Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2022

Thấy và tinXXXXX

Thấy và tin

Nỗ lực không bao giờ chấm dứt nhằm hòa giải khoa học và tôn giáo và tại sao phải thất bại.
Tạp chí The New Republic A Journal of Politics and the Arts ,Số ra ngày Thứ Tư ngày 4 tháng Hai năm 2009 .Lê Quốc Tuấn chuyển dịch Việt Ngữ
I.
Charles Darwin sinh ngày 12 tháng Hai năm 1809 – cùng ngày với tổng thống Abraham Lincoln – năm mươi năm sau, đã xuất bản tác phẩm chính của ông , Về Nguồn gốc Các Loài. Kể từ đó, mỗi nửa thế kỷ, một đợt kỷ  niệm Darwin lại đến : một cơ hội để vinh danh học thuyết về tiến hóa bởi chọn lọc tự nhiên của ông, vốn chắc chắn là một khái niệm quan trọng nhất cho ngành sinh vật học, và có lẽ là tư tưởng khoa học quan trọng nhất trong lịch sử. Năm 2009 là một năm quan trọng, các nhà sinh vật học chúng tôi đang chuẩn bị trải rộng ra trên toàn lãnh thổ để tổ chức diễn thuyết và tham dự vô số các Lễ Hội Darwin. Ðiều đáng buồn là chúng tôi sẽ phải nói chuyện với các nhà khoa học khác hơn là  được nói thẳng với công chúng Hoa Kỳ. Bởi vì trong xứ sở này, Darwin là một người ít được hưởng các tiếng tốt. Những ý tưởng khiến học thuyết của Darwin quá cách mạng chính là những cái đã gây khó chịu phần lớn người Mỹ ngoan đạo, bởi vì các ý tưởng này ám chỉ rằng muôn loài chúng ta, không hề có vai trò thiêng liêng theo như mô tả từ kinh thánh trong tấn tuồng của cuộc đời mà là kết quả của sự tiếp diễn và tình cờ trong một tiến trình hoàn toàn tự nhiên.
 
Vì thế những cuộc chiến tranh về văn hóa vẫn tiếp tục xảy ra giữa khoa học và tôn giáo. Một mặt chúng ta có một nền khoa học và một hệ thống luật pháp quyết định cho trẻ em được học về thuyết tiến hóa hơn là thần thoại học về tôn giáo, một khác chúng ta vẫn có nhiều người Mỹ nhiệt thành chống lại các nỗ lực đó. Thật là một thực tại đáng buồn là trong khi 74 phần trăm người Mỹ tin vào sự hiện hữu của các loại thiên thần, chỉ có 25 phần trăm chấp nhận là chúng ta đã tiến hóa từ những tiền nhân tương tự như loài dã nhân. Chỉ có một phần tám trong số chúng ta nghĩ rằng thuyết tiến hóa nên được giảng dạy trong lớp học về sinh vật học mà không kèm theo một lựa chọn về thuyết sáng tạo luận. Khi khảo sát ba mươi bốn quốc gia Tây phương về sự chấp nhận thuyết tiến hóa, Hoa Kỳ đứng hàng ba mươi ba, chỉ vừa ở trên Thổ Nhĩ Kỳ. Trải khắp đất nước chúng ta, các hội đồng giáo dục đang tìm cách giảm bớt chương trình dạy thuyết tiến hóa hoặc lén đưa thuyết sáng tạo luận dạy kèm bên cạnh. Và các đối thủ của chủ thuyết Darwin không chỉ giới hạn trong những người theo đạo bắt rắn (snake-handler) hoặc từ vòng đai kinh thánh; họ có cả những người mình quen biết nữa. Như Karl Giberson đã ghi nhận  trong tác phẩm Saving Darwin, “Mỗi người Mỹ đều có một láng giềng tin rằng quả đất này mười ngàn năm tuổi”.
 
Sự phân cực văn hóa của Mỹ đã trở nên trầm trọng hơn bởi những cuộc tấn công vào tôn giáo từ những “người vô thần mới”. Các tác giả như Richard Dawkins và Daniel Dennett, là những người theo chủ thuyết Darwin triệt để. Các lãnh tụ tôn giáo bị lăng nhục đã liên kết sinh vật học tiến hóa với chủ nghĩa vô thần để phản công lại. Sự phân ly này làm đau lòng những nhà thần học tự do và những khoa học gia ngoan đạo, những người đã từng đổi mới các nỗ lực của mình nhằm hòa giải tôn giáo và khoa học. Cái “khoa học” gần như luôn luôn là sinh vật học tiến hóa, vốn nhiều bàn cãi hơn bất cứ lãnh vực nào về hóa học hay vật lý học. Francis Collins, Giám đốc Dự án Bộ Gen con người, đã viết Ngôn ngữ của Chúa: Một Khoa Học gia trình bày Bằng chứng cho Niềm tin, triết gia Michael Ruse viết Một người theo Darwin có thể là một tín đồ Kitô giáo được không ? (Câu trả lời của ông là: có thể; và có những tác phẩm uy tín của những nhà thần học như John Haught và John Polkinghome. Hiệp hội Templeton trao các giải thưởng lớn cho các dự án nhằm hòa giải khoa học và tôn giáo, tặng thưởng giải thường niên hai triệu mỹ kim cho một triết gia hoặc khoa học gia nào có công trình làm nổi bật “tầm quan trọng về tâm linh của quy trình khoa học”, Viện Hàn Lâm Khoa Học quốc gia bộ phận uy tín nhất của nền khoa học Mỹ, đã ấn hành một tập sách nhỏ nhằm cam đoan rằng chúng ta vừa có thể có Darwin vừa cũng có đức tin được :
Khoa học và tôn giáo nhắm đến các khía cạnh riêng rẽ của kinh nghiệm nhân loại. Nhiều nhà khoa học đã từng viết những bài nghiên cứu hùng hồn về việc làm thế nào mà thuyết tiến hóa sinh vật đã làm tăng thêm chứ không giảm đi đức tin tôn giáo của mình. Nhiều người ngoan đạo và các giáo phái đã thừa nhận những bằng chứng khoa học của thuyết tiến hóa.
 
Phải chi được dễ dàng như thế ! Đúng vậy, có các các nhà khoa học ngoan đạo và cũng có những người theo Darwin đi lễ nhà thờ. Nhưng điều này không có nghĩa là đức tin tôn giáo và khoa học có thể tương thích với nhau, trừ trong cái ý nghĩa vô giá trị là cả hai tính cách cùng ăn ở trong tâm thức của một con người đơn độc. (Cũng giống như bảo rằng hôn nhân và ngoại tình thích hợp với nhau bởi vì một số người có hôn nhân cũng có cả ngoại tình). Cũng đúng là một số các áp lực sẽ biến mất đi khi từ bỏ việc đọc hiểu thánh kinh theo nghĩa đen, nguyên thủy nhất của những nhạy cảm của Do Thái giáo Kitô giáo. Nhưng sức ép vẫn còn. Vấn đề có thực chính là phải chăng có một mối bất tương thích triết học giữa tôn giáo và khoa học. Phải chăng tính chất thuộc kinh nghiệm của khoa học mâu thuẫn với cái tính chất thuộc về tính được phát hiện của đức tin. Phải chăng các khoảng cách giữa hai lãnh vực này lớn đến nỗi cả hai nền tảng này phải được xem như một sự tương phản tự căn bản ? Những dòng ấn bản không ngừng tuôn chảy nhắm vào việc giải quyết chủ đề này đã cho thấy câu trả lời không phải là một sự dễ dàng.
 
Cách dễ dàng nhất để hòa hợp khoa học với tôn giáo là chỉ đơn giản tái-xác định một vế để bao hàm được vế còn lại. Chẳng hạn như, chúng ta có thể khẳng định “Thượng đế” đơn giản chỉ là là một danh xưng ta dùng cho sự trật tự và hòa điệu của vũ trụ, các định luật về vật lý và hóa học, vẻ đẹp của thiên nhiên và đại loại như thế. Ấy là chủ thuyết phiếm thần căn cứ vào thiên nhiên của Spinoza. Người tán thành nổi tiếng cho chủ thuyết này là Einstein, thường được mô tả (và bị mô tả sai) như người tin vào một Thiên chúa nhân tính (personal God):
 
Xúc cảm đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể chứng nghiệm chính là sự huyền bí. Đó là loại xúc cảm ở ngay tại cái nôi của tất cả mọi nghệ thuật chân chính và khoa học. Ngài là đấng xa lạ đối với kẻ mang xúc cảm này, là đấng hiển hiện trong mê mẩn, bàng hoàng, không còn có thể ngạc nhiên hơn nữa, đáng kính sợ như sự chết, như một ngọn đèn sáp đã tàn. Để có thể ý thức được là đàng sau bất cứ điều gì có thể chứng nghiệm được vốn hiện hữu một điều gì đó mà tâm thức chúng ta không thể hiểu được, những thứ mà vẻ đẹp và sự dâng hiến chỉ đến với chúng ta một cách gián tiếp: đó là tôn giáo. Tôi là một người có đạo chân thành, trong chính ý nghĩa này, và chỉ trong ý nghĩa này mà thôi .
 
Nhưng vấn nạn lớn lao của sự “hòa giải” này trong việc khoa học không cưới xin ăn ở với tôn giáo nhiều hơn là đã tiêu hóa nó, chính là việc khoa học đã hoàn toàn rời bỏ Thiên Chúa – hay tối thiểu là khoa học đã rời bỏ Thiên chúa của những đức tin độc thần, có một quyền lợi trong vũ trụ. Và điều này không thể chấp nhận được đối với hầu hết những người ngoan đạo. Hãy nhìn những con số này : 90 phần trăm người Mỹ tin có một Thiên chúa nhân tính đang giao tiếp với thế gian, 79 phần trăm tin vào các phép lạ,75 phần trăm tin vào cõi thiên đàng và 72 phần trăm tin vào tính cách thiêng liêng của Jesus. Kenneth Miller, trong tác phẩm đầu tiên rất được nhiều người đọc của ông, cuốn “Đi tìm Thượng đế của Darwin” (Finding Darwin’s God) đã công kích chủ nghĩa phiếm thần bởi vì nó đã “làm loãng nhạt tôn giáo đến mức vô nghĩa”. Ông đã nhận định đúng.
 
Một cố gắng có ý nghĩa nhằm hòa giải khoa học và đức tin phải bắt đầu bằng sự nhận thức được tôn giáo và khoa học đúng như chúng được con người hiểu biết. Ta không thể tái xác định lại khoa học để khoa học có thể bao gồm được tính siêu nhiên, như hôi đồng giáo dục Kansas đã thực hiện trong năm 2005. Ta cũng không thể để tôn giáo trở nên một môn triết học của các nhà thần học tự do được, một thứ triết học cau mày trừng mắt nhìn Thiên chúa nhân tính, thường chỉ cách chủ nghĩa phiếm thần một sợi tóc mỏng manh. Nói cho cùng, mục đích không phải là đem trả đức tin về các nhà thần học tự do, mà là chỉ cho họ một phương cách để điều chỉnh những niềm tin thực của họ với các chân lý khoa học. Các nhà thần học đôi khi đề nghị một loại hòa giải bằng các phương tiện của thần thánh tự nhiên, vốn là cái tư tưởng cho rằng sự sáng tạo nên vũ trụ - và có lẽ cả các định luật vật lý – là kết quả trực tiếp từ công trình của một đấng thần thánh, đấng sau đó đã bỏ mặc mọi vật đơn độc khi chúng tỏ lộ ra, và không bao giờ xen vào thiên nhiên hay lịch sử một lần nữa. Đối với những người mộ đạo, điều này đã là một vấn nạn thậm chí hơn cả từ chủ nghĩa phiếm thần : bởi vì điều này đã không chỉ chối bỏ các phép lạ, sự giáng lâm trinh nguyên, các đáp trả cho những lời cầu xin, và toàn bộ guồng máy vũ trụ của Kitô giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo và đa phần của Phật giáo, đồng thời cũng khiến làm nảy sinh câu hỏi Thượng đế  ở đâu mà ra tự khởi đầu .
 
Không, một giải pháp đúng đắn phải hòa hợp được khoa học với thần thánh: với cái ý niệm về một thượng đế muôn đời và siêu việt, đấng dù sao đã dự phần trực tiếp vào thế giới và có lưu tâm đặc biệt đến Con người khôn ngoan (Homo sapiens), đối tượng thực của sự sáng tạo thiêng liêng. Và vì thế chúng ta có Karl Giberson và Kenneth Miller, những khoa học gia theo thuyết có thần thánh (theistic) đồng thời là những người trước tác tài hoa, cả hai đã cùng đập phá bỏ đi cái mà họ cho là sự hòa giải giả tạo – lý thuyết về thiết kế thông minh -để trình bày một giải pháp riêng của mình. Giberson là giáo sư vật lý học tại Trường Cao đẳng Eastern Nazarene, một trường Kitô giáo và đã viết ba cuốn sách về mối căng thẳng giữa khoa học và tôn giáo. Ông là cựu biên tập của báo Science and Spirit, một tạp chí xuất bản bởi Hội Templeton. (Tác phẩm Giải cứu Darwin [Saving Darwin] cũng được tài trợ bởi Hội Templeton). Kenneth Miller, nhà sinh học về tế bào tại Đại học Brown, là một trong những người bảo vệ sôi nổi cho thuyết tiến hóa chống lại chủ thuyết sáng thế. Ông cũng là một tín đồ công giáo thuần thành. Chỉ là một lý thuyết, (Only a Theory) tác phẩm mới của ông, là một cập nhật của cuốn Đi tìm Thượng đế (Finding Darwin’s God) của Darwin. Cả hai cuốn sách này không chỉ mang lại lời phê bình khiến hủy hoại thiết kế thông minh mà còn là sự tìm kiếm Thượng đế trong một quy trình có tính tiến hóa.
 
Cả hai tác phẩm Giải cứu Darwin và Chỉ là một Lý thuyết cùng cung cấp được một tóm tắt có tính khai trí về các tín lý và những sai sót của chủ nghĩa sáng thế hiện đại, cuốn đầu liền quan chính với lịch sử, cuốn thứ nhì với những khẳng định có tính mã ngoài của chủ nghĩa này. Nếu như các tác phẩm này dừng lại ở đó, chúng sẽ đánh lên được tiếng chuông cảnh báo về những mối nguy hiểm đang đối diện với nền văn hóa và khoa học của Hoa Kỳ. Nhưng cuối cùng, các nỗ lực chân thành nhưng quanh co của chúng nhằm tìm kiếm bàn tay Thượng đế trong sự tiến hóa cuối cùng dẫn chúng đến các giải pháp thực rõ ràng có thể khó phân biệt được với cái chủ nghĩa sáng thế mà họ nghiên cứu.
II.
Như nội dung thuật lại từ Giberson, lịch sử của chủ thuyết sáng tạo ở Mỹ tự bản thân đã là một tiến trình tiến hóa được dẫn đạo bởi một hình thái của sự chọn lọc tự nhiên. Sau khi mỗi hình thức kế thừa của chủ nghĩa sáng tạo đã bị đạp đổ bởi các pháp đình vì đã vi phạm Tu chính án thứ nhất, một hình thái cải biến của học thuyết đã xuât hiện, thiếu hụt mất một số nội dung tôn giáo và hóa trang sâu hơn trong trang phục khoa học. Trải qua thời gian, phong trào đã chuyển từ loại sáng tạo luận có tính thánh kinh rõ rệt thành ra “chủ nghĩa sáng thế khoa học”, ở đó, chính các thực tế khoa học đã được trình bày để hỗ trợ các giai thoại tôn giáo như các thoại về Con tàu Noah, chuyện sáng thế Genesis, và rồi chuyển hóa thành ra thiết kế thông minh, hoặc TKTM, là môt học thuyết hoàn toàn lột bỏ lớp vỏ thánh kinh của nó. Không một điều gì như thế này qua mặt được các tòa án. Năm 2005, quan tòa liên bang ở Harrisburg, bang Pennsylavania đã dứt khoát cự tuyệt việc mang học thuyết TKTM giảng dạy trong trường học, mô tả công trình này như một chủ thuyết sáng thế giả trang và đã ô danh những người bênh vực là những kẻ dối trá. (Miller là một nhân chứng quan trọng cho bên công tố, ủng hộ việc bài trừ thuyết TKTM). Nhưng dĩ nhiên là những sự viêc này không giải quyết được vấn đề. Những người theo thuyết sáng thế đã quay lại chống án, kêu gọi được cư xử công bằng và khẩn khoản yêu cầu cho các trường học được “giảng dạy những nội dung đang tranh cãi” – và không cần xét đến việc sự tranh cãi về thuyết tiến hóa không phải là vì khoa học mà chính là từ nguyên nhân chính trị và xã hội.
 
Điều ngạc nhiên trong tất cả việc này chính là nhiều người theo thuyết sáng thế đã trở nên gần với thuyết của Darwin đến thế nào. Những người ủng hộ thuyết TKTM quan trọng như Michael Behe, một giáo sư tại đại học Lehigh (cũng là một nhân chứng cho bên buộc trong vụ án Harrisburg), nhìn nhận là địa cầu có tuổi khoảng vài tỉ năm, và nhìn nhận rằng sự tiến hóa đã thực có xảy ra - một số quy trình là từ sự chọn lựa tự nhiên – và chấp nhận rằng một số sinh loài cùng có chung các tổ tiên. Trong quan điểm của Behe, vai trò của Thượng đế trong sự phát triển sự sống tựa như một Đấng đã thực hiện các Biến đổi, vặn vẹo các DNA khi cần thiết để nhằm cung cấp chất liệu cho sự xuất hiện các biến đổi và các sinh loài mới. Từ trong những ý định ấy của mình, Behe đã chẳng đem lại được gì hơn là chính cái đuôi con trừu của Darwin.
 
Thế nhưng một hình thái khác của thuyết sáng thế vẫn còn lại. Nhiều người theo thuyết TKTM cũng là những “nhà sáng tạo luận trái đất- trẻ”, có quan điểm dựa vào kinh thánh cho rằng trái đất vào khoảng sáu ngàn năm tuổi. (Viện bảo tàng Sáng thế trị giá 27 triệu của nhà rao giảng phúc âm Ken Ham có trưng bày một con khủng long ba sừng mang yên ngựa !). Nhiều người khác tin sự phân phối muôn loài trên hành tinh chúng ta được mô tả từ chuyện Con thuyền Noah. Vẫn còn có những người khác khẳng định rằng dù một số sinh loài do tiến hóa mà thành, nhiều  loài khác vẫn là do Thượng đế tạo nên. Thật dễ hiểu, những người theo thuyết sáng thế thích dấu đi những sự khác biệt này, để ám chỉ một cách lừa dối là chúng liên hợp với nhau một cách triết học.
 
Nhưng bất chấp các quan điểm của họ như thế nào, tất cả những người theo thuyết sáng thế cùng chia xẻ với nhau bốn điểm. Điểm thứ nhất, họ tin tưởng một cách nhiệt thành vào Thượng đế. Không có gì đáng ngạc nhiên ở điều đó trừ những người tin rằng thuyết TKTM có một căn bản thế tục. Điểm thứ hai, họ khẳng định rằng Thượng đế đã can thiệp một cách phi thường vào sự phát triển sự sống, hoặc bằng cách tạo nên mọi sinh loài từ con số không, hoặc là xen vào từng thời kỳ trong một tiến trình khác hơn là kiểu tiến hóa Darwin. Điểm thứ ba, họ đồng ý rằng một trong những can thiệp này đã là sự sáng tạo ra chính con người, vốn không thể tiến hóa nên từ các tiền nhân giống như loài dã nhân. Điều này, dĩ nhiên, phản ánh quan điểm của Judeo-Kitô giáo rằng loài người đã được tạo nên từ hình dạng của Thiên chúa. Điểm thứ tư, họ cùng bám vào một lập luận đặc biệt gọi là “sự phức tạp không thể rút gọn được”. Đây là ý tưởng cho rằng môt số sinh loài, hay một số đặc điểm của một số sinh loài quá phức tạp để có thể tiến hóa được trong phương cách của Darwin, do đó phải là được thiết kế từ Thượng đế. Chẳng hạn như các dạng máu đóng cục trong xương sống, là một chuỗi phức  tạp của các phản ứng enzyme, liên hệ đến hai mươi protein giao tiếp qua lại để tạo nên hạt huyết cuối cùng. Nếu bất kỳ giai đoạn nào thiếu sót, máu huyết sẽ không tụ được. Làm sao mà một số điều tinh vi như thế có thể là do sự tiến hóa một cách mù lòa được ?
 
Dễ dàng, Miller nói thế. Trong một sự triệt phá đến toàn bộ chủ thuyết TKTM, ông dùng những khẳng định “khoa học” của TKTM một cách nghiêm chỉnh để theo chúng đến tận các kết luận phi lý của chúng. Bằng một chứng minh sống động và rõ ràng, Miller cho thấy rằng các con đường dẫn sinh hóa học phức tạp được lát với nhau từ một protein báo trước đã một lần có những chức năng khác nhưng được kết nạp vào cho sự xử dụng mới. Và thuyết TKTM trở thành đơn giản là một lập luận kiểu “thượng đế của các khoảng hở” – là quan điểm mà nếu chúng ta chưa thấu hiểu một hiện tượng thấu đáo, chúng ta nên dơ tay lên hàng, chấm dứt các khảo cứu và ca tụng Thiên Chúa. Đối với các nhà khoa học, đấy là toa thuốc cho chỗ tận cùng của khoa học, cho sự ngu dốt bất diệt.
 
Miller phô bày thuyết TKTM một cách rực rỡ đúng như nội dung của nó: một mớ hổ lốn các quyết đoán mang tính thần học và các khẳng định khoa học thiếu tin tưởng thiết kế để dụ dỗ đem quan điểm tôn giáo về sự sống vào trong các lớp học về sinh học. Dù đã chi ra một số tiền lớn cho các công cuộc giao tế nhân sự, họ vẫn không đưa ra được một chứng từ hòa giải có tính khoa học nào để bảo vệ các khẳng định có tính kinh ngiệm về “lý thuyết” của họ. Miller kết luận chính xác là “giả thiết về thiết kế không tương thích được với bất cứ dữ liệu có thể hiễu đuợc nào, không có được các dự báo có thể kiểm chứng, và không đưa ra được phương hướng mới nào cho việc khảo cứu”. Một trong những thấu hiểu sâu sắc nhất của Miller là thuyết TKTM không những quan hệ đến thiết kế mà còn dính líu đến sự sáng tạo có tinh siêu nhiên. Sau cùng, người thết kế phải làm việc nhều hơn là việc chỉ hình dung ra các sinh loài mới; ngài còn phải xếp đặt chúng vào trái đất nữa. Và nếu đấy không phải là chủ thuyết sáng thế (một nhãn hiệu mà những người theo TKTM lớn tiếng chối từ), tôi thật không biết đấy là cái gì.
 
Ðối với Giberson, thuyết TKTM không phải chỉ là một khoa học dở (hay nói cho cứng rắn hơn, một khoa học hoàn toàn không phải là khoa học), nó còn là một lý thuyết tồi :
 
Thế gian là một nơi chốn phức tạp và có nhiều điều về thế gian mà chúng ta vẫn chưa thể hiểu được. Chúng ta còn phải mất nhiều thế kỷ nữa để có thể lấp đi những khoảng trống trong các hiểu biết khoa học của chúng ta về thế gian…Nhưng đó là công việc của khoa học, và trung tâm trực giác của thần học từ lâu đã từng là nơi để truy tìm Thượng đế… Cổ võ thuyết “thiết kế” bằng sự cô lập khỏi những thuộc tính khác của Thượng đế là nguy hiểm và là một cách cuối cùng chỉ tự chuốc lấy thất bại để đem Thượng đế trở lại với khoa học.
 
Do vậy, thay vì hòa giải khoa học và tôn giáo, thuyết TKTM đã đặt tôn giáo và khoa học vào các mâu thuẫn trầm trọng hơn và làm tổn thương đến cả hai trong tiến trình ấy. Ðo là lý do vì sao nhiều nhà thần học cũng như nhà khoa học đã chống lại thuyết TKTM tại tòa án.
Nếu thuyết TKTM là một khoa học thất bại cùng cực, tại sao nhiều người vẫn tiếp tục gây áp lực để áp dụng vào trường học ? Câu trả lời rõ ràng là vì thuyết TKTM duy trì được trạng thái của chúng ta là một sinh loài được ưa thích của Thượng đế và có lẽ thấm đậm được vũ trụ với một mục đích và ý nghĩa trong khi sinh học tiến hóa không làm được cả hai điều ấy. Nói một cách khác, thuyết TKTM, cũng như các hình thái khác của chủ thuyết sáng thế là một sự nối dài của tôn giáo. Ðiều này được nhận biết bởi tất cả các quan tòa vốn đã phán quết về vấn đề này từ phiên tòa ở Scopes năm 1925. Dù thế, lạ lùng thay, Giberson và Miller đã tránh né vấn đề này khi truy cập về căn nguyên của thuyết sáng thế. Thay vì tách riêng tôn giáo ra, họ lại chê trách hai phong trào thế tục là chủ nghĩa vô thần và dân tuý.
 
Ðối với Miller, một vết nhơ quái dị của Mỹ về chủ nghĩa cá nhân thô lỗ và một căn cứ không đáng tin cậy đã có những ảnh hưởng mâu thuẫn. Lần đầu tiên nó sản xuất ra được tính ưu việt khoa học của Mỹ. Như Miller chú giải rằng trong ba thập niên vừa qua, người Mỹ đã dành được khoảng 60 phần trăm của tất cả các giải Nobel về khoa học.
 
Có một điều gì trong tính cách của người Mỹ khiến có thể sản sinh được những hạt giống của xung khắc này [tiến hóa chống lại với sáng thế luận) và mang lại mảnh đất màu mỡ cho các hạt giống ấy nẩy nở ? Tôi nghĩ rằng có, và tôi không hề xấu hổ vì điều ấy. Mà thực ra, tôi còn thẳng thắn hãnh diện về điều ấy… Vì Mỹ là một quốc gia khoa học vĩ đại nhất trên thế giới…Sự thiếu tôn trọng- chính lđó à cái chìa khóa. Là nguyên nhân vì sao đất nước chúng ta đã hết lòng đi theo khoa học, và tại sao nước Mỹ đã phục vụ như một ngọn hải đăng cho các nhà khoa học trên khắp thế giới. Một sự thiếu tôn trọng lành mạnh đối với quyền lực là một phần của tính cách Mỹ, nó sẽ thẩm thấu vào các tổ chức của chúng ta, kể cả những tổ chức khoa học. Các khoa học gia trên đất nước này, dù là người Mỹ sinh đẻ ra hay từ sự  lựa chọn xứ sở này, đã từng được mơ ước về những khám phá có tính cách mạng, và những giấc mơ đã thành hiện thực khá nhiều ở đất nước này hơn là những nơi chốn khác.
Nhưng đây là một con dao hai lưỡi.
 
Nếu sự nổi loạn và sự thiếu tôn trọng quả là một phần của tài năng Mỹ cho khoa học, thì các phong trào chống lại -sự tiến hóa của chúng ta làm nên từ điều gì ? Một phần của sự phân tích thì rõ ràng. Sự tự nguyện bác bỏ những người có thẩm quyền uy tín của người Mỹ đã đóng một vai trò chính yếu trong phương cách mà những nhà hoạt động xã hội địa phương từng xoay sở để đẩy những tư tưởng như chủ nghĩa sáng thế khoa học và thuyết thiết kế thông minh vào các trường học địa phương.
Giberson đồng ý :
Người Mỹ chưa bao giờ tha thiết hoặc sẵn lòng để được dẫn dắt bởi giới trí thức ưu tú. Một lập luận đơn giản có tính kiến thức phổ thông từ một kẻ nào mình tin sẽ có giá trị hơn các công bố long trọng của cả một trường đại học của các trí thức không thực tế. Mỹ là một đất nước thích cao bồi, và các chàng cao bồi không cần đến những nhà chuyên môn bảo mình phải suy nghĩ cái gì.
Phải chăng chúng ta có được một tập thể lãnh đạo về khoa học của chúng ta nhờ vào vị tâm phúc John Waynes của chúng ta ? Chắc chắn là còn những thứ khác nữa – và đều có tính cách Mỹ như nhau – các nhân tố: Tiền bạc và sự tự do không bị bách hại tôn giáo. Cộng đồng khoa học của chúng ta đã được đông đảo lên rất nhiều nhờ những nguời di dân gần đây đặc biệt là những người Do Thái trốn khỏi Ðức quốc Xã. Quan trọng hơn nữa là sau đệ nhị thế chiến chính phủ chúng ta bắt đầu tài trợ các khảo cứu khoa học ở mức độ mãnh liệt, phần lớn ngân khoản tài trợ ấy thu hút đông đảo những học giả ngoại quốc. Và ngay cả dù trước đây chúng ta đã tạo ảnh huởng lớn lên các giải Nobel, những năm mới đây chúng ta đã hoàn toàn bị lu mờ bởi các nước Âu châu. Thí dụ như mãi đến năm 1930, nước Mỹ chỉ dành được bốn giải Nobel cho tất cả các ngành khoa học, trong khi hai mươi chín giải về tay Ðức quốc và mười lăm giải về tay Anh quốc. Người Anh và người Ðức khó mà có thể bị quy kết về việc “thiếu tôn trọng chính quyền” !
Sự kháng cự lại thuyết tiến hóa ở Mỹ không có liên quan gì đến chủ nghĩa dân túy. Những người nhà quê xấu tính của chúng ta không hề nổi dậy chống lại cái ý tưởng về những lỗ đen hay về việc chứng minh định lý Ferma. Chỉ có thuyết tiến hóa là đối tượng độc đáo của cơn giận dữ, và điều này chỉ có một cách giải thích. Các yếu tố là như thế này : ta có thể tìm thấy tôn giáo không cần đến thuyết sáng thế, nhưng ta sẽ không bao giờ có thuyết sáng thế mà không có tôn giáo. Miller và Giberson đã xấu hổ với nhận xét đơn giản này. Sự giả ngơ của họ về nguồn thực của thuyết sáng thế không thể tha thứ nhưng có thể hiểu được: một cuốn sách nhắm đến hòa giải tôn giáo với thuyết tiến hóa thật khó mà không chê trách đến những kẻ ngoan đạo.
Nhưng dường như là chê trách người không có đạo thì lại chấp nhận được. Ðối với Giberson và Miller, những kẻ gây hấn trong cuộc “chiến tranh khoa học” là những kẻ vô thần.  Họ đoan chắc rằng các sách vở của “những người vô thần mới” đã châm lửa vào những người ôn hòa tôn giáo, đẩy họ vào vị trí của những người theo sáng thế luận, những người lẽ ra có cảm tinh với thuyết tiến hóa. Trong tác phẩm Ði tìm Thượng đế của Darwin, Miller giải thích rằng “Tôi tin là phần lớn khó khăn nằm về phía người vô thần trong cộng đồng khoa học, những người đã thường xuyên tranh thủ được các tài liệu sinh vật học chứng minh được sự tiến hóa để hỗ trợ [sic] cho các công bố triết học của mình.” Và Giberson đã tiếp lời :
 
Các chỉ trích về chủ nghĩa sáng thế thường thô lỗ, tùy tiện và có vẻ như có chương trình kế hoạch vốn vượt quá những sự thật của các khẳng định khác nhau về lịch sử tự nhiên của trái đất…Những chỉ trích nổi tiếng này đã thất bại không hiểu được rằng những người theo thuyết sáng thế cũng là những tín đồ Kitô giáo thuần thành, nhiều người trong họ rộng lượng, biết điều và có động cơ từ những mục tiêu chân thành nhất. Những người Kitô giáo có suy nghĩ cảm thấy một điều gì bất chính trong tinh thần đánh võ nhỏ nhen theo sau cái lẽ ra nên là một cuộc cãi nhau thông thường về khoa học.
 
Do đó, trở ngại của hiểu biết không phải là tôn giáo, mà là vì những người tiến-hóa-vô- thần không chịu im mồm. Nhưng hãy nghĩ đến điều này: đó là Richard Dawkins người mà hơn tất cả những kẻ khác, đã thuyết phục mọi người về thực tại và sức mạnh của tiến hóa. Ðó là đỉnh cao của suy tưởng khát vọng nhằm khẳng định rằng nếu ông ta và các bạn đồng nghiệp trí thức của ông chỉ cần đơn giản ngừng tấn công thì chủ nghia sáng thế sẽ biến mất.  
 
Giberson đánh đồng một chỉ trích chung khác vào các nhà sinh vật học tiến hóa. Nhiều người trong chúng ta, ông khẳng định, nhìn nền khoa học của chúng ta như một tôn giáo, môt lối sùng bái Darwin với mục đích muốn giải thích mọi thứ, kể cả ý nghĩa, mục tiêu, đạo lý và chính bản thân tôn giáo: “Ý tưởng cho rằng khoa học nên là một tôn giáo của chính minh tuôn chảy như một kho dự trữ ngầm dưới mặt đất xuyên qua các dòng trước tác của những phổ biến này, chảy róc rách dưới bề mặt của nó và sủi bọt ra những quan điểm mỗi khi cuộc thảo luận đi đến những câu bây giờ-ở đây-tất cả-cái gì-nghĩa là”. Vâng,một số nhà khoa học (và những người viết sách về khoa học) đã đi đến chỗ cực đoan với tâm lý học tiến hóa, cho rằng chủ thuyết Darwin có thể giải thích mọi khía cạnh của hành vi nhân loại. Nhưng không có nhà khoa học nghiêm chỉnh nào muốn tiến hóa trở thành một thứ như tôn giáo, hay thậm chí một nguồn giá trị hay đạo lý. Ðiều đó có nghĩa là chúng ta từ bỏ công cụ chính để hiểu biết được về thiên nhiên của mình: giải pháp của các khẳng định theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa khẳng định các dữ liệu về kinh nghiệm chủ nghĩa. Chúng ta không hề có “đức tin” vào chủ thuyết Darwin trong cùng phương cách mà những kẻ khác có đức tin vào Thiên chúa, chúng ta cũng không nhìn Darwin như một thẩm quyền không thể bắt bẻ như Ðức giáo hoàng Benedict XVI hay ngài Ayatollah Khamenei. Thực thế, kể từ năm 1859 một số không ít các ý tưởng của tiến hóa đã bi bác bỏ. Giống như tất cả các ngành khoa học, thuyết tiến hóa khác với tôn giáo bởi vì nó không ngừng kiểm tra các giả thiết của mình, và loại bỏ đi những gì có thể chứng minh được là sai lầm.
 
III.
Trong tác phẩm Ði tìm Thượng đế của Darwin, Miller công bố một thần thuyết phổ quát “Hãy nhớ, thêm một lần nữa, rằng những người có đức tin tin rằng Thiên chúa của mình đang hoạt động trong thế giới hiện tại từ công trình hòa hợp giữa vật lý học, hóa học với chủ nghĩa thiên nhiên của ngài”  Giberson cũng đồng ý rõ ràng.  Vậy thì họ đã tìm thấy cánh tay của Thiên chúa ở đâu ? Thật không ngạc nhiên chút nào: họ đã tìm được từ diện mạo của nhân loại.
 
Giberson and Miller quả quyết các tiến hóa của nhân loại, hoặc những gì rất giống như thế  là không thể tránh khỏi, họ khẳng định, chắc cái vương quốc của muôn loài cuối cùng sẽ tiến hóa đến những loài có ý thức, rất thông minh, có năng lực am hiểu và thờ phượng đấng tạo ra mình. Những sinh loài này không cần thiết phải có hình dạng giống hệt như con người, nhưng chúng phải có cái trí lực tinh tế của chúng ta (gọi tên là “vượn nhân hình” [humanoid]). Một trong các chương sách của Miller thậm chi còn có tựa là “Thế gian Ðã biết rằng Chúng ta sẽ đến”. Giberson chú giải rằng “các năng lực như thị giác và trí thông minh có giá trị cho các sinh vật đến mức các nhà sinh vật học tin rằng có lẽ các năng lực ấy đã nảy sinh trong bất cứ tiến trinh tiến hóa bình thường nào …Vậy làm thế nào mà sự tiến hóa có thể hoàn toàn là sự bất kỳ, nếu như một số điểm phức tạp cuối có thể tiên đoán đuợc ?”
 
Khi đọc những luận điểm này, nhiều nhà sinh vật học phải băn khoăn làm sao mà ông ta có thể đoan chắc như thế. Xét cho cùng, tiến hóa là một quy trình liền lạc. Phương cách mà chọn lọc tự nhiên định dạng một sinh loài tùy thuộc vào các thay đổi không đoán trước được của khí hậu, các biến động vật lý bất kỳ như hiện tượng sao băng, núi lửa phun, sự nảy sinh của các biến đổi hiếm hoi và bất kỳ, và còn tuỳ thuộc vào việc sinh loài nào may mắn sống sót được qua những cơn hủy diệt lớn lao. Chẳng hạn, nếu sáu mươi lăm triệu năm trước, một thiên thể lớn không đụng vào quả địa cầu, khiến loài khủng long bị tuyệt chủng – cùng sự xuất hiện của các loài động vật có vú vốn chiếm ưu thế trước đó – thì tất cả các loài có vú chắc vẫn còn là những loài sâu bọ nhỏ bé, ăn giun dế vào khi chạng vạng tối.
 
Những người theo thuyết tiến hóa từ lâu đã từ bỏ loại nhận định là sẽ có một cuộc tiến hóa không tránh khỏi đến một kết quả phức tạp hơn. Một hành trình đi đến cao điểm ở con người. Đúng vậy, tính phức tạp trung bình của tất cả các sinh loài đã được tăng trưởng qua cuộc tiến hóa của ba tỉ rưỡi năm, nhưng đó là bởi vì sự sống đã khởi đi từ một phân tử tái tạo đơn giản, và chỉ có phương cách duy nhất để phát triển từ đấy là phải trở nên phức tạp hơn. Nhưng hiện nay, tính phức tạp không phải lúc nào cũng là một đặc ân của lựa chọn tự nhiên. Chẳng hạn như, nếu bạn là một loài ăn bám, chọn lọc tự nhiên có thể tạo ra bạn ít phức tạp, bởi vì bạn có thể sống dựa vào các nỗ lực của những sinh loài khác. Con sán sơ mít tiến hoá từ những con giun sống tự do và trong quy trình tiến hóa chúng đã bị mất đi hệ thống tiêu hóa, thần kinh và hầu hết các cơ phận tái sản xuất của chúng. Như tôi nói với các sinh viên của mình, chúng đã trở nên đúng là những cái túi hấp dẫn các tuyến sinh dục, như chính các sinh viên vậy. Thế nhưng loài sán sơ mít thích ứng một cách tuyệt vời với lối sống ký sinh ấy. Thậm chí chúng không cần phải trở nên khôn ngoan hơn nữa. Tôi có nuôi một con chồn hôi trong vài năm, một con vật đáng yêu nhưng ngu đần. Khi tôi nhận xét như thế với vị y sĩ thú y của tôi, ông ta đã đưa tôi về lại đúng vị trí của mình :” Ông bảo nó ngu à ? Không đâu, nó hoàn toàn thích nghi với cái kiếp làm chồn của nó”. Trí khôn phải trả cái giá của nó: phải sản xuất thêm và mang nặng thêm các công việc về não bộ, và phải tăng cường các chuyển hóa dinh dưỡng để hỗ trợ thêm. Rồi đôi khi những chi phí này vượt quá giới hạn của bô gien di truyền. Một con chồn thông minh hơn có thể không còn đúng là con chồn nữa.
 
Để hỗ trợ tính không tránh khỏi của con người, Giberson và Miller viện dẫn đến khái niệm hội tụ tiến hóa. Khái niệm này đơn giản : các sinh loài thường thích ứng với các môi trường quen thuộc từ những đặc tính tiến hóa tương tự một các độc lập. Con ngư long (một giống bò sát dưới nước thời cổ đại) cá heo, và loài cá tất cả đều tiến hóa độc lập dưới nước, và thông qua sự chọn lựa tự nhiên cả ba loài này đều cần đến các vảy và hình dạng thuôn dài. Những “đôi mắt tựa như cái máy quay phim” đã tiến hoá từ cả loài mực ống và các loài động vật có xương sống. Các động vật ở bắc cực như loài gấu bắc cực, thỏ bắc cực và loài cú tuyết hoặc màu trắng hoặc trở nên màu trắng trong mùa đông để tự dấu mình khỏi các loài thú ăn thịt sống rình mồi. Có lẽ thí dụ đáng ngạc nhiên nhất của tính hội tụ là sự tương đồng giữa một số sinh vật thuộc loại động vật có vú và mang túi ở Úc châu và những loài không liên hệ có vú và túi nhau nhau sống ở một nơi nào khác. Loài cáo bay có túi có cử chỉ và hình dạng giống như loài sóc bay ở Tân thế giới. Loài chuột chũi có túi, với cặp mắt biến đổi và móng vuốt lớn là những con vật hảo hạng cho các loài chuột chũi có túi thai của chúng ta. Trước khi bị tuyệt giống vào năm 1936, loài sói có túi đặc biệt, hoặc con chó sói Tasmanian, nhìn giống như loài sói mang túi nhau.
 
Tính hội tụ cho ta biết được những điều sâu sắc hơn về sự tiến hóa. Chắc phải có những “không gian thích hợp” có trước, hoặc những phương thức của sự sống, khiến đánh thức được những thay đồi tiến hóa tương tự trong những sinh loài không có liên quan để thích ứng với tình trạng như thế. Nghĩa là, khởi đi từ những thủy tổ khác nhau và được nuôi lớn bởi những đột biến khác nhau, dù sao, sự chọn lựa tự nhiên có thể định dạng cơ thể vào những hình dạng rất giống nhau – miễn là những thay đổi ấy cải thiện sự tồn tại và sự sinh sản. Có những khỏng thích hợp trong đại dương để cho loài cá ăn thịt những con vật có vú và bò sát, do đó loài cá heo và loài ngư long trở nên có mình thuôn dài. Các động vật trong vùng bắc cực cải thiện sự tồn tại của chúng bằng cách trở nên màu trắng vào mùa đông. Và chắc chắn có một không gian thích hợp cho những loài có vú ăn tạp nhỏ bé trườn mình từ cây này sang cây khác. Tính hội tụ là một trong những đặc tính rất đáng chú ý của sự tiến hóa, và nó cũng phổ biến: có hàng trăm trường hợp hội tụ như vậy.
 
Từ đấy, tất cả những điều cần đến để chứng minh cho tính không tránh khỏi của nhân dạng là khẳng định rằng có một loại “không gian cho nhân dạng” (humanoid niche) - một phương cách của sự sống vốn cần đến sự tự biết về bản ngã tinh tế và ở mức thông minh cao- và rằng cái không gian này đã tồn tại trong tình trạng trống không cho đến khi bị xâm chiếm không tránh khỏi bởi các thủy tổ của con người. Thế nhưng, sự xâm chiếm này có thể thực sự không tránh khỏi được không ? Miller tin tưởng rằng có thể không tránh khỏi được :
 
Nhưng khi sự sống tái khám phá ra không gian thích nghi, chúng ta đã có thể nào chắc chắn được là khoảng không gian của chúng ta không bị chiếm giữ mất ? Tôi sẽ lập luận rằng chúng ta hầu như chắc chắn rằng nó sẽ không bị mất - rằng sự tiến hoá cuối cùng sẽ sản sinh ra một sinh loài có suy nghĩ, tự ý thức và thông minh, được phú cho một hệ thống thần kinh đủ lớn để trả lời được chính những câu hỏi tương tự mà chúng ta có, và có năng lực khám phá chính cái quy trình đã sản suất ra mình, quy trình tiến hóa…Tất cả những gì chúng ta hiểu biết về tiến hóa cho thấy sớm muộn gì cũng sẽ đến với cái khoảng không gian ấy.
 
Miller và Giberson buộc phải quan niệm như thế vì một nguyên nhân đơn giản. Nếu ta không thể nào chứng minh được sự không thể tránh khỏi của tính nhân dạng ấy, thì công trình hòa giải giữa tiến hóa và Kitô giáo sẽ phải xụp đổ. Bởi vì nếu chúng ta chính là đối tượng đặc biệt của công trình sáng tạo ra Thiên chúa, chúng ta sẽ không có cơ hội tiến hóa nữa. (Dủ giáo hội Công giáo có chấp nhận hầu hết chủ thuyết Darwin, chắc cũng sẽ không thích hợp lắm để mà tạo ra một ngoại lệ cho sự tiến hóa của loài người thông minh (homo sapiens), loài có linh hồn được dạy rằng nình vốn là một sáng tạo của Thiên chúa được cài đặt vào dòng dõi con người ở một thời điểm nào đó).
 
Vấn đề ở chỗ là hầu hết các nhà khoa học đều không chấp nhận sự cả tin của Miller. Bởi vì tiến hóa không phải là một chứng nghiệm lập lại. Chúng ta không thể chạy đi chạy lại cuốn băng sự sống để xem có phải tình trạng ý thức cao cấp luôn luôn xuất hiện ra hay không. Thực ra, có những nguyên nhân hợp lý để nghĩ rằng sự tiến hóa của nhân dạng không chỉ không thể tránh khỏi, mà còn là một sự không chắc có tính tiên nghiệm. Mặc dù tính hội tụ là những đặc tính đáng chú ý của tiến hóa nhưng tối thiểu cũng có những sự hội tụ bị thất bại. Những thất bại này kém ấn tượng hơn, bởi vì nó liên quan đến những sinh loài đã bị tiêu diệt. Hãy thử suy nghĩ về châu Úc một lần nữa. Nhiều loại động vật có vú đã tiến hóa được ở đâu đó không hề giống với những loài động vật có túi. Không hề có con vật có vú nào tương ứng với con dơi (là một con vật thuộc loài có vú bay được), hay với những con hươu cao cổ và con voi (loại các động vật có vú lớn có cổ hoặc mũi dài để có thể lùng sục trên những cành cây). Điều gây ấn tượng nhất là, châu Úc tiến hóa không có đối tác với loài linh trưởng, hay đối với những loài có trí khôn gần với loài linh trưởng. Thực ra, châu Úc có nhiều khoảng không gian chưa bị lấp đầy do đó có nhiều hội tụ chưa hoàn thiện kể cá cái khoảnhg không “nhân dạng” đáng giá ấy. Nếu trí khôn cao cấp đúng là một kết quả tiên đoán được của sự tiến hóa, tại sao đã không tiến hóa như thế ở châu Úc ? tại sao chỉ tiến hóa đúng một lần ở châu Phi mà thôi ?
 
Những sự việc này dẫn đến một câu hỏi khác. Chúng ta nhận thức được tính hội tụ từ những sinh loài không có liên quan cùng tiến hóa những đặc điểm tương đồng. Nói môt cách khác, những đặc điểm đã xuất hiện trong hơn một sinh loài. Nhưng sự tinh tế, tính thông minh tự ý thức được bản ngã là một thể riêng biệt: nó chỉ tiến hóa một lần duy nhất từ thủy tổ của con người. (Loài bạch tuộc và cá heo cũng thông minh nhưng chúng không có những thứ suy nghĩ về cội nguồn của chúng). Ngược lại, những đôi mắt đã từng tiến hóa một cách độc lập đến bốn mươi lần, và các động vật màu trắng ở bắc cực xuất hiện đôi ba lần. Khó có thể mang lại một trường hợp thuyết phục về sự tiến hóa không thể tránh khỏi của các đặc điểm chỉ từng xuất hiện một lần duy nhất. Cái vòi của con voi, một sự thích nghi tinh tế và phức tạp (có hơn bốn mươi ngàn cơ bắp !) cũng là một tiến hoá độc nhất. Do đó chúng ta không hề nghe thấy các nhà khoa học tranh cãi rằng sự tiến hóa có thể lấp đầy một cách không tránh khỏi cái “không gian voi” (elephant niche). Giberson và Miller công bố sự không tránh khỏi của nhân dạng chỉ vì một nguyên nhân duy nhất : vì Kitô giáo cần như thế.
 
Cuối cùng, rõ ràng sự tiến hoá của trí thông minh con người là một sự kiện hội tụ : hội tụ về những khô héo của rừng rậm Phi châu và sự phát triển của những cánh đồng cỏ, khiến loài vượn rời bỏ rừng xanh để đi trên hai chân mình. Thực ra, để xác nhận rằng sự tiến hoá của con người là điều không tránh khỏi, và từ đó quay nhìn lại hàng tá những dạng tiền nhân, tất cả sự xuất hiện của những dạng tiền nhân đó phải được xem là không thể tránh khỏi. Điều này mang lại việc đi trở ngược về sự tăng cường khả năng không thể xảy ra. Cuối cùng, câu hỏi phải chăng các sinh vật tương tự như con người là không thế tránh khỏi có thể trả lời được bằng cách thú nhận là chúng ta không biết - rồi thêm vào sự kiện rằng hầu hết các minh chứng khoa học đã cho thấy là chúng không thể. Bất cứ trả lời nào khác sẽ chỉ liên quan đến loại suy nghĩ của ước ao hoặc của thần học.
 
Miller chọn thần học. Mặc dù tác phẩm mới của ông không hề nói về việc làm sao mà Thượng đế bảo đảm được sự xuất hiện của Loài người thông minh mà  Miller đã trình bày rõ ràng hơn trong Đi tìm Thượng đế của Drawin. Ở đó ông trình bày rằng chính cái bất định của cơ học quán tính cho phép Thượng đế can thiệp được vào các giai đoạn của nguyên tử, ảnh hưởng đến các hậu quả trong một giới hạn lớn hơn :
 
Bản chất bất biến của các hậu quả quán tính sẽ cho phép một Thượng đế phi thường và huyền ảo tạo nên các biến động ảnh hưởng trong một phương cách sâu sắc và không thể phát hiện được bằng khoa học đối với chúng ta. Những biến động đó có thể bao gồm sự xuất hiện của những đột biến, sự kích hoạt các dây thần kinh riêng rẽ trong não bộ thậm chí đến sự sống còn của những tế bào riêng biệt và các cơ phận bị ảnh hưởng từ cơ hội xử lý của phân hủy phóng xạ.
 
Nói một cách khác, Thượng đế là Đấng chuyển dịch các Nguyên tử, duy trì sự tấn công có chủ định của người vào tự nhiên quá tinh xảo đến mức vô hình. Đó cái thất bại mà Miller, người đã đạt tới được những lập luận sự tinh khôn khoa học nhất nhằm chống lại sự phức tạp không thể giảm nhẹ được, cuối cùng đạt đến trong sự rình rập công trình biên soạn DNA tinh tế của Thượng đế . Lập luận này thực ra tương tự như lập luận của Michaek Behe, người bênh vực cho thuyết TKTM chống lại những minh chứng của Miller trong phiên tòa ở Harrisburg. Đó là một loại lập luận khác của Thượng đế-của-các-khoảng-hở, chỉ khác một điều là các khoảng hở lần này nhỏ xíu.
 
Miller đưa ra một lập luận khác vốn cũng được xử dụng bởi những người theo thuyết sáng thế và thuyết hữu thần như một bằng chứng của thiết kế vũ trụ: cái gọi là “sự hòa hợp tinh vi của vũ trụ”. Kết quả là sự hiện hữu của vũ trụ khiến mang lại sự sống như chúng ta biết lệ thuộc nặng nề vào kích cở của một số bất biến trong các nguyên tắc vật lý. Thí dụ như, nếu tích điện của nguyên tử chỉ cần khác đi một chút, hay sự khác biệt khối lượng giữa một pronton và một neutron chỉ cần lớn hơn một chút, thì vũ trụ sẽ khác hẳn như thế này. Các tinh tú sẽ không tồn tại đủ để sự sống được hội tụ và tiến hóa, cũng sẽ không có thái dương hệ, vũ trụ sẽ khiếm khuyết những nguyên tố và và những tính chất hoá học cần đến để cấu thành các cơ phận sống. Nói mọi cách khác, chúng ta sống trong cái gọi là “Vũ trụ chìa khóa vàng” (Goldilocks universe) nơi mà các quy luật thiên nhiên vừa đúng để sự sống được tiến hoá và phát triển. Lối nhận xét được gọi là “nguyên tắc con người” (the anthropic principle)
 
Mới thoạt nhìn, lời giải thích của nó có vẻ không đáng kể. Như Miller trình bày, “Lấy sự  nhận biết rằng tôi và quý vị đang còn sống, tối thiểu là ngay tại thời khắc này  làm khởi điểm, hiển nhiên là chúng ta phải sống trong một vũ trụ khả thi cho sự sống. Nếu không như thế, hẳn chúng ta sẽ không có ở đây để mà bàn luận về vũ trụ. Do vậy, trong một ý nghĩa nào đấy, sự kiện mà chúng ta sống được trong những ưu điểm của một vũ trụ sống thân thiện chỉ giá trị như một sự “đần độn” lớn lao. Đúng. Nhưng điều này mang đến một vấn nạn sâu hơn: tại sao các bất biến của vũ trụ lại chỉ chỉ xảy đến với những giá trị thúc đẩy sự sống như thế ? Câu trả lời từ các nhà sáng tạo luận là sự ấy không phải là ngẫu nhiên : Một Thượng đế Nhân từ (hay một nhà thiết kế thông minh) nhào nặn ra các định luật vật lý ấy chính xác để một sự sống thông minh có thễ tiến hóa ra được trong vũ trụ - sự sống quá thông minh đến mức đã tìm ra các định luật vật lý và quan trọng hơn cả chính là hiểu được đấng sáng tạo ra mình. Câu trả lời này- được biết đến như một nguyên tắc con người vững chắc – là một sự thể không thể chứng nghiệm được bằng khoa học, nhưng nguyên tắc này có vẻ hợp lý đến mức đã trở thành một trong những khẩu súng to nhất trong kho vũ khí của những người theo thuyết tạo dựng. (Điều quan trọng là phải nắm lấy các nguyên tắc con người liên quan đến các điều kiện cần đến cho sự hiện hữu của bất cứ sự sống nào, đừng nói gì về sự không tránh khỏi của sự sống phức tạp và thông minh.)
 
Các nhà khoa học cũng có những câu trả lời khác, căn cứ vào lý lẽ hơn là đức tin. Có lẽ một ngày nào đó, khi chúng ta có một “lý thuyết cho mọi thứ” có thể liên kết được tất cả các lực vật lý, chúng ta sẽ thấy lý thuyết này sẽ cần vũ trụ của chúng ta phải có các bất biến vật lý mà chúng ta đã nhận ra. Như một lựa chọn, có những lý thuyết “đa tầng” (multiverse) hấp dẫn mang lại sự xuất hiện của nhiều vũ trụ, mỗi vụ trụ có các định luật vật lý khác nhau, và chúng ta chỉ có thể tiến hóa trong vũ trụ nào mà các định luật cho phép được sự sống. Nhà vật lý học Lee Smolin đã đề nghị ra một phiên bản quyến rũ về một lý thuyết đa tầng. Vẽ một đường song song với các lựa chọn tự nhiên giữa các cơ phận sống, Smolin đề nghị là các bất biến vật lý khác biệt với những bất biến của các tổ tiên chúng. (Điều này tương tự với sự biến đổi trong tiến hóa sinh vật học.) Và các vũ trụ với các bất biến vật lý gần với những vũ trụ chúng ta biết ngày nay vốn sản xuất ra nhiều lỗ đen hơn, lại trở nên sản sinh ra nhiều vũ trụ. (Điều này phản ánh sự lựa chọn tự nhiên). Quy trình này cuối cùng đem lại một quần thể các vũ trụ được phong phú lên trong những vũ trụ có được những đặc tính đúng để sản sinh ra các vì sao (nguồn của các lỗ đen), các hành tinh và sự sống. Lý thuyết của Smolin gợi lên rất nhiều tỷ lệ cho phép sự sống có thể xảy ra được.
 
Ý tưởng về một vũ trụ đa tầng (multiple universe) có lẽ giống như là một chuyển biến tuyệt vọng - một loại ca ngợi Mẹ Maria thải ra bởi những nhà vật lý từng bị cự tuyệt bởi các giải thích theo lối tôn giáo. Nhưng các ngành vật lý đầy những ý tưởng vốn đối nghịch với trực giác, và các lý thuyết về vũ trụ đa tầng tự nhiên thành ra các ý niệm vững chắc của vật lý. Chúng tiêu biểu cho các nỗ lực của vật lý để mang lại các giải thích căn cứ vào tự nhiên về những gì mà người khác nhận thấy như một chứng cứ của thiết kế. Đối với nhiều nhà khoa học, đa tầng có lẽ hợp lý hơn là cái giả định thuộc duy ngã luận rằng vũ trụ của chúng ta với 10.000.000.000.000.000 hành tinh đã được tạo dựng nên để một sinh loài đơn lẻ của loài động vật có vú có thể tiến hóa trên một trong những hành tinh ấy mười bốn triệu năm sau.
 
Và dù Miller có vẻ ưa chuộng lối giải thích kiểu thần học, hoặc tối thiểu đã cho cái nguyên lý con người một cú xoáy thần học :
 
Hiểu biết khoa học rằng chính sự hiện hữu của chúng ta, thông qua tiến hoá, cần đến một vũ trụ của đúng cái kích cỡ, tỉ lệ và độ tuổi mà chúng ta đang nhìn thấy chung quanh ám chỉ rằng, vũ trụ, trong một số ý nghĩa, đã có chính chúng ta ngay tự khởi điểm…Nếu như vũ trụ này thực là vũ trụ chính yếu của sự sống, thì thật công bằng để mà bảo rằng, từ quan điểm của một người hữu thần, mỗi chúng ta là một kết quả từ ý định của Thượng đế, bất chấp đến hiện hữu của quy trình tự nhiên nào đã đem chúng ta vào đời sống.
 
Miller cân bằng đức tin của những người tin đạo với “đức tin” vật lý trong một giải thích có tính tự nhiên cho các quy luật vật lý :
 
Những người tin đạo … là hợp đạo để nhắc nhưng kẻ đa nghi và những người theo thuyết bất khả tri rằng một trong những cách giải thích đưọc ưa chuộng của họ trạng thái hiện hữu của chúng ta liên quan đến một nguyên tố của trí tưởng tượng man dại như thể những truyện kể trong các kinh sách thiêng liêng: ấy là, sự hiện hữu của vô số không đếm được các vũ trụ cùng lúc song song với nhau với những vật thể chúng ta không bao giờ có thể liên lạc và không thể kiểm tra đến sự hiện hữu của chúng. Niềm tin như thế cũng đòi hỏi một mức độ “đức tin” rất khác thường và những người không có tôn giáo cũng khôn ngoan thú nhận như thế.
 
Vậy mà, các nhà vật lý vẫn chưa sẵn sàng để thú nhận như thế. Ngược với các khẳng định của Miller, sự hiện hữu của các vũ trụ không đòi hỏi đến một cú nhảy đức tin to rộng như sự hình dung ra Thượng đế. Và một số giải thích khoa học của yếu tố con người có thể thử nghiệm được. Thực thế, một số tiên đoán trong lý thuyết của Smolin đã được xác định, tăng thêm uy tín cho lý thuyết này. Có thể là sự sai lầm, nhưng hãy chờ một thập niên nữa chúng ta sẽ biết thêm rất nhiều về yếu tố con người. Trong lúc này, sẽ chỉ là sự sai lầm để khẳng định việc đề nghị một giả thuyết có tính khoa học, có thể thử nghiệm được – không phải “niềm tin” – là tương đương với đức tin tôn giáo.
 
IV.
Phương cách phổ biến nhất để hài hòa hợp giữa tôn giáo và khoa học là xác định rằng chúng khác nhau nhưng bổ sung lẫn nhau các phương cách để am hiểu thế giới. Nghĩa là, tôn giáo và khoa học mang lại những “chân lý” khác nhau mà, nếu xử dụng chung, sẽ trả lời được mọi câu hỏi về chính chúng ta và vũ trụ. Giberson giải thích :
 
Tôi lo ngại rằng tiến trình khoa học đã mê mẩn chúng ta vào lối suy nghĩ rằng không có gì khác hơn trên thế gian ngoài những điều chúng ta có thể hiểu được…Khoa học có lẽ đã đạt được hầu hết những gì từ khuôn mẫu vật chất. Sự chuyển động của vật chất vốn đã được mô tả vô cùng tao nhã bởi Newton và những đồ đệ của ông, có thể cũng không phải là phương cách hay nhất để hiểu được thế giới…Dù rằng, tôi nghĩ có những phương pháp mà chúng ta có thể bắt đầu nhìn vào sự sáng tạo và hiểu rằng quan điểm khoa học không phải là toàn thiện cả. Khoa học cung cấp một phần nhận thức dù rất mạnh mẽ nhưng không hề trả lời được tất cả mọi câu hỏi.
 
Thường thường những câu hỏi được xem như nằm ngoài khoa học bao gồm những điều về ý nghĩa, mục đích và đạo đức. Trong một trong những tác phẩm cuối cùng của mình, Rocks of Ages: Science and Religion in the Fullness of Life , Stephen Jay Gould gọi sự hòa giải này là NOMA, “thẩm quyền không chồng chéo” (non-overlapping magisteria): “Khoa học cố gắng để minh chứng bằng tư liệu cái đặc tính thực của thế giới tự nhiên và phát triển những lý thuyết nhằm phối hợp và giải thích những sự thực này. Ở mặt khác, tôn giáo có tác dụng trong một tầm quan trọng tương tự, nhưng khác biệt hoàn toàn, các lãnh vực của mục đích nhân loại, các giá trị và ý nghĩa - những chủ đề mà lãnh vực căn cứ vào sự thực của khoa học có thể tỏa sáng, nhưng không bao giờ có thể giải quyết được.” Gould trình bày điều này không phải như một quan điểm không tưởng, mà là một diển đạt thực về lý do tại sao các lãnh vực của khoa học và tôn giáo không thể chồng chéo lên nhau. Như một giải pháp cho sự phức tạp của chúng ta, điều này thực là không tốt. Trong tinh thần của chủ thuyết đa nguyên nó đã bỏ qua đi những xung khắc hiển nhiên giữa tôn giáo và khoa học. Gould đã giải cứu ý tưởng của ông bằng cách xác định lại các ý nghĩa của mình - lại các trò tiểu xảo cũ – vứt bỏ  chủ thuyết sáng thế như thể một “tôn giáo không chính đáng” và xác định các nguồn thế tục của đạo lý, ý nghĩa và các giá trị như một “tôn giáo chính thống”
 
Giải pháp NOMA (Thẩm quyền không chồng chéo) đổ vỡ vì những lý do khác. Mặc cho các khẳng định ngược lại của Gould, hiện tượng siêu nhiên không thể vượt hoàn toàn ra ngoài khoa học. Tất cả các nhà khoa học có thể nghĩ đến một số nhận xét có thể thuyết phục họ về sự hiện hữu của Thượng đế hay các lực của siêu nhiên. Trong lá thư gởi nhà sinh vật học Mỹ Asa Gray, Darwin ghi nhận :
 
Câu hỏi của ngài là cái gì có thể thuyết phục tôi về sự Thiết kế là một câu hóc búa. Nếu tôi nhìn thấy một thiên thần hiện xuống dạy chúng ta điều tốt, và tôi bị thuyết phục bởi những người khác nhìn thấy thiên thần ấy rằng tôi đã không mất trí, tôi nên tin vào sự thiết kế. Nếu tôi có thể bị thuyết phục hoàn toàn là đời sống và tâm hồn đã ở trong một phương cách không ai biết, một chức năng của một lực khác không có trọng lượng, tôi nên tin như thế. Nếu con người được tạo bởi đồng và sắt và không có cách nào liên hệ được với bất cứ sinh vật nào từng sống, có lẽ tôi nên tin. Nhưng đây là truyện trẻ con.
 
Tương tự, nếu có một Jesus chín trăm bộ cao xuất hiện trước cư dân thành phố Nữu Ước , như thể ông đã từng xuất hiện với nhà truyền giáo Oral Robert ở Oklahoma, và sự hiện hình này được ghi chép lại một cách thuyết phục, hầu hết các nhà khoa học tất sẽ quỳ sụp xuống mà đọc kinh tin kính Chúa.
 
Quả thực là các nhà khoa học có cần đến sự nương tựa vào các giải thích về thiên nhiên có tính thiên về vật chất, nhưng điều quan trọng cần phải hiểu là đây không phải là một thứ bổn phận khôn ngoan đặt định trước. Ðúng hơn đấy là chiến lược tốt nhất đã từng liên hệ từ những chứng nghiệm vững vàng lâu dài của chúng ta với thiên nhiên. Ðã có thời gian Thượng đế là một phần của khoa học. Newton đã từng tưởng rằng các khảo cứu của mình về vật lý sẽ giúp xác định được lối đi trên thiên đàng của Thượng đế. Linnaeus cũng thế, nhà thực vật học Thụy điển đã từng phát minh ra sơ đồ hiện tại của chúng ta để hệ thống hóa các sinh loài. Nhưng trải qua nhiều trăm năm khảo cứu chúng ta đã hiểu được rằng cái ý tưởng “Thượng đế đã thực hiện điều ấy” đã chưa từng thúc đẩy sự hiểu biết của chúng ta về thiên nhiên thêm được một mảy may nào, vì thế mà chúng ta đã từ bỏ ý tưởng đó. Ðầu những năm 1800, nhà toán học Pháp Laplace trình lên vua Napoleon một bản sao công trình đồ sộ gồm năm bộ về thái dương hệ, mang tên Mechanique Celeste. Biết được những nghiên cứu của ông không chứa đựng điều gì nhắc nhở về Thượng đế, vua Napoleon quở trách ông, “Ngài Laplace, họ cho tôi biết rằng ngài đã soạn bộ sách vĩ đại về hệ thống vũ trụ mà không hề nhắc gì đến đấng sáng tạo nên vũ trụ.” Laplace trả lời, thẳng thắn và nổi tiếng rằng "Je n'avais pas besoin de cette hypothese-la,"  “Tôi không hề cần đến thứ giả thuyết đó.” Và các nhà khoa học đã thực không cần đến từ dạo ấy.
 
Trong một lỗi thông thường, Giberson đã lẫn lộn giữa chủ tâm có tính duy thực nghiệm của khoa học với sự ủy thác tuyệt đối cho tư tưởng duy thực nghiệm. Ông cho rằng “nếu diện mạo của Jesus hiện ra trên núi Rushmore với chữ ký của Thượng đế bên dưới, các nhà địa chất vẫn còn phải giải thích hiện tượng đáng chú ý này như một phó phẩm không chắc có thực của những sự ăn mòn hoặc do kiến tạo nên mà có.” Vô nghĩa. Có quá nhiều hiện tượng khiến nảy sinh ra bóng ma của Thượng đế hoặc các lực siêu nhiên khác: đức tin có thể chữa khỏi bệnh mù, bệnh ung thư, khiến người chết có thể sống lại, chúng ta có thể tìm được những trình tự DNA đầy đủ ý nghĩa để có thể chỉ dùng một yếu tố thông minh mang cấy vào hệ thống gene của mình sẽ có nhiều thiên thần hiện ra trên bầu trời. Sự kiện về những việc như thế chưa bao giờ được ghi nhận một cách khoa học khiến chúng ta có thêm tin tưởng rằng mình hợp lý khi bám vào những giải thích tự nhiên về thiên nhiên. Và cũng giải thích tại sao rất nhiều khoa học gia, đã biết loại bỏ Thương đế như những lời giải thích cũng như một khả năng có thể giải thích được.
 
Điều này đem chúng ta đến nguyên nhân thứ hai tại sao giải thích của Gould không hợp lý. Thực ra cũng là điều tốt khi ông ta trình bày rằng tôn giáo không hề khẳng định gì về thiên nhiên nhưng căn cứ vào thực tế, điều này không đúng. Trong hàng ngàn giáo phái trên hành tinh này, chỉ có một số ít không bám vào hoặc không có những khẳng định có tính kinh nghiệm về thế giới chung quanh. Đây là một số những khẳng định ấy : Jesus hạ sinh ra từ sự đồng trinh, sau khi bị đóng đinh chết, người đã sống lại. Sau khi bà Mary chết đi, thân xác bà được chuyển đến thiên đàng. Đấng tiên tri Mohammed thăng thiên bằng một con ngựa trắng. Sau khi chết, mọi người sẽ được tái sinh dưới một hình dạng khác. Thượng đế Brahma hiện ra từ một bông sen mọc ra từ rốn của thần Vishnu, và đã sáng tạo ra vũ trụ theo lệnh của thần Vishnu. Thượng đế luôn lắng nghe và thoả mãn những lời cầu nguyện. Loài động vật có vú dưới biển sinh ra từ ngón tay bị đứt của Thượng đế Inuit Sedna. Mình sẽ được khỏe mạnh và hạnh phúc nếu chịu gởi tiền bạc cho bộ truyền giáo của giáo phái Creflo Dollar.
 
Đó là những phát biểu võ đoán. Để hiểu những gì người có đức tin thực sự tin, hãy nghĩ đến việc hơn 60 phần trăm người Mỹ tin vào các phép lạ, tin vào sự sản sinh trinh nguyên của Jesus, tính thiêng liêng và sự sống lại của người (Giberson và Miller ở trong số những người tin này), sự tồn tại của linh hồn sau khi thể xácchết đi và sự hiện hữu của quỷ Satan cùng địa ngục. Hãy bỏ đi những gì mà các nhà thần học tự do khẳng định, hầu hết chúng ta không phải là những người theo thần luận hay theo thuyết nhất thể. Và nếu bạn nghĩ rằng người Mỹ coi thánh kinh chỉ như là một  tập thơ ẩn dụ, tôi xin mời bạn đến viếng một nhà thờ ở Wasilla, Alaska hoặc ở phía nam Chicago.
 
Nhiều niềm tin tôn giáo có thể được thử nghiệm một cách khoa học, tối thiểu là trong nguyên tắc. Đặc biệt là việc chữa bệnh bằng đức tin thích hợp với những thử nghiệm khoa học này. Nhưng nhiều lần thử nghiệm đã thất bại. Sau khi nhìn thấy những thứ bị vứt bỏ lại bởi những du khách đến viếng Lourdes, Anatole France đã nói những câu rất đáng chú ý “ Tất cả là những gậy, nạng chống, không hề có mắt giả, chân gỗ hay tóc giả !” Nếu Thiên chúa có thể chữa được bệnh ung thư, tại sao ngài lại bất lực trước những kiếm khuyết về tứ chi và thị giác ? Những nghiên cứu khoa học gần đây về những người cầu nguyện giúp – khi người đau bệnh không hể biết là mình được ai cầu nguyện dùm – đã không cho thấy một bằng chứng nhỏ nào về sự hiệu quả của nó. Ngay cả khi chúng ta đã thực hiện vô số những chứng minh khoa học về các phép lạ, và mặc dù yêu cầu của Vatcian là phải có hai phép lạ được minh chứng mỗi khi phong thánh cho ai. Những thánh tích, như tấm vải liện Turin, thực ra chỉ là một thứ giả mạo khôn khéo. Không hề có những chứng cứ rõ ràng nào về sự việc có ai đó đã nói được điều gì ra từ bên trong mộ huyệt. Thế còn những phép lạ “căn bản” từ thời cổ đại, những phép nghe như đã được thực hiện bởi Chúa Jesus, Ðức Phật hay thánh Mohammed thì sao ? Chúng ta không hề hiện diện ở đó khi những điều ấy xảy ra, do đó không thể kiểm tra được. Nhưng tối thiểu chúng ta có thể áp dụng những tiêu chuẩn tương tự cho những điều này khi xét đến những khẳng định khác từ kinh thánh và kinh Koran.
 
Cũng như Giberson, Miller chối bỏ việc diễn giải kinh thánh theo nghĩa đen. Sau khi thảo luận những hồ sơ về sự hóa thạch, ông cho rằng “một nội dung theo nghĩa đen của Kinh sáng thế không hề có giá trị khoa học”, và kết luận rằng “thần học không hề và không thể giả vờ như có khoa học tính, nhưng thần học có thể tự yêu cầu mình phải phù hợp và thân thiết với khoa học.” Nhưng điều này dẫn đến một câu hỏi hắc búa. Tại sao lại chối bỏ chuyện sáng tạo và con thuyền Noah bởi vì ta đã có hiểu biết về những loài vật có liên quan, nhưng lại chấp nhận chuyện sản sinh trinh nguyên và sự sống lại của Chúa Jesus, vốn đối với khoa học đều là kỳ quặc như nhau ?. Sau cùng, khảo cứu về sinh vật học đề nghị thừa nhận sự bất khả của người nữ sinh sản vô tính, hoặc bất cứ ai có thể sống lại ba ngày sau khi chết đi. Rõ ràng là Miller và Giberson, cùng nhiều người Mỹ khác, có một số quan điểm thần học vốn không “thích hợp với khoa học”.
 
Vậy thì, bản chất của “chân lý tôn giáo” vốn phải bổ sung được cho “chân lý khoa học”  là gì ? Ðiều đầu tiên ta nên hỏi là phải chăng, và trong ý nghĩa nào, những quyết đoán của tôn giáo là “những chân lý”. Chân lý có thể kéo theo cái khả năng của gian dối, do đó chúng ta nên có một phương cách để biết nếu như các chân lý tôn giáo là sai. Nhưng, không như các chân lý khoa học, chân lý tôn giáo đem đến từng người, từng giáo phái đều khác biệt. Và chúng ta đều biết tất cả những mâu thuẫn rõ rệt giữa các “chân lý” của các đức tin khác nhau. Kitô giáo khẳng định không mập mờ tính thiêng liêng của Jesus, cùng nhiều quyết đoán rằng con đường cứu rỗi dứt khoát tùy thuộc vào sự chấp nhận chân lý này, trong khi đó kinh Koran công khai huỵch toẹt là bất cứ ai nhìn nhận tính thiêng liêng của Jesus sẽ sa xuống địa ngục tất. Những khẳng định này không thể cả hai cùng “đúng”, tối thiểu trong cách thức không yêu cầu đến những vặn vẹo của tri thức.
 
Các khẳng định về bản chất của Thượng đế cũng khác biệt tùy theo đức tin. Thí dụ như Giberson giải thích rằng “trong nhiều thế kỷ, phản ánh bản chất Thượng đế của Kitô giáo đã đề cao nhiều đức tính của Thượng đế : công lý, yêu thương, lòng thiện, tính thiêng liêng, ân sủng và nhiều nhiều nữa.” Nhưng đối với các đức tin khác, Thượng đế lại có tính trả thù, như Yahweh trong kinh Cựu Ước chẳng hạn. Người Do thái không thể nào tưởng tượng được một Thương đế bằng xương bằng thịt như thánh kinh tạo nên. Ấn độ giáo, giống như người Hy lạp cổ đại, chấp nhận nhiều thượng đế với nhiều đức tính khác nhau. Ðối với người theo thuyết hữu thần, thượng đế là không tình cảm, trong khi nhiều nhà thần học trong tất cả các đức tin độc thần lại khẳng định là chúng ta không thể biết gì về tính cách của Thượng đế. vậy thì cái nào trong những tính cách hóa này là đúng ? Bất cứ điều nào được mời chào là một “chân lý” phải có một phương pháp để bị chứng minh là sai - một phương pháp không hề lệ thuộc vào các phát giác có tính cá nhân. Sau cùng, hàng nghìn người đã có những phát giác đầy ảo tưởng về “chân lý” với những hậu quả kinh hoàng.
 
Có lẽ những gì ta muốn nói về “những chân lý tôn giáo” là “những chân lý đạo đức”, tựa như “Ngươi không được phạm tội ngoại tình.” Những lề luật này không phải là các đối tượng cho các kiểm tra có tính chứng nghiệm, nhưng chúng không hề xứng hợp với các cảm giác hợp lý của chúng ta về sự sai hoặc đúng. Nhưng hầu như đối với mỗi chân lý như thế này luôn có điều khác được tin tưởng với sự chân thành tương tự, như “Kẻ nào ngoại tình đáng bị ném đá đến chết.” Lời quả quyết này xuất hiện không phải chỉ trong luật đạo của Hồi giáo, nhưng cả trong Cựu Ước nữa. (Nhân tiện ở đây, xin nói rằng, có lẽ là sai lầm khi gọi những chân lý  này là  tôn giáo. Khởi đi từ Plato, các triết gia đã lập luận một cách thuyết phục là luân lý của chúng ta không đến từ tôn giáo, mà từ nền đạo đức thế tục vốn phát triển trong các sinh vật thông minh có năng lực giao tế xã hội được đưa vào tôn giáo để tiện trích dẫn).
 
Vậy thì, cuối cùng, có một khác biệt căn bản giữa các chân lý khoa học và các chân lý tôn giáo tuỳ cách hiểu của mình. Sự khác biệt nằm trong việc mình trả lời như thế nào cho một câu hỏi: làm thế nào mình có thể biết nếu như mình sai ? Ðồng nghiệp của Darwin, Thomas Huxley bình luận rằng “khoa học hệ thống hoá các hiểu biết thông thường trong khi nhiều lý thuyết đẹp đẽ bị giết chết đi chỉ từ một sự thực xấu xí.” Như đối với bất kỳ lý thuyết khoa học nào, có tiềm năng là nhiều sự thực xấu xí có thể giết chết chủ thuyết Darwin. Hai sự thực đó có thể là sự hình dạng kề bên của xương hóa thạch người và xương hóa thạnh khủng long, và sự hiện hữu của những mô phỏng trong một loài này chỉ giúp ích cho một loài khác hơn nữa. Vì chưa từng có những thực tế như thế xảy ra, chúng ta vẫn còn tiếp tục nhìn nhận thuyết tiến hóa là đúng. Ngược lại, các niềm tin tôn giáo thì miễn nhiễm với các thực tế xấu xí kiểu ấy. Thậm chí, chúng còn tiếp tục tồn tại trước những thực tại xấu xí, như sự bất lực của những lời cầu nguyện. Không có cách thức nào để phán xử những xung khắc giữa các chân lý tôn giáo như ta có thể làm được với các giải thích khoa học đối chọi nhau. Hầu hết các nhà khoa học có thể cho mình biết những nhận định nào đã có thể thuyết phục họ tin vào sự hiện hữu của thượng đế, nhưng tôi chưa từng gặp một người có đạo nào có thể bảo tôi về những gì có thể giúp bác bỏ niềm tin ấy. Và cái gì đã khiến thuyết phục được mọi người để từ bỏ đi niềm tin về thần thánh của mình, như Giberson từng khẳng định, điều tốt lành, sự yêu thương và công chính ? Nếu lò thiêu Holocaust không thể thuyết phục được, chắc là không ai có thể thuyết phục được cả.
 
V.
Giberson and Miller là những con người chín chắn có thiện chí. Ðọc tác phẩm của họ, ta thấy thiếu vắng sự thuyết phục và chân thành thường có từ các bài viết của những nhà sáng tạo luận khác, vốn thường bây bẩy chối bỏ hầu hết những thực tại hiển nhiên về thực chất cho những nguyên nhân đức tin của mình. Cả hai tác phẩm của các tác giả này đều đáng đọc : Giberson đáng đọc vì lịch sử cuộc tranh cãi giữa sáng tạo luận và thuyết tiến hóa, và Miller đáng đọc vì các lập luận minh bạch của ông chống lại thuyết thiết kế thông minh.Dù rằng cuối cùng cả hai đều thất bại không đạt được điều từng mong muốn đã lâu của họ về sự liên hiệp giữa đức tin và tiến hóa. Và họ đã thất bại vì những nguyên nhân tương tự như nhiều người đã từng thất bại :Một sự hòa hợp thực sự giữa tôn giáo và khoa học đòi hỏi hoặc không thể có gì liên quan đến hầu hết các tôn giáo của con người,  thay thế chúng với một loại thần thánh dịu nhẹ hơn, còn không chỉ là sự  ô nhiểm khoa học bởi những khẳng định tâm linh phi lý, không cần thiết và không thể kiểm chứng được.
 
Mặc dù Giberson và Miller tự xem mình như các đối thủ của chủ thuyết sáng tạo, nhưng trong việc nghĩ ra một sự tương thích giữa khoa học và tôn giáo mà cuối cùng họ lại đồng quy với những đối thủ của mình. Thực ra, họ đã trình bày được tối thiểu  ba trong bốn điểm khác biệt của chủ thuyết sáng tạo : tin vào thượng đế, tin vào sự can thiệp của thượng đế vào tự nhiên và vai trò đặc biệt của Thượng đế trong sự tiến hóa của loài người. Thậm chí họ còn phô trương cả điểm thứ tư là một niềm tin vào tính phức tạp không thể giảm nhẹ đi được, bằng cách đề nghị là linh hồn có thể không tiến hóa mà là được đặt để bởi Thượng đế.
 
Giberson, trong khi từ bỏ một Thượng đế thực tiễn nhưng lại nhìn nhận sự thiết kế rõ ràng của ngài trên địa cầu.
 
Vì sao loài chim hót quá hay để ta thưởng thức ? Chẳng hạn như, vì sao, hầu hết các khung cảnh thiên nhiên chưa khai phá, từ các biển hồ núi non đến đồng cỏ thoai thoải thường rất đẹp ? Nếu như sự tiến hóa của sinh loài chúng ta được triển khai hoàn toàn vì mục đích cho sự sống còn, thì chúng ta có được những cảm giác tràn đầy về vẻ đẹp thiên nhiên ở đâu ? … Có một tính cách nghệ thuật trong thiên nhiên luôn luôn tác động đến tôi tràn đầy như thể từ một quan điểm khoa học thuần chất… Tôi bị thu hút bởi ý tưởng rằng hiện hữu của Thượng đế không ở trong các kỳ diệu tinh xảo mà chính ở trong tính sáng tạo tuyệt vời và chiều sâu thẩm mỹ của thế giới tự nhiên. Lẽ ra các nhà khoa học không nên phát biểu về Thượng đế bằng cách này, bởi lẽ, sẽ đem lại những câu hỏi không thể nào trả lời được.
 
Đây là một thứ thiết kế thẩm mỹ hơn là thiết kế thông minh, nhưng vẫn là một sự thiết kế. Và sự thiết kế này đã bỏ qua những giải thích khoa học, như lý thuyết “ái lực cuộc sống” (biophilia theory) của E.O. Wilson, cho rằng chúng ta tiến hóa để tìm những nơi chốn như sông hồ đồng cỏ hấp dẫn bởi vì chúng mang lại thực phẩm và sự an toàn cho tổ tiên chúng ta .
 
Cả Giberson và Miller đều không cho ta biết trường hợp nào mà họ đã từ bỏ niềm tin vào Thượng đế nhân tính của mình. Thậm chí, Giberson còn khẳng định là mình không thể nào sai lầm:
 
Là người tin Thượng đế, tôi đã tin chắc từ trước rằng thế giới này không phải là một sự tình cờ, và rằng, trong một số phương cách bí hiểm, sự hiện hữu của chúng ta là một kết quả “có tính toán”. Không một dữ kiện nào có thể xóa tan được niềm tin ấy. Do đó, tôi không xem lịch sử tự nhiên như một nguồn dữ liệu để quyết đoán xem thế gian có một mục đích hay là không. Mà sự tiếp cận của tôi chính là thấy trước được các sự thực của lịch sử tự nhiên sẽ tương thích với mục đích và ý nghĩa mà tôi đã bắt gặp ở đâu đó. Và sự hiểu biết khoa học của tôi không hề cản ngăn gì tôi trong sự đoan chắc này.
 
Chính xác và đơn giản, đây chính là một phát biểu kiểu sáng tạo luận. Không một nhà khoa học thực sự nào có thể nói rằng các lý thuyết của mình miễn nhiễm với sự phản chứng. Và do đó sự hòa giải cá nhân của Giberson, dù soi rạng cho tâm linh của ông cũng không thể nào thuyết phục được một cách tri thức cho tất cả chúng ta.
 
Bên cạnh lập luận “thiết kế thẩm mỹ” của mình, Giberson cũng đưa ra một lý lẽ khác cho đức tin của mình – ta có thể gọi là một loại lập luận phát xuất từ sự tiện lợi:
 
Như một sự kiện thực sự có tính thực tiễn, tôi có những lý lẽ rất thuyết phục để tin vào Thượng đế. Bố mẹ tôi là những người vô cùng tin đạo do đó sẽ là một điều bi đát nếu như tôi từ bỏ đức tin. Vợ con tôi đều tin vào Thiên chúa và chúng tôi cùng thường xuyên đi lễ với nhau. Hầu hết các bạn hữu của tôi cũng là người có đạo. Tôi có công việc mà tôi yêu thích tại một trường cao đẳng Kitô giáo, nơi vốn chắc chắn sẽ sa thải tôi nếu như tôi chối bỏ cái đức tin vốn là trụ cột cho sứ mạng của ngôi trường. Từ bỏ niềm tin vào Thiênchúa sẽ là một sự hủy hoại, sẽ đưa cuộc đời tôi vào sự hoàn toàn hỗn loạn.
Lời thú nhận mủi lòng này hé lộ sự phi lý đáng buồn về toàn thể sự việc - mối xung khắc đồi bại giữa một nhu cầu cá nhân cần phải tin với sự tuyệt vọng muốn trình bày cái nhu cầu chính yếu này hoàn toàn tương thích với khoa học.
Từ đó, nó đã cho thấy là con người không thể hợp nhất giữa khoa học và tôn giáo cùng một lúc được. Sự tổng hợp ấy đòi hỏi một phần não trạng của mình chỉ chấp nhận những gì đã được thử nghiệm, được hỗ trợ bởi các chứng thực đã được đồng ý cùng các lý lẽ, nguyên nhân; trong khi phần kia lại phải chấp nhận được những điều không thể dẫn chứng, thậm chí giả dối. Nói một cách khác, cái giá của bản hòa âm trí thức ấy là các nghịch âm của nhận thức. Chấp nhận cả khoa học và đức tin quy ước đưa ta đến loại tiêu chuẩn hai mặt : hợp lý về nguồn gốc của các tụ huyết, phi lý về sự sống lại; hợp lý về loài khủng long, phi lý về sự sản sinh trinh nguyên của Chúa. Giberson và Miller lựa chọn thứ nào mà họ muốn tin, hoàn toàn không có nguyên do đúng đắn gì cả. Tối thiểu là các nhà sáng tạo luận thuộc về chủ trương trái-đất-trẻ còn nhất quán hơn, vì họ ôm lấy tất cả các hệ quả siêu nhiên bất kể chúng như thế nào. Bằng sự tinh tế thường thấy của mình, nhà vật lý học Richard Feynman mô tả đặc điểm khác biệt này như sau :” Khoa học là phương cách để mình cố gắng đừng tự dối gạt chính mình. Nguyên tắc đầu tiên là mình không được tự gạt mình vì chính mình là đối tượng dễ bị gạt nhất”. Với tôn giáo, không có cách nào để biết được nếu như mình đang tự dối gạt mình.
 
Do đó, mối xung khắc quan trọng nhất – cái bị Giberson và Miller bỏ qua – không phải là giữa tôn giáo và khoa học. Mà đó là giữa tôn giáo và các lý lẽ thế tục. Lý lẽ thế tục bao gồm khoa học nhưng cũng bao gồm hiểu biết chính trị, đạo đức, toán học, lý luận, lịch sử, nghiệp vụ báo chí và khoa học xã hội - tất cả các lãnh vực vốn đòi hỏi chúng ta phải có lý lẽ đúng cho những gì chúng ta tin tưởng. Hiên giờ tôi không hề khẳng định rằng tất cả các đức tin là không tương thích với khoa học và lý lẽ thế tục – không phải chỉ những đức tin từng khẳng định về bản chất của vũ trụ vốn mâu thuẫn rõ ràng với các hiểu biết khoa học. Thuyết phiếm thần và một số hình thái của Phật giáo có vẻ vượt qua được cuộc xét nghiệm. Nhưng một phần đa số rất rộng rãi những người tin đạo – những người trong 90 phần trăm dân số Mỹ tin vào một Thượng đế nhân tính, hầu hết các tín đồ Hồi giáo, Do Thái giáo và Ấn độ giáo, cũng như hàng trăm các loại đức tin khác - đều ở trong thứ loại “không tương thích” với khoa học cùng các lý lẽ thế tục.
Bất hạnh thay, một số nhà thần học với sự luồn cúi thần thánh có vẻ như nghĩ rằng mình đang nói thay cho những người sùng đạo. Đây là những người chỉ trích đã đả phá Dawkins và các đồng nghiệp của ông về việc không chịu vật lộn với từng luận điểm thần học tinh tế về hiện hữu của Thượng đế, không chịu đắm mình vào lịch sử phức tạp của thần học. Đặc biệt Dawkins bị công kích vì đã viết Ảo tưởng Thượng đế (The God Delusion )như một tác phẩm “xoàng, dễ đọc”. Nhưng công kích đó trật vấn đề. Quả là ông đã trước tác một cuốn sách dể đọc, nhưng chính xác bởi vì ông đã thảo luận về tôn giáo như chính đang được sống và hành đạo bởi những con người thực. Lý do mà nhiều nhà thần học tự do coi tôn giáo và tiến hóa là một sự hòa hợp là vì  họ hài hòa một học thuyết không chỉ như một đồng minh mà còn không thể nhận ra được như một tôn giáo đối với hầu hết người Mỹ.
 
Những dữ liệu thống kê đã ủng hộ cho sự bất tương thích này. Chẳng hạn như, trong ba mươi bốn quốc gia được khảo sát, ta thấy một con số thống kê mạnh mẽ cho thấy mối liên quan phủ định tiêu cực giữa sự chấp nhận thuyết tiến hóa với mức độ của đức tin. Các nước như Đan Mạch, Pháp, Nhật bản và Anh quốc có tỉ số cao về sự chấp nhận chủ thuyết của Darwin và có tỉ số thấp trong niềm tin vào Thượng đế, trong khi kết quả lại ngược lại ở những nước như Bulgary, Latvia, Turkey và Hoa kỳ. Trong nước Mỹ, tập thể các nhà khoa học ít có tính đạo giáo một cách đáng kể hơn những người không phải là khoa học gia. Điều này không phải để muốn nói rằng những con số thống kê ấy có thể quyết định đến kết quả của những tranh luận triết học. Cũng không là sự hệ trọng khi những số thống kê này có nghĩa là nhìn nhận khoa học sẽ han rỉ đến đức tin tôn giáo hoặc có đức tin tôn giáo sẽ khiến ăn mòn đến sự chấp nhận khoa học. (Cả hai tiến trình ấy chắc chắn sẽ có xảy ra). Tuy vậy, những con số ấy thực đã cho thấy rằng, con người sẽ có khó khăn khi đồng chấp nhận cả hai. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, khi nhìn vào thực chất của hai thế giới quan này.
 
Sự nghịch nhĩ này là một bí mật nhỏ bé và bẩn thĩu trong giới khoa học. Việc khẳng định rằng khoa học và tôn giáo là một sự hòa hợp tuyệt hảo chính là tùy vào ý muốn cá nhân và chuyên môn của mình . Cuối cùng là, chúng ta đều muốn hưởng được các tài trợ của chính phủ, và đều muốn các học trò của chúng ta phải được trình bày khoa học thực thay vì chủ nghĩa sáng tạo. Những người có đạo phóng khoáng đã từng là các đồng minh quan trọng của chúng ta trong cuộc tranh đấu chống lại chủ thuyết sáng thế, thành thử không được vui vẻ lắm để mất đi tình đồng minh với họ nếu chúng ta thẳng thắn trình bày những gì chúng ta cảm nhận. Đấy là lý do vì sao, các hội đoàn như Hội Hàn Lâm Khoa học quốc gia đã khẳng định là khoa học và tôn giáo không hề có xung khắc, như thể là một hành động có tính chiến thuật. Nhưng các bằng chứng chính của sự việc - hiện hữu của các nhà khoa học tôn giáo – đang mờ nhạt đi khi ngày càng nhiều các nhà khoa học trở nên ồn ào về sự mất niềm tin của họ vào đức tin. Hiện nay, một dịp kỷ niệm Darwin đến với chúng ta, và chúng ta có thể sẽ còn thấy xuất hiện nhiều tác phẩm nữa như của Kenneth Miller và Karl Giberson. Các nỗ lực hòa giải Thượng đế và thuyết tiến hóa tiếp tục rơi ra ngoài đường chuyền trí thức. Những hòa giải ấy không bao giờ ngừng lại, bởi vì sự hòa giải giữa Thượng đế và thuyết tiến hóa sẽ không bao giờ có thể thực hiện được.
Chú thích:
Jerry A. Coyne là giáo sư tại Phân khoa Ecology and Evolution tại đại học Chicago. Tác phẩm mới của ông, Why Evolution Is True, vừa được ấn hành bởi nhà xuất bản Viking.
23/2/2009
Jerry A. Coyne
Lê Quốc Tuấn dịch
Theo https://www.vanchuongviet.org/

XXXXXXCho Esmé - Với tình yêu và nỗi khốn cùng

Cho Esmé - Với
tình yêu và nỗi khốn cùng

Gần đây, qua hàng không bưu tín, tôi nhận được thư mời dự một lễ cưới sẽ tổ chức ở Anh vào ngày 18/4. Có vẻ như đây là một lễ cưới mà hẳn tôi phải tốn kém khá nhiều để đến dự, và khi thư mời đến, tôi nghĩ rằng có thể mình sẽ lên đường ra hải ngoại bằng máy bay, với những khoản chi phí cắt cổ. Tuy nhiên, từ hôm đó tôi đã thảo luận vấn đề khá nhiều với vợ tôi, một người phụ nữ đặc biệt điềm tĩnh, và chúng tôi quyết định phủ quyết nó, vì một điều - tôi đã quên khuấy mất rằng mẹ vợ tôi đang mong đến ngày được tới ở với chúng tôi khoảng hai tuần vào tháng Tư. Tôi thật sự rất ít có dịp gặp Mẹ Grencher, và bà cũng chả trẻ ra được chút nào. Bà năm mươi tám tuổi. (Như bà là kẻ đầu tiên thừa nhận).  
Tuy thế,  dù có ở đâu chăng nữa, tôi cũng cho rằng tôi không phải là loại người thậm chí không buồn nhấc một ngón tay để ngăn chận một buổi lễ cưới khỏi sự tẻ nhạt. Thế nên, tôi đã viết đôi điều hé lộ về cô dâu vì tôi biết cô ấy cách đây gần sáu năm. Nếu những ghi chép của tôi có thể khiến cho chú rể, người tôi chưa từng gặp bao giờ, bị khó chịu dăm ba phút, thì lại càng tốt lắm. Ở đây, chả ai có mục đích làm hài lòng nhau cả. Mà thật sự là để khai tâm, để chỉ dẫn.
Vào tháng 4 năm 1944, tôi nằm trong số 60 người Mỹ tham gia một khoá đào tạo đặc biệt của cơ quan mật vụ Anh ở Devon, Anh Quốc. Và khi nhìn lại, với tôi, dường như hồi ấy cả 60 người chúng tôi đều khá lạ đời. Tất cả đều thuộc loại nghiện viết thư. Ngoài các vấn đề về phận sự, việc trò chuyện giữa chúng tôi thường chỉ là để hỏi một ai đó xem anh ta có còn chút mực viết nào chưa dùng đến hay không. Những khi không dự lớp và không viết thư, mỗi người chúng tôi có những cách thức riêng để giết thời gian. Riêng tôi, tôi đi lang thang khắp vùng trong những ngày trời đẹp, và vào những ngày mưa gió, tôi thường tìm một nơi khô ráo để ngồi đọc sách, thường là kế bên một bàn ping-pong.
Khoá học kéo dài 3 tuần lễ, kết thúc vào một ngày thứ Bảy mưa dầm. Vào bảy giờ tối hôm đó, cả nhóm chúng tôi sẽ lên tàu tới Luân Đôn, ở đó, theo lời đồn, chúng tôi sẽ được bổ nhiệm về các sư đoàn bộ binh và không vận, tập dượt để chuẩn bị cho những cuộc đổ bộ vào Ngày D.  Khoảng ba giờ chiều, tôi nhét mọi thứ tài sản của mình vào cái ba lô, kể cả một cái túi vải đựng mặt nạ phòng chống hơi độc chứa đầy những quyển sách mà tôi đã mua ở Phía bên kia. (Bản thân cái mặt nạ đã bị tôi vất qua một ô cửa sổ của con tàu Mauretania trước đó vài tuần, với nhận thức rõ ràng rằng nếu như kẻ thù có dùng hơi độc đi chăng nữa, tôi cũng chả bao giờ đeo cái món chết tiệt ấy lên kịp lúc.)  Tôi nhớ tôi đã đứng cạnh cánh cửa sổ ở cuối doanh trại rất lâu, nhìn ra màn mưa ảm đạm, ngón tay trỏ ngứa ngáy một cách mơ hồ khó nhận ra. Tôi có thể nghe thấy ở sau lưng mình tiếng nhiều cây bút chạy sột soạt trên những tờ giấy viết thư.  Rồi đột ngột, không có một ý định gì đặc biệt trong đầu, tôi rời cửa sổ, khoác vào người chiếc áo mưa, chiếc khăn len quàng cổ, đôi ủng cao su đi mưa, đôi bao tay bằng dạ và cái mũ vải hải ngoại (mà bạn tôi thường bảo rằng tôi hay đội theo kiểu của riêng tôi, hơi trùm xuống đôi tai chút ít.) Rồi, sau khi chỉnh lại cái đồng hồ đeo tay của tôi theo đồng hồ trong nhà vệ sinh, tôi đi xuống ngọn đồi dài đá sỏi vào thị trấn, không thèm đếm xỉa đến những tia chớp giật loang loáng phủ xung quanh.
Ở trung tâm thị trấn, có lẽ cũng là nơi ẩm ướt nhất trong vùng, tôi dừng lại trước một nhà thờ để đọc một tấm bảng thông báo, chủ yếu là vì những con số viết bằng phấn trắng trên nền đen đã thu hút sự chú ý của tôi, nhưng cũng có phần vì sau ba năm trong quân ngũ, tôi đã trở nên nghiện cái thú đọc các tấm bảng thông báo. Tấm bảng ghi rằng vào lúc ba giờ rưỡi sẽ có một cuộc thực tập hát đồng ca thiếu nhi. Tôi nhìn đồng hồ đeo tay, rồi lại nhìn lên bảng. Trên đó có dán một tấm giấy ghi tên của các em thiếu nhi dự cuộc thực tập này. Tôi đứng trong mưa, đọc hết tất cả những cái tên, rồi đi vào nhà thờ.
Trong nhà thờ có khoảng mươi người lớn. Tôi đi qua họ, rồi ngồi xuống ở hàng ghế đầu. Trên chiếc bục cao có ba hàng ghế với khoảng hai mươi đứa bé, phần đông là bé gái trong lứa tuổi từ bảy đến mười ba đang ngồi. Ngay lúc đó, cô giáo dạy đồng ca của chúng, một phụ nữ đẫy đà trong bộ váy bằng vải tuýt, yêu cầu chúng há miệng to hơn khi hát. Có ai đã từng nghe một chú chim non dám hót khúc nhạc líu lo của nó mà trước hết không há mỏ ra cho thật to, thật to, thật to không nào? – Cô ta hỏi. Chắc chắn là không có ai đã từng nghe. Cô ta tiếp tục nói rằng cô ta muốn tất cả mọi học viên phải tập trung vào ý nghĩa của ca từ, chứ không phải chỉ hát như những con vẹt ngốc nghếch.
Rồi cô ta thổi vào chiếc sáo bắt giọng một nốt nhạc, và tất cả các em bé, như những vận động viên cử tạ chưa đủ tuổi, cùng giơ cao những quyển sách ký âm.
Chúng hát không có nhạc đệm - hay nói chính xác hơn, trong trường hợp này, không có một sự can thiệp nào. Một vài đứa nhỏ nhất kéo lê nhịp một tí, nhưng theo một cách chỉ có mẹ của nhà soạn nhạc mới có thể nhận ra thiếu sót. Tôi chưa từng được nghe thánh ca, nhưng tôi vẫn hy vọng đây là một bài thánh ca với khoảng hơn một chục câu thơ. Vừa lắng nghe, tôi vừa nhìn lướt qua gương mặt của từng em bé, tôi nhìn chăm chú hơn một bé gái ngồi gần tôi nhất, ở chiếc ghế cuối của hàng ghế trên cùng. Cô bé trạc mười ba tuổi, có một mái tóc thẳng mượt màu vàng pha xám tro dài tới dái tai, một vầng trán thanh tú và đôi mắt xanh thật đẹp. Giọng hát của cô bé vút lên khỏi giọng của những em bé khác không chỉ vì cô bé ngồi gần chỗ tôi nhất. Nó có một cử giọng cao hơn hết, ngọt ngào êm ái hơn hết, và tự động trở thành giọng hát dẫn đầu ban đồng ca. Tuy nhiên, cô bé gái dường như chán ngán với khả năng ca hát của mình, hay có lẽ chỉ là chán ngán cái thời gian và không gian lúc ấy. Hai lần, giữa những câu hát, tôi bắt gặp cô bé ngáp dài. Ðó là một cái ngáp kiểu cách của một mệnh phụ phu nhân, một cái ngáp kín đáo không để hở đôi môi, nhưng bạn không thể không nhận thấy; vì hai cánh mũi của cô phập phồng.
Giờ tập hát thánh ca chấm dứt. Người giáo viên bắt đầu nhận xét lê thê về những cô bé cậu bé hay động đậy đôi chân và lép nhép đôi môi trong khi vị mục sư đang thuyết giáo. Tôi đoán là phần tập hát của buổi tổng dượt đã hết, và trước khi giọng nói chói tai của cô giáo viên kịp làm phai nhoà dư âm tiếng hát của đàn em nhỏ, tôi đứng lên rời khỏi nhà thờ.
Trời mưa thậm chí còn nặng hạt hơn khi nãy. Tôi đi xuôi xuống phố và nhìn qua cửa sổ phòng giải trí của hội Hồng Thập tự. Những người lính đứng thành từng nhóm hai, ba người ở quầy cà phê, và dù qua lớp kính, tôi vẫn có thể nghe thấy tiếng quả bóng bàn nảy trong phòng. Tôi băng qua đường, bước vào một quán trà vắng tanh vắng ngắt không có ai ngoài một phụ nữ phục vụ tuổi trạc trung niên trông có vẻ như thể bà ta thích có một người khách với một chiếc áo mưa khô ráo hơn. Tôi máng chiếc áo mưa lên giá treo, một cách nhã nhặn hết mức trong phạm vi có thể, rồi ngồi vào một cái bàn, yêu cầu trà cùng một chiếc bánh mì nướng. Đó là lần đầu tiên trong suốt cả ngày tôi mở miệng với một người khác. Rồi tôi lục lọi tất cả mọi cái túi, kể cả túi áo mưa, và cuối cùng tìm ra hai lá thư nhòa nhạt để đọc lại. Một lá của vợ tôi, báo cho tôi biết sự phục vụ ở tiệm Schaft Phố Tám mươi tám đã sa sút ra sao. Một lá của mẹ vợ tôi, yêu cầu tôi gửi cho bà một ít chỉ len ngay khi tôi có dịp ra khỏi “trại”.
Trong khi tôi còn chưa uống hết tách trà thứ nhất, cô bé gái tôi đã nhìn và nghe hát trong dàn đồng ca bước vào quán. Mái tóc cô bé ướt đẫm, để lộ ra hai vành tai. Cô bé đi cùng một đứa bé trai nhỏ xíu, chắc chắn là em của cô ta. Với hai ngón tay, cô bé nhấc chiếc mũ ra khỏi đầu thằng bé, như thể chiếc mũ là một khí cụ trong phòng thí nghiệm. Tháp tùng cả hai là một người phụ nữ dễ nhìn, đội một chiếc mũ mềm vành rũ, mà tôi đoán là cô bảo mẫu của chúng. Cô bé vừa đi vừa cởi chiếc áo khoác ra, rồi chọn một chiếc bàn, một chỗ thật khá, theo ý tôi, vì nó nằm ngay phía trước mặt tôi, cách chỉ chừng bảy tám bước chân. Cô bé và người bảo mẫu ngồi xuống. Chú nhóc con, chừng năm tuổi, chưa muốn ngồi vào vội. Nó lui tới lăng xăng một cách có phương pháp, chọc tức người bảo mẫu bằng cách vừa kéo tới kéo lui chiếc ghế của mình, vừa nhìn vào mặt bà ta. Người bảo mẫu hai ba lần yêu cầu nó ngồi xuống và hãy thôi làm trò khỉ bằng một giọng khẽ khàng, nhưng chỉ đến khi chị của nó lên tiếng, nó mới chịu ngồi xuống, tựa cái lưng bé xíu của nó vào lưng ghế. Ngay lập tức, nó vớ lấy tấm khăn ăn đặt lên trên đầu. Người chị lấy chiếc khăn xuống, mở ra và trải lên lòng nó.
Vừa khi trà được mang tới, cô bé bắt gặp tôi đang nhìn về phía của mình. Cô bé nhìn lại tôi, rồi đột ngột gửi tới tôi một nụ cười mỉm e dè. Nụ cười toả sáng một cách lạ lùng, tương tự những nụ cười mỉm thỉnh thoảng ta có thể gặp trong đời. Tôi mỉm cười đáp lại, kém tươi tắn hơn nhiều, giữ cho môi trên hạ thấp để che đi một vết trám răng tạm thời kiểu nhà binh đen thui giữa hai chiếc răng cửa. Ðiều kế tiếp tôi biết, là cô bé đứng bên chiếc bàn của tôi với một tư thế thật đĩnh đạc. Cô bé mặc một chiếc váy sọc ô vuông kiểu Campell, tôi cho là vậy. Hình như với tôi đó là một chiếc váy thật tuyệt diệu cho một cô bé mặc trong một ngày mưa quá đỗi mưa.
"Cháu nghĩ là người Mỹ không ưa trà", cô bé nói.
Đó không phải là nhận xét của một người làm ra vẻ tinh khôn mà là của một người yêu chân lý hoặc một người thích môn thống kê. Tôi đáp rằng có một số người trong chúng tôi chỉ toàn uống trà không thôi. Rồi tôi hỏi cô bé xem cô có thể ngồi với tôi không.
"Cám ơn," cô bé nói, "Nhưng có lẽ chỉ một chút xíu thôi."
Tôi đứng lên kéo một chiếc ghế ở phía đối diện cho cô bé. Cô ngồi xuống, trên một phần tư trước của chiếc ghế, giữ cho lưng thật thẳng và thật đẹp một cách dễ dàng. Tôi trở về chỗ chiếc ghế của mình, hầu như hơi vội vã. Tuy nhiên, sau khi ngồi xuống, tôi không nghĩ ra được chuyện gì để nói. Tôi lại mỉm cười, vẫn cố che giấu cái vết trám răng đen thui. Rồi tôi nhận xét rằng đi ra ngoài trong một ngày như hôm nay thật là kinh khủng.
"Vâng, đúng là như vậy", người khách của tôi đáp bằng một giọng trong trẻo, rõ là của giọng của một kẻ ghét cay ghét đắng chuyện phiếm. Cô bé đặt những ngón tay lên cạnh bàn, như một người đang trong buổi họp, rồi gần như ngay lập tức nắm hai bàn tay lại. Cô đeo một chiếc đồng hồ quân sự, kiểu đồng hồ của một thủy quân. Mặt đồng hồ quá to lớn so với chiếc cổ tay thanh mảnh của cô. "Chú đã ngồi xem tập hát trong nhà thờ", cô bé nói với giọng khẳng định, "cháu đã nhìn thấy chú."
Tôi đáp rằng đúng thế, rằng tôi đã nghe thấy giọng ca của cô tách biệt khỏi giọng ca của những em bé khác. Rằng tôi nghĩ cô có một giọng hát rất tuyệt vời.
Cô bé gật đầu. "Cháu biết. Cháu sẽ trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp."
"Thật thế à? Một ca sĩ opera?"
"Ồ không. Cháu sẽ hát nhạc jazz trên đài phát thanh và sẽ kiếm được khối tiền. Rồi khi cháu được ba mươi tuổi, cháu sẽ thôi ca hát và tới sống trong một trang trại ở Ohio." Cô bé chà lòng bàn tay lên đỉnh đầu đẫm ướt của mình. "Chú có biết Ohio không?” Cô bé hỏi.
Tôi đáp rằng tôi đã từng đi qua đó trên những chuyến tàu hoả vài lần, nhưng chưa thật sự biết về nó. Rồi tôi mời cô bé một miếng bánh mì.
"Không, cám ơn chú." Cô bé nói. "Thật ra, cháu ăn ít như một con chim vậy."
Tôi cắn một mẫu bánh và nhận định rằng ở quanh Ohio có một vài vùng khá dữ dằn.
"Cháu biết. Một người Mỹ cháu gặp đã bảo vậy. Chú là người Mỹ thứ mười một mà cháu gặp."
Người bảo mẫu lúc này đang khẩn trương ra dấu cho cô bé quay lại bàn để thôi không làm phiền tôi nữa. Tuy nhiên, vị khách của tôi bình thản dời chiếc ghế đi khoảng vài chục phân, bằng cách đó quay lưng lại phía chiếc bàn của mình, chấm dứt mọi sự liên lạc nào khác nếu có. "Chú đến học tại cái trường dạy mật vụ trên đồi, phải không chú?" Cô bé hỏi với vẻ thờ ơ.
Cảnh giác với câu hỏi tiếp theo, tôi đáp rằng tôi đến vùng Devonshire để nghỉ dưỡng sức.
"Thế sao," cô bé nói, "Cháu đâu phải mới ra đời ngày hôm qua hở chú."
Tôi đáp rằng tôi cuộc là cô bé không phải mới sinh hôm qua thật.
"Có vẻ như chú khá thông minh so với một người Mỹ" Vị khách của tôi nói.
Tôi bảo cô bé rằng nói một điều như thế thật là lố bịch và hợm hĩnh, nếu suy nghĩ một chút về ý nghĩa của nó, rằng tôi mong rằng cô bé không phải là người như thế.
Cô bé đỏ mặt. "Chà, phần lớn những người Mỹ cháu gặp cư xử như thú vật. Họ cứ thụi nhau miết và xúc phạm tới mọi người. Chú có biết một trong bọn họ đã làm điều gì không?"
Tôi lắc đầu.
"Một trong số họ đã quẳng một cái chai đựng rượu whisky rỗng qua cửa sổ nhà cô cháu. May là cửa sổ mở. Nhưng chú thấy như thế có thật thông minh không?"
Ðiều đó thật bình thường. Nhưng tôi không nói như thế. Tôi bảo rằng nhiều người lính, trên khắp thế giới này, sống rất xa quê nhà của họ, và rất ít người trong số họ thật sự có được những thuận lợi trong đời sống. Tôi bảo rằng rất nhiều người có thể hiểu ra được điều này.
"Có thể," vị khách của tôi nói, không chắc chắn lắm. Cô bé lại giơ tay lên vuốt đầu, cố kéo những sợi tóc mỏng manh xuống để che đôi tai. "Tóc cháu bị ướt," cô bé nói. "Trông cháu tệ hơn mọi ngày." Cô bé nhìn tôi. "Cháu có một mái tóc gợn sóng khi nó khô."
"Tôi có thể thấy, tôi có thể thấy là cháu có mái tóc gợn sóng."
"Không thật sự xoăn, mà gợn sóng," cô bé nói, "Chú có vợ chưa?"
Tôi đáp là tôi đã có.
Cô bé gật đầu. "Chú có rất yêu vợ chú hay không? Hay là cháu quá tọc mạch chuyện riêng của chú."
Tôi bảo là tôi sẽ bảo cho cô bé biết khi nào tôi cảm thấy như thế.
Cô bé duỗi hai bàn tay và cổ tay ra xa hơn trên mặt bàn, và tôi nhớ lúc ấy tôi đã muốn nói một điều gì đó về cái đồng hồ có mặt khổng lồ mà cô bé đang đeo - có lẽ là một lời đề nghị cô bé thử đeo nó vòng quanh eo của mình.
"Thường thì cháu không ưa giao du lắm đâu", cô bé nói, và nhìn tôi như để xem tôi có nắm được ý nghĩa của câu nói không. Tôi không tỏ vẻ gì khác lạ. "Cháu chỉ tới với chú vì cháu nghĩ chú trông cực kỳ cô độc. Chú có một khuôn mặt cực kỳ nhạy cảm."
Tôi đáp rằng cô bé nói đúng, rằng tôi đã cảm thấy cô đơn quá đỗi, và rằng tôi đã rất mừng vì cô tới.
"Cháu đang tự tập luyện để có thể cảm thông nhiều hơn. Cô của cháu nói cháu là một người cực kỳ lãnh đạm," cô bé nói, và lại sờ tay lên đầu. "Cháu sống với cô cháu. Cô là một người cực kỳ tốt bụng. Từ khi mẹ cháu mất, cô cháu đã làm mọi việc trong khả năng để cháu và Charles được thoải mái."
"Tôi rất mừng vì điều đó."
"Mẹ cháu là một người cực kỳ thông minh. Rất nhạy cảm, theo nhiều cách". Cô bé nhìn tôi với một vẻ tinh nhanh tươi tắn. "Chú có thấy là cháu lãnh đạm không?"
Tôi bảo rằng tuyệt đối không phải vậy, mà rất trái lại là đằng khác. Tôi nói cho cô bé biết tên tôi và hỏi tên của cô.
Cô bé ngần ngừ. "Tên của cháu là Esmé. Cháu không nghĩ là cháu sẽ cho chú biết đầy đủ họ tên vào lúc này. Cháu có một tước vị và chú có thể sẽ bị ấn tượng vì các tước hiệu. Những người Mỹ thường là vậy, chú biết mà".
Tôi đáp rằng tôi không nghĩ là tôi sẽ như thế, nhưng có thể tạm thời không nói ra tước hiệu cũng là một ý hay.
Ngay khi ấy, tôi cảm thấy hơi thở ấm áp của một ai đó phà lên sau gáy của tôi. Tôi quay lại và suýt chút nữa đã mũi chạm mũi với chú nhóc nhỏ xíu em của Esmé. Không thèm đếm xỉa đến tôi, nó nói với người chị: "Cô Megley bảo chị phải về bàn và uống hết trà của mình đi!" Nói xong, nó lui về phía chiếc ghế giữa tôi và chị nó, ở phía tay phải của tôi. Tôi nhìn nó với cảm giác thích thú. Trông nó thật dễ thương với chiếc quần soóc Shetland màu nâu, chiếc áo nịt len màu xanh biển, chiếc áo sơ mi trắng và sợi dây cà-vạt sọc vằn. Nó nhìn lại tôi với đôi mắt xanh lá nhạt to tướng. "Tại sao những người trong phim lại nghiêng đầu khi hôn?" Nó hỏi.
"Nghiêng đầu khi hôn?" Tôi nói. Ðó chính là vấn đề đã làm tôi nhức đầu thắc mắc hồi còn bé. Tôi bảo rằng tôi đoán là bởi vì chiếc mũi của các diễn viên quá to để có thể hôn lên trán nhau.
"Nó tên là Charles," Esmé nói. "Nó cực kỳ thông minh ở lứa tuổi của nó."
"Cậu bé có một đôi mắt thật là xanh. Ðúng không, Charles?"
Charles đáp lại lời tôi bằng một cái nhìn nghi ngại mà câu hỏi của tôi xứng đáng nhận được, rồi tuột về phía trước trên chiếc ghế cho tới khi cả thân hình nó khuất sau chiếc bàn ngoại trừ cái đầu. "Chúng có màu cam," nó nói bằng một giọng mất tự nhiên, chỉ lên trần nhà. Rồi nó kéo một góc khăn bàn lên che lấy mặt.
"Ðôi lúc nó thật thông minh, đôi lúc lại thật ngốc nghếch," Esmé nói. "Charles, ngồi thẳng lên nào!"
Charles vẫn ngồi y nguyên như trước. Dường như nó đang bận duy trì hơi thở.
"Nó rất nhớ cha của chúng cháu. Cha cháu bị giết chết ở Bắc Phi."
Tôi bày tỏ lòng thương tiếc khi nghe điều đó.
Esmé gật đầu. "Cha cháu rất thương nó.” Cô bé trầm ngâm nhá nhá lớp da ở ngón tay cái. “Nó trông giống mẹ cháu lắm, còn cháu thì lại giống cha." Cô tiếp tục nhá lớp da. “Mẹ cháu là một người rất nồng nhiệt. Mẹ cháu hướng ngoại. Còn cha cháu lại hướng nội. Dù vậy, họ rất hòa hợp nhau, ở bề ngoài. Là người rất bộc trực, Cha thật sự cần một người bạn đời trí thức hơn Mẹ. Cha cháu là một người cực kỳ tài ba.”
Tôi chờ đợi một cách chú tâm để nghe thêm thông tin về chuyện đó, nhưng không có. Tôi nhìn xuống Charles, lúc này nó đang tựa một bên mặt lên chiếc ghế. Khi nhận thấy tôi đang nhìn nó, nó nhắm mắt lại, làm ra vẻ buồn ngủ, làm ra vẻ một thiên thần, rồi thè lưỡi ra.
"Thôi đi," Esmé nói, rõ ràng không lạ lẫm chút nào với các trò quậy của đứa em trai. "Nó trông thấy một người Mỹ làm như thế trong một đám xếp hàng mua cá và khoai, và bây giờ mỗi khi nó chán nó lại làm vậy đó. Ngưng ngay nhé, nếu không chị sẽ mang em lại cho cô Megley."
Charles mở đôi mắt to của nó ra, như để ra dấu rằng nó nghe thấy lời đe doạ của bà chị, rồi lại nhắm mắt, tiếp tục tựa một bên mặt vào lưng ghế.
Tôi nhận xét rằng có lẽ nó nên giữ lại cái vẻ mặt đó – nghĩa là cái kiểu bĩu môi đó – cho tới lúc nó bắt đầu sử dụng tước hiệu của nó thường xuyên. Nghĩa là nếu cả nó cũng có một tước hiệu.
Esmé nhìn tôi với một cái nhìn kéo dài, lãnh đạm. “Chú có một đầu óc khá hài hước đấy nhỉ?” Cô nói, có vẻ bâng khuâng. “Cha bảo cháu không có chút đầu óc hài hước nào hết. Cha bảo cháu chưa được trang bị để tiếp cận với cuộc đời vì cháu không có đầu óc hài hước.”
Tôi vừa ngắm Esmé vừa đốt một điếu thuốc rồi bảo rằng tôi không nghĩ là một đầu óc hài hước lại có công dụng gì trong một tình huống bức thiết thật sự.
“Cha cháu bảo là có.”
Đây là một phát ngôn của niềm tin, không phải là một sự phản đối, và tôi nhanh chóng chuyển đề tài. Tôi gật đầu và nói rằng có lẽ cha cô bé đã nhìn xa trông rộng, còn tôi thì chỉ có tầm nhìn thiển cận (bất kể điều đó có nghĩa gì).
"Charles nhớ cha chúng cháu ghê lắm," Esmé nói, sau một lúc, "Ông là một người đáng yêu lắm. Ông cũng cực kỳ đẹp trai nữa. Vẻ ngoài của một người không phải là chuyện lớn, nhưng ông đẹp trai. Ông có một đôi mắt sắc sảo kinh khủng"
Tôi gật đầu. Tôi bảo tôi có thể hình dung ra cha của cô bé là một người đặc biệt thế nào.
"Ồ, vâng, đúng là như vậy." Esmé nói.
Ngay lúc ấy, tôi cảm thấy một cú đấm nhẹ lên cánh tay tôi từ phía Charles. Tôi quay sang chú bé. Giờ đây, nó ngồi với một tư thế khá đàng hoàng trên ghế, ngoại trừ việc một bên đầu gối của nó co lại. "Bức tường này nói với bức tường kia cái gì?" Nó the thé hỏi. "Ðó là một câu đố."
Tôi xoay cặp mắt ra vẻ suy tư hướng lên trần nhà, lớn tiếng lặp lại câu đố. Rồi tôi nhìn Charles với vẻ ngạc nhiên bối rối và bảo rằng tôi chịu không đoán được.
"Gặp cậu ở góc nhà." Nó hét to.
Lời giải đáp có tác dụng lớn nhất với chính Charles. Nó khoái chí đến mức cười sặc sụa. Thật sự, Esmé phải đi vòng sang và vỗ vào lưng nó như để chữa một cơn ho. “Thôi đi nhé,” cô bé nói rồi trở lại chỗ ngồi. “Nó cứ đố câu đó với mọi người nó gặp và mỗi lần như thế lại bị sặc vì cười. Nó thường bị chảy nước mũi khi cười lớn. Bây giờ thì ngưng đi nhé.”
“Đây là một trong những câu đố hay nhất mà tôi từng nghe.” Tôi đáp, quan sát Charles. Nó đang dần bình thản lại. Để đáp lại lời khen này, nó cố tình chùi người thấp hơn trên chiếc ghế và lại lấy một góc khăn bàn che đi gương mặt chỉ để lộ ra đôi mắt. Rồi nó nhìn tôi với đôi mắt mở to, lóng lánh niềm vui và sự tự hào của một kẻ biết vài câu đố cực kỳ rắc rối.
"Cháu có thể hỏi chú từng làm việc gì trước khi vào quân đội không?" Esmé hỏi tôi.
Tôi đáp rằng tôi chưa từng làm việc cho ai bao giờ, rằng tôi chỉ mới tốt nghiệp đại học được một năm nhưng tôi thích tự xem mình là một nhà văn viết truyện ngắn chuyên nghiệp.
Cô bé gật đầu một cách lịch thiệp rồi hỏi, "Ðã xuất bản chưa ạ?"
Ðó là một câu hỏi quen thuộc nhưng luôn luôn gây tự ái, và là một câu hỏi mà tôi không thể trả lời ngay tắp lự được bao giờ. Tôi giải thích cho cô bé nghe đa số những biên tập viên ở Mỹ đã kết bè kết phái ra sao.
"Cha cháu viết tuyệt lắm," Esmé cắt ngang lời tôi. "Cháu sẽ để dành những lá thư của cha cho các con cháu về sau."
Tôi bảo đó là một ý kiến hay. Tôi lại nhìn vào chiếc đồng hồ có mặt khổng lồ như một máy đo giờ quân sự. Tôi hỏi rằng có phải trước kia nó là của cha cô bé.
Cô bé nghiêm nghị nhìn xuống chiếc đồng hồ. "Vâng ạ." Cô nói. "Cha cho cháu ngay trước lúc cháu và Charles đi di tản." Cô rụt tay khỏi bàn, nói một cách ngượng ngùng, "Cháu sẽ cực kỳ hãnh diện nếu như một ngày nào đó chú viết một truyện ngắn tặng riêng cho cháu. Cháu là một độc giả mê đọc lắm."
Tôi bảo cô bé rằng tôi sẽ viết nếu như có thể. Rằng tôi viết cũng không nhiều nhỏi gì cho lắm.
"Không nhất thiết phải viết thật nhiều đâu chú ạ! Chỉ cần nó đừng quá trẻ con và ngốc nghếch." Cô bé đáp. "Cháu thích những truyện nói về nỗi khốn cùng."
"Về cái gì?" Tôi hỏi, nghiêng người về phía trước.
"Về sự khốn cùng, cháu cực kỳ quan tâm đến sự khốn cùng."
Tôi định đề nghị cô bé nói cặn kẽ chi tiết hơn, nhưng tôi cảm thấy Charles đang véo mạnh vào cánh tay tôi. Tôi quay sang chú bé. Nó đang đứng ngay bên cạnh tôi. "Bức tường này nói với bức tường kia cái gì?" Nó hỏi, một cách thân mật.
"Em đã hỏi câu này rồi," Esmé nói. "Giờ thì thôi đi."
Charles phớt lờ bà chị, dẫm một chân lên chân tôi, nó lặp lại câu đố. Tôi nhận thấy cà-vạt của nó nằm xiên xẹo nên đưa tay chỉnh lại cho ngay ngắn, rồi nhìn vào mắt nó, tôi nói, "Gặp tôi ở góc nhà."
Ngay khoảnh khắc ấy, tôi ước gì tôi đã không trả lời câu đố. Miệng của Charles há hốc ra. Tôi có cảm giác giống như tôi vừa đánh vào miệng nó. Nó bước ra khỏi chân tôi, và với niềm kiêu hãnh còn nóng bỏng, nó bỏ đi về bàn của nó, không thèm ngoái đầu nhìn lại.
"Nó nổi giận rồi," Esmé nói, "Tính cách nó rất hung hăng. Mẹ cháu có xu hướng làm hư nó. Cha cháu là người duy nhất không làm hư nó."
Tôi nhìn sang Charles lúc này đã ngồi xuống và bắt đầu uống trà, bưng cái tách với cả hai tay của nó. Tôi hy vọng là nó sẽ quay lại, nhưng nó không quay lại. Esmé đứng lên. "Il faut que je parle aussi," (Cháu phải chia tay với chú), cô bé nói, với một tiếng thở dài. "Chú có biết tiếng Pháp không?"
Tôi đứng lên khỏi ghế, với một cảm giác vừa tiếc nuối vừa bối rối. Esmé bắt tay tôi; bàn tay cô bé, như tôi đoán, là một bàn tay bồn chồn, ẩm ướt. Tôi bảo với cô bé, bằng tiếng Anh, rằng tôi rất sung sướng được quen biết với cô.
Cô bé gật đầu. "Cháu nghĩ là chú sẽ vui, cháu nói khá nhiều chuyện so với lứa tuổi của cháu. Cô bé lại đưa tay lên kiểm nghiệm mái tóc."Cháu rất tiếc về mái tóc của cháu,"cô bé nói. "Chắc trông cháu xấu xí kinh khủng."
"Không phải vậy đâu. Thật tình, tôi cho là đã có một số chùm tóc bắt đầu gợn sóng trở lại rồi."
Cô bé lại sờ nhanh lên mái tóc. "Chú có nghĩ là chú sẽ quay trở lại đây vào một ngày thật gần không?" Cô bé hỏi. "Chúng cháu tới đây vào mỗi thứ Bảy, sau giờ tập hát."
Tôi đáp rằng tôi không mong muốn gì hơn thế, nhưng không may là tôi chắc chắn sẽ không thể nào tới nữa.
"Nói cách khác là chú không thể bàn luận về những cuộc hành quân?" Esmé nói. Cô không hề rời khỏi bàn. Thật ra, cô đặt chéo một bàn chân lên chân kia, và nhìn xuống, chỉnh lại những ngón chân trong giày. Đó là một cử động nho nhỏ rất ưa nhìn, vì cô mang đôi tất trắng và bàn chân cùng mắt cá chân của cô thật xinh xắn. Rồi ngẩng lên nhìn tôi một cách đột ngột. "Chú có muốn cháu viết thư cho chú không?" Cô bé hỏi, với một chút ửng hồng trên đôi má. “Cháu viết những lá thư cực kỳ trôi chảy cho một người mà…”
"Tôi rất thích." Tôi rút cây bút chì và một mảnh giấy ra, viết tên, cấp bậc và hòm thư của tôi.
"Cháu sẽ viết cho chú trước, để chú không phải bận tâm. Chào chú." Cô nói, cất mảnh giấy vào túi áo rồi quay lại bàn của mình.
Tôi gọi thêm một ấm trà và ngồi ngắm hai đứa bé cho đến khi chúng và cô Migley đứng lên ra về. Charles đi đầu, khập khiễng lê đôi chân như một người chân thấp chân cao. Nó không thèm nhìn tôi. Cô Wigley đi kế tiếp, rồi tới Esmé, cô bé vẫy tay chào tôi. Tôi vẫy chào đáp lại, hơi nhổm người trên ghế. Ðó là một khoảnh khắc xúc động lạ lùng đối với tôi.
Không đầy một phút sau, Esmé quay lại quán, kéo theo Charles ở phía sau. “Charles muốn hôn tạm biệt chú,” cô nói.
Tôi đặt ngay ly xuống và bảo rằng điều đó rất tuyệt, nhưng cô bé có chắc không?
“Vâng,” cô đáp khá dứt khoát. Cô buông ống tay áo của Charles rồi đẩy mạnh nó về phía tôi. Nó bước tới, gương mặt tím bầm, và hôn tôi một cái thật kêu ngay phía sau tai phải. Sau thử thách này, nó đi thẳng tới cửa với vẻ phớt lờ, nhưng tôi nắm lấy tay áo nó giữ chặt và hỏi nó, “Bức tường này nói với bức tường kia cái gì?”
Mặt nó sáng lên. “Gặp cậu ở góc nhà!” Nó kêu lên và chạy ào ra khỏi phòng, có lẽ lại phát cuồng lên.
Esmé lại đứng tréo chân. “Chú có chắc là chú không quên viết câu chuyện đó cho cháu chứ?” Cô hỏi. “Không nhất thiết phải dành riêng nó cho cháu. Nó có thể…”
Tôi bảo rằng tuyệt đối không có chuyện tôi quên. Rằng tôi chưa bao giờ viết một truyện ngắn cho bất kỳ ai, nhưng dường như đã đến lúc phải làm điều đó rồi.
Cô bé gật đầu. “Hãy viết một câu chuyện cực kỳ khốn quẫn và cảm động nhé chú,” cô đề nghị. “Chú có quen thuộc với nỗi khốn quẫn không?”
Tôi bảo không hẳn thế nhưng tôi đang trở nên quen thuộc hơn với nó, dưới hình thức này hay hình thức khác, trong mọi lúc, rằng tôi sẽ làm hết hết sức để đáp ứng những mong muốn của cô. Chúng tôi bắt tay.
“Có đáng tiếc không nếu chúng ta đã không gặp nhau ở những hoàn cảnh tốt hơn?” Cô bé hỏi.
Tôi đáp rằng có, tôi bảo chắc chắn là thế.
“Chào chú,” Esmé nói. “Cháu mong chú quay về từ cuộc chiến với mọi tính năng còn nguyên vẹn.”
Tôi cám ơn, nói thêm vài lời với cô, rồi nhìn cô rời khỏi quán. Cô chậm chạp đi ra, trầm ngâm, tay sờ lên đuôi tóc.
° ° °
Ðây là phần khốn khổ, hoặc thương tâm, của câu chuyện, trong đó các bối cảnh đã đổi thay. Nhân vật cũng đổi thay. Tôi vẫn còn đâu đó, nhưng từ đoạn này trở đi, vì một số lý do, tôi sẽ tự ngụy trang một cách gian xảo đến nỗi ngay cả một độc giả thông minh nhất cũng sẽ không nhận ra tôi.
Ðó là vào khoảng mười giờ ba mươi phút đêm ở Gaufurt, Bavaria, nhiều tuần sau Ngày V-E . Viên trung sĩ tham mưu X đang ở trong phòng của anh trên tầng hai của một tòa nhà dân sự trong đó anh và chín người lính Mỹ khác trú đóng từ trước ngày đình chiến. Anh ngồi trên một chiếc ghế dạ trước một cái bàn viết nhỏ trông rất bừa bộn, với một quyển tiểu thuyết nước ngoài mở ra trước mặt mà anh đang đọc một cách rất khó khăn. Rắc rối là ở anh chứ không phải ở cuốn truyện. Dù những người ở tầng trệt thường vớ được trước tiên những cuốn sách mà ban Dịch vụ Đặc biệt gửi tới, dường như X  thường nhận được cuốn truyện mà có thể anh sẽ tự mình chọn lấy. Nhưng anh không phải là một chàng trai trải qua cuộc chiến với tất cả những tính năng còn nguyên vẹn, suốt hơn một giờ qua anh chỉ đọc được vài ba đoạn, và lúc này anh chỉ đọc được vài ba câu. Anh đột ngột gấp quyển sách lại, không buồn đánh dấu trang. Anh đưa tay lên che mắt khỏi ánh sáng nóng rực chói chang của cái bóng đèn để trần đặt trên bàn.
Anh rút một điếu thuốc từ gói thuốc đặt trên bàn và châm lửa với những ngón tay đang lẩy bẩy chạm vào nhau. Anh ngồi lại xuống ghế và hút mà không có cảm giác mùi vị gì. Anh đã hút hết điếu nọ sang điếu kia suốt nhiều tuần. Những nướu răng của anh rỉ máu với sức ép nhẹ nhất của đầu lưỡi, và anh ít khi ngưng cử động này lại; đó là một trò chơi nho nhỏ mà anh tiến hành, đôi khi suốt nhiều giờ. Anh ngồi hút thuốc và lấy đầu lưỡi ép lên nướu răng một lúc. Rồi đột nhiên, một cách quen thuộc và như thường lệ, không có một dấu hiệu gì báo trước, anh cảm thấy tâm trí của mình lạc đi đâu mất, chênh vênh không điểm tựa, như một gói hành lý không an toàn trên một đường tàu. Anh vội thực hiện một điều mà anh đã làm trong những tuần qua để lấy lại cân bằng; anh xát mạnh hai bàn tay lên thái dương mình. Anh giữ chặt tay ở đó một lúc. Tóc anh cần được cắt và quá bẩn. Anh có gội đầu ba hay bốn lần gì đó trong hai tuần sống trong bệnh viện ở Franfort, nhưng nó lại bị dơ trong chuyến trở lại Gaufurt trên chiếc xe jeep và con đường đầy bụi. Hạ sỹ Z, người đã đón anh ở bệnh viện, vẫn còn lái một chiếc xe jeep kiểu chiến đấu có cái kính chắn gió chạy xuống từ mui xe, dù có đình chiến hay không đình chiến. Có tới mấy ngàn tân binh ở Đức. Với việc lái chiến xe jeep kiểu chiến đấu này, hạ sỹ Z hy vọng chứng tỏ được anh ta không phải là một người trong số họ, rằng anh ta không khi nào là một gã tân binh chó chết nào đó trong đội quân E.T.O.   
Khi đầu óc bớt choáng váng, X bắt đầu nhìn chằm chặp lên mặt bàn. Ít nhất có hai tá thư và sáu gói hàng chưa mở, tất cả đều gửi tới cho anh. Anh với tay ra sau đống đó nhặt lên một cuốn sách dựa vào tường. Đó là một tác phẩm của Goebbels có tựa đề là “Die Zeit Ohne Beispiel.” Nó thuộc về cô con gái ba mươi tám tuổi chưa chồng của cái gia đình mà mấy tuần trước đã sống trong ngôi nhà này. Cô ta là một quan chức cấp thấp trong đảng Phát xít, nhưng cũng đủ cao, theo quy định quân đội, để lọt vào loại tự động bắt giữ. Chính X đã bắt giữ cô ta. Lúc này, lần thứ ba kể từ khi anh quay lại từ bệnh viện hôm đó, anh mở cuốn sách của người phụ nữ đó ra và đọc lời đề tặng ngắn ngủi trên trang để trắng đầu sách. Những từ Đức nhỏ, chân thành đến tuyệt vọng được viết tay bằng mực như sau: “Thượng đế thân yêu, cuộc sống là địa ngục”. Không có gì dẫn dắt hay thêm thắt cho nó hết. Lẻ loi trên trang giấy và trong sự tĩnh lặng muốn bệnh của căn phòng, những từ này có vẻ như mang tầm vóc của một bản cáo trạng không thể bàn cãi, thậm chí cổ điển. X nhìn chòng chọc vào trang giấy nhiều phút, cố gắng cưỡng lại nó. Rồi, với nhiệt tâm hơn hẳn bất kỳ điều gì anh đã làm trong mấy tuần qua, anh cầm lên một cây bút chì rồi viết bên dưới lời đề tặng, bằng tiếng Anh: “Hỡi những người cha và những người thầy, tôi tự hỏi ‘Địa ngục là gì?’ Tôi cho rằng nó chính là nỗi thống khổ của sự không có khả năng thương yêu.” Anh bắt đầu viết tên của Dostoievski bên dưới lời đề tặng, nhưng nhận thấy – với nỗi sợ hãi chạy dọc khắp thân người – rằng những gì anh đã viết hầu như hoàn toàn không thể đọc được. Anh khép quyển sách lại.
Anh nhanh chóng nhặt lấy một thứ khác trên bàn, một lá thư của anh trai anh ở Albany. Nó đã nằm trên bàn ngay từ trước lúc anh nhập viện. Anh mở phong bì ra, quyết định sẽ đọc hết lá thư, nhưng chỉ đọc nửa phần trên của trang thứ nhất. Anh dừng lại ở đoạn: “Bây giờ cuộc chiến tranh chết tiệt đã kết thúc và có lẽ em sẽ có khá nhiều thời gian ở đó, hãy nghĩ tới chuyện gửi cho bọn nhóc một cặp lưỡi lê hay những chữ thập ngoặc…” Sau khi xé lá thư, anh nhìn những mảnh vụn trong giỏ rác. Anh thấy rằng anh đã bỏ qua một tấm ảnh chụp nhanh gửi kèm theo. Anh có thể nhìn thấy bàn chân của một người nào đó đang đứng trên một bãi cỏ ở một nơi nào đó.
Anh đặt hai cánh tay lên bàn rồi tựa đầu lên trên để nghỉ. Anh đau từ đầu tới chân, mọi cõi miền của cơn đau dường như tương thuộc với nhau. Anh giống như một cây thông Giáng sinh mà tất cả những bóng đèn, những chùm dây điện của nó đều phải tắt ngóm ngay cả khi chỉ một bóng đèn có thiếu sót.
Cánh cửa phòng mở bung ra mà chẳng có một tiếng gõ nào. X ngẩng đầu, quay lại, và trông thấy hạ sỹ Z đang đứng ở cửa. hạ sỹ Z là người đi chung chiếc jeep và là đồng hành thường trực của X từ Ngày D, trải qua suốt năm chiến dịch của cuộc chiến. Anh ta sống ở tầng một và thường lên thăm X khi có một vài tin tức hay lời phàn nàn cần được xả ra nào đó. Anh ta là một thanh niên hai mươi bốn tuổi to con ăn ảnh. Trong chiến tranh, một tạp chí quốc gia đã chụp ảnh anh ta ở rừng Hurtgen; anh ta đứng, hai tay xách hai con gà tây cho lễ Tạ ơn. “Anh đang viết thư hả?” Anh ta hỏi X. “Lạy Chúa, ở đây ma quái quá.” Anh ta luôn thích bước vào một căn phòng có đèn sáng trên đầu.
X xoay người trên ghế, bảo anh ta bước vào trong, và hãy cẩn thận kẻo dẫm lên con chó.
“Cái gì?”
“Con Alvin. Nó nằm ngay dưới chân cậu đó, Clay. Mở cái bóng đèn chết tiệt trên trần nhà lên giùm nhé?”
Clay tìm ra công tắc ngọn đèn trên trần, bật lên, rồi băng qua căn phòng nhỏ hẹp, tới ngồi lên cạnh giường, đối diện với chủ phòng. Mái tóc đỏ gạch vừa mới chải của anh ta được dấp nước khá nhiều. Một cây lược và một cây bút bi ló ra, một cách quen thuộc, từ túi áo sơ mi màu ô-liu bên phải. Trên túi áo trái anh ta đeo phù hiệu Bộ binh chiến đấu (về mặt kỹ thuật, anh ta không được phép đeo), cuống huy hiệu Nhà hát châu Âu, trên có năm ngôi sao đồng (thay vì chỉ một ngôi sao bạc, tương được với năm ngôi sao đồng) và cuống huy hiệu phục vụ thời kỳ tiền Trân Châu Cảng. Anh ta thở dài và nói, “Đức Chúa toàn năng.” Câu đó chẳng có ý nghĩa gì cả; Đây là Quân đội. Anh ta móc gói thuốc từ túi áo ra, rút một điếu, nhét lại gói thuốc vào túi và cài nắp túi lại. Vừa rít thuốc, anh ta vừa lơ đãng nhìn quanh phòng. Cuối cùng tia mắt của anh ta dừng lại trên cái radio. “Nè,” anh ta nói, “vài phút nữa sẽ có chương trình radio hay kinh khủng. Bob Hope và mọi người.”   
X mở một gói thuốc, bảo rằng anh vừa mới tắt radio.
Clay quan sát X đang cố châm điếu thuốc. "Chúa ơi," anh ta nói, với sự nhiệt tình của một khán giả, "anh phải nhìn lại đôi bàn tay của anh kìa. Bạn ơi, tay anh run quá. Anh có biết không?"
X đã đốt cháy điếu thuốc, gật đầu, và bảo rằng Clay đúng là có một con mắt quan sát tinh tường.
“Nè, không đùa đâu. Tôi đã suýt ngất khi trông thấy anh ở bệnh viện. Trông anh cứ như một cái thây ma. Anh sụt bao nhiêu cân? Anh có biết không?’
“Tôi không biết. Khi tôi đi khỏi cậu có thư từ gì không? Có tin gì của Loretta không?”
Loretta là người yêu của Clay. Họ dự tính sẽ cưới nhau vào dịp thuận tiện sớm nhất. Cô viết thư cho anh ta khá thường xuyên. Trong suốt cuộc chiến, Clay đã đọc lớn những lá thư của Loretta cho X nghe, dù chúng có thân mật tới cỡ nào – trên thực tế, càng thân mật thì càng tốt. Anh ta có thói quen là sau mỗi lần đọc lại đề nghị X phác thảo hay góp ý cho lá thư hồi âm, hay đệm thêm vào đó một vài từ ấn tượng bằng tiếng Pháp hay tiếng Đức.
“Vâng, hôm qua tôi vừa nhận thư cô ấy. Ở dưới phòng tôi. Sẽ đưa cho anh đọc sau,” Clay nói. Anh ta ngồi thẳng trên cạnh giường, nén hơi thở lại, rồi phát ra một tiếng ợ dài vang dội. Có vẻ như chỉ hài lòng nửa phần với thành quả đó, anh ta cố thử thêm lần nữa. “Thằng anh chết tiệt của cô ấy sẽ rời khỏi hải quân vì cái hông,” anh ta nói. “Anh ta bị ở hông, gã khốn kiếp đó.” Anh ta vươn thẳng người lên và cố ợ thêm lần nữa, nhưng chỉ đạt kết quả dưới mức trung bình. Một nét cảnh giác xuất hiện trên mặt anh ta.”Nè, tôi phải nói ngay kẻo quên mất. Mai chúng ta phải dậy lúc năm giờ để tới Hamburg hay đâu đó. Để nhận những cái áo khoác Eisenhower cho toàn đội.”
X nhìn anh ta một cách oán ghét, bảo rằng anh không muốn có một cái áo khoác Eisenhower nào hết.
Clay có vẻ ngạc nhiên, gần như bị tổn thương chút ít. “Ồ, chúng tốt mà! Trông chúng rất khá. Vì sao thế?”
“Không vì sao hết. Tại sao chúng ta phải thức dậy lúc năm giờ?  Chiến tranh đã qua, vì Thượng đế.”
“Tôi không biết… chúng ta phải quay về trước bữa trưa. Họ có một vài mẫu đơn mới mà chúng ta phải điền vào trước giờ ăn trưa… Tôi đã hỏi Bulling vì sao chúng ta không thể điền vào chúng ngay đêm nay… hắn đặt mấy mẫu đơn mới ngay trên bàn hắn. Hắn chưa muốn mở những cái phong bì ra, tên chó đẻ đó.”
Cả hai ngồi im lặng trong giây lát, cùng căm ghét Bulling. Clay đột nhiên nhìn X với một cái nhìn mới mẻ, chăm chú hơn lúc nãy. "Nè," anh ta nói. "Anh có biết một bên mặt anh đang co giật lung tung không?"
X đáp rằng anh biết hết, rồi giơ bàn tay che chỗ co giật lại.
Clay nhìn anh đăm đăm một lúc rồi nói, khá mạnh mẽ, như thể anh ta là người mang tới những tin tức đặc biệt hay ho, “Tôi đã viết cho Loretta biết anh bị suy nhược thần kinh.”
“Vậy hả?”
“Phải. Cô ấy khoái cái thứ đó chết được. Cô ấy học khoa tâm lý mà.” Clay nằm duỗi dài ra trên giường, chân vẫn mang giày. “Anh biết cô ấy nói gì không? Cô ấy bảo không có ai bị suy nhược thần kinh chỉ vì chiến tranh các thứ. Cô ấy bảo có lẽ anh là dạng người không ổn định, toàn bộ cái cuộc đời chết tiệt của anh.”
X xòe tay che mắt – ánh sáng bên trên dường như làm mắt anh lòa đi – và nói rằng nhận thức của Lorrreta về các sự vật luôn luôn là một niềm vui thú.
Clay đưa mắt nhìn anh. “Nghe này, đồ khốn,” anh ta nói. “Cô ấy hiểu biết sâu sắc về tâm lý học hơn anh nhiều.”
“Cậu có thể nhấc đôi chân thúi của cậu ra khỏi giường tôi không?” X hỏi.
Clay vẫn để yên đôi chân ở chỗ cũ trong vài giây rồi buông chúng xuống sàn nhà và ngồi dậy. “Dù sao tôi cũng sẽ đi xuống dưới. Ở phòng Walker có radio.” Tuy nhiên, anh ta vẫn không rời khỏi giường. “Nè, tôi vừa kể cho thằng chó đẻ Bernstern mới tới ở dưới nghe. Có nhớ cái lần tôi và anh lái xe tới Valogne và chúng ta phải tìm chỗ nấp khoảng hai tiếng, và cái con mèo chết tiệt mà tôi đã bắn khi nó nhảy lên mui chiếc jeep trong lúc chúng ta đang nằm trong cái hố đó? Nhớ không?  
“Nhớ, đừng bắt đầu câu chuyện về con mèo đó thêm lần nữa, Clay. Mẹ kiếp. Tôi không muốn nghe chuyện đó.”
“Không đâu, ý tôi chỉ là tôi đã kể cho Lorreta về nó. Cô ấy và cả lớp tâm lý đã thảo luận về nó. Trong lớp học các thứ. Với ông giáo sư chết tiệt và mọi người.”
“Tốt. Tôi không muốn nghe chuyện đó, Clay.”
“Không, Loretta bảo anh có biết lý do tôi bắn con mèo đó không? Cô ấy nói tôi đã mất trí tạm thời. Không đùa đâu. Nằm nấp trong hố các thứ.”
X lại xòe mấy ngón tay cào lên mái tóc bẩn, rồi lại đưa tay che mắt khỏi ánh đèn. “Cậu không mất trí. Cậu chỉ làm nhiệm vụ của mình. Cậu giết con mèo nhép đó một cách đàn ông như bất kỳ người nào phải hành động trong những tình huống đó.”
Clay nhìn anh ngờ vực. “Anh đang nói cái quái quỷ gì thế?’
“Con mèo đó là một tên gián điệp. Cậu phải bắn nó. Nó là một tên Đức lùn rất thông minh mặc một chiếc áo choàng lông rẻ tiền. Vì thế tuyệt đối không có gì là tàn bạo, độc ác hay bẩn thỉu, hay thậm chí…”
“Mẹ kiếp!” Clay nói, đôi môi mím lại. “Anh không thể chân thành được hay sao?”
X chợt cảm thấy buồn nôn, anh lắc lư người trên chiếc ghế rồi chộp lấy chiếc giỏ đựng rác - vừa kịp lúc. Khi anh ngồi thẳng lên và quay sang người khách trở lại, anh bắt gặp anh ta đang đứng với vẻ lúng túng ở chỗ giữa chiếc giường và cửa ra vào. X tính xin lỗi, nhưng thay đổi ý định và cầm lấy điếu thuốc.
“Tôi xuống dưới nghe chương trình của Hope trên radio đây,” Clay nói, giữ khoảng cách nhưng cố tỏ ra thân thiện. “Như vậy tốt cho anh hơn. Ý tôi là vậy.”
“Cứ đi đi, Clay… Tôi sẽ xem bộ sưu tập tem của tôi.”
“Hả? Anh có một bộ sưu tập tem? Tôi không biết anh…”
“Chỉ nói đùa thôi.”
Clay chậm rãi bước thêm vài bước về phía cửa. “Có thể chút nữa tôi sẽ lái xe xuống Ehstadt," anh ta nói. "Họ tổ chức khiêu vũ. Có thể sẽ kéo dài đến hai giờ sáng. Anh đi không?"
"Không, cám ơn... Tôi có thể tập vài bước trong phòng."
"Thôi được, xin chào! Bây giờ thì, vì Chúa, hãy thoải mái đi." Cánh cửa đóng xập lại, rồi lại được mở ra ngay lập tức, và Clay nói: "Nè. Tôi đặt lá thư gửi cho Lorreta dưới chỗ cửa của anh được không? Tôi có viết mấy chữ Đức trong đó. Làm ơn sửa chúng giùm tôi nhé?”
“Ừ. Bây giờ hãy để cho tôi yên, mẹ kiếp.”
“Tất nhiên,” Clay nói. “Anh có biết mẹ tôi viết gì cho tôi không? Bà viết rằng bà rất vui mừng vì anh và tôi ở chung với nhau trong cuộc chiến. Chung một chiếc xe jeep các thứ. Bà bảo mấy lá thư của tôi có vẻ văn hoa hơn từ lúc chúng ta ở gần nhau."
X ngẩng lên nhìn anh ta, rồi nói, với một nỗ lực to lớn, "Cám ơn. Gửi lời cám ơn bác ấy giùm tôi."
"Tôi sẽ nói. Xin chào." Cánh cửa đóng lại, lần này thì đóng hẳn.
X ngồi nhìn vào cánh cửa ra vào một hồi lâu, rồi quay chiếc ghế sang phía bàn viết, nhấc chiếc máy đánh chữ xách tay nằm dưới sàn nhà lên. Anh dọn chỗ để đặt nó lên bàn, gạt sang bên đống thư từ chưa mở và những gói bưu kiện. Anh nghĩ nếu anh viết một lá thư cho một người bạn cũ ở New York, có lẽ anh sẽ cảm thấy dễ chịu hơn, nhưng anh không thể đút tờ giấy vào cái trục cuốn của máy đánh chữ, những ngón tay của anh lúc này đang run rất mạnh. Anh đặt hai tay xuống hông một lúc, rồi thử lại, nhưng cuối cùng vò nát tờ giấy trong tay.
Anh nhận thức rằng anh phải mang chiếc giỏ đựng rác ra khỏi phòng, nhưng thay vì làm việc đó, anh đặt hai cánh tay lên chiếc máy đánh chữ và tựa đầu lên đó, nhắm đôi mắt lại.
Một vài phút sau, khi mở mắt ra, anh thấy mình đang nhìn vào một một gói bưu kiện nhỏ chưa mở, màu xanh. Có lẽ nó đã trượt khỏi đống thư từ khi anh dọn chỗ cho chiếc máy đánh chữ. Anh nhận thấy nó đã được gửi đi gửi lại nhiều lần. Anh có thể thấy, từ một phía của gói bưu phẩm, ít nhất có ba dòng ghi hòm thư cũ của anh.
Anh mở gói bưu phẩm ra một cách thờ ơ, thậm chí không nhìn vào địa chỉ của người gửi tới. Anh đốt một que diêm rồi đốt sợi dây ràng. Anh thích việc nhìn sợi dây bốc cháy hơn là việc mở cái gói đó, nhưng cuối cùng anh cũng mở nó ra.
Phía trong chiếc hộp, có một lá thư viết bằng mực, nằm bên trên một gói nhỏ được bao lại bằng giấy lụa. Anh cầm tờ ghi chú lên và đọc.
17 Ðường_______ , Devon, ngày 7/6/1944
Trung sỹ X thân mến,
Cháu hy vọng chú sẽ tha lỗi cho cháu vì đã để đến 38 ngày mới bắt đầu việc thư từ liên lạc với chú, nhưng cháu đã vô cùng bận rộn vì cô cháu bị viêm họng suýt chết và cháu phải gánh vác hết mọi trách nhiệm. Tuy nhiên, cháu thường nghĩ đến chú và đến buổi chiều cực kỳ thú vị mà chúng ta đã trải qua cùng nhau, vào ngày 30/4/1944, khoảng giữa 3:45 và 4:15, trong trường hợp chú đã quên khuấy ngày giờ.
Tất cả mọi người chúng cháu rất xúc động và tôn trọng Ngày D và chỉ hy vọng rằng nó sẽ mang lại một kết thúc nhanh chóng cho cuộc chiến và một phương thức tồn tại phải nói là  thật lố lăng. Cả Charles lẫn cháu đều quan tâm tới chú; chúng cháu hy vọng chú không nằm trong số những người tấn công đầu tiên lên bán đảo Cotentin. Chú có nằm trong số đó không? Xin trả lời cho cháu càng nhanh càng tốt. Gửi lời thăm nồng ấm nhất đến vợ của chú.
Thân ái, Esmé
Tái bút:
Cháu muốn giành quyền tự do định đoạt và gửi kèm theo đây chiếc đồng hồ mà chú có thể giữ làm sở hữu trong thời gian chinh chiến. Cháu không để ý xem chú có đeo cái đồng hồ nào trong cuộc trò chuyện ngắn ngủi của chúng ta hay không, nhưng cái đồng hồ này chống thấm và chống va đập cực kỳ tốt, cũng như có nhiều phầm chất khác mà một trong số đó là người ta có thể biết tốc độ đi bộ của mình nếu muốn. Cháu chắc rằng chú sẽ cần dùng nó trong những ngày khó khăn này hơn là cháu, và chú sẽ nhận nó như là một món quà phù trợ nhiều may mắn.
Charles, người mà cháu đang dạy đọc, viết và người mà cháu nhận thấy là một chú bé cực kỳ thông minh muốn viết thêm vài chữ. Xin vui lòng viết ngay khi chú có thời gian và hứng thú.
XIN CHÀO XIN CHÀO XIN CHÀO XIN CHÀO XIN CHÀO XIN CHÀO XIN CHÀO XIN CHÀO YÊU VÀ HÔN CHÚ
CHARLES
Một lúc thật lâu sau X mới có thể đặt lá thư sang bên, lấy chiếc đồng hồ của cha Esmé ra khỏi hộp. Khi nó đã hoàn toàn rời khỏi chiếc hộp, anh thấy rằng mặt kính của nó đã bị vỡ. Anh tự hỏi không biết nó còn bị hư hỏng gì khác nữa không, nhưng anh không có đủ can đảm để lên giây cót và tìm hiểu thêm. Anh chỉ ngồi đó, cầm nó trên tay trong một lúc lâu. Rồi đột nhiên anh cảm thấy buồn ngủ.
Cháu đã gặp một gã sầu héo, ngáy ngủ, Esmé, và hắn ta luôn luôn tìm một cơ may để lại có thể trở thành một con người với tất cả các t-í-n-h n-ă-n-g còn nguyên vẹn.
(Từ The New Yorker,  8/4/1950, trang 28-36)
Chú thích:
(*) Jerome David Salinger (sinh ngày 1-1-1919), nhà văn Mỹ, tác phẩm nổi tiếng nhất: Bắt trẻ đồng xanh (The Catcher in the Rye). Cho Esmé-với tình yêu và nỗi khốn cùng (For Esmé - with Love and Squalor) là một trong những truyện ngắn được yêu thích nhất của ông. 
7/7/2009
Jerome David Salinger
Nguyễn Thành Nhân dịch
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Một ngày như mọi ngày

Một ngày như mọi ngày X in vội vàng thưa ngay: Đây là một ngày của một ông già Việt Nam trên xứ Mỹ, một người đang dè dặt đặt những "...