KHÁT để biển khơi và CHÁY để mặt trời!
Tự ngẫm rồi thương mình từng múa may theo tiếng kèn hư danh
Tâm biển khơi hóa ao tù, thi tài mặt trời thành đom đóm.
(Nguyễn Đức Hạnh).
Tác giả tập thơ Khát cháy là Nguyễn Đức
Hạnh, Phó Giáo sư, Tiến sĩ ngành Ngữ văn, Nhà giáo Ưu tú. Ông là nhà nghiên
cứu - phê bình văn học với nhiều công trình có giá trị.
Tôi đọc Khát cháy chậm rãi – theo lời
khuyên của nhà thơ Nguyên Hùng – và dành thời gian chiêm nghiệm từng
thi ảnh, từng trường liên tưởng đầy thách thức. Có thể xem Khát cháy là
biểu hiện dũng khí của một cây bút trí thức sau bao năm chiêm nghiệm về triết
lý và học thuật xã hội đương đại. Nền học thuật đã và đang trải qua thời kỳ
sóng gió, xáo động tận gốc rễ nền tảng tư tưởng, phương pháp luận. Trong môi
trường đó, ông âm thầm và kiên quyết định hình một phong cách sáng tác thơ của
riêng mình.
1. Trong Khát cháy, thi tứ, thi ảnh, ngôn ngữ thơ
có sự giao thoa rất lạ: vừa mộc mạc chân thực vừa siêu thực. Sự giản dị đồng
hành cùng ánh sáng soi chiếu vào chiều sâu đối tượng
Sự chân thật và giản dị trong ngữ ngôn Khát cháy là những
viên gạch rắn rỏi, thô ráp mà vững chắc tạo nên sự bứt phá cho nền tảng thơ mới
mẻ đầy cá tính mà anh đang cách tân. NĐH mạnh dạn gạt bỏ hình thức tu từ cổ điển,
xóa nhoà miền tâm thức ao tù cũ kỹ, xây dựng một phong cách sáng tác tự do, độc
lập, ở đó ông thỏa sức sáng tạọ. Có thể nói, Khát cháy làm nên một NĐH, một tác
giả mới, người luôn nuôi dưỡng trong trái tim nguồn cảm hứng từ hình ảnh gần gủi,
dân tộc và đậm sâu, xa lánh những khoa trương đao to búa lớn. Với học hàm của
mình, ông dư thừa những kiến văn kinh điển nay đã sáo mòn. Ông đã chọn hình ảnh
và ngôn ngữ bình dân nhất: Nhà dột mang hết xoong nồi ra hứng / Mẹ hứng bằng
đôi mắt trũng sâu / Mưa đong đầy rồi tràn ra ngoài mắt mẹ / Ướt sũng con đang
ngắm ngọn đèn dầu. (Mẹ ơi con nhóm lửa rồi). Giản dị như nhà nhà đem xoong
nồi hứng khi mưa dột, mỗi câu thơ nhìn đơn sơ mà đấy ắp những khám phá bất ngờ.
Những khám phá này đâu lại trong từng mảng không gian hiện thực lẫn siêu thực,
tạo độ nén và ám gợi mạnh mẽ người đọc trong suốt tác phẩm. Ông dễ dàng phát hiện
và nắm bắt động thái bên trong của dòng ý thức. Đơn giản mà không dễ dãi để kiến
tạo những câu thơ sâu lắng thoát thai từ tâm hồn nhạy cảm và đôn hậu: Mưa
đong đầy rồi tràn ra ngoài mắt mẹ trong khi Ướt sũng con đang ngắm ngọn
đèn dầu. NĐH thong thả lấp đầy không gian thơ đối xứng xoay quanh cơn mưa
bằng quan sát tinh tế, bằng cảm xúc, bằng chính biểu hiện hy sinh thầm lặng của
Mẹ và niềm ngây ngô của chú gà Con trong đôi cánh thiên thần.
2. Miền suy tưởng chứa đựng thiền triết phương Đông đã ngấm
sâu vào bản nguồn tư tưởng học thuật đồng hành cùng sự ngưỡng vọng tâm linh
Mời các bạn thưởng chén Trà Tân Cương của nhà thơ Nguyễn Đức
Hạnh. Xin nói thêm một chút, điều thú vị là ông lớn lên và thành danh tại xứ
Trà huyền thoại này:
Trà thơm làm em thơm hay ngược lại?
Nhắm hờ mắt chạm môi vào trầm tích
Những ban mai vỗ cánh gọi mời
Tựa mặt trăng nhìn trời
Nghe trà kể trăm năm hừng hực
Những phận người lá rách
Chụm về đây thành rừng
(Trà Tân Cương)
Chúng ta hãy thử làm một phép tích phân về nghệ thuật, tính
triết luận và sự ám gợi trùng điệp trong thơ NĐH, (dù thơ luôn là đối tượng chỉ
để cảm): “Trà thơm làm em thơm hay ngược lại?” Một câu hỏi tưởng chừng
đơn sơ, nhưng lại chứa đựng quá trình chiêm nghiệm về bản thể và tác động hổ
tương giữa con người và sự vật. Trà thơm vì người thưởng thức? Hay người trở
nên thơm nhờ trà? Câu hỏi gợi mở một nghịch lý vừa mang màu sắc triết học
phương Đông, vừa gợi nhắc đến sự hòa quyện giữa người và vật, giữa cảm và cảnh
– không tách rời, như cụ Nguyễn Du đã từng “Người buồn cảnh có vui
đâu bao giờ. Tôi ngỡ ngàng đến bàng hoàng với “Nhắm hờ mắt chạm môi
vào trầm tích”. Theo tôi đây là một câu thơ đẹp, cả tứ lẫn từ. Việc thưởng
trà được NĐH miêu tả bằng một sát na thiền định, một tâm thế tiếp cận sâu lắng
hài hòa với dòng chảy thời gian ("trầm tích"). Nó hàm ẩn triết lý về
việc sống chậm, lắng sâu, chạm đến tầng đáy lịch sử, ký ức, văn hóa của một
tách trà – một thứ tưởng như đơn giản nhưng ẩn giấu cả "trăm năm" của “Những
phận người lá rách” đổ mồ hôi và nước mắt cho tách trà thơm hôm nay. Trong
câu thơ “Những ban mai vỗ cánh gọi mời” nhà thơ dùng thủ pháp nhân
hoá, ẩn dụ cho những khởi đầu, thúc đẩy tinh khôi vỗ cánh, mở ra khả năng liên
tưởng vô biên, nơi con người tìm về sự trong trẻo nguyên sơ. Trong trẻo là một
khát vọng của nhà thơ. Ông đã dùng từ này với tấn suất rất cao. Qua thơ NĐH,
Trà không còn là một vật thể nữa, mà trở thành biểu tượng của văn hoá, của thời
gian, của thiền, và của con người trong trạng thái tĩnh tại và sâu lắng. Ngưỡng
vọng tâm linh kín đáo cũng được tác giả chạm đến trong một số bài với hình ảnh
cháo Lú, canh Mạnh Bà, cầu Nại Hà v.v.
Bốn câu thơ nói trên là một ví dụ đặc sắc cho thơ thiền hiện
đại – nơi triết lý sống tối giản, sâu sắc. Tác giả không giải thích, không lý
luận, mà gợi, để người đọc tự chiêm nghiệm. Mặc dù gợi mở như thế nào cũng
không hề là chuyện dễ dàng trong sáng tác thơ
3. Tâm thế hụt hẫng đớn đau và chất ngất hoài nghi khi
cọ xát với nghịch cảnh giũa đời thường được giải mã bằng tình yêu
Thôi đừng tìm chìa khóa nữa em
Mưa như ngàn dây câu thả xuống sông thổn thức
Đắng cay và ngọt ngào có thực
Như gạo trong nồi như lửa bếp chiều nay.
Những đứa con hóa thân làm khóa
Khóa cửa căn nhà gặp bão lung lay
(Những chiếc khóa trên cầu tình yêu)
“Thôi đừng tìm chìa khóa nữa em” Một tiếng thở dài. buông
xuôi, như lời cuối cho một cuộc tình, chất chứa nỗi mỏi mệt của một người đã cố
gắng triền miên để “mở khóa” tìm đến sự hướng thiện tốt lành: tình yêu, cuộc đời,
hay chân lý. Chiếc khóa mang tính biểu tượng của niềm tin bị giam cầm, là quá
khứ bị đóng kín, hay là cách con người cố níu giữ điều không thể. “Thôi đừng
tìm nữa” – Ôi! con người vỡ mộng nhẹ hẫng nhưng đau đớn lắm thay. NĐH và
chúng ta đã từng hy vọng, từng tin yêu, nhưng nay đã mỏi gối vi bộ mặt xã hội
biến đổi, đen trắng nhập nhòa. Khiến ta Khát. Ta muốn mưa, ta muốn “Tâm biển
khơi” nghìn trùng sóng vỗ. Thế mà “Mưa như ngàn dây câu thả xuống sông thổn thức”.
Có thể nói đây là ẩn dụ tinh tế về những niềm luyến tiếc, níu giũ, tìm kiếm điều
gì đó sâu kín – nhưng lại thả xuống một “ sông thổn thức”, thả xuống bờ vực
nội tâm không yên bình. Dòng đời cuộn trôi, giằng xé. Màn mưa trở thành chiếc
lưới hiện sinh bủa vây, úp chụp cả bầu trời, gợi cảm giác nhân gian bị nhấn
chìm trong nỗi đau không thể gọi tên. Tuy vậy, chúng ta sẽ bất ngờ khi đọc câu
cuối. Sự độc đáo, đặc sắc nhất nằn ở kết bài: Những đứa con lại là những chiếc
khoá tình yêu kì diệu nhất. Sự khác biệt là ở đây.
Có nhiều điều bay theo khói
Rừng như Mẹ bao dung mà tội nghiệp
Đất như Cha khắc khổ kiệt cùng
Cha Mẹ không nói
Chỉ nỗi buồn đá tảng lăn xuống suối thật trong
Vậng, trên thế gian này có nhiều khát vọng tan thành mây
khói. Câu thơ như một sự thở dài nhẹ tênh mà đầy hoài nghi và bất lực: Rừng
như Mẹ bao dung mà tội nghiệp / Đất như Cha khắc khổ kiệt cùng”. Cảm
thức đồng hóa thiên nhiên – rừng – đất với đấng sinh thành, gợi lên tình cảm
nguyên sơ, thiêng liêng. Nhưng ở đó, những từ ngữ “tội nghiệp”, “kiệt cùng” lại
thể hiện sự tổn thương tận gốc rễ, không chỉ ở cá nhân tác giả mà còn là nỗi
đau văn hóa của nhân loại, khi môi sinh bị tàn phá tàn nhẫn. Tác giả không chỉ
đau cho mình, mà còn đau cho đất – cho Mẹ thiên nhiên. Nhà thơ thảng thốt
buông lời phản tỉnh mang tầm vóc thời đại. “Cha Mẹ không nói / Chỉ nỗi buồn
đá tảng lăn xuống suối thật trong”
Phải chăng, một trí thức từng tin tưởng, từng khao khát,
nhưng hạt gạo đã giần sàng qua bao trải nghiệm sống – đã an vị ở một điểm lặng
của suy tư. Họ không còn gào thét hay than vãn, mà chấp nhận sự đắng cay – ngọt
ngào, sự tan biến – vô thường.
4. Khát để biển khơi và Cháy lên để mặt trời
Từng giây cháy kiệt cùng kệ mai tan nát
Ghì kiệt cùng như thuỷ triều lên
Thả bài thơ đắm vào đáy nhớ
Nghìn năm sau Dã Tràng khóc đi tìm.
(Trước biển)
Theo tôi nghĩ, NĐH đã sống trọn từng khoảnh khắc bằng tất cả
nội tâm, đam mê và khát vọng, tự “cháy” lên không chừa lại điều gì cho bản
thân. Anh đã “Ghì kiệt cùng như thủy triều lên” bằng thức tỉnh nội
tâm mạnh mẽ. Đây là sự “khát”: khát sống, khát yêu, khát biểu đạt, khát đến mức
dồn nén và dâng trào. Cho dù chỉ để “Nghìn năm sau Dã Tràng khóc đi tìm”: phải
chăng là nỗi khát khao vô vọng. Nhưng ngay cả khi vô vọng, tâm thức khát và
cháy vẫn không ngừng hiện diện lấp lánh đâu đó trong thơ anh. Anh “cháy” đến tận
cùng để tìm đến mặt trời và “khát” để tâm thức hóa thành biển khơi.
Chúng ta tiếp tực hành trình khám phá thơ NĐH trong khổ thơ
dưới đây. Dĩ nhiên không để làm rõ luận chứng của tiêu đề mà cảm thụ chân thực
thơ anh.
Người cũng tự chữa lành như cây
Khúc ca trắng trên đầu, sần trên tay, đỏ tươi trong ngực
Cúi xuống nâng bầm dập sợi tóc trắng rơi vào Hướng dương cháy rực
Em đi chợ về. Nụ cười nở thành đóa hồng nhung.
Tôi thực sự tâm đắc với “Sợi tóc trắng rơi vào Hướng
dương cháy rực”: đó là tàn phai và bung lụa, quá khứ và hiện tại đan kết thành
một bức tranh sáng rực. Hướng dương tìm ánh sáng suốt ngày hướng về phía mặt trời,
Đó là niền hy vọng, là vẻ đẹp của chân lý. Để “Nụ cười nở thành đóa hồng nhung”.
Phải chăng thơ là hành trình đi qua đau thương để hồi sinh.
Nguyễn Đức Hạnh khá thành công khi gieo vào lòng người đọc một
ngọn lửa tâm hồn vừa âm ỉ vừa bùng cháy, một nỗi khát không bao giờ dừng lại. Bởi,
Khát là tiếng gọi từ sâu thẳm tâm hồn và Cháy là bản chất sống mãnh liệt.
Để kết thúc bài viết, tôi (NB) xin mượn lời nhà thơ, cũng là
nhà phê bình văn học Mai Văn Phấn đúc kết tác phẩm này trong bài viết Nguyễn
Đức Hạnh - Phân mảnh để tỏa sáng: "Khát cháy" là minh chứng rõ
nét cho khả năng dung hợp giữa trực giác nghệ sĩ và chiều sâu tư duy học thuật
– sự kết tinh của kinh nghiệm sống, khả năng chiêm nghiệm và tinh thần sáng tạo
không thỏa hiệp”.
5. Những khổ thơ hay Nguyên Bình chọn lọc và giới thiệu
Còn lửa không? Cố nhóm lửa
Hòn đá yêu thương đập vào sỏi hi vọng
Thắp lên ngọn đuốc cuối cùng
May còn lệ em bốc cháy
Bỏng âm thầm trong im lặng mênh mông.
(Giấc mơ chiều)
Không có ai đợi vẫn muốn về Khau Vai
Lệ đã chảy thành sông tiếng gọi
Thơ là loài cây uống nước mắt mà xanh
Là ống sáo câm chờ người thổi...
(Tháng ba này ai có về Khâu Vai)
Mây Phú Yên toàn mang hình thiếu nữ
Sóng biển xanh mặn đến kiệt cùng
Nhúng mình vào trong ướp mình vào mặn
Gọi tên em rừng biển hát ngập ngừng
(Tạm biệt Phú Yên)
Quang Dũng trên sông. Thác thành tóc sóng thành râu loã xoã
Bài thơ Tây Tiến thành áo khoác vai. Bước từ hoàng hôn đến
ban mai
Những vụn thơ rơi hoá cá Anh Vũ
Cắn bóng thi nhân ngậm ngùi
(Gặp Quang Dũng hát trên sông Mã)
Có những đêm rực bờ xưa sao sáng
Trẻ con nhốt vào lọ đem chơi
Những mảnh vỡ của bao mơ ước
Nhớ hay quên? Nhoi nhói những mắt người.
(Đom đóm)
Sông ôm người bằng sóng. Người ôm sông bằng mắt
Sóng tan rồi sao mắt không tan?
Mắt nhuộm sông. Thay màu từng khoảnh khắc
Em nhuộm tôi. Biền biệt gió - hoa vàng...
(Thơ tình cho ai nói ít ngẫm nhiều)
Thơ nói to và thơ nói thầm
Quảng trường thích thét gào. Ai là người lặng lẽ?
Quá nửa đời đi giữa hai trang viết
Gặp hai nhà phê bình một tai thính một tai điếc
Cả hai cười vu vơ…
(Những loài nói thầm thường đau sâu)
Tháng ba mắt nâu
Em đi về đâu?
Còn một ngụm trong lành không nỡ uống
Ngậm trong ngực. Chẳng biết được bao lâu?!
(Tháng ba mắt nâu)
Khu vườn ru căn nhà ngủ
Bao loài cây vẫn thức đợi chờ
Những quả chín như mặt trời xấu hổ
Sưởi môi nhau ngọt đến sững sờ.
(Nói với em khi tóc bạc)
Thi sĩ là con cá dị biệt biết hát
Làm sao không cô đơn?
Mắt không chớp suốt trăm năm
Cát đâm vào nên hay khóc.
(Ngắm bầy cá mà nghĩ)
Bà Rịa, 22/7/2025
Nguyên Bình
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét