Thứ Ba, 28 tháng 2, 2023
Từ thơ chữ Hán đến thơ chữ Nôm của Hồ Xuân Hương
Từ thơ chữ Hán đến thơ
chữ Nôm của Hồ Xuân Hương
Thi sĩ Hồ Xuân Hương có hai hình mẫu thơ, thơ chữ Nôm và thơ
chữ Hán. Tôi gọi thơ chữ nôm của bà là thơ thuần Việt, bởi hầu như nhà thơ đã
“tẩy sạch” vết tích của Đường thi[1], Tống thi[2], mà thấm tẩm vào trong đó bản
sắc, cốt cách Việt, cũng như phủ ngập hương vị dân gian nơi bà đã lớn lên và trải
nghiệm. Bên cạnh đó, thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương lại cho bạn đọc hình dung
khác về diện mạo thi sĩ của bà.
Nhà nghiên cứu Mai Ngọc Phát
Trong suốt nhiều thế kỷ ở Việt Nam, thơ văn chữ Hán luôn chiếm
địa vị độc tôn “chính thống”, còn thơ văn chữ Nôm bị coi như “ngoài luồng” mặc
dù nó luôn được nhân dân nâng niu, gìn giữ. Thơ chữ Hán vốn là thơ của tầng lớp
nho sinh, của vua quan và kẻ sĩ dùng để xướng họa, bày tỏ nỗi niềm riêng, “tức
cảnh sinh tình”. Hồ Xuân Hương cũng được các học giả đương thời đánh giá rất
cao tài thơ chữ Hán của bà. Nương theo dấu tích thời gian cho thấy, Hồ Xuân
Hương đã sáng tác thơ chữ Nôm đan xen với thơ chữ Hán. Nhưng người viết bài này
xin coi từ thơ chữ Hán đến thơ chữ Nôm của bà là một hành trình. Đó là hành
trình của một nhà thơ từ nơi xa hoa, “mũ cao áo dài”, điện phủ uy nghiêm đến với
đời sống lầm than, dân gian lấm bụi, tinh nghịch và khát vọng tự do, đậm chất
phong tình và phản kháng.
Ở nước ta khi chưa xuất hiện phong trào Thơ Mới, ngoài các thể
thơ như lục bát, song thất lục bát, đồng dao v.v., các nhà thơ từ Nguyễn
Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bà Huyện Thanh Quan, Bùi Kỷ, Trần Tế Xương, Tản Đả,
Nguyễn Khuyến… đều ảnh hưởng thơ Đường, thơ Tống Trung Hoa. Khi các nhà thơ viết
thơ bằng chữ Hán gọi là thơ Hán Đường luật, và viết thơ bằng chữ Nôm gọi là thơ
Nôm Đường luật.
Tôi đọc tập thơ “Lưu Hương ký” của Hồ Xuân Hương, được ông Trần
Thanh Mại công bố năm 1964, cho thấy, thơ chữ Hán của bà nằm trong hệ hình thẩm
mỹ và hệ thống quy tắc phức tạp của thơ Hán Đường luật. Thơ Hán Đường luật có
thể “thất ngôn bát cú” được coi là dạng chuẩn nhất, biến thể có các dạng “thất
ngôn tứ tuyệt”, “ngũ ngôn tứ tuyệt”, “ngũ ngôn bát cú” cũng như các dạng ít phổ
biến khác. Hồ Xuân Hương phần lớn làm thơ chữ Hán theo thể “thất ngôn bát cú”.
Xin dẫn nguyên văn một bài thơ chữ Hán “Nhãn phóng thanh” của bà đã được phiên
âm tiếng Việt và bản dịch thơ của cụ Hoàng Xuân Hãn, có tên “Mắt tỏa màu xanh”.
Bài thơ này nằm trong loạt bài vịnh cảnh ca ngợi vẻ đẹp non sông đất nước.
NHÃN PHÓNG THANH
Vi mang loa đại tháp thương minh
Đáo thử tu giao nhãn phóng thanh
Bạch thuỷ ma thành thiên nhẫn kiếm
Hàn đàm phi lạc nhất thiên tinh
Quái hình vị dĩ tiêu tam giáp
Thần lực hề dung tạc Ngũ Đinh
Phảng phất vân đồi đầu ám điểm
Cao tăng ưng hữu toạ đàm kinh.
Bản dịch nghĩa:
Mầu lam nhạt mờ mờ nối trời xa với bể xa.
Đến đây, tưởng như trong mắt tỏa sắc xanh ra
Nước bạc mài đá thành nghìn mũi gươm nhọn
Giữa đầm vắng, hình như có một sao trời sa xuống.
Vách đá hình kì quái không dễ dùng làm bảng đề danh kẻ đỗ đại
khoa,
Nếu không sức thần thì sao tạc nổi tượng lực sĩ hùng dũng như
vậy.
Phảng phất mây xuống thấp, phía trên đã xẩm tối,
Chắc đã có vị cao tăng ngồi yên lặng tụng kinh.
Bản dịch thơ:
MẮT TỎA MÀU XANH
Bể xanh lấp loáng tận trời xa,
Đây ngỡ màu xanh mắt tỏa ra.
Nước bạc mài nên nghìn mũi kiếm,
Đầm im rơi xuống một sao sa.
Quái hình chưa dễ đề khoa bảng,
Thần lực đâu đà tạc tượng ma.
Phảng phất mây rà đầu xẩm tối,
Cao tăng đang tụng chốn chiền già.
Tôi không đánh giá bài thơ dựa theo quy ước của thơ Đường luật,
như “nhất tam ngũ bất luật” (chữ thứ nhất, thứ ba, thứ năm không cần theo luật),
“nhị tứ lục phân minh” (câu thứ hai, bốn và thứ sáu phải đối ý), cũng như không
đối chiếu từng câu trong bài thơ của Hồ Xuân Hương theo luật, niêm, vần, đối và
bố cục của Đường Thi.
Nói chung, nếu thiên nhiên cảnh vật trong thơ chữ Nôm Hồ Xuân
Hương mang tính tượng trưng, nhân hóa, phúng dụ thì trong thơ chữ Hán của bà, cảnh
vật do con người kiến tạo cùng các danh thắng thiên nhiên thường hiện ra chân
thực và trữ tình. Sự chân thực trong thi ảnh hiển hiện trong tâm trí bạn đọc là
chính nó và tính trữ tình xuất hiện từ góc độ người quan sát, chiêm ngưỡng vẻ đẹp
ấy. Bài thơ “Nhãn phóng thanh”/ “Mắt tỏa màu xanh” cho thấy cái tư thế khiêm
nhường và có phần khép nép của người viết. Câu thơ “Nước bạc mài nên nghìn mũi
kiếm/ Đầm im rơi xuống một sao sa” cho thấy bóng dáng nhỏ bé của nhà thơ đã hòa
vào thiên nhiên rộng lớn. Tác giả bài thơ như vừa mỏng manh xuất hiện tựa một
cánh hoa đã vội vàng rụng xuống, mất hút trong đám cỏ. Ngay hai câu kết của bài
thơ (câu thứ bảy và tám) cho thấy, tác giả vẫn nương theo tâm trạng của người
ngâm vịnh đã xuất hiện từ câu thơ Phá đề, mà không tạo cho bạn đọc sự bất ngờ,
không gây nhiều thảng thốt. “Phảng phất mây rà đầu xẩm tối/ Cao tăng đang tụng
chốn chiền già”. Tâm trạng này cho thấy, tác giả đang cố giấu đi một nỗi lo
toan, nỗi buồn thường phảng phất trong các bài thơ chữ Hán của bà. Đó là tâm trạng
chung của tầng lớp nho sĩ cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, lúc chế độ phong kiến
suy tàn, nhiều biến động.
Có thể nói, thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương chưa thoát khỏi hệ quy
chiếu thẩm mỹ thời đại của bà. Tuy vậy qua thơ chữ Hán, bà vẫn được đánh giá là
một trong những nhà thơ tài hoa và có phong cách riêng. Nếu so sánh bài thơ “Mắt
tỏa màu xanh” với bài “Tức cảnh chiều thu” của Bà Huyện Thanh Quan, ta thấy,
hai nhà thơ có tâm trạng khá tương đồng và cùng được biểu đạt bằng lối thơ tả cảnh,
ngâm vịnh, bàng bạc một nỗi niềm u hoài cố quận.
TỨC ẢNH CHIỀU THU
Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ.
Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá trường giang phẳng lặng tờ.
Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ.
Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.
