Phát triển
Nội dung quyết định hình thức. Xét cả quá trình văn học lâu dài, các hình thức tác phẩm kế tiếp nhau xuất hiện, tác động vào nền văn học, góp phần tạo ra phát triển văn chương. Bài viết chỉ đề cập đến chủ đề này của cuốn sách.
Sách chia làm 2 phần. Phần I. Văn học và phê bình văn học có
5 bài, gói gọn trong 51 trang, chiếm 23% số trang nhưng dung lượng và kiến thức
mới đưa vào đây được cô đặc, giản hóa phù hợp với độc giả không chuyên về lý luận
phê bình có được một số kiến thức đại cương vừa đủ để đọc phần còn lại của cuốn
sách.
Bảo Bình phân biệt người viết phê bình văn học khác với nghề
giáo bình giảng văn học hay người viết cảm tưởng (cảm nhận và liên tưởng): "nhà
phê bình văn học là người nghệ sỹ chân chính nhất.... họ (cần phải có) trí
tuệ và mạnh mẽ khi sử dụng ngòi bút của mình trên con đường đi tìm chân lý, đi
tìm cái đẹp. Nhà phê bình (văn học) là người có năng lực thẩm định
văn chương, phân tích lý tính, nghị luận..., có hiểu biết sâu sắc, am tường văn
hóa, trực giác mãnh liệt... đó là những yếu tố không thể thiếu ở nhà phê
bình" - trang 10.
Định nghĩa phê bình tác giả văn học ngắn gọn: "phác
họa nên chân dung, sự nghiệp, phong cách, vị trí (trong nền văn học và do
đó nếu không có vị trí, vê lâu dài, sẽ không gọi là tác giả văn học) của
nhà văn" - trang 13.
Phân tích tác phẩm "dựa trên cơ sở lý luận, (nên) có
đối chiếu, so sánh với những tác phẩm, tác giả cùng thời; rồi từ đó nhận diện
khái quát một vấn đề, bày tỏ một quan điểm hết sức rõ ràng, điều chưa ai làm được" -
trang 17. Từ đó cho thấy nếu phê bình văn học không phát hiện cái mới so với thời
đại, hoặc khơi gợi vấn đề mới trong hiện tại với tác phẩm cũ, thì bài viết
không đạt chuẩn mực phê bình văn học xét theo tiêu chí phát triển và cũng không
ích lợi cho người sáng tác cũng như văn hóa đọc.
Nghiên cứu sự phát triển thể loại văn học theo dòng thời
gian, dùng cách biểu đạt hình ảnh và có chiều thời gian do tác giả chỉ ra quy
luật vận động: "Vận động ở đây là sự biến đổi. Là sự đa dạng hóa,
phong phú thêm về thể loại; là sự tiến hóa (phát triển) cao
hơn” - trang 22. “Về bản chất, thể loại đã vận động song hành (trong) cùng
lịch sử văn học” - trang 23; góp phần tạo ra sự phát triển ngày càng
cao hơn. Đó là sự tác động biện chứng của mối liên hệ giữa hình thức và bản chất.
Cách thức thể hiện quy luật này là “sự tương tác: với đời sống, giữa các
thể loại (với nhau) với bên ngoài, và với ý thức sáng tạo, (thúc
đẩy do ý muốn) cách tân chủ thể” - trang 24. Lý do sinh ra thể loại mới “Với
văn học, nhu cầu làm mới cho nghệ thuật là nhu cầu bất tận, và thế là thể loại
mới ra đời” - trang 26.
Bàn về tâm lý học, lĩnh vực luôn ẩn vào tác phẩm văn chương;
Bảo Bình lướt qua Phân tâm học của S.Freud: “cấu trúc tâm lý con người
tương ứng với vô thức, tiền ý thức và ý thức”.Tương ứng với cấu trúc nhân cách:
“Cái ấy: gồm bản năng vô thức, không tính tới các quy tắc và quy định xã hội” –
phần con. “Cái tôi: hoạt động, (bị) điều chỉnh và kiểm soát bởi
thực tiễn” – có ý thức - trang 30 “Cái siêu tôi: bao gồm ý thức và đạo
đức” - trang 31; do giáo dục và ý thức cá nhân xã hội tạo nên được văn học
tận dụng cho mục đích ẩn: hiểu sâu hơn về bản chất con người.
Về thủ pháp viết truyện ngắn, Bảo Bình đã làm rõ hơn, sâu hơn
về 3 loại tình huống nhỏ đan xen cần được đặc biệt chú ý: “Tình huống: tâm
lý / hành động / nhận thức… ít khi tách rời… luôn bổ sung, tương trợ lẫn
nhau” - trang 48.
Để kết lại phần 1, Bảo Bình dẫn ra thể loại thơ mới “Thơ 1-2-3”; “được khai sinh bởi nhà thơ, nhà báo Phan Hoàng” - trang 54 là minh chứng sống động của hình thức vận động trong phát triển của nội dung. Tác giả chỉ ra đặc điểm thể loại thơ 1-2-3: “câu 1 và câu 6 là một mắt xích vô hình, bện chặt. Đó không chỉ là sự hô ứng, mà còn là sự liên kết tứ đầy tính logic và ám gợi (mở). Câu mở và câu kết của bài thơ như ổ khóa và chiếc chìa khóa của nhau vậy, (tạo ra hiệu ứng) sẽ dừng lại nơi tâm hồn hoặc tư duy (và có thể là cả hai của) người đọc một tình cảm, một vấn đề nào đấy cần được quan tâm, chia sẽ và khai mở” - trang 55. Đó là hình thức mới trong nội dung cũ viết về mọi chủ đề mà các tác giả đã viết mòn cả bút được nhà thơ Phan Hoàng tìm ra hình thức thể hiện mới. Và ở đây, Bảo Bình đã nhìn nhận thể loại này như một đột phá của thi ca. Hiện tại, một số nhà thơ sử dụng niêm luật thơ 1-2-3 trong sáng tác của mình.
Có thể nói, ở phần lý luận văn học, tác giả đã mạnh dạn đưa
ra những tư duy riêng biệt về phê bình bên cạnh những lý thuyết đã định hình từ
những ngày đầu của phê bình văn học Việt Nam, như “ Phê bình và Cảo luận của
Thiếu Sơn”, “ Sự cần thiết của điểm huyệt trong truyện ngắn”, “Sự vận động của
thể loại văn học”..v..v..Tác giả định nghĩa vai trò tiên phong của nhà phê bình
văn học. Sự tác động tích cực tạo môi trường phát triển, cũng như tạo động lực
sáng tác nói chung mà nhà phê bình có thể góp sức mang lại cho văn đàn.
Không tìm thấy từ “phê bình văn học” trong từ điển Việt Nam.
Chỉ có mục từ “PHÊ BÌNH – động từ. Đem cái hay hoặc cái dỡ ra mà xét và
tìm nguyên nhân, để do đó phát huy cái hay, sửa chữa cái dở: Gạo càng giã
càng trắng, người càng phê bình, càng hay (Hồ Chí Minh)” - Trang 965; Từ
điển Tiếng Việt - Văn Tân chủ biên, Nhà xuất bản khoa học xã hội, in lần thứ 3
có chỉnh lý bổ sung, năm 1991. Cũng từ điển này, trang 1326 có mục từ “VĂN HỌC –
danh từ. Nghệ thuật dùng ngữ ngôn và hình tượng để biểu hiện tình cảm, tư tưởng,
đời sống”. Ghép hai từ lại chúng ta có cụm từ PHÊ BÌNH VĂN HỌC; và theo
nghĩa trên, cuốn sách này không làm nhiệm vụ phê bình văn học; Cuốn sách không
viện dẫn kiến thức lý luận phê bình văn học, lý luận sáng tác văn học.
Do đó, nhiều học giả định nghĩa phê bình văn học với nghĩa rất
rộng. Gần đây, hiện tượng trí thông minh nhân tạo AI (Artificial intelligence)
bình giảng thơ được một số nhà văn, nhà thơ thích thú do tính duy lý của các
bình giảng và cũng được xem như là phê bình văn học.
Đa số cho rằng: khác với người viết phê bình văn học nghiệp
dư ở chỗ nhà lý luận phê bình văn học được đào tạo bài bản và sau đó tự học
lên…
Nếu đối chiếu với Hoài Thanh, nhà phê bình nổi tiếng nhất 2 thế kỷ ở nước ta, đã có những đóng góp về mặt phê bình, lý luận để khẳng định Thơ mới trong văn học Việt Nam thế kỷ XX; ông chẳng có học hàm học vị giáo sư, tiến sỹ văn chương… có thể nói rằng: nếu tạo ra kết quả hướng dẫn nền văn học phát triển và thẩm định giá trị các tác phẩm trường tồn thì bất cứ họ là ai đều được độc giả tôn vinh là nhà lý luận phê bình văn học thực thụ; các ý kiến, lập luận sẽ được độc giả lưu tâm.
Phần II. Tác giả - Tác phẩm có 22 bài, gói gọn trong 167
trang, chiếm 73%.
Tác giả lập luận độc giả quyết định về đánh giá giá trị tác
phẩm từ đó: “sự định vị tác giả trong tiến trình văn học… không bao giờ bất
biến, vĩnh cữu; bởi nó liên quan đến sự thay đổi các cách đọc hiểu của từng thời
đại, thậm chí từng cá nhân” - trang 37. Từ nguyên lý này, các bài viết về
phê bình tác phẩm được Bảo Bình tập trung phân tích 2 khía cạnh: Đóng góp
của tác phẩm, tác giả ở góc độ định vị tác giả trong nền văn học với góc nhìn mới
của hôm nay, nhưng không phải là bất biến nếu xét từ khi tác phẩm ra đời và mãi
mãi về sau khi nó còn sống đời sống văn học sử.
Đánh giá sự nghiệp thơ của nhà thơ Hoài Vũ: “Tình
cảm mà ông đặt vào (thơ) là một sự vô cùng của cái đẹp, là sự vĩnh hằng
của lý tưởng trong sự lồng ghép các hiện tượng xã hội mang tính lịch sử. Bằng
bút pháp trữ tình xen lẫn tự sự, nhà thơ xuyên thẫm (thẩm thấu) trái
tim thuần khuyết yêu thương vào hiện thực chiến tranh tàn khốc, làm bật dậy những
khát khao cháy bỏng của con người. Khát khao hạnh phúc của dân tộc” ” -
trang 64.
Nhà thơ Hoài Vũ xuất hiện với 3 bài viết trong tập sách
này, đủ để thấy sức ảnh hưởng cũng như sự trân trọng mà tác giả dành cho nhà
thơ. Từ “Thì thầm với dòng sông”, “Gái thời chiến” và rồi “Hoa trong tuyết”: “Dịch
giả Hoài Vũ có sự chọn lọc hợp lý, tinh tường để rồi chuyển ngữ một cách sinh động,
sắc nét và cuốn hút đến lạ lùng. Không khó để thấy rằng những câu chuyện được dịch
thuật ở đây gần với chúng ta về văn hóa, về lịch sử…” Hy vọng khi tái bản,
Bảo Bình sẽ làm rõ hơn về chân dung văn học của nhà thơ Hoài Vũ, nét khác biệt
của nhà thơ; làm nên sự định vị tác giả trong tiến trình văn học Việt Nam như
là đại diện lớn nhất của tác giả thơ lãng mạn cách mạng trong bối cảnh chiến
trường khốc liệt Long An và vùng ven Sài Gòn ở vào những năm tháng chiến tranh
chống Mỹ khốc liệt nhất.
“Nguyễn Minh Châu là cây bút sử thi có thiên hướng trữ
tình lãng mạn…. Nhà văn đã phản ánh hiện thực đời sống / thân phận con người
trong những hoàn cảnh khắc nghiệt, đặc biệt và bi kịch bằng cái nhìn sâu sắc, bằng
cảm xúc xót xa và bằng tâm trạng đau đớn … (nhưng khác với các tác giả
đương thời là tâm trạng) bất lực”. - trang 70 và trang 71. Nếu không
có phát hiện đó, dĩ nhiên Nhà văn Nguyễn Minh Châu, tác giả duy nhất không sinh
ra và lớn lên cũng như không có tác phẩm viết về đồng bằng sông Cửu Long sẽ không
có sự hiện diện trong tập sách này do không có sự định vị vững chắc trong văn học
sử của địa phương. Đọc chậm “ Đồng bằng, âm vang và những nốt trầm”, ta
sẽ nhận ra Bảo Bình không phải chỉ nói về các tác giả đồng bằng, mà cả những
tác phẩm viết về đồng bằng, dù tác giả đó có sinh ra và sống ở bất kỳ đâu trên
đất nước này.
“Thơ Trang Thế Hy – cuộc giao tiếp hữu hiệu giữa nội tâm và
ngoại giới – lồng trong những sắc từ âm ngữ dư ba của một hệ tư tưởng minh triết
và nghiêm khắc về nghề văn và người cầm bút” - trang 78, theo tôi nhận định
này có nét độc đáo, cẩn ngôn và chuẩn xác mà tác giả dành cho nhà thơ Trang Thế
Hy.
Hay, “Đồng bằng Nam bộ với các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer,
Chăm… làm nên một đời sống văn hóa đa sắc màu, độc đáo. Đời sống lao động sản
xuất cần cù, chăm chỉ, chịu thương, chịu khó. Đời sống tinh thần phóng khoáng,
bộc trực, hy sinh. Tất cả, quyện vào nhau, làm nên một đồng bằng trù phú, cuốn
hút và say đắm” - trang 107. Đó là nền để 18 tác giả sinh ra và lớn lên ở
đồng bằng sông Cửu Long tạo ra sự nghiệp văn chương được tác giả Bảo Bình chăm
chút nâng niu nên tìm được nét mới định hình trong nền văn học nước nhà, đưa
vào tập sách. Cách mà tác giả đánh giá về tác phẩm của các nhà văn khiến tôi
trân trọng, Bảo Bình công phu tìm ra những điểm mạnh, cái hay mà tác phẩm mang
lại, đồng thời rất khéo léo, nhẹ nhàng và thuyết phục khi chỉ ra những mặt còn
hạn chế. Trong văn chương, cần lắm thay những ngòi bút tâm huyết thế này.
Phần tác giả tác phẩm Cần Thơ phải kể đến các tên tuổi như:
Lê Chí, Phù Sa Lộc, Trúc Linh Lan...cùng một số cây bút trẻ như: Phan Duy, Huỳnh
Ngọc Huy Tùng. Cũng nhờ có “ Âm vang và những nốt trầm” mà bạn đọc được biết
nhiều hơn đến các tác giả cũng như một số tác phẩm hay, mang đậm giá trị nhân
sinh, đạo nghĩa. Cũng như giúp bạn đọc hiểu sâu hơn về đất và người nơi vùng
châu thổ nghĩa tình. Ở đây, tôi chỉ trích ra những nghiên cứu có hàm lượng mới,
mang tính học thuật cũng như giá trị văn học mà tác giả đã dày công mang lại, để
thấy rằng “ Trong văn chương, trường phái triết học tâm đắc thường sẽ ảnh hưởng
sâu sắc ngòi bút tác giả. Và sự thấu suốt về lý luận, thể loại cũng sẽ tác động
không nhỏ đến thủ pháp nghệ thuật. Cùng với đó là tâm hồn, thái độ, tư duy,
trình độ… khiến mỗi nhà văn, nhà thơ sẽ làm nên sự khác biệt cho mình. Một tư
tưởng, một phong cách, một giọng điệu… không trùng lắp và nhầm lẫn được” trang
221.
Do bài viết chỉ là cởi ngựa xem hoa nên tôi không thể đề cập
chi tiết hết 18 bài viết còn lại. Có lẽ, tìm đọc là cách duy nhất để bạn hiểu
rõ hơn về tác phẩm cũng như một số tác giả nơi vùng sông nước hữu tình này.
Nhà văn Bảo Bình sinh năm Nhâm tý, tên thật Lê Thị Thanh Tuyền.
Nguyên là Trưởng khoa Sư phạm, trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang. Hội viên Hội
Nhà văn Cần Thơ, sống và viết tại Cần Thơ. Khi còn là sinh viên, Bảo Bình đã
sáng tác và có thơ đăng báo. Khi trở thành giảng viên, Bảo Bình là cộng tác
viên thường xuyên của tạp chí ngành, tạp chí văn nghệ Tỉnh. Có nhiều thơ, văn
đăng ở các báo và tạp chí. Trong quá trình làm giáo dục, tình yêu văn chương được
Bảo Bình thể hiện trên bục giảng, và giờ đây “chọn nghỉ hưu trước tuổi để có
nhiều thời gian hơn cho gia đình và viết lách”, Bảo Bình đã tiếp tục hành trình
đam mê văn học bằng ngòi bút sắc bén của mình trên cả lĩnh vực sáng tác lẫn phê
bình. Thơ văn của Bảo Bình đã không còn xa lạ với bạn đọc, một số bài thơ đã chạm
vào cảm xúc của các nhạc sĩ và cất lên thành lời nhạc sâu lắng, như “ Trầm
tích”, “ Lời ru bướm vàng”,“ Tiếng đàn từ ngôi nhà sau vách đá”... Một số tác
phẩm của Bảo Bình đã được đưa vào chương trình giáo dục địa phương lớp 12, như
“ Mùa điên điển”, “ Nghiêng thời gian”, “ Mẹ, ba và con”...minh chứng
cho năng lực sáng tạo và cảm thấu văn chương nơi tâm hồn tinh nhạy này.
Bàn thêm về đặt tên tập sách, dưới dạng duy tình, muốn đền ơn
Nam bộ, nơi sinh thành nên tác giả đã chọn đặt tựa đề 8 chữ, khá dài; tuy nhiên
đã phần nào khái quát được nội dung mà quyển sách muốn đề cập.
Hiện nay, phê bình văn học nhiều nhưng mãng lý luận văn học ít được quan tâm, việc có một tác giả viết về mãng này ở Tây Đô cho thấy văn học khu vực đang phát triển trong hệ sinh thái văn chương đa vùng miền và đa văn hóa Việt Nam...
Chú thích: Những chữ viết xiên là trích nguyên văn từ
ngữ của cuốn sách thơ.
Sài Gòn,17/8/2025
Lê Thanh Huệ
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét