Nghiên cứu truyện Nam
Cao theo góc nhìn thi pháp
Bằng cách ghi nhận từ các bài nghiên cứu, lời giới thiệu, chắt
lọc những ý kiến nho nhỏ, có khi chỉ một vài nhận xét liên quan, có thể đưa ra
một cách nhìn về tình hình nghiên cứu truyện ngắn Nam Cao trên góc độ thi pháp
học hiện đại.
So với những nhà văn hiện thực đương thời, Nam Cao khẳng định
vị trí của mình trên văn đàn muộn hơn. Thế nhưng, không đi theo lối mòn của Ngô
Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan…, Nam Cao tự vạch con đường riêng cho
mình. Nhà văn không biết mệt mỏi kiếm tìm những hạt ngọc tiềm ẩn trong sa mạc bạt
ngàn của cuộc sống. Cuộc sống vốn đa thanh, phức điệu. Người nghệ sĩ không thể
là người vĩ đại đến độ ở cuộc đời có bao nhiêu mối tơ lòng thì trong tác phẩm của
họ đòi hỏi phải dung tải hết bằng bấy nhiêu cung bậc. Để tự khẳng định mình,
nhà văn phải tự chọn cho riêng mình một “nốt gam”. Ở đó, độ ngân nga, sâu lắng
để lột tả một khía cạnh nào đó của đời sống đạt đến độ chín muồi. Nam Cao là
nhà văn làm được điều đó.
Dựa vào chủ ý và cá tính sáng tạo của nhà văn mà các tác giả
khẳng định Nam Cao có một phong cách, giọng điệu riêng không thể lẫn với bất kỳ
ai. GS. Hà Minh Đức nhận xét: “… Nhưng không thể chỉ vì thế mà dễ lẫn lộn hoặc
mờ cá tính. Cũng có thể có người thấy ở đây có một chút gì như tàn nhẫn, khinh
bạc. Nếu có thật chăng thì điều đó chỉ dành cho cả chính mình và những nhân vật
mang bóng dáng mình”. Trong khi đó, PGS. Trần Hữu Tá coi một số nhân vật trong
tác phẩm là bóng dáng của nhà văn. Các tác giả Vương Trí Nhàn, Phong Lê, Huỳnh
Lý, Nguyễn Hoành Khung… đều đồng quan điểm. Họ cùng gặp nhau ở kết luận: “Thật
ra vấn đề chính để bộc lộ ra thái độ chính là ở nội dung, Nam Cao muốn có một
thái độ khách quan để miêu tả nhân vật và cảnh ngộ”.
Nhóm ý kiến nhận xét nhà văn Nam Cao có tính chất châm biếm
trào lộng cao, gồm các tác giả: Hà Văn Đức, Phan Cự Đệ, Trần Thị Việt Trung…
Xin trích một ít dẫn chứng làm rõ vấn đề: “Nam Cao luôn đi vào sự thực của đời
sống. Sự thực có bao nhiêu điều chua chát đau lòng… Ngòi bút của tác giả không
khỏi có lúc chua chát, giận hờn, mỉa mai, trào lộng và chi phối đến chiều sâu của
cảm hứng sáng tạo”. Hà Văn Đức nhấn mạnh: “Bên cạnh cái đôn hậu của Nguyên Hồng,
cái thâm trầm sắc sảo của Ngô Tất Tố, Nam Cao đã góp thêm vào dòng văn học thực
hiện phê phán một phong cách mới… lối văn mới, sâu xa, chua chát, và tàn nhẫn,
thứ tàn nhẫn của con người biết tin ở tài mình, ở thiên chức mình”.
Các tác giả Phan Cự Đệ, Hà Văn Đức, Hà Minh Đức, Nguyễn Hoành
Khung, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Diễm Hương… đều cho rằng văn Nam Cao đầy những
trang khái quát triết lý. “Nhà văn miêu tả một việc, một ý nhỏ mà nói đi nói lại
vài lần là chuyện bình thường… Thế rồi khảm được vào trong tâm trí người đọc thật
nhiều những chi tiết có vẻ vụn vặt về các số phận, cảnh đời rồi ông nhẹ nhàng
đưa ra những câu khái quát triết lý”.
Loại ý kiến xung quanh vấn đề nhân đạo trong truyện ngắn Nam
Cao khá lý thú. Trong truyện ngắn của mình, Nam Cao không phơi bày rõ tinh thần
nhân đạo mà nó vẫn tiềm ẩn, chìm khuất sau những cung bậc, sắc thái tình cảm
khá đặc biệt. Vương Trí Nhàn cho rằng “không hề vuốt ve an ủi, nhằm đánh vào
tình thương người đọc – Chủ nghĩa nhân đạo hướng vào toàn bộ đời sống tinh thần
nơi người đọc ấy, thức tỉnh suy nghĩ rồi để mỗi người tự xác định lấy thái độ,
tình cảm của mình”. Còn Phan Cự Đệ, Hà Văn Đức thì cho rằng dường như cái giọng
mỉa mai, chua chát chỉ là vẻ tỉnh táo bên ngoài của một tâm hồn đôn hậu, một chủ
nghĩa nhân đạo sâu lắng bên trong…
Loại ý kiến xem xét mặt giọng điệu riêng biệt của Nam Cao dựa
trên cấu trúc câu văn có tác giả Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Lê
Thị Đức Hạnh, Vũ Tuấn Anh… Tất cả ý kiến cho rằng chính vì câu văn gọn, dồn dập,
chồng chất các hiện tượng đã thể hiện “cảm giác ghê tởm, khủng khiếp trước hiện
thực quá tồi tệ, quá mức chịu đựng của con người”. Chúng chẳng những làm cho
cái hiện thực buồn thảm hiện lên mồn một, đầy ứa, mà còn vang mãi lên, đau đớn ở
trong lòng. Dường như không phải Nam Cao viết mà ông đang “sống” cùng mỗi câu
chuyện được viết ra. “Câu văn Nam Cao chỉ là thứ câu văn “bị xé rách” về ngữ điệu,
chúng nhắm nhẳng, đứt rối, cắn rứt, chì chiết, nghẹn ngào đầy kịch tính”.
Bên cạnh cấu trúc câu văn có liên quan giọng điệu là tên gọi
nhân vật. Nam Cao là nhà văn mà những đại từ có tính chất miệt thị được dùng
cho nhân vật có tầng số cao nhất. Các tác giả Huỳnh Lý, Nguyễn Hoành Khung,
Trương Thị Nhàn… đều cho rằng: “Đừng lầm khi nhà văn có vẻ đồng tình với những
“cụ Bá” “bà Phó”… và dửng dưng khi nói đến những con người nghèo khổ thường bị
gọi là “hắn”, là “y”, là “thị”, là “mụ”… Chính giọng văn bình thản lạnh lùng
khi cảm xúc nén lại đó khiến cho sự phẩn uất, xót thương càng tăng lên trong
lòng người đọc”.
Trương Thị Nhàn đi sâu vào tên gọi “hắn”: chung quy những cái
mất – cái được, những cái giận – đáng thương vào trong một tên gọi “hắn”, Nam
Cao đã bộc lộ một cái nhìn hiện thực hết sức khách quan và nhân đạo. Nhưng đồng
thời vẫn có một cái gì đó rất riêng trong thái độ của tác giả, như là lạnh
lùng, xa cách, tách biệt hẳn cái phần “tôi” của tác giả trong cách gọi những
nhân vật là “hắn”.
Nhìn chung, các ý kiến phần lớn đều gặp nhau một điểm là tính
chất đa giọng của Nam Cao. Tác giả Phan Diễm Phương trong bài viết “Ngôn ngữ
người kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao” nhận xét: “Văn Nam Cao giàu chất biểu
lộ và biểu cảm. Điều này được tác giả lý giải qua nhiều mặt, với tư cách vừa kể
chuyện vừa kể tâm trạng, truyện ngắn Nam Cao có thể ôm vào mình những cặp đối
nghịch: sắc lạnh và tình cảm; tỉnh táo, nghiêm ngặt và chan chứa trữ tình. Những
sự việc bé nhỏ, người thừa, hầu như suốt đời bị gắn chặt vào những bi kịch nhân
sinh nho nhỏ, tụ vào trang sách của Nam Cao và ông rủ rỉ kể về nó một cách kỹ
càng không biết nản. Lối kể chuyện của Nam Cao là lối kể nhiều giọng: nghiêm
nghị và hài hước, trân trọng nâng niu và nhạo báng đay mỉa”. Cùng với loại ý kiến
này có Phan Cự Đệ, Nguyễn Tri Niên, Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Thị Dư Khánh… Đặc biệt
là tác giả Phong Lê trong bài tổng kết “Nam Cao, năm 1991” đã khái quát đầy đủ:
“Văn Nam Cao hầu như có đầy đủ chất liệu: hài và bi, trào phúng và chính luận,
triết lí và trữ tình, nghịch dị và nhàm tẻ, thô thám và chất thơ… Mỗi khía cạnh
có thể tách riêng ra mà bàn, và hứa hẹn không ít những điều thú vị”.
Chính ở sự đan xen nhiều chất giọng như vậy đã tạo ra thế giằng
co và đối lập trong giọng điệu. Các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Thị Việt
Trung… đều phát hiện ra thế “cheo leo” về tư tưởng của tác giả. Nam Cao tự
thách thức mình “trên này là chủ nghĩa nhân đạo, dưới kia là thái độ nhục mạ
con người, trên này là chủ nghĩa hiện thực vinh quang, dưới kia là chủ nghĩa tự
nhiên đồi bại”. Ngoài ra còn một số tác giả khi đi vào khai thác mặt giọng điệu
trong truyện ngắn Nam Cao có đôi chỗ đối chiếu, so sánh với tác giả khác, trào
lưu văn học khác như Lại Nguyên Ân, Đào Tuấn Ảnh, Vũ Tuấn Anh, Trần Đình Sử…
Gần đây hơn, ngày 25-03-2013, trên Tạp chí Khoa học Đại
học Cần Thơ, tác giả Pham Thi Luong (tên không dấu) đã vận dụng lý thuyết
điểm nhìn trong tự sự học để nghiên cứu truyện ngắn của Nam Cao trước năm 1945.
Người viết đã chỉ ra bốn kiểu điểm nhìn chính của chủ thể trần thuật, đó là: điểm
nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn phức hợp và điểm nhìn đơn tuyến.
Sự đa dạng, linh hoạt các điểm nhìn trần thuật ấy đã tạo ra sự đa thanh, đa giọng
điệu, sắc thái thẩm mỹ và giá trị nghệ thuật cho truyện ngắn của Nam Cao.
Trên Tạp chí VHNT, số 401, tháng 11-2017, tác giả Nguyễn
Văn Tùng cũng đã nêu quan điểm: “Muốn có những nhận thức sâu sắc hơn, điều tất
yếu là không thể bỏ qua những đặc điểm thi pháp thể loại của mỗi một nhà văn để
tiếp nhận tác phẩm của họ. Bởi thế, qua bài viết này, chúng tôi muốn nhấn mạnh
hơn nữa đến việc cần dành một sự quan tâm thỏa đáng hơn nữa tới việc tìm hiểu
nghiên cứu những đặc điểm thi pháp thể loại của mỗi nhà văn”. Về văn xuôi Nam
Cao, tác giả Nguyễn Văn Tùng nhận xét khái quát thi pháp về phương diện như giọng
điệu lời văn trần thuật; cách cấu tứ độc đáo; đóng góp vào sự trưởng thành của
thể loại truyện ngắn ở năng lực phân tích tâm lý nhân vật tinh tế, tài tình;
cách khai thác hiện thực xã hội; và tạo dựng một hệ thống các chủ đề tư tưởng
mang nhiều ý nghĩa khái quát lớn... của Nam Cao.
Hiện nay, theo Chương trình GDPT mới - 2018, học sinh THPT được
tiếp cận truyện ngắn Nam Cao ở phương diện thể loại. Đó cũng là một cách tìm hiểu
theo thi pháp học hiện đại.
Chính những nghiên cứu, đánh giá trên, có thể coi Nam Cao đại
diện tiêu biểu xuất sắc cho trào lưu văn học hiện thực phê phán giai đoạn
1930-1945. Và là nhà văn hiện đại với biệt tài biết “đào sâu”, biết “khơi những
nguồn” sâu thẳm nhất ở mỗi con người, ở cuộc sống. Vì vậy, thế giới truyện ngắn
của Nam Cao luôn là mảnh đất phì nhiêu cho bao thế hệ độc giả, cho các nhà
nghiên cứu yêu mến tìm hiểu, khám phá.
16/8/2025
Trần Ngọc Tuấn
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét