Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

Lữ Mai - Đêm nhiệt đới mơ qua ngày trống rỗng

Lữ Mai - Đêm nhiệt đới
mơ qua ngày trống rỗng

Bản mệnh của thơ Lữ Mai là nước - nước nguyên thể. Trong những dạng thức tồn tại của nó, nước hóa hình thành mây, thành sương, thành mưa, nước lưu đọng hình hài trong sông bể ao hồ… nhưng, ở đâu nước vẫn giữ vẻ mềm mại uyển chuyển, khả năng thấm nhập và tưới tẩm…
Nhà thơ Lữ Mai
Khi con người nhận ra ngôn ngữ làm nên hiện diện, lịch sử đã đổi thay theo cách mà chúng ta tưởng tượng trên vệt dấu của những thanh âm, những ký hiệu. Để hình dung về một con người, gặp gỡ chưa hẳn là một cơ hội tốt, thậm chí còn ẩn chứa nguy cơ sai lệch. Bởi thế, tôi tìm về quá khứ của mười năm trước, khi Lữ Mai cất giọng đầu tiên, từ đó kết nối vào thực tại, dựng lại một hành trình. Hành trình đó cho tôi một khuôn mặt, một hình hài, một phẩm tính, một thi cách rõ rệt hơn là việc vẫn thấy Mai hàng ngày ngang qua nhà số 4 (trụ sở Tạp chí Văn nghệ quân đội), hàng ngày vẫn đi về khu tập thể nhà binh.
Ký ức lưu đọng nơi những con chữ, giấu mình sau từng nhịp điệu. Từ Giấc, Mở mắt rồi mơ, Mai chạm vào Thời cách ngăn trống rỗng. Đó là hành trình của niềm khắc khoải. Không khắc khoải ưu tư, không dịch chuyển mình qua những không gian khác, va chạm với tha nhân, người ta không thể nào nhận ra bản thể. Bản thể của Giấc là đêm, còn Mở mắt rồi mơ mang linh hồn của nước. Hai trạng thái ấy là Mai. Đêm chứa đầy bí mật, cũng như nước diệu hoạt đến vô cùng, yếu tính của Mai - như một hiện diện chủ thể, là “lòng tay nhiệt đới”. Nhưng, sắc thái nhiệt đới nơi chủ thể được hình dung ở phía lặng thầm hơn, không phải bão giông nắng nỏ, không phải gió mưa vũ vần, không phải réo gào gắt gỏng. Lòng tay đêm hứng giọt mưa khép nép, mơ đi qua ngày trống rỗng, ấy là Mai.
Tôi có hẹn trở về với ký ức bằng tưởng tượng, trong giấc mơ thiếu thời đầy bí mật, để gặp lại một hạt mầm cựa mình từ đêm mười sáu. Như là dự cảm, đêm chở che (hay cất giấu) một sinh mệnh rồi đây sẽ nảy nở vào đời Mai những ưu tư không dứt. Ba mươi lăm bài thơ gói ghém Giấc vào đêm. Ba mươi ba lần đêm trở đi trở lại. Có thể nói, đêm là thời gian, cũng là không gian của Giấc. Đêm cho Mai hiện hữu từng khoảnh khắc và đối diện với mình: Lặng lẽ khép xiêm y trinh bạch - Mộng mị thở dài gối cũ - Khuôn ngực tháng năm sạm khô mất ngủ - Nước mắt thuộc về ngày hôm qua. Đêm ấp ủ và nuôi dưỡng mộng mơ. Mộng mơ đánh thức thi ca: em mơ buốt lạnh gót mềm/ qua bao đêm lạc giọng/ chỉ còn nước mắt vẹn nguyên (Hà Nội lúc 0 giờ). Trong đêm, chủ thể nhận ra mình: Búp búp nhú đêm; Giấc mơ bí mật; Dè dặt đêm; Mí mắt đêm; Ngọn nến đêm; Gió khuya buồn tóc xõa đêm; Rờ rỡ trăng đêm; Gót mềm trong đêm; Đêm lạc giọng; Tiếng chim đêm; Mặt người chong đêm; Đêm dài hơn ý nghĩ; Đêm tối đầy u mê; Buổi tối đầy lên dằng dặc; Bóng đêm câm; Đêm rất sâu; Đêm suông… Đủ đầy những trải nghiệm đêm, gợi hình dung về phía tối, nơi cất giữ bao điều u uẩn, nơi đánh thức những dự cảm sâu kín, nơi vỗ về những bất an xao động của ngày. Đêm là hiện thực ở bề kia của ngày, làm hiện diện đủ đầy trạng thái sống của chúng ta. Bởi thế, đêm và thi ca bổ sung vào biết bao thiếu thốn của ánh ngày chói chang lý trí: rồi bỗng cần bóng tối hơn ánh sáng/ cơn sốt lâu ngày đổ ngược vào trong/ kỷ niệm chợt gõ vào bằng lặng/ từng tiếng vang lốc cốc u buồn (Dẫn dụ quay về).
Mai bị ám ảnh bởi những cơn mưa, những cơn mưa nhiệt đới. Mưa ám ảnh hay mưa là Mai? Bốn mươi lăm bài thơ trong tập Mở mắt rồi mơ, mưa hiện diện tới ba mươi sáu lần, chứng thực cho một mộng mơ về nước làm nên “hiện thực thơ ca hoàn chỉnh” (G. Bachelard). Cùng với đó, các phái sinh từ nguyên thể nước trong trường liên tưởng: biển, sông, ao, hồ, đầm, vũng, sương mù, nước mắt,… thiết lập một sinh quyển kết nối có tính linh hoạt (tính lỏng). Nước kháng cự cách ngăn và đòi hỏi sự nhất quán. Như thế, từ mưa và các hiện diện phái sinh, nguyên thể nước mang hiệu năng thức tỉnh. Thơ ca là sự thức tỉnh ở phần mong manh và kỳ diệu, nơi lý trí gần như đã bất lực. Thơ trong mộng mê về nước làm dịu lại cơn khát rỗng của đời đang bủa vây từng thân phận. Bi kịch của chúng ta là bi kịch của một kẻ đói khát, một kẻ đã vắt kiệt mình trong cuộc mưu sinh, không còn chỗ cho hạt mầm tách vỏ, không còn bao dung cho những mộng mơ. Sai lầm bắt đầu từ ngày đó khi loài người từ bỏ giấc mơ của mình. Cơn mưa nào dịu khát, tưới lên ngày lưu đầy: mưa rồi sao ta vẫn khát/ nhịp môi mọng đỏ hoàng hôn/ gốc đa có người hỏi chuyện/ đẩu đâu dắt díu nhau về (Lễ chùa).
Nước mang trong mình sứ mệnh hòa giải, bởi nước mềm mại và linh hoạt. Nước là hiện thực trực tiếp của tính nữ, của thơ ca. Bởi vậy, những mộng mơ về nước trong thơ phản ánh tinh thần chủ thể trong miền vô thức. Ở phần sau ta sẽ hiểu vì sao Thời cách ngăn trống rỗng lại trổ mầm từ Giấc và Mở mắt rồi mơ. Tuy nhiên, ngay tại đây, ý niệm về nước là một trải nghiệm bên ngoài lý trí. Nó thức dậy giữa cơn mơ như một sự tái lập trạng thái cân bằng chủ thể, một đạo đức của tồn tại, tràn qua các cách ngăn, lấp đầy hiện tại trống rỗng. Mở mắt rồi mơ phải chăng là một sự trì hoãn, một níu giữ để không rơi vào ngày trống rỗng? Mộng mơ ở phía ấy trong hình trạng cụ thể của thơ là giọt nước mắt: làm sao thưa được cùng nhau/ dòng nước mắt chần chừ trong bóng tối/ quá nhiều lo toan, quá nhiều lầm lỗi/ và riêng em quá bé nhỏ trên đời (Giữa khoảng trống mờ xa).
Tập thơ “Thời cách ngăn trống rỗng” của Lữ Mai
Thời cách ngăn trống rỗng là một ý niệm về sự thiếu khuyết, cái không tồn tại. Có chăng, tồn tại một cái trống rỗng. Đó là thời của những trơ mòn nhợt nhạt và vô nghĩa. Đời trống rỗng, người trống rỗng, chữ trống rỗng. Nghĩa là một trạng thái của sự vô cảm. Nhưng, có thật là vô cảm hay chỉ là một chỉ dấu cho thấy những suy tư luôn dồn nén trong trái tim nhiệt đới? Một chất chứa lặng thầm ẩn sâu trong vẻ bức bối, oán than về hiện tại. Một thực tại trống rỗng mở ra ý niệm tròn đầy của tinh thần chủ thể. Đó là nỗi khắc khoải về tồn tại. Luôn khắc khoải, thơ Mai là những vọng âm hanh khát trên miền cằn khô nhân tính, là đêm mê mị giăng mắc những tín hiệu đòi được kết nối, là một thổn thức không yên, một băn khoăn hằn trong mơ mộng.
Văn chương nghệ thuật, về mặt nguyên lý là một hệ thống ký hiệu biểu nghĩa. Hệ thống đó cất lời về vẻ lặng im dữ dội của đời sống. Đó là chỉ dấu cho con người hướng đến bản chất - yếu tính của tồn tại. Thời cách ngăn trống rỗng là một dự phóng khắc khoải từ ngày Mở mắt rồi mơ. Có lẽ, còn từ trước đó nữa, trong dai dẳng phận người, cảm thức về sự trống rỗng đã phập phồng ngày khép xiêm y trinh bạch. Chẳng Giấc nào cất giữ được ý niệm trống rỗng, cũng như chẳng cơn mơ nào cứu rỗi được những lưu đầy từ tiền kiếp. Đêm nhiệt đới, lòng tay nhiệt đới có thể nào khác hơn là một đợi chờ giữa rưng rức tuyệt vọng, một khơi vẫy trong hoang mang, một âm ỉ khát giữa ngày mưa? Cơn mưa nào “tưới tẩm” những xanh non, giấc ngủ nào vỗ về những bất an, nối kết nào vượt qua những cách ngăn trống rỗng? Khắc khoải ấy là Mai trong định phận một người đàn bà trót nâng niu những gì bé mọn, trót thương yêu những gì mong manh, trót xót xa những điều khuất chìm thiếu vắng. Thiếu vắng cứ đầy lên dẫu lòng tay xít xao trũng xuống. Trong tàn tro bản thể, nhu nhú búp hoa đêm, e ấp, run rẩy mà trĩu đọng niềm hoài mong. Tàn tro bản thể là một dạng thái của vô thức đã hiện hình sau bao đêm âm ỉ. Mai không phải là ngọn lửa, thứ lửa thiêu đốt và réo gào hủy diệt. Mai thức bằng giấc mơ như tóc dậy một đêm mê mị, như vệt môi còn níu giữ sắc hồng đốm lửa, như khóe mắt còn ngân ngấn vì niềm xao xuyến nào chợt đi qua. Mai đến bằng giấc mơ, giấc mơ không lừa dối. Mai gọi bằng cơn mưa, cơn mưa dịu lành nửa bên kia vùng mây nhiệt đới. Có cơn mưa nào toan tính, do dự? Mưa hiện hình một mong ước kết nối, tưới tẩm, giao hòa. Mưa nữ tính mà cõi đời bạo liệt. Cách ngăn cứ mãi đầy lên thành những trống rỗng khổng lồ, thổi bùng cơn tuyệt vọng: dòng nhựa đắng trong em cũng đến hồi cạn kiệt/ có thể một ngày sẽ theo gót mưa giông/ đừng buồn nếu sớm mai kia từng bước em úa vàng chân cỏ/ đôi hài xanh nằm góc tối im lìm (Bên hồ). Vùng nhiệt đới và mưa - trạng thái động của nước, của mộng mơ, nhưng dịu nhẹ, không làm thành cơn thịnh nộ, mà mơn man ru vỗ. Mưa là thực tại thi ca của Mai trong bản nguyên của sự hiện hữu.
Tôi nhận ra, Mai buồn, như câu thơ của Mai: mây trũng lòng tay nhiệt đới. Lòng tay thì bé bỏng, khát vọng thì ắp đầy, mà mọi thứ trượt trôi, rơi rụng qua từng ngón mềm khép nép. Cách ngăn hay rơi rụng, cõi sống này chỉ là tiếc nuối vì những gì đã không thể nào giữ nổi. Điều đau đớn cũng là điều khác biệt, khiến cho chúng ta mang khuôn mặt con người chính là ký ức, là kỷ niệm. Những kỷ niệm của giọt máu nuôi từng hơi thở, hắt hiu giữ lại nhịp đập của từng sinh linh, đưa chúng ta đi qua từng cách ngăn, nuôi dưỡng tia hi vọng ở phía bình minh đang dậy. Thơ Mai, không quá quyết liệt, cũng chẳng thể gọi là khao khát tột cùng hay riết róng. Bởi lẽ, Mai chọn cho mình khoảng đêm để nương náu, cơn mưa để gọi mời, tiếng thở dài để kìm nén, đợi chờ. Lắm khi, lòng tay chợt thấy hoang mang vì hoài nghi chính mình. Sống giữa thời cách ngăn trống rỗng, có khi nào chính mình cũng trở thành một cô đảo, một đóng kín: ta cũng quên ta sau chỗ ta ngồi. Nghìn dấu môi không thắp lên một tia ấm áp trong “cõi người co ro”. Dự cảm của Mai, đôi mắt trẻ thơ hay chính là thực tại đã dày lên từ quá khứ. Niềm trống rỗng ken đặc những hoang mang, bủa vây từng chồi búp. Bao dung nào thức dậy cùng ban mai?
Bản mệnh của thơ Lữ Mai là nước- nước nguyên thể. Trong những dạng thức tồn tại của nó, nước hóa hình thành mây, thành sương, thành mưa, nước lưu đọng hình hài trong sông bể ao hồ… nhưng, ở đâu nước vẫn giữ vẻ mềm mại uyển chuyển, khả năng thấm nhập và tưới tẩm (cũng nhắc lại ở đây khái niệm tưới tẩm mà Thích Nhất Hạnh đã dùng khi nói về khả năng hiện diện của một thực tại tinh thần hay hành vi nào đó của con người nhờ một sự sinh dưỡng lâu dài từ chủ thể và thực tại sinh tồn của chủ thể). Ai đó sẽ dừng lại để tra vấn về sự phổ quát của nước trong nhiều tượng hình nghệ thuật, nhưng tại đây, nước nguyên thể chỉ là hình hài có tính tượng trưng cho bản thể. Nước mở ra ý niệm về người. Nước nói lên phẩm tính dịu dàng (nhưng hãy cẩn thận, nước sẵn sàng cuộn dâng nhấn chìm khi bị dồn đẩy - khi này, như G. Bachelard chỉ ra, sự thịnh nộ của nước lại thuộc về nam tính). Với Mai, tại đây, nước là dịu lành, khỏa khát. Nước là cơ hội của kết nhập thân tình - trạng thái nữ tính. Trong thơ Mai, người ta ít thấy bão giông gào thét hay lũ lụt ngập chìm, hiện diện tạo thành khí hậu của thơ Mai là mưa. Những cơn mưa trong trời nhiệt đới dường như đã “vắt nửa mình sang thu” (Hữu Thỉnh). Dắt ngày vào đêm, thơ Lữ Mai làm nên những ảnh tượng ở chiều bên kia của ánh sáng, nơi mộng mơ thức dậy. Thơ chỉ là một hóa thân của mộng, một văn bản của vô thức (Lacan), một tiếng vọng của những gì không thể ngủ yên, không thể lụi tắt. Điều gì không ngủ yên, không lụi tắt khi bóng đêm phủ dày lên hết thảy? Chỉ có thể là những băn khoăn, khắc khoải về phận người, về nỗi đời, về những cách ngăn trống rỗng đang trương lên bao phủ kiếp người.
Lòng tay nhiệt đới - tôi không thể rời bỏ ý nghĩ này, cũng không thể gọi Mai bằng một hình dung khác, đủ đầy nắng mưa, đủ đầy nâng niu, mà cũng bé nhỏ, tội nghiệp quá chừng. Dường như, Mai cảm nhận rõ sự mỏng manh của cơn mưa rây từ giấc mộng, chẳng đủ để làm dịu lại những nỗi đời hanh khô cằn cỗi, chẳng đủ để cứu vớt ngay chính bản thân mình: mưa từ mắt nhỏ vào lòng/ vườn cũ thanh âm quá mỏng (Vườn phố). Thế nên, day dứt cứ nối dài vào đêm, hy vọng trĩu lòng tay đón hứng, mặc những ngón mềm có lẽ đã co ro.
Cho đến khi nào chúng ta nhận ra mình đã bị cuốn đi quá xa trong cơn bão của ngày nắng khát, của những rượt đuổi kéo nhau về vô nghĩa? Trở về với đêm để nương náu những hy vọng an lành, lắng cơn mưa dịu dàng trong vườn khuya yên tĩnh, mơ giấc mơ chồi búp trổ mầm… giản đơn mà thành diệu vợi. Thế nên, những gì hiện hữu từ Mai, hóa ra đã thấm vào ta như một nỗi niềm ăn năn hay một nhắc nhở dịu lành. Nhận ra ta ấy cũng là khi ta nhìn Mai một cách tròn đầy - đêm nhiệt đới mơ qua ngày trống rỗng.
7/3/2020
Nguyễn Thanh Tâm
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nguyễn Bính và những mùa xuân cô lữ

Nguyễn Bính và những mùa xuân cô lữ
Tạp chí Văn (Sài Gòn - 1971) - Tư liệu L.M.Q

Đêm ba mươi Tết trời mưa bụi
Sực nhớ quê nhà uống rượu suông
(Nguyễn Bính)
Nguyễn Bính là nhờ thơ tha hương. Suốt cuộc đời lầm lũi, lận đận nơi quê người, Nguyễn Bính có những vần thơ " lữ khách nhớ quê " đầy tê tái, nhất là mỗi khi xuân về, Tết đến.
30 Tết Ất Tỵ, ngày giáp Tết Bính Ngọ (20/01/1966) cũng là kiểu tha hương mới, Nguyễn Bính rời chỗ cơ quan đang sơ tán, đến chơi nhà người bạn ở Lý Nhân, không ngờ, lần ấy, nhà thơ từ biệt cõi đời.
Năm mới tháng giêng mồng một Tết
Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân.
Bìa 4 tập sách Nguyễn Bính - thi sĩ của 
yêu thương (NXB Hội Nhà văn) do Hoài Việt biên soạn
Đối với Nguyễn Bính, tha hương như một định mệnh. Gần 20 năm trời, ông  nếm trải  đầy đủ mọi dư vị đắng cay của cảnh  "một thân lận đận nơi trời xa". Người thi sĩ giang hồ này đã trôi dạt nhiều nơi. Có khi, ngược tàu lên Phú Thọ, có lúc xuống Hải Phòng, rồi vào Huế, Sài Gòn. Cuối cùng, vào các tỉnh miền Tây Nam Bộ, xuống tới Hà Tiên. Những ngày tháng lang bạt đó đã để lại cho đời những vần thơ ngậm ngùi xót xa và không kém phần hấp dẫn. Có lẽ, trong các nhà thơ lãng mạn, không ai như ông, chẳng chịu ở nguyên một chỗ. Nguyễn Bính đi như vô định, như một khát vọng tìm kiếm một quê hương mới... Song, càng dấn bước, Nguyễn Bính càng thấy "quê người đắng khói, quê người cay men".
Từ nay khi nhớ quê nhà
Thấy mây Tần, tưởng đó là thôn Vân
(Bài thơ Thôn Vân)
Hoặc:
Hỡi ôi, trời đất vô cùng rộng
Nào biết tìm đâu một mái nhà
(Đêm mưa đất khách)
Trong bài Thư Gởi Thầy Mẹ, Nguyễn Bính nói lên tâm trạng tha hương của mình với những câu thơ không kém phần đớn đau ân hận:
Con dan díu nợ giang hồ
Một mai những tưởng cơ đồ làm nên
Ai ngờ ngày tháng lưu niên...
Vậy mà, Nguyễn Bính vẫn cứ đi, đi mãi. Làng quê trở thành hoài niệm mỗi khi dừng bước giang hồ. Sau bao ngày tháng "đêm đêm quán trọ thức thi đèn", những buổi soi gương "thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền", một ngày đầy ngỡ ngàng:
Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang
Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng        
Sáng nay sực tỉnh sầu đô thị
Tôi đã về đây rất vội vàng.
(Sao chẳng về đây)
"Sực tỉnh" vậy thôi! Vốn là nhà thơ yêu tha thiết cảnh xuân, vậy mà mùa xuân đến, Nguyễn Bính lại cô đơn. Quạnh quẽ một thân, người thi sĩ vẫn không nguôi nhớ đến cánh hoa đào, phiên chợ Tết, câu đối bên cột nhà hàng xóm. Như để chống chọi lại nỗi buồn xa xứ, ông quay ra với chén rượu và mong tìm ở đó chút lãng quên. Nhưng rồi, thơ cũng suông và rượu vẫn đắng:
Chén rượu tha hương! Trời, đắng lắm
(Xuân tha hương)
Thất vọng trong tình trường, trong "sòng đời thua đến trắng hai tay", nhiều khi không còn chút bám víu nào, Nguyễn Bính có những vần thơ đọc đến là tội nghiệp:
Em thường cầu nguyện, thường van vái
Một sớm thanh bình mặt đại dương
Bao giờ em được về quê cũ
Dâng chị bài thơ Xuân Cố Hương
(Xuân vẫn tha hương)
Chị Trúc, người chị trong nhiều bài thơ của Nguyễn Bính, là một biểu tượng của ngày về, của ước mơ được sẽ chia. "Tha hương không gặp người tri kỷ", chút êm đềm tan biến, trong nhiều bài thơ xuân, Nguyễn Bính thường viết trong tâm trạng gãy đổ, đắng chát. Men vị cay nồng u uất là một hương vị rất đặc biệt ở những ngày tháng phiêu lưu này. Khát vọng trở lại quê nhà như ngọn nến luôn chực bùng cháy trong ông:
Một thân quán trọ sầu phong tỏa
Đốt ngọn đèn lên bóng rợn tường
(Xuân vẫn tha hương)
Ngọn nến hoài thương ấy, vừa sáng trong lòng nhà thơ những khát khao và cũng lại chiếu hắt lên đó những nỗi niềm cô quạnh, bơ vơ:
Chao ôi, Tết đến em không được
Trông thấy quê hương thật não nùng
(Xuân tha hương)
Quê nhà xa lắc xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay
(Hành phương Nam)
Ước vọng ngày về, nhất là mỗi khi xuân đến đã tạo nên Nguyễn Bính một giọng thơ lạ lẫm về tâm trạng tha hương. Hiếm thấy nhà thơ lãng mạn nào nói hay hơn ông về cảnh huống "Rõi bóng quê nhà mắt lệ tuôn". Các bài thơ Xuân Tha Hương, Xuân Lại Tha Hương, Xuân Vẫn Tha Hương, Hành Phương Nam, Nguyễn Bính đã tạo dựng nên dòng thơ riêng: Dòng thơ cố quận. Dòng thơ này đúc kết những cay đắng tình đời mà Nguyễn Bính từng giáp mặt trong những năm quê người lẻ bóng. Ông là nhà thơ tự lưu đày ngay trên quê hương, thảng hoặc, Nguyễn Bính cũng có tâm trạng giống Bạch Cư Dị bị biếm trích đi Giang Châu, Khác chăng, Bạch Cư Dị còn có một ca kỹ đồng điệu. Tiếng đàn tỳ bà trên đất Tầm Dương đêm nào đã gặp một tâm hồn. Nguyễn Bính không được như thế:
Tha hương không gặp người tri kỷ
Một cánh hoa tươi đỡ chạnh lòng?...
Quê người đứng ngắm mây lưu lạc
Bến cũ ngồi nghe sóng lỡ làng...
Huỳnh Văn Hoa
Theo http://leminhquoc.vn/

Một ca khúc của Trịnh Công Sơn vừa phát hiện

Một ca khúc của Trịnh Công Sơn vừa phát hiện

Kỷ niệm 8 năm ngày mất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
MỘT CA KHÚC VỪA PHÁT HIỆN
Khoảng những năm 1970-1975, tôi đã từng cùng bạn bè hát nhiều lần bài hát của Trịnh Công Sơn, trong đó có một ca khúc mà nay không mấy người nhớ hoặc biết đến.
Tôi ngờ rằng bài hát đó ông viết ra chính là để đáp ứng cho những dịp sinh hoạt tập thể. Xin nói luôn, đó là bài hát có tựa đề Bằng lòng với những lời ca dễ thương, thơ mộng như sau: “Chân có bằng lòng cho chân theo với. Tóc có bằng lòng xe một sợi thôi. Mắt có bằng lòng trông nghiêng chờ đợi. Tim có bằng lòng giữ hộ tình tôi. Là la la la la là là… Tay có bằng lòng cho tay nắm với. Vai có bằng lòng cho quàng nhẹ ngang. Tim có bằng lòng cho tim gần lại. Môi có bằng lòng cho một… nụ hôn. Là la la la la là là”.
Bài hát có hai đoạn, xen giữa đó là những “hư từ” là la la… đệm vào, như một cách thế giúp cho một nhóm người cùng hòa nhập với nhau và cũng là hòa nhịp vỗ tay trong khi hát. Những câu nhịp bốn dễ hát Chân có bằng lòng/ cho chân theo với… đã mau chóng lôi cuốn chúng tôi trong sinh hoạt và cả trong kín kẽ... “tỏ tình” nếu ai đó có tình ý gì đó với một bạn gái nào đó.
Những năm đó, tôi còn là cậu bé 11-12 tuổi, sinh hoạt trong gia đình Phật tử, rồi là trong Hướng đạo ở Quảng Ngãi, được một anh huynh trưởng bày cho hát rồi thuộc lòng dễ dàng. Cứ nghĩ đó là một dạng bài hát tập thể, bài hát cộng đồng nên ít quan tâm đến tác giả của nó, nhưng rồi vài năm sau, trước 30.4.1975 một tí, lúc bắt đầu biết… yêu thì mới “phục” ca từ bài hát, vì nó hệt như một bài thơ tình học trò, đáng lưu giữ trong ký ức của mình. Và qua tìm hiểu, tôi mới được anh huynh trưởng kia (vốn là sinh viên Đại học Văn khoa Huế) cho biết đó là bài hát này do nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sáng tác và được lan truyền rộng rãi trong các trường đại học ở Huế lúc bấy giờ.
Thế nhưng, từ sau 1975, và cho đến gần đây, tôi hầu như không được nghe cũng như không thấy ở đâu nhắc đến bài hát này cả. Gặp một số bạn bè thân thiết của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, và cả “tìm đến” Diễn đàn văn hóa Trịnh Công Sơn (Pháp) do Tiến sĩ Phạm Văn Đỉnh phụ trách - nơi tự hào có bộ sưu tập đầy đủ nhất gia tài ca khúc của họ Trịnh, cũng không thấy ai nhắc nhớ!
Trưa ngày 22.4 vừa qua, gọi điện cho anh huynh trưởng ngày nọ (giờ đang ở TP.HCM) hỏi lại, thì vẫn nhận được một câu chắc chắn như đinh đóng cột: “Đêm 24.12.1974, đón Giáng sinh tại Đại học Văn khoa Huế, trước hàng nghìn bạn bè cùng trường và từ các trường khác đến, mình đã hát bài hát này với lời giới thiệu rõ ràng, Bằng lòng của Trịnh Công Sơn mà có ai phản đối đâu”. Tiếp đó, anh cho biết thêm, thuở ấy (những năm 1970), ở Đại học Văn khoa Huế, sinh viên được học nhiệm ý một số môn (tự chọn) ngoài các môn chính phải học. Anh chọn học thêm môn Thẩm mỹ âm nhạc và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là người (được nhà trường thỉnh giảng) đến lớp anh dạy môn này, trong đó, ông có lần phổ biến cho sinh viên bài hát nói trên.
Với tôi ngày ấy, và với tôi bây giờ, đây vẫn là một bài hát hay.
Đoàn Vị Thượng
Nguồn: Báo Phụ Nữ TP.HCM
Theo http://leminhquoc.vn/

Thơ của ca sĩ Ánh Tuyết

Thơ của ca sĩ Ánh Tuyết

Có những người sinh ra để hát. Tiếng hát thả trôi về trời. Về mây. Về gió. Hát cho chính mình, chứ không vì ai khác. Ánh Tuyết là một ca sĩ như thế. Nhẹ nhàng và rong chơi trong âm nhạc Văn Cao, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn... Gần đây chị lại hát một vài tình khúc bằng giọng đặc sệt Quảng Nam. Và chị lại làm thơ. Cũng là một cách để chơi. Chuyện ca sĩ Ánh Tuyết làm thơ, báo Thanh Niên số ra ngày 10.2.2004 có đưa tin như sau:
Ca sĩ Ánh Tuyết
"Văn Cao dạy ca sĩ Ánh Tuyết làm thơ?: Chuyện này hư thực ra sao không rõ, chứ từ khi hát thành công ca khúc của nhạc sĩ Văn Cao thì cô ca sĩ này đâm ra... thích làm thơ! Bằng chứng mới đây qua tin nhắn cho nhà thơ Lê Minh Quốc, cô viết:
Cuộc đời chẳng mấy khi vui
Ai mà không nhớ tới tui thì buồn
Nhà thơ bèn nhắn lại:
Trong buồn tìm gặp niềm vui
Trong vui thì thấy có tôi đang buồn
Không ngờ Ánh Tuyết tiếp thục... làm thơ:
Người buồn chẳng lẽ tui vui
Thôi thì người trút sang tui cái buồn
Tui đem ra giữa chợ đời
Ai mua tui bán cho... dzui cuộc đời
Đọc xong, tác giả Tôi chạy theo thơ dành... ngắc ngứ, chào thua. Thế mới biết, khi yêu nhạc Văn Cao thì ca sĩ Ánh Tuyết cũng trở nên lai láng hồn thơ lắm chứ" (Đoàn Duy Xuyên)".
Sau đây là chùm thơ mới nhất của ca sĩ Ánh Tuyết gửi về trang web www.leminhquoc.vn. Những vần thơ chỉnh chu trong vần, chữ và ý tứ - ta sẽ thấy thêm một góc khuất của người ca sĩ.
Lê Minh Quốc
TÌNH THU HÀ NỘI
Hà Nội thu về cây trút lá
Gió vờn say ngất đáy hồn ta
Ngồi tựa nắng chiều hanh bóng ngả
Mắt hờ khép giữ giấc mơ xa
Gió ơi, đưa bước người mơ đến
Đừng để thu vàng úa tình ta
Mặt nước Hồ Tây vờn vợn sóng
Soi dáng em mềm mấy chiều qua
Hà Nội chiều nay thu đẹp lạ
Lặng lẽ tình trao đỉnh tháp ngà
Nắng vàng ấp ủ men tình thắm
Đong đầy cơn khát giữa giang hà
Hà Nội 28/9/2012 
MÀU THU
Nắng vàng hôn khẽ môi mềm
Lá vàng che phủ tình êm muộn màng
Gió thu nâng nhẹ chân chàng
Tình vương khe khẽ đi hoang trong chiều
Ngập ngừng hồn lạc phiêu diêu
Bao mùa thu đã mộng nhiều trong ta
Thỏa tình em mấy thu qua
Mõi mòn e ấp chờ qua tháng ngày
Nâng niu giây phút sum vầy
Còn đây kỷ niêm đong đầy trong nhau
Nỗi đâu nào đã hằn sâu
Đong tình em cạn mấy màu vàng phai
Hà Nội 29/92012 
NGƯỜI ĐI
Người đi phố bỗng ngẩn ngơ
Hàng cây nghiêng ngả nhành chơ vơ sầu
Nắng trưa đổ bóng không màu
Vầng thơ chếnh choáng len sâu mắt buồn
SẦU
Gió đùa chi để lá rơi
Gió vờn chi để ta rơi lệ dài
Gió đưa cành liễu miệt mài
Sầu vương tiếng thở ngày dài thêm đau
Bơ vơ lòng nhớ tìm nhau
Chân hoài lỡ nhịp tình sầu thiên thu
Ánh Tuyết 

Lê Minh Quốc
Theo http://leminhquoc.vn/

Đá trong thơ

Đá trong thơ

Đá là khoáng sản vô tri vô giác, tồn tại khách quan trong cuộc sống của con người. Dưới góc độ đời sống, đá gắn liền với nhiều sinh hoạt hữu ích của xã hội. Nó có mặt trong xây dựng, trong trang trí nội thất, trong tạo hình sinh vật cảnh... Từ hàng nghìn năm nay, nhân loại đã sử dụng đá trong kiến trúc và nhìn nó như đối tượng thân thuộc, gần gũi với con người, quen thuộc với con người. Đá đi vào văn chương nghệ thuật, làm nên những hình tượng đẹp, gây nên những ấn tượng khó quên nơi người thưởng thức. Không biết từ bao giờ, nhân loại đã nói đến đá, đã đưa đá vào văn chương và nghệ thuật, cả Đông lẫn Tây đều vậy. Con người tìm đến đá, trò chuyện với đá, xem đá như người bạn tâm giao. Nếu tập hợp đầy đủ, chắc rằng chúng ta sẽ có nhiều tác phẩm hay về đá.
Bản in NXB An Phú  (Sài Gòn - 1953). Tư liệu L.M.Q
Cuộc đời với bao lo toan, bận rộn, khiến cho con người nhiều lúc không bình tâm để nhìn và suy ngẫm về sự lặng im đầy chất triết học của đá. Đâu phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Trãi khi lui về Côn Sơn thì viết Côn Sơn ca với những dòng thơ:
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
Côn Sơn có đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm  
Trong ghềnh thông mọc như nêm
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm
Trong rừng có trúc bóng râm
Trong màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn…
(Phan Võ - Lê Thước - Đào Phương Bình dịch, Thơ văn chữ Hán Nguyễn Trãi, NXB Văn hóa, HN,1962)
Sau này, trong dịp kỷ niệm 600 năm Nguyễn Trãi (1380-1980), nhà thơ Thanh Thảo đã viết:
Lui về Côn Sơn tránh chốn bụi lầm
Gối đầu lên hòn đá thay vì danh vọng
Con thuyền ấy vẫn không nguôi nhớ sóng
Lật mỗi trang thơ biển từng lúc hiện về...
(Về cái chết của Nguyễn Trãi)
Nguyễn Trãi nhiều lần đưa hình tượng đá vào thơ ca của mình. Bài thơ Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác (Sau loạn đến Côn Sơn cảm tác), Ức Trai viết:
Hà thì kết ốc vân phong hạ?
Cấp giản phanh trà chẫm thạch miên
(Bao giờ làm được nhà dưới ngọn núi mây,
Để múc nước khe pha chè và gối đầu đá ngủ)
Với những bài thơ như thế, phần lớn Nguyễn Trãi bày tỏ tâm trạng, nỗi niềm, suy tư về thế thái nhân tình.
Cả đến Nguyễn Công Trứ cũng vậy. Những tấn tuồng ảo hóa của sự thế, ông tìm đến thiên nhiên để bày tỏ, dạng như: Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo/ Giữa trời vách đá cheo leo/ Ai mà chịu rét, thì trèo với thông. Trong văn học cổ Việt Nam, Nguyễn Công Trứ, cũng như các nhà thơ phong kiến khác, khi thực tiễn đời sống không phù hợp với lý tưởng, họ đều tìm đến với phong hoa, tuyết nguyệt, vui thú điền viên, kiểu như: thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ, rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà. Lẽ xuất xử của đạo Nho dạy họ như vậy, vì thế, trong một bài thơ, Nguyễn Công Trứ viết:
Tòa đá Khương công đôi khóm trúc
Áo xuân Nghiêm tử một vai cày
Thái bình vũ trụ càng thong thả
Chẳng lợi danh chi lại hóa hay!
Bà Huyện Thanh Quan với Thăng Long hoài cổ đã suy ngẫm về sự hưng phế của một triều đại, ngẫm về bao sự thế ở đời, nữ sĩ viết:
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường...
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã 14 lần sử dụng từ “đá”, nào là: lệ rơi thấm đá, cho lăn lóc đá, đá biết tuổi vàng, đá cũng nát gan, đá nát vàng phai, đá vàng thủy chung,… với nhiều ngữ cảnh và cung bậc khác nhau, có lúc để chỉ cái cứng bền, trung thành trong cuộc sống, có lúc để chỉ cái kiên trinh, bền chặt trong tình yêu. Trong buổi chiều xuân gặp gỡ của Kim - Kiều, Nguyễn Du viết:
Đã lòng quân tử đa mang
Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung
Sau đó, tình yêu của đôi trai tài gái sắc này là:
Từ phen đá biết tuổi vàng
Tình càng thắm thiết, dạ càng ngẩn ngơ.
Sau này, khi rơi vào tay Hoạn Thư, tại Quan âm các, Thúc Sinh đã bẽ bàng nói với Kiều:
Thẹn mình đá nát vàng phai
Trăm thân dễ chuộc một lời được sao!  
Ôi, cái anh chàng Thúc Sinh sợ vợ, người đã “thề giữ lòng như đá vàng, mà để cho đá thì nát, vàng thì phai, tức là không giữ lời thề” (Đào Duy Anh, Tự điển Truyện Kiều, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974, trang 115).
Những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng nhiều lần đưa hình ảnh đá vào thơ. Không thể khác hơn với các cung đường, với những người nữ thanh niên xung phong của Trường Sơn phá đá mở đường, “đưa lên rừng mấy chục vạn người con / Không thể nói là không đói không sốt“, không có những hy sinh, những mất mát. Vậy mà:
… Dân tộc ấy có gì kỳ lạ
Một nước bao nhiêu là đá Vọng phu
Những năm tháng đợi chờ, những thập kỷ đợi chờ
Chỉ một là người, hai là hóa đá
Dân tộc ấy có gì kỳ lạ…
Trong văn học Việt Nam, hình tượng “vọng phu” trở thành mô-típ nghệ thuật, với nhiều cách nhìn, cách thể hiện khác nhau. Bài Vọng phu của Chế Lan Viên là một ví dụ. Đây là một bài thơ hay, nhiều tầng nghĩa:
Là tượng đá của những thời binh lửa
Nàng vọng phu đầu sông hơn gì nàng Tô Thị cuối sông…
Người ra đi chắc gì quay lại nữa
Trên đầu non lòng đá vẫn kiên trinh.
Bản in của Hãng đĩa Việt Long 
(Sài Gòn - 1947). Tư liệu L.M.Q
Kiên trinh trong chờ đợi, bao cánh chim khuya bay qua vai đá, bao vành trăng tròn rồi lại khuyết, đá đợi chồng “một mình với mây, một mình với gió”, “một phút đợi chờ sâu một bể thời gian”. Bài thơ kết thúc bằng một giọng điệu thê thiết, day dứt:
Không hóa thạch kẻ ra đi, hóa thạch kẻ đợi chờ
Xói mòn những non cao, không xói mòn lòng chung thủy
Đá đứng đấy giữa mưa nguồn và chớp bể
Đợi một bóng hình trở lại giữa đơn cô.
Nhà thơ nữ Thu Nguyệt có bài thơ Từ lúc ấy diễn tả nhiều cung bậc của tình yêu gắn liền với đá. Đá đã trở thành đối tượng nghệ thuật,  thành nhân vật trữ tình của bài thơ. Bài thơ như sau:
Em ngồi hóa đá thành thơ
Trả anh ngày tháng anh chờ lúc yêu    
Em ngồi hóa đá thành chiều
Trả anh cái nụ hôn liều ngày xưa
Em ngồi hóa đá thành mưa
Trả anh cái phút anh đưa qua cầu
Xa nào anh có hay đâu
Đá từ lúc ấy bây giờ hóa em
Người con gái đã “hóa đá” chờ người yêu, chờ ở nhiều thời khắc, nhiều tâm trạng. Cái hay của bài thơ là từ “hóa đá” giờ thành “hóa em”. Đá đã hóa thành chiều, thành mưa để trả tháng ngày chờ đợi, trả cái nụ hôn liều, trả cái phút đưa nhau qua cầu. Bài thơ lạ ở cách viết và nhiều người thích. Cũng viết về tình yêu, Thu Bồn trong bài thơ Tạm biệt Huế, nhà thơ viết:
Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt
Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya
Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng
Anh trở về hóa đá phía bên kia
Bài thơ viết về Huế (1980) của Thu Bồn đã nói rất hay về nón Huế, áo dài Huế, đền đài Huế, sông và cầu xứ Huế, một nơi mà: “một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu”. Thực và mơ đan cài vào nhau, dùng dằng như sự lững lờ của sông Hương. Cuối cùng, để giữ Huế, nhà thơ đã tự nguyện “hóa đá phía bên kia”, xin Hải Vân giữ ngọn sao khuya và chờ đợi người về!
Em ơi! Hà Nội - Phố, bài thơ của Phan Vũ, nói về tình yêu Hà Nội, về mùi hoàng lan, mùi hoa sữa, về “mỗi góc phố một trang tình sử“ và về “những con đường vắng, rì rào cơn mưa nhỏ“ của gã tình si:
Ta còn em đôi mắt buồn
Dõi cánh chim xa
Tháng năm dừng lại
Một ngôi nhà
Gã Trương Chi ôm ghi-ta
Từng đêm
Hóa đá…
Lại là một cách “hóa đá” từ đôi mắt buồn, đọng lại của những tháng năm xa ngái, của tiếng đàn chùng đi từng đêm, từng đêm.
Trần Đăng Khoa có bài thơ Trước đá Mỵ Châu được nhiều người đọc yêu thích. Bài thơ viết tại Cổ Loa, ngày 12-3-1974, lúc nhà thơ 16 tuổi. Truyền thuyết An Dương Vương với nhân vật Mỵ Châu đẫm đầy nước mắt, thu hút bao thế hệ người đọc, gợi lên bao thương cảm về cái chết đầy chất bi kịch, gắn liền với vận nước điêu linh, khiến đời sau luôn nghĩ và nhớ đến người phụ nữ này. Trước khi vào bài thơ, Trần Đăng Khoa có lời dẫn giải như sau: “Ở bãi biển Thanh Hóa nổi lên một phiến đá hình cô gái cụt đầu. Nhân dân cho đó là nàng Mỵ Châu bị cha chém chết, hóa đá, nên đã dùng võng đào đưa “nàng” về Đền Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội”. Bài thơ mở đầu:
Người dân nào xưa đưa em về đây
Cho em gặp bố
Người bố mất nỏ thần, giận em, ruồng bỏ
Nhưng nhân dân mình không nỡ bỏ em…
Bao đời nay, nhân dân rất độ lượng với Mỵ Châu, hiểu rõ sự trong trắng và  tha thứ cho lỗi lầm của nàng:
Nhớ vận nước có một thời chìm nổi
Bắt đầu từ một tình yêu
Em hóa đá ở trong truyền thuyết
Cho bao cô gái sau em
Không còn phải hóa đá trong đời.
Chế Lan Viên có một tập thơ, mang tên Hoa trên đá (NXB Văn học, HN, 1984). Mở đầu tập thơ, tác giả lý giải về việc đặt tên bằng một bài Đề từ, dài đến 10 khổ. Bài thơ bắt đầu:
Đời ngoài tuổi năm mươi   
Mong gì hương sắc lạ   
Mọc chùm hoa trên đá
Mùa xuân đâu chịu lùi…
Bản in NXB Văn Học (1984)
Chế Lan Viên biết cái hữu hạn của đời người: Anh như ông vua Thục/ Bị đuổi bởi thời gian/ Trước mắt là bể lớn/ Sau lưng đất không còn. Viết nhanh lên cho kịp/ Lũ sắp ập về kia/ Đạp tháng ngày mà viết/ Còn âm à nỗi chi. Hiểu tâm trạng này của Chế Lan Viên, ta mới hiểu vì sao những năm cuối đời, nhà thơ như bị thời gian xua đuổi: Viết đi! Viết đi! Viết! Viết/ Thời gian nước xiết. Cuối cùng, nhà thơ cũng hiểu và tâm sự với đá:
… Trong giấc ngủ vô cùng của Đá
Cùng vô hạn đêm khuya và vô hạn sao trời…
Ta bản lĩnh thì đá kia bản lĩnh, mà ta  
cô đơn thì đá hóa cô đơn.
Ngọn Thi sơn Chế Lan Viên đã trở về Cõi Quên, đã đi hết thời gian ở trên trái đất, đã gửi lại cho đời bao giọt nước mắt thi ca cùng với nhiều hình tượng đá đầy chất triết học, triết luận, vô cùng đa sắc, đa thanh.
Huỳnh Văn Hoa
Theo http://leminhquoc.vn/

Về đâu những cánh chim trong ca dao

Về đâu những cánh chim trong ca dao

Câu hát đối theo bạn cày (in tại 
Sài Gòn từ năm 1930) - Tư liệu L.M.Q

1. Nhiều khi một mình đứng giữa cánh đồng bao la, chập chờn sóng lúa, tôi lại thích ngẩng đầu lên, nhìn bầu trời xanh với vô số mây trắng bềnh bồng trôi, và mong tìm những cánh chim trong ca dao. Cánh chim của thời thơ ấu, vừa thích thú tò mò, lại vừa hồi hộp run sợ vì bởi đó là con chim… diều hâu và con chim quạ!
Chiều chiều quạ nói với diều
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm
Trong ký ức tuổi thơ tôi, trên bầu trời cao xanh kia, những trưa đầy gió, không chỉ có những con diều giấy, mà còn có những con diều thật, bay như lơ lững một nơi, thỉnh thoảng chao liệng, nghiêng ngó, và trong sân, ngoài bãi, những con gà con, chao chát chạy về núp dưới đôi cánh của gà mẹ. Gà mẹ, vừa dang rộng đôi cánh, ấp ủ, che chở cho bầy gà con, vừa xù lông, ưỡn cổ kêu vang, sẵn sàng ứng chiến với con diều dũng mãnh trên cao. Một tình mẹ thật thiêng liêng và cao cả. Đó là lúc lũ trẻ chúng tôi, cũng lớn giọng “Diều! Diều…” để hù dọa và đuổi diều bay xa. Có đứa còn lấy giàn thun cố bắn con diều đã xa tít mù, như một cái lá giữa tầng không.
Rồi những buổi sáng, buổi chiều, lùa trâu, bò ăn cỏ ở gần những bãi tha ma, lặng lẽ nhìn những đàn quạ đen bay lượn, hay rình nấp những con quạ, đang đậu trên những cây thánh giá của một vài ngôi mộ cổ, mà tưởng tượng ra mụ phù thủy hung ác, đang luyện phép thuật, bên những xác người.
Trang cổ tích ngày xưa vẫn nửa khép, nửa mở trong ngăn kéo của ký ức, song những cánh diều đơn độc, và những bầy quạ kia dường như bây giờ đã vắng bóng. Hay những cánh chim, loài biểu tượng cho cái ác, cái xấu, ngày nay đã không còn? Không biết là nên mừng hay nên lo?
Nơi tôi ở, vẫn mênh mông đồng ruộng, vẫn bãi, cồn… Nhưng thật khó tìm ra một con diều, con quạ. Xem truyền hình, đọc sách báo, thấy những thành phố trên thế giới, vẫn tồn tại hàng đàn quạ. Nhiều nơi, diều vẫn hàng ngày bay lượn. Bỗng bâng khuâng tiếc nhớ những cánh chim trong ca dao của xứ mình. Chợt buồn buồn tự hỏi: “Bay về đâu rồi những cánh chim trong cổ tích?“
2. Theo thuyền, đi dọc theo dòng sông Vàm Cỏ, lại thích đi gần bờ, để được nhìn ngắm những loài cây của vùng sông nước. Những cây tràm, cây đước, những cây bần, cây cà na… Và hình như vẫn thấy thiêu thiếu những cây mù u, những cây mã tiền của ngày xửa, ngày xưa…
Nhiều khi neo thuyền hàng giờ, đón chờ con nước lớn, nước ròng, nhìn bóng hoàng hôn chập choạng, nhuộm tím hồng dòng sông. Lặng thinh, ngóng nghe một tiếng chim. Đó là tiếng chim trong ca dao : “Bìm bịp kêu nước lớn, nước ròng…” và rồi buồn như sông, khi không còn nghe thấy tiếng chim. Thêm một loài chim dần vắng bóng?
Sáng sớm, ra ngoài chợ. Nhiều lúc thấy người ta bán hàng lồng chim bìm bịp. Giật mình tự hỏi, người ta bắt ở đâu? Khi nào? Dọ hỏi bán chim bìm bịp để làm gì? Người bán hồn nhiên giải thích: "Chim bìm bịp ngâm rượu cùng với các loại rắn… tam xà, tứ xà, ngũ xà… Cường dương, bổ thận và chữa nhức mỏi đại tài!".
Bìm bịp chuyên ăn rắn, chết lại ngâm chung với rắn. Không biết là công dụng thật sự hay chỉ là chuyện thêu dệt khôi hài?
Lại thêm buồn mênh mang về số phận của con chim bìm bịp. Thêm một loài chim trong ca dao cũng sẽ bắt đầu… bay mất.
Trần Hoàng Vy
Theo http://leminhquoc.vn/

Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

Màu tím trong thơ ca

Màu tím trong thơ ca

Màu sắc là một phương diện của cái nhìn nghệ thuật trong văn chương, làm nên thế giới nghệ thuật của một nghệ sĩ. Những nghệ sĩ có phong cách thường có kiểu sử dụng màu sắc theo một cách riêng, làm nên nét dộc đáo của tác phẩm, của tác giả.
Bài viết này, sẽ tìm đến nghệ thuật sử dụng màu tím trong thơ ca của số nhà thơ quen thuộc của Việt Nam.
Ảnh chỉ mang tính minh họa (tạp chí Văn 
in 1.4.1972 tại Sài Gòn). Tư liệu L.M.Q
Về phương diện hội họa, màu tím là sự pha trộn và hợp thành của màu xanh và màu đỏ. Tím là màu sắc thiên về các khía cạnh của nội tâm, không thích phô trương, tìm đến những ngõ ngách riêng tư của con người, diễn đạt những khung trời nhớ nhung, xa vắng, lẫn khuất đâu đó là những hoài niệm, hoài cảm.
Màu tím của hoa sim, hoa mua, hoa bằng lăng, hoa lục bình, hoa xoan, hoa súng,… đã đi vào thơ ca với những sắc điệu riêng của tâm hồn, với nhiều cách nhìn phong phú, đa dạng, độc đáo. Không ít bài thơ, câu thơ đã nhờ màu tím mà tồn tại với thời gian.
Màu tím là một gam màu ít được các nhà thơ cổ điển Việt Nam dùng.
Trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều sử dụng có một lần màu tía (Muôn hồng nghìn tía đua tươi), ông không dùng màu tím.
Chinh phụ ngâm, “tác phẩm do hương cống Đặng Trần Côn soạn, nhân đầu đời Cảnh Hưng việc binh đao nổi dậy, người đi chinh thú phải lìa nhà, ông cảm thời thế mà làm ra“ (Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí), với 408 câu, có màu xanh, màu trắng, màu vàng, màu hồng và chỉ một lần nói đến màu tía (Trước gió xuân vàng tía sánh nhau), lấy tích từ “cành Diêu đóa Ngụy, hai giống hoa mẫu đơn quý một của họ Diêu màu vàng và một của họ Ngụy màu đỏ tía (Những khúc ngâm chọn lọc, NXB ĐH và THCN,HN, 1987, trang 55). Màu tía là màu đỏ thắm. Tía, theo Đào Duy Anh, là “sắc đỏ thắm“ (Từ điển Truyện Kiều, trang 363). Đặng Trần Côn vẫn không đưa màu tím vào thơ.
Trong Truyện Kiều, với 3254 câu, Nguyễn Du chưa một lần dùng đến màu tím.
Những điểm nêu trên là điều khá lạ lùng về tư duy nghệ thuật của văn học trung đại, về phát triển của ngôn ngữ tiếng Việt. Trái lại, trong thơ hiện đại, nhiều nhà thơ sử dụng khá quen thuộc màu tím, thậm chí gắn liền tên tuổi của mình với sắc màu này.
Nguyễn Bính có nhiều bài thơ hay viết về Huế. Đó là những bài: Giời mưa ở Huế, Vài nét Huế, Xóm Ngự viên, Thu rơi từng cánh. Tập Mười hai bến nước, còn có số bài thơ viết vào lúc thi sĩ ở Huế, như Hoa với Rượu, Xuân tha hương, Lửa đò,…
Trong số đó, Màu tím Huế là bài thơ phản ánh nhiều cung bậc của Huế. Màu tím là màu có tính đặc trưng của Huế. Đây không phải là điều ngẫu nhiên. Huế vốn nằm gần với dãy Trường Sơn. Về mặt tự nhiên, nói như Xuân Diệu, khi “ngày chưa dứt hẳn” thì bóng chiều đã bắt đầu buông xuống. Giao thoa giữa hai thứ ánh sáng ấy, màu đỏ của hoàng hôn và màu sẩm của buổi chiều, đã tạo nên sắc tím đặc biệt của xứ Huế. Không gian chiều của xứ Huế là không gian của màu tím, nó không giống với bất cứ nơi nào trên nước ta, vì thế, người Huế yêu màu tím. Màu tím đi vào văn chương nghệ thuật của xứ thần kinh là vậy. Nguyễn Bính là người nhận ra nét tím của Huế:
Thôi thế là em cách biệt rồi
Đường đi mỗi bước một xa xôi
Tim tím rừng chiều tim tím núi
Tim tím chiều hôm, tim tím mai…
Màu tím nhuộm núi rừng, nhuộm chiều hôm, nhuộm ban mai, nhuộm nhớ mong, nhuộm lên trang giấy tình thư, nhuộm lên nét thương đau của nhớ nhung, của cát bụi kiếp người.
Hai câu kết, vẫn màu tím ấy, cả rừng, cả núi, cả chiều hôm, tím một màu tím Huế rất Nguyễn Bính..          
Gần đây, trong Tặng người hát dân ca, với thể thơ tự do, Lê Nhật Ký, viết:
Núi Ngự Bình mặc áo tím lúc hoàng hôn. Chuông chùa Thiên Mụ ngân nga láy vào nỗi nhớ. Sông Hương chảy một  đời không tới biển. Huế trong tôi là một chiếc áo dài...                                  
Hữu Loan nổi tiếng với bài thơ Màu tím hoa sim. Bài thơ đứng vững hơn nửa thế kỷ, trở thành một trong những bài thơ tình hay nhất trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Màu tím hoa sim là tiếng lòng của anh Vệ quốc quân đối với cái chết của người vợ trẻ. Nguyên mẫu cuộc đời đã trở thành nhân vật nghệ thuật, thành thơ ca, thành âm nhạc. Có thể nói không ngoa rằng, nếu bài thơ ấy, tác giả không chọn gam màu chủ đạo là màu tím thì chắc gì đem lại sự rung cảm trong tâm hồn tác giả và người đọc.
Quả vậy, từ chỗ:
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim…
Cho đến những chiều mưa trên chiến trường Đông Bắc, nơi ba người anh “biết tin em gái mất, trước tin em lấy chồng” và “đứa em nhỏ lớn lên, ngỡ ngàng nhìn ảnh chị“, với “gió sớm thu về gờn gợn nước sông“, với “cỏ vàng chân mộ chí”,… là bao nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi của người chiến sĩ - thi sĩ:
Chiều hành quân
Qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa…
Kiên Giang với bài thơ dài Hoa trắng thôi cài trên áo tím, 15 khổ, được nhiều người đọc yêu thích. Bài thơ kể về mối tình học trò. Ngày trước, ngôi trường người con trai theo học đối diện với ngôi giáo đường của người con gái thường đi lễ nhà thờ. Chuông nhạc đạo và chuông nhà trường hòa lẫn, khiến người con trai “làm thơ sầu mộng“, thầm muốn  “để nghe khe khẽ lời em nguyện - thơ thẩn chờ em trước thánh đường“:
Mười năm trước, em con đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh…
Mỗi lần tan lễ hồi chuông đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi…
Thế rồi, một ngày kia, em theo chồng: “Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo, Tiễn nàng áo tím bước vu quy". Dầu vậy, người con trai của mười năm trước: “Anh vẫn yêu em người áo tím, Nên tình thơ ủ kín trong lòng". Chiến tranh, loạn lạc, tình thơ cũng nhạt màu, nhưng than ôi, cũng chiếc xe hoa ngày ấy:
Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang…
Vòng hoa trắng lạnh đó gửi cho người con gái áo tím, với ân tình ngày cũ, dù đã phôi pha nhưng trắng trong, tinh khiết, đẹp như một bài thơ buồn.
Kiên Giang là bạn thơ của Nguyễn Bính trong những năm kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ. Trong nhiều bài thơ của ông, người đời nhớ và yêu nhất bài thơ dung dị này.
Cũng màu tím ấy, vậy mà, với cái nhìn cá thể, một nhà thơ đã để lại trong gia tài văn chương dân tộc những bài thơ độc đáo, lưu giữ mãi với thời gian. Đó là Chế Lan Viên, ngọn Thi sơn của Việt Nam.
Cả tập Điêu tàn, màu sắc chủ đạo vẫn là màu trắng và màu đen. Điều này có lý do của nó về quan niệm thẩm mỹ. Sau Cách mạng tháng Tám, như nhà thơ đã nhiều lần phát biểu, ông đã đi từ “chân trời một người đến với chân trời tất cả“, đi từ “câu hỏi hư vô, thổi nghìn nến tắt” để đến “bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh“. Bên cạnh một Chế Lan Viên triết luận, bàn về những vấn đề nóng hổi của thời đại và dân tộc, còn là một Chế Lan Viên của đời thường, của tâm hồn dân dã, gắn chặt với máu thịt cuộc sống. Màu sắc trong thơ ông là một con đường riêng, riêng mà lại chẳng riêng chút nào, gây xúc động lòng người một cách sâu lắng. Chế Lan Viên hay nói đến màu tím, đó là màu hoa của Hồ Tây mà nhiều lần thi sĩ tìm đến. Trong bài Hoa súng tím, Chế Lan Viên viết:        
Từ lúc mê súng tím
Mới hiểu hết sen hồng
Càng biết yêu mùa hạ
Dâng màu sắc song song…
Vẫn là cách so sánh của lòng yêu hoa, mê hoa. “Mê súng tím“ tức là yêu một loài hoa bình dị, không kiêu sa, lặng lẽ nơi ao đầm quê ta. Tháng năm qua, loài hoa gắn với làng quê Việt ấy, trong một lần bừng thức, lòng hiểu thêm sen hồng, cũng một loài hoa thôn dã, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn“, hai thứ hoa có chung một tấm lòng, một trắng trong, dâng hiến cho đời. Chẳng thế mà nhà thơ mới viết: Dâng sắc màu song song một cách trang trọng, thâm tình. Yêu hoa để yêu đời, hiểu hoa để hiểu đời là vậy!
Cũng tên là Hoa súng tím, viết vào thời điểm của cơn đau thì lại thê thiết hơn. Bài thơ này in trong tập Hoa trên đá (NXB Văn học - 1984), trước lúc mất vài năm:
Mỗi lần đau, anh lại đến Tây Hồ
Chữa lành anh là hoa súng tím...
Hồ đầy hoa, nhụy vàng hương kín, vậy mà, “cả một mùa qua hoa nở chả ai hay,… ngoài chú vịt trời xao xuyến“. Không sao, còn có nhà thơ yêu hoa, "suốt cả một ngày lưu luyến“  bên hoa. Bài thơ như một tâm sự, như một giãi bày, muốn tìm tri âm, chia sẻ. Vào những năm cuối đời, qua bao nỗi thăng trầm của thế sự, qua bao biến chuyển của cuộc đời, Chế Lan Viên nhận ra rằng, nhiều cái bình dị quanh ta, ta bỏ quên, như hoa súng tím khiêm nhường kia:
Hoa súng tím An Giang, hoa súng trắng Tây Hồ
Những cành hoa chưa ai làm thơ cả  
Tuổi 64, tôi mới biết màu hoa dân dã
Biết hoa rồi, tôi đã sáu mươi tư
(Hoa súng An Giang)
Một chỗ khác, trước khi mất hai năm, như để cho người đời sau hiểu thêm mình, hiểu thêm những nỗi niềm sâu kín, riêng tư của mình, cũng là sự mong đợi, gửi gắm, nhà thơ viết:
Màu hoa súng ấy như cơn đau không dám khóc
Chỉ lặng im sắc tím để mà đau        
Người ta chỉ biết màu sen anh đỏ rực
Còn nỗi buồn hoa súng tím biết cho đâu
(Hoa súng, 1987)
Xét đến cùng, cái màu tím kia trong những bài thơ ngắn của Chế Lan Viên là một góc khuất hết sức nhân văn, tìm về sự yên tĩnh của tâm hồn sau bao sóng gió của cuộc đời, cập đến bến bờ của thức ngộ. Dường như là, đằng sau của "nỗi buồn hoa súng tím“ ấy, Chế Lan Viên muốn gửi gắm cho đời một thông điệp, rằng là, bên cạnh một Chế Lan Viên chính luận, còn một mặt nữa của tháp Bayon, mặt ấy, nhà thơ đau đáu bao nỗi niềm, bao tâm sự, cả những điều chưa biết giãi bày cùng ai! Có lúc cũng ngậm ngùi khôn xiết!   
Cao Vũ Huy Miên có bài thơ Hoa tím ngày xưa, được Hữu Xuân phổ nhạc, nhiều ca sĩ hát và công chúng yêu thích. Đây là bài thơ tình nói về con đường của người bạn gái trong tuổi học trò thường đi về, làm nên cảm xúc thơ ca cho chàng trai:
Con đường em về ban trưa
Hoa tím nghiêng nghiêng đợi chờ
Tuổi em vừa tròn mười bảy
Tóc em vừa chấm ngang vai.
Cũng con đường đó, em về mưa bay, em về thơm hương, tiếng dương cầm rơi nơi đâu, lặng lẽ. Và rồi, tuổi 17 của em qua đi, qua đi chẳng biết bao giờ, để rồi:
Trường xưa chẳng còn học nữa…
Con đường em về năm xưa
Có biết hay chăng bây giờ
Hoa tím thôi không còn nữa
Chỉ còn ta đứng dưới mưa.
Bài thơ ngắn, dung dị, dễ thương của một thời vụng dại. Chắc là, hoa tím vẫn còn nơi con đường ngày cũ, chỉ có điều, con đường xưa ấy, người của một thời không qua nữa, nên “hoa tím thôi không còn nữa, chỉ còn ta đứng dưới mưa“.  
Nguyễn Sĩ Đại có bài thơ Mực tím viết theo thể thơ lục bát, cũng là một bài thơ đáng yêu, viết cho tuổi học trò ở thời điểm sắp rời ghế nhà trường phổ thông:
Bây giờ mực tím thôi vương
Mùa thi đã vãn, sân trường vắng hiu  
Tiếng ve kêu sốt nắng chiều
Cuốn lưu niệm cũ, chữ xiêu xiêu buồn…
Bây giờ mực tím thôi vương
“Bậu về xứ bậu“, lời thương không đành
Bây giờ…
Thôi xếp áo khăn
Gửi hồn mực tím trên cành bằng lăng
Bài thơ ngắn chỉ 8 câu, có hai lần nói đến “mực tím thôi vương“ và ba lần nhấn mạnh đến “bây giờ“. Mỗi lần mỗi khác. Lần sau, mượn câu ca dao: “Rồi mùa tóc rã, rơm khô/ Bậu về xứ bậu biết nơi mô mà tìm“ để bày tỏ nỗi niềm nuối tiếc, bâng khuâng. Tuổi học trò thời nào mà không có những phút giây xao xuyến ấy!
Màu tím vương vương nơi nhiều bài thơ. Đoàn Phú Tứ có: Màu thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngát (Màu thời gian), Anh Thơ, trong Chiều xuân, đã viết: Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng/ Bên chòm xoan, hoa tím rụng tơi bời. Tố Hữu, với bài thơ Hoa tím, tặng Nguyễn Tuân, có câu: Thủy chung tình bạn chùm hoa tím. Hoàng Phủ Ngọc Tường với Dù năm dù tháng, được Nguyễn Công Dinh phổ nhạc với tên Cành phù dung cho em, có những câu:
Anh ngắt cành phù dung trắng
Tặng em niềm vui cầm tay
Màu hoa như màu tia nắng
Buổi chiều chợt tím không hay…
Phan Vũ trong Em ơi! Hà Nội phố, Phú Quang phổ nhạc, là một Hà Nội của mùi hoàng lan, mùi hoa sữa, của “chiếc khăn quàng tím đỏ thoáng qua“, của những "con đường vắng, rì rào cơn mưa nhỏ“, của “tan lễ chiều, kinh cầu còn mãi ngân nga“ và nữa:  
Ta còn em cô hàng hoa
Gánh mùa thu qua cổng chợ
Những chùm hoa tím
Ngát mùa thu…
Hoàng Nhuận Cầm cũng có những câu thơ hay về mùa thu và hoa tím:
Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến
Chỉ tiếc mùa thu vừa mới đi rồi
Còn sót lại trên bàn bông cúc tím
Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi!
(Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến)
Hữu Thỉnh với Biển, nỗi nhớ và em, có câu thơ thật hay:
Em đâu phải là chiều
Mà nhuộm anh đến tím…
Ngô Văn Phú với Trời đã vào thu…, khi sông không đầy nước, khi mây làm khăn quàng qua vai núi, thì cũng là lúc:
Đôi bờ lau lách đìu hiu tím
Gom buồn lên ngọn gió heo may…
Có thể kể ra nhiều bài thơ, câu thơ có chứa màu tím. Cái màu tím ấy đã đem lại cho thơ ca tiếng Việt một sắc thái riêng, một nẻo về riêng của tâm hồn với bao xao xuyến, bao tâm trạng nơi người đọc, góp phần làm nên những tác phẩm hay trong văn chương Việt Nam.
Huỳnh Văn Hoa
Theo http://leminhquoc.vn/

  Lại nói về Ba Tàu và Các Chú T rong một bài viết, "Cớ sao gọi người Trung Quốc là "Tàu"!" đăng trên website báo Ngườ...