Phù sa tâm hồn qua “Ký ức bão!” của Lương Duy Cường
Những ngày đầu tháng Tám, tôi có chuyến đi miền Trung vào đúng dịp trời như rút ruột để nắng, đến nỗi chỉ cần thêm một giọt bỏng sẽ vỡ cả thinh không. Để mấy ngày sau trở về nhà, trong giấc mơ, quờ tay, tôi vẫn chạm vào bỏng rát. Người ta nói, trước những cơn thiên tai, nắng thường đi trước để dọn đường.
Trước đó ít bữa, tôi đã kịp chạm vào hồn bút kí “Ký ức bão” (NXB
Hội Nhà văn - 2025) của luật gia, nhà báo Lương Duy Cường. Anh viết về BÃO rất
BÃO, như bởi anh chính là một mảnh văng ra từ những cơn bão kí ức, để những người
Quảng Bình là bạn cùng trang lứa, đọc anh, họ thấy được những ngày đã qua.
Khi những day dứt khôn nguôi về bóng ngày cũ, được hóa thân
thành con chữ, Lương Duy Cường mới bớt nhức nhối. Nhưng quý hơn cả, là khi soi
vào chữ của anh, lại gặp được chính mình. Chỉ điều giản dị ấy thôi đã là động lực,
hối thúc người cầm bút như Lương Duy Cường.
Là cựu sinh viên Văn khóa VI - Đại học Tổng hợp Huế, kinh qua
sự nghiệp báo chí nên chất văn của Lương Duy Cường riết róng, tựa máu thịt nuôi
anh từng ngày. Trong tập bút kí này, tôi đã chạm tới bức tranh phong cảnh tâm hồn
dữ dội của Lương Duy Cường. Ngòi bút sắc sảo của anh đã ghi lại vết xước thời
gian bằng một ngôn ngữ giản dị nhưng khả năng dung chứa cảm xúc là vô biên.
Tôi dùng từ “ghi lại”, vì sự thật luôn hiển hiện trong hồn chữ
- đặc trưng của thể kí, tuy nhiên anh đã có một đời sống khác, trong sự sáng tạo
không giới hạn của kẻ luôn thấy mình khát thèm những phương trời viễn mộng.
Không phải ngẫu nhiên mà con sông Gianh - chứng nhân của nỗi
tủi buồn phân ly và khát vọng hàn gắn trong lịch sử dân tộc, trở thành nhân vật
trong “Ký ức bão!” của Lương Duy Cường. Đó là quê hương, là mẹ, là hợp lưu
quá khứ, hiện tại và tương lai của anh.
Trong tiểu thuyết “Sông Hằng mẹ tôi”, tác giả người Ấn Độ
B.P.Gupta (Bhairava Prasad Gupta) đã chọn sông Hằng là biểu tượng về thời gian:
dòng chảy - ký ức và không gian - nhà, để nâng tầm ký ức cá nhân thành ký ức tập
thể. Ở một nghĩa khác, con sông còn là dòng chảy văn hóa của một cộng đồng, một
vùng miền dân cư. Sông Gianh cũng như thế, luôn thao thiết chảy trong tim đứa
con Quảng Bình sống xa quê nhà.
Trong tầng diễn dịch khác, sông Gianh ẩn dụ cho dòng chìm
trôi, nhưng phù sa văn hóa lại tái hiện đa thanh, đa diện, lớp lang. Sông là cội
nguồn đạo lý, để cội nguồn vuột qua, ấy là sự mất và vô ơn, trở về để mặc nước
sông tẩm tưới bụi bặm là một thứ nghi lễ thanh tẩy. “Ký ức bão!”giá trị ở điều
này.
Ký ức bao giờ cũng thế, thường dậy lên sau lớp bụi thời gian,
khi con người đã đủ đầy hoặc ở vào cảnh thanh bần. Khi đủ, người ta khoác cho
ký ức cái gọi là “ôn cố tri tân”; lúc deo dắt, ký ức lại là chiếc gối êm, để úp
mặt vào mà tự hờn xót hay lấy ngày xa ngái mà thấm lệ mặn.
Những cơn thiên tai đã đẩy người dân Quảng Bình vào những cơn
đói - cái đói đã bứt nhiều người trong số đó phải rời khỏi mảnh đất quê nhà để
bươn chãi lập nghiệp nơi xa xứ. TP.HCM - quê hương thứ 2 của anh, nơi mỗi đêm tỉnh
dậy trong căn phòng ấm, anh vẫn thấy thiếu thốn một cơn gió quất chảy máu da thịt,
vệt nắng nỏ khô người. TP.HCM ân tình đã cưu mang gia đình anh, nhưng vẫn không
lấp đầy khoảng trống khi xa ngôi làng Lệ Sơn nhỏ bé mà quật cường.
Mỗi “cận Tết là mưa tầm tã, rét cắt da cắt thịt, như muốn
trút bỏ lần cuối tất tật những gì còn lại của mùa đông”, là mỗi lần xăm vào anh
một vết nhớ quê, nó như một vết thương dai dẳng, chỉ cầm miệng, khi bàn chân
anh được trở về mảnh vườn cũ. Mà vườn cũ còn đâu “bao năm lũ lụt cào vét, rồi
những đợt di dời… khiến vườn tược, nhà thờ tự cũng không còn”.
Nhưng nấm tròn vùi xương cha nằm lại nơi chôn nhau như một
quy luật, một nhưng nhức trong lòng, 10 năm xa, chỉ cúng vọng ông bà tổ tiên và
cha bằng những giọt mặn nuốt thầm - một niềm thăm thẳm khôn khuây. “Cha tôi khuất
núi sớm. Cơn đột quỵ kéo dài hàng năm trời của cha khiến gia đình đang bề thế bỗng
khánh kiệt. Túng bấn, mẹ tôi bán con heo cuối cùng rồi khăn gói đưa đàn con vào
Nam mót thuê, lay lắt nuôi con ăn học”.
Anh vẽ chân dung mẹ sau cơn bạo bệnh và sự ra đi của cha. Tạc
mẹ anh can trường trong nỗi cô đơn, lần hồi nuôi đàn con khôn lớn. Hơn cả niềm
cảm phục và biết ơn. Cơn bão đời đã trao sinh mệnh cho chữ anh. Người đàn bà cặm
cụi trong những đêm trường góa phụ, người đàn bà đã cùng con vượt qua cơn bão số
phận. Trong đời thường, không thiếu những thân phận đàn bà éo le như thế, nhưng
để lưu lại được hình ảnh người mẹ trong trang viết, hẳn không nhiều.
Rồi Tết năm ấy, gia đình anh trở về trong vòng tay người
làng. “Đò cập bến, bao nhiêu là người chen nhau ùa xuống, kẻ đỡ tay dìu mẹ tôi
lên bờ, người xách giúp vợ tôi mấy cái giỏ. Mấy anh trai tráng giành nhau cõng
thằng bé con tôi phăm phăm chạy lên bờ khiến cu cậu cứ tít cả mắt”. Người làng
Lệ Sơn đùm bọc, tặng cho gia đình anh cái Tết yêu thương, bù đủ cho 10 đêm trừ
tịch dưới bầu trời lộng lẫy Sài thành mà ngóng vọng vòm quê thăm thẳm.
Xa xôi địa lý là một cơ hội để anh hiểu hơn 2 tiếng “người
làng”. “Nhang khói nghi ngút trên bàn thờ. Mẹ lau vội mấy giọt nước mắt. Bao
năm xa xứ, bây giờ mẹ mới có lại cảm giác của một người con dâu trước bàn thờ
tiên tổ”.
Mẹ là quê hương, là tuổi thơ của Lương Duy Cường. Đứa trẻ nào
không nôn nao dưới vòm trời mùa hạ? Hạ châm lửa vào những thế hệ hồn nhiên của
dải đất hình chữ S thân thương này. “Những cánh hoa mịn màng, chấp chới tựa những
cái đuôi dài của loài chim phượng. Tôi cứ ngây người như thế, cứ ngửa mặt lên
khoảng trời ấy. Dù gió lớn quăng quật từng cành, từng nhánh, nhưng vẫn thế, vẫn
không cánh hoa nào rơi xuống… Như tuổi thơ tôi đã qua lâu rồi, đã mãi trầm tích
trong quá vãng”.
Vin cành phượng hồng, cứ thế anh đi trong dòng tự sự về tháng
ngày chân trần bỏng rát trên những nẻo đường thơ ngây. Ngôi trường dưới chân đồi
Nậm Chu, phượng cháy ngang trời, “bến phà vận hành bằng cách dùng tay kéo cáp”
để mỗi lần nhớ cơm mẹ, cả lũ lại rủ nhau về, rồi bươn bả qua sông, áo mũ quấn
trong túi nilon đội trên đầu cho kịp giờ học.
Nỗi nhớ sao mà da diết, vương mắc vào khóm rong tóc
tiên, chảy theo làn nước sông Gianh, treo trên tràng hoa phượng thắp đỏ ngực
người bạn ra chiến trường, gieo vào con mắt biết nói của người yêu phượng tím…
Cứ thế, nhẩn nha mà kể, nhưng cuối khúc đột ngột một nỗi đau
không da thịt mà sao ám ảnh khôn nguôi, trên dòng nước hiền hòa, lòng tham đã
biến con người thành cát tặc, những hút xoáy sau khai thác cát đã dìm chết bao
sinh mệnh vô tội. “Bỗng thấy con sông hiền hòa thơ mộng của tuổi thơ tôi ngày
nào giờ đây như một nỗi ám ảnh không nguôi?”
Từ nỗi nhớ tuổi thơ, đặt ra những vấn đề nhân sinh hàng ngày,
ấy chính là chất văn ngào trộn trong ngòi bút sắc của nhà báo Lương Duy Cường.
Thế hệ Lương Duy Cường đã có rất nhiều những chàng trai, cô gái ra trận. Họ đi không tiếc tuổi trẻ, có người may mắn trở về, nhiều người đã mãi mãi nằm lại để thắp lên màu quê xanh đến nhức nhối trong nỗi nhớ thương của những người đang sống.
Anh nhắc tới chiến tranh, đôi khi như một trò ú tim mà hiểm
nguy trộn với thú vị. Thì ra, ở nơi mà thiên nhiên rất khắc nghiệt với con người,
thì con người lại hóa giải bằng sự lạc quan, chắt chiu sự sống từ cái chết. “Chiến
tranh ác liệt, mẹ suốt ngày đêm bám trụ ở xí nghiệp dược để sản xuất thuốc chuyển
ra chiến trường. Lũ trẻ chúng tôi thì đợi con nước lên là lao ra sông Gianh,
kiên nhẫn ngồi hóng hàng cứu trợ là những bao bột mì hoặc gạo, nước mắm đóng
viên, thảng hoặc sẽ theo dòng nước từ ngoài cửa biển lập lờ trôi trên thượng
nguồn. Thích nhất là khi vớt được bao bột mì hoặc bao gạo, vì ngoài cái ăn,
chúng tôi còn có bao vải để may quần áo hoặc bao nilon đê làm áo mưa, rồi che
chắn mái nhà ngay sau khi B52 tàn phá”.
Sông Gianh, nơi anh đã có chuyến đi để đời với ông Bường dân
Kẻ Nôốc, để thấm vào mình phận người được con sông bao dung “họ rất hào hiệp
nhưng lênh đênh sông nước, không một miếng đất dung thân”. Cũng con sông ấy,
mang nước trong bão đổ, nhấn chìm bao kiếp người. “Bác tôi mất…Cả nhà anh tôi
ngồi cầu nguyện mong nước rút để tiễn bác đi. Nhưng nước lên, quan tài bác nổi
lên đến nóc nhà… Gia đình anh tôi cả 5 người phải phá mái nhà, dìu nhau sang ngọn
cây duối còn chút ngọn vật vờ ngoài ngõ, bứt dây neo người lại với nhau để có
chết thì không mất xác”.
Bên bờ sông Gianh, có bao cô gái đã tiễn những chàng trai của
mình ra trận, vòm ngực trai vồng lên sau những tràng hoa phượng đỏ như máu chảy.
Rồi chính các cô, chỉ vài tháng sau, đón tin chàng trai trở về trên tờ giấy báo
tử. Đêm, sông Gianh đã hòa vào mình những giọt lệ nghẹn ngào của mối tình chưa
dám ngỏ và trong lòng đất mẹ, có biết bao nhiêu đôi môi con trai chưa kịp biết
nụ hôn có vị gì, đã mãi mãi câm lặng. Con sông đau mòn phế phủ, con sông ngọt
ngào, con sông chảy trôi bao thế hệ. Sau bão là phù sa. "Ký ức Bão" của
Lương Duy Cường cũng chính là một thứ phù sa chữ - phù sa tâm hồn.
Trong “Ký ức bão”, Lương Duy Cường còn là một gã pha màu năm
tháng. Anh dụng công vào cặp màu đối nghịch: đỏ - năng lượng dương, tím - năng
lượng âm. Nếu màu đỏ loang triền sông Gianh, cháy suốt năm tháng thơ ngây và
thanh tân của anh, thì tím là một lời thì thầm rất mộng. Huế là cột mốc định
danh đường về của một người con xa quê như anh, nên đến Huế là về. Hơn thế,
đây cũng chính là nơi thắp lên thời thanh niên sôi nổi của anh, nơi anh gặp mối
tình của mình.
Ngòi bút của anh không từ chối những gai góc, khuất lấp của
cuộc đời, nhưng không vì thế mà khô cứng trong tình yêu. “Tím độ em về” là
một đoản khúc vài trang trong cuốn sách, nhưng nó là trường khúc bất tận trong
tim anh.
Từng qua Huế 2 lần, kịp lướt qua màu tím xứ Thần Kinh, nhưng
đọc anh, tôi sâu vào tím. Màu dìu dịu loang tràn con chữ, thắm vào cái bổi hổi
của phập phồng ngực trai với những ghì xiết, quấn quýt của một vùng cảm xúc tuổi
trẻ. “Tôi và em đã ngồi bên nhau trong đêm chia tay, dưới một gốc xoan già ở
chân cầu Trường Tiền. Ở đó, những nụ xoan theo gió lả tả bay xuống, rụng trên
mái tóc trinh nữ thoảng một chút hương si mê”.
Màu tím lặn vào anh một nốt lặng trên khuông nhạc nhớ chơi
vơi, rồi lớn lên theo năm tháng thành mối lương duyên vợ chồng.
Ngòi bút anh soi vào màu tím hoa xoan mỗi độ xuân nồng, đẩy
thành một cơn ký ức về lịch sử Kinh Đô xứ Huế, nơi những vương triều soi bóng.
Nhớ chạm dòng sông dùng dằng trong thơ Thu Bồn. Rồi diễm lệ, u huyền
trong cơn phóng sinh sắc màu thiên nhiên của hoang sơ đỉnh cao Bạch Mã.
Trong một phút hưng cảm giữa đại ngàn trùng điệp, bút anh đã
tỏa màu ảo diệu, đẹp thổn thức “Ngay dưới chân những luồng sáng ấy là vô số đàn
bướm thoắt xanh, thoắt tím, thoắt vàng trong vũ khúc hoan mê của bất tận khói
sương, bất tận hoang sơ. Và từ những bậc đá nơi dòng nước đang lao ầm ầm như ngựa
chứng ấy, bỗng đột ngột khởi cả một dải lụa tím đến nao lòng của tầng tầng hoa
mua, hoa bằng lăng và cả loài quyên tím”. Tôi đọc như uống, vì sợ dừng lại thì
cái màu tím đẹp đến vô thực kia sẽ tan biến.
Lương Duy Cường là kẻ nặng ân tình, nên vốn liếng giàu có của
anh là sự tử tế. Chữ anh Chan chứa những ân tình. Bao năm xa quê, vất vưởng
gió bụi triền đời, cuối cùng gia đình anh cũng có được hộ khẩu thành phố, vì thế
mà có được ngôi nhà an ấm.
Anh bùi ngùi nhớ lại cơ duyên ấy. “Nhiều dịp được tháp tùng
ông Năm Xuân (Đại tướng Mai Chí Thọ) trong các chương trình từ thiện cho người
nghèo hay vùng sâu vùng xa”. Câu chuyện về cha anh, đã khiến ông Năm Xuân rất cảm
động, ông nói với anh “Ba cháu nhất quyết xin quay trở lại tuyến lửa. Chính bác
đã dọa sẽ kỷ luật ba cháu, vì đánh giặc ở tuyến lửa không sợ mà đối đầu với cải
tạo công thương thì sợ. Nhưng ổng vẫn dứt khoát xin quay về phục vụ tuyến lửa
nên rốt cuộc tổ chức đồng ý”.
Ông Năm Xuân đã đề nghị lãnh đạo Công an Thành phố Hồ Chí
Minh nhập hộ khẩu cho anh. “Ông dặn rất kỹ rằng số cán bộ từng vào tiếp quản miền
Nam ít nhiều đều có công với thành phố này. Đặc biệt con em tuyến lửa và thì
thành phố phải tạo mọi điều kiện để giúp đỡ, vì trong chiến tranh họ đã thiệt
thòi nhiều”. Ký ức ấy như sự biết ơn với đấng sinh thành, với người đã giúp đỡ
anh. Người không ký ức là người bất hạnh và nghèo khó.
Tôi nghĩ, mỗi ngày sống của Lương Duy Cường sẽ là mỗi đắp đổi
cho đầy vơi ký ức. Chắc chắn, anh còn rất nhiều mong ước về cuốn ký ức đời
mình, đó là bất ngờ của ngày mai. Nhưng hiện tại, với “Ký ức bão”, anh đã
cho tôi thấy được những trải nghiệm của thế hệ anh - một thế hệ từng chứng kiến
chiến tranh quét qua những người thân, người bạn và quê hương mình, đau thương,
mất mát đã khiến họ chắt chiu sự sống, kiên cường bản lĩnh và chân thành.
Chữ cũng vậy, nếu không thật, sẽ chỉ lấy được những khóc cười
giả tạo. Kí là thể loại hấp dẫn độc giả bằng sự thật nhưng lại mê hoặc họ bằng
sự mộng mơ. Thử tưởng tượng xem, nếu một ngày kia, sự thật bị đánh cắp và tâm hồn
cạn vốn liếng, bạn hay tôi, chúng ta chỉ là những kẻ nghèo khó kiệt cùng mà
thôi.
Cũng như, vào đời, mong cầu bình an, ấy là cách bạn biến mình thành một kẻ nhợt nhạt. Vì suy cho cùng, vượt qua những cơn BÃO chính là cách để bạn lớn lên cuộc đời.
12/8/2025
Nguyên Tô
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét