng trên những
vùng đất không đủ an toàn. Thận trọng cũng là một danh từ học được trong hành
trình đi lên.
Có bao nhiêu lục địa trên trái đất này, con người thế giới không đi tới trong
thể điệu của chúng tôi. Trên con đường đi tới tiến bộ, họ được chuyên chở trên
những chuyến tàu êm ái, không nhọc mệt. Định mệnh họ là “hãy ngồi xuống thật
thoải mái” và mệnh lệnh đi tới được chuyển qua đầu máy và động cơ của con tàu.
Trong chuyến tàu mọi thứ đều được chuyên chở cùng một lúc. Người, thú vật, và
thiên nhiên. Dĩ nhiên tôn giáo hay một cái gì tương tự như lòng sùng bái, đạo
lý cũng được mang theo cùng với hành trang của họ. Mọi thứ đó đều có một bộ mặt
sáng sủa và mới mẻ như nhau. Mỗi thứ đều được bảo vệ bởi một loại luật pháp
riêng tư. Có cả sự bình đẳng và danh dự cho từng loại súc vật. Người ta cũng
không quên sáng tạo ra cách cư xử tế nhị đối với chúng.
Ở đây, trên mặt đất khô héo này, chúng tôi tự chuyên chở đi tới bằng hai chân
và bằng ý chí của chính mình. Đó là sự đi lên đầy khổ nhọc, cam go. Sự đi lên
ngược chiều với dòng hủy diệt. Dòng hủy diệt chảy xiết như từ một bờ đê vỡ. Tàn
phá, đánh chìm. Định mệnh của những con người nhỏ bé nơi đây là đi thẳng vào
dòng hủy diệt để vượt qua bên kia đêm tối. “Phải sống còn” là mệnh lệnh tối
yếu.
Có những kẻ may mắn sống còn để tiếp tục hành trình, có những kẻ bất hạnh đã bị
cuốn đi. Nhưng tựu trung tất cả đã tranh đấu bằng ý chí siêu nhân. Và sự sống
còn không phải là niềm kiêu hãnh mà là bổn phận phải hoàn thành một con đường
đến nơi đến chốn do những kẻ chết tiếp sức qua kỷ niệm.
Đôi khi, bên những thảm cảnh xảy ra hàng ngày, chúng tôi có những phút giây đắm
mình trong tuyệt vọng. Chúng tôi tự hỏi về nơi chốn cuối cùng của hành trình.
Có thật một biên giới để dừng chân hay không?
Chúng tôi không còn thì giờ để mơ ước thiên đường hay niết bàn nữa. Đối với tôi
đó là sự xa xỉ của những kẻ nhàn hạ vô tư. Mỗi giờ phút là một cuộc chạy đua
cam go giành lấy sự sống. Cái chết nơi đây không có hạn kỳ. Tử thần không mang
lưỡi hái tao nhã. Nó vồ chụp chúng tôi từ mọi phía, mọi giờ giấc, không bao giờ
nương tay. Đó là một cuộc chiến đấu gian nan mà chúng tôi phải tìm đủ mọi cách
để tự vệ.
Chúng tôi phải luôn luôn thay đổi những khuôn mặt. Sáng chế những nơi trú ẩn an
toàn. Ngay cả trong giấc ngủ chúng tôi cũng không được nghỉ ngơi. Bóng dáng ác
thú vồ chụp tâm não mỗi đêm. Và cuộc chiếc đấu bên trong này thường làm chúng
tôi ngã bệnh một thời gian. Những sợi thần kinh giãn ra tệ hại như những sợi
thừng tuyệt vọng. Với những lần có tình trạng khốn đốn đó, chúng tôi tự chế ngự
và chữa lành bằng rượu. Rượu chính là một kinh nghiệm rất tốt để làm kích thích
lại những giác quan tê liệt và cho giấc ngủ. Đó cũng là cơ hội để bằng hữu quay
quần với nhau. Bên một dòng sông hay trong những quán vắng. Với rượu, chúng tôi
được khôi phục dễ dàng trong chốc lát. Và trong ánh mắt đỏ rực buổi chiều,
tiếng nước đá chạm vào ly thủy tinh luôn luôn tạo nên những âm thanh nhã nhặn.
Cũng không nên bỏ qua những ngày có thời tiết đẹp đẽ. Chúng tôi lợi dụng thiên
nhiên tốt lành để làm những cuộc du ngoạn ngắn. Bên cạnh thực tế phũ phàng
chúng tôi cần đôi phút thơ mộng. Tạo một chút ảo tưởng bình an và cứ cho là
cuộc đời chưa đến nỗi nào. Hẳn nhiên đó không phải là một cuộc chiến chạy trốn
thực tại. Chỉ là cách thế để làm trẻ lại tinh thần đấu tranh và để cho sự chịu
đựng đừng bị mài nhẵn quá.
Có những giây phút, hốt nhiên thoái ra ngoài cảnh tượng đời sống chung, chúng
tôi không khỏi bàng hoàng và kinh ngạc về chính mình và về những kẻ chung
quanh. Phép mầu nào đã cho chúng tôi sự chịu đựng bền bỉ thế?
Chưa bao giờ chúng tôi từ khước sự hủy hoại. Không hề lẩn tránh. Lầm lì nhận
chịu và nuốt cạn đắng cay, tủi nhục vào bên trong. Sự tàn phá của chiến tranh
và của thiên nhiên chỉ đủ tạo nên một số ít người mất trí. Họ là những kẻ duy
nhất đứng lại giữa hành trình. Hình ảnh họ thỉnh thoảng gợi lại trong chúng tôi
về một giống nòi gian khổ. Họ là tiếng khóc của ngày đã qua. Cũng là lời than
thở của những giọt máu để rơi lại sau những chuyến lên đường. Không đủ làm nhụt
chí nhưng cũng là những vết buồn trên trang sử. Những ngày mùa đông rét mướt họ
thường biến mất. Đến những mùa ấm áp hơn lại hiện ra với một khuôn mặt hoàn
toàn biến đổi. Có kẻ đã móc mất đôi mắt của mình. Có kẻ vì sự hãi và thiếu ăn,
đã mang hẳn khuôn mặt thú. Ở nơi khác, người điên có thể làm trò cười giải
khuây thiên hạ. Nơi đây, thấy họ, không ai giấu nổi lòng ái ngại.
Chúng tôi đã học được những bài học lớn lao về trò dâu bể. Bao nhiêu triều đại
đã qua đi. Bao nhiêu đền đài đã sụp đổ. Bao nhiêu mùa màng đã tan nát. Có lẻ
nhờ thế dân tộc chúng tôi có những binh đoàn quá đông đảo về thi sĩ. Họ là
những binh sĩ của một anh hùng ca dài bất tận. Có cả những thi sĩ trữ tình. Bởi
lẽ bên những mộ phần thường có những bông hoa. Học đường chẳng dạy dỗ chúng tôi
được bao nhiêu. Chỉ có cuộc đời đã giáo huấn chúng tôi về tất cả. Chúng tôi
không tìm hiểu sự phi lý trong những cuốn sách. Chúng tôi sống chính sự phi lý
đó. Không hiểu có cần phải bày tỏ sự khôn ngoan của chúng tôi hay không. Tuy
nhiên khi đã thấm nhuần được cuộc biển dâu của đời người, chúng tôi đã vượt qua
bên kia mọi triết lý.
Trên con đường đi tới, hành trang của chúng tôi đã nhẹ nhàng hơn thêm mỗi ngày.
Không phải vì sự khôn ngoan của một chiến sĩ ở trên sa mạc mà vì sự khôn ngoan
của định mệnh đã tước đoạt mất của chúng tôi. Tuổi thanh xuân của chúng tôi bị
tát cạn. Ước mơ của chúng tôi bị cắt lìa. Chúng tôi phải đi lên bằng sự già dặn
của những kẻ leo núi cao. Vào mùa xuân khi những tàng lá đã đổi màu, chúng tôi
có cảm thấy hân hoan đôi chút nhưng tuyệt nhiên không tìm thấy sự liên quan mật
thiết nào giữa tuổi thơ và màu xanh non của lá. Vẻ đẹp của thiên nhiên một phần
nào đã được cất ra khỏi chúng tôi những so sách đồng hóa với vẻ già cỗi của tâm
hồn chúng tôi. Chúng cũng gian truân không kém. Tôi muốn nói về những cánh rừng
tật nguyền, lở loét. Những đồng ruộng tràn đầy cỏ dại và sắt vụn. Mầu mỡ phì
nhiêu của đất đai, nhiều nơi hỡi ơi chỉ để nuôi lớn hoang tàn. Điều này cũng
xảy ra trên đời sống tinh thần chúng tôi. Những người dân quê dũng cảm hơn họ
trung thành sắt son với chính họ. Không có gì lay chuyển nổi. Họ giữ được lòng
trung tín với cuộc lên đường như một lời thề nguyền khắc ghi bằng máu. Riêng
đám thị dân yếu đuối và hèn nhát hơn. Họ buông mình theo những chọn lựa dễ dàng
mới để thủ lợi. Vì thế chúng tôi bắt đầu sợ hãi chọn lựa. Bởi vì mỗi chọn lựa
mới thường là một cái bẫy đáng ngại đánh bật chúng ta ra khỏi con đường. Trong
hành trình những ai ra khỏi con đường đương nhiên bị loại. Chúng tôi không coi
họ là kẻ phản bội mà chỉ dành cho họ lòng thương xót.
Đã có nhiều biến đổi trong hành trình. Những bước chân của chúng tôi dần dà đã
không còn thuộc về con đường nữa. Mỗi chúng tôi chính là con đường. Con đường
cưu mang ý hướng đi lên. Trong mỗi người dù ý thức hay vô thức, đang thành tựu
một con dốc cheo leo và hiểm nghèo. Con dốc nối liền vực thẳm và côi cao. Có
thể đó là quê hương. Nơi chúng tôi phải trở về. Mọi người chúng tôi đang cần
ngơi nghỉ.
Có lẻ chúng tôi sẽ không tìm thấy được gì ngoài chính mình. Nơi một quê hương
sẽ có tên gọi. Cái tên đích thực của một giống dân đã soi tỏ được nguồn cội và
đã hoàn thành sứ mệnh về nguồn.
Riêng tôi có lẽ sẽ không đến được. Sẽ không bao giờ giáp mặt được quê hương.
Nơi đỉnh cao chờ mong kia, đứa con gian truân không trở về. Bởi một điều quá
giản dị: tôi không còn thì giờ nữa.
Xin chúc phúc cho những kẻ còn đi.
Vendredi 13.1973
Nỗi ám ảnh thời thơ ấu
Có những điều vừa mới xảy ra đã vội quên. Có những điều từ những ngày xa xưa
vẫn còn nhớ lại. Thời thơ ấu tôi luôn luôn bị ám ảnh về cái chết. Trong giấc
ngủ hàng đêm tôi thường thấy cái chết của ba tôi.
Nôi ám ảnh ấy chắc hẳn không bắt nguồn từ lớp dày tro bụi của vô thức làm nên
từ những cái chết của tổ tiên mà có lẽ từ những năm tù tội tra tấn chết đi sống
lại của ba tôi trong những năm kháng chiến chống Pháp. Những năm cuối thập niên
40, chỗ ở chính của ba tôi hầu như là nhà tù. Và cái trò chơi “Đo lường thể
xác” của những tên cai ngục thường buộc ba tôi phải nằm dài trên giường bệnh
nhiều hơn là đi hai chân trên mặt đất. Thời gian này, tại Huế, mẹ tôi và tôi
thay nhau đi thăm nuôi và năm 1949 tôi được vào nhà lao Thừa phủ ở cùng ba tôi
một năm trước khi cả gia đình cùng kéo nhau vào Sài gòn.
Rõ ràng là cái chết ấy được báo động qua một tâm hồn quá nhạy cảm của tuổi thơ.
Ba tôi mất khi tôi vừa mười lăm tuổi.
Rất nhiều bài hát đầu đời của tôi phảng phất cái không khí vắng lặng của sự mất
mát. Càng về sau, lúc tiến dần đến tuổi trưởng thành, giữa bức xúc của cuộc
sống, giữa những năm tháng buồn vui, nỗi ám ảnh ấy đã trở thành lúc nào không
hay ngọn nguồn của một nỗi lo âu thường trực về sự vắng bóng con người.
Tôi không phải là kẻ nuôi dưỡng một thứ đam mê buồn tẻ muốn khóc than cho số
phận con người, nhưng qua ca khúc, tôi muốn đánh lên những tiếng chuông mai
chuông chiều, mượn ánh nắng của trời đất để soi tỏ cái số phận đó cho mỗi người
có thể nhìn mình và nhìn người rõ hơn, chăm chú hơn cho đến một lúc lúc nào đó
thì mọi sự tốt lành, thì tình yêu sẽ khiến cho chúng ta thấy rằng con đường duy
nhất đi đến với người khác trên mặt đất này không phải là sự độc ác mà chính là
một lòng nhân ái vô biên.
Tôi muốn hát lên lòng nhân ái đó mãi mãi, đã hát lên trong một thời niên thiếu
và giờ đây đang nỗ lực tìm những mạch nguồn đi sâu vào cội rễ của nó để có thể
hoàn thiện một tiếng hát mới mẻ, đầy nhân hậu cho những ca khúc ngày mai của
riêng mình.
Phác thảo chân dung tôi
Mỗi sáng nhìn vào mặt gương soi lại thấy thêm rất nhiều những sợi tóc bạc...
Thuở ấy, tôi là một đứa bé thích ca hát. Mười tuổi biết solfège, chép lại những
bài hát yêu thích đóng thành tập, chơi đàn mandolin và sáo trúc. Mười hai tuổi
có cây đàn guitar đầu tiên trong đời và từ đó sử dụng guitar như một phương
tiện quen thuộc để đệm cho chính mình hát.
Tôi không đến với âm nhạc như một kẻ chọn nghề. Tôi nhớ mình đã viết những ca
khúc đầu tiên từ những đòi hỏi tự nhiên của tình cảm thôi thúc bên trong... Đó
là những năm 56 - 57, thời của những giấc mộng ngổn ngang, của những viễn tưởng
phù phiếm non dại. Cái thời tuổi trẻ xanh mướt như trái quả đầu mùa ấy, tôi rất
yêu âm nhạc nhưng tuyệt nhiên trong tôi không hề gợi lên cái ham muốn trở thành
nhạc sĩ...
Dạo ấy ba tôi đã mất, mẹ tôi ở xa, tôi một mình giữa Sài Gòn này phải tự quyết định
mọi chuyện về đời mình. Cái gánh đời tuổi tác còn quá nhẹ. Có lúc tôi đã bỏ dở
cái trò lãng mạn viết lách này với nỗi ám ảnh ngu ngốc "xướng ca vô
loại". Tôi trằn trọc đêm này qua đêm khác, ray rứt ngày này qua tháng nọ.
Nhưng càng cố lãng quên thì tiếng hát trong tôi càng vang lên rõ rệt, tràn ngập
cả lúc đứng ngồi, cả trong giấc ngủ.
Dần dà những năm về sau, mới bắt đầu hình thành trong tôi một quan niệm rõ rệt:
Sống là sống với người khác và muốn có cảm thông chúng ta phải luôn luôn diễn
đạt mình. Trong những cách diễn đạt bằng tiếng nói, bằng chữ viết và nhiều
phương tiện khác, tôi thấy tâm hồn mình có khuynh hướng nghiêng về phía ca
khúc. Trên mảnh đất nghệ thuật nhỏ nhắn này, tôi tìm thấy tự do và tôi nghĩ
rằng ở đây tôi có thể bày tỏ được với người khác về những niềm vui nỗi buồn của
cuộc sống.
Nhìn lại quãng đường mình đã đi, tôi cảm thấy không có gì phải ân hận. Tôi vẫn
là đứa trẻ thơ trong nghệ thuật, lòng còn tràn đầy cảm hứng. Tôi vẫn còn ham mê
học hỏi quanh mình và còn đủ hào hứng mở ra những cuộc đối thoại, độc thoại với
cây cỏ thiên nhiên, với con người qua ca khúc dưới ánh sáng hiền hòa nhân hậu
của những ngày tôi đang sống.
Phải chờ đến lúc soi gương nhìn thấy tóc không còn mang mầu xanh cũ nữa, mới
nhận ra được hết nỗi khát khao được yêu thương mãi mãi con người và cuộc sống.
Yêu thương con người cũng là yêu thương tiếng hát bởi vì tiếng hát mang trong
nó tâm hồn của con người. Tiếng hát sẽ mọc lên xanh tươi trên cuộc đời này như
những cây tử đinh hương mọc tràn thơm tho trên những cánh đồng vô tận.
Với ca khúc, tôi là người tình của thiên nhiên, là người bạn của những em bé.
Qua ca khúc, tôi đã đến gần và đã đi xa những chuyện tình, đã tham dự những nỗi
hân hoan của đời người và cũng đã gánh nhẹ giùm những phiền muộn.
Ca khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thể mà cha mẹ đã sinh thành...
Phía sau một ca khúc: Triết học
"Một hôm thấy ta là lá cỏ, ngồi hát ca rất tự do...", tôi còn nhớ ca
khúc này và sự chiêm nghiệm của mình như là một tổng kết những gì mà tôi cảm
nhận được từ cuộc đời tôi, của mọi người.
Thực lòng mà nói, tôi chịu ảnh hưởng của Albert Camus trong bài hát này. Trong
tác phẩm Ghi chép ở Angérie (Noté d'Algérie), ông ghi lại những tiếng chó sủa
ban đêm, những bước chân đi mà ai cũng có thể một lần nghe thấy trong đời mình
nhưng không mấy người nhìn ra được điều gì đó từ chúng. Ngẫm lại đời mình, tôi
thấy nhiều muộn phiền. Không hiểu vì sao tôi đã day dứt về sự ra đi, ở lại của
cuộc đời từ rất sớm. Tôi đã chọn hình tượng lá cỏ để ví với mình. Vì sao lại là
lá cỏ? Có thể cuộc đời rộn ràng có quá nhiều điều phải lưu ý, nhưng trong đó
không thể không có sự góp nhặt của những điều nhỏ nhoi. Ngọn cỏ, lá cây hay cây
đa đều có bổn phận của nó với cuộc đời. Cỏ có bổn phận cỏ, lá có bổn phận lá.
Tôi không mơ ước gì to lớn, mà nghĩ mình như một phận cỏ hèn. Vì hèn mọn nên nó
không phải to lớn và bổn phận nặng nề như cây đa, vì vậy nó tự do lắm. Và vì sao
lá cỏ lại hát? Bài hát là phương tiện để bày tỏ lòng mình với cuộc đời, có gì
tuyệt vời hơn lá cỏ nhỏ nhoi nhưng tự hát ca với đời mình? Rũ bỏ những muộn
phiền và thảnh thơi đời mình, điều này đã ám ảnh tôi từ lâu, lâu lắm rồi, nhưng
chỉ đến khi viết được những câu hát như vậy tôi mới thấy nhẹ lòng. Ý tưởng này
quanh quẩn trong tôi nhiều năm và chỉ được giải toả khi sáng tạo vụt đến và bật
thành những giai điệu như vậy.
Tôi cũng muốn nói với các bạn trẻ sáng tác sau này, ngoài sự tư duy về tác
phẩm, về đề tài, còn phải tạo cho mình một nền tảng về triết học. Chính từ đây
mà trong tác phẩm của mình mới có được sự sâu sắc. Nếu như ít đọc sách thì mình
chẳng thể nào nhận thêm những chiêm nghiệm sâu sắc của người khác. Một mình suy
nghĩ thôi thì không đủ vốn liếng với cuộc đời. Chính tôi cũng không thể đứng
ngoài con đường ấy được...
Phụ Khúc Da Vàng
Phụ khúc da vàng là những khúc hát viết thêm, tiếp nối ca khúc da vàng trước
đây. Những khúc hát này đúng ra không nên có, nhưng bởi trên những con đường,
những thành phố và những xác chết của tháng 5 (1972), một lần nữa, tôi không
thể nào quên đi tiếng kêu thất thanh của đám người cùng khổ. Cuộc chiến đã
không muốn ngừng, và có lẽ còn mang nhiều bộ mặt mới mẻ, thảm khốc hơn.
Phải chăng những hồi chuông báo tử chưa đủ làm mềm lòng cuộc sinh sát.
Ta sẽ không bao giờ còn thấy bóng dáng của vinh quang - Vì trên những xác chết
của anh em sự vinh quang phải dấu mặt.
Tôi không còn muốn nhắc nhở đến lòng nhân đạo và lương tâm con người. Những
tiếng đó chỉ còn gợi lên cho những kẻ khốn cùng nơi đây hình ảnh của tên lang
băm và phu đám tang.
Nhân loại đã biết rõ, tuổi trẻ Việt Nam không thiếu lòng dũng cảm. Một tuổi trẻ
chịu quá nhiều thiệt thòi nhưng rất ít những lời thở than.
Nhưng hôm nay, tôi đã thấy thấp thoáng dưới những trũng mắt sâu của tuổi trẻ
chiến trường chập chờn những mối tư nghị. Có điều gì bất tường đang chớm nở
trong lịch sử.
Không phải chúng ta thiếu lòng tin, nhưng tôi tự hỏi, chúng ta sẽ còn thấy điều
gì trong những ngày sắp tới.
Saigon tháng 11/1972
Quán trọ âm nhạc
Ra đời rồi lên 1, lên 2, lên 3. Đứa bé lên 5 vẫn còn là đứa bé. Mừng sinh nhật
lên 5 bé ăn bánh ngọt, bé uống nước Pepsi.
Quán nhạc sĩ năm nay (1997) cũng mừng sinh nhật lên 5. Nhưng 5 tuổi của bé có
cái tên “Quán nhạc sĩ“ này nó thuộc về một nòi giống khác bởi vì nó sẽ nuốt
tươi ít nhất cũng cả chục lít rượu Chivas mà vẫn tỉnh queo trong đêm sinh nhật.
Quán nhạc sĩ ra đời trước tiên cũng như là quán trọ, nơi đồn trú của nhóm những
người bạn. Đây là chỗ hò hẹn gặp gỡ nhau, ngoài anh em trong nhóm còn bằng hữu
Đông, Tây, Nam, Bắc của nhóm nữa. Cái tên cúng cơm “Quán nhạc sĩ” nghe có vẻ
thân tình nhưng lại hơi nhuốm màu làm ăn, buôn bán tựa như quán phở, quán cơm
bình dân vậy. Do đó nhóm quyết định đổi tên thành câu lạc bộ Nhạc sĩ. Dù sao
đây cũng là một nơi sinh hoạt nặng văn hóa văn nghệ. Thế là từ khi sinh ra đến
nay đã có một lần đổi tên gọi cho tụ diểm ca hát này rồi. Cái thay đổi thứ 2 là
sân khấu. Trước đây sân khấu nhỏ hơn và nằm phía tay phải từ cổng vào. Về sau
vì nhu cầu lớn hơn như thỉnh thoảng có giới thiệu người mẫu thời trang không chuyên…
nên cái sân khấu được dời chỗ ngay chính diện với kích thước rộng rãi hơn.
Lo làm đẹp cho mặt này, công đầu tiên thuộc về nhạc sĩ Từ Huy. Bỏ biết bao là
công sức mới thành hình được một cơ ngơi tương đối nhìn được như ngày hôm nay.
Câu lạc bộ nghệ sĩ tuy mới trụ được vào sinh hoạt chung của thành phố năm thứ 5
nhưng những gì nó làm được thật ra cũng đáng kể và đáng khích lệ.
Đa số ca sĩ trẻ đều lấy bệ phóng từ CLB này. Sau đó không ít người đã trở thành
ngôi sao không những chỉ trong thành phố mà còn được công nhận trên cả nước.
CLB đã giới thiệu hầu hết các nhạc sĩ tên tuổi của Việt Nam từ các bậc trưởng
thượng đến các bậc trung và hậu bối.
Câu lạc bộ có một thứ chủ trương hết sức vô tư và quan niệm rằng niềm vui của
người khác cũng chính là niềm vui của chính mình. Từ đó cái gì vui thì làm, cái
gì buồn thì thôi.
Đời ngẫm cho cùng cũng
chỉ là một cuộc chơi. Đứa bé lên 5 đôi khi ba mẹ đi vắng tự chơi một mình. Đó
là vở kịch hàng ngày của bé. Nhưng người lớn thì không thể tự chơi một mình bởi
vì nếu tình cờ bị bắt gặp anh đang chơi một mình thì anh có thể bị tình nghi là
cái đầu anh đang có vấn đề. Vì lý do đó nhóm Những người bạn phải tạo ra chỗ để
cùng chơi chung. Chỗ đó là CLB Nhạc sĩ.
Hằng đêm, trừ thứ 2, tùy mưa nắng mà CLB có thể đông hoặc thưa người. Có những
đêm mưa lớn, lác đác vẫn thấy có vài chục người đến ngồi dưới mái cọ, thật cảm
động. Những đêm mưa như thế thường khi người nghe không thể đến được nhưng một
vài anh em trong nhóm đôi lúc vẫn có mặt, cùng nhau nhấm nháp ly rượu và nhìn
mưa rơi trên khoảng sân rộng vắng vẻ của CLB. Trong cái vắng lặng của nối tiếp
những đoạn trường mưa lãng mạn hại người như thế, anh em có khi không ai nói
với ai một lời, chỉ im lặng rồi đột nhiên cất tiếng cười vang.
Có nhiều đêm không có tên trong chương trình nhưng một vài ca sĩ cũng ghé qua
CLB để gặp anh em tán dóc 5 điều 3 chuyện. CLB vô tình trở thành căn nhà chung,
ở đó mọi người đều là anh em cả. Vắng nhau một vài hôm đã thắc mắc hỏi thăm.
Nhờ vậy CLB còn là trạm nhắn tin và truyền tin. Ai đau ốm, đi xa, gia đình có
việc gì mọi người đều biết ngay.
Một trong những điều may mắn nhất làm thành niềm vui của CLB nhạc sĩ là cùng
với những nỗ lực câu tạo chương trình, CLB đã hình thành được một quần chúng
riêng cho mình. Một quần chúng không đông đảo lắm, chỉ vừa đủ nhưng rất chọn
lọc và đồng bộ. Một quần chúng có trình độ, biết thưởng thức và đương nhiên là
rất yêu âm nhạc. Đó không chỉ là niềm vui riêng của nhóm Những người bạn mà còn
là niềm cảm hứng hàng đêm của các ca sĩ và ban nhạc. Nó cũng là niềm an ủi, nguồn
động viên, để người ca sĩ không còn cảm thấy công việc hàng đêm của mình là rao
bán tiếng hát nữa.
Nhân sinh nhật lần thứ 5 của CLB nhạc sĩ chúng tôi mong các bạn đóng góp ý kiến
để CLB điều chỉnh và tự hoàn thiện mình nhằm đạt đến được mục đích chủ yếu là
tạo được một không khí trong lành, êm ả có khả năng làm cho người nghe chia sẻ
được cái ý niệm về một cuộc tao ngộ có thật trong một cuộc sống này. Địa chỉ
nhận cũng tại CLB này với tờ báo “Thế giới âm nhạc”.
Trong 5 năm bao nhiêu là buồn vui đã đi qua CLB này. Nó hình như cũng có cuộc
đời riêng của nó. Tâm hồn của nó được làm bằng nỗi buồn vui từ tiếng hát hàng
đêm của các ca sĩ chuyên chở nỗi lòng của tác giả đến với mọi người.
Đối với nhóm những người bạn, CLB dù chỉ mới 5 năm nhưng đã để lại thật nhiều
kỷ niệm trong lòng mỗi người. Riêng với Từ Huy thì CLB gần như là căn nhà thứ
2. Số thời gian có mặt ở CLB của anh có thể nhiều hơn ở nhà riêng. Nếu vì một
lý do nào đó CLB này không thể tồn tại được nữa thì kẻ ngã bệnh đầu tiên chính
là người nhạc sĩ làm thơ này.
Dù sao, cho đến giờ phút này, CLB đã trở thành một phần hồn trong sinh hoạt
tình cảm và tinh thần của anh em. Có thể một vài người trong nhóm chưa nhận ra
hết điều đó nhưng tôi tin chắc rằng đó là điều có thật, cuộc chơi nào cũng có
máu thịt riêng của nó.
Rượu
Men rượu làm mềm môi cho lời yêu thoát thai.
Men rượu đem niềm cô đơn lại, đặt nó trước mặt ta. Và biết đâu đấy, ta lại nhận
ra mình.
Một cơn mưa dài chưa dứt. Một đêm lạnh xa xôi. Một bóng người vừa qua chỉ để lại
một chút dáng gầy...Tất cả đều có thể mang hồn người vào mộng mị. Người say
người mà mộng mị. Người say đời mà mộng mị. Để rồi có những hôm say, ôm đời ngủ
mệt.
Số Phận Của Một Bài Hát
Cuối năm 1999 tôi phổ nhạc cho một bài thơ của một người bạn thân. Bài thơ được
viết để tặng một người bạn gái ở Mỹ và nó cũng được chấp bút tại Mỹ. Người bạn
tôi về sau này mỗi năm thường qua Mỹ để vẽ và cũng tìm nguồn cảm hứng mới.
Trong những nguồn cảm hứng đó có nguồn cảm hứng yêu và được yêu. Bài hát khi
được hát lên nó lại bất ngờ cảm hứng vào một cuộc tình khác ở tại quê nhà.
Nhưng định mệnh của bài hát có lẽ chưa dừng lại ở đó bởi vì đã có một lời chia
tay sau một thời gian quá ngắn ngủi để yêu nhau.
Tôi nghĩ rằng mỗi bài hát đều có thể có một số phận, đôi lúc tưởng viết cho
người này hoá ra lại ứng vào một kẻ khác. Và như thế bài thơ tôi vừa phổ nhạc
xong có thể sau khi đi qua hai cuộc tình rất mơ màng và mỏng manh sẽ có một
cuộc hành trình dong ruổi khác để tìm cho ra một tình yêu vững bền hơn để bài
hát có thể gửi gắm mình vào đó. Không phải bài hát nào cũng có một số phận trớ
trêu như nhau. Có những bài hát nhẹ nhàng đến với mọi người và có có cuộc sống
bình yên. Những bài hát như thế thường để lại trong tâm hồn con người một sự
thanh thản vô cùng. Bên cạnh đó lại có những bài hát có một số phận hẩm hiu. Nó
không có được một cuộc sống bền lâu và vội vã trôi dạt vào quên lãng.
Tôi muốn làm một hành giả đi qua cuộc đời này để qua những ca khúc nói lên
những điều hư thực của cuộc sống, những buồn vui hạnh phúc và bất hạnh của đời
người và tôi đã chứng thực được điều này: Số phận của những ca khúc tôi viết ra
đôi khi trong một số hoàn cảnh nào đó đã có ít nhiều vận ngược lại vào số phận
của tôi. Điều đó nghĩ cho cùng cũng không có gì lạ. Đôi lúc từ trong vô thức có
những tiếng nói cứ vang lên, đôi khi lại có những tiếng hát thành một khúc ca
hoàn chỉnh. Tất cả những điều đó thoát ra ngoài sự kiểm soát của mọi suy tính
và như thế nó làm cái công việc của một kẻ khác trong chính bản thân mình. Số
phận của một bài hát vì thế có thể trở thành số phận của một con người có được
hoặc mất đi của một hạnh phúc.
Sự vật, con người
Những ngày đầu năm mới lịch dương, sải chân tà tà về những ngày cuối lịch âm
cũ, bầu trời thành phố sớm chiều có một màu sắc khí hậu êm ả dịu dàng.
Trời đất như thế, thường khiến người ta tìm một nơi yên tĩnh ngồi uống rượu,
uống trà với bạn.
Buổi chiều chúng tôi thường đến một quán quen vào giờ chưa có khách. Nói với
nhau dăm ba câu chuyện về đời, về người, về nghệ thuật. Tiếng nói chỉ đủ rơi
quanh chỗ chúng tôi ngồi. Quán vẫn cho chúng tôi nghe một thứ âm nhạc đã chọn
kỹ, âm lượng mơ hồ như một thứ tiếng nói khác của thiên nhiên.
Anh bạn họa sĩ của tôi nói: Đôi khi âm nhạc cũng đuổi người ta đi. Ý muốn nhắc
nhở thứ âm nhạc ồn ào không thuận lợi mấy cho một khung cảnh màu sắc sỗ sàng.
Quán có những hàng ghế, bàn mây sơn trắng. Sỏi trắng và bãi cỏ xanh.
Đèn bật lên, quán bỗng chuyển sang một đời sống khác. Người bạn tôi nói: hình
như loại cây nào không có hoa thì cũng không có trái. Cây tre chỉ có lá mà
thôi. Tôi nghĩ thầm mụt măng cũng có thể xem như một loại trái hài nhi của than
tre vậy. Tiếc rằng những thứ trái hài nhi ấy chưa kịp manh nha thành thân,
thành lá lại thường oan mệnh trước cuộc hóa thân.
Những âm thanh rời lẻ có khi hoá thân thành những dòng nhạc đẹp, nhưng lắm khi
cũng yểu mệnh vô thường.
Những quán hàng cũng có một kiếp sống vô thường. Nơi đây ngày xưa có quán. Hôm
nay có thể không còn. Bóng dáng của quán ấy ở lại trong trí nhớ của con người.
Con người mất đi, trí nhớ về quán ấy cũng mất đi. Sự vắng bong đó có khi vô
nghĩa, trong cái bề bộn của cuộc sống, nhưng ngẫu nhiên, ai biết được bỗng rơi
tỏm vào đời riêng của một người. Câu chuyện về một cái quán khả ái nào đó tình
cờ được nhắc nhở. Và phút chốc cái quán cũng bàn ghế, cảnh trí, người ngợm của
cái ngày nào xa xôi ấy bỗng thức dậy trong trí nhớ một người xa lạ. Cái quán
kia phục sinh trong một đời sống khác.
Cũng như thế, có những câu hát một thời đã sống, đã lãng quên và sống lại.
Một tác phẩm không bị lãng quên thường được mở rộng đường để đi đến chốn không
bờ bến của những giá trị dường như huyễn hoặc.
Con người bị lãng quên là kẻ đã tự đánh mất mình để rồi xoá nốt mình trong trí
nhớ kẻ khác.
Cũng như thế, có những dòng nhạc của một đời người đã đứng ngoài và cao hơn số
phận của người đó.
Thiền Bùn
Thiền trên bùn thấy bùn. Thiền trên cát thấy cát. Thấy cát trôi ra biển. Thấy
cát là hư vô. Bùn tấp vào bờ. Bùn tấp vào người trong cơn lũ lụt. Tai nạn bất
ngờ, tai kiếp trầm luân. Cơn lũ đi qua, bùn lầy ở lại. Thiền trên bùn không còn
thấy bùn là bùn nữa. Là khổ đau chém xuống cuộc đời.
Ngồi đứng giữa miền Trung, giữa Huế những ngày mưa bão không còn thấy thiền là
thiền nữa. Chỉ thấy lũ là lũ. Thấy trôi đi những sinh mạng, sinh vật, cỏ cây
hoa lá. Bỗng nhiên thiền lại là thiền giữa những đổ nát mênh mông. Thấy trước
thấy sau, thấy đời vô hạn. Thiền trên bãi bùn như trên đống lửa. Lửa cháy bùng
để biến tất cả thành tro bụi và bãi bùn ứa máu để biến thành một thiền đau.
Thiền đau trên nỗi khổ của con người để biến thành thiền định. Và thiền định để
biến mọi nỗi khổ đau thành trang giấy trắng của hư không.
Đi đến với mùa xuân này ta thử ngồi thiền định. Hãy để cho những cơn bão lụt
vừa qua làm lay động chiếc ghế thiền định của ta. Không gió không mưa nữa mà
chiếc ghế vẫn rung động và ướt đẫm. Thế thì thiền ở nơi đâu. Ở trong hay ở
ngoài. Trên cao hay dưới thấp. Thiền trần trụi hay quần áo, áo quần. Cuối cùng
có thể hiểu nhầm rằng thiền không ở nơi nào cả. Thật sự có thiền, có ngồi
thiền, có trầm ngâm trong tịch lặng suy tưởng. Suy tưởng về tất cả, về thế giới
bên trong bên ngoài, về ta về người, về thiên nhiên, về đồ vật… Thế thì, từ suy
tưởng ta có thiền định. Và chỉ riêng mùa xuân này ta sẽ thiền định trên những
con nước lũ đã tan đi và để lại cho ta một chỗ ngồi trên đám bụi bùn còn sót
lại.
Bước vào năm 2000 chúng ta sẽ chọn một chỗ ngồi khác để làm lại một cuộc hành
trình vào cõi thiền đáng mơ ước hơn.
Thư viết từ Montreal không gửi
Mỗi ngày ở Montreal của mình là một ngày phố xá. Sáng thức dậy muộn vì đêm nào
cũng bè bạn anh em ngồi đến ba bốn giờ sáng. Thức dậy chưa kịp tắm rửa đã nghe
phone reo. Không phải phone của cô nào cả mà của người bạn giáo sư dạy toán ở
Đại học Montreal. Từ ngày mình qua anh Q. gần như bỏ lớp, vả lại cũng sắp hè.
Cái cung cách thầy trò ở bên này cũng hay hay. Có quán cà phê Campus ở gần đại
học, ở đó gần như là quán ăn uống của sinh viên. Bọn mình hay ngồi ở quán này
để sinh viên cần thắc mắc gì về cái thèse sắp ra trường thì sang hỏi anh ấy :
Thầy trò mày tau chi tớ với nhau như bạn về cái thèse doctorat. Anh Q là
directeur de thèse. Họ chơi với nhau thân tình và mình nhìn thấy trong mối giao
lưu giữa người với người có rất rõ ràng cái khía cạnh của lòng nhân ái.
Có một lần, một người bạn khác cũng là giáo sư toán kinh tế ở Đại học Laval
Québec về Montreal thăm. Mấy anh em ngồi lại với nhau ở quán Faubourg đường St
Denis. Nhìn ngắm dân québécois đi lại trên phố mặt mày ai cũng hồn nhiên như
trẻ thơ. Mình hỏi người bạn : ông ở đây đã mấy chục năm, ông có thấy dân ở đây
hồn nhiên vô tư lự và dễ thương không ? Anh bạn dạy học, đồng thời cũng là
người làm thơ, cười cười : Cái thành phố không có anh hùng nó sản sinh ra loại
người như vậy đó toa ạ! Thế là tất cả chúng mình luận quanh cái đề tài ấy. Đi
trong một thành phố như Montréal rõ ràng là mình cảm thấy nó không nợ nần gì
với quá khứ. Mình sang đây gặp đúng mùa kỷ niệm Montreal được 350 tuổi. Họ còn
trẻ quá nên họ sung sướng là phải. Thời gian này Canada, cũng như mọi nơi, đang
rơi vào thời kỳ kinh tế suy thoái. Mọi người dân lại phải đóng thêm hai thứ
thuế trên mỗi món hàng mua sắm. Nặng nề là thế mà mặt ai cũng phơi phới hân
hoan.
Gần như quán hàng ở trên những phố chính như St Denis, St Laurent, Duluth v.v…
mình đều có đến ngồi cả. Không có gì vui bằng ngồi một chỗ mà ngắm người qua
lại. Dân du lịch đến đây cũng khá đông. Phần đông là dân Anh và Pháp. Dân châu
Á thì hình như chỉ có người Nhật. Có lẽ người Nhật học lóm được câu nói khôn
ngoan ngày xưa của dân mình nên đi đến bất cứ xứ sở nào cũng gặp người Nhật cả: Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Tuổi trẻ đi cho biết không nói gì mà ngay
cả người già cũng đi. Một hôm ở Vieux Montreal mình cùng người bạn đang đi lang
thang ngắm trời ngắm cảnh gặp hai cô bé Nhật. Họ đưa máy ảnh nhờ chụp giùm hai
người đứng trước một nhà thờ cổ. Sau khi chụp hình xong mình hỏi: Xin phép đi
du lịch có khó không? Cả hai ngơ ngẩn không hiểu: khó là gì ? Cắt nghĩa mãi
họ mới hiểu ra: “Ai muốn đi thì cứ đi bất cứ lúc nào”. À, thế là mình chợt nhớ
lại một điều rất cũ kỹ là con người có đôi chân thì cứ lúc nào muốn đi thì đi.
Mạnh khỏe thì đi xa. Ốm yếu thì đi gần. Đi là cái quyền tối thiểu của mỗi con
người tự do. Ở Montreal, nhà nước được sắm ra là để cho phép chứ không phải để
cấm.
Có nhiều đêm trời mưa, xe chạy qua nhiều khu phố trông giống như một vài nơi ở
Sài Gòn. Thấy nhớ kỳ lạ. Thường những lúc ấy trong đầu lại nảy sinh những phác
họa tương lai lộng lẫy cho thành phố mình. Không hiểu sao dạo này mình hay lẩm
cẩm như thế. Đi qua Amsterdam, Singapore, dù không muốn, cái đầu vẫn cứ gán
ghép một Sài Gòn vào những hình ảnh đẹp đẽ nhất của những xứ sở đó. Giá như Sài
Gòn có thêm cái này, có thêm cái kia v.v… Nếu mọi người có ý thức, xem thành
phố mình ở như căn nhà riêng của mình thì có lẽ thành phố sẽ đẹp lên một cách
dễ dàng. Có người bạn là một nhà khoa học nghiên cứu về bụi, làm việc ở
Pyrénées, đã có lần than thở : Chưa có thành phố nào trên thế giới này mà lại
không thấy chim như ở Sài Gòn. Nghe đau khổ thật. Mình nghĩ rằng không phải chỉ
vì ô nhiễm mà vì mấy thằng vô ý thức cứ ngày ngày mang súng Tiệp đi bắn chim
trong thành phố. Những thứ tự do vô lại như thế thì không ai ngăn cấm cả. Làm
một điều tốt thì phải xin phép nhưng làm điều bậy thì tha hồ. Đi xe đạp nghênh
ngang lấn đường sá cũng là một thứ tự do đương nhiên. Cái gì rồi cũng thành
thói quen cả. Chúng mình thật bất hạnh là đã nhiễm dần những thói quen xấu mà
không còn phản ứng nữa.
Ở đây người đi xe đạp cũng khá nhiều. Vào mùa xuân là thành phố bắt đầu chặn
riêng những lối đi cho xe đạp. Họ đi như một môn thể thao. Có những chiếc xe
lên đến trên hai nghìn đô la. Xe hơi thì hằng hà sa số.
