Thứ Hai, 31 tháng 10, 2016

Bánh chưng bánh dày bánh tày bánh tét

Bánh chưng bánh dày 
bánh tày bánh tét
“Dù có “là một triết lý Trung Hoa muộn màng được hội nhập vào triết lý Việt Nam” thì cái quan niệm “bánh dày bánh chưng tượng trưng cho trời tròn đất vuông” vẫn cứ là một sản phẩm trí tuệ chân truyền tự nghìn xưa, chứ không phải một “ngộ sự văn hóa”, như ông Vượng đã kết luận. Có lẽ chỉ có cái triết lý “bánh chưng vốn tròn và dài, tượng trưng cho Dương Vật còn bánh giày thì tượng trưng cho Âm Hộ” của GS Trần Quốc Vượng mới là một huyễn thuyết mà thôi”.
Trước và sau Tết Tân Mão, chúng tôi đã nhận được thư của một số bạn đọc tập trung hỏi các khía cạnh sau đây:
Bánh chưng  là một loại bánh rất quen thuộc của người Việt Nam. Bánh thì dễ hiểu nhưng chưng là gì? Tại sao lại gọi là bánh chưng? (Trần Tuần). Xin ông vui lòng nhận xét một số điểm chính trong bài “Triết lý bánh chưng bánh dày” của GS Trần Quốc Vượng: – miền Nam gọi bánh chưng là bánh tét; – bánh tét là tiếng đọc chạnh kiểu miền Nam của bánh tết; – thoạt kỳ thủy, bánh chưng không được gói vuông như bây giờ mà gói tròn giống bánh tét Nam Bộ; – Bánh chưng tròn dài tượng Dương vật, Bánh dầy tròn dẹt tượng Âm vật. (Trần Minh Tuyên). Trong bánh dày (giày) thì dày (giày) nghĩa là gì? (Nguyễn Hữu Lập). Có phải bánh tét trong Nam bắt nguồn từbánh Tày ngoài Bắc không ạ? (Hoàng Thu Trang – Nhật Bản).
Xin trả lời thành một bài chung như sau.
Chúng tôi đồng ý với bạn Trần Tuần rằng bánh thì dễ hiểu nhưng chỉ xin lưu ý rằng đây là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở từ ghi bằng chữ 餠, mà âm Hán Việt hiện đại là bỉnh, có nghĩa là… bánh.
Về tên bánh thì hiện có hai cách viết: với tr- (trưng) hoặc với ch- (chưng), mà cách thứ nhất đã đuối lý trước sự vững chắc của cách sau. Vậy tên chính xác của thứ bánh này là bánh chưng. Chưng là âm Hán Việt hiện đại của chữ 烝, cũng viết 蒸, mà Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng là “nấu cách thủy, hông, un, đun”. Các quyển từ điển tiếng Hán hoặc Hán Việt quen thuộc khác chỉ giảng cho chữ này có cái nghĩa “đun, nấu bằng hơi nước”; thậm chí có quyển như Việt- Hán thông thoại tự-vị của Đỗ Văn Đáp (Nam Định, 1933) còn không nhắc đến cái nghĩa này nữa. Vậy thì Đào Duy Anh có đi quá xa trong lời giảng của mình không? Chúng tôi thực sự không biết Đào Duy Anh căn cứ vào đâu, nhưng xin khẳng định rằng ông đã có lý. Vương Lực cổ Hán ngữ tự điển (Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh, 2002) đã ghi cho chữ chưng 烝chín cái nghĩa mà nghĩa thứ hai là“dụng hoả hồng khảo” 用 火 烘 烤, nghĩa là dùng lửa mà nung, sấy. Sự bổ sung cho nhau về nghĩa của các từchưng 烝, hồng 烘, khảo 烤 cho thấy chữ chưng trong bánh chưng dùng rất đắc địa, nếu ta liên hệ đến một “công đoạn” đặc biệt trong quy trình làm bánh là khâu luộc, mà Wikipedia (tính đến chiều 13-4-2011) miêu tả như sau:
“Lấy xoong to, dầy với dung tích trên 100 lít tùy theo số lượng bánh đã được gói. Rải cuộng lá dong thừa xuống dưới kín đáy nhằm mục đích tránh cho bánh bị cháy. Xếp lần lượt từng lớp bánh lên đến đầy xoong và xen kẽ các cuộng lá thừa cho kín nồi. Đổ ngập nước nồi và đậy vung đun. Người nấu bánh thường canh giờ tính từ thời điểm nước sôi trong nồi và duy trì nước sôi liên tục trong 10 đến 12 giờ. Trong quá trình đun, thỉnh thoảng bổ sung thêm nước nóng để đảm bảo nước luôn ngập bánh (người thực hiện thường đặt sẵn ấm nước bên cạnh bếp đun bánh để tận dụng nhiệt lượng). Những chiếc bánh ở trên có thể được lật giở để giúp bánh chín đều hơn, tránh tình trạng bị lại gạo sau này. Trong lúc đun, có thể lấy bánh ra, rửa qua trong nước lạnh, thay một lượt nước mới khác, bánh sẽ rền, ngon hơn.”
Nếu chỉ xét theo nghĩa thông dụng hiện đại của chữ chưng烝 thì ta sẽ không thấy được tính hợp lý cao độ của việc đặt tên cho bánh chưng; nhưng nếu đi vào lịch sử ngữ nghĩa của nó thì mới thấy việc đặt tên này đã bắt đầu từ rất lâu đời, khi mà chữ này chưa mất đi cái nghĩa “dụng hoả hồng khảo” 用火烘烤– mà từ điển của nhóm Vương Lực đã cung cấp –, ngày nay đã trở thành một nghĩa cổ. Tóm lại, chưng là một từ rất thích hợp trong tên bánh.
Về chuyển biến ngữ âm “tét do tết mà ra”, xin nói ngay rằng GS Trần Quốc Vượng hoàn toàn sai và đây là một cái sai sơ đẳng về tiếng địa phương. Cho đến năm con Mèo 2011 này, người miền Nam vẫn nói tết là tết chứ không bao giờ thành “tét” thì chẳng có lý do gì cách đây mấy trăm năm họ lại đọc bánh tết “chạnh kiểu miền Nam” thành bánh tét. Ta không có cứ liệu xa hơn nhưng cách đây gần 230 năm, Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine cũng đã ghi nhận tết ra tết, tét ra tét rồi. Quyển từ điển này có mục “Tét” với danh ngữ “Bánh tét”, rồi mục “Tết” với các mục kép “Tết nhất”, “Ngày tết”, “Lễ tết”, “Đi tết”, “Ăn tết”. Xin nhớ rằng ngôn ngữ của quyển từ điển này là tiếng Việt miền Nam. Cứ như trên thì cái nguyên nhân liên quan đến sự méo mó ngữ âm mà Trần Quốc Vượng đã nêu không thể có hiệu lực. Nguyên nhân là ở một chỗ khác mà ta có thể tìm thấy một cách không khó khăn gì với Đại Nam quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của. Quyển từ điển này đã cho:
“Tét: Tước ra, xé ra, tách ra”; rồi “Tét bánh: Dụng dây nhợ mà siết đòn bánh ra từ (= từng – AC) lát, từ khoanh”. Và, cuối cùng là “Bánh tét, tết: Bánh gói như khúc cây tròn, đến khi ăn phải tét ra từ khoanh cho nên gọi là bánh tét, cũng gọi là đòn bánh. Có kẻ hiểu là bánh gói ngày tết.”
Cứnhư trên thì rõ ràngngữ danh từ bánh tét và ngữ vị từ tét bánh có liên quan với nhau chung quanh vị từ tét để đặt tên bánh. Cho đến tận bây giờ, ở trong Nam, nhiều nhà vẫn còn dùng sợi chỉ để tét bánh tét. Dĩ nhiên là cũng có nhiều người muốn chơi kiểu “mì ăn liền” nên thích dùng … dao xắt (mà cũng chẳng cần bóc vỏ bánh) nhưng đây hiển nhiên không phải là phong cách ẩm thực truyền thống và tế nhị. Ngay cái cách ghi mục từ Bánh tét, tếtvà nội dung lời giảng của mục này cũng chứng tỏ Huình-Tịnh Paulus Của xác nhận rằng bánh tét đã bị một số người nói trại thành bánh tết, nghĩa là ở trong Nam, tét và tết bao giờ cũng là hai âm tiết (tiếng) riêng biệt.
Thực ra, ý kiến của Trần Quốc Vượng còn không ổn cả ở điểm sau đây. Khi ông khẳng định rằng bánh tét  là tiếng đọc chạnh kiểu miền Nam của bánh tết thì ông đã tạo ra một tiền giả định: ở miền Bắc, người ta gọi bánh tét là bánh tết, với tính cách là một danh ngữ cố định. Nhưng đây là chuyện chưa bao giờ xảy ra ở Đàng Ngoài cả.
Trần Quốc Vượng còn đáng trách ở chỗ ông hoàn toàn không chín chắn trong cách hành văn khi viết “bà con cô bác miền Nam gọi bánh chưng là bánh tét”. Không bao giờ! Tét tròn, chưng vuông. Làm sao dân miền Nam có thể ngớ ngẩn đến nỗi gọi “gọi bánh chưng là bánh tét”? Bánh tét chỉ là tên miền Nam của bánh tày, như một số tác giả từng gợi ý mà thôi.
Ở một số nơi thuộc vùng trung du trong đó có Phú Thọ, đất của các vua Hùng, người ta không gói bánh chưng (hình vuông) mà gói bánh tày (theo dạng tròn dài). Bánh tày cũng còn là loại bánh Tết tại nhiều vùng dân tộc ít người ở miền Bắc.  Nói về việc mình gói bánh tét nhân dịp tết Tân Mão, facebooker Tâm Phan, một người Việt đang sống ở nước ngoài liên hệ:
“Nói bánh tét là để mọi người dễ hiểu vì nó mang tính phổ thông thôi chứ quê mình thì lại gọi là bánh chưng tày, gọi tắt là bánh tày (bánh của dân tộc Tày?). Mà cũng lạ, quê ngoại mình ở miền Bắc, ngay ngoại ô Hà Nội thôi mà sao lại làm cái bánh giống y bánh tét ở miền Nam? (…) Bánh tày xưa nay chỉ một tay ông ngoại mình gói, ông gói nhân sống chứ không phải xào nấu nặn bóp như mình.(…) Một đòn bánh ông làm dài lắm, tầm 40cm chứkhông nhưmình gói, ngắn tun hủn.”
Thật vô cùng lý thú khi được biết rằng, ở thời hiện đại và ngay ngoại thành Hà Nội, người ta “lại làm cái bánh giống y bánh tét ở miền Nam”. Ta chẳng cần tìm hiểu căn nguyên ở đâu xa: Tày và Tét chỉ là tên miền Bắc và tên miền Nam của cùng một thứ bánh, cũng như lợn và heo, ô và dù, bát và chén, bàn là và bàn ủi, hồng xiêm và xa-pô-chê, v.v., mỗi cặp đều là tên miền Bắc và tên miền Nam của một loài động vật, đồ vật hoặc trái cây, v.v.. Về chữ tày, Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức (Khai Trí, Sài Gòn, 1970) đã giảng như sau: “Tày. Cũng gọi tét. Tên thứ bánh tròn dài, ngoài nếp giữa nhân, gói bằng lá chuối thật dày và buộc nhiều nuộc dây rồi hầm chín.” Chẳng rõ ràng ư? Chẳng phải cùng vật khác tên thì là gì? Và thật là sai lầm nếu có ai đó cho rằng danh ngữ bánh tày không hề lưu hành ở miền Nam. Quyển từ điển của Huình-Tịnh Paulus Của, mà ngôn ngữ là tiếng miền Nam, còn ghi nhận cả cho ta: Khéo thì bẻ bánh tày,vụng thì vày bánh ếch (sic), một câu tục ngữ khó tìm thấy trong nhiều quyển từ điển khác.
Người lưu dân khi rời nơi chôn nhau cắt rốn của mình ở Đàng Ngoài, đã đem theo bánh tày, một đặc sản vừa vật chất vừa tâm linh của tổ tiên để đi vào miền đất lạ phương Nam (Đàng Trong) từ công thức (để dùng lâu dài) đến vật thực (để ăn đường). Sau một thời gian đủ dài để xem là cuộc sống người dân đã ổn định và đã đủ điều kiện “cát cứ”, Chúa Nguyễn xưng vương, lập phủ Chúa, cải tổ cơ cấu chính quyền theo quy cách một triều đình, bắt nhân dân phải thay đổi cách ăn mặc và phong tục tập quán cho khác với Đàng Ngoài. Một hệ quả quan trọng của chính sách “chia cắt” này là sự khác biệt rõ rệt về từ vựng giữa hai “Đàng”: bát – chén; lợn – heo;  bàn là – bàn ủi; màn– mùng; ốm – đau; xơi – dùng (phong cách trang trọng); v.v. và cuối cùng là tày – tét.
Tétlà gì thì ta đã thấy. Nhưng tày là gì? Xin cải chính cách hiểu sai lầm của một số tác giả cho rằng bánh tày là bánh của dân tộc Tày. Đây là một cái lỗi vi thời (anachronism) không khó bác bỏ vì khái niệm và danh ngữ “bánh tày” đã có trong từ điển của Huình-Tịnh Paulus Của (1896, t. II), J.L.Taberd (1838), Pigneaux de Béhaine (1772-73), đặc biệt là trong Chỉ nam ngọc âm(thế kỷ XV-XVII) còn tộc danh “Tày” chỉ chính thức xuất hiện trong tiếng Việt sau khi Miền Bắc hoàn toàn giải phóng (10-1954), đặc biệt là sau khi thành lập Khu Tự trị Việt Bắc (1-7-1956). Trước thời điểm này, người Kinh chỉ gọi người Tày bằng tộc danh Thổ. Vậy, ở đây, tày không phải tộc danh. Nó là một hình vị đồng nhất với hình vị tày trong gậy tày. Gậy tày là một loại gậy to, hai đầu bằng nhau, dùng làm vũ khí. Bánh tày là một loại bánh tròn, dài, hai đầu bằng nhau. Đặc điểm sau cùng này là điều hoàn toàn dễ thấy. Tuy tại ghi chú của Tâm Phan, một facebooker khác có lưu ý trong lời bình rằng bánh tày là một loại bánh tròn đầu nhưng điều này không ảnh hưởng đến cách hiểu của chúng tôi. Thứ nhất, đây không phải đã là đặc điểm phổ biến của thứ bánh này ở ngoài Bắc (bánh tét trong Nam thì đầu bằng hẳn hoi); thứ hai, tày là có hai đầu bằng nhau chứ không liên quan đến chuyện có đầu tròn hay phẳng. Ta sẽ thấy vấn đề rõ hơn với Chỉ nam ngọc âm ở ngay đoạn sau đây.
Tóm lại, bánh tét trong Nam chính là bánh tày ngoài Bắc. Nó chẳng có liên quan gì về nguồn gốc với bánh chưng. Cái sai thô thiển nhất của Trần Quốc Vượng là ở chỗ: để chứng minh cho sự tồn tại của tín ngưỡng phồn thực trong xã hội người Việt xưa, ông đã bóp méo hình dạng của chiếc bánh chưng mà khẳng định rằng thoạt kỳ thủy, nó không được gói vuông như bây giờ, mà gói tròn như bánh tét Nam Bộ (để có thể tượng trưng cho dương vật!). Không! Bánh chưng là bánh chưng, mà bánh tét là bánh tét, một thứ bánh từng mang tên là bánh tày trước khi theo lưu dân đi vào Nam. Mà bánh tày, cái bánh tét của miền Bắc, thì tồn tại song song với bánh chưng, chứ không hề là tiền thân của nó. Thì đây, Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, một quyển từ vựng Hán - Nôm thế kỷ XVII – mà có tác giả còn đưa lên tận thế kỷ XV – đã ghi cho ta như sau:
Tư bính vành vạnh bánh dày.
Phương bính thuở này hiệu là bánh chưng.
Tề bính bánh tày dài lưng
(Bản do Trần Xuân Ngọc Lan phiên âm và chú giải, Nxb Khoa Học Xã Hội, 1985, tr. 115).
  Rõ ràng bánh chưng và bánh tày là hai thứ bánh cùng tồn tại song song trong văn hóa ẩm thực người Việt, mà bằng chứng đã có cách đây từ 4 đến 6 thế kỷ, chứ cái sau không hề là tiền thân của cái trước. Đồng thời, sự có mặt của danh ngữ bánh tày trong quyển từ vựng cỡ nhỏ trên đây (cỡ nhỏ bắt buộc việc lựa chọn mục từ phải thật chặt chẻ để chỉ có thể đưa vào những thứ thiết yếu và phổ biến) cũng chứng tỏ rằng bánh tày từng là một thứ bánh thông thường và quen thuộc của người Việt xưa. Đặc biệt đáng chú ý là danh ngữ tề bính 齊 餅, mà Chỉ nam ngọc âm đã dùng để gọi bánh tày. Ở đây, tày và tề là hai song thức (doublet), tày có trước, tề có sau (Xin so sánh: – đáy ~ để 底; – lạy ~ lễ 禮). Tề (< tày) 齊 có nghĩa là bằng,đều. Câu “Tề bính bánh tày dài lưng” đã miêu tả một cách vừa khái quát vừa súc tích hình dạng của bánh tày: tề là hai đầu bằng nhau; dài lưng là dài đòn. Thật là ăn khớp với cách hiểu của chúng tôi về chữ tày trong danh ngữ bánh tày đã nêu ở trên.
  Cũng nên nhận xét một tí về cách gọi tên “bánh chưng tày”. Đây là một cách gọi không chính xác và hoàn toàn miễn cưỡng. Bánh chưng là bánh chưng (vuông) mà bánh tày là bánh tày (tròn, dài). Cách gọi tên “pha trộn” trên đây xuất phát từ cái tâm lý không mấy “tự tin” của một số người tuy đã sống lâu năm ở những vùng có tập quán gói bánh chưng vào dịp Tết, nhưng ở quê mình thì người ta vẫn tiếp tục gói bánh tày trong dịp này. Ta phải thừa nhận một thực tế là trên miền Bắc, ở các thành phố và các vùng được xem là mở mang thì người ta nấu bánh chưng còn bánh tày thì ở những vùng sâu, vùng xa hơn, hoặc nếu có gần chốn đô hội thì cũng chỉ còn là những địa điểm bị thu hẹp từ một/những địa bàn rộng lớn xưa kia đã từng nấu bánh tày một cách “đại trà”. Có lẽ vì cái tâm lý đã nói nên người ta mới gán từ chưng vào tên của bánh tày (thành “bánh chưng tày”) để tạo cho nó hơi hướng của sự trang trọng chăng?
Thế là GS Trần Quốc Vượng đã bóp méo hình dạng nguyên thuỷ của chiếc bánh chưng – ông còn nói rằng mình “đưa ra một minh giải văn chương” – để tạo một nguỵ chứng cho “Triết lý bánh chưng bánh dày” của mình. Chiếc bánh chưng vốn đã mang cái hình hài vuông vức ngay từ khi chào đời thì nó dứt khoát không thể tượng trưng cho Dương Vật được. Nhưng chiếc bánh tày/bánh tét, ngay từ thuở ban sơ, vẫn mang hình dáng “cái đòn” thì có tượng trưng cho Sinh Thực Khí của phái nam hay không? Xin thưa rằng cũng không. Ta không nên quên rằng, ngoài cái quan niệm “Trời tròn Đất vuông”, mà GS Vượng quan niệm là một thứ “triết lý Trung Hoa muộn màng được hội nhập vào triết lý Việt Nam”, thì người Việt vốn còn có triết lý về Thần Trụ Trời nữa. Bánh tày/bánh tét, nếu nó có hàm ý về một thứ triết lý nào, thì đó phải là : NÓ tượng trưng cho Trụ Trời, tức Cột Chống Trời (mà thực ra thì Trung Hoa cũng có Cột Chống Trời [Kình Thiên Trụ 擎 天 柱] trong truyền thuyết Nữ Oa vá Trời).Vâng, bánh tày/bánh tét chỉ có thể tượng trưng cho Trụ Trời mà thôi. Nó không thể “thay đổi giới tính” một cách “ngang xương” theo sự điều khiển chủ quan  đầy tính ảo thuật của ông Trần Quốc Vượng được : vốn tượng tưng cho Dương Vật rồi lại thay hình đổi dạng về căn bản (từ tròn hóa vuông) lẫn thay đổi triệt để về bản chất (từ tượng trưng cho Dương Vật – nguyên lý DƯƠNG – thành tượng trưng cho Đất – nguyên lý ÂM). Đánh giá quan niệm “Trời tròn Đất vuông”, ông Vượng khẳng định: “Đó không phải là triết lý dân gian Việt Nam. Nó không phải là Folklore (nguyên nghĩa: trí tuệ dân gian) mà là Fakelore (trí tuệ giả dân gian).” Còn chúng tôi thì sợ rằng chính sự “bày đặt” của ông mới là FAKE. Cũng xin nói thêm là, nếu không sợ đi quá xa, ta còn có thể gợi ý rằng bánh chưng chính là tượng trưng cho hình ảnh khái quát của Đàn (Nền) Xã Tắc nữa.
Và khi mà, trong cặp bánh chưng – bánh giày, cái bánh chưng không hề tượng trưng cho Dương Vật, thì cái bánh giày cũng chẳng thể tượng trưng cho Âm Hộ theo quan niệm của ông Trần Quốc Vượng về tín ngưỡng phồn thực được. Bánh giày chỉ tượng trưng cho Trời, đúng như truyền thuyết vẫn kể xưa nay mà thôi. Chúng tôi viết chữ giày với gi- là có lý do: đây chính là chữ giày ta vẫn thấy trong ngữ vị từ đẳng lập giày xéo hoặc thành ngữ rước voi về giày mả tổ. Bánh dày là một thứ bánh mà cái đặc trưng nổi bật là được làm bằng xôi giã thật mịn, thật nhuyễn. Chính là căn cứ vào đặc trưng này mà người ta đã đặt tên bánh. Ngày nay, ta chỉ còn biết giày có nghĩa là giẫm đi giẫm lại nhiều lần cho nát. Nhưng đây chỉ là cái nghĩa hiện đại, đã được chuyên biệt hóa để chỉ một động tác thực hiện bằng bàn chân; chứ vị từ giày vốn còn có một cái nghĩa rộng hơn là làm cho nát, không cứ bằng chân, mà cả bằng tay hoặc bằng một công cụ bất kỳ. Sở dĩ bây giờ nó chỉ còn có cái nghĩa bị thu hẹp, như đã nói, là vì vị từ giày còn bị áp lực về sự lây nghĩa (contamination de sens) từ phía danh từ giày, vừa đồng âm vừa chỉ một thứ đồ dùng cho chân người. Vì hai từ hữu quan đồng âm nên người ta dễ có cái ấn tượng sai lầm rằng vị từ giày phái sinh từ danh từ giày bằng biện pháp chuyển hóa từ loại để chỉ một sự giẫm đạp bằng chân.
Tóm lại, dù có “là một triết lý Trung Hoa muộn màng được hội nhập vào triết lý Việt Nam” thì cái quan niệm “bánh dày bánh chưng tượng trưng cho trời tròn đất vuông” vẫn cứ là một sản phẩm trí tuệ chân truyền tự nghìn xưa, chứ không phải một “ngộ sự văn hóa”, như ông Vượng đã kết luận. Có lẽ chỉ có cái triết lý “bánh chưng vốn tròn và dài, tượng trưng cho Dương Vật còn bánh giày thì tượng trưng cho Âm Hộ” của GS Trần Quốc Vượng mới là một huyễn thuyết mà thôi.
An Chi 
Nguồn Đương Thời
Theo http://nhavantphcm.com.vn/


Trường hợp ra đời của tạp chí Nam Phong

Trường hợp ra đời của 
tạp chí Nam Phong
“Nam Phong có vai trò quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam, nó cũng đã gây một ảnh hưởng rất sâu xa trong giới trí thức Việt Nam trước kia”. Thế nhưng nhận định về mục đích ra đời, về tên gọi và việc đóng cửa của tạp chí văn học này, hiện vẫn có tình trạng mỗi người một phách, một phán đoán riêng, có chỗ suy diễn tùy tiện, thiếu căn cứ. Để góp một chút tư liệu cho các bạn đọc quan tâm, chúng tôi xin giới thiệu một bài viết trên Báo chí tập san bộ 3 năm 1972 của Huỳnh Văn Tòng. Trước khi công bố bài báo này, tác giả Huỳnh Văn Tòng đã đệ trình luận án tiến sĩ của ông về Lịch sử báo chí Việt Nam tại Đại học Văn khoa và Khoa học nhân văn ở Paris (Sorbone) năm 1971.
Một lần nữa nói về tạp chí Nam Phong, có lẽ nhiều người cho là khơi lại một đề tài quá cũ. Người ta đã tốn hao rất nhiều giấy mực để bàn về tạp chí này. Từ những cuộc bút chiến xảy ra trong năm 1924, 1925 giữa các “học phiệt” trong nhóm Phạm Quỳnh, và các ông Nghè Ngô Đức Kế, Phan Khôi… trên nhiều báo như Nam Phong, Hữu Thanh, Phụ nữ tân văn… cho đến cuộc tranh luận về “Vụ án Phạm Quỳnh” của hai giáo sư Nguyễn Văn Trung và Thanh Lãng xảy ra năm 1962 ở Sài Gòn.
Bởi vậy khi viết bài này tác giả không dám tự so mình ngang hàng với các bậc đàn anh mà tiếp tục tranh luận về đề tài trên. Mục đích đề cập đến trường hợp ra đời của tạp chí Nam Phong là muốn góp phần nhỏ mọn vào việc soi sáng phần nào trên khía cạnh lịch sử và văn học nước nhà, vì như chúng ta đều biết, tạp chí Nam Phong đã đóng góp một vai trò quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam. Nó cũng đã gây ảnh hưởng rất sâu xa trong giới trí thức Việt Nam trước kia và cả ngày nay nữa. Bằng chứng cụ thể nhất là văn chương của tạp chí này đã được đem giảng dạy trong chương trình Trung học và Phạm Quỳnh đã được xem như là một “ông tổ của nền văn học nước nhà”.
Tại sao tạp chí Nam Phong ra đời?Vì lý do gì?Và do ai chủ xướng?
Có trả lời được những câu hỏi trên chúng ta mới có thể biết được cái sứ mạng của nó, mục đích của nó và cuối cùng giá trị của nó trong lịch sử văn học Việt Nam.
Ở Pháp, trong những năm tìm kiếm tư liệu cho dự án Tiến sĩ về Lịch sử báo chí Việt Nam, tác giả may mắn tìm được vài tài liệu của Pháp nói đến tờ Nam Phong. Căn cứ vào những tài liệu này, ta có thể hiểu được lý do tại sao tạp chí này ra đời, do ai chủ xướng và với mục đích gì. Tất cả những tài liệu này đều là tài liệu mật, trên có ghi “Secret et Confidentiel”, những bản báo cáo và tường trình của viên Toàn quyền Pháp ở Đông Dương gởi cho Tổng trưởng Bộ Thuộc địa Pháp ở Paris. Đó là những tài liệu chắc chắn và đáng tin cậy.
Căn cứ vào những tài liệu trên thì người chủ xướng ra tờ Nam Phong là viên Toàn quyền Pháp ở Đông Dương lúc ấy là ông Albert Sarraut và người điều khiển trực tiếp tờ báo là Louis Marty, Trưởng phòng Chánh trị và An ninh của Chính phủ Đông Pháp.
“Một tờ báo!Một cây viết!Quả là một sức mạnh phi thường”[1]. Đó là lời nói của Albert Sarraut trong một bài diễn văn khai mạc buổi họp của Nghiệp đoàn Báo chí thuộc địa tại Sài Gòn ngày 8.9.1917. Là một người rất thông minh, quỷ quyệt và có tài mỵ dân, A.Sarraut (trước khi bước vào con đường chính trị ông ta đã là một nhà báo) đã từng là biên tập viên thường trực cho tờ La Dépêche du Midi ở tỉnh Toulouse. Do đó, biết lợi dụng báo chí cho mục tiêu chính trị quả không còn ai hơn viên Toàn quyền này. Có lẽ trong những viên Toàn quyền Pháp ở Đông Dương, ông này là một nhà chính trị khôn khéo nhất và có tài mỵ dân giỏi đến nỗi một số trí thức Việt Nam lúc bấy giờ đã tin tưởng một cách thành thật về cái “sứ mạng cao cả của đại Pháp ở Đông Dương”. Ở đây, tác giả không muốn nói nhiều về Albert Sarraut mà chỉ muốn trả lời câu hỏi tại sao Albert Sarraut cho ra đời tạp chí Nam Phong. Chính điều này mới quan trọng vì nó cho biết cái dụng ý của người Pháp trong việc xuất bản tờ tạp chí lớn nhất và quan trọng nhất ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.
Có hai nguyên nhân khiến Albert Sarraut cho ra đời tạp chí Nam Phong:
- Nguyên nhân gần: đánh bại ảnh hưởng của Đức ở Đông Dương
- Nguyên nhân xa: tách rời các giới sĩ phu Việt Nam ra khỏi ảnh hưởng của văn hóa Tàu và “Pháp hóa” giới trí thức này để dễ bề thống trị lâu dài.
1. Nguyên nhân gần: ảnh hưởng của Đức ở Đông Dương
Trong các sách vở và những tài liệu về lịch sử Việt Nam ít khi thấy nói đến ảnh hưởng của Đức ở Việt Nam. Tuy nhiên, đây là một điều có thực và nó đã xảy ra trước và trong lúc chiến tranh Âu châu 1914 - 1918. Có những tờ báo Pháp lúc ấy đã nói đến việc Pháp sắp sửa nhượng Đông Dương cho Đức như tờ Les Annales Conloniales (ở Pháp), tờ Humanité Indochinoise, Opinion (ở Việt Nam).
Có hai loại ảnh hưởng Đức ở Việt Nam: ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp.
a.Ảnh hưởng gián tiếp: Chính sách ảnh hưởng gián tiếp này của Đức ở Đông Dương đã làm cho Albert Sarraut lo lắng nhiều nhất. Đó là một lối ảnh hưởng qua sự trung gian của các sách báo Trung Hoa lúc bấy giờ tràn sang Việt Nam, phần lớn là các sách báo do các nhà cải cách Trung Hoa viết như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu...v.v… Trong những sách báo này, các tác giả thường hay ca tụng nền văn minh Đức và chê bai người Pháp. Chính điều này đã làm cho Albert Sarraut lo sợ các giới sĩ phu Việt Nam lúc bấy giờ sẽ chịu ảnh hưởng của các loại sách báo trên mà đâm ra chống Pháp.
Trong bản báo cáo của Albert Sarraut gởi cho Tổng trưởng Bộ thuộc địa Pháp (sau ngày ấn hành tờ Nam Phong) ngày 15.9.1917 có viết: “Trước ngày tuyên chiến (19.4.1918), nhu cầu tạo nên một dư luận quần chúng bản xứ nhờ vào một chính sách tuyên truyền có phương pháp và thường xuyên của kẻ địch (ám chỉ Đức) đã gây ra từ nhiều năm nay một sự tiến hành rất quan trọng ở Viễn Đông và chính sách tuyên truyền lừa phỉnh của chúng đã được phổ biến một cách sâu rộng trong các giới trí thức An Nam qua sự trung gian của chữ Hán… Những hoạt động lâu dài này của kẻ thù đã thành công trong việc chống lại chúng ta trong các giới Á châu và nó đã tạo ra khuynh hướng thân Đức.”
Qua những nhận xét trên, Albert Sarraut muốn nói đến những sách vở bấy giờ do các nhà cải cách Trung Hoa viết có tính cách ca tụng Đức và chê bai người Pháp. Trong các loại sách trên, ta ít khi thấy những loại nói đến nền văn minh Pháp. Trái lại, có những nhà xuất bản đã cho phát hành rất nhiều sách đủ loại, dịch từ các sách Đức hoặc Anh. Theo dư luận thông thường nhất của những tác giả các loại sách này thì nước Pháp là một quốc gia cổ kính, có một quá khứ xa xăm xán lạn nhưng nền văn minh Pháp đã đứng lại từ sau cuộc Cách mạng 1789 và từ đó quốc gia này không ngừng sa sút và suy đồi. Các loại sách này không bao giờ nói đến những phát minh khoa học hay phát triển kinh tế của Pháp vào thế kỉ 19, trong khi đó thì các tác giả trên lại ca tụng người Đức và coi người Đức như những người đầu tiên đã phát minh ra khoa học và làm cho nhân loại tiến bộ.
Một trong những tác phẩm quan trọng và được biết đến nhiều nhất trong giới sĩ phu Việt Nam bấy giờ là những tác phẩm của Khang Hữu Vi, trong ấy ông kể lại cuộc du hành của ông qua các nước Âu châu năm 1900. Ông viết tất cả 11 quyển nói về một nước mà ông có dịp đi qua.
Đọc qua những tác phẩm của Khang Hữu Vi, Albert Sarraut phải tức giận và hằn học, ông ta không ngần ngại gán cho Khang Hữu Vi là “một tên mật vụ rất đắc lực của Đức ở Trung Hoa”. Ông ta nói: “Những điều mà Khang Hữu Vi nói về Pháp chỉ là những lời chỉ trích và vu không thậm tệ mà từ 18 năm nay chưa thấy ai viết ở Trung Hoa. Chính cái tên Khang Hữu Vi này đã liên kết với tướng Trung Hoa Tchang Hiun trong việc muốn phục hưng chế độ quân chủ tại Bắc Kinh ngày 1.7.1916 vừa qua. Và này nay ai cũng đều biết là cái dự định phục hưng ấy đã được Đức khuyến khích giúp đỡ tài chính”
Để hiểu rõ hơn về thái độ thân Đức và chống Pháp của Khang Hữu Vi, xin trích ra đây một đoạn trong tác phẩm của ông nói về Pháp:
“…Pari không được sạch sẽ như Berlin và New York.
“Từ Are de Triomphe đến Viện bảo tàng Louvre chỉ là một nơi du hý và ăn uống… Đàn ông và đàn bà ăn chơi phè phỡn suốt ngày đêm.
“Nguồn lợi của thành phố Pari chỉ thu hoạch được nhờ những nơi du hý và các nhà chứa… Số phụ nữ làm nghề mãi dâm, theo con số chính thức có đến 15.000 người chưa kể những người khác chưa biết đến. Đàn bà con gái ăn mặc đẹp, họ là những bà hoàng của châu Âu.
“Ngoài những bảo tàng viện và tháp Eiffel, ở Pari không có gì đáng ngắm cả… Người Pari rất xảo quyệt và dối trá. Khoa học và nghệ thuật Pháp rất thấp kém so với khoa học và nghệ thuật Đức và Anh.
“Chính trị Pháp rất thấp và thối nát.
“Người Pháp rất thích xa hoa, làm biếng và khó có thể làm cho nước họ trở thành một cường quốc.
“Các nhà trí thức thì hay tranh luận một cách vô ích về vấn đề triết học…. Người dân thì thích vui đùa chè chén và chưng diện quần áo tốt. Họ ham xem hát, lười biếng, ham se sua; với những đặc tính nầy, họ không thể nào làm cho quốc gia họ trở nên một cường quốc được. Họ đã thiết lập nền cộng hòa nhưng hoàn toàn quên hẳn ý nghĩa bình đẳng...; họ thường hay bấu víu lấy cái thời vàng son ngày trước, mỗi người mỗi ý, nhiều Đảng chính trị đối lập… Bởi vậy cho nên từ 100 năm nay, nhiều cuộc cách mạng đã xảy ra… Và bao nhiêu xương máu đã đổ ra một cách vô ích. Họ rất dễ vui mà cũng rất dễ giận. Đó là đặc tính của những người dã man. Người Pháp rất thích say sưa rượu chè. Tôi đã thấy người Âu châu và người Mỹ say rượu như thế nào rồi. Ban đêm họ nằm dài trên đường, làm ồn ào cả thành phố; về đến nhà, họ chửi bới đánh đập vợ con có khi đến chết…. Thợ thuyền kiếm được bao nhiêu tiền đều đem đi uống rượu hết, chính điều này đã đưa đến sự xa xỉ và sát nhân…
“Canh nông của Pháp cũng thấp kém so với Anh. Nước Pháp không thể so sánh được với Anh và Đức.
“Chính vì lí do trên mà nước Pháp không thể tiến bộ được….”[2]
Sự du nhập ảnh hưởng của Đức vào Việt Nam qua sách vở Trung Quốc đã đóng một vai trò quan trọng trong các giới sĩ phu của ta lúc bấy giờ. Vì muốn hiểu biết các nước Âu châu các nhà trí thức Việt Nam bây giờ không có tài liệu nào ngoài những tác phẩm của Khang Hữu Vi; đó là những tài liệu độc nhất viết bằng chữ Hán mà họ có thể đọc được. Và ảnh hưởng của những quyển sách trên có một tầm quan trọng, mà theo A.Sarraut, là sự phát hiện những phong trào chống Pháp trên toàn quốc bấy giờ mà tiêu biểu là vụ một trái bom nổ tại khách sạn Hanoi Hotel do Quang phục Hội của Phan Bội Châu tổ chức làm chết mấy sĩ quan Pháp. Và tờ Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh trong số đầu (15.5.1913) đã tỏ ra rất thương xót những người đã “hy sinh cho xứ An Nam này” và không tiếc lời nguyền rủa “những tên hủ Nho làm loạn dám chống lại nước đại Pháp.”
A.Sarraut viết tiếp:
Gần đây, một trong những cộng sự viên của tôi khi viếng thăm các tỉnh miền Bắc xứ An Nam đã nhận thấy rằng những tác phẩm ngoại quốc phổ biến ở đây đều không đả động gì đến nước Pháp hoặc có nhiều phán đoán không được tốt đẹp về nước Pháp. Các tác phẩm của Khang Hữu Vi tiếp tục được phổ biến và lưu hành trong xứ bất chấp cả sự cấm đoán của chính phủ về việc nhập cảng tất cả các loại sách Trung Hoa…”
Trên đây là ảnh hưởng gián tiếp của Đức ở Đông Dương qua trung gian các sách vở Trung Hoa trong những năm trước chiến tranh 1914 - 1918. Tuy nhiên, trong những năm chiến tranh, ta thấy sự can thiệp của Đức càng rõ rệt hơn. Đó là sự can thiệp trực tiếp của Đức ở Việt Nam.
b.Sự can thiệp trực tiếp của Đức ở Việt Nam dưới hình thức các loại ấn phẩm: Chính sách tuyên truyền của Đức ở Việt Nam, ngoài những sách báo Trung Hoa còn có một số ấn phẩm khác hoàn toàn có tính cách chống Pháp và thân Đức. Những ấn phẩm này đã lan tràn từ Bắc chí Nam. Mùa hè năm 1915, nhà cầm quyền Pháp lúc bấy giờ đã khám phá ra được, trong một cửa hàng người Trung Hoa ở Chợ Lớn những bích chương của Đức.
Những bích chương này “đã được phát hành hàng triệu tờ nói về những nhà sáng lập ra đế quốc Pháp năm 1814 - 1815…., và hoàn toàn không đả động gì đến cái hay cái tốt của người Pháp và lịch sử oai hùng của nước này. Đó là một cách tuyên truyền khéo léo và thâm độc, muốn chống lại nó chỉ có một cách là phản tuyên truyền.”[3]
Dưới hình thức giúp đỡ tài chính và quân sự: Ngoài hình thức tuyên truyền bằng sách báo và những ấn phẩm khác người Đức còn can thiệp trực tiếp vào Đông Dương bằng viện trợ quân sự và tài chánh cho các nhà cách mạng Việt Nam đương thời để chống lại Pháp.
Viên lãnh sự Pháp ở Quảng Đông đã điện cho viên Toàn quyền Đông Pháp biết rằng có nhiều “nhóm phản loạn”, được các Lãnh sự Đức ở đây cung cấp khí giới, đóng binh tại các vùng biên giới Trung Việt, miền Lạng Sơn và Cao Bằng”[4].
Mặt khác, Đức đã hứa cung cấp tiền cho Phan Bội Châu để mua khí giới của một nhóm người Nhật và thỏa thuận bí mật tải các khí giới đạn dược này đến biên giới Hoa Việt[5]. Một người Trung Hoa tên là Wou Sao Lun, mật vụ của Đức, đã nhiều lần làm trung gian cho những cuộc gặp gỡ giữa nước Đức và Phan Bội Châu ở công viên Lao Man Tcho (Khu Shei Wou). Những cuộc gặp gỡ rất thường xuyên như vậy đã xảy ra[6]. Ngoài ra Cường Để, qua sự trung gian của một người bạn Trung Hoa, đã gặp gỡ nhiều lần viên Lãnh sự Đức ở Quảng Đông. Người ta còn nói đến một cuộc xuất ngoại của Cường Để sang Berlin. Nhưng tin này đã được sở mật vụ Pháp ở Hồng Kông cải chính.
Các sự kiện trên cho thấy ảnh hưởng quan trọng của sự tuyên truyền Đức ở Đông Dương và điều này đã làm mất ăn mất ngủ chính phủ Đông Dương lúc bấy giờ, đặc biệt là A.Sarraut. Tuy nhiên, trước những tấn công ồ ạt của Đức (dưới mọi hình thức văn hóa, quân sự, tài chính….) chính phủ Đông Dương hồi đó lại không chú trọng đến những sách vở và báo chí cần thiết cho một cuộc phản tuyên truyền. Báo chí xuất bản bằng tiếng Việt hay chữ Hán đều rất ít và rất đơn sơ, do đó, không thể đóng một vai trò hữu ích và đắc lực cho chính quyền Pháp trong việc phản công lại chính sách tuyên truyền của Đức. Ở Hà Nội, lúc bấy giờ chỉ có ba tờ Đại Nam đồng văn nhật báo, Đăng cổ tùng báo, Đại Việt tạp chí. Ở Sài Gòn chỉ có vài tờ viết bằng tiếng Việt, nhưng hoàn toàn có tính cách địa phương.
Chính trong hoàn cảnh này mà chính phủ Đông Pháp có sáng kiến cho ra đời một số báo chí ngoài Bắc cũng như trong Nam hầu phản công một cách ráo riết và có hệ thống trước sự tuyên truyền của Đức và trước sự chống đối của các sĩ phu Việt Nam. Ảnh hưởng mạnh nhất trong sự tuyên truyền của Đức là bêu xấu người Pháp, nền văn minh Pháp trong các giới sĩ phu Việt Nam (qua sự trung gian của các sách vở Trung Hoa như đã nói ở trên). Do đó, chính phủ Đông Pháp lúc bấy giờ, hay đúng ra, A.Sarraut đã có hai biện pháp để chặn đứng phong trào “bêu xấu” nước Pháp trong giới sĩ phu Việt Nam:
- Tán tụng và cơ ngợi người Pháp
- Tách rời họ ra khỏi ảnh hưởng Trung Hoa và “Pháp hóa” những thành phần ưu tú của xã hội Việt Nam
Nói tóm lại, A.Sarraut muốn tạo ở nơi những nhà trí thức Việt Nam một thứ huyền thoại độc tôn về nền văn minh Pháp và gây nên một thứ mặc cảm tự ti trong nhóm người này hầu phục vụ cho một chính sách thống trị lâu dài của Pháp ở Việt Nam. Theo A.Sarraut, có nắm được bọn sĩ phu Việt Nam, có dẫn dụ được những thành phần ưu tú này của xã hội Việt Nam qua sự trung gian của những thành phần trí thức hợp tác.
Đối với A.Sarraut, để đạt được mục đích trên, không có gì hay hơn là một chính sách tuyên truyền bằng báo chí. Chính vì vậy mà dưới thời A.Sarraut có một số báo chí bằng tiếng Việt được ra đời. Theo tờ Đại Việt tạp chí (số 3 tháng 3.1918), A.Sarraut cho phát hành, ngoài hai tờ Đông Dương và Nam Phong ở Bắc, sáu tờ trong Nam: Nam Trung nhật báo, An Hà nhật báo, Đại Việt tạp chí, Nữ giới chung, Đèn nhà Nam, Quốc dân diễn đàn. Trong những tờ báo trên, hầu hết những tờ xuất bản trong Nam đều nhằm vào chính sách ngắn hạn của A.Sarraut: thông tin và tuyên truyền chống Đức. Còn hai tờ Đông Dương và Nam Phong ở Bắc thì nhằm vào chính sách dài hạn: ca tụng người Pháp cốt để Pháp hóa các nhà trí thức Việt Nam bấy giờ. Trong hai tờ này thì chỉ có tờ Nam Phong là nổi bật hơn cả vì nó đã được chính phủ trực tiếp điều khiển. Còn tờ Đông Dương thì không được cái hân hạnh sống lâu để đóng vai trò tán dương đại Pháp như tờ Nam Phong của Phạm Quỳnh vì chủ bút, ông Nguyễn Văn Vĩnh, tuy là một nhà báo có tài nhưng lại là một chính khách vụng về cho nên tạp chí của ông đành chết yểu.
Với ý định muốn chinh phục giới sĩ phu Việt Nam, “chính phủ Đông Pháp mới có sáng kiến thành lập một tạp chí bằng tiếng bản xứ cho người An Nam để giáo dục và tuyên truyền, tức là mục tiêu mà chúng ta phải theo”.
A.Sarraut viết tiếp: “Việc thành lập tạp chí này, mà ban biên tập đã được giao phó cho những nhà trí thức danh tiếng trong nước, đã được sửa soạn từ nhiều tháng trước, vì không những phải gom góp các vật liệu trước mà còn phải đợi nhà in tìm mua máy móc và làm những thứ chữ cần thiệt cho việc in tiếng quốc ngữ”[7].
Một khi vật liệu và máy móc xong xuôi, “văn phòng chính trị và an ninh được phép, do nghị định ngày 30.12.1916, xuất bản một tạp chí giáo dục và tuyên truyền hầu phổ biến trong giới trí thức An Nam”[8].
Tạp chí Nam Phong ra đời[9], A.Sarraut giao cho Louis Marty trọng trách điều khiển. Tất cả những bài vở trước khi in đều phải qua sự kiểm duyệt và chấp nhận của L.Marty.
Mục đích chính của tạp chí cũng đã được A.Sarraut nói rõ trong bản tường trình của ông gởi cho Tổng trưởng Thuộc địa Pháp ngày 15.9.1917:
“Mục đích của tạp chí này là cung cấp cho giai cấp sĩ phu và trí thức An Nam những bài chính xác ngõ hầu họ quan niệm được cái vai trò của nước Pháp trên thế giới về phương diện văn hóa, khoa học và kinh tế. Tạp chí mới này, lấy tên là Nam Phong, sẽ đăng những bài phân tích chính xác về những tác phẩm khoa học và văn chương hay nhất, tiểu sử những nhà bác học danh tiếng nhất của chúng ta, những sự mô tả đẹp đẽ về nước Pháp, những bài phiên dịch những truyện ngắn hay tiểu thuyết…. Ngay sau khi phát hành, tạp chí này đã hoàn toàn thành công trong giới độc giả trí thức mà nó muốn chinh phục và nhóm người này lần đầu tiên đã tìm thấy được một cái gì tương đương với những sách vở mà họ đã gởi mua từ bên Tàu trước đây…”
Mặt khác, riêng việc L.Marty chọn cái tên Nam Phong cho tờ báo (chắc chắn có sự tham dự ý kiến của Phạm Quỳnh) cũng cho ta thấy rõ dụng ý khi cho ra đời tạp chí này. Theo L.Marty [10], sáng lập viên chính thức của tờ báo này, thì cái tên Nam Phong được bắt nguồn từ một bài thơ cổ danh tiếng Trung Hoa được làm ra dưới thời vua Thuấn (2255 trước Thiên chúa). Sau đây là bản dịch bằng tiếng Pháp của L.Marty:
Les tièdes effluves du Vent du midi
Dissipent les chagrins de mon peuple
La saison deu Vent du midi
Accoit la richesse de mon peuple!
Theo L.Marty, cái “ngọn gió Nam” này đã được xoay chuyển sắp xếp theo những ảnh hưởng tốt nhất. Một trong những đề mục thích hợp nhất cho tạp chí này nằm trong sự đối kháng của nền văn minh Hy lạp chống lại nền văn minh của các nước Đức, chính hai chữ Nam Phong là một ám chỉ rất thích hợp cho mục đích của nó. Đằng khác, như đã nói, tạp chí này được đưa ra để nâng cao trình độ tinh thần và trí thức của dân An Nam, từ đó người ta có thể tìm thấy ngay trong cái tên của tạp chí ngụ ý của mục đích thứ hai: vì chữ “Nam” là chữ tắt của An Nam, nó có cái nghĩa bóng là “ngọn gió tái tạo xứ An Nam” [11].
Như vậy mục đích của tờ Nam Phong đã rõ. Nó là một dụng cụ cho bộ máy tuyên truyền của chính phủ Pháp; nó có mục đích là tôn trọng, ca ngợi người Pháp, chống lại sự bêu xấu của Đức qua các sách báo Trung Hoa ở Việt Nam. Chính vì vậy mà chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi đọc trên bìa tờ Nam Phong những câu như: la France devant le monde; son rôle dans la guerre des Nations… Và bìa sau của tờ báo với hình “rồng Nam phun lửa diệt Đức tặc”. Và chúng ta có thể đọc trong Nam Phong những bài viết về chiến tranh (1914-1918) với một giọng căm thù Đức rất hăng say của ký giả Tuyết Huy: “Vái Trời phù hộ mẹ nuôi ta, mau mau giết hết lũ yêu ma, mà vun lại mầm dân tộc” (Nam Phong, số 2).
2. Nguyên nhân sâu xa: Pháp hóa giới trí thức Việt Nam
Ngoài việc chống Đức, Nam Phong còn nhắm một chính sách dài hạn. Chính trong địa hạt này Nam Phong đã đóng một vai trò rất quan trọng, vai trò ca tụng và tán dương nền văn minh Pháp bị bêu xấu bởi sự tuyên truyền của Đức ở Việt Nam nhất là trong các giới trí thức mà từ xưa nay chỉ biết có nền văn minh Trung Hoa mặc dù có sự hiện diện của người Pháp là những kẻ chinh phục mới ở ngay trước mắt họ. Vì vậy, tạp chí Nam Phong có cái sứ mạng là giới thiệu nền văn minh Pháp trước nhân dân Việt Nam, nhất là với các sĩ phu Việt Nam bấy giờ; “Pháp hóa” những thành phần ưu tú này của xã hội Việt Nam ngõ hầu dễ bề thống trị lâu dài trên bán đảo Đông Dương. Chính L.Marty cũng xác nhận mục đích này của tờ Nam Phong: “Tạp chí, có cái tên Nam Phong, được xuất bản hai thứ tiếng, chữ An Nam và chữ Tàu. Nó nhắm mục đích phổ biến một cách sâu xa trong giới trí thức An Nam và cái tầm hoạt động của nó còn lan rộng trong giới kiều dân Trung Hoa ở Đông Dương và các tỉnh Trung Hoa gần biên giới Hoa Việt”[12].
Chính vì cái vai trò quan trọng của nó mà A.Sarraut mới giao phó cho L.Marty đảm nhiệm, và tờ báo được lãnh phụ cấp của chính phủ mỗi tháng là 400$, một số tiền rất lớn thời bấy giờ[13].
Đến khi viên chủ bút của nó là ông Phạm Quỳnh được bổ nhiệm ra làm quan ở Huế, tờ báo vắng chủ, không tiền phụ cấp nên đành đóng cửa. Đọc Nam Phong, số cuối cùng ra ngày 15.8.1934, ta thấy những dòng sau đây bằng tiếng Pháp: “Ông bạn Hán Thu (Nguyễn Tiến Lãng) đã cố gắng làm trẻ lại cơ quan của chúng tôi, nhưng vì sự khó khăn về ngân sách, chính phủ không còn giúp đỡ chúng tôi nữa… Một tạp chí văn học sống nhờ vào sự giúp đỡ của các Mạnh Thường Quân. Đông Pháp không còn là Mạnh Thường Quân của chúng tôi nữa. Chúng tôi đành phải tự bay bằng đôi cánh riêng của chúng tôi vậy”.
Theo những sự kiện mà tôi đã trình bày ở trên, chúng ta biết tại sao, trong trường hợp nào tờ Nam Phong ra đời và thâm ý chính trị của người Pháp trong khi cho phát hành tờ tạp chí văn học này. Như vậy, chúng ta có thể nói rằng văn học của tạp chí Nam Phong là một thứ văn học nhằm phục vụ cho mục đích chính trị của Pháp, vì nguyên do ra đời của nó là một dụng ý chính trị, do đó mục tiêu cuối cùng của nó là một dụng ý chính trị. Chúng ta không thể nào phán xét văn học của tạp chí Nam Phong một cách riêng rẽ, một thứ văn học thuần túy và coi như không có liên quan gì đến chính trị. Một sự nhận xét như thế là sai lầm và chủ quan, và dĩ nhiên là chúng ta không khỏi rơi vào bẫy của chính sách tuyên truyền văn hóa của thực dân Pháp.
Kết luận bài này, để nói lên cái giá trị và địa vị của tờ Nam Phong trong lịch sử và văn học nước nhà, tôi xin trích ra đây một đoạn nói về Nam Phongđăng trong báo Phụ nữ tân văn (số 273, Paaques 1935), mà theo tôi không có gì xác đáng hơn trong sự đánh giá đúng mức cái vai trò của tạp chí Nam Phong và của ông Phạm Quỳnh mà một vài trí thức Việt Nam vẫn còn chiêm ngưỡng: “Cái tinh thần của một người ăn vận quốc phục và cư xử như một giáo sĩ của đạo Nho truyền nhiễm khắp Nam Phong thật là tẻ ngắt, thật là nông nổi, thật là hèn. Ông Phạm Quỳnh hay khen, mà chỉ khen người có tiền của thế lực, đại khái như khen ông Bạch Thái Bưởi. Chính cái tinh thần thấp hèn ấy là yếu tố cho một thứ văn học mà ta có thể gọi là văn học Nam Phong. Học trò ở các trường Tiểu học phải đọc những bài văn trích ở Nam Phong thiệt là một sự bất hạnh. Công chúng không bao giờ mến ông Phạm Quỳnh, nhưng Nam Phong có lý tài vững vàng để xuất bản thường xuyên và được quan quyền ủng hộ thì thế nào nó cũng có ảnh hưởng trong hàng trí thức. Ảnh hưởng ấy là một cái ảnh hưởng rất xâu xa, cái văn học hàng phục đã dẫn dụ một số người trí thức cúi đầu mà nhận hết thảy những sự bất bình ở trong xã hội…Nam Phong đã ảnh hưởng sâu xa đến một số người viết báo và văn sĩ, thứ nhất là những người sơ học chỉ nhờ đọc quốc văn mà biết văn học, triết học. Vì thiếu phổ biến học thức, vì không am hiểu Pháp văn, thành ra nhiều văn sĩ phải học trong Nam Phong các môn học thức phổ thông, và nhân đó mà bị cảm nhiễm cái tinh thần nô lệ của nó. Cho đến nỗi nhiều nhà chủ trương rằng nên đánh đổ ý kiến chính trị của ông Phạm Quỳnh mà yêu cái tài văn chương của ông! Đó là một sự lầm lạc to tát: Tất cả ý kiến văn học, triết học, xã hội, chính trị của ông Phạm Quỳnh làm thành một cái thống hệ, mà cái thống hệ đó chỉ là cái chủ nghĩa khuất phục của một người muốn nhờ cây bút đưa đến chỗ giàu sang….”.
Báo chí tập san bộ 3 năm 1972
Trường An sưu tầm và giới thiệu
[1] “Un joural!Un plume!Quel prodigieux levier de foce!”
[2] Trích trong bản tường trình của Piri, nhân viên trường Viễn đông Bác Cổ gởi cho Toàn quyền Pháp đề ngày 3.2.1911
[3] Bản báo cáo của Toàn quyền Đông Dương gởi cho Tổng trưởng Bộ Thuộc địa đề ngày 21.12.1916
[4] Công điện mật của Toàn quyền Đông Dương gửi cho Tổng trưởng Bộ Thuộc địa Pháp đề ngày 29.1.1916
[5] Công điện mật ngày 15.3.1915 của Lãnh sự Pháp ở Hồng Kông gửi Toàn quyền Đông Dương
[6] Đã trích dẫn
[7] A.Sarraut, đã trích dẫn…
[8] Báo cáo của L.Marty gởi A.Sarraut về tờ Nam Phong, 22.8.1917
[9] Trước tờ Nam Phong, A.Sarraut có giao cho hai ông Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trạc làm một tờ báo tên là Âu châu chiến sử, viết bằng chữ Hán và được gởi sang phổ biến bên Trung Hoa
[10] Bản báo cáo của L.Marty gởi A.Sarraut, Hà Nội ngày 22.8.1917.
[11] L.Marty, đã trích dẫn
[12] L.Marty, đã trích dẫn
[13] Đã trích dẫn.
HUỲNH VĂN TÒNG
Theo http://nhavantphcm.com.vn/



Khoảng lặng ngôn từ trong thơ Hoàng Vũ Thuật

Khoảng lặng ngôn từ trong 
thơ Hoàng Vũ Thuật
Theo Jakobson, thơ có đặc trưng là sự quay trở lại (vertere, versus) nên "câu thơ là sự trở về" (le "vers est "vers")(1). Chính sự lặp lại, trùng điệp về mặt ngữ âm, từ vựng, cú pháp, nhịp điệu... khiến thơ có sức vang, lay động người đọc vào cuộc truy tìm "dòng chảy ngầm". Vì thế, những khoảng trắng trên không gian in thơ, khoảng lặng của ngôn từ thơ cũng góp phần vào thể hiện tính nhạc cho thơ.
Khi ý thơ dồn nén, đứt đoạn, nhảy cấp thì bài thơ càng có nhiều khoảng lặng. Những khoảng lặng vô ngôn như những nốt nhạc không lời. Ngân ở trong lòng người. Hoàng Vũ Thuật cũng sử dụng những kĩ xảo của khoảng trống để lạ hoá thơ mình.
1. Những khoảng trắng của "không gian văn bản" cũng là một biện pháp hữu hiệu trong việc tạo điểm trống vô ngôn. Nó như một dấu lặng trong âm nhạc. Nhà thơ xuống hàng, bỏ trống một không gian in thơ. Đặc điểm này cũng là một cách phân chia khổ thơ trong thi ca xưa nay. Mỗi nhà thơ đều có cách riêng để tạo nên những khoảng trống trên không gian in văn bản. Với Hoàng Vũ Thuật, ngoài mục đích để phân chia khổ thơ ra, ông xuống hàng, bỏ trống một khoảng trắng để thể hiện dụng ý nghệ thuật.
Bài thơ "Đối cực" chia làm 3 khổ. Khổ 1 có 3 câu. Khổ 2 có 2 câu. Khổ 3 trở lại 3 câu. Sự phân chia các khổ thơ trong thế "lệch đối xứng" (dissymétrique - Jakobson) tạo nên sức căng cho khổ 2:
            Hy vọng rồi thất vọng
            Một sợi dây vô hình
            Chăng hai đầu mưa nắng
            Trên sợi dây đời ta
            Rong rêu bàn tay trắng
            Trên sợi dây tim ta
            Vơi dần từng giọt sáng
            Trong giếng cười bao la
Nếu nhà thơ ghép khổ 2 với khổ 3, bỏ đi một khoảng trống thì ý nghĩa thơ không thay đổi nhưng độ giãn nở của nó không có, sức nặng của tư tưởng, của nhạc thơ không còn. Việc nhà thơ để khổ 2 được bao bọc bằng hai khoảng trắng vừa khẳng định sự trắng tay của cuộc đời, vừa có độ dừng để sự trắng tay ấy lan toả. Nghĩa là, nhà thơ không cần diễn giải mà để cho các khoảng trắng ấy phát sinh, lây lan, cộng hưởng với nghĩa của câu chữ. Một sự thất vọng trước mất mát cuộc đời.
Ở bài "Tháng mười ngày mười hai", Hoàng Vũ Thuật cũng rất tinh tế trong việc tạo điểm trắng của không gian văn bản. Sự lặp lại của "một ngày như mọi ngày" trở nên dai dẳng, triền miên hơn khi nhà thơ tạo khoảng trống giữa khổ 1 và khổ 2. Khoảng trống giữa giữa khổ 2 và khổ 3, giữa khổ 3 và khổ 4 nhằm chuyển nội dung đơn thuần. Nhưng khoảng trống giữa khổ 4 và khổ 5 lại là thủ thuật dán ghép. Nhà thơ chuyển chuyện "một ngày như mọi ngày" sang chuyện chọn ngày giã từ: "Giả sử nếu phải giã từ/ Tôi chọn ngày này nằm xuống". Khoảng trắng này vừa là một thủ thuật nhưng cũng vừa tạo được cú hích trong lòng độc giả. Đang nhẹ nhàng, triền miên, đều đặn của "một ngày như mọi ngày", ông dừng lại trong nỗi vắng lặng, tê tái. Cái đau buồn, muốn chọn ngày nằm xuống trước cuộc sống như một làn sóng ngược chiều.
Hay trong "Trời ban", các khoảng trống in văn bản trở thành mạch ngầm nối kết ý nghĩa bài thơ. Bài có 6 khổ, mỗi khổ chỉ có hai câu lặp đi lặp lại cùng một kiểu cú pháp "Trời ban... cho...":
            Trời ban mặt đất cho dòng sông
            Trời ban dòng sông cho mặt đất
            Trời ban cánh rừng cho tiếng chim
            Trời ban tiếng chim cho cánh rừng...
Các hình ảnh trong thơ tương hỗ, đắp đổi cho nhau suốt cả bài thơ. Những khoảng trống giữa các hình ảnh thơ làm cho sự việc "Trời ban... cho..." là vô tận. Những khoảng trống trên văn bản ấy có thể là những cuộc luân phiên của các hình ảnh khác mà người đọc có thể liên tưởng. Bài thơ dẫn dụ người đọc kiếm tìm, lấp đầy khoảng trống trong vòng quay của sự lặp lại cú pháp. Vạn vật đắp đổi. Sự đắp đổi vô tận. 
Những bài thơ như "Sa Pa", "Cổ tích Hội An", "Di sản", "Viết dưới tượng Êxênin", "Về"... đầy khoảng trắng nghệ thuật. Khoảng trắng trên "không gian văn bản" vừa tạo được một thứ nhạc riêng vừa hỗ trợ cho ý nghĩa thơ, cất cánh cho thơ.
2. Những con chữ của chữ không bao giờ trùng khít. Chúng tạo ra những khe hở để phát nghĩa, nghĩa tiềm ẩn, nghĩa vô thức. Do vậy, những khoảng trắng của sự "va đập" ngôn ngữ cũng là một giai điệu riêng cho thơ HoàngVũ Thuật.
Biểu hiện của những khoảng trắng của sự "va đập" ngôn ngữlà có nhiều khoảng lặng bên sau con chữ, do vậy, chúng ta không chỉ hiểu nghĩa trực tiếp ngay trên bề mặt câu chữ mà còn phải thẩm thấu nghĩa ngoài văn bản. Những con chữ "va đập" nhau tạo nên cái khoảng lặng vô ngôn, cái bỏ ngỏ của thơ. Nó đem đến cho thơ những "cái nhạt" (F. Jullien) vô giá. Những cái nhạt này làm cho thơ Hoàng Vũ Thuật thêm cô đọng, hàm ngôn.
Robbe-Grillet cho rằng: "Viết là bắc một cây cầu nối liền mình và mình, nhưng đôi khi thay vì kết nối hai bờ của một vực thẳm, nó lại nới rộng thêm khoảng cách, vì giữa mình với mình không có sự trùng khít. Luôn có một khoảng cách, và chính trong khoảng cách này xuất hiện những gì cần được viết ra. Viết là công việc của người thợ thêu, chắp vá, đan dệt một quan hệ vĩnh viễn dang dở" (2). Để nắm được khoảng lặng ấy, người đọc phải giải mã công việc của nhà thơ như việc giải mã những đường chỉ chắp nối của người thợ thêu.
Để xây dựng hình tượng "Người đàn bà ngồi bên cửa sổ", Hoàng Vũ Thuật dựng nên những cuộc "va đập" ngôn từ rất khéo léo: "Ngày giờ nối nhau bền bĩ/ Người đàn bà ngồi bên cửa sổ lâu rồi/ Đóng khung thành bức tranh thế kỷ/ Đôi mắt chừng ngóng đợi một người". Sự trôi chảy của thời gian được đối sánh với hình ảnh, tư thế bất động của người đàn bà. Cụm từ "bền bĩ" va chạm, tương phản với các cụm từ "lâu rồi", "đóng khung", "thế kỷ" đã phác hoạ hình ảnh người đàn bà với nỗi niềm đong đầy. Những nỗi niềm đó được lộ thiên khi ông xoáy sâu vào "đôi mắt chừng ngóng đợi một người". Ba câu thơ đầu phác hoạ cái thần thì câu cuối phác hoạ cái hồn. Sự lựa chọn, hôn phối giữa các từ ngữ đã giúp nhà thơ đúc nên hình ảnh người đàn bà đầy ám ảnh mà không cần nhiều lời. Người đàn bà cô đơn, khắc khoải trong sự chờ đợi vô vọng. Bằng sự "va đập" các con chữ, những câu thơ trong bài "Trái tim ngốc nghếch" cũng đòi hỏi ở người đọc sự lao động nhiệt tình. Ở bài thơ này, chúng ta thấy sự phối kết các từ ngữ rất đơn giản, có vẻ nhạt nhẽo. Chỉ là vấn đề độc thoại của nhân vật trữ tình trước cuộc sống "lầm lũi", "vô nghĩa": "Ta gom tháng ngày lầm lũi/ Đốt lên một ngọn nến thừa". Nhưng chính cái nhạt, cái chán chường ấy lại tạo nên nghĩa nằm ngoại biên văn bản. Những từ ngữ nằm trong hệ thống bài thơ: "thừa", "chẳng thấy", "mất", "nỗi buồn", "vô nghĩa", "vô nghĩa" gia tăng sự chán chường, vô nghĩa nhưng đồng thời nó mở ra một cách cửa mới: bản lĩnh của nhà thơ trước cuộc sống khi khẳng định một cách trực tiếp "Chao ôi lời lời vô nghĩa/ Tim ta ngốc nghếch từ xưa". Đó là tố chất cần có của người nghệ sỹ.
Chúng ta thử tìm khoảng lặng vô ngôn, cái nhạt trong bài thơ "Ba trăm sáu lăm ngày" của Hoàng Vũ thuật:
365 ngày, ngày nào anh cũng quên
Cuốn sách lẫn vào tủ áo
Hộp diêm lẫn vào chậu hoa
365 ngày, ngày nào anh cũng nhớ
Mùa mưa nhớ qua mùa nắng
Mùa sáng nhớ mùa mù đen                                            
365 ngày, ngày nào anh cũng muộn
Lật đật như con lật đật
Khuy áo cài chéo lên nhau
365 ngày, ngày nào anh cũng nhầm
Bước lộn cổng rào người khác
Tìm mãi nhà người quen
365 ngày, ngày nào anh cũng nợ
365 ngày lơ ngơ
Hồ như nhân vật trữ tình rất "đễnh đoảng", lúc nào cũng: "quên", "nhớ", "muộn", "nhầm", "nợ". Mỗi khổ thơ là một chứng bệnh. Các chứng bệnh ấy vây quanh, hội tụ tạo nên một hình tượng người "lơ ngơ". Nếu hiểu như vậy thì chưa thể hiểu cái thế giới bên kia của ngôn từ. Người ấy "quên" nhưng "quên" những thứ rất thanh tao: "Cuốn sách lẫn vào tủ áo/ Hộp diêm lẫn vào chậu hoa". "Nhớ" thì da diết: "Mùa mưa nhớ qua mùa nắng/ Mùa sáng nhớ mùa mù đen". "Muộn" mà rất ý thức: "Lật đật như con lật đật/ Khuy áo cài chéo lên nhau". "Nhầm" cũng rất đáng nhầm: "Bước lộn cổng rào người khác/ Tìm mãi nhà người quen". Đến khi hạ bút "nợ" thì ông không lý giải nợ gì. Lại một sự kiệm lời. Như vậy, hình tượng người "lơ ngơ" ở đây không hề lơ ngơ chút nào. Đó là một người nặng lòng với cuộc sống, cảm thấy bơ vơ, lạc loài giữa cuộc sống, chưa tìm được sự đồng cảm như chính nhà thơ đã từng khao khát: "ta đi tới cõi đích thực vô giá/ mà không mưu đồ, mà không nuối tiếc mà không xót xa" (tình yêu). Đó cũng là một người luôn cảm thấy nhức nhối, lo lắng khi còn nợ cuộc sống, nợ nhân tình... mà chưa thể trả hết.
Nhà thơ "tiết kiệm ngôn từ tối đa đến chừng nào đủ chấp nhận được, khi ấy, nghĩa hàm ngôn, nghĩa khái niệm sẽ hiện lên một cách thâm thuý và đa dạng, tuỳ vốn văn hoá nghệ thuật, tuỳ trạng thái, thị hiếu của người tiếp nhận"(3). Để lấp đầy khoảng trống, khoảng lặng trong văn bản, người đọc cần lĩnh hội được cái thế giới bên ngoài văn bản. Trong thơ Hoàng Vũ Thuật, hình ảnh làng quê hiện ra rất rõ nét. Đó là một miền quê mà "Cát vẫn nghìn năm về phía trước/ Cọng rơm vàng óng mượt tới muôn sau", "Cánh cò làng quê bay vòng quanh Cửu Đỉnh". Làng quê của "Những cụ Tổng, mõ Lòi, bác Khoá/ Nghe âm âm cổ tích xa vời" diễn ra một cuộc sống bình dị, thân thương: khi "tiếng gáy nối liền nhà liền ngõ", "tiếng mõ gọi bao xóm làng thao thức" thì "bờ giếng tờ mờ sương sớm/ tiếng gàu vội vã trời khuya" để "những đôi quang ra chợ vội vã chiếm một góc ngồi". Đó cũng là nơi chôn dấu nhiều kỉ niệm trong tâm khảm nhà thơ: lúc cùng "lũ trẻ đuổi nhau dọc bờ đê khản tiếng/ Lại chui ra từ đám khói đốt đồng", lúc thì "tôi cùng bọn trẻ rong rong / Mơ theo ngọn khói bay vòng trời cao", lúc lại nhớ quay quắt "chum nước gáo dừa mẹ về lui cơn khát". Và sâu lắng trong tình thương mẹ: "Vẫn chiếc áo cũ sờn dầu dãi / Khoác lên người vệt nắng chiều thưa / Không quay lại mẹ ra đi mãi / Mặt đất xưa trơ trọi mái nhà xưa"... Điều này cho thấy Hoàng Vũ Thuật rất nặng lòng với quê hương, với mẹ. Chính tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ cũng đã chất chứa những khoảng lặng. Tìm khoảng lặng trong thơ ông, người đọc cũng phải nắm bắt được cái tâm tư ấy để thấy những cung nhạc lòng ẩn sau ngôn từ.
Bản chất của thơ là kiệm lời, vì vậy, việc tạo độ nén cho thơ là cần thiết với người làm thơ. Còn độc giả, việc giải nén thơ là cách tìm đến những phần chìm đằng sau lớp sóng ngôn từ mà bản thân bề mặt văn bản thơ chưa nói hết. Với việc tạo ra "cái nhạt", thơ của Hoàng Vũ Thuật chứa "cái nét mơ hồ, thoáng đôi chút linh giác vô thức, sự ngụ ý triết lý trừu tượng đằng sau những cảm nhận cụ thể đã làm nên cái sương khói khiến người đọc lắng đọng, muốn tìm tòi suy cảm sau những buồn vui vội vã" (4).
1. Đỗ Lai Thuý (biên soạn), Nghệ thuật như là thủ pháp, NXB Hội nhà văn, 2001, tr 197.
2. Bùi Văn Nam Sơn, Văn chương trong viễn tượng hậu-siêu hình học, http:/evan.vnexpress.net/, 8/8/2009.
3. Hồ Thế Hà, Những khoảnh khắc đồng hiện, NXB Văn học, Hà Nội, 2007, tr 24.
4.YếnNhi, HoàngVũ Thuật, mộtchặngđườngthơ, http://www.van
chuongviet.org/ (9/10/2009).
 Đồng Hới, 20.9.2010
HOÀNG THUỴ ANH
Theo http://nhavantphcm.com.vn/


  Một ngày như mọi ngày X in vội vàng thưa ngay: Đây là một ngày của một ông già Việt Nam trên xứ Mỹ, một người đang dè dặt đặt những ...