Như người viết đã đặt vấn đề từ đầu, nếu coi những bài thơ chữ
Hán của Hồ Xuân Hương là nền tảng, nơi xuất phát, thì thơ chữ Nôm của bà chính
là điểm đến. Thơ chữ Nôm đã đưa bà trở thành thi sĩ xuất sắc nhất của văn học
trung đại và được mến mộ đến tận bây giờ. Xin dẫn bài thơ “Hang Cắc Cớ” hầu như
có chung một góc quan sát thiên nhiên, giải bày tâm trạng, nhưng bạn đọc không
còn nhận ra khuôn khổ gò bó của thơ Đường luật. Vẫn thể thơ “thất ngôn bát cú”,
nhưng tác giả đã Việt hóa nó bằng xúc cảm, âm điệu, đặc biệt cách dùng từ ngữ
dân gian rất linh hoạt và sáng tạo.
HANG CẮC CỚ
Trời đất sinh ra đá một chòm,
Nứt làm đôi mảnh hổng hòm hom.
Kẽ hầm rêu mọc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,
Con đường vô ngạn tối om om.
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc,
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm.
(Theo bản khắc 1922)
Theo bố cục của thể thơ “thất ngôn bát cú”, phần Mạo với hai
câu thơ Phá đề (câu 1) và Thừa đề (câu 2), Hồ Xuân Hương đã thay đổi hẳn cái tư
thế nghiêm cẩn, dè dặt thường thấy trong thơ chữ Hán. Những hình ảnh tinh nghịch,
sinh động như “đá một chòm”, đặc biệt với bút pháp và từ ngữ khêu gợi chỉ Hồ
Xuân Hương mới có: “Nứt làm đôi mảnh hổng hòm hom” gợi cho bạn đọc liên tưởng tới
hình tượng Yoni (âm vật), cặp đôi biểu tượng “Linga – Yoni” trong tín ngưỡng phồn
thực có từ thời nguyên thủy. Chữ “hòm hom” vốn ít xuất hiện trong văn viết, mà
dùng phổ biến trong ngôn ngữ dân gian như một phương ngữ để giao tiếp, đùa nghịch,
ám chỉ sự sâu hút, gợi đến những hố, hốc tối om. Chữ “hòm hom” độc đáo này được
Hồ Xuân Hương dùng lại trong bài “Động Hương Tích” rất sinh động và có phần gợi
cảm hơn: “Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm/ Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom”.
Cách dùng chữ đậm tính dân gian “folklore (phôn-clo)” được
tác giả tung tẩy tiếp ở hai câu Thực khai triển tựa đề và cả ở hai câu Luận của
bài thơ. Những hình ảnh quen thuộc ta vẫn gặp trong đời sống hàng ngày được Hồ
Xuân Hương miêu tả bằng thứ ngôn ngữ giầu âm điệu và hình tượng, “trơ toen hoẻn”,
“vỗ phập phòm”, “tối om om”. Với hệ thống từ vựng độc đáo này, bà đã đưa bạn đọc
tới một nơi mà họ cảm nhận có lẽ chỉ tác giả bài thơ mới biết địa danh đó.
Đặc biệt, Hồ Xuân Hương đã chọn cách gieo vần độc đáo, vần
“om” gợi cho bạn đọc nhớ đến một câu trong tiếng Phạn, được xem là câu thần chú
cầu Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteshvara): “Om Mani Padme Hum”[3]. Tạm phiên âm
theo tiếng Việt: “Ôm Ma Ni Pa (đơ) Mê Huum”, hoặc theo âm Hán -Việt “Úm ma
ni bát ni hồng”. Câu chú này bắt nguồn từ khái niệm về chân lý tuyệt
đối và trạng thái rỗng không. Theo Lạt Ma Thubten Zopa Rinpoche: “Âm thanh và
câu chú, như tất cả những dạng biểu thị khác nhau, đều ở vị trí của cõi tương đối
xuất hiện từ rỗng không” (Thanh Liên dịch).
Trong ba phần bố cục (Đề, Thực, Luận) của bài thơ “Hang Cắc Cớ”
vừa trình bày, Hồ Xuân Hương đã Việt hóa tối đa phương thức biểu đạt, từ tâm trạng,
cảm xúc đến hình ảnh và ngôn ngữ. Bài thơ có chăng chỉ còn dấu vết Đường thi
trong số chữ, số câu và cách gieo vần. Kể cả hai câu Kết “Khen ai đẽo đá tài
xuyên tạc/ Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm” cho thấy, các hình ảnh trong bài đã chuyển
động không ngừng, bất tuân theo quy luật cảm xúc. Niêm luật và bố cục của bài
thơ như đã được phá bung, như tạo ra một thể thơ khác, rất gần với ca dao dân
ca, thơ dân gian truyền miệng. Đặc biệt hơn, với hai câu Kết giàu tính phúng dụ,
bài thơ đã tạo sự khiêu khích, khêu gợi mang đậm tính dục (libido) nhưng diễn đạt
rất tài tình, hóm hỉnh. Hai câu kết bài “Hang Cắc Cớ” cùng với những câu thơ kết
của một số bài thơ khác, “Ốc nhồi”, “Quả mít”, “Hang Thánh Hóa”, “Đèo Ba Dội”,
“Đánh đu”, “Vịnh cái quạt”… đã đưa Hồ Xuân Hương trở thành thi sĩ dám nhảy múa
bên miệng vực nguy hiểm và cũng thật hấp dẫn. Bà đã trở thành thi sĩ độc đáo có
một không hai trong văn đàn Việt xưa và nay.
Từ thơ chữ Hán đến thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương quả là một hành
trình, một khoảng cách khá xa và khác biệt. Thơ chữ Hán du nhập vào Việt Nam từ
nhiều thế kỷ trước, và dĩ nhiên, đó là sản phẩm của văn chương “ngoại nhập”. Đã
qua bao thế kỷ và cũng có nhiều nhà thơ Việt Nam tên tuổi áp dụng niêm luật của
lối thơ chữ Hán. Nhưng sức sống của tiếng Việt, nói rộng hơn là văn hóa Việt
trường tồn đã trỗi dậy ở những thi sĩ tài năng và giàu lòng tự tôn dân tộc. Những
bài thơ chữ Nôm bất hủ của Hồ Xuân Hương là minh chứng sống động cho tinh thần
dân tộc Việt, bản sắc văn hóa Việt chúng ta.
Hà Nội, 17/3/2020
M.N.P
[1] Những bài thơ làm dưới thời nhà Đường, Trung Hoa (618 –
907).
[2] Những bài thơ làm dưới thời nhà Tống, Trung Hoa (960 –
1279).
[3] Ý nghĩa câu chú: Om Mani Padme Hum. Nguồn: Website
tuyenphap.com
20/3/2020
Mai Ngọc Phát
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Tú Duyên và thủ ấn họa
Tú Duyên và thủ ấn họa
Họa sĩ Tú Duyên (1915-2012), tên thật Nguyễn Văn Duyến, sinh
tại Bắc Ninh, từng học tranh khắc gỗ ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông
Dương. Năm 1939, gia đình vào Sài Gòn, ông bắt đầu vẽ cho các báo và
sáng tác tranh lụa. Năm 1942, Tú Duyên cải tiến kỹ thuật làm tranh mộc bản gọi
là “thủ ấn họa”, tạo dấu ấn đặc biệt trong giới nghệ thuật tạo hình. Qua
nhiều cuộc triển lãm cá nhân và tập thể, tranh của họa sĩ được trân trọng và
lưu lại tại nhiều bảo tàng trong và ngoài nước, nhiều nhân vật nổi tiếng trên
thế giới mua về trưng bày. Họa sĩ Tú Duyên từng được đề nghị “Giải thưởng Nhà
nước”.
Họa sĩ Tú Duyên giới thiệu một tác phẩm
của mình.
Không khí buổi trưa vừa tạm yên ắng, dịu bớt sự oi ả của
một ngày cuối năm. Con đường Nguyễn Công Trứ, tại Sài Gòn với những quán cà phê
“dã chiến” rải rác hai bên lề tại trung tâm thành phố Hồ Chí Minh vào cuối thế
kỷ 20, luôn ồn ào hối hả trong cuộc sống thường nhật của thị dân. Giữa căn
phòng không rộng dùng làm nơi tiếp khách, bề bộn những tranh vẽ treo trên vách
và những khuôn khắc gỗ dựng, treo lủ khủ đó đây. Ngồi trên chiếc ghế nhỏ thấp
lè tè là một người đàn ông trông khá cao tuổi, chân mang guốc mộc, dáng hơi gầy
nhưng phong thái nhanh nhẹn. Trong chiếc áo măng tô cũ dài chấm gối, lấm tấm vệt
màu, tay vừa chỉnh lại tròng kính lão, người đưa mắt nhìn đăm đăm vào bức tranh
vẽ dở chưa xong còn treo trên vách. Đó là Tú Duyên, người họa sĩ đã cách
tân nghệ thuật làm tranh khắc gỗ (woodcut paintings) mà người ta gọi là
“thủ ấn họa” (hand wood engraving paintings).
Tranh khắc gỗ là loại hình nghệ thuật dân gian của Việt Nam
đã có từ đời nhà Lý (1190). Ở khu vực châu Á, Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước
từ lâu có tranh khắc gỗ phát triển mạnh mẽ và có giá trị nghệ thuật. Đặc biệt, ở
xứ Hoa Anh Đào nổi tiếng loại tranh này với các họa sĩ Hokusai (1769-1849),
Hiroshige (1797-1858), Ultamaro (1753-1806)…
Hiện nay, ở nước ta có thể phân biệt 3 loại in khắc gỗ: in bằng
nhiều bản màu (tranh Đông Hồ), in một bản khắc nét, còn tô màu bằng tay (tranh
Hàng Trống) và in toàn đen trắng (sách kinh). Để thực hiện theo lối truyền thống
một bức tranh khắc gỗ như tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh), nhà nghệ sĩ bình
dân phải trải qua nhiều công đoạn kỳ khu, rất tốn thì giờ và công sức: tranh có
bao nhiêu màu thì phải có bấy nhiêu bản khắc gỗ, và tất cả đều là bản dương. Mỗi
bản khắc chỉ in một màu. Màu in mỗi bản đều nhau như là tô hình theo kiểu vẽ
trang trí. Dùng con lăn (rouleau) để lăn trên mặt giấy, tạo sức ép cho mặt dưới
tờ giấy tiếp xúc (ăn màu) đều nhau.
Đến khi Tú Duyên cải tiến kỹ thuật in tranh khắc gỗ, được gọi
là tranh “thủ ấn họa”, giới mỹ thuật đã nhận ra được nét sáng tạo, giàu tính
trí tuệ trong thao tác nghệ thuật của nhà hoạ sĩ tài hoa. Với “thủ ấn họa”, họa
sĩ chỉ sử dụng có hai bản khắc gỗ âm và dương: một bản nét và một bản màu (bản
âm: lõm và bản dương: lồi). Khi tác nghiệp, họa sĩ dùng ngón tay, lòng bàn tay,
cạnh bàn tay để xoa màu trên bản khắc rồi đặt lụa lên, mặt âm làm phông. Sau đó
dùng mặt dương để nhấn thêm, rồi xoa, ấn, vỗ, miết trên mặt lụa cho thấm màu. Mỗi
bản tranh làm theo lối “thủ ấn họa” có màu sắc đậm nhạt, dày mỏng khác nhau tùy
theo sự điều chỉnh linh hoạt, tinh tế của họa sĩ.
Tú Duyên đã khai sinh ra loại hình tranh khắc gỗ nghệ thuật
không rập khuôn theo cách làm từ trước, qua kỹ thuật in bằng bàn tay – kiểu in
không cần con lăn. Xét về kỹ thuật, nét đặc thù nổi bật của “nghệ thuật thủ ấn
họa” của Tú Duyên gồm những điểm tân kỳ độc đáo, như sau:
Một là Khắc ít bản mà in được nhiều màu, hai là chỉ
khắc hai bản: một bản dương (bản lồi) và một bản âm (bản lõm) . Cách tô chuyển
màu trên bề mặt bản dương trước khi in giúp cho tác giả có thê tạo ra một tác
phẩm “thủ ấn họa” đẹp mắt. Ba là họa sĩ xử lý khâu chuyển màu trước
trên tờ giấy, như tô màu trộn bột điệp làm nền tranh, nhưng tác giả tô chuyển
màu nhẹ nhàng rồi sau đó mới in tiếp theo bằng bản âm hoặc bản dương theo chủ ý
của mình. Bốn là áp dụng thủ pháp in chồng, hơi lệch giữa khi in bằng
bản dương và bản âm để cố ý tạo ra nét trống do lệch bản in thành nét màu lóe
sáng lung linh. Năm là trên mặt bản dương (lồi), họa sĩ tô và chuyển
màu không đều nhau theo ý mình. Thao tác này khác với kỹ thuật xưa là tô thật đều
một màu trên bản in. Sáu là họa sĩ dùng bàn tay thay cho con lăn để
chà, vuốt, ấn, nhận, khiến cho mặt giấy ăn màu khác nhau theo ý muốn của tác giả (1).
Đặc biệt, hình ảnh trong tranh của họa sĩ Tú Duyên sở hữu được
những sắc thái độc đáo rất ít tìm thấy ở tác phẩm của những nghệ sĩ tạo hình
khác. Tú Duyên có khuynh hướng tạo những đường cong khi hình thành họa phẩm nên
gây được cảm giác lý thú cho người thưởng ngoạn về sự chuyển động trong một nền
tranh mà các màn và nét đan xen với nhau giữa một không gian lung linh huyền ảo
được chuyển màu tinh tế nghệ thuật không thiếu vẻ sáng tạo (2).
Tranh Tú Duyên.
Vững vàng tin tưởng ở kỹ thuật cải tiến đầy tích cực, họa sĩ
Tú Duyên đã khéo chọn lọc những đề tài sáng tác. Tranh khắc gỗ truyền thống vốn
gần gũi với văn học dân gian. Trước tiên Tú Duyên chọn những câu ca dao, truyện
cổ tích có nội dung lành mạnh như: “Nọ thì ả Chức chàng Ngưu/Tới Trung Thu
lại bắc cầu sang sông”; hay truyện “Trầu Cau”, “ Thầy Đồ Cóc”… rồi
đến đề tài văn chương bác học: Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm…
Kế đến là đề tài lịch sử với những gương anh hùng dân tộc,
danh nhân tiêu biểu như: Trần Bình Trọng (1259-1285), một đề tài tâm đắc khiến
họa sĩ đã vẽ cả thảy trước sau đến 17 bức) , Phạm Ngũ Lão (1255-1320), Lê Lợi
(1385-1433) với “Bóng người núi Lam”; Nguyễn Trãi (1380-1442), Phan Thanh Giản
(1796-1867) với chủ ý minh họa câu nói dặn dò lại cho các con trước lúc hy sinh
của hai nhân vật lịch sử này: “Thù cha, con nhớ lo cho nước.” Còn nhớ, bức
tranh khắc gỗ đầu tiên là chân dung của nhà thơ – Tiến sĩ Phan Thanh Giản (*) được
in bằng bột màu pha với keo. Và những đề tài về nghệ thuật, hay thời sự với sự
thể hiện tinh thần sáng tạo và óc thẩm mỹ cao độ như bức “Đàn nguyệt”, bức “Chí
trai thời loạn”. Độc nhất vô nhị từ trước tới nay, người ta mới thấy ở họa sĩ
Tú Duyên là bộ tranh sáng tác hoành tráng về đề tài “Kim Vân Kiều” tổng cộng có
đến 51 bức đã được nước ngoài mua làm phim. Chỉ đến lúc cao tuổi, mắt yếu, tay
không còn thật khỏe, họa sĩ Tú Duyên mới đành phải in tranh bằng toàn nét đen
trên lụa và nhờ thợ ngoài khắc hộ khuôn gỗ.
Cùng khóa học với các họa sĩ: Nguyễn Văn Tỵ (1917-1992), Mạnh
Quỳnh (1917-1991), Nguyễn Sỹ Ngọc (1919-1990), Nguyễn Thị Kim (1917-2011)… tại
trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nhưng với tinh thần sáng tạo, óc khám phá
cải tiến, Tú Duyên đã được các đồng nghiệp và giới mỹ thuật thế giới đặc biệt
quan tâm thông qua những tác phẩm đậm tính trí tuệ của họa sĩ. Ngày 10.03.1953,
trong cuộc triển lãm tranh ‘thủ ấn họa’ đầu tiên tại Nhà Hát lớn Sài Gòn, họa
sĩ Nguyễn Thịnh Del, (tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa,
1928-1933), giáo sư trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn, đã nhận định
“Thủ ấn họa đã tạo nên những bức tranh tuyệt mỹ, khiến cho người xem cảm thấy
có những sắc màu riêng biệt thích hợp với tâm trạng của mình từng lúc. Điều này
do nguồn cảm hứng của nghệ sĩ tạo nên” (3). Cùng quan điểm trên, họa sĩ U
Văn An, giáo sư trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn cũng nhận định về
tranh “thủ ấn họa” của Tú Duyên: “Với trình độ nghệ thuật chắc chắn cọng với
lòng tận tụy vô bờ, họa sĩ Tú Duyên đã làm sống lại lối in bản khắc gỗ tranh Tết
Việt Nam mà những họa sĩ trước đây ít ai dám làm vì phả tốn kém, hy sinh công sức
quá nhiều”.
Tranh Tú Duyên.
Công luận nước ngoài quan tâm đến nghệ thuật cũng đánh giá
cao, không ngớt lời ca ngợi: “Mỗi bức tranh ‘thủ ấn họa’ của họa sĩ Tú Duyên
chính là một bài thơ kỳ diệu, được sáng tác từ cõi mộng mơ, từ chiều sâu của
tâm hồn bằng những nét đậm đà, duyên dáng và sắc màu nhẹ nhàng, tạo nên một sức
lôi cuốn đẹp mắt” (Paul Faucon) (3). Hoặc trên tờ “Revue
Francaise-Asia” (Tạp chí Pháp-Á), ông René de Berval cũng đã viết những lời
trân trọng: “Những tác phẩm ‘thủ ấn họa’ của họa sĩ Tú Duyên vô cùng hấp dẫn
khách thưởng ngoạn vì nó được diễn tả bởi chính tay nhà nghệ sĩ đích thực của một
dân tộc ham nghiên cứu, tìm tòi, và nó chỉ có thể được tìm gặp trong những truyện
kể và kho tàng văn học của đát nước tác giả”.
Từ đó, họa sĩ Tú Duyên được coi là một trong những họa sĩ tuổi
cao, lão luyện tay nghề ở Nam bộ, được trang trọng giới thiệu trong sách mỹ thuật
ở Ý, quyển “Le Viet Nam” (nước Việt Nam) của nhà xuất bản Milan. Năm 1956, họa
sĩ Tú Duyên tiếp tục được nêu tên tuổi trên sách của tổ chức Unesco nói về văn
hóa Việt Nam “Việt Nam, hôm qua và ngày nay” làm rạng rỡ cho giới nghệ sĩ tạo
hình Việt Nam.
Với uy tín và tài năng tự mình tạo được, Họa sĩ Tú Duyên có
thể tự hào là một nghệ sĩ đã sở hữu những tác phẩm giá trị thực sự mà nhiều
nhân vật nổi tiếng yêu tranh trong và ngoài nước đã hăm hở tìm mua. Trước ngày
thống nhất đất nước, vua dầu hỏa Hoa Kỳ Rockfeller đã có lần sang Sài Gòn, tìm
đến tận nhà họa sĩ Tú Duyên, xin mua 2 bức tranh: tác phẩm nổi tiếng nhất của
tác giả – bức “Trần Bình Trọng” với câu nói bất hủ, tràn ngập khí phách giống
nòi của người anh hùng dân tộc “Ta thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất
Bắc”, và bức tranh “Khuyến học” giàu tính trữ tình.
Tòa đại sứ Kampuchia mua 5 bức Angkorwat. Một nhà sưu tập
tranh từ Monaco (Pháp) cũng phải tốn công tìm đến họa thất của Tú Duyên, tại đường
Nguyễn Công Trứ để mua tranh. Tranh “thủ ấn họa” của Tú Duyên còn chu du đến
nhiều quốc gia khác như: Pháp, Nhật, Bỉ, Malaysia, Philippines… Hiện tại, Tú
Duyên còn có hơn 14 tác phẩm được lưu trữ và trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật
Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài tinh thần khám phá, niềm đam mê sáng tạo không ngừng từ
đó đã hình thành được một gia tài nghệ thuật, họa sĩ Tú Duyên còn là chân dung
tiêu biểu của một nhà giáo mẫu mực, giàu kiến thức, tài năng luôn giúp đỡ học
trò và đồng nghiệp. Ở nhà nghệ sĩ tài hoa, đức độ luôn thể hiện một lòng tận tụy
yêu thương vô bờ với môn sinh khi thầy công tác ở trường mỹ thuật nên họa sĩ
lúc nào họa sĩ Tú Duyên cũng được nhà trường và học sinh rất mực kính trọng và
yêu thương.
Cuộc đời của họa sĩ Tú Duyên khiến người ta nhớ đến hai câu
thơ của một thi sĩ giàu tinh thần cách mạng: “Nếu phải đường đời bằng
phẳng hết/Anh hùng hào kiệt có hơn ai” (Phan Chu Trinh). Nếu không vì hoàn
cảnh trớ trêu không tiền đóng học phí, khiến Tú Duyên phải sớm rời trường Cao đẳng
Mỹ thuật Đông Dương, giã từ bạn học cùng khóa, để “hành phương Nam” và nếu không
có được óc sáng tạo trời cho và tinh thần cầu tiến, luôn tìm tòi khám phá thì nền
mỹ thuật Việt Nam chưa ắt đã sản sinh ra được một nghệ sĩ hội họa giàu cá tính,
tài năng như họa sĩ Tú Duyên. Trong một miền đất nước như xã hội Nam bộ còn biến
cố chính trị, tác động bởi thế lực ngoại bang, vẫn nở như nhũng bông hoa nghệ
thuật tươi thắm – những nghệ sĩ chân tài như Nguyễn Gia Trí (1908-1993: sơn
mài), Lê Văn Đệ (1906-1966: sơn dầu và tranh lụa); Tô Ngọc Vân (1906-1954: sơn
dầu); Trần Văn Cẩn ( sơn dầu), Lê Trung (1919-? sơn dầu), gốc người Châu Đốc,
An Giang; Duy Liêm (1914-1994: vẽ bìa sách, bìa nhạc); Lê Minh (1937-?: vẽ sách
chưởng, kiếm hiệp, phiêu lưu, minh họa mà sắm được xe hơi, xây nhà lầu)…hầu hết
đã xuất thân từ chiếc nôi mỹ thuật kinh viện ở Hà Nội là trường Cao đẳng Mỹ thuật
Đông Đương (4).
Trong khi các nghệ sĩ ấy đã theo dấu chân mỹ thuật hàn lâm
truyền thống bình thường, Tú Duyên lại chọn con đường riêng là tự mày mò thêm,
cải tiến không ngừng để hoàn thiện kỹ thuật vẽ tranh khắc gỗ và tranh lụa với một
tinh thần sáng tạo tuyệt vời, khiến giới nghệ sĩ trong nước và cả thế giới phải
khâm phục và ngưỡng mộ. Không ngớt tìm mua những bức tranh khắc gỗ cách
tân của họa sĩ với đường nét sinh động, sắc màu lung linh hấp dẫn mà tràn ngập
tính nghệ thuật và nhân văn. Theo dư luận công chúng và sự đánh giá của giới
làm nghệ thuật uy tín từ trước hạ bán thế kỷ 20 đến nay, Tú Duyên được coi
là họa sĩ đầu tiên đã khai sinh ra “trường phái Thủ ấn họa” ở Việt
Nam.
Chú thích:
(*) Phan Thanh Giản: Đại thần triều Nguyễn, thi
sĩ (tác giả Lương Khê thi thảo…), gốc người Bến Tre, rất được nhà thơ Nguyễn
Đình Chiểu kính trọng. Trước khi uống thuốc độc tự vẫn, ông gọi các con là Phan
Liêm, Phan Tôn lại, ân cần căn dặn không được hợp tác với thực dân Pháp. Sau
một thời gian thân thế và sự nghiệp của danh sĩ này bị tranh cải, hiện nay cuộc
đời Phan Thanh Giản đã được giải oan, danh dự được phục hồi.
(1), (2) Theo họa sĩ Uyên Huy, chủ tịch hội Mỹ thuật
TP. Hồ Chí Minh (2012) nguyên là học trò ưu tú của danh họa Tú Duyên.
(3) Báo ‘Le Journal d’Extrême d’Orient’ (Nhật báo
Viễn Đông) số 2717 ngày 15.11.1957
(4) do họa sĩ Victor Tardieu (1870-1937) và họa sư Nam Sơn
(1890-1973) sáng lập.
20/3/2020
Đan Thanh
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Vẻ đẹp của dòng chảy văn nghệ dân gian
Vẻ đẹp của dòng chảy
văn nghệ dân gian
Đọc Cảm nhận về vẻ đẹp văn hóa, văn nghệ dân gian
- NXB Văn hóa văn nghệ - 2020
Qua tác phẩm Cảm nhận về
vẻ đẹp văn hóa, văn nghệ dân gian, tôi thấy anh đã thể hiện sự tinh tường trong
cảm nhận. Mỗi bài viết là một bông hoa đậm hương sắc. Có đầy đủ yếu tố từ cách
nhìn đánh giá, khám phá vẻ đẹp tiềm ẩn, đến những tinh hoa do văn hóa, văn nghệ
dân gian đem lại.
Bìa sách Cảm nhận về vẻ đẹp văn hóa, văn nghệ dân gian
Tôi rất vui nhận được sách tặng của nhà văn Lê Xuân từ Thành
phố Cần Thơ gửi ra Thanh Hóa – quê anh. Anh là nhà giáo, nhà báo, nhà văn,
chuyên viết về Khảo cứu và Phê bình văn học. Anh quê Thanh Hóa lên Tây Bắc dạy
học từ 1966, tới 1980 anh vào dạy ở Thành phố Cần Thơ. Tập Cảm nhận về vẻ
đẹp văn hóa, văn nghệ dân gian là tác phẩm thứ ba, anh viết dưới dạng Tiểu
luận, Khảo cứu.
Là một nhà giáo dạy Văn, cùng yêu thích văn chương và cùng quê với anh, tôi biết
tên thật của anh là Lê Xuân Bột (bút danh: Lê Xuân, Thọ Hải, Thọ Xuân) vì đã được
đọc nhiều bài anh viết về Giáo dục khi anh là Trưởng Văn phòng liên lạc Báo
Giáo dục và Thời đại ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Điều đáng nói, trước cuốn
sách mới in này, anh đã in chung trên 30 mươi tác phẩm. Đặc biệt, in riêng có
hai tác phẩm nghiên cứu Lý luận PBVH: “Lời đồng vọng” và “ Tiếng nói tri
âm”. Ngoài ra, còn có nhiều truyện ký, bút ký, tản văn, thơ… đăng báo, được nhiều
độc giả cả nước biết đến. Một số bài viết của anh đã nhận được giải thưởng về
văn học, báo chí từ Trung ương đến địa phương.
Qua tác phẩm Cảm nhận về vẻ đẹp văn hóa, văn nghệ dân gian, tôi thấy anh
đã thể hiện sự tinh tường trong cảm nhận. Mỗi bài viết là một bông hoa đậm
hương sắc. Có đầy đủ yếu tố từ cách nhìn đánh giá, khám phá vẻ đẹp tiềm ẩn, đến
những tinh hoa do văn hóa, văn nghệ dân gian đem lại.
Với tầm suy nghĩ rộng, uyên bác trong khảo cứu, anh đã phân tích, bình luận khá
rõ nét nhiều vấn đề mang sắc thái riêng, không lẫn với nhiều người đi trước. Đó
là một ưu điểm mà hiện nay vẫn không ít có người lặp lại.
Xuất phát từ quan niệm: Văn học là nhân học, văn học dân gian là một bộ phận
của văn hóa dân gian nên anh đã có cái nhìn khoa học, tinh tường về bản chất
của vấn đề trong học thuật. Mỗi bài viết đưa ra, anh có sự cảm nhận tinh tế. Anh
có năng khiếu thẩm bình, nhất là những bài ca dao, tục ngữ mà lâu nay, ta thường
gọi là những “hòn ngọc” được nhiều người bàn đến. Từ góc độ chuyên môn, qua nhiều
năm giảng dạy nghiên cứu, anh đã có nhiều cung bậc cảm xúc khi tung những vấn đề
ra để luận bàn, đều có sức gợi lớn, đem đến cho người đọc những rung cảm thẩm mỹ
nhất định.
Nội dung tác bài viết trong cuốn sách khá phong phú về đề tài, chủ đề. Ở phần
I: Bàn về ca dao, dân ca, tục ngữ có 12 bài. Trong các bài ấy, anh đã
nêu bật được cái hồn cốt của một số bài ca dao, dân ca, tục ngữ với điểm nhìn sắc
sảo. Những tinh hoa nghệ thuật qua các chi tiết thẩm mỹ, nhà văn Lê Xuân đã bàn
luận, đánh giá, đưa ra những kiến giải dưới góc nhìn của một nhà lý luận nên có
sự khái quát cao, giàu tính thuyết phục.
Tôi rất thích các bài anh viết ở phần II bàn về Đình chùa, lễ hội, ẩm thực,
đờn ca tài tử (8 bài). Đây là những vấn đề rất cần kiến thức tổng hợp, đã
cung cấp cho người đọc trong đời sống hiện nay hiểu thêm về quá khứ của cha
ông. Nếu nói một năm có bốn mùa ở nước ta thì mùa nào người dân Việt cũng dành
nhiều thời gian hơn cho các điểm đến từ đình chùa, lễ hội. Bởi nơi ấy chính là
nơi hội tụ những nét văn hóa tâm linh có nguồn gốc sâu xa trong thế giới nội
tâm của con người, nên những phần anh viết trong phần này như chắp cánh cho người
đọc có thêm niềm vui khi họ cần tìm đến và tra cứu. Điều đặc biệt hơn là các độc
giả phía Bắc hiểu thêm về đình chùa, lễ hội, phong tục tập quán của người dân
vùng sông nước Đồng bằng Nam Bộ, mà nét nổi bật nhất là Đờn ca tài tử –
văn hóa phi vật thể đã được Hội đồng UNESCO công nhận.
Ở PHẦN III (12 bài) là Hình ảnh 12 con giáp trong ca dao, tục ngữ, thơ
ca đặt ở cuối sách, cũng rất hấp dẫn, tạo thêm dấu ấn khó quên cho
người đọc. Ta đã gặp nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa, văn học dân gian qua nhiều
bài viết nhưng riêng tôi có sự cảm nhận, nhà văn Lê Xuân là người rất cẩn trọng
trong từng câu chữ, từng ý, từng lời văn khi viết, nên phong cách của anh rạng
ngời sắc nét. Mỗi bài viết về những con Giáp đều có sự nghiên cứu tường tận về
văn hóa dân gian trong tâm thức người Việt. Mỗi linh vật đều có sự chảy ngầm
trong sáng tạo của dân gian qua mạch nguồn ca dao, tục ngữ, đã làm sáng lên giá
trị nhân bản mà bao đời ông cha ta đã gìn giữ vun đắp, phát triển.
Có thể nói, cuốn sách Cảm nhận về vẻ đẹp văn hóa, văn nghệ dân gian của
nhà văn Lê Xuân là món quà rất ý nghĩa đối với tôi. Với loại sách Tiểu luận, Khảo
cứu này, tôi thiết nghĩ phải đọc đôi ba lần, đọc chậm và nghiền ngẫm sẽ tìm đến
những điều vô cùng ấn tượng đối với tác phẩm. Tôi tin mỗi lần độc giả đọc cuốn
sách này, sẽ trào dâng nhiều cảm xúc, có thêm niềm vui trong cuộc sống. Đồng thời
cho ta thêm trí tuệ và bản lĩnh, khi tiếp cận với thế giới hiện đại ngày nay,
giúp cho mỗi người càng hiểu thêm về bản sắc, giá trị truyền thống văn hóa, văn
học của dân tộc, từ đó có trách nhiệm gìn giữ và bảo tồn, để phát huy giá trị
đích thực của nó trong đời sống văn hóa hiện nay.
Hy vọng người đọc sẽ đồng cảm với tác giả và tác phẩm, và tiếp tục đón đọc các
tác phẩm tiếp theo của anh trên văn đàn. Chúc nhà văn vui khỏe hạnh phúc và
thành công trong cuộc sống.
Thanh Hóa, 20/3/2020
Trịnh Vĩnh Đức
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
NSND Thế Lữ - "Cây đàn muôn điệu"
NSND Thế Lữ
"Cây đàn muôn điệu"
NSND Thế Lữ được biết trước hết với bài thơ “Nhớ rừng”, bài
thơ tiêu biểu của ‘trào lưu thơ mới’ từ 1930. Thực ra, Thế Lữ là một điển hình
nghệ sĩ tài hoa của nền văn hóa nước nhà. Ngoài lĩnh vực thi ca (2 tập thơ),
nhà thơ còn là: tiểu thuyết gia (40 truyện); kịch tác gia, (20 vở), kịch thơ (2
vở); đạo diễn (8 vở); diễn viên kịch; dịch giả và nhà báo. Hai bài thơ được phổ
nhạc: Tiếng sáo Thiên thai (Phạm Duy), Xuân và Tuổi trẻ (La Hối). Thế Lữ được
truy tặng: Huân chương Độc lập hạng 3, Huân chương Kháng chiến hạng 2, Nghệ sĩ
Nhân dân (1984), Giải thưởng Hồ Chí Minh (2000). Thế Lữ được đặt tên cho những
con đường tại: Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Hải Phòng, Đà Nẵng.
NSND Thế Lữ
Trước năm 1975, sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn muốn
nghiên cứu về những tác giả kháng chiến, không thể tìm ở các nhà sách mà phải
chịu khó tạt qua khu Chợ cũ để mua lại những sách xưa, hoặc sách in ronéo, dưới
bìa có dòng chữ “Tư liệu của sinh viên Văn khoa”. Mê thi ca lại đang soạn tiểu
luận Cao học Văn chương với sự bảo trợ của GS. Bửu Cầm, tôi đã phải miệt mài
chép tay lại 2 tập “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” (Xuân Diệu); mua các bản in
ronéo các tập thơ của Huy Cận, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư… Riêng thi tập “Mấy vần
thơ” của Thế Lữ, tôi mua được bản in xuất bản chính thức của gia đình vợ nhà
thơ đang ở tại Sài Gòn.
Thế Lữ (1907-1989), thường gọi là Nguyễn Thứ Lễ tên
thật là Nguyễn Đình Lễ, bút danh: Thế Lữ, Lê Ta, Nguyễn Thứ Lễ, Nguyễn
Thế Lữ, Nguyễn Khắc Thảo, gốc người ở Gia Lâm, Hà Nội. Bút danh Thế Lữ mang
ý nghĩa ‘người khách đi qua trần thế’, được coi là ‘tiếng lái’ của Thứ Lễ. Còn
bút danh Lê Ta thì bắt nguồn từ đánh vần chữ Lễ: Lê Ngã Lễ, mà ngã có
nghĩa là ta.
Thế Lữ xuất thân từ một gia đình cha là công chức,
nhưng mẹ theo đạo Công giáo nên không được bên nội thừa nhận. Mới vài tháng tuổi,
Thế Lữ phải rời mẹ, lên Lạng Sơn sống cùng ông bà nội. Sống ở xứ Lạng núi rừng
hoang dã, mỗi năm chỉ gặp mẹ một lần nên tình cảm nhớ thương mẹ ruột và những
câu chuyện kinh dị ma quái mà ông được nghe kể lại từ nhỏ đã trở thành tư liệu,
tạo nguồn cảm hứng cho ông viết một số truyện đường rừng sau này. Từ nhỏ, Thế Lữ
học chữ Nho, chữ Hán. Lúc anh trai mất, Thế Lữ về ở với mẹ tại Hải Phòng, đi học
tư với cha của người bạn rồi vào lớp Đồng Ấu trường làng. Đỗ Sơ học lúc 17 tuổi,
Thế Lữ lập gia đình với Nguyễn Thị Khương. Vào học Cao đẳng Tiểu học
Bonnal tại Hải Phòng, nhưng học được 3 năm thì bỏ. Những năm học ban Thành
chung, Thế Lữ đã nhen nhóm tinh thần yêu nước. Năm 21 tuổi (1928), Thế Lữ tham
gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, cùng hoạt động với Nguyễn Văn
Linh ở Hải Phòng. Năm sau, Thế Lữ lên Hà Nội, thi đỗ dự thính vào trường Cao
đẳng Mỹ thuật Đông dương, chơi thân với Nguyễn Đỗ Cung, Vũ Đình Liên, và cùng
Hoàng Lập Ngôn tổ chức một salon littéraire (Câu lạc bộ văn học) để
thảo luận văn chương. Nhưng Thế Lữ học ở trường Mỹ thuật được một năm lại bỏ học.
Rời con đường hội họa, Thế Lữ bước hẵn sang môi trường văn
chương. Những truyện đầu tiên Thế Lữ viết về những gì tai nghe mắt thấy khi ông
ở núi rừng Lạng Sơn. Được bạn bè khuyến khích, ông gởi sáng tác đầu tay của
mình cho nhà xuất bản Tân Dân. Hai cuốn Một truyện báo thù ghê gớm và Tiếng
hú hồn của mụ Ké được ông giám đốc nhà xuất bản khen, cho in ra. Khi còn ở
Hà Nội, Thế Lữ làm thầy cò cho báo Volonté Indochinoise (Ý muốn
của Đông Dương), ngày ngày đi ngang qua Vườn Bách thảo, thời gian này Thế Lữ đã
sáng tác bài thơ nổi tiếng Nhớ rừng. Khi về ở Hải Phòng lúc đang bệnh,
được mẹ cho dựng căn nhà lá cạnh Đồ Sơn. Nơi đây, khi đã khỏe mạnh, Thế Lữ bắt
đầu tập trung vào làm thơ và viết truyện.
Thế Lữ và phu nhân – Nghệ sĩ Song Kim
Khi hợp tác với báo Phong hóa (số Tết, 1933) của Nhất
Linh, Thế Lữ gởi bài thơ “Con người vơ vẩn” được đăng. Có dịp nghe đọc những
bài thơ Thế Lữ sáng tác, nhà văn Khái Hưng đã ca ngợi Thế Lữ là “Lamartine của
Việt Nam” (1). Nguyễn Tường Tam, nguyên soái của Tự Lực Văn đoàn, sau
khi đọc các truyện “Vàng và Máu”, “Một đêm trăng” khen tác giả là một “cây bút
mới mẻ”, “có triển vọng” và “sẽ kết nạp” vào văn đoàn. Sau đó, Thế Lữ được vào
làm việc tại báo Phong hóa, và Nhất Linh viết bài đề cao Thế Lữ cùng thơ,
văn của ông. Tự Lực Văn đoàn chính thức ra đời (3/1934) với 6 thành viên: Nhất
Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng, Thạch Lam, Tú Mỡ và Thế Lữ.
Thế Lữ tham gia biên tập cho tòa soạn báo Phong
hóa, Ngày nay. Viết bình luận, phân tích các vấn đề văn nghệ, Thế Lữ còn
làm giám khảo cho các cuộc thi văn chương của Tự lực Văn đoàn. Thế Lữ hăng hái
viết bài bảo vệ và đề cao thơ mới trong đó có bài Nhớ rừng, sau đó là các
bài Cây đàn muôn điệu, Tiếng sáo thiên thai…, đã từng gây tác động mạnh
mẽ với công chúng. Sau này, thơ Thế Lữ được tập hợp lại đăng trong thi tập “Mấy
vần thơ” (1935), góp phần đem lại thành công hoàn toàn cho phong trào Thơ mới
và đưa Thế Lữ trở thành một nhà thơ tiêu biểu của Thơ mới của thuở ban đầu.
Đa phần tác phẩm của Thế Lữ được Nhà xuất bản Đời nay phát hành. Tập
truyện đầu tay Vàng và máu được Khái Hưng ưu ái viết lời giới thiệu.
Về sau do yêu cầu bức thiết của tình hình đất nước tiệm cận gần
đến năm 1945, nhà thơ bắt đầu chuyển hướng sáng tác, Thế Lữ chia tay với văn
chương để hoạt động Sân khấu, lại có ý phủ định toàn bộ đóng góp của Tự lực Văn
đoàn vào nền văn hóa dân tộc. Ông chuyển sang hoạt động sân khấu kịch
nghệ (kịch nói/ Play), được coi là có chức năng tuyên truyền mạnh mẽ và tác dụng
hiệu quả hơn.
Tham gia vào Tự lực Văn đoàn, dù đã nổi tiếng trong lĩnh vực
văn chương, Thế Lữ thành lập Nhóm kịch Thế Lữ nghiệp dư tại Hải
Phòng. Đến năm 1936, Thế Lữ cùng Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Đỗ
Cung, Vũ Đình Liên thành lập ban kịch Tinh hoa nhằm vươn
lên để không thua kém kịch trường Pháp. Tại nhà hát lớn Hà Nội, hai vở
kịch: Sau cuộc khiêu vũ và Ghen, do ban kịch Tinh Hoa được
dàn dựng, do Thế Lữ đạo diễn, cùng với các diễn viên: Thế Lữ, Đoàn Phú Tứ,
trình diễn thành công. Khi ban kịch Tinh Hoa ngừng hoạt động, Thế Lữ quay về Hải
Phòng, nối tiếp gây dựng lại nhóm kịch Thế Lữ, với sự hiện diện thêm của các diễn
viên mới: Lê Thương, Song Kim… Họa sĩ Tô Ngọc Vân, phụ trách trang trí. Tại nhà
hát lớn Hải Phòng (1938), vở Kim tiền (Vi Huyền Đắc) và các vở kịch
ngắn của Đoàn Phú Tứ được trình diễn. Thế Lữ, ngoài làm đạo diễn, còn đảm nhận
vai chính trong một số vở. Khi diễn tại nhà hát lớn Hà Nội, các vở Ông
Ký cóp, Lọ vàng, Thế Lữ trong vai chính đã diễn xuất thần. Ấn tượng nhất ở
hài kịch Lọ vàng, Thế Lữ gây cảm tình sâu sắc ở khán giả trong vai
chính hình ảnh của một lão Quý “bần tiện, ích kỷ, đầy dục vọng xấu xa”. Cuối
năm 1938, Thế Lữ kết hôn với Song Kim, một nghệ sĩ trong nhóm kịch. Thời gian
này, do ngại hoạt động kịch của Thế Lữ có thể làm giảm hiệu quả công việc ở Tự
lực Văn đoàn, Nhất Linh và Hoàng Đạo tỏ ý không tán đồng. Nhưng Khái Hưng, Thạch
Lam và Tú Mỡ lại ủng hộ. Khái Hưng có sáng tác một số vở kịch cho nhóm, còn Thạch
Lam thì đã viết nhiều bài phê bình khích lệ. Cùng trong năm 1939, vở “Đoạn tuyệt”
được ra mắt trên sân khấu có sự tham gia lần đầu của Tú Mỡ.
Tuyển tập Thế Lữ
Thực ra, với Thế Lữ, dù đã thành công từ đầu với sự nghiệp
thơ văn nhưng ý tưởng về sự thành lập một ban kịch chính thức ở ông đã như một
ngọn lửa được nhen nhóm từ lâu. Khi thế chiến lần 2 nổ ra, nhóm kịch Thế Lữ bị
theo dõi, hoạt động lúc càng tù túng. Căn nhà thuê ở Ngã Tư Sở bị chủ lấy lại,
vợ chồng Thế Lữ – Song Kim được Thạch Lam cho ở trọ chung nhà, chưa bao lâu thì
Thạch Lam mất vì bệnh phổi. Tú Mỡ thuê giúp hai vợ chồng nhà thơ Thế Lữ một căn
hộ mới trên đường Láng ở gần nhà ông, nhưng gia đình Thế Lữ càng lâm vào cảnh
khó khăn. Ngôi nhà Thế Lữ lúc này được bè bạn văn chương gọi hoa mỹ là “biệt thự
gió bốn phương” trở thành nơi hội tụ của văn nghệ sĩ: Tú Mỡ, Mai Lâm. Huyền
Kiêu, các nhạc sĩ: Lưu Hữu Phước, Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương… sau cùng là Nguyễn
Tuân. Tại căn nhà lộng “gió bốn phương” này, Thế Lữ cùng những người bạn yêu kịch
hướng tới thành lập một ban kịch chuyên nghiệp.
Ban kịch Thế Lữ ra mắt vào năm 1942, với số lượng kịch
phẩm phong phú, tác giả hùng hậu: Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Khái Hưng, Đồ Phồn
(Bùi Huy Phồn). Đội ngũ diễn viên đông đảo. Vốn kinh tế do các thành viên cùng
Thế Lữ đóng góp: mỗi người 500 đồng. Thế Lữ đã đi cầm miếng đất mẹ cho mà về
sau không bao giờ trở về với chủ cũ. Họa sĩ trang trí có: Nguyễn Thị Kim, Trần
Đình Thọ… Ra mắt mùa kịch 1942-1943 là vở kịch thơ Tục lụy do Thế Lữ
chuyển thể từ tác phẩm của Khái Hưng, được Lưu Hữu Phước phụ trách phần
nhạc nền cùng Nguyễn Xuân Khoát. Hoạt động chưa được bao lâu, Ban kịch Thế
Lữ gặp khó khăn từ phía chính bị cấm diễn hoặc bị cắt xén nội dung
như các vở: Kinh Kha, Kim Tiền. Lại gặp thêm về điều kiện vật chất, Ban kịch
Thế Lữ lặng lẽ giải tán.
Sau khi ban kịch Thế Lữ giải tán, vợ chồng Thế Lữ về ở trại
Doi thuộc làng Sét cùng bạn bè đủ mặt. Thời gian này, Thế Lữ viết vở kịch
thơ Dương Quý Phi. Cuối năm 1943, kiến trúc sư Võ Đức Diên, giàu có, tìm
mua lại ban kịch Thế Lữ, dựng ban lại ban kịch mới lấy tên Đoàn kịch Anh Vũ
trên cơ sở nhân viên của ban kịch cũ, Thế Lữ chỉ đạo về nghệ thuật, Võ Đức Diên
trách nhiệm về kinh tế. Trong vở kịch thơ Dương Quý Phi, bên cạnh Sỹ Tiến
trong vai An Lộc Sơn, Thế Lữ vai Đường Minh Hoàng, đã diễn xuất
sắc khiến khán giả “rung động trong lòng, tiếc nuối mối tình dang dở và thương
nhân vật phải ôm hận nghìn đời”. Năm 1945, sau khi Nhật đảo chánh Pháp, Thế Lữ
và Đoàn kịch Anh Vũ định đi lưu diễn các tỉnh, từ Hà Nội vào Sài Gòn,
sang Kampuchia rồi trở ra Bắc. Từ Nam Định tới Thanh Hóa, trong vở Đời nghệ
sĩ, các diễn viên của đoàn Anh Vũ đã diễn như hiện thực nỗi khổ của nghệ sĩ
lang thang ngoài đời, có sự tham gia diễn xuất của các nhạc sĩ Đỗ Nhuận, Nguyễn
Xuân Khoát.
Cách mạng tháng Tám nổ ra, khi đoàn đang diễn tại Thanh Hóa.
Vở Đời nghệ sĩ được bổ sung thêm cảnh cuối: những nghệ sĩ lãng tử vui
sướng chào mừng cách mạng, kết thúc là hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng phấp phới
trong giai điệu hào hùng của bản Tiến quân ca lịch sử. Sau đó vào Vinh, đoàn dựng
vở Đề Thám (Lưu Quang Thuận) có nội dung chống Pháp, và trong “Tuần lễ vàng”,
theo yêu cầu của thành phố, Thế Lữ đã dựng các vở kịch ngắn: Phan Đình Phùng
tiếp sứ, Ông đồ Giáp-Bagin…cùng những “sáng tác kịp thời” để phục vụ theo
yêu cầu của từng địa phương. Ở Huế, Thế Lữ viết vở “Người mù”, với nhân vật
chính là một ông lão mù do chính ông đóng một cách xuất thần. Vở Cụ đạo,
sư ông Thế Lữ viết theo gợi ý của Thanh Tịnh được đoàn diễn nhiều lần,
trong cả những năm kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc sau này. Đến Qui Nhơn, do
tình hình chiến sự căng thẳng ở miền Nam, đoàn kịch không vào Sài Gòn mà quay
trở ra Bắc. Sau đó, Thế Lữ-Song Kim về Hà Nội (4/1946).
Trước khi chiến tranh bùng nổ, Thế Lữ đã từng nói với Song
Kim “Suốt đời anh chỉ sống cho văn chương nghệ thuật mà thôi. Anh không
làm chính trị”. Có lần Nguyễn Tường Tam cho người mời Thế Lữ vào Quốc dân đảng
nhưng Thế Lữ đã mạnh từ chối. Tuy nhiên, sau Cách mạng tháng Tám, Thế Lữ thể hiện
rõ thái độ ủng hộ Việt Minh và chính phủ Hồ Chí Minh. Khi Hội nghị Văn hóa Toàn
quốc lần thứ nhất họp (24/11/1946), Thế Lữ đã viết bản báo cáo: Sân khấu
Việt Nam và kế hoạch xây dựng nền tân kịch để đọc trước hội nghị, trong đó
ông nhấn mạnh: “Nền tân kịch nước ta, cũng như mọi ngành văn hóa khác, cần phải
mau tiến tới độ phong thịnh… Tân kịch phải có những nghệ sĩ thuần thục về kỹ
thuật…”. Trong tình hình căng thẳng giữa Việt Minh và Pháp, Chủ tịch Hồ Chí
Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến (tối 19/12/1946). Vừa tản cư về Hà Đông, Thế
Lữ nói với Song Kim : “ Chúng ta không về Hà Nội nữa! Chúng ta đi kháng chiến”.
“Nhưng chúng ta sẽ làm được gì cho kháng chiến?”, Song Kim hỏi. “Làm kịch, phải
làm kịch kháng chiến”, Thế Lữ trả lời. Sau khi bắt được liên lạc với Bùi
Huy Phồn, Thế Lữ triệu tập các văn nghệ sĩ lên chiến khu Việt Bắc. Đầu năm
1947, vừa sau Tết Nguyên đán, Thế Lữ và Song Kim như đôi sam nghệ thuật – “hai
thỏi vàng hiếm hoi quý giá”(Nguyễn Khoa Điềm) – quày quã lên Phú Thọ, bắt đầu
những tháng năm làm văn hóa kháng chiến của đôi uyên ương nghệ sĩ ở thủ đô gió
ngàn Việt Bắc.
Ở Phú Thọ, nơi tập trung các văn nghệ sĩ kháng chiến,
đoàn Văn hóa kháng chiến nơi đây do họa sĩ Tô Ngọc Vân làm Trưởng
đoàn được thành lập, vợ chồng Thế Lữ sống ở một nhà dân gần trại Văn hóa kháng
chiến. Ngày 19/8/1947, kỷ niệm hai năm ngày Cách mạng tháng 8, một tối kịch đầu
tiên được tổ chức tại Ấm Thượng, với chương trình gồm 2 vở: Tay người đàn
bà (Bùi Huy Phồn) và Cụ đạo, sư ông (Thế Lữ) với Thế Lữ đóng vai
cha Phan, Thanh Tịnh vai Thanh tra mật thám…mở đầu cho nhóm kịch kháng chiến. Đại
hội Văn nghệ Toàn quốc tháng 7/1948 thành lập hội Văn nghệ Việt Nam, Thế Lữ được
bầu làm Ủy viên thường vụ Ban Chấp hành kiêm Trưởng đoàn Sân khấu Việt Nam. Mùa
hè cùng năm, Thế Lữ dựng vở kịch Đề Thám xuất quân, được tổ chức
ngoài trời với hơn 150 diễn viên gồm quân nhân, quần chúng nhằm tái hiện cảnh lễ
ra quân của Hoàng Hoa Thám trong cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Năm sau, Đoàn
Sân khấu Việt Nam chuyển thành Đoàn kịch Chiến Thắng, đi theo các đơn
vị quân đội, biểu diễn nhiều nơi khác. Thế Lữ tham gia đóng vai và dựng thêm
nhiều vở: Đợi chờ, Giác ngộ, Anh Sơ đầu quân,…Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng là
tác giả tích cực, đã sáng tác nhiều vở… Năm 1952, Thế Lữ làm chỉ đạo nghệ thuật
cho Đoàn Văn công Nhân dân Trung ương, dàn dựng vở Những người ở lại (Nuyễn
Huy Tưởng) và tiếp tực viết và đạo diễn vở Tin chiến thắng Nghĩa Lộ với
Song Kim vai bà mẹ và Thế Lữ vai Ké Hàm. Thời gian này, Thế Lữ cũng tìm hiểu về chèo,
đã dàn dựng và tham gia đóng trong một số vở chèo.
Sau hiệp định Genève, Thế Lữ cùng các văn nghệ sĩ kháng chiến
trở về Hà Nội, tiếp tục hoạt động sân khấu, tham gia Đoàn Kịch nói Trung ương.
Năm 1855, ông vừa là Trưởng ban Nghiên cứu Nghệ thuật Sân khấu Việt Nam, vừa chỉ
đạo nghệ thuật của Đoàn Ca Múa Nhân dân Trung ương, đi biểu diễn tại Liên Xô,
Ba Lan, Trung Quốc. Ông là Chủ tịch đầu tiên của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam
(1957-1977) và là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, cũng là Phó Chủ tịch
Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam khóa II. Thế Lữ là Đại biểu Quốc hội
khóa II (1960-1964), được gọi là “Tổng Đạo diễn Thành phố Hà Nội”. Năm 1958, vở
kịch Xô Viết được dàn dựng hoành tráng tại Việt Nam quy tụ đông đảo nghệ sĩ, diễn
viên, đạo diễn tham gia, Thế Lữ vừa tham gia hội đồng đạo diễn, vừa đóng vai
Giáo sư Goronov Staev trong vở kịch. Từ năm 1960, Thế Lữ hoạt động thêm ở lĩnh
vực dịch thuật. Thế Lữ được coi là người thầy, một cố vấn giàu kinh nghiệm,
luôn động viên và giúp đỡ những nghệ sĩ sân khấu đàn em. Từ khi nghỉ hưu
(1977), Thế Lữ vào Thành phố Hồ Chí Minh sống với người vợ đầu và các con sau
nhiều năm xa cách.
Cũng như không ít nghệ sĩ khác, do hoàn cảnh hoạt động, Thế Lữ
có cuộc sống gia đình khá đặc biệt. Ông lập gia đình khi chưa tới tuổi thành
niên với người vợ đầu lớn hơn 2 tuổi và có với nhau được 4 con, ba trai một
gái: Nghi, Tâm, Học, Tùng. Năm 1954, vợ và 3 người con sau vào Nam. Năm 1979,
gia đình mới đoàn tụ. Người con cả Nguyễn Đình Nghi (1928-2001), ở lại miền Bắc,
theo cha tham gia kháng chiến, sau trở thành một đạo diễn sân khấu nổi tiếng,
được phong tặng nghệ sĩ nhân dân (1988). Con dâu cả của Thế Lữ – vợ
Nguyễn Đình Nghi, nghệ sĩ ưu tú Mỹ Dung cũng là một diễn viên kịch nói. Vợ thứ
hai của Thế Lữ, nghệ sĩ Song Kim (1913-2008) tên thật Phạm Thị Nghĩa sống với
ông từ năm 1938, cũng là một phụ nữ say mê sân khấu từ nhỏ. Được mời đóng vai đầu
tiên trong vở Gái không chồng (Đoàn Phú Tứ) và trở thành bạn đời đồng
hành cùng ông trong suốt cuộc đời phụng sự nghệ thuật. Song Kim cũng được phong
tặng nghệ sĩ nhân dân cùng chồng ngay trong đợt đầu tiên (1984).
Dù hoạt động sân khấu nổi bật trong suốt cuộc đời, Thế Lữ vẫn
được công chúng sớm biết đến trước tiên là một nhà thơ. Bài thơ Nhớ rừng nổi
tiếng của Thế Lữ được nhiều độc giả thuộc lòng và có trong chương trình
giáo khoa Ngữ văn lớp Phổ thông. Nhưng Thế Lữ vốn là một nghệ sĩ đa tài, đã hoạt
động trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật: thi ca, tiểu thuyết (kinh dị, trinh thám,
lãng mạn) cho đến báo chí, phê bình, dịch thuật và sân khấu.
Thế Lữ khiêm tốn tự nhận mình là một khách thơ lãng tử đa
tình, tôn thở cái Đẹp, mải mê đi tìm hương sắc và thanh âm của nghệ thuật và cuộc
đời: Tôi chỉ là một khách tình si/ Ham vẻ Đẹp có muôn hình muôn thể/ Mượn
lấy bút nàng Ly Tao tôi vẽ/ Và mượn cây đàn ngàn phím tôi ca (Cây đàn muôn
điệu). Là một nhà thơ nặng lòng yêu dấu, ‘biết cười cùng hoa nở chim kêu, cũng
biết yêu và biết tình yêu.Thế Lữ là một vị (giáo sư già dặn) dạy khoa tình ái
cho cả một thời đại’ (Hoài Thanh). Ông là nhà thơ ca tụng tình yêu nồng nàn,
trước nhất là ái tình, rồi tình yêu cỏ cây non nước, những nguồn cảm hứng vô tận
trong thi ca nên người ta bảo Thế Lữ chịu ảnh hưởng của trào lưu lãng mạn
phương Tây với Lamartine, Wordsworth hay Goethe. Biết yêu là biết ca ngợi cái đẹp-
nguồn cội của tình yêu, có thể làm cho nhà thơ say đắm như kẻ mất hồn: Tiếng
hát trong như nước ngọc tuyền/ Êm như hơi gió thoảng cung Tiên/ Cao như thông
vút, buồn như liễu/ Nước lặng, mây ngừng, ta đứng yên (Bên sông đưa
khách). Đôi khi, tình cảm với thiên nhiên u hoài xa vắng, lung linh một màu
thoát tục: Trời cao xanh ngắt – Ô kìa! / Hai con hạc trắng bay về Bồng
Lai//…Tiếng đưa hiu hắt bên lòng/ Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn/ Tiên nga
xõa tóc bên nguồn/ Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu (Tiếng sáo thiên thai). Dù
cuộc đời có gắn liền với cái đẹp của tình yêu muôn phương với những lời gọi mời
ái ân tha thiết, nhà thơ lãng tử như người khách chinh phu, không bao giờ quên
nghĩa vụ của người trai lúc san hà nguy biến: Vì chưng ta cũng biết yêu
đương/ Mà cuộc tình duyên gặp giữa đường/ Trong lúc non sông mờ cát bụi/ Phải
đâu là hội kết uyên ương (Giây phút chạnh lòng). Vì lẽ, nhà thơ đã nghĩ
nhiều về thân phận mình và dân tộc mình, trong hoàn cảnh nô lệ không khác nào
con hổ ở vườn bách thú: Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt, ta nằm dài
trông ngày tháng dần qua/… Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu! (Nhớ rừng).
Thế Lữ còn sáng tác tiểu thuyết theo 3 thể loại: Vàng và
máu, Bên đường Thiên Lôi (kinh dị) viết theo phong cách Bồ Tùng
Linh; Gió trăng ngàn, Trại Bồ Tùng Linh (tình cảm lãng mạn đường rừng); Mai
Hương và Lê Phong, Gói thuốc lá (trinh thám) theo xu hướng phương Tây của
Edgar Poe. Và nhiều vở kịch thơ có nội dung yêu nước.
Trọn cuộc đời nghệ sĩ đã gian khổ truân chuyên với kịch nhưng
ở Thế Lữ, kịch vẫn mang hồn cốt của thơ – những vở thi kịch. Ta có thể
nói ông là một thi khách đa tình, nhưng tình cảm dạt dào, lành mạnh ở nhà
thơ – kịch tác gia Thế Lữ chỉ dành cho non sông hoa gấm, cho đất mẹ yêu thương.
Nhận định về người nghệ nhân dân sĩ tài hoa muôn mặt này, giáo sư Trần Hữu Tác
đã có những suy nghĩ rất đúng: “Thế Lữ đã trở thành người nghệ sĩ cách mạng có
những đóng góp vào phong trào văn nghệ dân tộc nhất là trong lĩnh vực sân khấu”.
18.03.2020
N.T
27/3/2020
Nguyễn Thanh
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)