Mình gặp tuyết rồi. Thích lắm. Mặc lạnh cóng, mình cứ ngang tàng đi trong bão
tuyết. Hôm ấy có cả Đinh Cường (họa sĩ) từ Washington D.C. sang. Những lọn
tuyết tròn lớn hơn nắm tay chỉ vài phút sau là đã phủ trắng xóa cả cây cối, xe
cộ, và đường phố. Tối hôm ấy mình về vẽ ngay một bức tranh Thiếu nữ tuyết. Lần
đầu tiên cầm trong tay một nắm tuyết trắng tinh như vậy mình mới hiểu thế nào
là màu trắng. Không vẽ ra được cái màu trắng ấy. Không hiểu một tâm hồn trong
trắng thì cái trắng ấy như thế nào. Lúc mình cầm nắm tuyết vào quán cà phê ở
góc phố thì cô bạn Anna cười bảo: Các anh lãng mạn quá. Mình hơi ngượng nhưng
cũng nói lại: Không có sự lãng mạn có lẽ chúng tôi không tồn tại nổi đến hôm
nay đâu.
Có quá nhiều điều để nói về thành phố này. Một thành phố dễ ở và dễ thương.
Những con người hiếu khách và độ lượng. Không ai nổi giận với ai. Chỉ có nụ
cười và một cách sống dễ dàng ngoạn mục hơi thoáng vẻ bohémien.
Một điều rất hay là khi hòa nhập với cuộc sống nơi này rồi thì mọi nỗi buồn tan
biến. Sự tử tế giữa con người với con người làm mình tin rằng điều tốt là một
cái gì có thể thực hiện được giữa cuộc đời này. Không có gì quan trọng cả và vì
thế cũng không có gì đáng phải nản lòng.
Thành phố đang chuẩn bị cho Festival de Jazz vào mùa hè. Đã có những tiếng kèn
saxo vang lên từ những hè phố. Đời sống sao mà vui vậy. Chỉ có lễ lạc và những
trái tim không bóng tối.
Tìm và gặp...
Những tháng cuối năm 90 có nhiều phòng tranh trong thành phố. Tôi có hai người
bạn thầy thuốc triển lãm tranh của họ cùng với một bệnh nhân là họa sĩ.
Một trong hai người thầy thuốc nọ viết trong phần catalogue của mình: Tôi đi
tìm thuốc trong hội họa. Tại sao không? Tìm gì mà chả được. Người muốn đi tìm
thì bất cứ ở đâu cũng tìm, bất kỳ từ một sự vật gì, dù nhỏ nhoi đến mấy, cũng
tìm.
Kẻ vô tâm thì đang ở trước mặt cái muốn tìm cũng không thấy.
Chưa tìm được thuốc trong lúc này thì ắt phải bắt gặp được lòng trắc ẩn. Không
thấy lòng trắc ẩn biết đâu lại không tình cờ nắm được ngọn nguồn của một thứ
tình yêu.
Những người bạn tôi đã may mắn tìm được thuốc.
Bệnh nhân họa sĩ kia đã được vực dậy từ một cơn đau trầm kha không tìm ra manh
mối, mặt mũi. Thế rồi người thầy thuốc nọ mang giá vẽ đến, lấy màu sắc phủ đầy
lên toile. Thầy thuốc và con bệnh trao đổi với nhau về những thứ lẽ đời, lẽ
đạo, lẽ người. Rồi cuối cùng là lẽ sống để vẽ và là vẽ để sống. Và cứ thế, cọ,
dao, màu cứ chập chùng không ngơi nghỉ cho đến lúc người bệnh đã từ thế giới
màu sắc bước ra như một con người khác.
Đã có biết bao nhiêu câu chuyện quanh cái sự vẽ vời để cứu người.
“Tôi đã đi tìm tôi trong âm nhạc thi ca. Chưa thấy đủ khuôn mặt của mình.
Và tôi đã cố gắng rẽ về phía hội họa, tiếp tục lên đường, để tìm lại tôi.
Tôi đã dùng đủ mọi phương cách để tìm một chữ “mình” đã bị thất lạc, đã biến
hình đổi dạng, trong muôn hình vạn trạng của cuộc đời.”
Như chuyện “Chiếc lá cuối cùng” của O’Henry. Chuyện kể có một nữ bệnh nhân đã
kéo dài cái sống của mình bằng những chiếc lá rụng dần ở một cành cây ngoài
khung cửa sổ. Khi trên cành chỉ còn một chiếc lá duy nhất, thì người bệnh nói
với người thân của mình: “Nếu đêm nay, chiếc lá cuối cùng ấy không còn nữa thì
em sẽ chết”. Ở phòng trọ bên dưới có một họa sĩ tình cờ nghe được. Nửa đêm,
giữa trời tuyết lạnh, người họa sĩ bắc thang leo lên vẽ một chiếc lá vàng ở bức
tường sát cành cây khô, khi chiếc lá thật đã rụng xuống. Sáng hôm sau, người
bệnh thức dậy, nhìn ra cành cây và vẫn thấy còn chiếc lá vàng. Cô đã yên tâm và
bảo rằng: “Như thế, là em vẫn còn có thể sống hôm nữa được”. Dĩ nhiên câu
chuyện đã kết thúc bằng cái chết âm thầm của người họa sĩ nghèo bị cóng lạnh…
“Tôi đi tìm thuốc trong hội họa” là điều không thể trách móc được. Và cũng
chẳng có gì quá đáng khi nói lên điều này.
Và cuộc hành trình đi tìm thuốc trong văn học nghệ thuật không chỉ vì một độ
hứng nhất thời mà là cả một quá trình suy nghiệm. Phải đớn đau dang dở mình
trong thành tựu này để hoàn tất mình trong một thành tựu khác, lớn hơn và cũng
không ít phần khổ ải hơn.
Hãy biết đi tìm, nhẫn nhục tìm kiếm sẽ có ngày thấy được. Dù ở đâu. Từ trong
một hạt bụi đến cõi trời bao la. Từ cái sờ mó được đến cõi vô hình.
Triển lãm tranh, 1990
Tháng Mười Hai năm một ngàn chín trăm chín mươi, tôi cùng hai họa sĩ bạn rủ
nhau tổ chức một phòng tranh.
Nhiều người đến phòng tranh và nói với tôi: ông vẽ như viết nhạc vậy.
Đúng.
Tôi muốn đi tìm cái phần nhạc không nói được trong hội họa của tôi. Nếu tôi có
thể nói được tất cả mọi điều của đời sống, của con người, của thiên nhiên bằng
âm nhạc thì tội gì tôi phải vơ vào cho mình thêm một tội lỗi nữa.
Tôi đã đi tìm tôi trong âm nhạc thi ca.
Chưa thấy đủ khuôn mặt của mình.
Và tôi đã cố gắng rẽ về phía hội họa, tiếp tục lên đường, để tìm lại tôi.
Tôi đã dùng đủ mọi phương cách để tìm một chữ “mình” đã bị thất lạc, đã biến
hình đổi dạng, trong muôn hình vạn trạng của cuộc đời.
Có những ngày tháng tôi đã bỏ mình vào một cõi tịch lặng vô ngôn để thử nhìn
lại rõ mình hơn, nhưng vô vọng.
Và tôi đã tìm đến với thế giới của im lặng và hội họa. Ở đây tôi đã bắt gặp một
mảng đời của mình bấy lâu nay vẫn còn bị che dấu. Chính ở trong cõi màu sắc
này, tôi đã chạm vào được cái chìa khóa Libido để mở dần những cánh cửa vô thức
của bản thân mình.
“Tôi đi tìm thuốc trong hội họa”. Câu nói của người bạn bác sĩ làm hội họa chưa
phải là điều đáng vội bình phẩm, phê phán. Nghĩ cho cùng, rõ ràng cũng không
phải là lộng ngôn.
Chúng ta có khi mất nhau và đã gắng tìm nhau trong cuộc đời. Chúng ta tìm tuổi
thơ trong con gà đất tu huýt, trong cái lục lạc lùng tung. Chúng ta tìm quên
lãng trong tách cà phê, trong ly rượu. Tìm nỗi nhớ trong dòng nước, trên vài
cầu, ở hè phố, trong màu nắng giọt mưa.
“Tôi tìm thuốc trong hội họa” cũng chẳng khác gì tôi đã thấy no trong đói, thấy
ánh sáng trong đêm tối, thấy hạnh phúc trong khổ đau, thấy niềm an ủi trong hận
thù, thấy cái thật trong sự dối trá.
Giờ đây, tôi bỗng thèm đi tìm cái vô thanh trong sự khoác lác.
Tin vào chính mình
Tiếng nói thầm kín của một người nhiều khi suốt cuộc đời không thể nào bày tỏ -
Có khi bày tỏ được thì cũng chỉ là những tiếng nói dở dang. Có người dấu bặt.
Tôi chưa hề quên cái hiệu lệnh muôn đời: “Cái ta đáng ghét”. Tuy nhiên trong
cuộc sống thường nhật nơi đây, ngoài những ngày hét la to đầy nộ khí, vẫn có
những giây phút lui về muốn thở than. Phải chăng thở than cũng là niềm bí ẩn
của con người.
Mỗi đời sống ẩn giấu một định mệnh. Có những định mệnh đời đời là cây kiếm sắc.
Một đôi lần trong giấc mơ tôi, bừng lên những ánh thép đó. Nhưng tôi biết rõ
rằng tôi chỉ là một loài chim nhỏ hót chơi trên đầu những ngọn lau. Không ai
muốn mình là kẻ tuyệt vọng. Nhưng tôi tự nguyện làm tên tuyệt vọng. Bởi đã
nhiều sớm mai tôi thức dậy không thấy được hoa quả khai sinh trong trái tim
người.
Tôi lại biết thêm rằng, dù là người chiến thắng hay kẻ chiến bại, suốt cuộc đời
cũng không thể vui chơi. Hạnh phúc đã ngủ quên trong những ngăn kéo của quên
lãng.
Tôi không bao giờ nhầm lẫn về sự đau khổ và hạnh phúc. Nhưng tôi thường rơi vào
cơn hôn mê trước giấc ngủ. Ở biên giới đó tôi hoảng hốt thấy mình lơ lửng giữa
sự sống và cái chết. Những giây phút như thế vồ chụp lấy tôi mỗi đêm. Khi quanh
tôi, mọi người đã yên ngủ. Và tôi đau đớn nhận ra rằng, có lẽ cuộc đời đã cho
ta lắm ngày bất hạnh.
Mỗi ngày sống tới, mỗi ngày tôi thấy đời sống nhỏ nhắn thêm. Ðời sống thật sự
không tiềm ẩn điều gì mới lạ. Có lẽ vì thế, vì sự quen mặt mỗi lúc mỗi gần gũi,
thắm thiết hơn, nên tôi càng thấy yêu mến cuộc đời. Như đứa con ngoan không
tuyệt tình nổi với rẫy sắn nương khoai, nơi có bà mẹ suốt đời mắt không sáng
nổi một ngày trẩy hội.
Có những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau. Từ buổi
con người sống quá rẻ rúng tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá. Tôi
không còn gì để chiêm bái ngoài nỗi tuyệt vọng và lòng bao dung. Hãy đi đến tận
cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa. Tôi không
muốn khuyến khích sự khổ hạnh, nhưng mỗi chúng ta hãy thử sống cùng một lúc vừa
kẻ chiến thắng vừa kẻ chiến bại. Nỗi vinh nhục đã mang ta ra khỏi đời sống để
đưa đến những đấu trường.
Tôi đang bắt đầu những ngày học tập mới. Tôi là đứa bé. Tôi là người bạn. Ðôi
khi tôi là người tình. Chúng tôi cùng học vẽ lại chân dung nhân loại. Vẽ lại
con tim khối óc. Trên những trang giấy tinh khôi chúng tôi không bao giờ còn
thấy bóng dáng của những đường kiếm mưu đồ, những vết dao khắc nghiệt. Chúng
tôi vẽ lại những đất đai, trên đó đời sống không còn bạo lực.
Như thế, với cuộc đời, tôi đã ôm một nỗi cuồng si bất tận. Mỗi đêm, tôi nhìn
trời đất để học về lòng bao dung. Nhìn đường đi của kiến để biết về sự nhẫn
nhục. Sông vẫn chảy đời sông. Suối vẫn trôi đời suối. Ðời người cũng để sống và
hãy thả trôi đi những tị hiềm.
Chúng ta đã đấu tranh. Ðang đấu tranh. Và có thể còn đấu tranh lâu dài. Nhưng
tranh đấu để giành lại quyền sống, để làm người, chứ không để trở thành anh
hùng hay làm người vĩ đại. Cõi người từ khước tước hiệu đó.
Chúng ta đã đấu tranh như một người trẻ tuổi và đã sống mệt mỏi như một kẻ già
nua.Tôi đang muốn quên đi những trang triết lý, những luận điệu phỉnh phờ. Ở đó
có hai con đường. Một con đường dẫn ta về ca tụng sự vinh quang của đời sống.
Con đường còn lại dẫn về sự băng hoại.
Nhân loại, mỗi ngày, đang cố bày biện những tiệm tạp hóa mới. Ðóng thêm nhiều kệ
hàng. Người ta bán đủ loại: đói kém, chết chóc, thù hận, nô lệ, vong thân...
Những đấng tối cao, có lẽ đã ngủ quên cùng với chân lý.
Tôi đã mỏi dần với lòng tin. Chỉ còn lại niềm tin sau cùng. Tin vào niềm tuyệt
vọng. Có nghĩa là tin vào chính mình. Tin vào cuộc đời vốn không thể khác.
Và như thế, tôi đang yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng của tên tuyệt vọng.
Tình Khúc
1. Giòng sông là chứng nhân già nua nhất của địa cầu. Hãy thử một lần nương vào
cơn mộng du nào đó tìm về những cành san hô cũ kỹ để đọc xem giòng sông đã ghi
những gì về tình yêu - Tôi đã hơn một lần trở về từ cơn mộng du đó để rồi làm
người đãng trí buồn bã. Từ đấy, tôi cũng đã biết tình yêu thường mở ra những
cơn địa chấn kinh hoàng và đã đôi lần quay về xác xơ làm con quạ già kể hoài
một chuyện tình chết như loài quạ vẫn thường về kêu ngậm ngùi trên nóc nhà một
người hấp hối.
2. Có những cơn hạn hán về thiêu đốt địa cầu. Tình yêu bốc lửa và phơi khô - Từ
đó tình yêu chỉ còn là những vết tích - chết được con người manh nha ngụy trang
để lừa dối nhau - Môi đã khô từ ngày hạn hán. Nước miếng được ve tròn như những
hạt kim cương đục ngầu. Trái tim là quả ổi đen trên cành cằn cỗi trụi lá - Lời
yêu thương như lên men từ cõi chết ù lỳ - Bây giờ nhớ về tình yêu cũng như hoài
niệm về một cổ tích huyền hoặc. Người ta không còn có thể nói với nhau. Chỉ nói
với riêng mình - Và tiếng nói được trả về từ cõi chết làm trung gian thường
trực giữa hai kẻ đối diện.
3. Thành phố của tình yêu đóng cửa từ dạo đó. Mỗi người về tự xây riêng cho
mình một nhà nguyện. Hằng đêm lời nguyện cầu vang lên như thánh ca - Những lời
nguyện cầu lên cao, lên cao mãi kết tinh thành một vương miện mầu ngọc đen.
Vương miện là di chúc quý báu dành cho kẻ chân tình về sau.
4. Cũng từ đó lời gọi vào tình yêu là lời vô vọng những thiết tha tìm đến tình
yêu là những chớp lóe biến vào cơn giông - Không ai lừa dối ai - Chỉ có mình
phỉnh phờ lấy mình - Bởi cái chết đã dựng hình tượng trong cõi sống - Con tim
đã quen xúc động - Tiếng nói đã quen gửi đi - Từ bao giờ đến bây giờ. Sự quen
thuộc gây ảo tưởng mới lạ để đánh lừa con mắt. Cảm xúc của con người chỉ là một
kẻ trung gian đần độn. Chúng ta dùng ánh sáng đom đóm đã chết - Ta lại được trả
về trước một khoảng không đen - Thảm kịch sẽ được dựng lên mãi mãi bao giờ còn
loài người. Trong cõi riêng ta có một con chim bé nhỏ đứng nhìn và hát hoài
điệp khúc buồn bã đó - Con người chỉ là một loài thiêu than vô tội bay mãi vào
ảo tưởng tình yêu.
5. Chỉ có trong tình
yêu ta mới bắt gặp được cái chết của chính mình. Tình yêu cũng mở ngõ cho những
lần hoá kiếp - Hãy thử bước vào thế giới đó để khởi đầu bằng một cái chết thật
vô cùng yêu dấu.
1967
Tình yêu và tiếng hát
Tình yêu cho phép những ca khúc ra đời. Nỗi đau và niềm hân hoan làm thành bào
thai sinh nở ra âm nhạc. Âm nhạc như thế là tình yêu, là trong bản thân nó hàm
chứa một cõi nhân sinh bề bộn những khổ đau và hoan lạc. Không có bất hạnh và nụ
cười có lẽ âm nhạc cũng không thể có duyên ra đời.
Có người đi đến với cuộc đời và ngẫm nghĩ: nếu đời sống vắng bóng âm nhạc và
tiếng hát thì ta sẽ như thế nào đây? Ở đâu có con người , ở đó có tiếng hát.
Trên mặt đất , trần gian này tiếng hát nhắc nhở ta 1 điều giản dị: tôi hát là
tôi hiện hữu. Tôi tồn tại có nghĩa là tôi sẽ mất đi. Tôi mất đi, mọi người cũng
sẽ mất đi, nhưng tiếng hát còn ở lại. Ở lại như chiến tích vừa buồn bã vừa huy
hoàng của 1 cõi đời.
Tiếng hát thường làm nhớ nhung con người. Nhớ một con người là nhớ cả một trần
gian. Cái thân thể mĩ miều của trần gian này nọ đã từng vạch ra những lối đi mờ
ảo, hoang đường trong bể dâu của cuộc sống. Thân thể ấy bỗng tự thân đã biến
thành thánh địa cho cuộc chiêm ngưỡng tình yêu. Âm nhạc và tiếng hát ra đời để
ca tụng một gót chân, một bàn tay, những môi, mắt, má, và đôi khi một mái tóc
trầm hương và sau đó là nụ cười, nước mắt của một đời người.
Tiếng hát là con đẻ của thân xác. Từ thân xác bay lên những giai điệu và lời
ca. ca hát là để nhớ nhau và đôi lúc, để an ủi mình. An ủi một cái gì còn ở lại
và than thở một điều gì đã ra đi.
Tất cả mọi điều sẽ qua đi, sẽ biến mất, nhưng tiếng hát, câu ca, một khi đã
được khai sinh với ngày thôi nôi huy hoàng của nó thì sẽ ở lại với đời mãi mãi.
Đó là một cuộc rong chơi ngậm ngùi của hữu hạn muốn chộp bắt cái vô hạn làm món
quà thế chấp cho đời mình.
Trịnh Công Sơn - Một hôm thấy ta là lá cỏ, ngồi hát ca rất tự do - Phần 1
1.
"Một hôm thấy ta là lá cỏ,
ngồi hát ca rất tự do..."
Bài hát là phương tiện để bày tỏ lòng mình với cuộc đời,
có gì tuyệt vời hơn lá cỏ nhỏ nhoi nhưng tự hát ca với đời mình?
2.
Trên cánh đồng ca khúc,
tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi.
3.
Với ca khúc,
tôi là người tình của thiên nhiên,
là người bạn của những em bé.
Qua ca khúc,
tôi đã đến gần và đã đi xa những chuyện tình;
đã tham dự những nỗi hân hoan của đời người
và cũng đã gánh nhẹ giùm những phiền muộn.
4.
Yêu thương con người cũng là yêu thương tiếng hát
bởi vì tiếng hát mang trong nó tâm hồn của con người.
Tiếng hát sẽ mọc lên xanh tươi trên cuộc đời này
như những cây tử đinh hương mọc tràn thơm tho
trên những cánh đồng vô tận.
5.
Ca khúc là đời sống thứ hai
sau cái thân thể mà cha mẹ đã sinh thành.
6.
Âm nhạc không thể tồn tại nếu vắng bóng con người.
7.
Tình yêu cho phép những ca khúc ra đời.
Nỗi đau và niềm hân hoan làm thành bào thai sinh nở ra âm nhạc.
Âm nhạc như thế là tình yêu,
là trong bản thân nó hàm chứa một cõi nhân sinh
bề bộn những khổ đau và hoan lạc.
Không có bất hạnh và nụ cười
có lẽ âm nhạc cũng không thể có duyên ra đời.
8.
Ở đâu có con người, ở đó có tiếng hát.
Trên mặt đất, trần gian này
tiếng hát nhắc nhở ta một điều giản dị:
tôi hát là tôi hiện hữu.
9.
Tiếng hát là con đẻ của thân xác.
10.
Tất cả mọi điều sẽ qua đi, sẽ biến mất,
nhưng tiếng hát, câu ca, một khi đã được khai sinh
với ngày thôi nôi huy hoàng của nó
thì sẽ ở lại với đời mãi mãi.
Đó là một cuộc rong chơi ngậm ngùi của hữu hạn
muốn chộp bắt cái vô hạn làm món quà thế chấp cho đời mình.
11.
Vui thay, một tác phẩm nghệ thuật,
trong đó có âm nhạc,
khi đã thực sự có mặt ở đời và đời nhận,
là ra đi mãi mãi.
12.
Một tác phẩm âm nhạc đã dâng tặng đời
cũng không đòi hỏi phải trả lại một điều gì cả.
13.
Đã từ lâu tôi muốn qua ca khúc nói được thật nhiều điều.
Tôi không chọn ca khúc như một chặng đường
để rồi sau đó tu dưỡng hòng nhảy vào những thể loại to lớn hơn.
Ca khúc đối với tôi
là một mô hình gần gũi, thiết thân và hoàn chỉnh.
Nó là một cuộc hôn phối kỳ diệu giữa thi ca và âm nhạc.
14.
Tâm hồn tôi đang như là một ngôi nhà
mà hội họa, âm nhạc, và thi ca
chỉ là thời tiết mùa màng đổi thay
của một sự sống đang trú ngụ trong đó.
15.
Hội họa và âm nhạc là hai người bạn đồng hành trong nghệ thuật.
Trong âm thanh có mầu sắc và ngược lại,
trong màu sắc có âm thanh.
Khi bạn đứng trước một bức tranh hoặc nhiều bức tranh,
trong yên lặng, bạn sẽ nghe từ những khối màu,
từ những đường nét vang lên một thứ âm thanh mơ hồ nào đó.
Và nếu bạn là nhạc sĩ bạn có thể ghi chép lại
và cùng hợp tấu với những âm thanh kia.
16.
Ở nơi nào trên mặt đất này có con người, ở đó có tiếng hát.
Con người có thể hát một mình ở bất kỳ nơi đâu.
Ca khúc là nỗi lòng của một con người trong cuộc sống.
Cuộc tình giữa âm nhạc và văn học này
đã khiến ca khúc tự nó có thể chạm đến
mọi bờ cõi tri thức của đời sống con người.
Nó đủ khả năng hát về một cái chồi non vừa nhú
cho đến cái chết của một con người.
Nó chính là tiếng chim buổi sáng,
tiếng gà gáy trưa bên đồi mang âm vang của một nỗi nhớ nhung.
Nó là nắng, là mưa, là nụ cười, là tiếng khóc.
Nó ở cùng với điều nhỏ nhất
và đồng thời cũng sống chung với những cõi bờ bao la.
17.
Nếu trong âm nhạc
không có những dấu lặng, dấu nghỉ,
thì đó là một tai hoạ.
18.
Vì có tình yêu nên có âm nhạc.
Vì có khổ đau nên có âm nhạc.
Có hạnh phúc nên cũng có âm nhạc.
19.
Người viết ca khúc
là đứa con riêng của hôn phối giữa thơ và nhạc.
Nó thường hay mộng mị, than thở, thở than,
bởi nó biết Hạnh Phúc là một dự báo của hư vô.
20.
Số phận của một bài hát
có thể trở thành số phận của một con người
có được hoặc mất đi của một hạnh phúc.
21.
Một tác phẩm không bị lãng quên
thường được mở rộng đường để đi đến chốn không bờ bến
của những giá trị dường như huyễn hoặc. Con người bị lãng quên là kẻ đã tự đánh
mất mình
để rồi xóa nốt mình trong trí nhớ kẻ khác. Cũng như thế, có những dòng nhạc của
một đời người
đã đứng ngoài và cao hơn số phận của người đó.
22.
Tôi nghĩ trong nghệ thuật, điều quan trọng nhất
là làm thế nào để mở ra một con đường ngắn nhất
đi từ trái tim của mình đến trái tim của người
mà không cần cắt nghĩa gì thêm.
23.
Nghệ thuật là một cuộc chơi,
một cuộc-chơi-tự-dâng-hiến của người nghệ sĩ.
Tự thân sự dâng hiến đã là hạnh phúc của người nghệ sĩ,
bất chấp sự dâng hiến đó được chấp nhận hay bị từ khước.
24.
Đã xem là cuộc chơi thì tất cả chỉ nhẹ như tơ hồng.
25.
Không trọn
là dấu hiệu của một thứ nghệ thuật tròn vẹn của thiên tài.
26.
Tôi quan niệm tất cả mọi người cùng sống trong một thời đại
đều có chung một tuổi - đó là tuổi của thời đại.
Nếu không có chung cái tuổi thời đại ấy
thì sẽ không thể có được sự thông cảm
giữa các thế hệ khác nhau sống trong cùng một thời đại.
27.
Tôi muốn giữ một sự tịch lặng cho riêng mình
và để cho những tiếng nói xung quanh
trở thành một sự xao động bình thường của thiên nhiên.
28.
Đám đông và sự ồn ào
không phải luôn luôn là đại diện của sự sống.
29.
Phải có một nỗi tuyệt vọng nào đó khởi đầu
để tôi không ngừng dan díu với những giọt nước mắt của đời
làm của cải riêng tư.
30.
[Có lúc tôi nghĩ rằng] nỗi buồn vô thường vô cớ kia
là bắt nguồn từ nỗi nhớ về cái quê hương đầu tiên
từ cái bào thai trong bụng mẹ.
Nhớ về cái cõi ở đó thành hình dần dần
trong nỗi vui cùng những lo âu của người phụ nữ.
31.
Không có bài hát nào nói đủ về mẹ. Mất mẹ là mất đi một tài sản lớn nhất
trong toàn bộ sự giàu có của một đời người.
32.
Người ta có thể vui chơi, đàn đúm, quây quần một đời
nhưng vẫn cứ lạc loài lẻ loi một chốc.
Một chốc mà là tất cả.
Cái sát na nhỏ bé của thời gian
đôi khi cũng quy định cả đời người.
Một người mẹ bỏ đi.
Một người tình bỏ đi
cũng nằm trong cái sát na đó.
33.
Ðừng tuyệt vọng
vì cuộc đời hồn nhiên đôn hậu
vẫn luôn luôn cho ta những ngày vui khác.
Những ngày vui của đời thì thênh thang vô tận.
Hết cuộc tuyệt vọng này đến một cuộc tuyệt vọng khác
biết đâu cũng là một niềm vui.
Một niềm vui dù không có thật
thì cũng đủ an ủi trong phút chốc.
34.
Từ buổi con người sống quá rẻ rúng
tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá
Tôi không còn gì để chiêm bái
ngoài nỗi tuyệt vọng và lòng bao dung.
Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng
để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa.
35.
Hãy đau đớn đi.
Biết đau nỗi đau của người khác và của chính mình
là dấu hiệu của lòng nhân ái.
Cái tín hiệu ấy phát đi và mọi người nhận được.
36.
Vết thương tỉnh thức là một con mắt sáng ngời.
Nó nhìn ngược về quá khứ và ngó thẳng đến tương lai.
37.
Ðừng than thân trách phận.
Ðời không có lỗi với ai,
chỉ có ta có lỗi với đời.
38.
Cái tôi đáng ghét (Le moi est haissable - B. Pascal)
nhưng cái tôi cũng có lúc đáng yêu
vì cái tôi đó biết mình và cuộc đời là một.
39.
Cuộc sống là một niềm an ủi vô bờ.
Cuộc sống chỉ cho ta mà không cần lấy bớt đi.
Cuộc sống cho ta tất cả và mỉm cười khi thấy ta dại dột.
40.
Con người sinh ra vốn bất toàn và để làm những điều lầm lỗi.
Nó đẹp vì bất toàn.
Nó đáng yêu vì nó luôn luôn lầm lỗi.
Vậy thì cứ yêu mà đừng tuyệt vọng.
41.
Đời sống có những nhầm lẫn trẻ thơ,
không nên giận dỗi.
42.
Ðừng mơ ước gì xa xôi
bởi vì giấc mộng của chúng ta là có thật
hoặc sẽ có thật trong bờ cõi nhỏ nhắn
nhưng đôn hậu và tình tứ này.
43.
Con người vì một sự thông minh thiên phú
đã biết biến nơi cõi tạm này thành một chốn cư trú đầy huyễn hoặc.
44.
Có những kẻ thấy được thiên đường.
Có những kẻ thấy được địa ngục.
Và có không ít những kẻ bị chọc mù đôi mắt
khi đi qua tình yêu.
45.
Tình yêu có thể nâng bổng con người
nhưng cũng lắm lúc nhấn chìm kẻ háo hức.
Trịnh Công Sơn - Một hôm thấy ta là lá cỏ, ngồi hát ca rất tự do - Phần 2
46.
Tình yêu có lẽ là lời nói dối uyên thâm nhất của trái tim.
47.
Con người chỉ là một loài thiêu thân vô tội
bay mãi vào ảo-tưởng-tình-yêu.
48.
Bởi cái chết đã dựng hình tượng trong cõi sống…
Chỉ có trong tình yêu
ta mới bắt gặp được cái chết của chính mình.
Tình yêu cũng mở ngõ cho những lần hoá kiếp.
Hãy thử bước vào thế giới đó để khởi đầu
bằng một cái chết thật vô cùng yêu dấu.
49.
Chấp nhận tình yêu
là chấp nhận một thứ có có, không không,
đùa đùa, thật thật.
Nó vô hình tướng nhưng làm rã tan hồn phách.
Không có nó thì đời sống không biết sẽ tẻ nhạt đến dường nào.
Thôi thì đành có nó vậy.
50.
Tôi là kẻ vô đạo trong tình yêu
những khi tôi giận hờn cuộc đời.
Khi cuộc đời yêu tôi,
tôi sẽ là tín đồ của tình yêu.
51.
Tôi yêu và tôi tồn tại.
Yêu và tha thứ.
Tha thứ và yêu.
52.
Tình yêu cứu vãn hư không.
53.
Có lẽ trong các trò chơi chung
thì trò chơi tình bạn là ít gây phiền não nhất.
Nó chỉ có thể vui nhiều hoặc vui ít
chứ không thể làm nên những đoạn trường.
54.
Tình bạn thường có khuôn mặt thật hơn tình yêu.
55.
Hạnh phúc là một điều không bao giờ có thật.
Nếu có thật thì những nhà tiên tri vĩ đại đã không nhọc lòng
bịa đặt thêm Thiên Ðường và Niết Bàn để làm gì nữa.
Cái hạnh phúc ở Trần Gian chính là ý thức được khổ đau.
Ðau khổ nên phải biết rộng lòng với nhau hơn,
tử tế hơn, độ lượng hơn, biết tha thứ, nhân hậu hơn.
Bài học ấy không dễ gì, bởi Cuộc Sống cho đến nay
điều Thiện vẫn còn vắng bóng.
56.
Khi ta cho mà tâm ta vô cầu
thì mầm từ bi đã đâm chồi và quả hân hoan đã kết trái.
Lòng ta vui sướng tràn trề hạnh phúc mà không hiểu vì đâu.
Không hiểu vì đâu vì cái ta cho đã được trả lại gấp nhiều lần hơn
và làm ta mất phương hướng.
57.
Làm việc thiện
không phải là lưu giữ một thứ của cải riêng cho mình.
Nếu cần tích luỹ thì hãy tàng trữ cái kho báu ngọt ngào
mà đời đã ban tặng cho ta.
Chính điều đó đã nuôi sống ta
và làm cho trái tim ta trở thành bất hoại.
58.
Ðừng để hồn mình mòn đi vì những tổn thương
tưởng có thật mà không thật.
59.
Thần tượng của mọi người đôi khi là một tai nạn.
Ðừng bao giờ đồng hóa thần tượng với một nô lệ.
Ðừng nhốt nó vào cái lồng riêng của mình.
60.
Nếu đủ sức giương cung, hãy chọn mũi tên định mệnh.
61.
Tôi không có ý ngờ vực lòng can đảm.
Nhưng tôi sợ hãi ngộ nhận.
62.
Nỗi bất hạnh lớn nhất của chúng ta
là luôn luôn có một kẻ thù để chống lại.
Trong suốt hành trình của lịch sử,
những kẻ thù mang tên khác nhau.
Bất hạnh lớn dần để trở thành hiểm họa
khi hai kẻ thù nghịch mang cùng một tên chung.
63.
Kẻ làm ra chiến tranh buộc lòng phải gọi là kẻ ngu dốt.
64.
Mỗi dự phóng về hạnh phúc con người đều là nguồn cội của hố thẳm.
Dự phóng càng lớn, càng dài càng xa cách con người…
Đến lúc đạt được đỉnh cao
thì chính là lúc kề cận nhất với vực sâu.
Và có thực sự đó là một đỉnh cao?
65.
Tôi gọi những kẻ muốn lấp biển vá trời
là những con người đam mê tuyệt vọng.
"Mọi đam mê đều vô ích".
Đam mê tuyệt vọng dẫn ta về hư vô.
Bao nhiêu cánh cửa hư vô đã mở toang
cuối những chặng đường đẫm máu của lịch sử nhân loại.
66.
Ta sẽ không bao giờ còn thấy bóng dáng của vinh quang.
Vì trên những xác chết của anh em
sự vinh quang phải giấu mặt.
67.
Ðôi khi tôi tự hỏi:
Có phải tôi là kẻ hạnh phúc hơn nhiều người?
Không phải bất kỳ ai cũng có thể sống trong một đời
dưới nhiều hình thái xã hội khác nhau.
Tôi là ai vậy? Tôi, hình như,
đã có lúc mang thân phận chiến tranh, rồi hòa bình,
rồi tư sản và rồi cộng sản.
Cái lý lịch đa mang này cũng đủ để tôi tự thấy
mình là một loại công dân ngoại hạng.
68.
Sự phản bội còn mạnh hơn bạo lực.
Và chỉ có sự phản bội mới làm ta xa lìa nhau.
Còn bạo lực thường không có một đời sống lâu dài.
69.
Ta biết tha thứ những điều nhỏ
thì cuộc đời sẽ tha thứ cho ta những điều lớn hơn.
70.
Khi một người biết tự tha thứ cho mình
thì đồng thời cũng phải biết tha thứ cho kẻ khác.
71.
Tôi tin rằng sẽ có lúc tất cả mọi người
đều cảm thấy mình thật sự hạnh phúc
khi biết xóa đi cái biên giới thù nghịch trong lòng mình.
72.
Tôi đang tập hành Thiền về sự lãng quên.
Lãng quên những gì không cần thiết cho đời
và cho chính bản thân mình.
73.
Quên và biết quên cũng là một lẽ sống ở đời.
Biết quên nên đời bỗng nhiên biết cất tiếng hát.
74.
Cái chết chẳng qua cũng chỉ là một sự đùa cợt sau cùng của sự sống.
75.
Hãy biết yêu như thế nào đó
để cái chết chỉ còn là một tồn tại viển vông, chẳng cần thiết.
76.
Sống làm thế nào cho tròn đầy sự có mặt
và chết cho ngập tràn cõi hư không.
77.
Thấy và Biết
và từ đó làm nảy sinh một nụ cười tủm tỉm,
một thoáng cười hàm tiếu
là La Joconde của Léonard de Vinci
mới có thể trong muôn một so sánh được.
78.
Tôi không quan niệm tìm đến với Phật tính trong cõi riêng mình.
Đó là quê hương, là chiếc ngai Phật. Tôi ngồi.
Phật sẽ tràn ngập tôi và tôi sẽ tràn ngập Phật.
79.
Có kẻ đứng trước bao la mà không thấy được bao la.
Có kẻ ở buổi bình minh,
nghe tiếng chim hót đã chạm mặt với cõi vô lượng.
Biết được vô lượng là cùng lúc đến với vô biên…
Cái vô biên nằm đâu đó trên cánh vạc chở hoàng hôn về núi mỗi chiều.
80.
Đi vào cõi bao la người ta nhận ra được nỗi hân hoan trong lòng.
Khi bắt được cái nhịp của trời đất, lòng ta bỗng reo ca,
nhảy múa trong một hòa âm thuận chiều.
Một cái gì đó soi tỏ đời ta như đạo đạt.
Đó là cái bước nhảy hân hoan, nối liền trời với đất
81.
Sự bất tử không có trước có sau
mà thường nó nằm ở điểm mà mọi cơ duyên cùng hội tụ.
(Lưu ý là việc tuyển chọn một số câu nói của Trịnh Công Sơn trên đây chỉ là gợi
ý để mọi người cùng tiếp nối và bổ sung. Phần lớn chúng được rút từ kho sưu tập
về Trịnh Công Sơn trên trang http://www.suutap.com/trinhcongson/)
Trong Âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông Hoàng
Mùa thu. Gõ cửa. Vào. Anh Văn Cao ngồi trước chiếc bàn có tẩu thuốc lào và ly
rượu, 8 giờ sáng.
Không bao giờ ra Hà Nội mà tôi không ghé anh Văn. Anh Văn ngồi. Ngồi ở sạp gỗ
cũ kỹ như đã ngồi hằng trăm năm. Ngồi tóc bạc phơ, râu cũng bạc phơ. Chỗ ngồi
đã mòn. Lưng dựa đã mòn. Ngồi như thế ích gì anh Văn. Anh nói: "Lấy cái ly
sạch cho Sơn đi bà". Buổi sáng mùa thu uống rượu với anh Văn và nghĩ ngợi.
Có những con đường anh Văn đã đi.
Có những con đường tôi cũng đã qua.
Những con đường ấy có lúc gặp nhau, có lúc chia lìa.
Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng.
Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy
thả chơi.
Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa
cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong thân phận
riêng tư.
Quanh anh Văn là tranh. Là thơ. Là nhạc.
Vốn liếng cạnh tôi, nhỏ nhắn vô cùng, cũng là tranh, là thơ, là nhạc.
Anh và tôi đi trên cùng một con đường. Nhưng anh là anh và tôi vẫn là tôi. Cái
lớn vô cùng và cái nhỏ cũng vô cùng. Thế mà vẫn gặp. Sự gặp gỡ bình sinh không
biết hết. Sự gặp gỡ muộn màng giờ đây tôi muốn hát cho anh nghe.
Khúc hát trễ tràng, giấu kín những điều thầm lặng. Thật đấy.
Tôi hát anh và tôi hát tôi.
Anh đi qua cuộc đời và hát.
Tôi cũng đi qua cuộc đời và hát.
Hát cho người và hát cho mình. Thế thì anh muốn gì hỡi hoàng tử bé -petit-
prince-râu tóc bạc phơ?
Đời sống gọn gàng, bé nhỏ. Đôi khi (?) rộng lớn vô cùng.
Anh bé nhỏ và anh rộng lớn.
Văn Cao. Văn Cao.
Thân anh gầy yếu không dựng nổi một mùa. Nhưng tôi nghe trong âm nhạc
anh gió vẫn chuyển và cây thay lá.
Anh sống và anh cười thầm lặng. Cái chua xót ẩn kín đằng sau những nếp nhăn.
Anh biết và anh biết hết.
Nhưng anh cũng khờ khạo như trẻ thơ.
Anh ngủ yên nhưng anh tỉnh thức. Thi ca và triết học trên hai bàn tay anh như
nâng đỡ cuộc đời.
Sống chết là số phận con người. Anh đâu cần biết. Anh đã từng nhiều năm nặng nợ với âm nhạc, thi ca, hội họa. Điều ấy có thật nhưng nhiều khi tôi vẫn
băn khoăn tự hỏi: Anh là ai mà lưu lạc giữa chốn Thiên thai này?
Tháng 12-1987.
Trước tiên là sự ám ảnh…
Với một nhạc sĩ đã sáng tác hơn 600 ca khúc - mà phần lớn được yêu thích ngay
từ khi ra mắt lần đầu - lắm lúc người ta phải tự hỏi sức mạnh nào đã đưa ông đi
đến những bờ cõi tuyệt vời của sáng tạo không ngừng ấy?
Trong triết học Mật tông có nói đến khái niệm về sự bùng nổ ý thức; tương tự,
sáng tạo của con người cũng có những giây phút bùng nổ như vậy. Tất nhiên trước
đó ta phải mang nặng trong tâm trí những ý tưởng, hình ảnh, triết lý… liên quan
đến đề tài cần sáng tạo.
Trong sáng tác ca khúc chẳng hạn, trước khi viết ra một bài hát, tôi cũng phải
suy nghĩ về nó rất dài lâu. Khoảng thời gian đó là vô hạn định, có thể là một
ngày, một năm hay lâu hơn nữa. Đến khi tác phẩm hoàn toàn rõ ràng trong đầu thì
việc chép ra có thể chỉ trong phút giây. Đó chính là giây phút bùng nổ quan
trọng nhất của sáng tạo, nó vỡ ra tất cả những gì chưa giải quyết được còn dồn
lại trong đầu bấy lâu. Nếu chỉ nhìn vào thời gian tác phẩm được ghi lại - có
thể là một giờ, một ngày - người ta có thể cho rằng việc sáng tạo thật ngắn
ngủi và dễ dàng, nhưng có ai tưởng được rằng tất cả những điều đó đã được tích
lũy qua năm tháng. Bất cứ tác phẩm nào cũng phải như thế cả. Sáng tác nào không
được phát thảo trước trong ý thức như vậy, thì khi nó ra đời cũng chẳng có giá
trị gì.
Đôi khi ai đó thấy tôi lang thang trên phố, đứng ngắm một bức tranh hay che tay
đứng nhìn một ngọn nắng; cứ tưởng là chơi, nhưng đó là những lúc trí óc tôi
đang loay hoay với đề tài mà mình đang suy tưởng. Trên 600 ca khúc tôi viết –
ví dụ như bài Hoa Xuân Ca hay Quỳnh Hương - đều ra đời như vậy, từ một hội ngộ
kín đáo giữa tôi và cuộc đời trong một dịp ngẫu nhiên nào đó. Nhìn thấy một ánh
nắng, một giọt mưa hay một người con gái trên đường, trong tôi có thể bỗng vỡ
vạc những cảm giác cuối cùng ập đến, khơi mở, hoàn thiện cho một cái mới. Muốn
được như vậy tôi phải làm một chứng nhân của nắng mưa, của sáng chiều, sớm tối.
Những cái tưởng chừng lặng lẽ đó đầy sức sống và ban tặng cho mình vô vàn những
điều sâu sắc. Tôi cũng làm chứng nhân về những người già, em bé, những người
thiếu nữ, sự hạnh phúc, cái chết, sự sống. Mỗi khi ghi nhận những hình ảnh đó
vào trí nhớ, tôi bao giờ cũng bị giam, bị vây nhiều giờ phút nghĩ về con người
và soi rọi lại mình để hình thành một ca khúc.
Cũng có những tác động tưởng chừng là bất ngờ ập đến, tạo ra một niềm cảm hứng.
Nhưng hãy ngẫm nghĩ mà xem, nếu như không có sự tư duy, nuôi dưỡng từ trước thì
cảm hứng chẳng thể nào trào dâng lên được. Ngược lại, sự ngỡ ngàng do cái mới
bất ngờ ập đến chỉ có thể tạo nên sự trống rỗng, vô hồn, hoặc chỉ đơn thuần ghi
chép lại chứ không là sáng tạo.
“Một hôm thấy ta là lá cỏ, ngồi hát ca rất tự do…”, tôi còn nhớ ca khúc này và
sự chiêm nghiệm của mình như là một tổng kết những gì mà tôi cảm nhận được từ
cuộc đời của tôi, của mọi người. Thực lòng mà nói, tôi chịu ảnh hưởng của
Albert Camus trong bài hát này. Trong tác phẩm Ghi chép ở Angieri (Notes
d’Algérie), ông ghi lại những tiếng chó sủa ban đêm, những bước chân đi mà ai
cũng có thể một lần nghe thấy trong đời mình nhưng không mấy người nhìn ra được
điều đó từ chúng. Ngẫm lại đời mình, tôi thấy tôi nhiều muộn phiền. Không hiểu
vì sao tôi đã ray rứt về sự ra đi, ở lại của cuộc đời từ rất sớm. Tôi đã chọn
hình tượng lá cỏ để ví với mình. Vì sao lại là lá cỏ? Có thể cuộc đời rộn ràng
có quá nhiều điều để ta phải lưu ý, nhưng trong đó không thể không có sự góp
mặt của những điều nhỏ nhoi. Ngọn cỏ, lá cây hay cây đa đều có bổn phận của nó
với cuộc đời. Cỏ có bổn phận cỏ, lá có bổn phận lá. Tôi không mơ ước gì to lớn,
mà nghĩ mình như một phận cỏ hèn. Vì hèn mọn nên nó không phải to lớn và có bổn
phận nặng nề như cây đa, vì vậy nó tự do lắm. Và vì sao lá cỏ lại hát? Bài hát
là phương tiện để bày tỏ lòng mình với cuộc đời, có gì đẹp hơn chiếc lá cỏ nhỏ
nhoi nhưng tự do ca hát với đời mình? Rũ bỏ những muộn phiền và thảnh thơi đời
mình, điều này đã ám ảnh tôi từ lâu, lâu lắm rồi, nhưng chỉ đến khi viết được
những câu hát như vậy tôi mới thấy nhẹ lòng. Ý tưởng này quanh quẩn trong tôi
nhiều năm và chỉ được giải tỏa khi sáng tạo vụt đến và bật được thành những
giai điệu như vậy.
Tôi cũng muốn nói với các bạn trẻ sáng tác sau này, ngoài sự tư duy về tác
phẩm, về đề tài, còn phải tạo cho mình một nền tảng về triết học. Chính từ đây
mà trong tác phẩm của mình mới có được sự sâu sắc. Nếu như ít đọc sách thì mình
chẳng thể nhận thêm những chiêm nghiệm sâu sắc của người khác. Một mình mình
suy nghĩ thôi thì không đủ vốn liếng với cuộc đời. Chính tôi cũng không thể
đứng ngoài con đường ấy được…
TUẤN KHANH ghi (Báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật số ra ngày 10/11/1996)
Tự Bạch
Hội họa và âm nhạc là hai người bạn đồng hành trong nghệ thuật. Mỗi người tự là
tiếng nói của mình đồng thời cũng là tiếng nói của người kia. Trong âm thanh có
màu sắc và ngược lại, trong màu sắc có âm thanh. Khi bạn đứng trước một bức
tranh hoặc nhiều bức tranh, trong yên lặng, bạn sẽ nghe từ những khối màu, từ
những đường nét vang lên một thứ âm thanh mơ hồ nào đó. Và nếu bạn là nhạc sĩ
bạn có thể ghi chép lại và cùng hợp tấu với những âm thanh kia.
Và cũng tương tự như thế, khi bạn nghe một bản nhạc, bạn đắm chìm vào bản nhạc
ấy và trong khối lượng âm thanh kia bỗng nhiên mở ra cho bạn một không gian đầy
màu sắc, lung linh, óng ả mà có thể bạn chưa bao giờ nhìn thấy.
Có nhiều điều tôi chỉ vẽ mà không diễn tả bằng âm nhạc được. Lúc ấy tôi phải sử
dụng ngay cọ, màu và bố (toile). Ngược lại có những chủ đề chỉ dùng âm nhạc
mới nói được những điều mình muốn nói.
Tôi đã làm công việc song hành này trong rất nhiều năm và cảm thấy không hề có
sự va chạm hoặc đổ vỡ nào trong nguồn cảm hứng cả. Với tôi đấy chỉ là một cuộc
vui chơi và đã xem là cuộc chơi thì tất cả chỉ nhẹ như tơ hồng.
Tựa
Ai đi qua cuộc đời mà không tiếc thương. Đời sống thì dài mà đời ta thì ngắn.
Có những khi ta ngồi thẫn thờ nhìn ngắm cuộc đời và tự hỏi: đời ở đâu và ta ở
đâu.
Hoàng Xuân Giang viết nhạc như một cách nhìn ngắm cuộc đời để rồi bày tỏ lòng
mình. Nhưng cuộc đời im lặng, xa xôi, và Giang hốt hoảng, trong phút giây, muốn
níu kéo một điều gì vô hình mà lẽ ra rất thực. Giang viết và nói: “Hãy nhìn tôi
như thế”. Hãy nhìn tôi như thế vì đời quên lãng tôi, vì tôi nhỏ bé, vì tôi sẽ
biến mất trước khi cuộc đời vội vã nhớ lại như một thoáng ăn năn vô vị.
Những điều gì Hoàng Xuân Giang muốn nói thì gần như đã nói được trong những ca
khúc của mình. Nói mà không nói bởi vì cái lẽ vô ngôn trong những xô bồ ngôn
ngữ làm sao Đời chia xẻ hết được.
Nói nhiều mà như vẫn chưa nói được gì. Đó là nỗi buồn riêng của người muốn gửi
gấm cái tôi riêng trong cuộc đời chung, cuộc đời chung ấy luôn luôn rộn rã những
tiếng cười vui và những vóc dáng, những tiệc đời vô tận của nhan sắc trần gian.
Ai đi qua cuộc đời mà không tiếc thương. Giang đi qua cuộc đời cũng phải tiếc
nhớ một điều gì đó. Tiếc nhớ mà bất lực vì đời sống thì dài vô tận mà đời ta
thì ngắn vô cùng.
Saigon, tháng 4/1994
Văn Cao: Cuộc ra đi mãi mãi âm vang
Le dernier des Mohicans. Có lẽ là thế. Ở bầu trời Hà Nội, anh Văn Cao là một
mohican cuối cùng đã ra đi. Còn lại những ai nữa với một tấm lòng bao la yêu
đời như thế. Có nhiều người nghĩ và hiểu nhầm anh Văn không biết vui cười.
Theo tôi, anh Văn Cao rất biết cười và đùa cợt. Tôi đã từng là đối tượng để
anh vui cười. Và từ đó chúng tôi đã thành hình một cuộc chơi đầy thú vị. Cuộc
chơi riêng lẻ mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu được vì sao. Sống là vui và
yêu đời nhưng luôn luôn vẫn có cách yêu đời thế này thế nọ. Tôi thường nói với
anh Văn, ta cứ theo cách mình mà yêu đời và yêu người.
Khi nhà đại danh họa Salvador Dali mất, tình cờ tôi đọc trên báo Paris Match
với tựa đề lớn: Người họa sĩ siêu thực vĩ đại cuối cùng của thế kỷ đã ra đi.
Ra đi có nghĩa là không còn ở lại với đời nữa. Và ra đi đồng thời cũng hàm ý
một cuộc trở về. Trở về với quê nhà, với cố quận. Nói và nghĩ thế để sự mất
mát không còn là một nỗi đau thương. Anh Văn Cao ra đi nhẹ nhàng như gió
thoảng. Không nợ nần chi với cuộc đời và để lại cho đời nhiều giá trị.
Anh Văn Cao là nhạc sĩ hay thi sĩ hay là họa sĩ tôi không còn nhớ. Chỉ nhớ một
điều duy nhất anh là một con người. Tôi đến với anh Văn Cao bằng một thứ chiều
dài có thể đo lường được. Không dài lắm và cũng không ngắn lắm. Vừa đủ để hai
người có thể uống cùng nhau những ly rượu của một cuộc đời riêng chung. Ở đó
có niềm vui và đồng thời cũng có nỗi buồn. Cõi lòng anh tôi chưa đào hết và
cõi riêng tôi anh cũng chỉ biết một phần. Cần gì phải hiểu hết nhau mới trở
thành tri kỷ. Tri kỷ đôi lúc chỉ vì một cái nhìn, một tiếng nói. Con mắt trẻ
thơ trong anh và trong tôi đã từng thấy xuyên suốt những hài nhi đáng yêu và
những mệnh phụ kiều diễm đáng ghét.
Anh Văn ơi, có thể nào cuộc đời của một con người chỉ có từng ấy thôi. Tôi tin
rằng những va chạm ly cốc giữa anh và tôi vẫn còn âm vang mãi trong cuộc sống
này. Tiếng long cong của thủy tinh còn rớt lại mà anh thì đã ra đi.
Anh đã không giữ nổi lời hứa: Chúng tôi sẽ sống đến thế kỷ thứ 21. Thế kỷ ấy
đang ở trước mặt chúng ta và đang dần dần đến. Quá buồn và quá nuối tiếc vì
một thế kỷ đầy hứa hẹn như thế mà anh không có mặt.
Văn Tự
Trên mặt đất này, từ rừng núi, những làng quê đến các đô thị, ở đâu cũng có các
con đường để đi. Con đường có thể rất thô sơ, có lúc rất ngoạn mục để từ đó con
người đi tìm những con người hay tìm đến những chốn những nơi cần cho những công việc riêng tư.
Có những con đường rừng núi do bàn chân người đi mãi thành một lối mòn.
Có những con đường do sự sắp xếp của đầu óc theo một mô hình để con người thong dong đi đứng do bàn tay con người làm nên. Dù bằng cách nào thì những con đường ấy vẫn có bổn phận giúp cho con người tìm đến một nơi nào đó mà mình thích. Có những ngã ba, ngã tư, ngã năm, sáu, bảy và vào thời đại này
những con đường lại chồng chéo lên nhau từ những tầng rất cao đến những tầng thấp sâu.
Những con đường ấy làm nên một thứ văn tự hay nói nôm na hơn là một thứ chữ
viết báo hiệu sự có mặt của đời sống con người.
Con vật cũng có lối đi riêng. Mỗi loài chim đều có một thứ văn tự viết bằng
đường bay của chúng trên bầu trời. Văn tự của con kiến được con người đặt tên
là “file indienne”. Và còn biết bao nhiêu loài vật khác, cả đến những loài côn
trùng vô danh cũng đều có một loại văn tự riêng biệt mà chỉ có chúng mới tự
nhận ra. Đó là một kiểu văn tự viết bằng sự sống riêng biệt của muôn loài.
Bèo dạt hoa trôi có một kiểu văn tự trên nước. Ecriture sur l’eau. Trên những
sông ngòi quê ta có đời sống của lục bình, của bèo làm những cuộc phiêu du
không ngừng nghỉ. Chúng như một bộ lạc du mục cứ mãi ra đi và đã vẽ lên một thứ
văn tự trên dòng nước. Có người ngồi bên dòng sông ngắm nhìn đám lục bình trôi
đi và phút chốc bỗng ngậm ngùi về một thứ văn tự hồn nhiên đã tan biến vào hư
không.
Đó là cuốn bạch thư hùng vĩ mà muôn loài đã để lại cho bầu trời, mặt đất và
sông nước.
Những văn tự hư ảo phiêu bồng đó dù không được lưu trữ nhưng trong trí nhớ của
những người thích suy tưởng về cuộc sống chung, nghĩ lại đôi lúc cũng bồi hồi.
Về niềm bí ẩn của con người
... Tôi bỗng thiết tha nghĩ rằng trong đời sống lớn này có quá nhiều đời sống
nhỏ. Mỗi đời sống nhỏ là một định mệnh lẻ loi. Có khi là một hòn đảo hiu hắt
với một loại đam mê buồn tẻ riêng biệt. Những ý nghĩ như thế thường kéo dài,
nối liền với những ý nghĩ khác và bao giờ cũng tan biến bằng một nỗi thất vọng
mơ hồ cùng với sự mỏi mệt của trí óc.
Một vài khi tôi muốn tránh thật sự những ý nghĩ tuyệt nhiên không có lợi ích gì
cho hạnh phúc của mình - Nhưng sao tâm hồn tôi dễ mở ra để đón nhận những điều
buồn bã quá. Nhất là những hình ảnh mà, dưới con mắt tôi, không mặc lấy thứ ánh
sáng bình thường của cuộc đời này. Tôi nghiệm ra rằng cái thứ triết lý về nhân
sinh đã trở thành một thứ triết lý bình dân. Mỗi người đều đã một lần thắc mắc
về sự sống chết - Cũng khó hiểu thật khi con người chỉ sinh ra để chờ chết - Một
cuộc hẹn hò có khi dài hạn có khi ngắn hạn nhưng tựu trung không có gì vui vẻ.
Bao nhiêu khối óc tinh mẫn của nhân loại đã không ngừng cúi xuống đời sống con
người để cố đào xới lên niềm bí ẩn - Có lẽ người ta đã nghĩ rằng điều bí ẩn nào
cũng dấn thân vào một đáy sâu đến được. Đã có bao nhiêu cuốn sách dày cộm, kể
cả Kinh thánh, dẫn giải về điều bí ẩn đó nhưng sao tôi vẫn chưa thấy được tí
ánh sáng nào. Vẫn còn lạc loài trên những ý nghĩ gượng gạo về nhân sinh. Lòng
khát khao tìm đạt tới được đời mình vẫn thôi thúc không nguôi. Nhưng niềm tin
thì đã bị dát mỏng đi nhiều. Một vài lần tôi đã nghĩ sao mọi người không thử
ghi lại đời mình bằng sự kiện, tình cảm, và ý nghĩ cùng những kinh nghiệm đã
sống, đã thấy đã nghe - Tất cả những tập ghi chép đó mang để vào một nơi làm kho
tàng cho đời sau nghiên cứu. Đó có thể là đầu mối dẫn về niềm bí ẩn của con
người...
Một xứ sở đau thương và yêu hòa bình...
Vết thương tỉnh thức
Những ngày tháng này tình bạn và tình yêu mang đến một niềm vui sống lạ kỳ. “Hãy yêu như đang sống và hãy sống như đang yêu. Yêu để sự sống tồn tại và sống
cho tình yêu có mặt”
Có những cánh cửa mở vào hư vô và cũng có những cánh cửa mở ra những cánh đời
nhộn nhịp. Ta không khước từ hư vô và cũng không xa lìa cảnh nhộn nhịp của đời.
Ta đã may mắn đi qua những tuyến đường đưa đến hạnh ngộ. Hạnh ngộ trong tình
bạn. hạnh ngộ trong tình yêu.
Nếu đã có một ngày sinh nhật dĩ nhiên sẽ có nhiều ngày sinh nhật nữa. Mà hình
như trong cảnh ngộ cuộc đời riêng - chung của chúng ta ngày nào mà không là
ngày sinh nhật, bởi vì cái màu sắc của lễ lạc đã tự bao giờ khoác lên trên mỗi
ngày chúng ta đang sống.
Xin cảm ơn cuộc đời và cảm ơn tất cả mỗi ngày chúng ta đã có mặt mỗi ngày bên
nhau. Ly rượu nồng nàn của đời biết bao giờ uống hết được.
Tình yêu thương mang đến khổ đau nhưng đồng thời tình yêu cũng mang đến hạnh
phúc. Có một lá cờ bay trên hạnh phúc và có một đóa quỳnh héo úa ngủ trong khổ
đau. Cố gắng tránh đừng than thở. Thử thở dài một mình và quên lãng.Ta không
thể níu kéo một cái gì đã mất. Tình yêu khi đã muốn ra đi thì không một tiếng
kèn nào đủ màu nhiệm để lôi về lại được. Tình yêu là tình yêu. Trong nó đã sẵn
có mầm sống và sự hủy diệt.
Tình yêu tự đến và tự đi, không cần ai dìu dắt. Nó hoàn toàn tự do. Muốn giam
cầm thì nó sẽ bay đi. Muốn thả nó bay đi có khi nó ở lại.
Vì có tình yêu nên có lễ hội. Người ta bắt đầu bằng những cuộc viếng thăm, lui
tới, áo mũ xênh xoang, bánh trái lồng đèn heo ngỗng… Những cuộc rước dâu pháo
nổ đì đùng, trống kèn inh ỏi. Lễ hội mở ra trên đường,trong làng, trong xóm: lễ
hội mở ra cả trong lòng người
Thường vào mùa thu là mùa lễ hội tình yêu. Có những lễ hội kéo dài suốt cả một
đời người. Có những lễ hội có một đời sống đôi khi quá ngắn ngủi.
Đến một lứa tuổi nào đó, chia vui và chia buồn đều có một nỗi mệt nhọc như
nhau.
Có những người yêu đã ra đi bỗng một ngày nào đó trở lại. Vì sao? Không vì sao
cả. Vì một chọn lựa tưởng rắng đã đúng cuối cùng sai. Và đã trở lại với một
người mình đã phụ bạc để muốn hàn gắn lại một vết thương. Một vết thương nhiều
khi đã lành lặn lâu rồi bất chợt vỡ oà như một cơn tỉnh thức. Tỉnh thức trên
vết thương. Trên một nỗi đau tưởng đã thuộc về quá khứ. Nhưng không, không có
gì thuộc về quá khứ cả.Thời gian trôi đi và vết thương vẫn còn đó. Nó vẫn chờ
được thức dậy một lúc nào đó để sống lại như chính bản thân nó là một vết
thương.
Nhưng vết thương khi đã được đánh thức thì nó không còn là vết thương cũ vì giờ
đây nó là một vết thương tỉnh thức. Một vết thương tỉnh thức là một vết thương
biết rõ nó là một vết thương. Nó thức dậy và nó nhận ra rằng nó đã được khai
sinh trên tâm hồn một con người và đã có một thời gian dài làm đau đớn con
người đó. Vết thương tỉnh thức là một con mắt sáng ngời. Nó nhìn ngược về quá
khứ và ngó thẳng đến tương lai. Nó mách bảo cho chủ nhân của nó rằng không có
một vết thương nào vô tư mà sinh thành cả. Nó là một nỗi đớn đau như trời đất
trở dạ làm thành một cơn giông bão.
May thay trong cuộc đời này có tình yêu vừa có tình bạn. Tình bạn thường có
khuôn mặt thật hơn tình yêu. Sự bội bạc trong tình bạn cũng có nhưng không
nhiều.
Tôi thấy tình bạn quí hơn tình yêu vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn
hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa.
Cuối cùng không có gì khác hơn là sống và chết. Sống làm thế nào cho tròn đầy
sự có mặt và chết cho ngập tràn cõi hư không. Phải đến tận cùng hai cõi sống
chết để làm tan biến đi những giấc mơ mộng đời không thực.
Viết Bên Bờ Loiret
Tôi đã nhớ Paris dù chưa bao giờ gặp. Tôi nghĩ về Paris từ lâu lắm. Những dòng
suy nghĩ đã trôi đi, không có ngày hẹn. Trôi đi.
Đời sống đã trôi đi đã trôi qua như bây giờ trước mắt tôi là dòng suối Loiret,
nhìn từ căn nhà của Đặng Tiến, cũng trôi đi lặng lẽ. Những con thiên nga cũng
trôi đi trên dòng suối này. Lười biếng trôi đi mà vẫn giữ cho riêng mình một vẻ
đẹp không thể nào trách móc được. Lacdes Cygnes. Ballet về cái chết của thiên
nga. Tháng 5 trời đất đề huề một bầu không khí ấm áp rất thuận lợi cho một cơ
thể ốm yếu như tôi. Paris ồn quá. Ồn ào một cách hơi hỗn đối với những tâm hồn
tĩnh lặng Đông phương. Tôi thích phố xá nhưng không phải là một loại phố xá làm
đau đớn đời sống riêng tư của mình. Về Orléans nghe chim chóc ca hát quanh đời.
Những cây platane già những cây platane phủ xuống một nỗi nhớ nhung riêng.
Tháng 5 những lớp da bệnh hoạn đựoc sưởi ấm. Những giọt máu dưới làn da kia đã
trỗi dậy ca hát một mùa không tuyết phủ.
Tôi không có ai để nhớ và cũng không có ai để quên. Tôi đã nhớ một đời và đã
quên hết nửa đời. Những con thiên nga làm tôi nhớ những đôi chân đẹp. Đẹp một
cách lạnh lùng tự nhiên vì màn đã khép, đôi chân đã về và tôi cũng về với chốn
riêng tôi. Người ta chia sẻ vẻ đẹp và người ta cũng chia sẻ nỗi khổ đau. Nhưng
sự bất khả tư nghi (l'empensable) không ai chia sẻ được.
Paris là ước mơ của một thời tuổi trẻ nhưng bây giờ ước mơ ấy đã không còn ở
lại với tôi. Hoá ra giấc mơ và sự thật không phải là một.
Người ta có thể yêu nhau và ghét nhau nhưng xin đừng hãm hại nhau. Tôi sợ lắm
những gì mang đến bất hạnh cho con người. Hãy cố gắng mang đến cho nhau những
giấc mơ, những giấc mơ làm nên hạnh phúc. Đi đâu, đến đâu cũng chỉ thấy những
nụ cười. Những nụ cười nhhư đoá hồn gđứa bé cầm trên tay đi qua đường phố rực
rỡ một lòng yêu thương vô tận. Chúng ta hình như thừa bạo lực nhưng lại thiếu
lòng nhân ái.
Buổi chiều tháng 5 dòng suối Loiret chảy nhẹ nhàng. Đi bộ từ bờ này sang bờ kia
còn dễ dàng gấp nghìn lần những mùa lũ lụt ở Huế. Buổi chiều ở Orléans bỗng
nhiên tôi thương nhớ quê nhà quá. Có những buổi đầu không bình tĩnh lắm sẽ
trách móc tôi vì sao ở một nơi sung sướng như vậy mà vẫn nhớ nhà nhớ quê. Than
ôi, quê nhà chính là tôi rồi, tôi biết làm sao được.
Paris ơi, đã một thời tôi yêu Paris lắm dù chưa gặp. nhưng bây giờ Paris sẽ là
một trong muôn vàn kỷ niệm của tôi. Đừng buồn vì Paris vẫn là Paris và tôi có
thể chỉ là một người quan sát nghèo nàn chưa hiểu được những gì trong lòng một
Paris muốn giấu kín.
Tôi không còn trẻ và Paris vẫn chưa già. Paris hãy mãi mãi giữ gìn một Paris
như thế và tôi, tôi cũng sẽ mãi mãi giữ gìn một sự mất đi không cần thiết cho
cuộc đời.
Orléans 25-5-1989
Viết Và Thở
Có một thời tôi cần viết nhạc như cần thở vậy. Thời trẻ trung, vọng động, thở
nhiều, viết khỏe. Càng lớn công việc hô hấp càng đề huề, bớt căng thẳng, nhịp viết lách có bề lả lơi lai rai hơn.
Có một bầu không khí dành cho sự hít thở. Vì hô hấp quá cần cho sự sống nên
không mấy ai chịu lười thở. Người ở đồng bằng thở theo kiểu sông rạch trôi đi
miên man lở bồi phù sa, nước phèn, mặn, ngọt. Người thung lũng thở kiểu ẩm đục
sương giăng. Người ở trên non thở hồn nhiên lãng đãng.
Tôi đã đi qua những bề thế ấy, viết và thở. Có khi viết thở kiểu hào hoa phong
nhã công tử Bạc Liêu. Có khi hồn xiêu phách lạc viết thở theo phong thái ngỡ
ngàng rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Lại có lúc thơ thới hồn nhiên viết thở
tựa hồ như những bước chân hân hoan của "Hoàng tử bé" rong chơi qua
mọi vùng sinh thái tinh cầu.
Thời đại chúng ta đang sống, con người xô đẩy nhau la ó về chuyện cần làm sạch
sẽ môi sinh. Càng văn minh càng ô nhiễm khó thở. Không khí vốn là một món ăn
thiên nhiên tạo hoá đã dành sẵn cho lá phổi. Bỗng một hôm, hai bữa, ba bốn ngày nọ tiếp nối đổ xô về hàng loạt những thứ bụi bặm kệch cỡm múa may rối
rắm trên trời dưới đất, trên nguồn dưới lũng, không dung tha, không khoan nhượng. Thứ bụi rác độc hại đã xé toang buồng phổi sự sống của chúng ta. Mọi thứ sinh linh khác cũng khó bề tồn tại.
Không khí vốn vô tư. Ai muốn thở cũng được.
Tôi vốn viết nhạc cũng như thở vậy.
Có điều khi thở tôi chọn cái không khí trong lành để cho lá phổi không than
phiền và cái sự hô hấp cũng bớt đi phần gian nan.
Một bài hát cũng vậy. Hát để thăng hoa đồng thời cũng để an ủi. Sản phẩm văn
nghệ chỉ đẹp khi có khả năng xóa đi những nỗi giận hờn. Nó có bao giờ, muốn đèo bòng một thứ khác để tự hủy diệt nó đâu.
Xin cuộc đời tha lỗi
Trịnh Công Sơn vĩnh biệt Phạm Trọng Cầu
Cái tâm hồn ấy bền bỉ vô cùng với tuổi thơ ngây. Vì vậy anh gần gũi dễ dàng với
một thứ tuổi đời vô tội. Anh yêu thương cái lứa tuổi hồn nhiên và từ đó cái tên
Bố Cầu đã ra đời để tôn vinh danh dự cho một thứ ngôi sao vô cầu trong cuộc
sống. Ðời dễ thương vậy nên anh cuối cùng cũng là kẻ Trọng Cầu mà vô cầu. Vì
anh đã không mưu cầu một điều gì cả ở cái thế giới thơ ngây nên đời đã trả lại
cho anh một vết son rực rỡ trong tâm hồn vừa đủ để nuôi dưỡng một giòng sống
vừa rạng rỡ vừa tĩnh lặng. Rất nhiều khi anh cố tình va chạm cuộc đời, va chạm
cả những người xung quanh nhưng may thay những va chạm ấy không gây nên đổ vỡ
vì hầu như mọi người đều hiểu rõ những va chạm ấy không phải cố tình để tạo nên
những vết thương.
Một người đã đi qua cuộc đời và ca hát. Ðã viết nhiều ca khúc gần với sự đớn
đau nhưng không chìm sâu trong đớn đau. Tôi vẫn luôn luôn muốn nghĩ rằng anh là
người muốn viết về những điều gần gũi với hạnh phúc nhưng thật ra hạnh phúc và
bất hạnh đã từ xa xưa có một mối tình không xa lìa nhau được nữa.
Ông Cầu ơi, tôi vẫn thường gọi ông như thế, chúng ta đã sống và đã ca hát cùng
với mọi người, cùng với đời. Chẳng có gì để ân hận. Ra đi, sớm muộn gì cũng vậy
thôi. Chỉ tiếc rằng cuộc sống vẫn còn nhiều điều mà ta chưa hiểu hết. Cuộc sống
mầu nhiệm, đẹp đẽ biết bao. Xa lìa nó quá sớm cũng là mang tội. Xin cuộc đời
tha lỗi cho Cầu, cho ông.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét