Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2022
Về sự thờ sáchXXXXX
Về sự thờ sách
Trong sách VIII của sử thi Odyssey, chúng ta đọc rằng thần
linh đan dệt các bất hạnh để những thế hệ tương lai có cái gì mà hát về;
Mallarmé phát biểu, “Thế giới hiện hữu để kết thúc vào một cuốn sách”, dường
như lập lại, khoảng 30 thế ki về sau, cũng một quan niệm về một sự biện minh mĩ
học cho những điều ác. Hai viễn đích luận này, tuy thế, không hoàn toàn trùng
khít; cái trước thuộc về một thời đại của lời nói, và cái sau về một thời đại của
chữ viết. Một cái nói về kể truyện và cái kia nói về sách. Một cuốn sách, bất
ki sách nào, đối với chúng ta là một vật thiêng: Cervantes, chắc hẳn không lắng
nghe mọi điều mà mọi người nói, đọc ngay cả “những mẩu giấy tả tơi trên đường
sá”. Lửa, trong một hài kịch của Bernard Shaw, đe dọa thư viện ở Alexandria;
ai đó la lên là kí ức của loài người sẽ cháy mất, và Caesar đáp lại “Một kí ức
ô nhục. Cứ để nó cháy”. Caesar của lịch sử, trong thiển kiến, có thể tán đồng
hoặc lên án cái lệnh mà tác gia gán cho ông ta, nhưng ông ắt hẳn không coi nó,
như chúng ta, là một trò đùa phạm thánh. Lí do minh bạch : với người xưa chữ viết
chẳng là gì hơn một sự thay thế cho lời nói.
Người ta biết rõ là Pythagoras không viết;
Gomperz (Griechische Denker [Những nhà tư tưởng Hi Lạp] I, 3) cho rằng ấy
là bởi ông ta tin tưởng hơn vào những đức tính của sự dạy dỗ bằng lời. Quyết liệt
hơn sự kiêng bỏ đơn thuần của Pythagoras là chứng ngôn một mực của Plato.
Trong Timaeus ông phát biểu : “Gian nan là công việc khám phá ra kẻ tạo
tác và là cha của vũ trụ này, và đã khám phá ra ông rồi, không thể nói điều đó
cho mọi người”; và trong Phaedrus ông kể lại một ngụ ngôn Ai Cập chống
chữ viết (thực hành nó khiến cho người ta lơ là việc hành xử kí ức và lệ thuộc
vào biểu tượng), và nói rằng giống như hình tượng sơn vẽ “dường như sống động,
nhưng không trả lời một tiếng cho những câu hỏi người ta đặt ra”. Để giảm bớt
hoặc loại trừ khó khăn đó, ông sáng tạo đối thoại triết học. Một vị thầy kén chọn
một đệ tử, nhưng một cuốn sách không kén chọn độc giả của nó, họ có thể ác độc
hoặc ngu xuẩn; sự không tin kiểu Plato này đeo đẳng trong lời của Clement ở
Alexandria, một người thuộc văn hóa phiếm thần : “Đường lối thận trọng nhất là
không viết nhưng học và dạy bằng lời truyền miệng, bởi vì cái gì viết ra thì
còn đó” (Stromateis), và trong cùng luận thuyết đó : “Viết mọi điều
trong một cuốn sách là đặt một lưỡi gươm vào tay một đứa trẻ”, phái sinh từ Phúc
âm “chớ cho chó đồ thiêng, cũng đừng ném ngọc châu cho heo, e rằng chúng lấy
chân giày đạp, quay lại và xé nát các ngươi”. Câu ấy là từ Jesus, kẻ vĩ đại nhất
trong các vị thầy truyền miệng, kẻ duy nhất có lần viết vài từ trên mặt đất, và
chẳng ai đọc cái Ngài đã viết (Phúc âm John, ch. 8, câu 6).
Clement ở Alexandria viết về sự bất tín vào
chữ viết lúc cuối thế kỉ thứ 2; cuối thế kỉ thứ 4 thấy sự khởi đầu của tiến
trình tâm thần mà tột đỉnh, sau nhiều thế hệ, sẽ đưa tới sự thống ngự của chữ
viết trên lời nói, của cây bút trên tiếng nói. Một vận may đáng kể xác định rằng
một nhà văn thiết lập được khoảnh khắc chính xác (và tôi không đang cường điệu
đâu) khi tiến trình rộng lớn này khởi đầu. Thánh Augustine kể lại trong Quyển 6
của Tự bạch (Confessions) :
“Khi ông [Ambrose] đang đọc, đôi mắt ông chạy qua trang sách
và tâm ông nhận biết được nghĩa, nhưng tiếng nói và cái lưỡi của ông im lặng.
Ông không hạn chế tiếp cận với bất cứ ai vào phòng, cũng chẳng có đến cả thông
lệ báo danh một người khách. Rất thường khi chúng tôi ở đó, chúng tôi thấy ông
đọc thầm lặng và chẳng bao giờ cách khác. Sau khi ngồi im lặng một hồi lâu (bởi
ai mà dám bắt ông gánh thêm khi đang chuyên chú tập trung như thế ?) chúng tôi
thường đi ra. Chúng tôi cho rằng trong cái om sòm của những rắc rối của kẻ
khác, ông hẳn không muốn bị mời cứu xét một vấn đề nữa. Chúng tôi tự hỏi không
biết ông đọc thầm lặng chắc hẳn để tự vệ kẻo lỡ có một ai đó nghe quan tâm và
hăm hở vào sự vụ, rồi ông lại phải giảng giải văn bản đang đọc nếu nó có chứa
khó khăn, hoặc kẻ kia có thể muốn tranh luận một số vấn đề khúc mắc. Nếu thời
gian của ông bị tiêu phí theo cách đó, ông sẽ thông qua được ít sách
hơn là ông ao ước. Ngoài ra, nhu cầu bảo tồn giọng nói, thường dễ bị khan tiếng,
cũng có thể là một lí do rất hay để đọc thầm. Bất kể ông có thời gian này do động
cơ gì, con người này có lí do tốt để làm như vậy”.
Thánh Augustine là một môn đệ của thánh
Ambrose, giám mục địa phận Milan, khoảng năm 384; sau đó 13 năm, ở Numidia, ông
viết tác phẩm Tự bạch và vẫn còn thắc mắc về cảnh tượng phi thường
kia : một người trong phòng, với một cuốn sách, đọc và không nói lên thành lời.*
Sự con người thông qua trực tiếp từ kí hiệu
viết đến trực nhận, bỏ qua âm thanh; nghệ thuật ki lạ con người khởi xướng, nghệ
thuật đọc thầm, sẽ dẫn tới những hậu quả ki diệu. Nó sẽ dẫn, nhiều năm về sau,
đến quan niệm quyển sách như một cứu cánh tự thân, chứ không phải một phương tiện
cho một cứu cánh. (Quan niệm huyền học này, chuyển sang văn học thế tục, rồi ra
sẽ sản sinh những định mệnh độc đáo của Flaubert, và Mallarmé, của Henry James
và James Joyce). Chồng lên ý niệm về một Thượng đế nói với con người
để ra lệnh cho họ làm gì hoặc cấm họ làm gì là ý niệm về Quyển Sách Tuyệt đối,
về một Thánh thư. Với người Hồi giáo, cuốn Koran (cũng gọi là “Quyển
sách”, tức al-Kitab) không chỉ là một tác phẩm của Thượng đế, giống như
linh hồn của con người hoặc vũ trụ; nó là một trong những thuộc tính của Thượng
đế, giống như sự vĩnh hằng của Ngài hoặc sự thịnh nộ của Ngài. Trong chương 13
chúng ta đọc rằng văn bản nguyên ủy, Mẹ của Quyển sách, được ki thác trên Trời.
Muhammad al-Ghazali, vị Algazel của những nhà kinh viện, tuyên bố : “Kinh Koran
được chép trong một cuốn sách, được phát âm bằng lưỡi, được nhớ trong tâm và,
dù vậy, vẫn tồn tại tại trung tâm của Thượng đế và không bị biến cải bằng sự nó
thông qua các trang viết và sự hiểu biết của con người ? George Sale nhận xét rằng
kinh Koran không tạo dựng này chẳng là gì khác hơn ý tượng của nó hoặc nguyên
hình kiểu Plato của nó (its idea or Platonic archetype); chắc hẳn
al-Ghazali sử dụng ý tưởng về nguyên hình, truyền thông qua Hồi giáo do
Bách khoa thư của Huynh đệ Thanh tịnh (Eucyclopedia of the Brethen of Purity) và
do Avicenna, để biện minh cho quan niệm về Mẹ của Quyển sách.
Còn quá độ hơn cả người Hồi giáo là người
Do thái, chương đầu tiên trong Thánh kinh Do thái chứa câu nổi tiếng : “Và thượng
đế nói, “Hãy có ánh sáng” và thế là có ánh sáng”; những nhà huyền học Kabbala
tranh luận rằng hiệu năng lời phán đó từ Thượng đế tới từ các chữ cái của các từ.
Cuốn Sepher Yetzirah (Sách về Hình thành), được viết ở Syria hoặc
Palestine vào khoảng thế ki thứ 6, khải lộ Jehovah của các Đạo quân, Thượng đế
của Israel và Thượng đế Toàn năng, đã sáng tạo vũ trụ bằng phương tiện là các số
cơ bản từ 1 đến 10 và bằng 22 chữ cái của bảng mẫu tự abc. Sự những chữ số có
thể là công cụ hoặc thành tố của sự sáng tạo là giáo điều của Pythagoras và
Iamblichus; sự các chữ cái cũng thế là một dấu chỉ rõ về sự thờ phượng mới về
chữ viết. Đoạn thứ 2 của chương 2 đọc là : “22 chữ cái nền tảng. Thượng đế vẽ
chúng, khắc chúng, kết chúng, cân chúng, đảo chúng và với chúng tạo mọi vật
đang có và mọi vật sẽ có”. Rồi cuốn sách khải lộ chữ cái nào có quyền lực trên
khí, chữ cái nào trên nước, chữ cái nào trên lửa, và chữ cái nào trên minh triết,
và chữ cái nào trên hòa bình, và chữ cái nào trên ân sủng, và chữ cái nào trên
giấc ngủ, và chữ cái nào trên giận dữ, và cách nào (chẳng hạn) chữ cái kaf,
vốn có quyền lực trên đời sống, được sử dụng để hình thành mặt trời trong thế
giới, ngày Thứ tư trong tuần lễ, và tay trái trên thân thể.
Những người Ki tô giáo còn đi xa hơn. Ý tưởng
rằng thần tính đã viết một cuốn sách tác động họ tưởng tượng rằng thần
ấy đã viết hai cuốn, và rằng cuốn kia là vũ trụ. Vào đầu thế kỉ 17, Francis
Bacon tuyên bố trong cuốn Advancement of Learning (Thăng tiến học vấn)
rằng Thượng đế hiến cho chúng ta 2 cuốn sách để chúng ta không rơi vào sai lầm;
cuốn đầu, sách Thánh kinh, khải lộ ý chí của Ngài; cuốn sau, sách tạo vật,
khải lộ quyền năng của Ngài và là chìa khóa cho cuốn trước. Bacon chủ đích rất
nhiều hơn là tạo một ẩn dụ; ông tin rằng thế giới có thể tỉnh lược thành những
mô thức thiết yếu (nhiệt độ, mật độ, trọng lượng, màu sắc), vốn tạo, trong một
số lượng hạn định, một abecedarium naturae (bảng mẫu tự abc tự nhiên)
hoặc chuỗi các chữ cái bằng vào đó văn bản phổ quát được viết ra.** Sir Thomas
Browne, khoảng 1642, thừa nhận rằng “Như thế có hai cuốn sách từ đó tôi thu thập
Thần tính của mình; ngoài cuốn sách viết ra của Thượng đế, một cuốn nữa của Tự
nhiên tôi tớ Ngài, thủ bản phổ quát và công cộng kia, nó nằm trải trước mắt của
tất cả : những kẻ chưa từng thấy Ngài trong cuốn này, đã khám phá ra Ngài trong
cuốn kia (Religio Medici, I, 16). Trong cùng đoạn đó chúng ta đọc : “vắn tắt, mọi
vật là nhân tạo; bởi Tự nhiên là Nghệ thuật của Thượng đế”. Hai trăm năm qua
đi, và tác gia Carlyle người Scotland, ở nhiều chỗ trong những sách của ông, đặc
thù ở trong luận văn về Cagliostro, đi xa hơn giả thuyết Bacon; ông nói rằng lịch
sử phổ quát là một Thánh thư mà chúng ta giải mã và viết một cách không chắc,
và trong đó bản thân chính chúng ta nữa cũng được viết ra. Sau này, Léon Bloy lại
sẽ viết :
“Không có con người nào trên trái đất có thể tuyên bố mình là
ai. Không ai biết mình đã tới thế giới này để làm gì, những hành vi, cảm xúc,
tư tưởng của mình tương ứng với cái gì, hoặc tên thực sự của mình là
gì, cái Tên bất khả hủy diệt trong sổ bộ của Ánh sáng… Lịch sử là một văn bản lễ
thức bao la, nơi các chữ i và các dấu chấm không phải thua về giá trị so với
các câu hoặc các chương trọn vẹn, nhưng tầm quan trọng của cả hai là không thể
xác định và được che giấu một cách thâm sâu. (L’Ame de Napoléon [Tâm hồn
Napoléon]).
Thế giới, theo Mallarmé, hiện hữu cho một
cuốn sách; theo Bloy, chúng ta là những câu, hoặc từ, hoặc chữ cái của một cuốn
sách huyền thuật, và cuốn sách không ngừng nghỉ đó là cái duy nhất trong thế giới: chính xác hơn, nó là thế giới.
Chú thích:
* Các nhà bình luận đã ghi nhận rằng thông lệ thời đó là đọc lớn
tiếng để nắm nghĩa rõ hơn, vì không có dấu chấm câu, cũng chẳng có sự phân
li các từ, và có thói quen đọc chung vì khan hiếm thủ bản. Đối thoại
của Lucian ở Samosata, Chống một kẻ mua sách ngu dốt, cũng chứa một kí lục
về thói quen đó vào thế kỷ thứ 2.
**Những tác phẩm của Galileo tràn đầy quan niệm vũ trụ như một
cuốn sách. Tiết thứ 2 trong tuyển tập của Favaro (Galileo Galilei: Pensieri,
motti e sentence [Galileo Galilei: Tư tưởng, vận động
& Anquiet]; Florence, 1949) mang tựa đề “Il libro della Natura” [Cuốn sách Tự
nhiên]. Tôi thích dẫn đoạn sau đây: “Triết học được viết trong cuốn sách rất lớn
luôn mở ra trước mắt chúng ta (tôi muốn nói vũ trụ), nhưng nó không thể hiểu được
trừ khi trước tiên ta học cái ngôn ngữ và biết những chữ trong đó nó được viết.
Ngôn ngữ của sách đó mang tính toán học và các chữ là các hình tam giác, hình
tròn, và những hình dạng hình học khác”.
Viết năm 1951. Nguyên bản: “Del culto
de los libros”. Dịch ra tiếng Anh: Eliot Weinberger 1999; NXB Viking/ Penguin.
16/7/2007Jorge Luis BorgesNguyễn Tiến Văn dịch
XXXXXSự chấm dứt của một nước Mỹ Kitô giáo
Sự chấm dứt của
một nước Mỹ Kitô giáo
Tỷ lệ bách phân của những người tự nhận mình là một Kitô hữu
đã tụt 10 điểm trong hai thập kỷ vừa qua. Con số thống kê này cho thấy chúng ta
là ai trong hiện tại và, với tính cách một quốc gia, chúng ta sẽ trở nên như thế
nào trong tương lai.
