Vấn đề cội nguồn văn hóa Việt Nam rất quan trọng.
Nhiều vị đã mất cả đời người truy tìm, trong đó có LM Kim Định... Tiếc rằng
văn bản lịch sử rất mơ hồ, dữ kiện khảo cổ không có bao nhiêu... đồng thời các
tài liệu Trung Hoa thì phức tạp và méo mó... nên phải rất thận trọng khi tìm về
nguồn và không để cho tình cảm chi phối lý trí làm lệch lạc kết quả.
Hy vọng phương pháp tìm về nguồn dựa trên Ngữ Âm Học Lịch Sử
(Historical Phonology) sẽ cho ta thấy nhiều kết quả chính xác hơn.
1. Giới thiệu tổng quát
Tìm hiểu về gốc của tên mười hai con giáp là một cơ hội để ta
tìm về cội nguồn tiếng Việt. Tên 12 con giáp là Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo,
Thìn/Thần, Tỵ, Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi, Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nhìn thì thập
nhị chi trên có vẻ bắt nguồn từ Trung Quốc (hay Trung Hoa, tắt là TH) vì là những
từ Hán Việt (HV). Khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những khác lạ hay có
một khuynh hướng tổng quát chung nào đó thì những dạng này cần được so sánh với
những từ khác với nguồn gốc không phải là Việt. Thí dụ như trong các từ liên hệ
đến xe hơi chẳng hạn, ta thấy các dạng như pan (xe bị pan), phanh (thắng), láp,
két nước (tử két), đèn pha, máy bơm xăng, ống bơm, xăng, hòn (viên) bi, bị giơ
(lỏng), cái van, dây cáp (điện), dây xên, con vít, sạc điện v.¦v...
không kể các từ đa âm khác như bugi, táp lô, rô đa, mỏ lét, rờ le, bù loong. So với tiếng Pháp và tiếng Anh hiện nay (không khác gì nhiều trong vòng
trăm năm nay)
Rõ ràng là các từ trên tương ứng với tiếng Pháp rất chặc chẽ
so với tiếng Anh, hay một ngoại ngữ nào khác - người viết dùng tiếng Anh và
Pháp để so sánh vì lịch sử cận đại cho thấy nhiều liên quan giữa nước Pháp, nước
Mỹ với VN. Ngoài ra, kỹ thuật chế tạo, lắp ráp và bảo trì xe hơi (ô tô) là từ
các nước Âu Châu trên. Nếu mở rộng đề tài ra thì ta có các tiếng Pháp khác nhập
vào tiếng Việt như bót/bốt (đồn cảnh sát), ông cẩm (commissaire), nhà ga (trạm
xe lửa), lô, ký (kilogramme), xạc (sacrer, bị mắng), cuốc (xe cuốc, course, xe
đua), cúp (coupe), cà-lem, kem (crème) v.v... Phần lớn các từ mượn từ tiếng
Pháp có phạm trù giới hạn và thường là thuật ngữ. Cách viết văn (cú pháp) và
thành lập chữ của bị ảnh hưởng phần nào qua giao lưu văn hóa với Pháp: như
cách dùng bàn giấy, giết thời gian. Trong các bài sau, người viết sẽ chú
trọng đến sự so sánh các từ, các biến âm và phạm trù ngữ nghĩa của chúng. Giao
lưu văn hóa với Pháp xảy ra chỉ gần đây (hai trăm năm trở lại và càng ngày càng
ít đi từ thời kỳ thuộc địa), thành ra các dạng biến âm rất dễ tra ra, cũng như
từ phạm trù nghĩa giới hạn của chúng.
Trở lại với tên 12 con giáp, thời kỳ giao lưu văn hóa với TH
đã xảy ra rất lâu (ít nhất đã hơn hai ngàn năm, so với hai trăm năm) và từng đợt
chất chồng lên nhau, thêm vào đó là các tài liệu rất mơ hồ và thường hàm ý là
tên 12 con giáp là của TH (một tiền đề không ai dám tranh cãi hay tìm ra ngọn
ngành một cách rõ ràng và khoa học). Các tài liệu lại thường viết bằng chữ Hán,
thêm và tiền đề (hầu như là một công lý không ai chối cãi được?). Về nguồn gốc TH hợp với cách viết chủ quan và đầy tự ái dân tộc của một số
tác giả TH càng làm vấn đề trở nên phức tạp hơn nữa.
Nhìn lại bảng so sánh một số tiếng Việt trong lãnh vực kỹ thuật
(xe hơi) như trên, dù ai có tự ái dân tộc lớn đến đâu cũng không thể chối cãi
quá trình mượn từ tiếng Pháp vào tiếng Việt, thêm vào đó là các tài liệu sách vở
trong vòng hai thế kỷ qua dễ cho chúng ta kiểm lại kết luận này.
Thực ra, sự vay mượn qua lại là một hiện tượng rất tự nhiên của
ngôn ngữ loài người, chính sự thuần nhất (pure) ngôn ngữ mới là hiếm có hay là
ngoại lệ! Cũng như hiện tượng thuần chủng (pure race) vậy cũng chính
cách nhìn hạn hẹp từ sự thuần chủng mà đã xảy ra bao nhiêu tai họa như Đức Quốc
Xã với giống Aryen, chính sách White Policy hay nước cho người da
trắng chẳng hạn và cũng chính thái độ ù lỳ không chấp
nhận mình vay của người mà nhiều sai lầm đã xẩy ra, ngay cả cho
một số công trình nghiên cứu trong quá khứ. Tiếng Nhật và tiếng Đại Hàn có nhiều
từ gốc Hán, tiếng Anh/ Pháp cũng đầy các từ gốc La Tinh, Hy Lạp chẳng nước
nào có mặc cảm chữ nghĩa đâu? Với các cảnh giác trên thì ai là
chủ nhân của tên 12 con giáp?
2.1 Tên 12 con giáp đọc như tiếng HV, theo giọng Bắc
Kinh (BK) và bằng cách ghi theo Phiên Âm (pinyin) là chu, yín, măo, chén, sì, wèi, hài hoàn toàn không liên hệ đến cách gọi (tên) 12 con thú
trong tiếng TH hiện nay ngay cả giọng Quảng Đông (QĐ) v.v... Khi phục
hồi âm TH thời Thượng Cổ (Archaic Chinese) thì vẫn không tương đồng với các
cách gọi tên thú vật thời trước. Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng
tên 12 con thú tương tự như tên 12 con giáp thì dân tộc đó phải có liên hệ rất
khắng khít với nguồn gốc tên 12 con giáp này. Cũng như khi so sánh các từ về xe
hơi phần trên, ta có thể đi đến kết luận là tiếng Pháp đã cho tiếng Việt mượn
trong thời kỳ giao lưu văn hoá cận đại (1). Nhưng người viết không đi sâu thêm nữa
để tìm hiểu các danh từ tiếng Pháp trên có nguồn gốc ở đâu. Xin nhắc lại ở đây
là các bài này viết về nguồn gốc tên 12 con giáp, còn nguồn gốc 12 con giáp ở
đâu ra không nằm trong phạm vi các phần sau.
2.2 Tại sao Trung Hoa dùng con thỏ thay cho con mèo (biểu
tượng của chi Mão/Mẹo)? Xem cách viết chữ miêu (con mèo, giọng BK là mo) bằng bộ trỉ hợp với miêu (mầm mống,
hài thanh) so với thỏ là chữ tượng hình hay thố HV, giọng BK là tù viết
bằng bộ nhân cho thấy sự quan trọng của thỏ đối với văn hóa TH. Hầu như chỉ
có dân Việt mới dùng mèo cho chi Mão: nguyên âm e hay iê là các dạng cổ
hơn của a như kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa, khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà, keo/giao,
beo/báo.
Nhờ sự khác biệt này mà ta bắt đầu thấy mối dây liên hệ của
tiếng Việt với 12 con giáp. Mèo hiện diện trong đời sống dân Việt thường
xuyên hơn. Còn chi Ngọ liên hệ đến ngựa hầu như không cần giải thích nhiều, so
với mã HV (mă BK, giọng BK hiện nay không còn âm ng- nữa mà đã bị môi hóa thành
w- và m-). Các dạng Mão/Mẹo/mèo và Ngọ/ngựa dễ cho ta nhận ra sự liên hệ giữa
tên 12 con giáp với tiếng Việt hiện nay. Thời tiền Hán, tiếng Việt ta không có
nhiều thanh điệu (tone) như bây giờ, nên sự khác biệt về thanh điệu không có gì
lạ. Như trong khẩu ngữ ta ta có cách dùng chờ một tý cũng như chờ một chút, đưa chút tiền cũng như đưa tý tiền vào thời tiền Hán, các câu trên đọc như giọng Huế hay người Hòn bây giờ (ít
thanh điệu hơn so với giọng Hà Nội) thì ta thấy ngay chút hay *chụt/chuột chính
là các dạng của tý vậy. Biến âm t-ch (phụ âm đầu) của tý/tử HV -chuột còn thấy
qua các liên hệ như ty/tư HV là chủ, tỷ-chia, tứ-cho, từ-chữ, tự-chùa, tỷ-chị,
tựu-chầu (tụ lại), tốt-chết, từ-chợ, thị-chợ, thố-chua, thù-chuốc, thục-chuộc,
thúc-chú.
Thành ra, ta có sơ khởi là ba chi Mão/Mẹo, Ngọ và Tý có
liên hệ với mèo, ngựa và chuột trong tiếng Việt hiện đại.
Các phần sau sẽ phân tách chi tiết hơn về sự tương quan giữa tên các chi và các
tên thú vật trong tiếng Việt.
2.3 Nếu quả thật tên 12 con giáp TH bắt nguồn từ tiếng
Việt (Cổ), thì kết quả này còn phù hợp với các kết quả trước đây như triết gia
Kim Định đã cố gắng chứng minh văn hóa TH xuất phát từ văn hóa Việt (Sài Gòn vào
thập niên 1970, như cuốn “Việt Lý Tố Nguyên), tác giả Nguyễn Hoài Nhân (bên Pháp vào thập niên 1980, như trong các bộ Viet Nam en image ghi nhận các bằng
chứng về khảo cổ và ngôn ngữ để đi đến kết luận: người Việt Cổ là người cho,
người TH là người nhận), tác giả Lê Mạnh Thát qua cuốn “Lịch Sử Âm Nhạc
Việt Nam - từ thời Hùng Vương đến thời kỳ Lý Nam Đế đưa ra các dữ kiện chứng tỏ rằng Việt Ca (Lưu
Hướng ghi lại trong Thuyết Uyển) có nguồn gốc Việt Nam (VN), tác giả Nguyễn Thiếu
Dũng cũng bắt đầu đặt lại vấn đề nguồn gốc Kinh Dịch (từ tộc Việt) trong những
năm gần đây cho thấy chiều vay mượn là từ phương Nam vào thời thượng
cổ, chứ không phải là từ Bắc xuống Nam (cũng như các nước chung quanh) vào các
đời Hán, Đường lúc văn hóa TH cực thịnh,. Tuy nhiên không tác giả nào đề cập đến
nguồn gốc tên 12 con giáp, và rất ít dùng cấu trúc của chữ Hán, Hán Cổ cùng các
biến âm trong cách lý giải.
Để thấy rõ hơn các liên hệ của tên thú vật và tàn tích trong
tiếng Hán Cổ, chúng ta hãy xem một số từ chỉ con vật thông thường như cóc, voi và cấu trúc của tiếng Hán cho thấy tàn tích của tiếng Việt mà đã từ từ
mất đi trong ngôn ngữ TH hiện nay. Hy vọng từ đó khi tập trung nhìn vào các
tương quan của tên 12 con giáp thì các liên hệ sẽ được rõ ràng hơn, nhất là qua
sự so sánh các ngôn ngữ láng giềng với tiếng TH, HV, tiếng Việt.
2.4 Muốn tìm hiểu ngọn ngành trên phương diện so sánh
các ngôn ngữ, ngày nay ta không đến nỗi phải đi tới những nơi xa xôi (du học) nữa,
nhất là về đề tài 12 con giáp. Các tài liệu thông tin, mạng Internet, sách vở
được ấn hành nhiều hơn và cởi mở hơn. Thêm vào đó là chánh phủ địa phương có vẻ
như càng ngày càng mở mang và thành thật hơn, không độc đoán và che dấu hay bóp méo các dữ kiện khảo cổ, ngôn ngữ như xưa. Cách đây hơn 50
năm, Phan Khôi - một nhà nghiên cứu văn hóa VN rất nhiệt thành đã phải
lên tiếng người VN chúng ta về sau phải sang TH ở lâu mà nghiên
cứu, may ra tìm được các dấu vết tương quan của dân tộc ta với dân tộc TH từ đời
thượng cổ (trang 34, Việt Ngữ nghiên cứu Phan Khôi, bài viết năm 1954, in lại NXB Đà Nẵng, 1997). Đương nhiên là các kết
quả của so sánh ngôn ngữ phải phù hợp với những kết quả từ ngành khảo cổ, lịch
sử và di truyền để tăng mức độ chính xác.
3. Tiếng Việt và tiếng Hán Cổ (hay tiếng Hán và tiếng Việt Cổ)
3.1 Cóc là loài vật vừa ở trên cạn vừa ở dưới nước (gọi
là amphibian) hiện diện trong các ngôn ngữ Đông Nam Á như ku-óc, cóc (tiếng Mường), ka kọc (Nùng), róc (Lào : lụt róc, kăn kắk, khăn khắk :
cóc), khàng khók (Thái), king kuok (Khme), a-rok (Chàm), kok, kokke, khog
(Mundari, Birhor, Hoa ngữ hệ Munda), cơưk (Hmong) v.v... Trong vốn từ
TH hiên nay, còn một chữ rất hiếm là cúc HV viết bằng bộ trùng hợp với chữ cúc
hài thanh (HT, cúc nghĩa là nắm, túm) - giọng BK bây giờ là jú, qú. Để chỉ con
cóc, tiếng TH có các từ thiềm HV (chán, BK) viết bằng bộ trùng (cũng có nghĩa là bóng đen trên mặt trăng, tiếng
ghép HV thiềm thừ là con cóc); thừ HV (shú, chú, yú BK) viết bằng bộ trùng hợp
với chữ dư HT; ma HV (má, mò BK viết bằng bộ trùng, còn là một loại ếch);
Ba/pha/bì HV (bÃ…Â, pí BK viết bằng bộ trùng hợp với chữ bì
HT - từ này ít dùng với tần số dùng là 10 trên 365398752 cho thấy một cách phân
biệt cóc và nhái qua lớp da sần). Trái cóc có vỏ như da cóc. Theo
người viết thì cóc (2) có thể là một từ tượng thanh (con cóc có tiếng kêu đặc biệt cọc‚ cọc) với âm yết hầu
k-, và do đó một số ngôn ngữ khác không liên hệ gì đến tiếng Việt hay Nam như ngôn ngữ của Easter Island ở Nam Thái
Bình Dương cũng gọi cóc là kok, tiếng Inđônesia là kodok, katak, tiếng Kơho là
kit trô.
3.2 Voi là một từ đáng chú ý: có nhiều cách viết chữ
Nôm, như bộ khuyển hợp với chữ vi HV (hài thanh, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị/ĐNQATV),
bộ khuyển hợp với chữ bôi (cái chén, HT cho thấy liên hệ b-v), bộ khuyển hợp với chữ bút. Các chữ voi này rất xa lạ với người TH. Tiếng TH hiện nay có
tượng HV, giọng BK bây giờ là xiàng, giọng QĐ jeung (6) liên hệ đến giống tiếng
Việt, viết bằng bộ nhân hợp với chữ tượng HT. Chữ tượng có cách viết cổ giống
như hình con voi nhưng lại dựng đứng lên để theo chiều từ trên xuống dưới và để
tiết kiệm diện tích viết chữ. Tượng còn dùng để chỉ bức tượng trong tiếng Việt
so với tiếng TH bây giờ phải dùng các từ ghép như dioxiàng BK (điêu tượng, tượng được khắc), sùxiàng (tố tượng,
tượng được nặn hay đắp thành). Ông hay bà quản tượng là người coi (kiểm soát)
voi hay là mahout, là tiếng Ấn Độ/Hindi mahaut gốc tiếng Phạn là mahamatrah.
Con tượng còn là con voi trong bàn cờ tướng. Một điểm đáng chú ý là chỉ có voi
là loài vật khác trong các loại lợn được viết bằng bộ thỉ (con lợn) thứ 152. Dự
là từ HV đã từng có nghĩa là con voi - chữ này viết bằng bộ thỉ, thật ra là chữ
dư hợp với chữ tượng - hiện thời có các nghĩa như vui vẻ (nghĩa bây giờ hơi khác
hơn và thiên về an nhàn), thoải mái, du ngoạn (hàm ý vui vẻ), do dự, dự bị, một
trong chín châu (Cửu Châu) của TH thời xưa (bao gồm tỉnh Hà nam, do đó Dự cũng
là tên cổ của Hà Nam (3)), gạt gẫm và rất ít tự điển ghi nhận nghĩa cổ của
dự là voi (4). Theo người viết, vui là âm cổ cũng như một dạng khác là voi. Liên
hệ u-o (vui-voi) còn thấy trong các cách dùng tương đương như tùng-tòng
(thông), chùm-chòm, vũ-võ, trụi-trọi, dung-dong, phù-phò, hụi-hội, tui-tôi,
thúi-thối, do đó ta có cơ sở giải thích liên hệ dự-vui-voi. Voi từ chữ dự
(có chữ tượng) hợp lý hơn là từ chữ vi (bộ trảo) theo Vương Lực (xem phụ
chú 4). Các dữ kiện hỗ trợ cho liên hệ dự-vui còn thấy qua các chữ HV như
du (yú BK, viết bằng bộ sước) có nghĩa là đi chơi, vui vẻ; du HV (yú BK viết bằng
bộ tâm) có nghĩa là yên vui. Các cách viết khác nhau để ghi lại âm cho thấy lý luận dự-vui thêm phần chính xác (nhớ rằng chữ viết
có sau tiếng nói).
3.3 Vụ HV viết bằng bộ điểu, giọng BK bây giờ là wù, mù,
giọng QĐ mou(6), muk(6), Hẹ mu(6), vu(6) nghĩa là một loài vịt. Chữ này
không thông dụng trong vốn từ TH hiện đại với tần số dùng là 105 trên 368707021
so với các chữ khác như áp HV (y BK), nga HV (é BK, ngo (4) QĐ ngan, ngỗng là các dạng cổ), nhạn HV (yàn BK, ngaan (6) QĐ). Theo Thuyết Văn (TV), chữ ngan đồng nghĩa với nhạn. Biến âm u-i của vụ-vịt
không thường gặp nhưng còn tàn tích trong các cách dùng bút-viết, thụ-chịu,
nhu-diệu, đinh-chuồn. Để ý phụ âm tắt ở sau nguyên âm thường mất
đi trong giọng BK (phương Bắc) nhưng vẫn còn duy trì trong tiếng Việt, giọng
QĐ, Hẹ
3.4 Đinh viết bằng bộ trùng với chữ đinh HT, giọng BK
bây giờ là dng, chœng, chéng, ding (1), cing(1) QĐ, Hẹ den (1) có
nghĩa là con chuồn chuồn. Chữ này rất ít dùng với tần số dùng là 14 trên
430747376. So với các chữ khác thường gặp trong vốn từ TH hiện nay như tinh HV
(dng, tng BK), đình HV hay tinh đình, linh HV (líng BK viết bằng bộ
trùng hợp với chữ linh/lệnh HT, để ý linh HV viết bằng bộ kim hợp với chữ
linh/lệnh là chuông). Nếu ta để ý biến âm đ-tl/tr-ch (xem bài viết riêng
về biến âm này cùng tác giả) như độn-trốn-chuồn, đồn/đốn-truân-chiên, đồn-trôn,
điền-trần, đục-trọc, đoàn-tròn, động-trọng-chuộng, đồng-tròng (con ngươi), đản-trần v.v... thì có thể giải thích được liên hệ đinh-*chuôn (biến âm i-u nói ở
phần 3.3), hay dạng chuồn (thanh huyền có thể do ảnh hưởng của phụ âm mũi). Tiếng Mường cũng có dạng chuồn chuồn, tiếng Zhuang là chi-chuồn.
Như vậy thì tiếng Việt vẫn còn tàn tích trong tiếng TH, tuy
nhiên các cách dùng từ phương Nam từ từ mất dần đi (5), có thể là
do các tiếng phương Bắc thay vào (giai cấp thống trị), hoặc không hợp với hệ thống
âm điệu của Hán tộc hay sự cố tình bôi xóa?
Tóm tắt bài này là trong tiếng Trung Hoa có những từ Việt
(Cổ) nhưng rất ít dùng, tuy nhiên trường hợp của tên 12 con giáp rất đặc biệt:
được dùng trong việc ghi lại thời gian, không gian, bói toán, cúng kiến rất phổ thông trong văn hóa và tín ngưỡng dân gian, chúng gắn liền với lịch sử
tư tưởng của TH và VN, đóng một vai trò quan trọng trong văn hóa dân tộc. Do
đó, chúng là những từ hóa thạch (fossilised) gắn bó với câu ca dao
Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.
4. Phụ chú:
(1) Bảng so sánh trên cho thấy liên hệ giữa tiếng Pháp và Anh
như sạc tiếng Pháp và tiếng Anh giống y như nhau, gốc tiếng Pháp Cổ (Old
French) là chargier (chất đồ lên, tải), liên hệ đến tiếng La Tinh carrus (chiếc
xe) do đó ta có các dạng tiếng Anh như car/xe, carry/chở, chariot/xe và
nếu truy tầm thêm nguồn gốc các chữ trên thì sẽ thấy nhiều tương quan của nhóm
(dòng, ngữ hệ) La Mã, họ Ấn Âu (Indo-European) phản ánh qua lịch sử và quá
trình phát triển văn hóa của Hy Lạp, Pháp v.v... Điều này ra ngoài mục đích của bảng so
sánh cốt là cho thấy các tiếng mượn từ tiếng Pháp mà thôi.
(2) Tác giả Lê Gia trong “Tiếng Nói Nôm Na (NXB Văn Nghệ Thành Phố HCM, 1999) thì giải thích cóc là từ hốc, cốc mà ra loài vật dơ dáy, bẩn thỉu, tối ngày ngồi trong hang trong hốc (trang 1451).
(3) Tỉnh Hà Nam vẫn còn một số hoạt động như cỡi
voi cho du khách.
(4) Theo tác giả Nguyễn Văn Tu trong Từ và vốn từ - tiếng
Việt hiện đại (NXB Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà
Nội 1976) thì voi có nguồn gốc là chữ vi theo sự nghiên cứu của
ngành Cổ Văn Tự, vi là chữ tượng. Theo tiếng Việt thiên đọc là vi còn tượng đọc
là voi (trang 266) -
trích dẫn từ kết luận của nhà ngữ học TH
Vương Lực trong các cuốn Hán Việt Ngữ nghiên cứu và Hán ngữ sử luận văn tập (khoảng 1958). Sau gần 3 thập niên, tác giả Lê Đình Khẩn cũng lặp lại điều
này trong cuốn Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt (NXB Đại Học Quốc Gia Thành Phố HCM, 2002), tuy nhiên tác giả có bàn thêm là thời
thượng cổ không chắc là âm đọc theo chữ nào trong hai chữ đồng
nghĩa ấy (trang 59). Khi
tra cách viết và khắc của chữ vi (Cổ Văn)
ta thấy hình hai con khỉ trên hình con voi tuy hình vẽ không rõ ràng lắm, theo Tại Tuyến Hán Điển trên mạng Internet, và Chinese
Characters của L. Wieger - cả hai tài liệu này đều ghi vi là khỉ
cái. Để ý cách đọc vi HV là wèi BK, Hẹ wui (3), wuị, wi (3), wi (5).
Còn theo Từ Nguyên thì nghĩa cổ nhất của dự là tượng chi đại giả - kiến Thuyết Văn. Voi giữ một địa vị đặc biệt trong lịch sử VN: nào là chuyện bà Triệu cỡi voi chống ngoại xâm, nào là những khi được triều cống cho TH, nào là các hình phạt cho voi xé xác, voi giày và hiện diện trong ca dao thành ngữ như khỏe như voi, muỗi đốt chân voi, chỉ buộc chân voi, được voi đòi tiên, trăm voi không được bát nước xáo, có con gái lớn trong nhà như cỡi đầu voi dữ, trời sinh voi trời sinh cỏ v.v... Hiếm lắm ta mới thấy vài thành ngữ có voi trong văn hóa TH như tượng trợ ngọc bôi (đũa bằng ngà voi và chén bằng ngọc, chỉ cuộc sống giàu sang) hay tượng xỉ phần thân (voi chết chỉ vì muốn lấy ngà, của cải đem đến nguy hiểm).
Còn theo Từ Nguyên thì nghĩa cổ nhất của dự là tượng chi đại giả - kiến Thuyết Văn. Voi giữ một địa vị đặc biệt trong lịch sử VN: nào là chuyện bà Triệu cỡi voi chống ngoại xâm, nào là những khi được triều cống cho TH, nào là các hình phạt cho voi xé xác, voi giày và hiện diện trong ca dao thành ngữ như khỏe như voi, muỗi đốt chân voi, chỉ buộc chân voi, được voi đòi tiên, trăm voi không được bát nước xáo, có con gái lớn trong nhà như cỡi đầu voi dữ, trời sinh voi trời sinh cỏ v.v... Hiếm lắm ta mới thấy vài thành ngữ có voi trong văn hóa TH như tượng trợ ngọc bôi (đũa bằng ngà voi và chén bằng ngọc, chỉ cuộc sống giàu sang) hay tượng xỉ phần thân (voi chết chỉ vì muốn lấy ngà, của cải đem đến nguy hiểm).
(5) Khuynh hướng mất dần các vết tích của ngôn ngữ phương Nam
(thời Bách Việt về sau) đồng thời với khuynh hướng bành trướng của lãnh thổ TH
và các đợt di dân cùng pha trộn với dân bản địa trên lưu vực sông Hồng. Các vết
tích của tiếng Việt như voi, vịt, cóc, chuồn chuồn trong tiếng TH chứng
tỏ phần nào nhận định tổng quát này.
1. Tổng quát
Từ phần 1, với một cách phân tích đơn giản ta thấy là 12 con
giáp liên hệ đến cách gọi tên con vật trong tiếng Việt qua 3 chi Mão/Mẹo/mèo,
Ngọ/ngựa và Tý/Tử/chuột. Các phần đầu 1, 2 có mục đích là giới thiệu tổng quát
về tên 12 con giáp và đặt nền tảng cho các phần sau chi tiết hơn (phần 3 về sau
bàn về tên mỗi con giáp). Người viết cố tránh dùng các thuật ngữ để cho dễ đọc
và dễ cảm nhận hơn. Tiếng chuông cảnh tỉnh mọi người về nguồn gốc
phi-Trung-Hoa của tên con giáp thật ra đã được giống lên từ những công
trình khảo cứu ngôn ngữ học của vùng Đông Nam Á từ thập niên 1930, bởi các tác giả nước ngoài, đáng lẽ phải từ các nghiên
cứu khảo cổ hay lịch sử và văn hóa dân gian của dân địa phương mới hợp lý và hợp tình. Nhưng có thể vì những cuộc chiến tranh tàn khốc
trong khu vực này trong cả thế kỷ qua nên không cho ra bao nhiêu kết quả chính
xác. Thêm vào đó là lịch sử rất lâu đời của vùng Đông Nam Á, cùng với nhiều đợt giao lưu văn hóa qua đường biển cũng như trong đất liền, làm cho quá trình nghiên cứu không được
mấy dễ dàng.
Điều đầu tiên là lập bảng so sánh tên 12 con giáp của các
ngôn ngữ trong vùng như sau. Để ý một nước có thể dùng nhiều bảng con giáp (1)
(VN có ít nhất là 3 bảng) và sự thay đổi nghĩa của một số chi như rồng trở nên
con naga (ảnh hưởng của Ấn Giáo, một loài vật huyền thoại nửa voi nửa rắn, có
khi nửa người nửa rắn, nửa người nửa tiên), gà trở thành con chim (theo
Tây Tạng, gà thuộc vào loài chim gà là con vật duy nhất có cánh trong
12 con thú), sự phân biệt giống đực hay cái (gà trống, dê đực) thay vì
tổng quát, có cả sâu bọ (2), heo thành voi theo một cách ghi 12 con giáp của
Thái Lan, bị ảnh hưởng tiếng Phạn Nam/Pali. Pali hay tiếng Phạn Nam (phía Nam)
có gốc là tiếng Phạn Cổ (classical Sanscrit) nhưng đơn giản hơn, các kinh điển
của Phật Giáo đầu tiên được chép bằng tiếng Pali và truyền từ Sri Lanka đến Miến
Điện (Myanmar), Thái Lan, Kampuchia, Việt Nam (phần nhỏ) thuộc phái Tiểu
Thừa (Theravada) so với phái Đại Thừa (Mahayana) truyền từ TH qua. Các ngôn ngữ
dân tộc thiểu số được dùng để so sánh hầu tìm ra các dây liên hệ như tiếng Saek
đang có hiểm hoạ diệt vong, thuộc dòng Thái-Kadai và chỉ dùng trong vài làng
bên Lào và Thái Lan. Tiếng Yay cũng giống như tiếng Dioi cùng thuộc dòng Thái.
Tiếng Ahom đã từng hiện diện ở Assam, bây giờ không còn nữa và chỉ dùng
trong các hoạt động tôn giáo địa phương. Dân tộc Ahom có gốc từ tỉnh
Vân Nam, di dân xuống miền Đông Nam Á Châu và Bắc Miến Điện.
2. Bảng so sánh các tên 12 con giáp Á Châu
(A) thoạt xem tên 12 con giáp bằng tiếng Thái (tên gọi
chính thức/formal names) ta thấy rất gần với nghĩa chúng qua tiếng Việt! Thí dụ
như tý/tí/tử là chuat3 hay chuat3 (3 nghĩa là falling tone, thanh điệu thứ
3 đi xuống gần như dấu huyền tiếng Việt, trong phần này không ghi thanh điệu
cho đơn giản) - dạng chuat3 rất gần với chuột tiếng Việt. Tuy nhiên,
chuat lại không có nghĩa con chuột trong tiếng Thái (mà là nuu). Điều này
cho thấy rằng tiếng Thái đã mượn từ các tên tiếng Việt, cũng như các dạng khan
(kễnh, cọp‚ năm cọp chính thức gọi là bpee khan nhưng thông thường hơn
là bpe seuua), roong1 (rồng‚ năm rồng chính thức gọi là bpee ma roong1
hay thông thường hơn là bpee nguu yai, nguu là con rắn), rakaa1 (gà‚ năm gà chính thức gọi là bpe rakaa1 nhưng thông thường hơn là bpee gai) v.v... Chính các tên gọi của Thái là chiếc cầu nối giữa tiếng Việt,
Cổ Việt, Mường, Hán Việt: cũng như Cha luu5 là một dạng khác của k-lu (biến
âm k-ch/gi- như Bắc Kinh/Beijing, kông/klông/giang đã ghi lại nhiều lần trong
các bài viết trước xem bài Nguồn gốc nhóm từ sông Cửu
Long cùng tác giả), klu hay tlu (Mường)
chính là tru/trâu tiếng Việt, kbây, krobây (Khme).
Trâu, bò không có dạng này trong tiếng Thái hiện tại, năm sửu chính thức gọi là bpe cha luu5 so với cách gọi bình dân là bpee wuaa, wuaa hay khoh chỉ con trâu, bò. Còn biến âm kl-s còn thấy khi so sánh tiếng Mường và Việt: klu-sửu (trâu), klong-sông, khláng-sáng3 (Mường Poọng, khlau/krau-sau (Mường Hung), khlt/klăt-sắt, kru-sâu (Mường Uý Lô). Có khi âm mất hẳn để cho các dạng khang-sang, khao-sao. Trở lại với các cách gọi tên 12 con giáp trong cùng một ngôn ngữ, cách gọi chính thức được người viết xếp vào loại bác học (BH) vì cần phải học mới biết rõ ràng so với cách gọi bình dân (BD) qua các tên con thú. Sự phân hóa thành ra ít nhất hai loại văn chương BH và BD không chỉ xảy ra qua khung cửa của tên 12 con giáp, nhưng còn làm cho vốn từ Hán Việt và Việt thêm phong phú.
Trâu, bò không có dạng này trong tiếng Thái hiện tại, năm sửu chính thức gọi là bpe cha luu5 so với cách gọi bình dân là bpee wuaa, wuaa hay khoh chỉ con trâu, bò. Còn biến âm kl-s còn thấy khi so sánh tiếng Mường và Việt: klu-sửu (trâu), klong-sông, khláng-sáng3 (Mường Poọng, khlau/krau-sau (Mường Hung), khlt/klăt-sắt, kru-sâu (Mường Uý Lô). Có khi âm mất hẳn để cho các dạng khang-sang, khao-sao. Trở lại với các cách gọi tên 12 con giáp trong cùng một ngôn ngữ, cách gọi chính thức được người viết xếp vào loại bác học (BH) vì cần phải học mới biết rõ ràng so với cách gọi bình dân (BD) qua các tên con thú. Sự phân hóa thành ra ít nhất hai loại văn chương BH và BD không chỉ xảy ra qua khung cửa của tên 12 con giáp, nhưng còn làm cho vốn từ Hán Việt và Việt thêm phong phú.
(B) Theo bài note on the origin of the Chinese
duodenary cycle của Jerry
Norman đăng trong cuốn Linguistics of the Sino -Tibetan area the
state of the art 1985, bài này
ghi lại và bàn thêm về các dữ kiện từ bài origine du cycle des
douzes animaux au Cambodge viết từ năm 1935 bởi George Coedès.
(C) Theo tài liệu đăng trên mạng Internet của Wikipedia,
chủ đề Chinese Astrology tên các tháng của dân tộc Hung (Hunnish) hay
dân tộc Thổ-Bungari (Turkic Bulgarian) có nhiều trùng hợp với tên 12 con giáp có lẽ đây là các dân tộc ở xa TH nhất trên phương diện địa lý mà vẫn
dùng hệ thống này (so với Nhật, Lào, Thái Lan, Viêt Nam và có thể qua
con đường buôn bán tơ lụa (the Silk Road). Tiếng Hung hay Thổ-Bungari không
liên hệ gì đến tiếng TH hay ngữ hệ Hán-Tạng. Các tên tháng theo thứ tự có nghĩa
là con chuột, trâu, cọp đến con heo rừng cũng như thứ tự và tên 12 con
giáp TH.
(D) Người viết chưa từng thấy bảng tiếng Việt này cho tới khi đọc cuốn Encyclopaedia of Asian Civilisation NXB Louis Frédéric (1984), ditions
Jean-Michel Place. Chú ý các từ thử HV dùng để gọi chuột, khôi để gọi Thân.
(E) Theo tác giả William G. Boltz trong bài viết The Old Chinese Terrestrial rames in Saek (in trong cuốn Studies in the
Historical Phonology of Asian Languages chủ biên William G. Boltz và Michael C. Shapiro, NXB John Benjamin,
1991) thì các ngôn ngữ Lu và Pu-Yi (đều thuộc dòng Thái) có các dữ kiện sau
(tóm tắt lại với các số đứng sau chỉ thanh điệu)
3. Các giả thuyết dựa trên ngôn ngữ học
Nguồn gốc tên 12 con giáp đã được nhiều học giả ngoại quốc
nghiên cứu:
George Coèdes (1935) sau khi so sánh tên 12 con giáp (5) của
Xiêm và Campuchia đã đi đến kết luận là chúng có nguồn gốc tiếng Mường Cổ. Ông đã viết nhiều về các ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ trong vùng Đông
Nam Á, tuy nhiên không đưa ra một liên hệ
gì về tên 12 con giáp với Ấn Độ.
Học giả TH Li Fang-Kuei (1945) chuyên khảo về tiếng
Thái (6) đã phân tách thập can và thập nhị chi qua các ngôn ngữ Thái và đưa ra
nhận định rằng tiếng Thái vẫn còn duy trì một số phụ âm Hán Cổ như pl-, zng-,
sm- tuy không nhất quyết xác định được nguồn gốc tên 12 con giáp từ đâu ra.
Sau đó là các công trình của học giả Paul K. Benedict, vào
năm 1967 ông đề nghị thập nhị chi có nguồn gốc Nam-Thái (Austro-Thai) (7)
trong bài viết về Văn Hóa và Ngôn Ngữ Nam Á, và dựa trên các liên hệ của âm ngựa (Ngọ), chó (Tuất) và heo (Hợi). Năm 1975,
ông viết cuốn Austro-Thai Language and Culture khai triển các ý từ những năm trước.
Ông đưa ra các dữ kiện của các ngôn ngữ địa phương để đi đến kết luận rằng tiếng
TH đã mượn một số tiếng Nam-Thái như trứng, gà, ngựa, yên (ngựa), cỡi ngựa,
voi, ngà, lợn (heo), thỏ, trâu bò nuôi lấy thịt, ong, mật, gạo, mía, muối và điều đáng chú ý và oái ăm là sau đó, các ngôn ngữ
vùng Đông Nam Á đã phải mượn lại
các từ ngữ mà mình cho TH mượn trước kia! Thí dụ như các từ trà, giấy. Cũng theo Benedict thì có những tính chất đặc thù bắt nguồn từ văn hoá Nam-Thái
như phép tính 12 con giáp mà nhiều người tưởng là của TH. Ông ghi nhận rằng chữ
ngựa trong tiếng Lê (Li, dân bản xứ đảo Hải Nam) là nga/ka và là một bằng chứng
là mã và ngựa có liên hệ, sau khi so sánh và đề nghị dạng âm cổ phục hồi của ngựa
trong tiếng Inđônêsia và Mã lai là tanga, tác giả đề nghị âm cổ
Nam-Thái là sanga. Cuối cùng kết luận bằng cách đưa ra một giả thuyết rằng có
thể một ngôn ngữ cổ Nam-Thái đã từng hiện diện trong vùng Đông Nam Á, mà ông gọi là AT-x và đã cho TH mượn
nhiều từ căn bản.
Tác giả Jerry Norman (1985) cũng dựa vào các dữ kiện từ tiếng
Thái, Hán Việt, Việt và TH, Mường để chứng minh rằng tên 12 con giáp có nguồn gốc
từ phương Nam (Austroasiatic, Nam Á). Ngoài 3 từ Ngọ, Tuất, Hợi, Norman (8) còn liên hệ 4 từ Sửu, Thìn, Mùi,
Dậu với các tiếng phương Nam Á, bài viết trên thật ra là từ một bài viết
cùng với tác giả Mei Tsu-Lin (1976) về các từ TH có nguồn gốc phương Nam.
Các tác giả đã đi đến một kết luận là chủ nhân tên 12 con
giáp có thể đã ở khu vực bờ biển Đông Nam TH, và có thể là các nước Ngô hay Việt
thời xưa. Gần đây hơn, trong bài viết về 12 con giáp của William G. Boltz (9) (1991),
ông ghi lại một số bảng so sánh gồm có các tiếng Saek, trích từ tài liệu của
giáo sư William Gedney (1982). Sau khi phân tích các dữ kiện, tác giả kết luận
rằng bảng 12 con giáp của tiếng Saek Cổ (mà Gedney chép lại) là vay mượn từ TH,
có lẽ khoảng 200 hay 600 năm sau Công Nguyên (SCN), và 12 con giáp VN có lẽ mượn
sau đó nữa (thời kỳ Late Middle Chinese).
Từ năm 2000, người viết (10) đã cho ra các bài (kết hợp từ
nhiều năm trước) bàn về tên 12 con giáp để cho thấy nguồn gốc VN. Các tác giả
trước đây không ai đề nghị nguồn gốc VN của 12 con giáp, có lẽ gần nhất là tiếng
Mường Cổ mà thôi. Thêm vào đó là những học giả có uy tín trong
nước như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn cũng như các học
giả TH đều viết nhiều về văn hoá VN nhưng đều hàm ý nguồn gốc TH của 12 con
giáp, tuy không ai dựa trên dữ kiện ngôn ngữ học cả và đa số dựa trên tài liệu
lịch sử và văn chương cổ điển. Ngôn Ngữ Học nói chung, và Âm Ngữ Học Lịch Sử
(Historical Phonology) nói riêng là những ngành học khá mới mẻ ở VN và TH.
Như đã viết ở phần 1, ta đã thiết lập liên hệ Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa và Tý/Tử/chuột.
Dựa vào cách cấu tạo chữ Hán, cũng như kết quả mà các tác giả phần trên đã dày
công nghiên cứu, ta có thể khám phá thêm một số chi tiết mà các vị trên chưa biết
tới, có lẽ vì không biết đến tiếng Việt Cổ chăng?
Thí dụ như chi thứ 9 là Thân có liên hệ gì đến con khỉ VN?. Nếu
ta xem cách viết chữ Thân viết bằng bộ điền với nét giữa dài hơn, giọng BK bây
giờ là shn (viết theo pinyin), được phục hồi âm cổ với dạng *khrin (Li Fang-Kuei
1971, William Boltz 1991), hay dạng *hljin (William Baxter11 1992 - để ý phụ âm
r và l dễ hoán chuyển cho nhau). Nếu xem cách viết chữ khôn (một trong bát
quái, một căn bản của Kinh Dịch có từ thời Thượng Cổ) thì ta thấy bộ thổ hợp với
chữ Thân hài thanh (HT). Đây là liên hệ trực tiếp giữa Thân và khôn, tuy
nhiên tiếng Việt Cổ có chữ khọn là con khỉ (12) (theo Đại Nam Quốc Âm Tự
Vị ĐNQATV, Huỳnh Tịnh Của, 1895 - lặp
lại trong cuốn Từ Điển Từ Việt Cổ, Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện 2001). Thành ra Thân chính là khỉ,
tiếng Việt Cổ, dầu rằng biến âm th-kh rất hiếm (13) vì âm thanh thay đổi qua hơn
hai ngàn năm từ một gốc chung, sau đó lại gặp nhau trong tiếng Việt - so với
liên hệ rất thường gặp từ tiếng TH qua tiếng Việt như sh-th của shu BK/thủy HV (nước), shén/thần, shèn/thận (- trọng), shn/thẩm (biết), shàn/thiện,
shí/thập, shì/thích, shù/thụ (cây) phản ánh quá trình tiếng TH nhập vào
tiếng Việt thời Đường Tống một cách có hệ thống hơn. Tàn tích của biến âm th-kh
còn thấy trong tiếng Việt như khóa/toả, khâu/thêu, khắp/tạp.
Còn Dần có dính líu gì đến cọp? Dần HV viết bằng bộ miên, giọng
BK bây giờ là yín, jan4 QĐ, Hẹ là jin2, rin2 xem cách viết cổ thì thấy
hình mái nhà (bộ miên) với một người ở trong đang dâng lễ vật bằng hai tay đưa
lên (hàm ý cung kính). Thật ra nghĩa thông dụng của dần trong tiếng
TH hiện đại là kính trọng. Các âm tương ứng với yín BK bây giờ trong tiếng Việt
thường là d- như yín (dâm), yíng (doanh), yóu (du), yòu (dụ). Tuy nhiên
có những trường hợp yín BK tương ứng với âm ngạc sau (postpalatal) như yín/ngân
(bạc), yín/ngâm (vịnh) và yínyín là tiếng chó sủa (so với tiếng Việt gấu gấu) ... và đôi lúc mất hẳn âm đầu đi như yìn/ẩn, yn/âm
(lặng im): âm viết bằng bộ khẩu hợp với chữ âm (thanh) HT hay bộ nạch (bệnh)
cho thấy tiếng Việt còn duy trì dạng cổ hơn, đó là câm với âm ngạc sau k- , so
với một cách đọc QĐ là ngam1- các dạng tương đương khác đáng chú ý là khản,
khàn, khan. Các biến âm trên xẩy ra trong một thời gian rất dài, tuy nhiên khác
với âm d- HV nhập vào tiếng Việt một cách có hệ thống hơn.
Với cùng một nghĩa (dần,kính,cẩn), và dựa trên tàn tích của âm ngạc sau trong tiếng Việt (chứ không phải tiếng HV) cho ta đến một dạng âm cổ phục hồi của Dần là *kan, dạng này phù hợp với các dạng (14) bây giờ của Dần trong tiếng saek, Thái, Khme. Nhưng liên hệ trong tiếng Việt và HV còn có a-e hay a-ê như hạ-hè, trà-che, họa-vẹ và phá-bể, giá-kệ/kê, gà-kê Thành ra *kan có thể là *kên hay *kênh. Dạng phục hồi *kênh tương ứng với tiếng Việt Cổ kễnh chính là con cọp, như vậy ta có liên hệ giữa tên con giáp Dần và tên con cọp. Câu ca dao sau nói lên phần nào vai trò con mèo (Mão/Mẹo) và kễnh trong văn hóa dân gian.
Với cùng một nghĩa (dần,kính,cẩn), và dựa trên tàn tích của âm ngạc sau trong tiếng Việt (chứ không phải tiếng HV) cho ta đến một dạng âm cổ phục hồi của Dần là *kan, dạng này phù hợp với các dạng (14) bây giờ của Dần trong tiếng saek, Thái, Khme. Nhưng liên hệ trong tiếng Việt và HV còn có a-e hay a-ê như hạ-hè, trà-che, họa-vẹ và phá-bể, giá-kệ/kê, gà-kê Thành ra *kan có thể là *kên hay *kênh. Dạng phục hồi *kênh tương ứng với tiếng Việt Cổ kễnh chính là con cọp, như vậy ta có liên hệ giữa tên con giáp Dần và tên con cọp. Câu ca dao sau nói lên phần nào vai trò con mèo (Mão/Mẹo) và kễnh trong văn hóa dân gian.
Mèo tha miếng thịt xôn xao
Kễnh tha con lợn thì nào thấy chi
Tứ và cách dùng các con vật như mèo và kễnh như trong ca dao của VN trên thật là xa lạ với văn hóa TH. Qua các phân tách sơ khởi trên - và chỉ qua 6 liên hệ Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa, Tý/Tử/chuột, Thân/khọn (khỉ), Dần/kễnh (cọp), Sửu/tlu (trâu) ta thấy tên các con giáp càng gần gũi với tộc Việt hơn. Các lý giải phần sau sẽ cho thấy rõ hơn nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp sau khi đã tháo gỡ các lớp bụi thời gian cũng như cạo đi các lớp son phấn vô tình hay cố ý mà người xưa để lại trong ngôn ngữ.
Kễnh tha con lợn thì nào thấy chi
Tứ và cách dùng các con vật như mèo và kễnh như trong ca dao của VN trên thật là xa lạ với văn hóa TH. Qua các phân tách sơ khởi trên - và chỉ qua 6 liên hệ Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa, Tý/Tử/chuột, Thân/khọn (khỉ), Dần/kễnh (cọp), Sửu/tlu (trâu) ta thấy tên các con giáp càng gần gũi với tộc Việt hơn. Các lý giải phần sau sẽ cho thấy rõ hơn nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp sau khi đã tháo gỡ các lớp bụi thời gian cũng như cạo đi các lớp son phấn vô tình hay cố ý mà người xưa để lại trong ngôn ngữ.
4. Phụ chú:
(1) Ta thường nghe nói tuổi chuột, tuổi con chuột hay tuổi Tý, các cách nói này đều cùng nghĩa là năm sinh vào năm con chuột (năm Tý).
Thành ra có thể có nhiều bảng cùng chỉ 12 con giáp trong ngôn ngữ, từ tiếng HV
đến tiếng thuần Việt cho thấy sự phân cực thành văn chương BH so
với BD. Lê Quý Đôn (1726-1784) trong Vân Đài Loại
Ngữ (người viết có hai bản dịch: Trần Văn
Giáp, NXB Văn Hóa Thông Tin 2006 và bản của các tác giả Phạm Vũ, Lê Hiền do Nhà
Sách Tự Lực in) cũng không đề cập đến mèo mà ghi Tý là thỏ, điều này cho thấy
hoàn cảnh phức tạp khi dùng tài liệu TH, nhiều khi không hợp với cách dùng
thông thường của đa số quần chúng (văn chương BD). Trong cuốn tự điển Việt-Bồ-La
của Alexandre de Rhodes (1651) ra đời trước Vân Đài Loại Ngữ khoảng hai trăm năm, tác giả đã ghi
nhận giờ mẹo là giờ mèo (con mèo). Nhìn bảng so sánh trên qua tiếng Saek Cổ và
hiện đại, ta thấy Mão/Mẹo hiện diện trong ngôn ngữ cổ hơn, như thỏ (nhập từ tiếng
TH) bắt đầu có mặt trong tiếng Xiêm. Trên phương diện tín ngưỡng dân gian, có
người tin rằng có những tuổi hợp và khắc nhau (tạo ra bao nhiêu tình duyên
ngang trái) kết hợp thành nhiều trường phái bói toán, chỉ làm
tên 12 con giáp ở sau hậu trường trở nên bất tử mà thôi.
(2) Theo tác giả Thường Tuấn (Đại Học Thượng Hải) trong cuốn Văn Hóa về 12 con giáp, NXB Tổng Hợp Thành Phố HCM, 2005 thì 12 con giáp đã có trước đời Hán,
nhưng từ các dân tộc thiểu số. Như cuốn Nhật Thư của Tần Trúc Giản được khai quật vào
năm 1975 ở Hồ Bắc cho thấy 12 con giáp đã lưu truyền từ thời kỳ Tiên Tần và dùng
để bói toán. 12 con giáp gồm có chuột, trâu, cọp, thỏ (khuyết), sâu bọ, hươu.
(3) Theo An Nam Dịch Ngữ, Vương Lộc giới thiệu và chú giải,
NXB Đà Nẵng, Trung Tâm Từ Điển Học - Hà Nội - Đà Nẵng 1995.
(4) Theo Từ Điển Mường-Việt, Nguyễn Văn Khang (chủ biên), Bùi chỉ,
Hoàng Văn Hoành (2002) NXB Văn Hóa Dân Tộc Hà Nội.
(5) L'Origine du cycle des douzes animaux au
Cambodge tác giả George Coèdes viết trong
Toung pao XXXI (1935), trang 315-329. Ông có nhiều khảo cứu về ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ trên vùng Đông nam Á như qua bài Inventaires des Inscriptions du Champa từ năm 1908 (BEFEO VIII) và cuốn The
Making of South East Asia (tựa đề nguyên
thủy là Les Peuples de la Péninsule Indochinoise Paris 1962) dịch ra tiếng Anh bởi giáo
sư H. M. Right, University of California Press 1966.
(6) Some Old Chinese loan words in the Tai
languages, bài viết của giáo
sư Li Fang-Kuei trong bộ Harvard Journal of Asiatic Studies 8:333-342 (1945)
(7) Austro-Thai Language and Culture (1975) tác giả Paul K. Benedict bổ túc
bài viết từ năm 1967 thành sách đề nghị họ (ngữ hệ) Nam-Thái trong vùng Đông
Nam Á đã cho văn hóa TH mượn nhiều từ mà ít
người biết đến.
(8) A note on the origin of the Chinese duodenary
cycle, bài viết của Jerry Norman (1985)
trong cuốn Linguistics of the Sino-Tibetan area the state of
the art (Pacific Linguistics, Series C No. 87). Một học giả
chuyên về tiếng Hán Cổ, đã từng viết cuốn Chinese khá phổ thông (NXB Cambridge
University Press, 1988)
(9) Xem ghi chú (C) phần 2 bên trên.
(10) Tiếng Việt Tuyệt Vời, âm m trong tiếng Việt, Nguyễn Cung Thông (1996) xuất bản ở
Melbourne (Úc). Cuốn sách ghi lại hiện tượng m chỉ các bộ phận trên mặt con
người thường bắt đầu bằng âm môi m: mắt-mặt-má-môi-miệng-mồm-mõm-mụn-mí, mi,
mày, mép. Tiếng Mường cũng có hiện tượng m y như tiếng Việt, thêm vào đó
là các từ chỉ người Mường như mường, mol cho thấy một liên hệ đặc biệt đến âm
m. Hiện tượng m là một cánh cửa hé mở cho thấy tiếng Việt có thể thuộc vào họ
Môn-Khme gồm có nhánh Việt-Mường. Vị trí của tiếng Việt Cổ và ngữ hệ là một yếu
tố quan trọng để tìm về nguồn gốc tên 12 con giáp, nhớ rằng cách đây trên 2000
năm tiếng Việt (Cổ) rất khác tiếng Việt hiện đại. Ngoài ra, đầu năm 2006 ở
Sài Gòn, người viết cho ra lò cuốn Nguồn Gốc tên 12 con giáp và
các liên hệ Việt, Hán Việt với ngôn ngữ láng giềng qua tiếng nói - Tập 1 được phát hành rất giới hạn. Cuốn này
là tập hợp nhiều bài viết trong nhiều năm trước và làm căn bản cho các bài viết
này.
(11) A Handbook of Old Chinese Phonology, tác giả William H. Baxter, NXB
Mouton De Gruyter (1992).Tác giả dùng các vần trong Kinh Thi để phục hồi âm Hán
Cổ. Các cuốn Middle Chinese: a study in Historical Phonology (1984) và Lexicon of
reconstructed pronunciation in early Middle Chinese, late Middle Chinese and
early Mandarin (1991) của
Edwin G. Pulleyblank dùng làm tài liệu chính cho sự so sánh và phục hồi âm cổ
tiếng Hán. Truyền thống phục hồi âm cổ dựa vào âm vận của Kinh Thi, Thiết Vận bắt đầu khởi sắc từ các công trình nghiên cứu về âm Hán Cổ của Bernhard
Karlgren từ năm 1915 (bài viết tudes sur la phonologie
chinoise cũng là Luận án Tiến Sĩ của ông tại đại học Uppsala dựa vào Thiết Vận để phục hồi âm
Hán Cổ) đến 1974 (bài The book of Odes: Chinese text, transcription and
translation), nhưng có lẽ nổi
tiếng nhất là cuốn Grammata serica recensa (1957). Để ý rằng các học giả trên đều
đến từ nước ngoài TH như Baxter (Mỹ), Pulleyblank (Canada), Karlgren (Thụy Sĩ). Có lẽ là người phương xa và với cách nhìn khách quan, khoa học hơn nên kiến thức về tiếng Hán Cổ
gia tăng rất nhanh so với quá khứ.
(12) ĐNQATV (1895) ghi làm tuồng mặt con khọn, làm con khọn (làm chẳng nên sự gì). Tự điển Việt-Hoa-Pháp
(1937) của Gustav Hue cũng còn ghi nhận nghĩa này. Chữ Thân thường được dùng
làm thành phần HT trong cách thành lập chữ Hán như hợp với bộ nhân nghĩa là suy
rộng ra, hợp với bộ khẩu là rên la thường đọc là shn BK, nhưng hợp
với bộ thổ thì lại đọc là kn BK (khôn), hợp với bộ đại là yăn BK (yểm HV)
và hợp với bộ vũ cho ra chữ diàn BK (điện HV).
(13) Tương quan giữa các từ HV như thân-cận-gần, thận-cẩn (thận
trọng, cẩn trọng, cẩn trọng), thiên-kiên, thì-thị-kỷ, tuy cách viết khác
nhau nhưng đọc giống và nghĩa cũng gần nhau có thể là tàn tích của
liên hệ th-k/kh HV hay sh-kh BK thời Tiên Tần trước khi các chữ viết được thống
nhất. Có thể chúng có cùng gốc nhưng vì sự phát triển của ngôn ngữ và biên giới
(thêm các tiếng địa phương) nên mang những dạng khác nhau để phù hợp với các chức
năng mới. Ta thấy một khuynh hướng tương tự khi so sánh tiếng Mường và tiếng Việt: khầng-sừng, khảu-sáu, khay-say, khàinh-sườn, khã-sữa, không-sông (sđd). Nếu tiếng Mường bắt đầu tách khỏi tiếng Việt sớm nhất từ thời Hán
thì phù hợp với tương quan shn BK đã nói ở trên trong tiếng Hán Cổ.
(14) Dần có thể coi như tương đương với kính (jìng BK) như
cách viết cổ cho thấy, thành ra *kinh có thể là một dạng âm cổ phục hồi và cũng liên hệ đến kễnh như trên. Jìng BK viết bằng bộ khuyển hợp với
chữ cánh HT, là kính HV, nghĩa là một loài hổ dữ tợn đến nỗi ăn thịt mẹ nó sau
khi sinh ra ! Theo người viết, kính có thể liên hệ đến kễnh. Ngoài ra, trong tiếng
TH hiện nay có một chữ rất hiếm viết bằng bộ hổ hợp với chữ khứ (đã qua, đi),
giọng BK bây giờ là kn, hn, QĐ ham2 có nghĩa là loài hổ trắng,
hổ giận dữ, tiếng hổ gầm. Có thể là tàn tích của khan/kan hay kễnh. Một
chữ cũng rất hiếm là khư viết bằng bộ khẩu hợp với chữ khứ nghĩa là ngáp, q BK, keoi1 QĐ và Hẹ ki1, kiap7 cho thấy tàn tích các âm ngạc sau còn được
duy trì trong tiếng địa phương (Nam TH). Như đã nói trong bài viết trước (phần
1), các từ có nguồn gốc phương Nam không được dùng và trở nên đào thải
trong vốn từ TH hiện đại. Một trong những cách nghiên cứu về nguồn gốc tên
12 con giáp là tìm ra những từ Hán Cổ hiếm hay rất ít khi dùng để xác định âm
và nghĩa gốc khi so sánh với các ngôn ngữ phương Nam.
Oan
|
Thố/ thỏ
|
Miễn
|
Miễn
|
Miễn
|
(từ bỏ)
|
(gắng)
|
(thỏ con)
|
Sau khi đã lượt qua các tương ứng giữa tên Hán-Việt/HV của 12
con giáp và tên gọi các con thú trong tiếng Việt, ta thấy một liên hệ rất rõ
nét. Đây thật là một sự khám phá bất ngờ so với đa số quan niệm từ trước đến giờ
(qua bao ngàn năm) và từ Đông sang Tây rằng tên 12 con giáp có nguồn gốc TH.
Nguồn gốc oan trái này lại thêm oái ăm khi chính nguồn gốc chữ oan HV cho ta một
cách chứng minh về chủ nhân của tên 12 con giáp. Như đã viết nhiều lần, tên 12
con giáp của VN khác với TH và dĩ nhiên các nước Á Châu khác (bị ảnh hưởng của
TH) ở chỗ chi Mão/Mẹo chỉ con mèo chứ không phải con thỏ. Điều này được
xác định rõ ràng từ thời Vương Sung (sinh năm 27- chết năm 97 đời Hán, thiên
Thiên Sinh Luận của Luận Hành) liên tục cho đến nay.
(15) Nguồn gốc oan trái của tên 12 con giáp
(15) Nguồn gốc oan trái của tên 12 con giáp
Như vậy nếu ta có thể chứng minh rằng chi Mão/Mẹo đã từng chỉ
con mèo, thì bài toán đố nguồn gốc tên 12 con giáp‚ đã có được một
lời giải rồi, không cần phải so sánh và khôi phục từng âm cổ cùng phân tách các
chữ viết thời thượng cổ.
Chữ Oan HV viết bằng bộ mịch (bao trùm lấy) hợp với chữ thố ở
dưới, giọng Bắc Kinh/BK bây giờ là yun là một dạng của wan (quan đọc theo giọng Nam, hay
oan). Có hai cách giải thích về cách cấu tạo chữ oan: thứ nhất là nắp đậy
biểu thị sự giới hạn đi lại của con thỏ do đó hàm ý oan trái cho con thỏ bị
giam lại. Cách thứ hai dựa vào sự viết giống nhau giữa chữ thố và
chữ miễn hai chữ này không có sự phát biệt trong văn tự cổ thời
Xuân Thu (770-476 TCN, theo cuốn Ngữ Lâm Thú Thoại Triệu Bá Bình, Thời Học Đường chủ biên
2005, NXB VHTT). Chữ thố có thêm một nét (dấu phẩy) để chỉ cái
đuôi con thỏ. Hai chữ bây giờ chỉ khác nhau có một nét nhỏ nhưng đọc và nghĩa
khác nhau rất nhiều. Tuy nhiên, chữ thố trong bia khắc thời Hán và chữ miễn
trong đề tự khắc hoạ ở nhà thờ Vũ Lương thời Đông Hán đều nói Thần phục
kiếm từ, dĩ thố kỳ tử (hay dĩ miễn kỳ tử là khích lệ con cái, sđd). Miễn HV hay vấn
HV (biến âm m-v) đọc là miăn, wèn BK bây giờ so với min5, man6 Quảng
Đông/QĐ. Thành ra miễn và thố không những cùng cách viết mà cùng âm đọc giống
nhau thời Xuân Thu, hay người xưa đã dùng âm đọc miễn để biểu thị chữ oan
(thành phần hài thanh/HT). Do đó oan là bị nắp đậy và nhận oan khuất, chịu oan
vậy.
Theo người viết thì miễn còn là một dạng cổ của mãn trong vốn từ hiện tại của tiếng TH không còn dùng nữa, mà tiếng Việt (Cổ)
nghĩa là con mèo. Nghĩa này được ghi trong tự điển Việt Hoa Pháp (Gustave Hue,
1937) và Việt Nam Tự Điển (1954). Thật ra có những chữ rất hiếm như man viết bằng
bộ khuyển hợp với chữ man HT (tần số dùng là 9 trên 171894734) hay bộ trĩ hợp với
chữ man HT đều.











Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét