Thứ Ba, 1 tháng 3, 2022

Khi nàng thơ thay áo

Khi nàng thơ thay áo

Nhà thơ Trúc Thông là người tôi yêu mến và khâm phục về tài thơ của ông. Bài thơ Bờ sông vẫn gió của ông viết năm 1983 cho đến nay vẫn được xem là một thi phẩm xuất sắc viết về tình mẹ - con.
Hình tượng trong thơ truyền thống chủ yếu được xây dựng theo phương thức tả thực. Thơ bây giờ trong sự giao thoa với các dòng văn hóa mới, các phương thức xây dựng hình tượng đa dạng hơn, kịp hòa nhập cùng dòng chảy văn hóa hiện đại các yếu tố siêu thực, trường liên tưởng tâm linh, cái “khoảng mờ trong vòng tròn nhận thức” (Kant), bấy lâu chưa được chú ý lắm nay được gia tăng, từ đó đưa đến một hệ quả “tính chất cá biệt” ở nhiều bài thơ hiện đại rõ rệt hơn, đa dạng hơn, tác động thẩm mỹ phong phú vào tâm hồn người đọc.
Bài thơ Bờ sông vẫn gió tạo một hiệu ứng thẩm mỹ khác lạ nhờ yếu tố hư ảo-tâm linh! Đứng ở bờ sông thấy gió lay lá ngô nhớ mẹ, theo cách nghĩ dân gian thấy hiu hiu gió tưởng là hồn về, tưởng mẹ về nhưng không thấy. Lòng mong nhớ khôn nguôi người con “xin” mẹ về một lần nữa thăm lại những kỷ niệm một thuở. Bài thơ diễn tả sâu sắc tình cảm của những người con đối với bậc sinh thành đã khuất. Bài thơ hư hư thực thực, lãng đãng khói sương. Hiện tại và quá khứ, thực và mộng đan lồng vào nhau. Thi đề “nhớ thương cha mẹ” ta được gặp rất nhiều trong thơ ca nhưng ở đây thể lục bát đã được cách tân và chất hư ảo làm màu sắc hiện đại khá rõ.
Nguyên tác (lục bát truyền thống): 
Bờ sông vẫn gió 
Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió
Người không thấy về
Xin người hãy trở về quê
Một lần cuối… một lần về cuối thôi
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một đời tóc xanh
Lệ xin giọt cuối để dành
Trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha.
Cây cau cũ, giại hiên nhà
Còn nghe gió thổi sông xa một lần 
Con xin ngắn lại đường gần
Một lần… rồi mẹ hãy dần dần đi
1983
Đã có hàng chục bài bình tác phẩm này trên các trang mạng cũng như báo viết, nói về nội dung cũng như hình thức bài thơ, trong số đó tình cờ tôi đọc được vài bài bình khá hay trên mạng (*) nhưng nguyên tác bài thơ trích dẫn có khác. Đó là các câu thơ 6 cũng như 8 không viết hoa đầu dòng, vài chỗ viết theo kiểu vắt dòng leo thang.            
Bài thơ viết đổi lại theo dạng 6-8 cách tân:
Bờ sông vẫn gió
... lá ngô lay ở bờ sông
bờ sông vẫn gió
người không thấy về
xin người hãy trở về quê
một lần cuối… một lần về cuối thôi
về thương lại bến sông trôi
về buồn lại đã một đời tóc xanh
lệ xin giọt cuối để dành
trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha
cây cau cũ, giại hiên nhà
còn nghe gió thổi sông xa một lần 
con xin ngắn lại đường gần
một lần… rồi mẹ hãy dần dần đi
1983
Thấy hay hay tôi đọc kỹ lại bài thơ, quả thật theo lối viết mới này bài thơ đem lại cho người đọc một cảm giác có phần mới mẻ.
Bài trên là lục bát truyền thống, bài dưới là lục bát kiểu mới. Chỉ thay đổi kiểu viết hoa đầu hàng và một chút ngắt nhịp, vắt dòng, nhưng hiệu ứng thẩm mỹ rất khác nhau. Ở bài lục bát cách tân đưa đến cho người đọc một ấn tượng thị giác khác lạ vì đập vào mắt người đọc là một khối thơ liền kề không phân câu, không viết hoa đầu dòng và một nhạc cảm bên trong mới mẻ bởi hơi đọc chạy suốt toàn bài, tiết tấu chỉ thay đổi ở chỗ ngắt câu, vắt dòng. Nhờ cái nhịp điệu tác động vào tai và cái hình khối đập vào mắt mới lạ bài thơ tạo ngay một hấp dẫn thẩm mỹ ban đầu, sau đó tác động tâm trạng người đọc gợi một nỗi xót thương, khắc khoải dai dẳng, nguyên khối, lẫn một chút nôn nao, xao xuyến, ngập ngừng mà bài thơ 6-8 kiểu cũ không có!
Phân tích vậy để thấy rằng đổi mới không chỉ là một “cố ý” của sự sáng tạo nói chung mà có khi chỉ là một ngẫu nhiên của hình thức thơ ca nói riêng!
Cách tân thơ thường là một song trùng : nội dung mới mẻ thì hình thức tác phẩm thay đổi theo, đạt được tính cách tân. Có khi là một trải nghiệm đơn tuyến, hình thức không có gì thay đổi nhưng nội dung thay đổi thì bài thơ cũng đạt sự cách tân nhất định. Thí dụ bài thơ sau của Đồng Đức Bốn, nhà thơ thuộc “nòi quê” 100%, thơ ông chủ yếu theo phong cách truyền thống dân dã, tuy nhiên trong sự ba động qua lại với môi trường thi ca hiện đại nhiều chi tiết thơ có màu sắc tân kỳ được tạo lập khá uyển chuyển tạo một cảm giác thích thú cho người đọc.
Câu thơ nấp ở sân đình
Nhuộm trăng trăng sáng, nhuộm tình tình đau.
Nhuộm buồn những hạt mưa mau
Thành sao nở trắng vườn cau trước nhà.
Nhuộm hương của các loài hoa
Thành mơn mởn tóc đuôi gà cho em.
Hình thức câu thơ 6-8 truyền thống, chỉn chu về vần, nhịp, thanh, nhưng những chi tiết mới mẻ đậm màu siêu thực làm nó thuộc dạng tân kỳ… Đem câu thơ nấp ở sân đình đi nhuộm trăng, nhuộm tình, nhuộm buồn, nhuộm hương, cho mưa, cho hoa… chắc những nhà thơ siêu thực đương đại hẳn vui lòng chấp nhận trí tưởng tượng của Đồng thi sĩ để xếp đứng cạnh mình. Cái mới như vậy có thể ở nội dung, cũng có thể ở hình thức, chúng có tính độc lập tương đối. Rất dễ nhận thấy một sự thực là cái mới nhiều khi chưa hẳn đã hay, và cái hay nhiều khi chưa chắc đã mới. Nhưng đã hay lại mới thì là một biện minh quý giá cho Thơ. Ta thường cho rằng nội dung mới kéo theo hình thức mới, nội dung quyết định mà! Thực ra trong một sáng tác cái đầu tiên là xúc cảm của tác giả (chủ thể sáng tạo), đến bài thơ viết ra có nhiều nội dung ý nghĩa tùy theo sự tiếp nhận độc giả đối với hình tượng thơ, đặc biệt những nội dung ý nghĩa khách quan mới này có thể khác nội dung ý nghĩa chủ quan ban đầu của tác giả. Từng nội dung ý nghĩa có những tương quan hình thức thích ứng. Mỹ cảm bài thơ trong chừng mực nào là tùy biến theo cảm quan của chủ thể tiếp nhận (người đọc).
Bài thơ Bờ sông vẫn gió trên là một minh chứng, bài thơ có thể ghép vào loại thơ hay bất kỳ thời kỳ nào nhưng những bài sau, những biến tác mới theo cảm nhận độc giả có thể xem là giá trị cách tân lại không cố định.
Trường hợp bài thơ trên gợi cho chúng tôi một suy nghĩ, quan hệ nội dung và hình thức bài thơ là một quan hệ tương tác, nội dung thay đổi làm thay đổi hình thức theo, nhưng hình thức thay đổi cũng kéo theo sự thay đổi của nội dung, làm mới hẳn tác phẩm. Chợt nhớ lại câu chuyên trong truyện ngắn của một nhà văn: người cha làm nghề bán đồ chơi trẻ con, bao năm sống với nghề, nhưng rồi thời thế đổi thay những đồ chơi mới lạ được bọn trẻ thích thú, con búp bê kiểu cũ của ông không cò ai mua. Thương cha người con út bàn với cha thay bộ áo quần cho búp bê theo mốt mới, thế là những bộ áo cũ được thay bằng váy áo kiểu mới, rồi uốn tóc nhuộm màu… thế là người mua lại xúm xít quanh con búp bê mới này mua hết trong ngày...
Xin mạnh dạn trình bày một cảm nghĩ của mình mong bạn đọc và nhà thơ Trúc Thông lượng xét.

Chú thích:
(*) http://www.thivien.net/
(Đào Mạnh Thông)
(*) http://bahung.violet.vn/
20/10/2018
Yến Nhi
Theo https://vanchuongviet.org/

Nói thêm về Nguyễn Công Trứ

Nói thêm về Nguyễn Công Trứ

1- Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) quê làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Đường khoa cử khá lận đận năm 1820 khi đã 42 tuổi, ông mới đỗ Giải nguyên ra làm quan dưới các triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, đến chức phủ doãn Thừa Thiên thì nghỉ hưu... Trong 28 năm quan trường, bị giáng chức 5 lần. Vốn là quan văn vâng mệnh vua, nhiều lần ông đã cầm quân đi đánh dẹp một số cuộc khởi nghĩa của nông dân lập công lớn, khi đã vào tuổi tám mươi, nghe tin Pháp tấn công Đà Nẵng, ông vẫn xin nhà vua cho đi đánh giặc... Đặc biệt vào những năm cuối thập niên 1820, ông có sáng kiến chiêu mộ dân nghèo, đắp đê lấn biển, lập ấp, khai sinh các huyện Kim Sơn, Tiền Hải (thuộc hai tỉnh Thái Bình, Ninh Bình ngày nay), đề xuất lập nhà học, xã thương ở nông thôn nhằm nâng cao dân trí và lưu thông hàng hóa. Những hoạt động của ông trong lĩnh vực khẩn hoang được nhân dân các vùng ghi nhớ, hiện còn rất nhiều từ đường thờ cúng ông ở hai huyện nói trên.
Xét về hành trạng, ngay từ thuở còn hàn vi ông đã nuôi lý tưởng giúp đời, lập công danh, sự nghiệp: Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông. Trên phương diện tư tưởng và tâm lý Nguyễn Công Trứ là một khối mâu thuẫn lớn! Ông không phủ nhận các nguyên lý tư tưởng Nho giáo (quân - thần - phụ - tử), nhưng ở một vài phương diện đạo lý, lối sống, ông vượt qua những lề thói bảo thủ, giả dối, tỏ một thái độ “phóng dật” bất cần, thách thức công nhiên dư luận. Nguyễn Công Trứ có một nhân sinh quan tuy căn bản vẫn nằm trong phép xuất xử Nho gia nhưng có nhiều khía cạnh tích cực đổi mới vượt ra khỏi những chuẩn tắc thời bấy giờ, lại được người đời ngầm chấp nhận. Hiểu được tính hai mặt này trong mối quan hệ giữa tính cách của Nguyễn và công luận là một điều cần thiết để  đánh giá con người và sự nghiệp ông.
2- Nguyễn Công Trứ là người đa tài, nhưng ở ông tài và phận nhiều khi không song hành. Đời ông trải nhiều thăng trầm, vinh nhục, nên hiểu sâu sắc nhân tình thế thái đương thời. Phép xuất xử, luôn gợi ý cho các nhà nho khi nào nhập thế khi nào xuất thế, khi nào ra làm quan khi nào về vườn. Có vị “về” khi đường hoạn lộ đương thênh thang để giữ lòng trong sạch, có vị không ra làm quan “chỉ tìm nơi vắng vẻ” dưỡng thân  nhàn. Nguyễn Công Trứ không hẳn như vậy.
Thực tại ông sống, là một xã hội đầy nghịch lý, ông vừa khinh bỉ và ngán ngẩm  vừa phải chấp nhận nó.
Ra trường danh lợi vinh liền nhục
Vào cuộc trần ai khóc trước cười.
Hoặc: Tiền tài hai chữ son khuyên ngược
Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi!
Chán chường với chốn quan trường, thấy những nghịch lý trong xã hội nhưng ông vốn là con người hành động nên hai phần đời đã nhập cuộc, cho đến khi về hưu. Cuối đời, nhiều lúc chua chát nhìn lại đời mình, ông muốn phủi tay thoát ly ra ngoài:
Ngồi buồn mà trách ông xanh,
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Nguyễn Công Trứ, với hình tượng “thông” là tâm trạng của một bậc hiền tài chua xót trước thời cuộc, đượm buồn nhưng không bi quan, yếm thế; vẫn thể hiện bản lĩnh của một bậc đạt nhân quân tử luôn tuỳ ngộ nhi an trước mọi thử thách. Ông trách cái xã hội oái oăm nhiều ngang trái, nhưng không đủ bản lĩnh để phủ định nó. Bởi vậy mà sinh mâu thuẫn trong tư tưởng, dằn vặt  buồn lo vì xã hội nhiều nghịch lý, đưa đến tâm trạng bất như ý và đối nghịch Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười. Trong cái thẳm sâu của ý tưởng Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo có cái chân ngộ" muốn vượt thoát” ra ngoài vòng tục luỵ mà tôn giáo thường nhắc đến. Tuy nhiên ở Nguyễn, muốn tách khỏi nhưng vẫn gắn bó. Ông, trong sự lẩn tránh cái xã hội lắm điều tiếng vẫn mong có bạn tri âm, sưởi ấm tình người!
Giữa trời vách đá cheo leo,
Ai mà chịu rét thì trèo với thông.
Người ta hay nói đến cái thú “chơi” của Nguyễn, thú cô đầu, ưa hát xách, kết bạn ca nương…, đó cũng chỉ là một biểu hiện của cái tâm thức vượt thoát của ông, không nên dừng lại chỗ ham mê sắc dục như có người lầm tưởng. Cặp đôi danh sĩ - giai nhân là một ám chỉ tương tri phần hồn hơn là cặp kè phần xác.
3- Là một nhà quản trị giàu năng lực, ông còn là một nhà thơ, một nghệ sĩ lớn. Ông để lại nhiều sáng tác thơ Nôm theo thể thơ đường luật và ca trù. Thơ ông là tâm trạng vị quan thanh liêm, tận tụy với triều đình, nhưng lại bị gièm pha nên thăng giáng thất thường. Nội dung thơ phong phú, đa dạng, từ than cảnh nghèo, vạch trần nhân tình thế thái, đề cao chí nam nhi, đến ca ngợi thú cầm kì thi tửu… Những bài cuối đời tố cáo những khía cạnh lọc lừa, bạc bẽo của xã hội đương thời. Với sự phong phú đa dạng trong các sáng tác Nguyễn Công Trứ là người đưa ca trù từ một lối hát nhỏ lẻ thành thể thơ thuần Việt (hát nói) phổ biến dùng cho nhiều loại  đề tài. 
Vị quan nhà Nguyễn, người nghệ sĩ lớn tài danh mà hai phần ba cuộc đời sống gần với người dân thường, thấm nhuần những triết lý sống dân dã. Thơ ông cũng mang phẩm chất đó, dẫu thỉnh thoảng đôi nét đượm buồn, phẩn nộ nhưng cái mạch chìm hòa khắp là sinh động, hoan lạc và tranh đấu, đó là chất thơ có được từ đời sống, lấy đời sống làm cốt tính. Sự gắn bó đời sống làm nó không cạn kiệt theo thời gian, nhiều câu thơ về nhân tình thế cố như được xuất ra từ cuộc sống hôm nay vậy!.
20/11/2018
Yến Nhi
Theo https://vanchuongviet.org/

Mùa Xuân và những khúc hoan ca trong thơ Xuân Diệu thời thơ mới

Mùa Xuân và những khúc hoan ca
trong thơ Xuân Diệu thời thơ mới

Chủ nghĩa lãng mạn được xây dựng trên cái nền tư tưởng không bằng lòng với thực tại và hiện tại, cái thực tại mà con người bị tha hoá trong nỗi đau thương xa rời bản thể và nhân tính. Văn chương lãng mạn Việt Nam đầu thế kỷ XX khá gần gũi với văn chương lãng mạn Pháp, dẫu vậy do phát triển trong bối cảnh xã hội thuộc địa nó có những sắc thái riêng. Các nhà thơ lãng mạn Pháp tự hào: không gì làm cho người ta lớn lao bằng một niềm đau thương lớn (A.Muyxê). Các nhà thơ lãng mạn Việt Nam cũng thổ lộ là con một “người mẹ hay sầu” và “mắt thường đẫm lệ” (Huy Cận). Xuân Diệu bước vào Thơ Mơi muộn nhưng gây ấn tượng mạnh vì ông không khóc, không buồn mà trên môi nở nụ cười nồng ấm, tươi trẻ khao khát yêu thương, khao khát giao cảm với đời.

Hồn thơ ông giao cảm với đời bằng một sự hòa quyện vừa truyền thống vừa tân kỳ. Nó mới mẻ trong sự khám phá các cảm giác cá nhân từ phương Tây dội đến bên cạnh sự mơ mộng với sinh cảnh thiên nhiên đầy màu sắc truyền thống của thi ca Á Đông. Nguyễn Đăng Mạnh nói ông là nhà thơ “giao cảm với đời” là muốn ám chỉ cái sắc thái pha trộn, vừa song hành, vừa tích hợp đó. Cái đóng góp, cái nét riêng của thơ ông trong phong trào Thơ Mới là đóng góp của một cá thể giàu tình yêu và niềm vui ham sống, là cảm quan mùa xuân pha vài yếu tố nhục thể vào một dòng chảy giải phóng con người khỏi sự ràng buộc các lề luật trói buộc của một ý thức hệ bảo thủ. Trong phong trào Thơ mới Xuân Diệu là người đến muộn. Tuy nhiên, bằng một cảm quan mới mẻ và một nghệ thuật cao diệu ông nhanh chóng trở thành đỉnh cao, trụ cột của cả phong trào, với hai tập thơ tiêu biểu là “Thơ Thơ“ và ”Gửi hương cho gió”.
Đối tượng phổ biến trong thơ ông là tuổi trẻ, tình yêu và mùa xuân.
Thơ Xuân Diệu là thơ của tuổi trẻ. Đó là tiếng nói của thanh niên, của cái tôi cá nhân thấy mình có sức mạnh, có quyền vui sống. Với ông vũ trụ, đất trời đẹp là đẹp ở sự tươi nguyên mới mẻ, trẻ trung: “Son sẽ trời như mười sáu tuổi - má hồng phơn phớt mắt long lanh“ (Rạo rực).
Tuổi trẻ, đó là nơi bắt đầu, là mùa xuân  của đời người. Tuổi trẻ là căn nguyên khơi gợi niềm cảm xúc đắm say của ông. Nó làm ông ”xôn xao như một vạn cây rừng” và nao lòng “bằng muôn cánh yêu đương”…
Đặc trưng của tuổi trẻ là tình yêu! Thơ tình là đặc sản của Xuân Diệu. Ông là người dõng dạc tuyên ngôn  ngay từ khi đặt bước chân vào thi đàn: ”Làm sao sống được mà không yêu” (Vì sao). Tình yêu là trung tâm, đỉnh điểm của sự giao cảm. Trong tình yêu, Xuân Diệu bao giờ cũng nồng nàn, sôi nổi. Ông là người nói được đầy đủ nhất mọi cấp độ của tình yêu, từ những kỷ niệm thoáng qua nhỏ nhất: một tà áo, một làn mi, đến những khao khát nồng đượm rộng lớn, sâu xa “mùa hoa thơm ngát của hồn tôi”:
Tà áo mới cũng say mùi gió nước
Rặng mi dài xao động ánh dương vui
(Xuân đầu)
Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi
Trong vườn thơm ngát của hồn tôi
(Nguyên đán)
Trong tình yêu thời gian luôn là nỗi băn khoăn, ám ảnh da diết, ông sợ thời gian qua mau nên luôn  giục giã “Em ơi em, tình non sắp già rồi”.   Để đạt được  tận cùng, vô biên trong sự giao cảm với đời, Xuân Diệu đã mở rộng tối đa phạm vi các giác quan. Thơ ông tràn đầy ấn tượng tươi mới về sự vật, có thể gọi Xuân Diệu là nhà thơ của chủ nghĩa cảm giác.
Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực! 
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài! 
Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai! 
Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt! 
(Xa cách)
Xuân Diệu như muốn tranh đoạt quyền của tạo hóa để “ôm”, “riết”, “say”,”cắn”,” hút”, “ăn”... để kéo cả thế giới vào trong tâm hồn đầy xúc cảm của mình:
“Ta uống mê man hơi thở con người/ Ta bấu vào da thịt của đời/ Ngoạm sự sống để làm êm đói khát” (Thanh niên). Ngay cái việc dùng nhiều từ thuộc lĩnh vực khẩu ngữ thông tục gắn với sinh hoạt đời thường mà ta gặp nhiều ở hai tập thơ của Xuân Diệu thời kỳ này cũng nói rõ sự gắn bó với thực tại, sự ham sống, ham thụ hưởng của ông tạo nét riêng khác nhiều tác giả lãng mạn thời bấy giờ, nó cũng góp phần làm phong phú Thơ mới trong chu trình gắn bó với đời sống, với cộng đồng.
Trong tình yêu vô hạn với cuộc đời ông dành nhiều tình cảm cho mùa Xuân. Nhà thơ có nói đến mùa hạ, mùa thu và cả mùa đông nhưng với mùa xuân, điệu thơ luôn đưa đến cho người đọc một xúc cảm hân hoan, tràn đầy. Thơ vừa tả thực cảnh xuân lại vừa tượng trưng biểu cảm tình xuân lai láng. Mùa xuân tươi tắn đầy màu sắc và âm thanh “Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui”, rồi ”Gió thơm phơ phất bay vô ý, Đem đụng cành mai sát nhánh đào” (Nụ cười xuân). Mùa xuân của ông cũng mơn man cảm giác nhục thể. Xuân đẹp, xuân qua mau nên nhà thơ luôn giục giã “mau với chứ”, ”vội vàng lên với chứ”, chung quy như muốn hưởng tận cùng những sắc điệu tình yêu - mùa xuân:
 Và non nước và cây và cỏ rạng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
- Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi
(Vội vàng)
Cảm xúc cao độ với mùa xuân - tình yêu,  Xuân Diệu thể hiện cái tôi cá nhân một cách mãnh liệt và tròn đầy, khẳng định cái đẹp của cuộc đời trần thế, của hiện tại và kêu gọi tuổi trẻ phải tận hưởng những “miếng ngon nhất“, những “Vàng son đang lộng lẫy buổi chiều xanh” của cuộc đời luôn biến đổi. Với Xuân Diệu “Sự thật ngày nay không thật đến ngày mai“ (Phải nói).
Quan niệm về thế giới đổi thay - một cái nhìn đầy tính triết lý đã chi phối thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu. Một khi ý thức về sự đổi thay của vạn vật thì khẳng định hiện tại, khẳng định cuộc đời trần thế với niềm vui  là có ý nghĩa nhiều nhất. Khác với các nhà thơ mới khác, bất hòa trước thực tại, họ tìm về quá khứ, thoát lên tiên hoặc bay tới tương lai, Xuân Diệu lại bám vào hiện tại, khao khát hòa với cuộc đời bằng một tâm thế “muốn  ở mãi giữa vườn trần, chân hoá rễ để hút mùa dưới đất“. Có lúc Xuân Diệu muốn gọi những năm tháng đã qua trở về với hiện tại ”Hỡi năm tháng vội đi làm quá khứ! Hãy trở về đây! và đem trở về đây!” Trở về đây có nghĩa là về với thực tại, với những “giây, phút” tràn đầy cảm xúc nhạy bén của ông:
Một phút gặp thôi là muôn buổi nhớ
Vài giây trông khơi mối vạn ngày theo
Cảm xúc cao độ với mùa xuân - tình yêu hiện tại của ông thể hiện rất rõ trong bài thơ “Lời kỹ nữ”. Nếu trong “Tiếng hát Sông Hương” (Tố Hữu) cô gái sống nhiều với tương lai qua lời nhắn gửi của tác giả thì người kỹ nữ trong “Lời kỹ nữ” mong được sống tròn đầy trong hiện tại.  
Trong sự nghiệp văn học của ông, phần thơ ca thời trước cách mạng rất có ý nghĩa, nó đã góp phần  khẳng định sự thắng lợi của phong trào Thơ mới và góp phần không nhỏ cho sự nghiệp thơ ca mà ông khẳng định vững chãi sau này. Ông rất xứng đáng với danh hiệu “người mới nhất trong các nhà thơ mới“ (Hoài Thanh), “Là người mang đến cho thơ mới nhiều cái mới nhất“ (Vũ Ngọc Phan). 
Xuân Diệu cũng như một vài nhà thơ xứ Nghệ khác mang trong mình dòng máu lai pha giữa đằng ngoài và đằng trong, có sẵn cái kiên cường, chí tiến thủ của cha kết hợp với cái phong khoáng chân chất của mẹ. Ông đưa vào thơ mình hai nguồn sữa đó, vừa nồng nàn vừa mơ mộng, có sự chân chất nồng nàn của tâm hồn ông đồ vùng đồng bằng Hà Tĩnh kết hợp sự phóng khoáng hồn nhiên của tấm lòng người phu nữ miền biển Quy nhơn. Ông đi vào cách mạng bằng sự hòa hợp tiếp nối nhanh chóng khác các nhà thơ cùng thế hệ mang cái buồn đau chán chường theo Cách mạng mong đổi đời. Thi nhân Hà Tĩnh với sự có mặt của các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Thái Can, Quỳnh Dao đã góp phần tạo nên một dấu ấn ở dòng thơ này. Trong chừng mực nào đó có thể xem Xuân Diệu là ngọn cờ đầu của phong trào Thơ Mới Việt Nam 32- 45, nơi lưu giữ phần nào tâm hồn một thế hệ công dân Việt Nam trong chặng đầu của thế kỷ XX.
12/12/2018
Yến Nhi
Theo https://vanchuongviet.org/

Nhớ Huy Cận, người quê viết thơ quê

Nhớ Huy Cận, người quê viết thơ quê

Cù Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình trung nông lớp dưới. Bố Huy Cận đậu tam trường làm hương sư ở Thanh Hoá, sau về quê dạy chữ Hán và làm ruộng. Mẹ Huy Cận là cô gái dệt lụa làng Hạ nổi tiếng ở xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ. Thuở nhỏ Huy Cận học ở quê. Đang học lớp tư được vài tháng thì theo một người cậu vào Huế học hết tú tài toàn phần (1939). Sau ra Hà Nôi, từ đấy trải qua nhiều thăng trầm nhưng đại bộ phận đời ông sống xa quê.

Rất gắn bó với đất quê, thực ra chỉ có mười mấy măm tuổi thơ, còn là lưu lạc, nhưng ký ức tuổi thơ lại ám ảnh thương nhớ trọn đời. Quê Huy Cận là một xã sơn cước, cảnh đẹp, không khí cổ sơ, nhân dân rất ham hát ví giặm, kể các truyện Nôm, kể truyện Kiều và ngâm Kiều. Đó là một miền sơn cước rất nghèo, dưới chân núi Mồng Gà, bên dòng sông La cổ kính và bên kia sông có chợ Nướt, mỗi tháng họp chín kỳ. Thuở Huy Cận sống thời thơ ấu, cảnh sắc nơi đây đẹp một cách xa vắng, đìu hiu. Điều đó, sẽ là một phần nào sau nầy khiến cho thơ Huy Cận tự nhiên ẩn chứa một nỗi buồn lãng đãng.
Trong Lời giới thiệu “Tuyển tập Huy Cận” (tập I) Xuân Diệu đã viết về làng quê Ân Phú: “Rất nhiều cá tính của đất đai, có thể nói mỗi mảnh đất đều tràn đầy  xúc cảm, như tích tụ cái cổ sơ đâu từ hàng trăm năm trước. Làng quê hương đã cung cấp cho Huy Cận một cái vốn đất đai gì sâu thẳm như gan ruột của thời gian“
Quả thật, sông núi, đất đai quê hương, những chợ Nướt, dòng sông La, núi  Mồng Gà… đã làm nên xương thịt của nhà thơ và dệt nên tâm hồn thơ nơi con người ông:
Tôi sinh ra ở miền sơn cước
Có núi làm xương cốt hàng ngày
Đất bồi tơi làm da thịt mát
Gió sông như những mảng hồn bay.
Và:
Tuổi nhỏ tôi trùm trong nhớ thương
Cách sông chợ Nướt bến đò sương
Làng quê chân núi chiều về sớm
Bóng núi dài lan mát ruộng nương
Huy Cận đã sống tuổi nhỏ trong quê hương đẹp và nghèo ấy. Quê nghèo đã cho ông hồn thơ. Cảnh vật, con người quê hương luôn ám ảnh tâm can nhà thơ, làm thành những kí ức tuổi nhỏ chi phối thế giới nghệ thuật thơ Huy Cận.
Lửa thiêng (1940) là tập thơ tiêu biểu của Huy Cận trước cách mạng và thuộc số thành tựu xuất sắc nhất của thơ mới 1932 - 1945. Người đọc bắt gặp ở Lửa thiêng một cái tôi khát khao giao hòa, nhưng luôn cảm thấy cô đơn trống vắng. Làm nền cho tập thơ là những nỗi buồn quê kiểng: nỗi buồn đêm mưa, buồn nhớ bạn nơi xa, buồn của người lữ thứ, buồn nơi quán trọ, nỗi buồn trước cảnh sông dài trời rộng... Nỗi buồn thương của Huy Cận như ngấm ngầm chất chứa tự đáy lòng, lan toả khắp ngoại cảnh, tạo thành cái mạch sầu chảy hút về hoài niệm chùm lên cả những xúc cảm về quê hương:
Trông vời bốn phía không nguôi nhớ
Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay
(Vạn lý tình)
Đọc thơ Huy Cận thời này, có người không khỏi giật mình về cái buồn man mác khi bất chợt, khi trải dài cố hữu  xen vào nhau rất đậm, cho là ảnh hưởng “nỗi buồn trong thơ Pháp, là cái mode của thi ca đương thời”! Không hẳn thế chúng tôi cho đó là tâm trạng của một thế hệ những người trí thức  lúc bấy giờ, là một nét quan niệm về nhân sinh  kết tinh trong nghệ thuật, được cộng hưởng thêm từ Chủ nghĩa lãng mạn phương Tây mà thôi.
Huy Cận thường nói tới thiên nhiên, những thi ảnh thân quen trời, sông, sóng, khói, con đò, chiếc cầu, cánh chim… dễ gây xúc động cho người đọc, làm cho người ta nhớ quê nhà. Cho đến khi xuất bản Lửa thiêng (1940), Huy Cận chỉ trải nghiệm hai con sông lớn, đó là Sông La ở quê và Sông Hương ở Huế. Bài thơ “Tràng giang” (1939) thấp thoáng bóng dòng La với bao nhiêu chi tiết mà ai đi trên dòng sông này một lần đều có thể cảm thấy phảng phất nhiều hình ảnh được tái hiện trong bài thơ, cùng với nét biểu cảm sâu lắng tâm hồn ông. Nhiều nhà phê bình khen ngợi bài thơ này đặc biệt hai câu cuối “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” vì cái âm hưởng Đường thi và tình quê mơ màng lai láng của nó. Tuy nhiên nhiều chi tiết khác được tác giả thể hiện trong bài mới thật sự đậm chất quê kiểng, xúc động lòng người.
Khung cảnh đặc tả trong bài thơ rất có ý nghĩa trong sự liên tưởng tâm trạng thi sĩ với miền quê… Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật/. Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng…
Đó là hình ảnh thượng nguồn con sông La chảy từ Lào sang với hai bờ xa cách, nước chảy xuôi, không một chuyến đò ngang. Chẳng có cây cầu nối liền hai bờ, đứng ở bờ sông bên nầy, nhìn sang bờ sông bên kia chỉ có bãi cát vàng,  bờ dâu xanh…, kéo dài đến tận chân trời…
Những thi ảnh rất gần gũi với độc giả, mang đậm hồn quê của ông. "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều", một hình ảnh thơ quen thuộc mà rất gợi cảm. “Chợ Nướt” bên kia sông và vài chợ khác là nơi trao đổi hàng hoá, gặp gỡ, chuyện trò rộn rịp thân thiết của làng quê. Hình ảnh một ngôi chợ nhỏ, lơ thơ mấy mái tranh là rất quen thuộc ở miền quê nước ta, cách gọi tên đặc biệt của làng quê xứ này: Chợ họp buổi sáng gọi là "chợ mai", họp buổi chiều, gọi là "chợ chiều”, chợ họp trễ lúc đầu hôm là "chợ hôm". Cảnh chợ chiều, nhất là lúc vãn chợ, bao giờ cũng buồn. Huy Cận rất tinh tế, ông là người sinh ra lớn lên ở miền quê Đức Thọ trước khi đến học ở kinh đô Huế, nên nhận biết rất sâu sắc những cảnh tình đó.
Bèo dạt về đâu hàng nối hàng, cánh bèo trôi  là hình ảnh về sự vật, nó gần với "bèo dạt hoa trôi"- thành ngữ dân gian nói về thân phận con người trong xã hôi cũ. Những cánh bèo từng hàng bị xô đẩy nổi trôi trên dòng sông trong bóng chiều là một bức tranh đầy gợi cảm tượng trưng cho bao kiếp người lênh đênh vô định. Nhất Linh một thời thích câu thơ "Bèo giạt về đâu..." của Huy Cận. Có lúc ông đã tính lấy hai chữ "Bèo giạt" để đặt tên cho toàn bộ ba tập tiểu thuyết "Dòng Sông Thanh Thủy" (Dòng Sông Thanh Thủy - tập 1, "Chi bộ Hai người" - tập 2 và "Vong Quốc" - tập 3).
(Theo Hồng Lam đất văn chương đất khoa bảng - Chương: Huy Cận, NXB Thế giới, 2010 )
Tất cả những hình ảnh làng quê mà ông mô tả như trên, phải là người yêu làng quê lắm, mới có những nhận xét tinh tế như thế. Chúng tôi cho Tràng giang là tâm tư được rút ra từ tấm lòng quê kiểng, dóng sông mang bóng dáng con sông quê nhà của ông.
Huy Cận là một người vô cùng giản dị, có nhà văn đã viết về ông: “Thật lạ lùng là vị bộ trưởng, nhà thơ tài năng kiệt xuất và tài hoa nhiều mặt ấy lại luôn luôn mang một vẻ bề ngoài hết sức mộc mạc, bình dân tới mức dân dã vô cùng! Ông gần như vẫn nói giọng Nghệ Tĩnh nguyên xi, sau nửa thế kỷ sống giữa lòng thành phố thủ đô! Vẫn thường mặc những quần áo vải bông tuềnh toàng, mang giầy vẹt gót, không sơn bóng nước xi” (Hoàng Cát - Chuyện văn chuyện đời nhà thơ Huy Cận). Cất giấu bên trong cái vẻ ngoài giản dị mộc mạc đó là một tình yêu sâu đậm với quê hương.
Quê hương hiện lên trong thơ Huy Cận không chỉ là cảnh mà còn là người, những con người mộc mạc gần gũi thân thương mà bao giờ nhắc đến họ, đến những những ngày buồn xưa cũng như những ngày vui nay giọng thơ ông như trầm hẳn xuống muốn san sẻ. Đó là những bà mẹ, em bé trong những ngày mưa, lụt “ơi ời giữa nước mênh mông trắng”, những bà dì, bà mự, bà cô sống hẩm hiu “như hòn cuội lăn xuôi”, người thầy” năm nhăm năm vụt tắt” nhà thơ nghe lòng mình xót xa… Sâu đậm nhất là hình ảnh mẹ nhà thơ “Mẹ ơi sao mẹ giống/ Đất nước sinh ra con/ Cũng một bầu khổ thống/ Cũng bấy nhiêu đau buồn”. (Trích Hồi ký - 1940)
Hình ảnh quê hương thân thiết với người cha, người em, đàn gà, con trâu cùng với những món quê tương, nhút, cá kho, cơm ủ… luôn theo ông trong niềm thương nhớ: Tuổi thơ gà gáy ran đầu bếp/ Trâu dậy trong ràn em cựa nôi/ Cha dậy đi cày trau kịp vụ/ Hút vang điếu thuốc khói mù bay/ Nhút cà cơm ủ trong bồ trấu/ Chút cá kho tương mẹ vội bày... (Sớm mai gà gáy). Những tiếng quê “ràn”, “cày trau”, “nhút cà” xa quê lâu ngày ông vẫn nhớ!.
Tập trung cho tình yêu quê hương đầy nhớ nhung, tự hào là bài thơ  “Gửi người bạn Nghệ Tĩnh” trong tập thơ “Những năm sáu mươi” của ông. "Xứ Nghệ” trong lĩnh vực văn hóa, văn chương truyền thống thường  bao gồm cả hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Có lẽ đây là bài thơ duy nhất trực tả Xứ Nghệ trong văn chương hiện hành với những sản vật tiêu biểu như “cà xứ Nghệ càng mặn lại càng giòn”, “nước chè xanh xứ Nghệ càng chát lại càng ngon” và những gia tài văn hoá phong phú như “vè, ví dặm  xứ Nghệ càng lắng lại càng sâu” một cách tự hào.
Từ bấy lâu nói về văn hóa và con người vùng đất này có hai nhà văn nói khá sâu sắc gây nhiều ấn tượng, đó là Nguyễn Đổng Chi và Đặng Thai Mai, nhưng các cụ nói chủ yếu về con người xứ Nghệ với những nét cực đoan trong tính cách, như chiến đấu gan dạ đến liều lĩnh, giải quyết tốt những trận đánh khó khăn nên có lần vua nhà Trần trước sự vây hãm, đẩy lùi của quân thù đã tự tin bảo rằng ta “còn mười vạn quân Hoan Diễn” (Hoan Diễn do tồn thập vạn binh) chưa dùng đến, Hoan Diễn là hai châu Hoan, châu Diễn tức Nghệ An, Hà Tĩnh sau này. Hoặc khi cuộc sống đẩy đến cùng cực thì phải kết liên  với nhau chống lại, các cụ gọi là sức mạnh  hợp quần (Xô Viết Nghệ Tĩnh). Huy Cận tự hào về cái vẻ đẹp mộc mạc mà tinh tế, nhân văn trong văn hóa, tâm tình con người Xứ Nghệ.
 Ai đi vô nơi đây,/ Xin dừng chân xứ Nghệ.
Nghe câu vè ví dặm/ Càng lắng lại càng sâu.
 Tình xứ Nghệ không mau,/ Nhưng bén rồi  sâu lắng.
Quen xứ Nghệ quen lâu,/ Càng tình sâu nghĩa nặng.
 Ôi tâm hồn xứ Nghệ,/ Trong hồn Việt Nam ta.
Chất Nghệ của bài thơ càng hiện rõ ở thể điệu ví dặm và ngôn ngữ đậm chất dân gian mà tác giả vận dụng thành thạo.
Bài thơ Ngã ba Đồng Lộc, đỉnh cao của lòng mến yêu, tự hào về quê hương Hà Tĩnh, quê hương Việt Nam. Một cách thể hiện mới mẻ của thể thơ tự do, những thi tứ hiện thực xen lẫn tượng trưng tạo một cảm xúc bi tráng - cao cả:
... Các ngã ba khác trên đời làm bằng nước, Bằng sông, bằng thủy triều lên xuống,
Bằng đèn xanh đèn đỏ đủ màu Hay bằng những sự chênh vênh vấp ngã,
Nhưng ngã ba Đồng Lộc làm bằng xương máu. Khi con về quê con nhớ viếng thăm 
Mộ các cô kề bên đường đỏ… (Ngã ba Đồng Lộc) 
Mộ các cô ở đây là mộ 10 cô gái huyền thoại đã hy sinh cho Ngã ba bất tử. Ngã ba này vượt lên những hư ảnh tầm thường “đèn xanh đèn đỏ” giả tạo, vượt lên sự phản bội “chênh vênh vấp ngã”, ngã ba này “làm bằng xương máu”… Những câu thơ khẳng định và thức tỉnh! Một cảm nhận chân thật sâu sắc về Đồng Lộc.
Phong cách thơ về quê hương của Huy Cận cũng như thơ ông nói chung khó gói lại trong một vài mệnh đề, thi liệu thường là những hình ảnh vừa có sự gần gũi, thân thuộc nhưng phong phú và đa dạng, dân dã mà bác học, hiện đại lại mang dáng dấp của thơ ca truyền thống. Thể tài cũng vậy, thơ bảy chữ, năm chữ, tự do đều có. Ngôn ngữ khi thì như tiếng nói đồng quê, khi thì cổ kính như thơ Đường cổ. Bảng lảng những suy tư triết học nhưng lại gần gũi trữ tình tâm sự của người bình dân. Ba bài thơ quê Tràng giang, Gửi người bạn Nghệ Tĩnh, Ngã ba Đồng Lộc mà chúng tôi trích dẫn trên đây là một minh chứng cho những điều đã nói về phong cách thơ quê của ông: Cổ điển như Tràng giang, dân dã như Gửi người bạn Nghệ Tĩnh và tân kỳ như Ngã ba Đồng lộc!.
Phấn đấu cho mình có được một phong cách nghệ thuật riêng là mục tiêu đẹp đẽ của mọi nhà văn. Ngay từ khi mới cầm bút, Huy Cận đã ý thức được điều này. Bằng tài năng bẩm sinh, và quá trình lao động sáng tạo công phu nghiêm túc, Huy Cận đã tạo dựng cho mình một phong cách riêng khá nổi bật trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Mảng thơ về quê hương có một đóng góp lớn cho thành tựu này.
17/3/2019
Yến Nhi
Theo https://vanchuongviet.org/

Bước thời gian. Chặng đường thơ mới của Tùng Bách

Bước thời gian (*).
Chặng đường thơ mới của Tùng Bách

Bước thời gian là tập thơ mới nhất, tập thơ thư tám của anh, một phong cách không thể lẫn lộn. Ngắn gọn cô đúc, đôi lúc như những ngạn ngữ dân gian. Những nghịch lý đời sống cười mà buồn. Thơ anh thường có tứ đọng lại ở câu cuối, người đọc cảm nhận đột ngột một điều tác giả gửi gắm, có phần sửng sốt, đôi chút ngạc nhiên để rồi ngẫm nghĩ thích thú. Để có những chiêm nghiệm đầy xúc cảm đó hẳn phải trải qua một bề dài tháng ngày lưu lạc đây đó, tiếp xúc với bao nhiêu thân phận đến cái tuổi cổ lai hy anh mới rút ra được..
Tôi quen Tùng Bách từ những năm tám mươi, sau hai mươi năm gặp lại, anh vẫn như xưa: khuôn mặt chất phác, giọng nói trầm nhẹ, lúc nào cũng như tâm tình, thủ thỉ. Chỉ có đôi mắt có vẻ tư lự, từng trải hơn. Thơ cũng như người, bây giờ so với lúc trước, thơ Tùng Bách  đã đi một chặng đường dài, rất nhiều chiêm nghiệm và từng trãi có mặt trong thơ anh. Đó là sự giễu nhại, cười cợt những mô chuẩn giả dối của mặt trái đời sống thị trường, là lối lấy tin sốt dẻo từ các vấn đề thời sự trên báo chí, là những hình ảnh thực ảo lẫn lộn, là ngôn ngữ dân dã tưng tửng rặt cách nói Xứ Nghệ. Và trong tận cùng sự đổi thay là cách nhìn đời không còn giản đơn theo mô hình như ngày xưa. Bao tháng ngày từng trải anh chiêm nghiệm nhiều nghịch lý đời sống chắt thành thơ thổ lộ với độc giả, rất khiêm tốn. Thoáng nghe thì nhẹ tênh, như một nhếch mép, nhưng  lắng lại long lanh những giọt buồn đời!
Thơ Tùng Bách nhiều chất hài hước, cái hài không nặng về khoa trương chữ nghĩa mà ở những nghịch lý được trình bày của sự việc . Nó sâu sắc và có tính khái quát cao. Từ một chi tiết nhỏ nhặt, chiếc răng khểnh của người đẹp đi qua phố, tác giả liên hệ đến sự ngờ nghệch, sự kém hiểu biết, thói a dua , thường có của người đời, cho đến những nghịch lý đời sống, nghịch lý văn hóa gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, đến tâm lý cộng đồng:  Người đẹp có chiếc răng khểnh đi qua phố/ Nhiều tiếng trầm trồ chỉ trỏ… Ai cũng cảm thấy nơi khóe miệng mình/ Thiêu thiếu một tý gì đó! (Răng khểnh)                                       
Đời sống thường có nhiều nghịch lý, nghịch cảnh, hơn ai hết các nhà văn nhà thơ phát hiện rất nhanh, nghiệm suy những điều sâu kín bên trong. Sự vật hiện lên sắc nét và phô bày những vấn đề có khi mang tầm khái quát. Sự bức hại thiên nhiên vì cái lợi trước mắt có khi hủy hoại nền văn hoá lâu đời, làm thương tổn tình cảm nhân văn của cộng đồng. Nhà thơ từ cảnh thực mà hình tượng lên với ngôn ngữ trữ tình, phép nhân cách hóa.
Nhớ thương chờ nhau hóa đá/ Tưởng rằng đến thế thì thôi
Đá nào được yên phận đá/ Có ngày bạc phếch như vôi - (Miền viễn tưởng)
Thói hư danh, ham thanh, chuộng lạ, cũng là một điều dễ bắt gặp, nhưng nó lại trừu tượng ở những phạm trù tinh thần như văn chương phú lục. Nó làm lóa mắt với nhưng xảo thuật màu sắc nhưng có khi là bước thụt lúi hoặc xa lạ tâm niệm công chúng: Văn chương phú lục đang dần thoái/ Hiện đại thơ ca tiến đến vè/ Ca ve khéo vỗ thành hoa hậu/ Lời  thật thời nào cũng khó nghe.
Tập thơ có những bài đậm chất  trào phúng hóm hỉnh, lại có những bài suy tư sâu lắng, nhưng lẫn vào đâu đó còn là những khúc trữ tình nồng thắm về tình yêu, tình bạn (Bạn vàng, Những lời có cánh, Yêu…), về quê hương xứ sở (Đèo Ngang, Chiều  Phủ Quỳ, Cát bụi, Đêm Anh Sơn…)
Tùng Bách thoạt nhìn có vẻ khô khan, nhưng gặp lâu lai thấy khá nồng đượm. Thơ anh cũng vậy: ngắn, chân thật, ít mỹ từ ngay cả khi nói về tình yêu khác một số thi phẩm ta thường gặp. Chia khuất, tử biệt đôi đường người bạn thân Chu Vĩnh Phương, lời thơ trầm tĩnh như nén lại nỗi buồn đau da diết: Sơn khê gió mưa chẳng thế/ Tiễn đưa nhau nốt quãng chiều/ Mọi nhẽ từ nay đà ký ức/ Khuyết tròn một thuở thương yêu/ (Mọi nhẽ từ nay). Như người xưa nói “Lời đạm mà tình nồng” là vậy!
Tác giả đi nhiều, do nghề nghiệp, phần nữa do sở thích, hay xê dịch nhưng một sợi dây vô hình vẫn níu giữ với quê hương, đi đâu một mình hay với người thân, bè bạn thì vẫn thấy ”không đâu bằng quê hương”. Ở đâu thành phố hoa lệ đèn điện lầu hoa, hay đèo cao núi biếc thì“ Ta xưa giờ vẫn Quê”. Chất Quê là linh hồn, là phẩm cách mà tác giả luôn cố giữ lấy! Nỗi nhớ quê là một tâm trạng day dứt của tác giả trên mọi nẻo đường vào Nam ra Bắc, mỗi hoàn cảnh khác nhau nhưng đều hiện hình cùng một nỗi ám ảnh những lúc xa ấy là thấy thiếu vắng. Cảm giác thiếu vắng quê nhà dẫu những lúc đó có thể thừa nhiều thứ bao bọc xung quanh, đó là một cảm xúc khá phổ biến ở nhiều bài thơ. Chính bởi vậy khi qua vùng Phủ Quỳ tác giả đã xúc cảm:
Phủ Quỳ chiều mang mang/ Thả hồn cùng sông Hiếu/ Chợt thấy mình thừa ra
Mới hay mình đang thiếu. (Chiều Phủ Quỳ)
Nhà thơ nào cũng muốn thử thách mình với thơ tình yêu. Cũng muốn bày tỏ cũng muốn gửi gắm. Chúng tôi nghĩ, không có hay và dở trong mảng đề tài này, vì nó đều thoát ra tự con tim, nó rất chân thành, tùy theo đối tượng người đọc để cộng cảm mà thôi. Nhưng thơ tình mỗi nhà thơ đều có cái khác nhau đó là do cái “tạng”, hay nói một cách chữ nghĩa là “cá tính sáng tạo của họ”. Thơ tình của Tùng Bách khi ồn ào như sóng lại có khì thầm lặng như bóng đêm, chung quy vẫn không thoát ra ngoài chữ Buồn và Mong.
 Yêu man dại và điên cuồng như thế/ Que diêm nào cũng chỉ cháy một lần thôi (Yêu)… Cái rét ăn theo gió bấc mưa phùn/ Tiếng thở dài không làm đêm ngắn lại
Cớ chi lòng thổn thức nhớ người dưng… (Tháng chạp)
Nói về nghề Thơ Tùng Bách rất khiêm tốn, cho rằng năm mươi năm mình “tí tóe làm thơ” đến bây giờ vẫn câu được câu mất, thực ra, với gần chục tập thơ ra mắt độc giả anh đã tạo được một dấu ấn riêng, một bút pháp riêng, theo tôi đó là bút pháp cười - buồn. Thơ anh như một nhịp thở, đa phần là ngắn và có “điểm đọng” - nơi gói lại, đóng lại và nâng lên tình ý, chủ đề bài thơ.
Gần đây, trong sự bắt nhịp sự đổi mới của thơ cả nước, ngòi bút anh có nhiều đổi mới, nhưng cái mới của anh không thiên về câu chữ, mà thiên về cách nhìn cuộc sống. Cách nhìn không bảo thủ, không đơn giản, không nặng về bề nổi, cố gắng đi vào bề sâu, bề sau các hiện tượng, có khi bên sau tiếng cười lại váng vất một nỗi buồn: Lòng như biển mấp mô bờ đá dựng/ Chân trời xa bảng lảng cánh chim trời/
Thương mến ạ, về thôi chiều trở gió/ Mặc sợi buồn giăng mắc phía xa khơi! (Không đề). Chính cái bề sau của sự vật mà nhà thơ chiêm nghiệm đã nâng cánh cho thơ bay lên.
(*) NXB Hội Nhà Văn - Hà Nội - 2018. 
10/7/2019
Yến Nhi
Theo https://vanchuongviet.org/

"Chọn" - Một băn khoăn nhân thế

"Chọn" - Một băn khoăn nhân thế

Đang thân, bỗng lạnh mặt mày
Lạ xa, thoắt cái bắt tay hẹn thề
Người chậm đến, kẻ sớm về
Chốn đây đã thuận, nẻo kia lại dừng.
Người chọn rồi. Ta chọn không?
Rối tung đen đỏ, chơi cùng quỷ ma
Ta chọn người. Người chọn ta
Ngọt vào khoảnh khắc, đắng ra một thời.
Cái rủi may bám kiếp người                                         
Lắm trang nghiêm đến từ nơi cợt đùa
Thấp: cạn nắng, cao: trũng mưa
Đây dư đòn phạt, kia thừa lộc khen 
Gió lùa thêm lẻ loi đêm                              
Ngủ nơi xóm cạnh, thức miền xa xôi.
Người chọn ta. Ta chọn người
Tỉnh thành đã hẹp, đường đời vẫn xa.

(Phạm Đình Ân - Tạp chí Thơ số 6-2003) 
Con người đi qua bao thế kỷ cùng câu hỏi mà Hămlét đã nêu lên Sống hay không sống? Và nếu sống thì sống thế nào giữa hai phân cực: tốt - xấu. Nhân loại đã chọn, phải sống và đi về phía Cái Tốt dẫu mỗi bước đi mỗi trầy trật! Đó là chọn cách sống, còn chọn thời nào để sống? Nửa thế kỷ trước Chế Lan Viên đã chọn cho chúng ta, thời chiến đấu chống xâm lăng bảo vệ Tổ quốc là thời đẹp nhất đáng sống nhất! “Chọn thời mà sống chăng? Những ngày Ta sống đây đẹp hơn tất cả, Dù mai sau đời có muôn vạn lần hơn” (Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng?)
Rời khỏi quá khứ, trở về thực tại Phạm Đình Ân không thể chọn thời mà sống, anh phải sống với thời nay và chỉ có quyền chọn cách sống. Trong tâm thức tác giả luôn hướng về cái thật, bất bình với những nghịch lý nhưng nhập vào cuộc sống này thật khó khăn khi nhiều lúc nhiều nơi cái xấu cơ hồ lấn át điều thiện.
Cuộc sống trong cảm nhận của tác giả nhiều nghịch lý: Cái thật, cái giả sao mà lẫn lộn nhiều đến vậy. Thân đó mà xa đó, thuận ở đây nhưng dừng ở kia Đang thân, bỗng lạnh mặt mày/ Lạ xa, thoắt cái bắt tay hẹn thề.
Đen đỏ rối tung, ngọt đắng vào ra trong khoảnh khắc:
Rối tung đen đỏ, chơi cùng quỷ ma
Ta chọn người. Người chọn ta
Ngọt vào khoảnh khắc, đắng ra một thời.
Đúng như ai nói trong thế giới này "họ luôn là một kẻ khác”, "con người hai mặt” không hiện hữu lẻ loi.
Cuộc sống không chỉ lẫn lộn thật giả mà còn đầy những nghịch cảnh, Thấp: cạn nắng, cao: trũng mưa/ Đây dư đòn phạt, kia thừa lộc khen. Cái phi lý "kẻ ăn không hết người làm không ra”, "nước chảy về chỗ cao” một thời tưởng đã lùi xa nay lại xuất hiện. Con người không còn tin vào quy luật, tin vào bản chất cuộc sống  mà chỉ còn tin vào số phận vào rủi may. Cái rủi may bám kiếp người - một thức nhận mà Nguyễn Du đã bao lần thốt lên cay đắng và bất lực!
Đi trong thân phận Người, tác giả trở đi trở lại với một nỗi cô đơn, một nỗi bâng khuâng: Gió lùa thêm lẻ loi đêm… Tỉnh thành đã hẹp, đương đời vẫn xa, băn khoăn một câu hỏi về nhân thế, về thời đang sống.
Nghịch lý đã thấy nhưng câu trả lời tác giả vẫn cảm thấy mơ hồ, xa xôi. Một cảm nhận, một băn khoăn về lẽ sống, chính xác hơn một câu hỏi mang màu sắc triết lý về nhân sinh. Xin ai chớ vội trả lời hoặc nghi ngờ về nhận thức của tác giả. Đây là một câu hỏi vĩnh hằng về cuộc đời và con người mà tác giả chỉ nêu lên cụ thể trong một giới hạn hẹp ám dụ về không gian và thời gian: Người chọn ta. Ta chọn người/ Tỉnh thành đã hẹp, đường đời vẫn xa để cảnh tỉnh con người. Xa nhưng không có nghĩa là không có và chúng ta không nhi ngờ về lòng tin vào mặt sáng cuộc đời của tác giả.
Bài thơ có nét mới ở câu, chữ nhưng cái đáng nói nhất nằm ở chỗ tác giả bằng một lối nói giản dị, dân dã đã thể hiện khá tinh tế nỗi băn khoăn của con người về đời sống hiện hữu.
10/9/2019
Yến Nhi
Theo https://vanchuongviet.org/

Giấc mơ hoa phượng

Giấc mơ hoa phượng

 … Trường Cấp ba Cẩm xuyên là nhiệm sở tôi đến đầu tiên. Vừa bước chân xuống xe một cậu học sinh đã xô đến vổ vai hỏi “Cậu vào lớp nào?” Tôi không trả lời khẽ chào rồi đi về phía đám xe ôm gần đấy.
Vùng đất thị trấn Cẩm Xuyên, nơi trường đóng cách thị xã Hà Tĩnh khoảng hai mươi cây số, từ đây về quê tôi Nghi Xuân phải nửa ngày đi xe đạp. Một huyện nghèo cách biển mười cây số. Học sinh đa phần trọ học, cuối tuần về nhà lấy thêm lương thực. Thầy giáo, vì dạo ấy giáo viên cấp 3 hiếm nên Bộ phải điều từ khắp các tỉnh về, Trường C3 của chúng tôi có một số giáo viên được điều về từ tỉnh khác có thầy người Hà Nội, có thầy người Hải phòng, Quảng Bình, số còn lại người các huyện trong tỉnh. 
Tôi được phân ở dãy phía sau nhà tập thể, sinh hoạt chung vui. Thầy Cừ nhiều tuổi nhất hay chủ trì những buổi liên hoan mặn. Dạo ấy súng đạn thể thao không cấm như sau này. Các thầy thể thao thể dục vẫn cho giáo viên mượn súng đi bắn chim ngoài đồng. Chúng tôi thường tổ chức những buổi liên hoan nhỏ.  Ăn uống xong liên hoan hát hò. Thầy Quỳnh thầy Hưng chơi ghi ta tốt, thầy Cừ, Thầy Long hát rất hay. Những bài hát cổ điển các thầy trình diễn nhiều lần, tôi nhờ vậy biết được, nào Lòng mẹ, Sibêri nở hoa, Trở lại Sôrianto, Souliko, Sungsinsô, Chiều Mátcơva, Đôi bờ, Kachíusa… 
Thời gian ở đây đối với tôi có ý nghĩa như mối tình đầu, điều làm tôi nhớ nhất xem như một cái mốc của đời mình, đó là thời gian mới vào nghề nhưng chỉ trong hai năm tôi đã trở thành một giáo viên được Sở và đồng nghiệp chú ý. Hai công việc tôi đạt được thành tích cao là năm nào  đội Học sinh giỏi của trường đều đạt giải của tỉnh trong số đó học sinh lớp tôi phụ trách có em giải nhất. Điều thứ hai là tôi tổ chức được cuộc thi “Rèn luyện kỹ năng” cho học sinh gọi tên là Sáu Cửa, gồm sáu môn thi nói: 1- đọc diễn cảm, 2- viết chữ đẹp, 3- kể chuyện hay, 4- nhớ thơ lâu, 5- biết nhiều tác giả, tác phẩm, 6 - làm tốt dàn bài tóm tắt . Mỗi lớp một đội, phải qua “sáu cửa” thi đó để đạt thứ hạng mong muốn. Chất lượng các cuộc thi vừa phải nhưng phong trào thì khá lên cao. Sở lấy làm mẫu nhân rộng ra các trường khác.Thầy hiệu trưởng nể tôi lắm. Giờ bồi dưỡng nào thầy cũng pha một cốc nước chanh mang lên cho tôi. Cảm động nhưng tôi có phần e ngại, sợ mình không đáp ứng được hy vọng của thầy.
Ở Trường Cẩm Xuyên tôi quen nhà thơ Xuân Hoài. Anh vốn dạy ở quê Đức Thọ nhưng có vấn đề gì đó với địa phương, Sở chuyển anh vào Cẩm Xuyên. Anh, mặc dầu là giáo viên Toán, vẫn hay thơ, hồi này đã có nhiều thơ đăng báo, được tuyển vào tập thơ trẻ Sức mới. Phòng anh phía trước, phòng tôi phía sau, nhà vách nứa nói chuyện vọng qua vách, anh thường đọc thơ cho tôi nghe. Tính trầm lặng, viết bảng đẹp, anh phụ trách Bảng tin của trường. Mấy năm sau anh vào Hội Nhà văn Việt Nam, rồi chuyển ngành sang ngạch văn hóa. Sau này tôi còn gặp anh nhiều lần, tình bằng hữu nảy nở và niềm yêu thích văn chương của tôi được truyền đến từ anh khá nhiều. Bài thơ “Những ngôi sao“ anh viết dạo đó đã từng được giải  trong một cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ.
Ở Cẩm Xuyên hai năm, bắt đầu cuộc chiến Mỹ bắn phá Miền Bắc. Vì nhu cầu học tập của học sinh các huyện ngày càng đông, UBND Tỉnh quyết định mở thêm một số Trường Cấp 3 ở các huyện lẻ. Tôi và một số giáo viên nữa được chuyển vào dạy một trường mới thành lập ở một huyện Cực Nam: Trường Cấp ba Kỳ Anh. Những ngày đầu xây dựng trường, lớp, các thầy giáo làm nhiều việc có tính công vụ chứ không thuần giảng dạy. Chặt tre, đốn tranh, đào hầm, dựng lán học, chở bàn ghế… Chuyến hàng đầu tiên, tôi phải đi chở bàn ghế học sinh bằng ghe cách nơi trường đóng 20 cây số. Đêm đã lâu, mà chẳng đi được bao xa, thuyền chạy men bờ, cả chèo, cả đẩy đi rất chậm. Gần nửa đêm ngồi trên mui thuyền tôi chập chờn nhớ lại quãng đường mình đã qua. Cạnh tôi, thầy giáo mới, anh người Hà Nội gốc, học Tổng hợp nhưng vì thiếu giáo viên Bộ vẫn liên hệ điều vào đây đi dạy. Lạ phong thổ, lạ sinh hoạt anh rất nhớ nhà. Qua lời anh kể,tôi mường tượng đến một ngôi nhà nằm sâu nơi phố Quan Thánh, có một bà mẹ sống bằng nghề đan len cùng ông chồng cán bộ lưu dung và một cô em gái học dở Cấp 3,  hằng đêm họ ngồi kể chuyện người anh nơi xa  nhiều bom đạn mà lo lắng. Anh nói giọng Hà Nội mềm mại nghe như hát, khuôn mặt mờ mờ dưới ánh trăng, cạnh những bảng, bàn ghế ngổn ngang nhìn như một cảnh phim cổ trang mà tôi từng xem. Giờ này, những đêm xưa cũ ở Hà Nội chắc anh đang cùng bè bạn không uống  chè “chén” hay càfê ở một góc phố nào thì cũng tập hợp đàn hát cùng nhau tại nhà một cô bạn nào đấy. Sinh viên Hà Nội mà tôi quen rất thích những thú vui văn hóa như đánh đàn, ca hát, xem phim cổ điển, chơi ban bóng… Về sau biết thêm anh có một giọng hát đẹp và là một tay “gôn “có hạng của một đội bóng sinh viên cuối khóa. Mới quen nhưng tôi cảm thấy như đã biết nhau từ lâu, rất cảm mến. Đêm trên sông không một bóng thuyền lạ, không một ánh đèn, chỉ trăng và nước, hai bờ làng xóm thẩm đen, thỉnh thoảng xẹt qua vài chiếc máy bay cùng những tiếng gầm rú inh tai. Thuyền chúng tôi chìm dần trong đêm. Ánh - tên thầy giáo mới - ngủ thiếp trên vai tôi.
Trường mới mở, chỉ tuyển sinh 3 lớp 8,  lớp 9 học  ở huyện ngoài năm trước nay chuyển về huyện nhà, năm sau trường mới đủ lớp cho cả cấp. Giáo viên trọ trong nhà dân, cơm nước nhờ dân nấu.Tôi làm quen nhanh chóng với ngôi trường mới và cung cách dạy học thời chiến. Có buổi học báo động đến hai ba lần. Phải cùng học sinh xuống hầm trú ẩn. Giáo án có phần rút gọn cho kịp giờ. Học sinh tan tầm về nhà là một mối lo cho thầy chủ nhiệm. Có lần bom rơi cạnh một lán học, may nó không nổ. Sau dó dân quân đào lên mang đi. Hú vía. Những ngày nghỉ Tôi và thầy Ánh hay xuống địa phương thăm học sinh. Rất nhiều kỷ niệm cảm động. Chúng tôi biết nhiều về đất và người miền Trung nhờ những chuyến đi này. Các vị phụ huynh yêu con nên rất quý thầy, câu ca cũ “Muốn sang thì bắc cầu kiều…” nhờ những lần gặp này khắc sâu hơn trong tâm hồn tôi. Có bận tôi ngủ thiếp giấc trưa, chập chờn, bà mẹ ngồi cạnh đưa võng cho tôi. Có chị chép cho chúng tôi nhưng câu hát rất nặng ân tình quê kiểng địa phương
Những năm dạy học ở Hà Tĩnh chứng kiến nhiều kỷ niệm bạn bè. Tôi nhớ nhiều về Quốc. Tốt nghiệp đại học tôi và Quốc đều được phân công về công tác Hà Tĩnh. Ở đại học, Quốc và tôi cùng một tổ học tập, lúc đó Quốc tổ trưởng, anh cùng với tôi có chân trong Nhóm cán sự bộ môn. Về Hà Tĩnh, tôi cùng các anh Quốc, Lê, Văn, là những thầy giáo dạy Văn, hồi ấy hay gặp nhau đọc thơ và bàn chuyện văn chương. Lê người miền Nam, ra Bắc diện học sinh tập kết, Văn người Hà Nội gốc, ở phố Khâm Thiên. Quốc, bạn thân nhất quê Phủ Lý, được phân về dạy Đức Thọ, hễ nghỉ là vào tôi. Với chiếc xe đạp cà tàng Quốc và tôi đi khắp các huyện. Thăm học sinh, vãn cảnh, tham quan các di tích, tìm hiểu sinh hoạt nhân dân… Lời dạy “Đi, học, đọc, viết “của một vị tiền bối cứ nhắc nhủ chúng tôi. Nhưng cái chính là đi để nói chuyện gia đình, đọc thơ văn cho nhau nghe vì hai đứa rất hiểu và tâm đắc nhiều vấn đề. Cùng tuổi, cùng học chung lớp, cùng sở thích, thân nhau là tất nhiên. Đặc biệt hai đứa cùng chung cảnh mẹ già một thời lẻ mọn, về già đơn chiếc, yếu ốm, xa con cái không ai đỡ đần khuya sớm. Thương và nói chuyện về mẹ về nỗi bất hạnh và sự hy sinh của các cụ là một đề tài hai đứa không bao giờ cạn. Ở Đức Thọ, Quốc thân với nhiều học sinh, đang học cũng như đã thôi học đi làm, có em ở cả những đơn vị dân quân trực chiến. Hồi ở đại học một lần yêu không thành về dạy ở Đức Thọ, anh yêu một cô giáo cấp 2. Cô dịu dàng rất dễ mến. Có lần Quốc dẫn tôi về thăm nơi cô dạy. Chuyện trò, lúc chia tay tôi đi trước, Quốc đứng lại nói chuyện rất lâu với cô giáo, sau cánh cửa khép hờ. Lúc về anh có vẻ bồn chồn, tôi gặng hỏi, Quốc không nói gì thêm. Tôi đoán anh đã tỏ tình nhưng không kết quả. Chẳng là các cô gái miền Trung hay yêu các chàng trai hào hoa miệt ngoài, nhưng gia đình lại không muốn gã con gái đi vùng xa vì họ nghĩ theo câu ca “có con mà gã chồng xa, bằng như con lợn khái (hổ) tha vào rừng”. Quốc hay làm thơ, thơ anh khá hay, có nét riêng trữ tình, chân thật. Một vài bài báo Văn Nghệ đã giới thiệu như Ngôi sao nhỏ, Cam đầu mùa có nhiều ấn tượng với bạn đọc. Những câu thơ như chắt ra từ cõi lòng anh đối với Hà Tĩnh: Mùa em về sông La rất xanh/, Chiền chiện xuống chiền chiện lên chao hót/ Lúa đồng chiêm gặp trộ mưa tốt vụt/ Trận địa nằm bên lúa gió thâu đêm/...
Đức Thọ, nơi trường Quốc đóng gần xã Đức Ân quê Huy Cận, có lần anh dẫn tôi về thăm. Đó là một xã nghèo, đẹp với núi Mồng gà, sông La, những đồng mía xanh ngát, nhưng vắng và buồn. Có lẽ đúng khi Xuân Diệu bạn ông đã có lần thổ lộ: Mến bạn mà về chứ quê Huy Cận nghèo và đìu hiu. Chợt nhớ mấy lần Huy Cận và Xuân Diệu về quê hay đến nói chuyện ở Hội Văn nghệ mà tôi từng gặp. Tiếp cận hai nhà thơ đồng hương rất thân nhau nhưng lại gợi chúng tôi hai cảm giác khác nhau, Xuân Diệu phong cách thì sang trọng rất nghệ sĩ từ áo quần cho đến “mái đầu dợn sóng Quy Nhơn”, Huy Cận thì ngược lại như ông chủ nhiệm HTX. Vị bộ trưởng, nhà thơ tài năng kiệt xuất và tài hoa nhiều mặt ấy lại có một vẻ bề ngoài hết sức mộc mạc, bình dân. Ông gần như vẫn nói giọng Nghệ Tĩnh nguyên xi, sau nửa thế kỷ sống giữa lòng thủ đô! Vẫn mặc bộ quần áo vải bông cũ sờn, đi giầy vẹt gót màu nâu nhạt loang lỗ. Nhớ lần ông về họp ở Hội Văn nghệ có cái cặp tài liệu mà khi nói xong ông cho tài liệu vào kéo sợi cao su hai góc cài lại rất cẩn thận và thỏa mãn như một ông cán bộ xã vậy... Xa quê năm 14 tuổi. Cho đến khi vào Huế, xuất bản “Lửa Thiêng” Huy Cận chỉ trải nghiệm hai con sông lớn, đó là Sông La ở quê và Sông Hương ở Huế . Bài thơ “Tràng giang” (1939) thấp thoáng bóng dòng La với bao nhiêu chi tiết mà ai đi trên dòng sông này một lần đều có thể cảm thấy phảng phất nhiều hình ảnh được tái hiện trong bài thơ, cùng với nét biểu cảm sâu lắng tâm hồn ông. Khung cảnh đặc tả trong bài thơ với cây cầu, dòng sông, bãi chợ, thuyền bè xuôi ngược rẽ những cánh bèo trôi, gợi bao cảm xúc… Cả Quốc và tôi đều cho Tràng giang là tâm tư được rút ra từ tấm lòng quê kiểng, dòng sông mang bóng dáng con sông quê nhà của ông.
Dịp nghỉ mùa năm ấy anh cùng về Nghi Xuân thăm mẹ tôi. Trên đường về anh ghé vào chợ, biết mẹ hay ăn trầu anh mua một ít trầu cau về biếu cụ. Sớm hôm sau chia tay mẹ, hai đứa đèo nhau trở lại trường. Mẹ níu tay tôi dặn khẽ: Đi đường cẩn thận nhé, chục cau Quốc mua cho mẹ toàn “bị điếc” cả! Thói quen cũ, mẹ tôi nghĩ điềm báo có điều không lành sắp tới cho hai đứa. Dạo ấy trên đường những giờ cao điểm phòng không, nguy hiểm khôn xiết kể.
Bẳng đi mấy tuần không gặp và cũng không tin tức, hôm ấy đang chuẩn bị lên lớp tôi được Lê báo tin “Quốc bị bom ra ngay”. Tôi xin phép hiệu trưởng nghỉ, phóng xe ra Đức Thọ. Qua Cầu Rác máy bay nhào xuống ném bom, những quả bom không nổ xòe cái đuôi vàng óng trên mặt đường. Kệ, tôi vẫn lao xe  qua. Tối ấy Lê cho tôi biết, Quốc bị bom khi vào trận địa 12 ly 7 thăm học sinh, ra về vừa lúc bom dập đến. Anh bị thuơng nặng đến bệnh viện thì mất cùng với một pháo thủ. Tôi khôn xiết đau buồn! Năm mươi ngày giỗ anh sau đó, Văn, Lê, tôi và cả cô giáo đi viếng mộ Quốc. Ngôi mộ còn mới nhưng cỏ đã nhú mầm xanh biếc. Lặng yên, tôi mong cho bạn bình yên nơi cực lạc, phù trợ cho tôi khi còn dang dở bao dự định.Tôi cảm thấy mình cô đơn, nhỏ bé và bất lực hơn bao giờ hết. Bao năm có Quốc chuyện trò động viên nhau, tôi cảm thấy vững chải bao nhiêu thì giờ yếu ớt bấy nhiêu. Nén hương trên mộ bạn, tôi hứa thầm sẽ làm tròn những điều hai đứa đã từng nuôi mơ ước.
Có một lần kỷ niệm hiện về trong giấc mơ của tôi… Dạo ấy nhờ đi dạy Bổ túc văn hóa, tôi quen T, một cô gái học lớp cuối cấp. Em có khuôn mặt rất hiền, da ngăm đen, dáng đậm rất đặc trưng vùng biển. Cái khác lạ gợi chú ý ban đầu cho tôi, em cười phô chiếc răng khểnh, giọng nói chơn chớt như trẻ con nhưng đôi mắt luôn có vẻ tư lự. Đôi mắt ấy nhiều giờ giảng tôi cảm thấy có một sự đồng cảm mơ hồ, ám ảnh tôi cả những khi cô vắng mặt trong lớp. Người làng kể gia đình em tan nát sau trận càn hồi chín năm, giặc Pháp càn lên miệt biển xứ này. Em có người cô nghe nói ngày xưa rất đẹp sau vụ đó trở thành lẩn thẩn, giờ vẫn là một người đàn bà cô độc. Nhiều buổi tan học, chúng tôi thường gặp gỡ chuyện trò cùng nhau. Trước kỳ nghỉ hè ra trường năm cuối, tôi có đến thăm em trong xóm nhỏ nơi các học sinh ở xa thường đến trọ. Em tiễn chân tôi về trong đêm trăng. Con đường từ nhà đến ký túc xá nhà trường nở đầy hoa phượng, quá gần, em và tôi quay đi, quay lại vài ba lần mới trọn việc chia tay. Năm ấy em thi vào Trường Luật. Cuộc sống xa quê, xa mẹ của thầy giáo trẻ mới ra trường khiến lòng tôi rung động trước những tình cảm mới mẻ. Phút rung động, tôi viết bài thơ trong nhật ký: Ngôi nhà ấy em ở/ Quấn quít dàn trầu không/ Lối mòn hoa phượng đỏ/ Men men trôi giữa đồng…// Trên con đường nhỏ đó/ Gọi tên em bao lần/ Và bên dàn trầu đó/ Bao lần tôi chờ trông...
27/7/2021
Yến Nhi
Theo https://vanchuongviet.org/

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của  Anatole France, "Tôi đi học"  của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...