Tác giả Jon
Meacham | NEWSWEEK - Số ra ngày Apr 13, 2009 -Lê Quốc Tuấn dịch
Việt Ngữ
Đấy chỉ là một chi tiết nhỏ nhặt, một điểm so sánh vùi sâu
nơi câu thứ năm trên trang thứ 17 trong bản tổng kết 24 trang của Bản Khảo sát
về Bản sắc Tôn giáo của Người Mỹ năm 2009 (2009 American Religious
Identification Survey). Nhưng khi R. Albert Mohler Jr.- Chủ tịch
dòng Thần học Baptist phương Nam, tổ chức lớn nhất trên hành tinh – đã hốt hoảng
chỉ vì dòng ngắn ngủi sau khi đọc tài liệu vừa phổ biến trong tháng Ba này. Đối
với một người tin đạo như ông Mohler- một người Kitô giáo bảo thủ, vững vàng, từng
miệt mài với khoa thần học trong vương quốc đức tin đặc thù của mình, đã hiến
mình vào công cuộc đào tạo các giáo sĩ nhằm rao giảng những điều không thể sai
lầm của Kinh thánh và Phúc âm của đấng Kitô như là những phương cách duy nhất
cho sự sống đời đời thì nội dung thông tin của bản khảo sát ấy quả là hết sức
đáng lo lắng: con số những người Mỹ tự nhận mình không có tôn giáo đã tăng gần
gấp đôi kể từ 1990, từ 8% đã tăng đến 15%. Sau đó, bản khảo sát đã đi đến một
điểm khiến ông không thể xua khỏi tâm tưởng: theo lịch sử, dù những thành phần
không nhập đạo này từng tập trung ở vùng Tây Bắc, bản tường trình cho thấy “mô
hình này nay đã dịch chuyển, và vùng Đông Bắc đã nổi lên từ năm 2008 như một
thành trì vững chắc của những người tự nhận mình không có đạo”. Theo Mohler, nền
tảng lịch sử của nền văn hóa đạo giáo Mỹ đang rạn nứt.
“Chuyện ấy thực sự khiến tôi bị choáng mạnh” Tuần qua ông đã
bảo tôi như thế. “ Vùng tây bắc chưa từng là một khu vực đạo giáo, chưa bao giờ
được giáo đoàn hóa như vùng Đông Bắc, vốn là một khu vực có nền tảng, có tính
căn cứ địa của đạo giáo Hoa Kỳ. Ðể mất vùng New England đã thực khiến tôi
choáng váng”. Nặng nề với bản báo cáo trong tâm tư, ngay trước Tuần Thánh
Mohler đã chuyển lên mạng internet một bài viết tuyệt vọng than tiếc cho sự suy
thoái – và, ám chỉ rằng, sự xụp đổ sắp xảy ra - của một nước Mỹ từng tạo được dựng
và thấm đẫm bởi Kitô giáo. “Một sự thay đổi quan trọng về văn hóa đang xảy ra
chung quanh chúng ta” Mohler đã viết “Những khúc quanh quan trọng nhất của nền
văn hóa Mỹ đã thay đổi đế tận gốc rễ. Cái gọi là mối nhất trí của
Judeo-Christian trong thiên kỷ qua đã phải nhường chỗ cho một loại khủng hoảng
văn hoá hậu-hiện đại, hậu-Kitô giáo, hậu-tây phương khiến đe dọa đến cốt lõi của
văn hóa chúng ta”. Khi tôi và Mohler nói chuyện với nhau một vài ngày sau khi
ông viết những điều trên, ông còn tỏ ra buồn chán hơn nữa. “Rõ ràng có một giai
thoại mới, một giai thoại hậu-Kitô giáo đang tạo sức sống cho một bộ phận đa số
của xã hội này” ông phát biểu như thế từ văn phòng của mình trong khu đại học ở Louisville.
Tiểu Bang Kentucky.
Sự thể chính là ở đây, Hậu – Kitô giáo, một ý nghĩa xưa
cũ nhưng mang chứa một bức thiết mới. Điều này không phải để bảo rằng Thiên
chúa của Kitô giáo đã chết rồi, nhưng để nói rằng ngài đang kém đi cái sức mạnh
trong nền chính trị và văn hóa của Hoa Kỳ so với những thời kỳ khác trong ký ức
gần đây. Đối với sự ngạc nhiên của những người tự do vốn sợ hãi sự giáng lâm của
một loại chính trị thần quyền và đối với sự mất tinh thần của những người bảo
thủ tôn giáo đang mong mỏi nhìn thấy đức tin của mình được tỏa lộ trong đời sống
công cộng, chính những người Kitô hữu đang tạo nên tỉ lệ sụt thoái trong dân số
Hoa Kỳ.
Theo Bản Khảo sát về Bản sắc Tôn giáo vốn gây lo lắng cho
Mohler, tỉ lệ bách phân của những người tự nhận mình là Kitô hữu đã tụt giảm
10% kể từ năm 1990, từ 86% xuống còn 76%. Dân số Do Thái giáo là 1.2 %; Hồi
giáo 0.6%. Một bài riêng trên Pew Forum đã xướng họa lại những kết quả của bản
Khảo sát ấy, cho thấy rằng tỉ lệ phần trăm những người tự nhận mình không hề
tham gia vào bất cứ loại đức tin cụ thể nào đã tăng đến 16%, nghĩa là gấp đôi
trong những năm gần đây; trong phạm vi bầu cử, nhóm này đã tăng từ 5% trong năm
1988 đến 12% trong năm 2008 - gần bằng tỉ lệ các đại biểu cử tri người Mỹ gốc
Phi Châu. (Bảy mươi lăm phần trăm những cử tri không theo một tôn giáo nào đã bầu
cho Barack Obama, một người Kitô giáo). Trong khi đó, con số của những người tự
nhận mình là vô thần hoặc theo thuyết bất khả tri đã tăng gần 4 lần từ năm 1990
đến 2009, nghĩa là từ 1 triệu người đến 3.6 triệu người. (Nghĩa là vào khoảng gấp
đôi số dân Episcopalian ỡ Hoa Kỳ).
Dù chúng ta vẫn còn là một quốc gia được định khuôn mạnh mẽ bởi
đức tin tôn giáo, nền chính trị và văn hoá của chúng ta, trên dòng chính, đã ít
bị ảnh hưởng bởi các phong trào, các tranh cãi từ một tính cách Kitô giáo cực
đoan như từng có chỉ ngay trong năm năm trước đây. Tôi cho rằng đây là một điều
tốt- tốt cho nền văn hóa chính tri của chúng ta, một nền văn hoá chính trị phức
tạp và đủ nặng nề và không cần đến các nỗ lực o ép, cưỡng bức để tôn kính hoăc
đi theo các loại đức tin tôn giáo- như những Vị sáng lập nên đất nước Hoa kỳ đã
từng nhìn thấy- Điều này cũng tốt cho Kitô giáo trong phương cách mà nhiều người
Kitô hữu đang tái khám phá ra các hiệu quả tốt của việc tách rời nhà thờ khỏi
thế quyền vốn bảo vệ được cho điều mà Rogers Williams, người sáng lập Rhode
Island như một nơi an toàn cho những người bất đồng tôn giáo, được gọi tên là
“vườn hoa của nhà thờ” từ “chốn hoang dã của thế gian”. Tôn giáo đã và còn là
quan yếu đối với sinh mệnh của tổ quốc nhưng sức mạnh đoàn kết của
Hoa kỳ chưa từng là vì một đức tin đặc thù nào, trừ ý nguyện cho tự do - không
phải thứ tự do nhỏ bé của tín ngưỡng. Bằng hết sức mình, chúng ta loại
bỏ tôn giáo ra không phải vì sự hữu ích hay hư hại cá biệt nào;
trong lịch sử chúng ta đã từng xử lý các tranh cãi có căn bản từ đức tin như một
yếu tố giữa nhiều yếu tố khác trong môi trường cộng hòa của sự tranh luận và tạo
quyết định. Sự suy thoái và xụp đổ của ý niệm về tôn giáo quyền hiện đại của
Kitô giáo Hoa kỳ tạo nên được một môi trường chính trị trầm tĩnh hơn, và đối với
nhiều người theo đạo, điều này sẽ giúp mở ra con lộ trình mới cho một đời sống
tôn giáo nghiêm túc, thần học hơn.
Ta nên rõ ràng như thế này: chừng nào tỉ lệ bách phân những
người Kitô giáo có thể co hẹp lại, những đồn đãi về cái chết của Kitô giáo đang
được cường điệu lên rất nhiều. Trở thành kém Kitô giáo hơn không cần
thiết là phải mang ý nghĩa rằng Hoa Kỳ là hậu-Kitô giáo. Một phần ba dân số
Hoa kỳ tin rằng mình đang được sống lại; con số này, cùng với sự xuống dốc của
những người Tin lành dòng chính từ trung hòa đến tự do một cách chính trị, đã
khiến những người soạn nên Bản Khảo sát về Bản sắc Tôn giáo người Mỹ
ghi nhận rằng “những chiều hướng này...cho thấy một biến động đến những niềm
tin bảo thủ hơn, cụ thể là đến một dự phóng có tính “Phúc âm” nhiều hơn giữa những
ngưòi Kitô hữu”. Với sự gia tăng của những di dân Mễ chống đỡ cho giáo hội công
giáo ở Mỹ, đồng thời đơn cử sự phổ biến của phái Pentecostal, môi trường tăng
trưởng nhanh của Kitô giáo trong Hoa kỳ và trên toàn thế giới, chắc chắn rằng đất
nước này vẫn còn là một đất nước tôn giáo sinh động, hơn nhiều so với các nước
Âu châu.
Vẫn theo thăm dò của Newsweek, hiện nay ít người còn nghĩ rằng
Hoa kỳ là một “quốc gia Kitô giáo” hơn là dưới thời gian George W. Bush làm tổng
thống (62% trong năm 2009 so với 69% trong năm 2008). Hai phần ba công chúng
(68%) hiện nay cho rằng tôn giáo đang “mất ảnh hưởng” trong xã hội Hoa Kỳ,
trong khi chỉ có 19% cho rằng ảnh hưởng của tôn giáo đang tăng lên. Tỉ lệ những
người Mỹ tin “tôn giáo có thể giải đáp được tất cả hay hầu hết những vấn nạn của
ngày nay” giờ đang ở mức thấp nhất trong lịch sử. Trong thời của Bush là 43%,
dưới thời Clinton, con số ấy chưa bao giờ xuống thấp hơn 58%.
Nhiều người Kitô giáo bảo thủ tin rằng họ đã thua cuộc trong
cuộc chiến đấu với những vấn đề như phá thai, cầu nguyện trong trường học và
ngay cả vấn đề hôn nhân đồng tính, và họ tin rằng đất nước hiện đang đi vào
giai đoạn hậu-Kitô giáo. Chistopher Hichens - một người bạn và có lẽ còn là một
người thích trêu chọc duyên dáng nhất mà quý bạn từng gặp- đã viết một tập sách
vô cùng nổi tiếng về vô thần vài năm trước “Thượng đế không Vĩ đại” (God is Not
Great). Là một người Tân giáo ngoan đạo (dù đã rạn nứt sâu sắc), tôi không đồng
ý với nhiều luận điểm của Hitchens- Tội không nghĩ là ta sẽ đạt được ích lợi gì
khi coi thường niềm tin tôn giáo như một thứ sai lầm và mê tín- nhưng Hitchens
quả là một người trí thức chân chính nghiêm túc, người mà trong cuộc du hành đến
Texas vừa qua, được thuật lại rằng đã lẩm bẩm có tính Phúc âm về sự xuất hiện của
một nưóc Mỹ “hậu-Kitô giáo”.
Ðể trở thành Hậu-Kitô giáo đã từng có những ý nghĩa khác nhau
trong những thời điểm khác nhau. Vào năm 1886 nguyệt san Atlantic đã mô tả
George Elliot như một người “hậu-Kitô giáo”, mang ý nghĩa đồng nghĩa với vô thần
hoặc bất khả tri. Ý nghĩa rộng rãi hơn- và thích đáng nhất cho đúng mục đích của
chúng ta là định nghĩa rằng “hậu-Kitô giáo” tiêu biểu cho một giai đoạn tiếp
theo của sự suy thoái tầm quan trọng của Kitô giáo trong một khu vực hay một xã
hội. Việc xử dụng đến nhóm từ này lần đầu xuất hiện trong cuốn “Nước Mỹ được Tự
do ( “America Set Free”) vào năm 1929 bởi nhà triết gia Ðức Hermann Keyserling.
Ý nghĩa này được phổ thông hoá trong giai đoạn mà các nhà học
thuật gọi là phong trào “cái chết của Thượng Ðế” trong giữa thập niên 1960- một
phong trào vẫn còn ảnh hưởng trong phương cách của nó. Rút ra từ tuyên ngôn
“Thượng đế đã chết” của Nietsche trong thế kỷ 19, một nhóm nhà thần học Tin
lành đã cho rằng về thực chất, Kitô giáo đã phải sống còn mà không có một hiểu
biết chính thống về Thượng đế. Tom Alitzer, giáo sư tôn giáo ở Ðại học Emory,
là một thành viên quan trọng của phong trào Kitô giáo không có Thượng đế, đã
truy tìm những căn nguyên trí thức trước tiên từ kiekergaard sau đó là đến
Nietzsche. Ðối với Alitzer, kỷ nguyên hậu-Kitô giáo là một thời đại mà cả Kitô
giáo và chính bản thân tôn giáo đều được tháo gỡ khỏi xiềng xích của các nền tảng
lịch sữ trước đó”. Năm 1992, nhà phê bình Harold Bloom đã xuất bản một tác phẩm
có tựa đề “Tôn giáo Hoa Kỳ: Sự xuất hiện của môt quốc gia hậu-Kitô giáo”. Trong
tác phẩm này, ông dẫn chứng định nghĩa của William James về tôn giáo trong cuốn
“Sự đa dạng của kinh nghiệm tôn giáo”: “ Tôn giáo… đối với chúng ta sẽ có nghĩa
là những cảm giác, hành vi và những chứng nghiệm của các cá nhân trong sự
cô độc của mình, chừng nào họ còn hiểu được chính mình để đứng được trong mối
liên hệ đến bất kỳ điều gì họ quan niệm là sự thiêng liêng”.
Ðấy đúng là điều đã khiến Mohler lo lắng nhất, “Giai thoại hậu-Kitô
giáo hoàn toàn khác biệt; chúng đem đến tính tâm linh nhưng được xác định lại
mà không có sự ràng buộc thẩm quyền nào” ông bảo tôi “Giai thoại này được đặt
căn bản trên một hiểu biết về lịch sử vốn giả định một quá khứ ít thứ tha và một
tương lai nhiều khoan dung, với hiện tại này như một bước chuyển tiếp quan trọng”.
Hiện tại, trong ý nghĩa này, là một hiện tại ít đi về cái chết của Thượng đế
nhưng lại nhiều lên về sự sản sinh của nhiều thần linh khác. Những con số tăng
lên của người Mỹ tự nhận mình không gia nhập tôn giáo nào là những người có nhiều
khả năng tự nhận họ là “tâm linh” hơn là “có đạo” (Theo thăm dò của Newsweek,
30 phần trăm tự nhận mình theo cách này, vượt hẳn từ 24 phần trăm trong năm
2005).
Nói một cách đại cương, giai thoại Kitô giáo là câu chuyện của
con người - tấn thảm kịch của sự sáng tạo, vấp ngã và chuộc tội - như đã dược
ghi chép trong Kinh thánh Hebrew và Tân Ước. Phái chính thống cố gắng để sống
cuộc đời mình theo những nguyên tắc về đức hạnh chung trong Thánh kinh (hoặc tối
thiểu theo những nguyên tắc mà họ chấp nhận được) đồng thời dự phần vào sự phán
xét cuối cùng của Thiên chúa-một sự phán xét vốn có thể đem lại sự quyết định
cho việc họ sẽ vĩnh viễn ở vào chốn thiên đàng hay địa ngục.
Vậy thì nói đến “Nước Mỹ Kitô giáo” là nói về cái gì ? Những
người Kitô rao giảng Phúc âm từ lâu đã tin rằng Hoa kỳ nên là một đất nước có đời
sống chính trị đặt căn bản và được cai quản bởi những nguyên tắc thần học và những
giải thích về thánh kinh của họ. Chẳng hạn như nếu giáo hội tin rằng uống rượu
là có tội thì luật pháp nên cấm mua bán rượu. Nếu giáo hội cho rằng thuyết tiến
hóa là xung khắc ngược lại với nghĩa đen của sách Sáng thế, thì các trường công
lập nên cắt xén bài giảng dạy cho phù hợp. Nếu giáo hội cho rằng nên đặt phá
thai ra ngoài vòng pháp luật, thì toà án của đất nước này nên tuân thủ như thế.
Cường độ của cảm giác về việc đất nước này nên Kittô giáo đến mức nào đã tăng
lên rồi giảm xuống từ vụ Jamestown: quả đúng như Thánh kinh đã từng viết,
không có gì mới lạ dưới ánh mặt trời. Trong suốt hơn 40 năm, cuộc tranh cãi bắt
đầu từ quyết định của Toà án tối cao từ năm 1962 để chấm dứt việc bắt buộc cầu
nguyện trong trường học (rồi căng thẳng dần đến phán quyết trong vụ kiện giữa
Roe và Wade 11 năm sau đó) có lẽ đã không còn là điều mới lạ nhưng thực đã là một
sự tàn nhẫn. Lo sợ đến việc nước Mỹ có thể trở nên giống như một đất nước thế tục
kiểu Âu châu, cánh hữu đã miệt mài lèo lái sự quay về điều họ tin là một nước Mỹ
Kitô giáo của ngày xưa cũ.
Nhưng tối thiểu là trong hiện tại, dự án ấy đã thất bại. Ở Texas,
các chính quyền đã đứng vế phía khoa học chứ không phải phiá thần học trong cuộc
tranh chấp về việc giảng dạy thuyết tiến hóa. Thời đại khó khăn ghê ghớm về
kinh tế này đã không hề dẫn đến sự gia tăng những người đi lễ nhà thờ. Ngày thứ
sáu vừa qua ở bang Iowa, toà án tối cao đã phán quyết ngược lại với lệnh cấm
hôn nhân đồng tính, một sự đánh bại những người Kitô giáo bảo thủ. Bằng chứng ấy
là những gì mà người theo đạo khó chịu về khả năng của một thời đại được thống
trị bởi những một chủ thuyết thế tục mới và mạnh mẽ. “Việc giảng dạy đạo lý của
Kitô giáo đã phải xử dụng đến một ảnh hưởng không kể xiết được vào nền văn minh
Tây phương” Mohler nói như thế. “Khi những giảng dạy đạo lý ấy mờ nhạt vào
trong ký ức văn hóa, một nền đạo lý kiểu thế tục sẽ thay thế. Một khi tính cách
Kitô giáo bị rỡ bỏ bởi một phần dân số đáng kể, bức hoàng tráng của đạo lý sẽ
thay đồi một cách cần thiết. Ðể là những nơi chốn tốt đẹp hơn của thế kỷ 20,
các nước Tây Âu đã dẫn đạo trong việc từ bỏ đi những ý nguyện Kitô giáo. Ðạo lý
Kitô phản hồi và những nguyên tắc đạo lý đã nhường bước cho sự kém thu hút của
loại ký ức Kitô giáo. Hiện thời, ngay cả ký ức Kitô giáo cũng đã vắng mặt trong
đời sống của hàng triệu con người”
Tuy nhiên, sự chia rẽ và nghi ngờ tôn giáo đã luôn luôn là một
phẩm chất Hoa Kỳ. Alexis de Tocqueville đã cho rằng “không khí đạo giáo của một
đất nưóc là điều đầu tiên thu hút tôi khi đến Hoa kỳ” nhưng ông cũng khám phá
ra “một mối nghi hoặc và khác biệt sâu sắc” đến đức tin. Jefferson trước đây
cũng từng nắm bắt được tinh tuý của tinh thần Mỹ về tự do tôn giáo khi ông nhận
định rằng đạo luật của ông về tự do tôn giáo ở Virginia là “để bao hàm được,
trong phạm vi che chở của sự bảo bọc, Do Thái giáo và ngoại Do, Kitô giáo và Hồi
giáo, Ấn độ giáo và những người phản giáo của tất cả các loại”- cùng những người
không có một thứ đức tin gì. Nền văn hóa của Hoa Kỳ về tự do tôn giáo đã giúp tạo
nên một thị trường tự do rất bận rộn về đức tin: chính từ các nhà thờ đứng
ngoài tổ chức mà đất nước này đã tạo cho tôn giáo trở nên phổ biến hơn chứ
không kém đi.
Vậy thì Hoa kỳ không phải là một xã hội hậu-Kitô giáo – và
không thể là như thế chừng nào xã hội Hoa kỳ còn có con người ở trong đó, bởi
vì đức tin là một thôi thúc nội tại của con người. Loại niềm tin từ mệnh lệnh,
hay từ một thực tế vượt ra khỏi không thời gian là cổ xưa và cố chấp. “Tất cả mọi
người”, Homer đã nói “cần đến các thánh thần”. Câu hỏi thiết yếu của chính trị
và văn hoá về các thánh thần này – hay nói cho chính xác hơn, một kiến
thức hiểu biết chung về các thánh thần này - là các ngài sẽ chi phối
đến tính tự nhiên của đời sống trong một gian đoạn, một không gian cho sẵn như
thế nào ?
Nếu áp dụng một loại kiểm tra tính quốc gia kiểu Augustine
cho mình, chúng ta sẽ thấy rằng chính tự do, chứ không phải tôn giáo, là điều
đã giữ được chúng ta lại với nhau. Trong tác phẩm “Thành của Chúa” (“The City
of God”), Augustine – một kẻ tội lỗi biết hối cải, vị Giám mục thành Hippo – đã
nói rằng một đất nước nên được định nghĩa như “một hỗn hợp của những con người
có lý trí trong một đồng thuận chung theo các mục đích yêu thương của họ”. Ðiều
mà chúng ta đánh giá cao nhất - điều mà chúng ta cùng chung yêu thương nhất –
chính là trọng tâm của cuộc kiểm tra về sự thỏa thuận xã hội.
Ðánh giá từ hình dạng rộng của đời sống Hoa kỳ trong thập
niên đầu thế kỷ 21, chúng ta quý trọng tự do cá nhân, tự do (hoặc thật tự do)
kinh doanh và có khuynh hướng thiên về chủ nghĩa tự do trong những vấn đề đạo đức
cá nhân. Các tài liệu nền tảng là Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập chứ không phải bản
Kinh thánh tiếng Hebrew và Sách Tân ước (dù có những liên quan không thể chối
cãi giữa các tài liệu này). Phương cách sống này khác xa với cách sống mà những
người Kitô giáo bảo thủ ưa thích. Nhưng đấy chính là sức mạnh của cơ chế Cộng
hòa vốn đã được lèo lái bởi James Madison vào cuối thế kỷ thứ 18; rằng Hoa kỳ sẽ
tồn tại trong mối liên quan trực tiếp đến khả năng kiểm soát được sự cực đoan
và gìn giữ được sự tối đa cho tự do cá nhân của mình. Những người theo đạo nên
hân hoan đón nhận điều này; tự do cho một giáo phái phải có nghĩa là tự do cho
tất cả các giáo phái. Như John F. Kenedy đã công bố trong diễn văn đọc trước Hiệp
Hội các Giáo sĩ ở Houston năm 1960 : “Nếu như năm nay có thể là một năm người
Công giáo phản đối lại những ai dơ lên cánh tay nghi ngờ, những năm khác đã từng
như thế,một ngày nào đó có thể là một người Do thái giáo- một người Quaker- một
người Theo thuyết nhất thể - hay một người Baptist… Hôm nay tôi có thể là nạn
nhân – nhưng ngày mai có thể quý vị là nạn nhân – cho đến khi nào toàn thể cơ cấu
hoà hợp xã hội của chúng ta được xé toang ra”.
Ðạo giáo đã từng là một nhân tố trong đời sống và chính trị
Hoa kỳ kể từ khởi đầu. Kính trọng Anh Giáo là một điều bắt buộc ở Jamestown,
và những người theo Thanh giáo ở New Endland đều dứt khoát hy vọng xây dựng một Jerusalem mới.
Nhưng tin mà bị ép buộc là không tin gì cả; đó là sự chuyên chế bạo ngược.
Roger Williams đã nói “ Tôi ca tụng người nào, dù là Do thái, Thổ
nhĩ kỳ, thờ Giáo hoàng, hay bất cứ ai, không hướng về nơi nào ngoài sự thử
thách tự lương tâm chính mình”.
Vào thời điểm những nhà lập quốc như Jefferson và Madison
nhìn thấy được cái tinh hoa trong sự bảo đảm một nền tự do cho lương tâm, và một
trong những thành quả đáng kể của nền cộng hòa non trẻ là đã tạo nên một nội
dung trong đó tôn giáo và chính trị được trộn lẫn nhưng giáo hội và nhà nước
thì không. Sáng suốt của những bậc dựng nước là người ta có thể cũng cần cố gắng
dựng nên một bức tường ngăn giữa kinh tế và chính trị như bức tưòng giữa tôn
giáo và chính trị, bởi vì cả hai lãnh vực này đều là những gì dân chúng cảm nhận
và nhìn được thế giới như thế nào. Hãy đề những người ngoan đạo tự mình đứng
lên trong các võ đài chính trị và tư tưởng và đấu tranh cho các quan điểm của
mình trong nền tảng công bằng với các quyền lợi của người khác. Ðời sống công cộng
của Mỹ không phải là toàn đạo giáo cũng như không phải toàn thế quyền như là một
dung dịch mãi mãi hỗn hợp của cả hai. Lịch sử cho thấy rằng khó khăn có khuynh
hướng xảy ra khi một trong những thế lực này trở nên quá mạnh trong đối trọng với
thế lực kia.
Do đó các chiến thắng chính trị là sự nhất thời tự bản chất.
Vào giữa thế kỷ 19, nhà truyền giảng Phúc Âm Charles Grandison Finney lập luận
rằng “công việc cao cả nhất của giáo hội là cải tạo thế giới – nhằm loại bỏ đi
tất cả mọi hình thức tội lỗi”; Ông nói Kitô giáo “cần tăng cường ảnh hưởng của
mình để bảo đảm một nền lập hiến phù hợp với luật của Thiên chúa”.
Thành công thế gian có khuynh hướng đánh dấu giai đoạn bắt đầu
sự kết thúc cho tính công khai đạo giáo trong chính trị. Luật Cấm Rượu
(Prohibition) khởi đầu được xem như một chiến thắng về đạo lý, nhưng sự thất bại
và sau cùng bị bãi bỏ cho thấy một phong trào nên luôn cẩn trọng về những gì
mình mong muốn : ở Hoa kỳ, ý chí của khối đông rộng lớn có khuynh hướng thắng
thế đến ngay cả các nỗ lực kiên quyết của những quyền lợi nhỏ hẹp.
Khi thế kỷ 20 trôi qua, những người Kitô giáo thấy chính họ ở
trong một vị trí tương đối không ai còn bãn cãi gì về sự đối đầu với “chủ nghĩa
cộng sản vô thần”, và lòng nhiệt tình hăng hái về các Luật cấm rượu thời đại vụ
án của Scopes như đã nguội đi một chút. Các vấn đề về đạo lý các nhân chứ không
phải chính trị quốc tế, sẽ đặt nền tảng cho công cuộc vận động cho nưóc Mỹ Kitô
giáo mà chúng ta biết đấy là sự nổi dậy của tôn giáo quyền. Hiện tượng ly dị
trong những năm 60 cùng phán quyết Roe năm 1973 rất nghiêm trọng và đức
tin tái-sinh của Jimmy Carter đã mang tính Kitô giáo của Kitô giáo Phúc âm đến
dòng chính trong năm 1976.
Lớn lên ở Atlanta trong những năm 60 và 70, Joe Scarborough,
nhà cựu lập pháp đảng Cộng hòa, đã cảm thấy lo sợ cho cha mẹ và những bạn bè
theo giáo phái Phúc Âm của họ - chính những nỗi sợ ấy đã giúp xây dựng lên sự ủng
hộ cho phong trào Kitô giáo Mỹ bảo thủ. “Mối lo lớn nhất ở vùng trung Mỹ là
chúng tôi bị vây hãm – cha mẹ chúng tôi nhìn thấy bọn trẻ đi dưới phố vốn là
nhũng hướng đạo ba năm trước giờ bỗng như bọn Hippy và họ sợ hãi lắm”,
Scarborough nói: “ Về mặt văn hóa, tình hình giống như tháng 10 năm 2001 trong
một thập niên. Trong cả một thập niên dài. Và một khi cha mẹ tôi nhận ra là
chúng tôi không hề biến mất đi vào trong chủ thuyết cấp tiến và ma túy thì nỗi
lo ấy tan biến đi. Ðó chính là thế giới mà chúng ta đang sống hiện nay – các bậc
cha mẹ của thế hệ baby boomer vốn chưa hề uống một ly rượu đỏ 30 năm trước giờ
uống đến vodka. Họ đã được giải phóng”.
Và họ đã học được rằng chính trị không hề có sẵn mọi lời giải
đáp - một bài học mà, cùng với một số mối nhẹ nhõm từ các lo lắng của văn hoá nổi
lên trong nhũng năm 60, 70, khiến từng có khuynh hướng kìm hãm lòng nhiệt thành
chính trị phát sinh tự tôn giáo. “Lỗi lầm trần trọng nhất của những người theo
Phúc âm trong các phạm trù chính trị trong 30 năm qua đã là sự ngây thơ đáng
kinh ngạc về chính trị, các chính khách và các đảng phái” Mohler nói “Họ đã đầu
tư quá nhiều hy vọng vào một giải pháp chính trị cho các vấn đề và khó khăn vượt
quá chính trị (transpolitical). Nếu được ở trong một tình huống mà chúng ta Âu
châu hơn, nơi mà các đảng phái khác nhau căn bản từ những vấn đề chính trị truyền
thống hơn là các vấn đề đạo lý, hoặc nếu như chúng ta có được nhiều đảng phái
hơn, có lẽ chúng ta đã có một bức tranh tốt đẹp hơn. Nhưng khi việc phá thai và
một hiểu biết đạo lý về cái tốt của con người trở thành liên đới đến một đảng
phái, thì về chính trị người Kitô giáo đã không có nhiều chọn lựa”
Khi đảng phái ấy thất bại- và thực đã thất bại - một số người
trong phong trào phản ứng bằng cách rút lui về phía chủ nghĩa cấp tiến, bị chinh
phục bởi sự yếu kém và sự mua chuộc bằng tài lợi của thế giới chính trị đã khiến
họ rơi vào hết thất bại này đến thất bại khác. (Tương tự xảy ra như thế với nhiều
người công hòa sau năm 1968: điên tiết vì tínhcách bảo thủ của quốc gia, cánh tả
đã phản ứng giận dữ và trở nên tả phái hơn).
Nhà bỉnh bút Cal Thomas là một nhân vật cũ của Khối Ðạo Ðức
Ða số, người đã phải nhìn nhận phong trào Kitô giáo Hoa kỳ như một sự rạn nứt
chí mạng trong các ý nghĩa thần học. “Không một đất nước nào có thể là thực sự
“Kitô giáo””. Thomas công bố rằng “ Chỉ có người dân có thể là thực sự “Kitô
giáo”. Thượng đế ở trên mọi quốc gia, và, thực thế, như Isaiah đã nói rằng ‘Mọi
quốc gia đối với người chỉ là một giọt nước nhỏ hoàn toàn không đáng giá gì’ “.
Suy tưởng ngược về vài thập niên, Thomas nhớ lại niềm hy vọng – và sự thất bại.
“Chúng ta đang trải qua việc tổ chức những người có tinh thần giống nhau để
mang nước Mỹ ‘trở lại’ thời đại của đạo đức tốt hơn. Dĩ nhiên, điều này phải được
thực hiện thông qua các chính khách vốn cũng đang khó khăn trong sự áp dụng đạo
đức vào chính họ”
Kinh nghiện cho thấy rằng các thẩm quyền đạo giáo có thể tự
mình bị tha hóa bởi sự lân cận với thế lực chính trị. Một phần tư thế kỷ trước,
ba nhà học giả cũng là những người kitô giáo theo phái Phúc Âm – Mark A. Noll,
Nathan O. Hatch và George M. Marsden - đã xuất bản một tác phẩm quan trọng
nhưng ít được mọi người biết “Ði tìm một Nước Mỹ Kitô giáo”. Trong tác phẩm
này, họ lập luận rằng các khẳng định của Kitô giáo đã vượt quá mọi trật tự
chính trị. Họ viết rằng “người Kitô giáo không nên có ảo tưởng về bản chất của
các chính phủ nhân loại. Cuối cùng thì họ sẽ thuộc về cái mà Augustine gọi là
“thành phố của thế gian”, ở đó sự ích kỷ cai trị…và tất cả các chính phủ có thề
là những kẻ sát nhân tàn bạo”.
Quan điểm của họ trùng với quan điểm của những nhà soạn Thánh
thi, từng nói rằng “Ðừng đặt lòng tin của ngươi nơi các cô công chúa” đồng thời
cũng có đầy đủ những bằng chứng trong Tân ước để ủng hộ cho một cảnh tượng của
chính trị và đức tin trong đó giáo hội thì ở vị trí tốt nhất đối với nhiệm vụ
trọng tâm của mình trong khi lại xa vời nhất với những vướng mắc của chính trị.
Thiên chúa của phái Phúc Âm dứt khoát chối từ việc xử dụng các phương tiện của
thế gian này - kể cả sự va chạm của vũ khí lẫn các đam mê của chính trị - để theo
đuổi các mục đích của người. Sau phép lạ bánh mì và cá,đám đông kinh ngạc tưởng
rằng mình đã tìm được vị sứ giả trên thế gian của mình. “Khi chúa Jesus vì thế
nhận thấy rằng họ có thể đến và dùng sức lực để chiếm giữ lấy mình, để khiến
mình trở nên một vì vua, người đã lại một lần nữa rời đi lên núi một mình”. Khi
một trong những tông đồ của mình cắt đứt tai một trong những người nhóm họp bị
bắt giữ ở Gethsemane, chúa Jesus nói “hãy tra kiếm vào vỏ”. Lát sau, trước
mặt Pilate, người nói “Vương quốc của ta không phải thuộc về thế gian này: nếu
Vương quốc của ta ở trên thế gian này, thì các thuộc hạn của ta đã chiến đấu”.
Ưu thế cũa những bài học trong Phúc âm và trong tất cả các phần còn lại của Tân
ưóc cho thấy rằng quyền lực thế gian thì nhất thời và mục nát, và những người
theo Chúa nên chú ý hơn đến các vấn đề của tâm linh hơn là chính trị.
Tuy vậy, cũng theo Kinh thánh, luôn có những chương đoạn làm
rối rắm bức tranh. Tác giả của bản kinh bằng tiếng Do thái cổ công bố rằng những
người theo đạo là “những kẻ xa lạ và lưu đày trên thế gian” và rằng “ Vì ở chốn
này chúng ta không có thành phố nào tồn tại được mà để tìm một thành phố tương
lai sẽ đến”. Ở La Mã, Giáo hoàng Paul khuyên bảo: “Ðừng trở nên thích nghi với
thế giới này”. Công đồng Vatican thứ hai trích dẫn những lời của giáo
hoàng Pius XII: Giáo hội Công giáo của “Jesus Christ, Ðấng sáng lập thiêng
liêng, đã chưa từng ban cho một sự ủy thác hay sửa chữa bất cứ mục đích nào của
trật tự văn hoá. Mục tiêu mà Thiên chúa giao phó cho giáo hội là hoàn toàn tuyệt
đối tôn giáo…Giáo hội không bao giờ có thể đánh mất tầm nhìn về tuyệt đối tôn
giáo, về mục tiêu siêu nhiên”.
Tuy nhiên, như tổng giám mục Canterbury từng nói,
nghĩ rằng Thượng đế có quan hệ chính yếu hoặc ngay cả rộng lớn hơn với tôn giáo
là một sự sai lầm. Ở Amos Chúa đã nói “Ta ghét âm thanh tiếng kèn uy nghi của
các ngươi”. Tôn giáo không phải chỉ là sự thờ bái Thiên chúa của các ngươi mà
là sự thực hiện những sự việc thuộc về đạo, và thông điệp trọng tâm của Phúc âm
là chính nhiệm vụ của người Kitô hữu để chuyển hóa thực tại thông qua các công
việc yêu thương bằng tất cả năng lực mình. “Trách nhiệm của chúng ta vẫn là hãy
hội nhập vào trong thế gian chứ không phải là một phần của thế gian” Mohler nói
“ Giáo hội là một hiện hữu đời đời trong một thế gian tạm bợ và đổ vỡ- nhưng
chúng ta phải tạo ra ảnh hưởng. Các bài giảng trên Núi là những nội dung về những
gì chúng ta hành động – nhưng các bài giảng ấy không đến cùng với một cuốn cẩm
nang chính trị.
Làm sao để cân bằng mối quan tâm cho khu hoa viên của giáo hội
với các mệnh lệnh đạo đức tạo thoải mái cho đời sống thế gian là một trong những
vấn đề gây bối rối cho giáo hội nhất. “Chúng ta có nghĩa vụ quan trọng để thực
hiện bất cứ điều gì mình có thể, kể cả phải thông qua sự xử dụng các phương tiện
chính trị, để giúp những anh em láng giềng của chúng ta – nhằm thúc đẩy luật
công bằng, trật tự, hòa bình, giáo dục và các cơ hội”, Noll, Hatch và Marsden
đã viết, “Tuy nhiên, chúng ta nên nhận thức rằng khi làm việc cho sự tốt đẹp có
tính tương đối hơn cho “thành phố của thế gian” thì sự thành công của chúng ta
sẽ chỉ được tương đối đúng như thế. Trong nhận định có tính quyết định giáo hội
công bố rằng các giải pháp mang lại từ các quốc gia trên thế giới luôn luôn là
các giải pháp nhất thời và chính các giải pháp này cần phải thay đổi “.
Ở Louisville, chuẩn bị cho lễ Phục sinh, Al Mohler thao
thức mất ngủ cho nền văn hóa. Tuần qua, ông chuyển lên net một bài có tựa
để “Mục sư của bạn có tin vào Thiên chúa hay không ?”, một bài về vấn đề phá
thai, một bài về sự hỗ trợ tự sát và một bài khác về làn sóng mới của các mục
sư. “Chúa Jesus đã hứa nguyện rằng ngay đến cửa địa ngục cũng không thể thắng
được giáo hội của ngài”. Mohler đã viết “Thế hệ những mục sư mới này có ý muốn
đẩy lùi chống lại địa ngục trong sự can đảm và không thực tế. Thế nào cũng có
những va chạm xẹt lửa.” Trong cuộc điện đàm với tôi, ông nói thêm: “Những gì
chúng ta nhìn thấy hiện nay là chứng tích của môt khuôn mẫu về những đổi thay về
trí thức, văn hóa và chính trị trong tư tưởng và tâm hồn đã khởi đi từ rất lâu
rồi. Các điều kiện đã đổi thay. Khó mà có thể xác định được ở nơi nào, nhưng bất
cứ điều gì đến sau sự Khai sáng đã trở nên rất khác với những gì xảy ra trước
đó” Và những gì xảy đến kế tiếp, với hàng ngũ những người tin theo Kitô giảm dần,
cũng sẽ là khác biệt nữa.
13/4/2009Jon Meacham - Eliza GrayLê Quốc Tuấn dịch
Cha con hội ngộXXXXX
Cha con hội ngộ
Lần cuối cùng tôi thấy cha tôi là ở Nhà Ga Trung tâm.
Lúc đó tôi đang đi từ nhà bà ngoại tôi ở Adirondacks đến một ngôi nhà
nhỏ ở Cape mà mẹ tôi đã thuê, và tôi viết cho cha tôi là tôi sẽ có
mặt ở New York vào khoảng một tiếng rưỡi giữa hai chuyến tàu, và tôi
hỏi cha tôi có thể đi ăn trưa cùng tôi không. Thư ký của ông viết cho
tôi rằng ông sẽ gặp tôi vào giữa trưa ở phòng điện thoại công cộng,
và đúng mười hai giờ tôi thấy ông đi xuyên qua đám đông bước đến. Trông
ông hơi lạ với tôi – mẹ tôi và cha tôi đã ly dị cách nay ba năm, và từ
hồi đó đến nay tôi không gặp lại ông - nhưng ngay khi gặp ông tôi có
cảm giác ngay rằng ông đúng là cha tôi, là máu thịt của tôi, là tương
lai là số phận của tôi. Tôi biết rằng khi tôi lớn lên tôi sẽ là một
người giống như ông, tôi sẽ phải đặt những kế hoạch của đời tôi trong
tầm ảnh hưởng của ông. Cha tôi là một người đàn ông to lớn, đẹp đẽ
và tôi vô cùng sung sướng được gặp lại ông. Ông vỗ vào lưng tôi và
bắt tay tôi. “Chào con, Charlie!” ông nói. “Chào con, ba định đưa con về
trụ sở của ba, nhưng bây giờ không còn là những năm sáu mươi, nên nếu
con muốn đi chuyến tàu sớm nhất, ba nghĩ ta sẽ kiếm ở quanh đây chỗ
nào để ăn trưa” Ông choàng tay qua người tôi, và tôi ngửi mùi cha tôi
theo cách mà mẹ tôi hít một bông hoa hồng. Đó là một hỗn hợp phong
phú của hơi wishky, hơi mỹ phẩm, bọt cạo râu, mùi xi đánh giày, mùi
len, một thứ mùi đậm đặc của người đàn ông trưởng thành. Tôi chỉ
mong có ai nhìn chúng tôi lúc này. Tôi ước gì cha con tôi được chụp
ảnh. Tôi muốn có một cái gì ghi lại thời khắc cha con chúng tôi bên
nhau.
Chúng tôi ra khỏi nhà ga và đi sang phố bên cạnh đến
một tiệm ăn. Lúc này còn sớm nên nhà hàng vắng vẻ. Người phục vụ
đứng ở quầy rượu đang cãi cọ với thằng bé giao hàng, và có một
người hầu bàn rất già mặc áo choàng đỏ đang đứng trước cửa bếp.
Chúng tôi ngồi xuống và cha tôi gọi người hầu bàn bằng giọng rất to.
“Kellner!” Ông quát lên “Garçon! Cameriere!You!”[1] Sự ồn ào huyên náo của cha tôi
trong tiệm ăn vắng khách nghe có vẻ lạc lõng. “Chúng tôi có được
phục vụ một chút không đây” Ông quát. “Bộp, bộp” ông vỗ tay. Cái này
làm người hầu bàn chú ý, và ông ta lướt đến bàn chúng tôi.
“Có phải ông vỗ tay gọi tôi không?” Ông ta hỏi.
“Bình tĩnh nào, bình tĩnh nào, sommelier” Cha tôi nói.
“Nếu việc tôi hỏi ông không phải là quá đáng, nếu nó không quá xa và
quá cao so với bổn phận của ông, thì chúng tôi muốn hai Beefeater
Gibson[2]”
“Tôi không thích người ta vỗ tay gọi tôi” Người bồi
nói.
“Lẽ ra tôi nên mang theo cái còi” Cha tôi nói. Tôi có
một cái còi chỉ người hầu bàn già mới nghe được. Còn bây giờ, ông
hãy mang lại đây tấm bảng con và mẩu bút chì nếu ông có thể trực
tiếp nghe cái này: hai Beefeater Gibson”
“Tôi nghĩ ông nên đi chỗ khác”, người hầu bàn sẽ sàng
nói.
“Đây là lời đề nghị tuyệt nhất mà tôi từng được
nghe. Đi thôi, Charlie, chúng ta hãy ra khỏi cái nơi chết tiệt này”
Tôi theo chân cha tôi ra khỏi tiệm ăn này đến một tiệm
khác. Lần này ông không làm huyên náo nữa. Khi đồ uống được mang ra,
ông hỏi tôi cặn kẽ về mùa bóng chày năm nay. Rồi ông dùng
cạnh dao gõ lên miệng chiếc cốc rỗng của ông, và lại bắt đầu gọi
to“Garçon!Kellner!Cameriere!You! Chúng tôi có thể phiền ông mang thêm cho
hai cốc như thế này nữa được không”
“Cậu em đây bao nhiêu tuổi rồi?” Người hầu bàn hỏi.
“Cái đó thì liên quan chó gì đến ông” Cha tôi nói.
“Xin lỗi ngài, nhưng tôi sẽ không mang thêm cốc nữa cho
cậu bé này”
“Được, tôi có tin cho ông đây” Cha tôi nói. “Tôi có tin
hết sức thú vị cho ông đây. Đây hình như không phải là tiệm ăn duy
nhất ở New York. Tiệm ở góc bên kia đang mở. Đi thôi, Charlie”.
Ông trả tiền hóa đơn, và tôi theo chân ông sang tiệm
khác. Ở đây những người hầu bàn mặc áo véc màu hồng giống như
những bộ áo đi săn, và có nhiều hình ngựa gắn trên các bức tường.
“Hỡi các chó săn đầu đàn! Tallyhoo và tất cả các ngài tương tự.
Chúng tôi muốn loại gì đó như một cốc bàn đạp. Tức là, hai Bibson
Geefeater!’
“Hai Bibson Geefeater?” Người hầu bàn mỉm cười hỏi
lại.
“Anh thừa biết tôi muốn cái khỉ gió gì rồi.” Cha tôi
gắt gỏng. “Tôi gọi hai Beefeater Gibson, và nhanh nhanh lên. Ở cái nước
Anh già nua vui nhộn này mọi sự đều thay đổi cả rồi. Công tước bạn
tôi bảo thế đấy. Hãy xem nước Anh làm thế nào cái khoản côctay này.”
“Đây không phải là nước Anh”
“Đừng cãi nhau với tôi. Hãy làm cái việc người ta
bảo anh làm!”
“Tôi chỉ nghĩ có thể ông thích biết nơi ông đang ở là
đâu” Người hầu bàn nói.
“Nếu có điều gì tôi không thể chịu được” cha tôi nói
“Thì đó là đám gia nhân láo xược. Đi thôi, Charlie”
Nhà hàng thứ tư mà chúng tôi đến là một nhà hàng
Ý. “Buon giorno”[3] Cha tôi nói “Per favor, possiamo
avere due cocktail americani, forti, forti. Molto gin, poco vermut”[4]
“Tôi không biết tiếng Ý” Người hầu bàn nói.
“Ồ, thôi đi” Cha tôi nói. “Anh hiểu tiếng Ý, và, mẹ
kiếp, anh thừa biết là anh hiểu. Vogliamo due cocktail americani. Subito”[5]
Người hầu bàn bỏ đi đến gặp người quản lý, ông này
đến bên bàn chúng tôi và nói “Tôi rất tiếc, thưa ngài, nhưng bàn này
đã có người đặt trước rồi”
“Được, cho tôi một bàn khác” cha tôi nói.
“Tất cả các bàn đã được đặt trước rồi” Người quản
lý nói.
“Ta hiểu rồi” Cha tôi nói “Ông muốn chúng tôi không bao
giờ đặt chân đến đây nữa, phải thế không? Thế thì mặc xác
ông. Vada all’ inferno. Đi thôi, Charlie”
“Con phải ra tàu bây giờ” Tôi nói.
“Ba xin lỗi, xin lỗi” Cha tôi nói “Ba vô cùng xin lỗi”
Ông vòng cánh tay qua người tôi và kéo tôi áp sát người ông. “Ba sẽ
cùng đi với con ra ga. Chỉ cần ba còn đủ thời gian về trụ sở của
ba”
“Thôi được rồi, ba” Tôi nói.
“Ba mua cho con tờ báo” Ông nói “Ba mua cho con một tờ
báo để con đọc trên tàu”
Ông đi đến một sạp báo và nói “Chào ông bạn tốt
bụng. Ông có vui lòng ban cho tôi một ân huệ với tờ báo buổi chiều,
mẹ kiếp, bậy rồi, mười xu kia của ông không” Người bán hàng quay đi
nhìn chăm chăm vào bìa một tờ tạp chí. “Tôi có yêu cầu quá cao không,
thưa ông bạn tốt bụng” Cha tôi nói “Liệu có phải là một đòi hỏi quá
đáng đối với ông không, khi tôi yêu cầu bán cho tôi một trong những tờ
lá cải chết tiệt, trong cái đám báo chí đáng tởm kia của ông?”
“Con phải đi đây, ba ơi” Tôi la “Muộn rồi”
“Ờ, đợi ba một giây thôi, cu con” Cha tôi nói “Chỉ một
giây thôi. Ba còn phải làm cho thằng cha này phát khùng lên cái đã”
“Tạm biệt ba” Tôi nói, và tôi bước xuống những bậc
thang để lên tàu, và đó là lần cuối cùng tôi thấy cha tôi.
Chú thích:
[1] Bồi (gọi hầu bàn bằng
tiếng Pháp, Ý, Anh)
[2] Tên một loại côctay.
[3] Xin chào! ((Tiếng Ý)
[4] Làm ơn cho chúng tôi hai
côctay Mỹ, mạnh nhé. Nhiều gin, ít vermut.(Tiếng Ý)
[5] Tôi muốn hai côctay Mỹ. Ngay
bây giờ (Tiếng Ý).
2/9/2009John CheeverHiếu Tân dịch
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Một ngày như mọi ngày
Một ngày như mọi ngày X in vội vàng thưa ngay: Đây là một ngày của một ông già Việt Nam trên xứ Mỹ, một người đang dè dặt đặt những "...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)