Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021
Lữ Mai - Đêm nhiệt đới mơ qua ngày trống rỗng
Lữ Mai - Đêm nhiệt đới
Bản mệnh của thơ Lữ Mai là nước - nước nguyên thể. Trong
những dạng thức tồn tại của nó, nước hóa hình thành mây, thành sương, thành
mưa, nước lưu đọng hình hài trong sông bể ao hồ… nhưng, ở đâu nước vẫn giữ vẻ mềm
mại uyển chuyển, khả năng thấm nhập và tưới tẩm…
Nguyễn Bính và những mùa xuân cô lữ
Nguyễn Bính và những mùa xuân cô lữTạp chí Văn (Sài Gòn - 1971) - Tư liệu L.M.Q
Đêm ba mươi Tết trời mưa bụi
Sực nhớ quê nhà uống rượu suông
(Nguyễn Bính)
Nguyễn Bính là nhờ thơ tha hương. Suốt cuộc đời lầm lũi, lận
đận nơi quê người, Nguyễn Bính có những vần thơ " lữ khách nhớ quê "
đầy tê tái, nhất là mỗi khi xuân về, Tết đến.
30 Tết Ất Tỵ, ngày giáp Tết Bính Ngọ (20/01/1966) cũng là kiểu
tha hương mới, Nguyễn Bính rời chỗ cơ quan đang sơ tán, đến chơi nhà người bạn ở
Lý Nhân, không ngờ, lần ấy, nhà thơ từ biệt cõi đời.
Năm mới tháng giêng mồng một Tết
Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân.Bìa 4 tập sách Nguyễn Bính - thi sĩ của yêu thương (NXB Hội
Nhà văn) do Hoài Việt biên soạnĐối với Nguyễn Bính, tha hương như một định mệnh. Gần 20 năm
trời, ông nếm trải đầy đủ mọi dư vị đắng cay của cảnh "một
thân lận đận nơi trời xa". Người thi sĩ giang hồ này đã trôi dạt nhiều
nơi. Có khi, ngược tàu lên Phú Thọ, có lúc xuống Hải Phòng, rồi vào Huế,
Sài Gòn. Cuối cùng, vào các tỉnh miền Tây Nam Bộ, xuống tới Hà Tiên. Những ngày
tháng lang bạt đó đã để lại cho đời những vần thơ ngậm ngùi xót xa và không kém
phần hấp dẫn. Có lẽ, trong các nhà thơ lãng mạn, không ai như ông, chẳng chịu ở
nguyên một chỗ. Nguyễn Bính đi như vô định, như một khát vọng tìm kiếm một quê
hương mới... Song, càng dấn bước, Nguyễn Bính càng thấy "quê người đắng
khói, quê người cay men".
Từ nay khi nhớ quê nhà
Thấy mây Tần, tưởng đó là thôn Vân
(Bài thơ Thôn Vân)
Hoặc:
Hỡi ôi, trời đất vô cùng rộng
Nào biết tìm đâu một mái nhà
(Đêm mưa đất khách)
Trong bài Thư Gởi Thầy Mẹ, Nguyễn Bính nói lên tâm trạng tha
hương của mình với những câu thơ không kém phần đớn đau ân hận:
Con dan díu nợ giang hồ
Một mai những tưởng cơ đồ làm nên
Ai ngờ ngày tháng lưu niên...
Vậy mà, Nguyễn Bính vẫn cứ đi, đi mãi. Làng quê trở thành
hoài niệm mỗi khi dừng bước giang hồ. Sau bao ngày tháng "đêm đêm
quán trọ thức thi đèn", những buổi soi gương "thấy lệch bao nhiêu mặt
chữ điền", một ngày đầy ngỡ ngàng:
Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang
Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng
Sáng nay sực tỉnh sầu đô thị
Tôi đã về đây rất vội vàng.
(Sao chẳng về đây)
"Sực tỉnh" vậy thôi! Vốn là nhà thơ yêu tha
thiết cảnh xuân, vậy mà mùa xuân đến, Nguyễn Bính lại cô đơn. Quạnh quẽ một
thân, người thi sĩ vẫn không nguôi nhớ đến cánh hoa đào, phiên chợ Tết, câu đối
bên cột nhà hàng xóm. Như để chống chọi lại nỗi buồn xa xứ, ông quay ra với
chén rượu và mong tìm ở đó chút lãng quên. Nhưng rồi, thơ cũng suông và rượu vẫn
đắng:
Chén rượu tha hương! Trời, đắng lắm
(Xuân tha hương)
Thất vọng trong tình trường, trong "sòng đời thua đến trắng
hai tay", nhiều khi không còn chút bám víu nào, Nguyễn Bính có những
vần thơ đọc đến là tội nghiệp:
Em thường cầu nguyện, thường van vái
Một sớm thanh bình mặt đại dương
Bao giờ em được về quê cũ
Dâng chị bài thơ Xuân Cố Hương
(Xuân vẫn tha hương)
Chị Trúc, người chị trong nhiều bài thơ của Nguyễn Bính, là một
biểu tượng của ngày về, của ước mơ được sẽ chia. "Tha hương không gặp
người tri kỷ", chút êm đềm tan biến, trong nhiều bài thơ xuân, Nguyễn
Bính thường viết trong tâm trạng gãy đổ, đắng chát. Men vị cay nồng u uất là một
hương vị rất đặc biệt ở những ngày tháng phiêu lưu này. Khát vọng trở lại quê
nhà như ngọn nến luôn chực bùng cháy trong ông:
Một thân quán trọ sầu phong tỏa
Đốt ngọn đèn lên bóng rợn tường
(Xuân vẫn tha hương)
Ngọn nến hoài thương ấy, vừa sáng trong lòng nhà thơ những
khát khao và cũng lại chiếu hắt lên đó những nỗi niềm cô quạnh, bơ vơ:
Chao ôi, Tết đến em không được
Trông thấy quê hương thật não nùng
(Xuân tha hương)
Quê nhà xa lắc xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay
(Hành phương Nam)
Ước vọng ngày về, nhất là mỗi khi xuân đến đã tạo nên Nguyễn
Bính một giọng thơ lạ lẫm về tâm trạng tha hương. Hiếm thấy nhà thơ lãng mạn
nào nói hay hơn ông về cảnh huống "Rõi bóng quê nhà mắt lệ tuôn". Các
bài thơ Xuân Tha Hương, Xuân Lại Tha Hương, Xuân Vẫn Tha Hương, Hành
Phương Nam, Nguyễn Bính đã tạo dựng nên dòng thơ riêng: Dòng thơ cố quận.
Dòng thơ này đúc kết những cay đắng tình đời mà Nguyễn Bính từng giáp mặt trong
những năm quê người lẻ bóng. Ông là nhà thơ tự lưu đày ngay trên quê hương, thảng
hoặc, Nguyễn Bính cũng có tâm trạng giống Bạch Cư Dị bị biếm trích đi Giang
Châu, Khác chăng, Bạch Cư Dị còn có một ca kỹ đồng điệu. Tiếng đàn tỳ bà trên đất
Tầm Dương đêm nào đã gặp một tâm hồn. Nguyễn Bính không được như thế:
Tha hương không gặp người tri kỷ
Một cánh hoa tươi đỡ chạnh lòng?...
Quê người đứng ngắm mây lưu lạc
Bến cũ ngồi nghe sóng lỡ làng...
Huỳnh Văn Hoa
Huỳnh Văn Hoa
Một ca khúc của Trịnh Công Sơn vừa phát hiện
Một ca khúc của Trịnh Công Sơn vừa phát hiện
MỘT CA KHÚC VỪA PHÁT HIỆN
Khoảng những năm 1970-1975, tôi đã từng cùng bạn bè hát nhiều
lần bài hát của Trịnh Công Sơn, trong đó có một ca khúc mà nay không mấy người
nhớ hoặc biết đến.
Tôi ngờ rằng bài hát đó ông viết ra chính là để đáp ứng cho
những dịp sinh hoạt tập thể. Xin nói luôn, đó là bài hát có tựa đề Bằng
lòng với những lời ca dễ thương, thơ mộng như sau: “Chân có bằng lòng cho
chân theo với. Tóc có bằng lòng xe một sợi thôi. Mắt có bằng lòng trông nghiêng
chờ đợi. Tim có bằng lòng giữ hộ tình tôi. Là la la la la là là… Tay có bằng
lòng cho tay nắm với. Vai có bằng lòng cho quàng nhẹ ngang. Tim có bằng lòng
cho tim gần lại. Môi có bằng lòng cho một… nụ hôn. Là la la la la là là”.
Bài hát có hai đoạn, xen giữa đó là những “hư từ” là la
la… đệm vào, như một cách thế giúp cho một nhóm người cùng hòa nhập với nhau và
cũng là hòa nhịp vỗ tay trong khi hát. Những câu nhịp bốn dễ hát Chân có bằng
lòng/ cho chân theo với… đã mau chóng lôi cuốn chúng tôi trong sinh hoạt và cả
trong kín kẽ... “tỏ tình” nếu ai đó có tình ý gì đó với một bạn gái nào đó.
Những năm đó, tôi còn là cậu bé 11-12 tuổi, sinh hoạt trong
gia đình Phật tử, rồi là trong Hướng đạo ở Quảng Ngãi, được một anh huynh trưởng
bày cho hát rồi thuộc lòng dễ dàng. Cứ nghĩ đó là một dạng bài hát tập thể, bài
hát cộng đồng nên ít quan tâm đến tác giả của nó, nhưng rồi vài năm sau, trước
30.4.1975 một tí, lúc bắt đầu biết… yêu thì mới “phục” ca từ bài hát, vì nó hệt
như một bài thơ tình học trò, đáng lưu giữ trong ký ức của mình. Và qua tìm hiểu,
tôi mới được anh huynh trưởng kia (vốn là sinh viên Đại học Văn khoa Huế) cho
biết đó là bài hát này do nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sáng tác và được lan truyền rộng
rãi trong các trường đại học ở Huế lúc bấy giờ.
Thế nhưng, từ sau 1975, và cho đến gần đây, tôi hầu như không
được nghe cũng như không thấy ở đâu nhắc đến bài hát này cả. Gặp một số bạn bè
thân thiết của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, và cả “tìm đến” Diễn đàn văn hóa Trịnh
Công Sơn (Pháp) do Tiến sĩ Phạm Văn Đỉnh phụ trách - nơi tự hào có bộ sưu tập đầy
đủ nhất gia tài ca khúc của họ Trịnh, cũng không thấy ai nhắc nhớ!
Trưa ngày 22.4 vừa qua, gọi điện cho anh huynh trưởng ngày nọ
(giờ đang ở TP.HCM) hỏi lại, thì vẫn nhận được một câu chắc chắn như đinh đóng
cột: “Đêm 24.12.1974, đón Giáng sinh tại Đại học Văn khoa Huế, trước hàng nghìn
bạn bè cùng trường và từ các trường khác đến, mình đã hát bài hát này với lời
giới thiệu rõ ràng, Bằng lòng của Trịnh Công Sơn mà có ai phản đối đâu”. Tiếp
đó, anh cho biết thêm, thuở ấy (những năm 1970), ở Đại học Văn khoa Huế, sinh
viên được học nhiệm ý một số môn (tự chọn) ngoài các môn chính phải học. Anh chọn
học thêm môn Thẩm mỹ âm nhạc và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là người (được nhà trường
thỉnh giảng) đến lớp anh dạy môn này, trong đó, ông có lần phổ biến cho sinh
viên bài hát nói trên.
Với tôi ngày ấy, và với tôi bây giờ, đây vẫn là một bài hát
hay.
Đoàn Vị ThượngNguồn: Báo Phụ Nữ TP.HCM
Thơ của ca sĩ Ánh Tuyết
Thơ của ca sĩ Ánh Tuyết
Có những người sinh ra để hát. Tiếng hát thả trôi về trời. Về
mây. Về gió. Hát cho chính mình, chứ không vì ai khác. Ánh Tuyết là một ca sĩ
như thế. Nhẹ nhàng và rong chơi trong âm nhạc Văn Cao, Phạm Duy, Trịnh Công
Sơn... Gần đây chị lại hát một vài tình khúc bằng giọng đặc sệt Quảng Nam. Và
chị lại làm thơ. Cũng là một cách để chơi. Chuyện ca sĩ Ánh Tuyết làm thơ,
báo Thanh Niên số ra ngày 10.2.2004 có đưa tin như sau:Ca sĩ Ánh Tuyết"Văn Cao dạy ca sĩ Ánh Tuyết làm thơ?: Chuyện này
hư thực ra sao không rõ, chứ từ khi hát thành công ca khúc của nhạc sĩ Văn Cao thì cô ca sĩ này đâm ra... thích làm thơ! Bằng chứng mới đây qua tin nhắn
cho nhà thơ Lê Minh Quốc, cô viết:
Cuộc đời chẳng mấy khi vui
Ai mà không nhớ tới tui thì buồn
Nhà thơ bèn nhắn lại:
Trong buồn tìm gặp niềm vui
Trong vui thì thấy có tôi đang buồn
Không ngờ Ánh Tuyết tiếp thục... làm thơ:
Người buồn chẳng lẽ tui vui
Thôi thì người trút sang tui cái buồn
Tui đem ra giữa chợ đời
Ai mua tui bán cho... dzui cuộc đời
Đọc xong, tác giả Tôi chạy theo thơ dành... ngắc ngứ, chào
thua. Thế mới biết, khi yêu nhạc Văn Cao thì ca sĩ Ánh Tuyết cũng trở nên lai
láng hồn thơ lắm chứ" (Đoàn Duy Xuyên)".
Sau đây là chùm thơ mới nhất của ca sĩ Ánh Tuyết gửi về trang
web www.leminhquoc.vn. Những vần thơ chỉnh chu trong vần, chữ và ý tứ - ta sẽ
thấy thêm một góc khuất của người ca sĩ.
Lê Minh Quốc
TÌNH THU HÀ NỘI
Hà Nội thu về cây trút lá
Gió vờn say ngất đáy hồn ta
Ngồi tựa nắng chiều hanh bóng ngả
Mắt hờ khép giữ giấc mơ xa
Gió ơi, đưa bước người mơ đến
Đừng để thu vàng úa tình ta
Mặt nước Hồ Tây vờn vợn sóng
Soi dáng em mềm mấy chiều qua
Hà Nội chiều nay thu đẹp lạ
Lặng lẽ tình trao đỉnh tháp ngà
Nắng vàng ấp ủ men tình thắm
Đong đầy cơn khát giữa giang hà
Hà Nội 28/9/2012
MÀU THU
Nắng vàng hôn khẽ môi mềm
Lá vàng che phủ tình êm muộn màng
Gió thu nâng nhẹ chân chàng
Tình vương khe khẽ đi hoang trong chiều
Ngập ngừng hồn lạc phiêu diêu
Bao mùa thu đã mộng nhiều trong ta
Thỏa tình em mấy thu qua
Mõi mòn e ấp chờ qua tháng ngày
Nâng niu giây phút sum vầy
Còn đây kỷ niêm đong đầy trong nhau
Nỗi đâu nào đã hằn sâu
Đong tình em cạn mấy màu vàng phai
Hà Nội 29/92012
NGƯỜI ĐI
Người đi phố bỗng ngẩn ngơ
Hàng cây nghiêng ngả nhành chơ vơ sầu
Nắng trưa đổ bóng không màu
Vầng thơ chếnh choáng len sâu mắt buồn
SẦU
Gió đùa chi để lá rơi
Gió vờn chi để ta rơi lệ dài
Gió đưa cành liễu miệt mài
Sầu vương tiếng thở ngày dài thêm đau
Bơ vơ lòng nhớ tìm nhau
Chân hoài lỡ nhịp tình sầu thiên thu
Ánh Tuyết Lê Minh Quốc
Theo http://leminhquoc.vn/
Theo http://leminhquoc.vn/
Đá trong thơ
Đá trong thơ
Đá là khoáng sản vô tri vô giác, tồn tại khách quan trong cuộc
sống của con người. Dưới góc độ đời sống, đá gắn liền với nhiều sinh hoạt hữu
ích của xã hội. Nó có mặt trong xây dựng, trong trang trí nội thất, trong tạo
hình sinh vật cảnh... Từ hàng nghìn năm nay, nhân loại đã sử dụng đá trong kiến
trúc và nhìn nó như đối tượng thân thuộc, gần gũi với con người, quen thuộc với
con người. Đá đi vào văn chương nghệ thuật, làm nên những hình tượng đẹp, gây
nên những ấn tượng khó quên nơi người thưởng thức. Không biết từ bao giờ, nhân
loại đã nói đến đá, đã đưa đá vào văn chương và nghệ thuật, cả Đông lẫn Tây đều
vậy. Con người tìm đến đá, trò chuyện với đá, xem đá như người bạn tâm giao. Nếu
tập hợp đầy đủ, chắc rằng chúng ta sẽ có nhiều tác phẩm hay về đá.Bản in NXB An Phú (Sài Gòn - 1953). Tư liệu L.M.QCuộc đời với bao lo toan, bận rộn, khiến cho con người nhiều
lúc không bình tâm để nhìn và suy ngẫm về sự lặng im đầy chất triết học của đá.
Đâu phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Trãi khi lui về Côn Sơn thì viết Côn Sơn ca với
những dòng thơ:
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
Côn Sơn có đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm
Trong ghềnh thông mọc như nêm
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm
Trong rừng có trúc bóng râm
Trong màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn…
(Phan Võ - Lê Thước - Đào Phương Bình dịch, Thơ văn chữ
Hán Nguyễn Trãi, NXB Văn hóa, HN,1962)
Sau này, trong dịp kỷ niệm 600 năm Nguyễn Trãi (1380-1980),
nhà thơ Thanh Thảo đã viết:
Lui về Côn Sơn tránh chốn bụi lầm
Gối đầu lên hòn đá thay vì danh vọng
Con thuyền ấy vẫn không nguôi nhớ sóng
Lật mỗi trang thơ biển từng lúc hiện về...
(Về cái chết của Nguyễn Trãi)
Nguyễn Trãi nhiều lần đưa hình tượng đá vào thơ ca của mình.
Bài thơ Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác (Sau loạn đến Côn Sơn cảm tác), Ức
Trai viết:
Hà thì kết ốc vân phong hạ?
Cấp giản phanh trà chẫm thạch miên
(Bao giờ làm được nhà dưới ngọn núi mây,
Để múc nước khe pha chè và gối đầu đá ngủ)
Với những bài thơ như thế, phần lớn Nguyễn Trãi bày tỏ tâm trạng, nỗi niềm, suy
tư về thế thái nhân tình.
Cả đến Nguyễn Công Trứ cũng vậy. Những tấn tuồng ảo hóa của sự
thế, ông tìm đến thiên nhiên để bày tỏ, dạng như: Kiếp sau xin chớ làm người/
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo/ Giữa trời vách đá cheo leo/ Ai mà chịu
rét, thì trèo với thông. Trong văn học cổ Việt Nam, Nguyễn Công Trứ, cũng như
các nhà thơ phong kiến khác, khi thực tiễn đời sống không phù hợp với lý tưởng,
họ đều tìm đến với phong hoa, tuyết nguyệt, vui thú điền viên, kiểu như: thơ
một túi phẩm đề câu nguyệt lộ, rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà. Lẽ xuất
xử của đạo Nho dạy họ như vậy, vì thế, trong một bài thơ, Nguyễn Công Trứ viết:
Tòa đá Khương công đôi khóm trúc
Áo xuân Nghiêm tử một vai cày
Thái bình vũ trụ càng thong thả
Chẳng lợi danh chi lại hóa hay!
Bà Huyện Thanh Quan với Thăng Long hoài cổ đã suy
ngẫm về sự hưng phế của một triều đại, ngẫm về bao sự thế ở đời, nữ sĩ viết:
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường...
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã 14 lần sử dụng từ “đá”,
nào là: lệ rơi thấm đá, cho lăn lóc đá, đá biết tuổi vàng, đá cũng nát
gan, đá nát vàng phai, đá vàng thủy chung,… với nhiều ngữ cảnh và cung bậc
khác nhau, có lúc để chỉ cái cứng bền, trung thành trong cuộc sống, có lúc để
chỉ cái kiên trinh, bền chặt trong tình yêu. Trong buổi chiều xuân gặp gỡ của
Kim - Kiều, Nguyễn Du viết:
Đã lòng quân tử đa mang
Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung
Sau đó, tình yêu của đôi trai tài gái sắc này là:
Từ phen đá biết tuổi vàng
Tình càng thắm thiết, dạ càng ngẩn ngơ.
Sau này, khi rơi vào tay Hoạn Thư, tại Quan âm các, Thúc Sinh
đã bẽ bàng nói với Kiều:
Thẹn mình đá nát vàng phai
Trăm thân dễ chuộc một lời được sao!
Ôi, cái anh chàng Thúc Sinh sợ vợ, người đã “thề giữ lòng như
đá vàng, mà để cho đá thì nát, vàng thì phai, tức là không giữ lời thề” (Đào
Duy Anh, Tự điển Truyện Kiều, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974,
trang 115).
Những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, nhà thơ Phạm Tiến Duật
cũng nhiều lần đưa hình ảnh đá vào thơ. Không thể khác hơn với các cung
đường, với những người nữ thanh niên xung phong của Trường Sơn phá đá mở đường, “đưa
lên rừng mấy chục vạn người con / Không thể nói là không đói không sốt“, không
có những hy sinh, những mất mát. Vậy mà:
… Dân tộc ấy có gì kỳ lạ
Một nước bao nhiêu là đá Vọng phu
Những năm tháng đợi chờ, những thập kỷ đợi chờ
Chỉ một là người, hai là hóa đá
Dân tộc ấy có gì kỳ lạ…
Trong văn học Việt Nam, hình tượng “vọng phu” trở thành mô-típ nghệ thuật, với
nhiều cách nhìn, cách thể hiện khác nhau. Bài Vọng phu của Chế Lan
Viên là một ví dụ. Đây là một bài thơ hay, nhiều tầng nghĩa:
Là tượng đá của những thời binh lửa
Nàng vọng phu đầu sông hơn gì nàng Tô Thị cuối sông…
Người ra đi chắc gì quay lại nữa
Trên đầu non lòng đá vẫn kiên trinh.Bản in của Hãng đĩa Việt Long (Sài Gòn - 1947). Tư liệu L.M.Q Kiên trinh trong chờ đợi, bao cánh chim khuya bay qua vai đá,
bao vành trăng tròn rồi lại khuyết, đá đợi chồng “một mình với mây, một
mình với gió”, “một phút đợi chờ sâu một bể thời gian”. Bài thơ kết thúc bằng
một giọng điệu thê thiết, day dứt:
Không hóa thạch kẻ ra đi, hóa thạch kẻ đợi chờ
Xói mòn những non cao, không xói mòn lòng chung thủy
Đá đứng đấy giữa mưa nguồn và chớp bể
Đợi một bóng hình trở lại giữa đơn cô.
Nhà thơ nữ Thu Nguyệt có bài thơ Từ lúc ấy diễn tả
nhiều cung bậc của tình yêu gắn liền với đá. Đá đã trở thành đối tượng nghệ thuật,
thành nhân vật trữ tình của bài thơ. Bài thơ như sau:
Em ngồi hóa đá thành thơ
Trả anh ngày tháng anh chờ lúc yêu
Em ngồi hóa đá thành chiều
Trả anh cái nụ hôn liều ngày xưa
Em ngồi hóa đá thành mưa
Trả anh cái phút anh đưa qua cầu
Xa nào anh có hay đâu
Đá từ lúc ấy bây giờ hóa em
Người con gái đã “hóa đá” chờ người yêu, chờ ở nhiều thời
khắc, nhiều tâm trạng. Cái hay của bài thơ là từ “hóa đá” giờ
thành “hóa em”. Đá đã hóa thành chiều, thành mưa để trả tháng ngày chờ
đợi, trả cái nụ hôn liều, trả cái phút đưa nhau qua cầu. Bài thơ lạ ở cách viết
và nhiều người thích. Cũng viết về tình yêu, Thu Bồn trong bài thơ Tạm biệt
Huế, nhà thơ viết:
Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt
Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya
Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng
Anh trở về hóa đá phía bên kia
Bài thơ viết về Huế (1980) của Thu Bồn đã nói rất hay về nón
Huế, áo dài Huế, đền đài Huế, sông và cầu xứ Huế, một nơi mà: “một đời
anh tìm mãi Huế nơi đâu”. Thực và mơ đan cài vào nhau, dùng dằng như sự lững
lờ của sông Hương. Cuối cùng, để giữ Huế, nhà thơ đã tự nguyện “hóa đá
phía bên kia”, xin Hải Vân giữ ngọn sao khuya và chờ đợi người về!
Em ơi! Hà Nội - Phố, bài thơ của Phan Vũ, nói về tình
yêu Hà Nội, về mùi hoàng lan, mùi hoa sữa, về “mỗi góc phố một trang tình
sử“ và về “những con đường vắng, rì rào cơn mưa nhỏ“ của gã tình si:
Ta còn em đôi mắt buồn
Dõi cánh chim xa
Tháng năm dừng lại
Một ngôi nhà
Gã Trương Chi ôm ghi-ta
Từng đêm
Hóa đá…
Lại là một cách “hóa đá” từ đôi mắt buồn, đọng lại
của những tháng năm xa ngái, của tiếng đàn chùng đi từng đêm, từng đêm.
Trần Đăng Khoa có bài thơ Trước đá Mỵ Châu được nhiều
người đọc yêu thích. Bài thơ viết tại Cổ Loa, ngày 12-3-1974, lúc nhà thơ 16 tuổi.
Truyền thuyết An Dương Vương với nhân vật Mỵ Châu đẫm đầy nước mắt, thu hút bao
thế hệ người đọc, gợi lên bao thương cảm về cái chết đầy chất bi kịch, gắn liền
với vận nước điêu linh, khiến đời sau luôn nghĩ và nhớ đến người phụ nữ này.
Trước khi vào bài thơ, Trần Đăng Khoa có lời dẫn giải như sau: “Ở bãi biển
Thanh Hóa nổi lên một phiến đá hình cô gái cụt đầu. Nhân dân cho đó là nàng Mỵ
Châu bị cha chém chết, hóa đá, nên đã dùng võng đào đưa “nàng” về Đền Cổ Loa,
Đông Anh, Hà Nội”. Bài thơ mở đầu:
Người dân nào xưa đưa em về đây
Cho em gặp bố
Người bố mất nỏ thần, giận em, ruồng bỏ
Nhưng nhân dân mình không nỡ bỏ em…
Bao đời nay, nhân dân rất độ lượng với Mỵ Châu, hiểu rõ sự
trong trắng và tha thứ cho lỗi lầm của nàng:
Nhớ vận nước có một thời chìm nổi
Bắt đầu từ một tình yêu
Em hóa đá ở trong truyền thuyết
Cho bao cô gái sau em
Không còn phải hóa đá trong đời.
Chế Lan Viên có một tập thơ, mang tên Hoa trên đá (NXB Văn học, HN, 1984). Mở đầu tập thơ, tác giả lý giải về việc đặt tên bằng một
bài Đề từ, dài đến 10 khổ. Bài thơ bắt đầu:
Đời ngoài tuổi năm mươi
Mong gì hương sắc lạ
Mọc chùm hoa trên đá
Mùa xuân đâu chịu lùi…
Bản in NXB Văn Học (1984)
Chế Lan Viên biết cái hữu hạn của đời người: Anh như ông
vua Thục/ Bị đuổi bởi thời gian/ Trước mắt là bể lớn/ Sau lưng đất không
còn. Viết nhanh lên cho kịp/ Lũ sắp ập về kia/ Đạp tháng ngày mà viết/ Còn âm à
nỗi chi. Hiểu tâm trạng này của Chế Lan Viên, ta mới hiểu vì sao những năm cuối
đời, nhà thơ như bị thời gian xua đuổi: Viết đi! Viết đi! Viết! Viết/ Thời
gian nước xiết. Cuối cùng, nhà thơ cũng hiểu và tâm sự với đá:
… Trong giấc ngủ vô cùng của Đá
Cùng vô hạn đêm khuya và vô hạn sao trời…
Ta bản lĩnh thì đá kia bản lĩnh, mà ta
cô đơn thì đá hóa cô đơn.
Ngọn Thi sơn Chế Lan Viên đã trở về Cõi Quên, đã đi hết thời
gian ở trên trái đất, đã gửi lại cho đời bao giọt nước mắt thi ca cùng với nhiều
hình tượng đá đầy chất triết học, triết luận, vô cùng đa sắc, đa thanh.
Huỳnh Văn Hoa
Bản in của Hãng đĩa Việt Long
(Sài Gòn - 1947). Tư liệu L.M.Q
Về đâu những cánh chim trong ca dao
Về đâu những cánh chim trong ca dao
Câu hát đối theo bạn cày (in tại
Sài Gòn từ năm 1930) - Tư liệu L.M.Q
1. Nhiều khi một mình đứng giữa cánh đồng bao la, chập chờn sóng
lúa, tôi lại thích ngẩng đầu lên, nhìn bầu trời xanh với vô số mây trắng bềnh bồng
trôi, và mong tìm những cánh chim trong ca dao. Cánh chim của thời thơ ấu, vừa
thích thú tò mò, lại vừa hồi hộp run sợ vì bởi đó là con chim… diều hâu và con
chim quạ!
Chiều chiều quạ nói với diều
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm
Trong ký ức tuổi thơ tôi, trên bầu trời cao xanh kia, những
trưa đầy gió, không chỉ có những con diều giấy, mà còn có những con diều thật,
bay như lơ lững một nơi, thỉnh thoảng chao liệng, nghiêng ngó, và trong sân,
ngoài bãi, những con gà con, chao chát chạy về núp dưới đôi cánh của gà mẹ. Gà
mẹ, vừa dang rộng đôi cánh, ấp ủ, che chở cho bầy gà con, vừa xù lông, ưỡn cổ
kêu vang, sẵn sàng ứng chiến với con diều dũng mãnh trên cao. Một tình mẹ thật
thiêng liêng và cao cả. Đó là lúc lũ trẻ chúng tôi, cũng lớn giọng “Diều! Diều…”
để hù dọa và đuổi diều bay xa. Có đứa còn lấy giàn thun cố bắn con diều đã xa
tít mù, như một cái lá giữa tầng không.
Rồi những buổi sáng, buổi chiều, lùa trâu, bò ăn cỏ ở gần những
bãi tha ma, lặng lẽ nhìn những đàn quạ đen bay lượn, hay rình nấp những con quạ,
đang đậu trên những cây thánh giá của một vài ngôi mộ cổ, mà tưởng tượng ra mụ
phù thủy hung ác, đang luyện phép thuật, bên những xác người.
Trang cổ tích ngày xưa vẫn nửa khép, nửa mở trong ngăn kéo của
ký ức, song những cánh diều đơn độc, và những bầy quạ kia dường như bây giờ đã
vắng bóng. Hay những cánh chim, loài biểu tượng cho cái ác, cái xấu, ngày nay đã
không còn? Không biết là nên mừng hay nên lo?
Nơi tôi ở, vẫn mênh mông đồng ruộng, vẫn bãi, cồn… Nhưng thật
khó tìm ra một con diều, con quạ. Xem truyền hình, đọc sách báo, thấy những
thành phố trên thế giới, vẫn tồn tại hàng đàn quạ. Nhiều nơi, diều vẫn hàng
ngày bay lượn. Bỗng bâng khuâng tiếc nhớ những cánh chim trong ca dao của xứ
mình. Chợt buồn buồn tự hỏi: “Bay về đâu rồi những cánh chim trong cổ tích?“
2. Theo thuyền, đi dọc theo dòng sông Vàm Cỏ, lại thích đi gần bờ,
để được nhìn ngắm những loài cây của vùng sông nước. Những cây tràm, cây đước,
những cây bần, cây cà na… Và hình như vẫn thấy thiêu thiếu những cây mù u, những
cây mã tiền của ngày xửa, ngày xưa…
Nhiều khi neo thuyền hàng giờ, đón chờ con nước lớn, nước
ròng, nhìn bóng hoàng hôn chập choạng, nhuộm tím hồng dòng sông. Lặng thinh,
ngóng nghe một tiếng chim. Đó là tiếng chim trong ca dao : “Bìm bịp kêu nước
lớn, nước ròng…” và rồi buồn như sông, khi không còn nghe thấy tiếng chim.
Thêm một loài chim dần vắng bóng?
Sáng sớm, ra ngoài chợ. Nhiều lúc thấy người ta bán hàng lồng
chim bìm bịp. Giật mình tự hỏi, người ta bắt ở đâu? Khi nào? Dọ hỏi bán chim
bìm bịp để làm gì? Người bán hồn nhiên giải thích: "Chim bìm bịp ngâm rượu
cùng với các loại rắn… tam xà, tứ xà, ngũ xà… Cường dương, bổ thận và chữa nhức mỏi
đại tài!".
Bìm bịp chuyên ăn rắn, chết lại ngâm chung với rắn. Không biết
là công dụng thật sự hay chỉ là chuyện thêu dệt khôi hài?
Lại thêm buồn mênh mang về số phận của con chim bìm bịp. Thêm
một loài chim trong ca dao cũng sẽ bắt đầu… bay mất.
Trần Hoàng Vy
Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021
Màu tím trong thơ ca
Màu tím trong thơ ca
Màu sắc là một phương diện của cái nhìn nghệ thuật trong văn
chương, làm nên thế giới nghệ thuật của một nghệ sĩ. Những nghệ sĩ có phong
cách thường có kiểu sử dụng màu sắc theo một cách riêng, làm nên nét dộc đáo của
tác phẩm, của tác giả.
Bài viết này, sẽ tìm đến nghệ thuật sử dụng màu tím trong thơ
ca của số nhà thơ quen thuộc của Việt Nam.Ảnh chỉ mang tính minh họa (tạp chí Văn in 1.4.1972 tại Sài
Gòn). Tư liệu L.M.QVề phương diện hội họa, màu tím là sự pha trộn và hợp thành của
màu xanh và màu đỏ. Tím là màu sắc thiên về các khía cạnh của nội tâm, không
thích phô trương, tìm đến những ngõ ngách riêng tư của con người, diễn đạt những
khung trời nhớ nhung, xa vắng, lẫn khuất đâu đó là những hoài niệm, hoài cảm.
Màu tím của hoa sim, hoa mua, hoa bằng lăng, hoa lục bình,
hoa xoan, hoa súng,… đã đi vào thơ ca với những sắc điệu riêng của tâm hồn, với
nhiều cách nhìn phong phú, đa dạng, độc đáo. Không ít bài thơ, câu thơ đã nhờ
màu tím mà tồn tại với thời gian.
Màu tím là một gam màu ít được các nhà thơ cổ điển Việt Nam
dùng.
Trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều sử dụng
có một lần màu tía (Muôn hồng nghìn tía đua tươi), ông không dùng màu tím.
Chinh phụ ngâm, “tác phẩm do hương cống Đặng Trần Côn soạn,
nhân đầu đời Cảnh Hưng việc binh đao nổi dậy, người đi chinh thú phải lìa nhà,
ông cảm thời thế mà làm ra“ (Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại
chí), với 408 câu, có màu xanh, màu trắng, màu vàng, màu hồng và chỉ một
lần nói đến màu tía (Trước gió xuân vàng tía sánh nhau), lấy tích từ “cành Diêu đóa Ngụy, hai giống hoa mẫu đơn quý một của họ Diêu màu vàng và một
của họ Ngụy màu đỏ tía (Những khúc ngâm chọn lọc, NXB ĐH và THCN,HN,
1987, trang 55). Màu tía là màu đỏ thắm. Tía, theo Đào Duy Anh, là “sắc đỏ thắm“
(Từ điển Truyện Kiều, trang 363). Đặng Trần Côn vẫn không đưa màu tím vào
thơ.
Trong Truyện Kiều, với 3254 câu, Nguyễn Du chưa một
lần dùng đến màu tím.
Những điểm nêu trên là điều khá lạ lùng về tư duy nghệ thuật
của văn học trung đại, về phát triển của ngôn ngữ tiếng Việt. Trái lại, trong
thơ hiện đại, nhiều nhà thơ sử dụng khá quen thuộc màu tím, thậm chí gắn liền
tên tuổi của mình với sắc màu này.
Nguyễn Bính có nhiều bài thơ hay viết về Huế. Đó là những bài: Giời mưa ở
Huế, Vài nét Huế, Xóm Ngự viên, Thu rơi từng cánh. Tập Mười hai bến
nước, còn có số bài thơ viết vào lúc thi sĩ ở Huế, như Hoa với Rượu,
Xuân tha hương, Lửa đò,…
Trong số đó, Màu tím Huế là bài thơ phản ánh nhiều
cung bậc của Huế. Màu tím là màu có tính đặc trưng của Huế. Đây không phải là
điều ngẫu nhiên. Huế vốn nằm gần với dãy Trường Sơn. Về mặt tự nhiên, nói như
Xuân Diệu, khi “ngày chưa dứt hẳn” thì bóng chiều đã bắt đầu buông xuống. Giao
thoa giữa hai thứ ánh sáng ấy, màu đỏ của hoàng hôn và màu sẩm của buổi chiều,
đã tạo nên sắc tím đặc biệt của xứ Huế. Không gian chiều của xứ Huế là không
gian của màu tím, nó không giống với bất cứ nơi nào trên nước ta, vì thế, người
Huế yêu màu tím. Màu tím đi vào văn chương nghệ thuật của xứ thần kinh là vậy.
Nguyễn Bính là người nhận ra nét tím của Huế:
Thôi thế là em cách biệt rồi
Đường đi mỗi bước một xa xôi
Tim tím rừng chiều tim tím núi
Tim tím chiều hôm, tim tím mai…
Màu tím nhuộm núi rừng, nhuộm chiều hôm, nhuộm ban mai, nhuộm
nhớ mong, nhuộm lên trang giấy tình thư, nhuộm lên nét thương đau của nhớ
nhung, của cát bụi kiếp người.
Hai câu kết, vẫn màu tím ấy, cả rừng, cả núi, cả chiều hôm, tím một màu tím Huế
rất Nguyễn Bính..
Gần đây, trong Tặng người hát dân ca, với thể thơ tự
do, Lê Nhật Ký, viết:
Núi Ngự Bình mặc áo tím lúc hoàng hôn. Chuông chùa Thiên Mụ ngân nga láy vào nỗi nhớ. Sông Hương chảy một đời không tới biển. Huế trong tôi là một chiếc áo dài...
Hữu Loan nổi tiếng với bài thơ Màu tím hoa sim. Bài
thơ đứng vững hơn nửa thế kỷ, trở thành một trong những bài thơ tình hay nhất
trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Màu tím hoa sim là tiếng lòng của anh Vệ quốc
quân đối với cái chết của người vợ trẻ. Nguyên mẫu cuộc đời đã trở thành nhân vật
nghệ thuật, thành thơ ca, thành âm nhạc. Có thể nói không ngoa rằng, nếu bài
thơ ấy, tác giả không chọn gam màu chủ đạo là màu tím thì chắc gì đem lại sự
rung cảm trong tâm hồn tác giả và người đọc.
Quả vậy, từ chỗ:
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim…
Cho đến những chiều mưa trên chiến trường Đông Bắc, nơi ba
người anh “biết tin em gái mất, trước tin em lấy chồng” và “đứa em
nhỏ lớn lên, ngỡ ngàng nhìn ảnh chị“, với “gió sớm thu về gờn gợn
nước sông“, với “cỏ vàng chân mộ chí”,… là bao nỗi niềm
thương nhớ khôn nguôi của người chiến sĩ - thi sĩ:
Chiều hành quân
Qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa…
Kiên Giang với bài thơ dài Hoa trắng thôi cài trên áo
tím, 15 khổ, được nhiều người đọc yêu thích. Bài thơ kể về mối tình học
trò. Ngày trước, ngôi trường người con trai theo học đối diện với ngôi giáo đường
của người con gái thường đi lễ nhà thờ. Chuông nhạc đạo và chuông nhà trường
hòa lẫn, khiến người con trai “làm thơ sầu mộng“, thầm muốn “để nghe
khe khẽ lời em nguyện - thơ thẩn chờ em trước thánh đường“:
Mười năm trước, em con đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh…
Mỗi lần tan lễ hồi chuông đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi…
Thế rồi, một ngày kia, em theo chồng: “Rộn rã từng hồi
chuông xóm đạo, Tiễn nàng áo tím bước vu quy". Dầu vậy, người con trai của
mười năm trước: “Anh vẫn yêu em người áo tím, Nên tình thơ ủ kín trong
lòng". Chiến tranh, loạn lạc, tình thơ cũng nhạt màu, nhưng than ôi,
cũng chiếc xe hoa ngày ấy:
Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang…
Vòng hoa trắng lạnh đó gửi cho người con gái áo tím, với ân
tình ngày cũ, dù đã phôi pha nhưng trắng trong, tinh khiết, đẹp như một bài
thơ buồn.
Kiên Giang là bạn thơ của Nguyễn Bính trong những năm kháng
chiến chống Pháp tại Nam Bộ. Trong nhiều bài thơ của ông, người đời nhớ và yêu
nhất bài thơ dung dị này.
Cũng màu tím ấy, vậy mà, với cái nhìn cá thể, một nhà thơ đã để lại trong gia
tài văn chương dân tộc những bài thơ độc đáo, lưu giữ mãi với thời gian. Đó là
Chế Lan Viên, ngọn Thi sơn của Việt Nam.
Cả tập Điêu tàn, màu sắc chủ đạo vẫn là màu trắng
và màu đen. Điều này có lý do của nó về quan niệm thẩm mỹ. Sau Cách mạng tháng
Tám, như nhà thơ đã nhiều lần phát biểu, ông đã đi từ “chân trời một người
đến với chân trời tất cả“, đi từ “câu hỏi hư vô, thổi nghìn nến tắt” để
đến “bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh“. Bên cạnh một Chế Lan Viên
triết luận, bàn về những vấn đề nóng hổi của thời đại và dân tộc, còn là một Chế
Lan Viên của đời thường, của tâm hồn dân dã, gắn chặt với máu thịt cuộc sống.
Màu sắc trong thơ ông là một con đường riêng, riêng mà lại chẳng riêng chút
nào, gây xúc động lòng người một cách sâu lắng. Chế Lan Viên hay nói đến màu
tím, đó là màu hoa của Hồ Tây mà nhiều lần thi sĩ tìm đến. Trong bài Hoa
súng tím, Chế Lan Viên viết:
Từ lúc mê súng tím
Mới hiểu hết sen hồng
Càng biết yêu mùa hạ
Dâng màu sắc song song…
Vẫn là cách so sánh của lòng yêu hoa, mê hoa. “Mê súng
tím“ tức là yêu một loài hoa bình dị, không kiêu sa, lặng lẽ nơi ao
đầm quê ta. Tháng năm qua, loài hoa gắn với làng quê Việt ấy, trong một lần bừng
thức, lòng hiểu thêm sen hồng, cũng một loài hoa thôn dã, “gần bùn mà chẳng
hôi tanh mùi bùn“, hai thứ hoa có chung một tấm lòng, một trắng trong, dâng hiến
cho đời. Chẳng thế mà nhà thơ mới viết: Dâng sắc màu song song một
cách trang trọng, thâm tình. Yêu hoa để yêu đời, hiểu hoa để hiểu đời là vậy!
Cũng tên là Hoa súng tím, viết vào thời điểm
của cơn đau thì lại thê thiết hơn. Bài thơ này in trong tập Hoa trên đá (NXB
Văn học - 1984), trước lúc mất vài năm:
Mỗi lần đau, anh lại đến Tây Hồ
Chữa lành anh là hoa súng tím...
Hồ đầy hoa, nhụy vàng hương kín, vậy mà, “cả một mùa qua
hoa nở chả ai hay,… ngoài chú vịt trời xao xuyến“. Không sao, còn có nhà thơ
yêu hoa, "suốt cả một ngày lưu luyến“ bên hoa. Bài
thơ như một tâm sự, như một giãi bày, muốn tìm tri âm, chia sẻ. Vào những năm
cuối đời, qua bao nỗi thăng trầm của thế sự, qua bao biến chuyển của cuộc đời,
Chế Lan Viên nhận ra rằng, nhiều cái bình dị quanh ta, ta bỏ quên, như hoa súng
tím khiêm nhường kia:
Hoa súng tím An Giang, hoa súng trắng Tây Hồ
Những cành hoa chưa ai làm thơ cả
Tuổi 64, tôi mới biết màu hoa dân dã
Biết hoa rồi, tôi đã sáu mươi tư
(Hoa súng An Giang)
Một chỗ khác, trước khi mất hai năm, như để cho người đời sau
hiểu thêm mình, hiểu thêm những nỗi niềm sâu kín, riêng tư của mình, cũng là sự
mong đợi, gửi gắm, nhà thơ viết:
Màu hoa súng ấy như cơn đau không dám khóc
Chỉ lặng im sắc tím để mà đau
Người ta chỉ biết màu sen anh đỏ rực
Còn nỗi buồn hoa súng tím biết cho đâu
(Hoa súng, 1987)
Xét đến cùng, cái màu tím kia trong những bài thơ ngắn của Chế
Lan Viên là một góc khuất hết sức nhân văn, tìm về sự yên tĩnh của tâm hồn sau
bao sóng gió của cuộc đời, cập đến bến bờ của thức ngộ. Dường như là, đằng sau
của "nỗi buồn hoa súng tím“ ấy, Chế Lan Viên muốn gửi gắm cho đời
một thông điệp, rằng là, bên cạnh một Chế Lan Viên chính luận, còn một mặt nữa
của tháp Bayon, mặt ấy, nhà thơ đau đáu bao nỗi niềm, bao tâm sự, cả những điều
chưa biết giãi bày cùng ai! Có lúc cũng ngậm ngùi khôn xiết!
Cao Vũ Huy Miên có bài thơ Hoa tím ngày xưa, được Hữu
Xuân phổ nhạc, nhiều ca sĩ hát và công chúng yêu thích. Đây là bài thơ tình nói
về con đường của người bạn gái trong tuổi học trò thường đi về, làm nên cảm xúc
thơ ca cho chàng trai:
Con đường em về ban trưa
Hoa tím nghiêng nghiêng đợi chờ
Tuổi em vừa tròn mười bảy
Tóc em vừa chấm ngang vai.
Cũng con đường đó, em về mưa bay, em về thơm hương, tiếng
dương cầm rơi nơi đâu, lặng lẽ. Và rồi, tuổi 17 của em qua đi, qua đi chẳng
biết bao giờ, để rồi:
Trường xưa chẳng còn học nữa…
Con đường em về năm xưa
Có biết hay chăng bây giờ
Hoa tím thôi không còn nữa
Chỉ còn ta đứng dưới mưa.
Bài thơ ngắn, dung dị, dễ thương của một thời vụng dại. Chắc
là, hoa tím vẫn còn nơi con đường ngày cũ, chỉ có điều, con đường xưa ấy, người
của một thời không qua nữa, nên “hoa tím thôi không còn nữa, chỉ
còn ta đứng dưới mưa“.
Nguyễn Sĩ Đại có bài thơ Mực tím viết theo thể thơ
lục bát, cũng là một bài thơ đáng yêu, viết cho tuổi học trò ở thời điểm sắp rời
ghế nhà trường phổ thông:
Bây giờ mực tím thôi vương
Mùa thi đã vãn, sân trường vắng hiu
Tiếng ve kêu sốt nắng chiều
Cuốn lưu niệm cũ, chữ xiêu xiêu buồn…
Bây giờ mực tím thôi vương
“Bậu về xứ bậu“, lời thương không đành
Bây giờ…
Thôi xếp áo khăn
Gửi hồn mực tím trên cành bằng lăng
Bài thơ ngắn chỉ 8 câu, có hai lần nói đến “mực tím thôi
vương“ và ba lần nhấn mạnh đến “bây giờ“. Mỗi lần mỗi khác. Lần sau, mượn
câu ca dao: “Rồi mùa tóc rã, rơm khô/ Bậu về xứ bậu biết nơi mô mà tìm“ để
bày tỏ nỗi niềm nuối tiếc, bâng khuâng. Tuổi học trò thời nào mà không có những
phút giây xao xuyến ấy!
Màu tím vương vương nơi nhiều bài thơ. Đoàn Phú Tứ có: Màu
thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngát (Màu thời gian), Anh Thơ,
trong Chiều xuân, đã viết: Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng/
Bên chòm xoan, hoa tím rụng tơi bời. Tố Hữu, với bài thơ Hoa tím, tặng
Nguyễn Tuân, có câu: Thủy chung tình bạn chùm hoa tím. Hoàng Phủ Ngọc Tường
với Dù năm dù tháng, được Nguyễn Công Dinh phổ nhạc với tên Cành phù
dung cho em, có những câu:
Anh ngắt cành phù dung trắng
Tặng em niềm vui cầm tay
Màu hoa như màu tia nắng
Buổi chiều chợt tím không hay…
Phan Vũ trong Em ơi! Hà Nội phố, Phú Quang phổ nhạc, là
một Hà Nội của mùi hoàng lan, mùi hoa sữa, của “chiếc khăn quàng tím đỏ
thoáng qua“, của những "con đường vắng, rì rào cơn mưa nhỏ“, của “tan lễ
chiều, kinh cầu còn mãi ngân nga“ và nữa:
Ta còn em cô hàng hoa
Gánh mùa thu qua cổng chợ
Những chùm hoa tím
Ngát mùa thu…
Hoàng Nhuận Cầm cũng có những câu thơ hay về mùa thu và hoa
tím:
Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến
Chỉ tiếc mùa thu vừa mới đi rồi
Còn sót lại trên bàn bông cúc tím
Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi!
(Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến)
Hữu Thỉnh với Biển, nỗi nhớ và em, có câu thơ thật
hay:
Em đâu phải là chiều
Mà nhuộm anh đến tím…
Ngô Văn Phú với Trời đã vào thu…, khi sông không đầy nước,
khi mây làm khăn quàng qua vai núi, thì cũng là lúc:
Đôi bờ lau lách đìu hiu tím
Gom buồn lên ngọn gió heo may…
Có thể kể ra nhiều bài thơ, câu thơ có chứa màu tím. Cái màu
tím ấy đã đem lại cho thơ ca tiếng Việt một sắc thái riêng, một nẻo về riêng của
tâm hồn với bao xao xuyến, bao tâm trạng nơi người đọc, góp phần làm nên
những tác phẩm hay trong văn chương Việt Nam.
Huỳnh Văn Hoa
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Lại nói về Ba Tàu và Các Chú T rong một bài viết, "Cớ sao gọi người Trung Quốc là "Tàu"!" đăng trên website báo Ngườ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...




















