Vấn đề "thân xác" trong văn chương
I. ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Từ con người
là “Tổng hòa các quan hệ xã hội” đến con người “tự nhiên”. Theo quan điểm của
các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác, con người là một “tổng hòa các quan hệ xã hội”.
Trong văn chương cách mạng Việt Nam (từ sau 1945), con người công dân - xã hội
- chức năng được đề cao lên hàng đầu. Con người cá nhân, con người bản năng với
toàn bộ tính chất phức tạp và phong phú của nó bị đẩy lùi về phía sau bởi nhiều
lý do khách quan và chủ quan. Về sau này Nguyễn Khải cảm thán mà viết “Vậy thì
mấy chục năm qua tôi đã viết về những ai nhỉ?. Thì vẫn là viết về đồng đội, về bạn
bè, về người thân kẻ thuộc, là những người cùng thời với mình mà chính tôi là kẻ
sinh ra họ cũng cảm thấy còn xa lạ. Hình như họ sạch sẽ quá, thơm tho quá, như
từ khoảng không bước ra chứ không phải từ bùn đất của Việt Nam sinh ra. Họ không
có chỗ đứng cụ thể, không có điểm tựa cụ thể, nội lực tự sinh chứ không qua bất
kì sự gạn lọc nào từ các nguồn nuôi dưỡng. Nó không thuộc cõi người nên không
thể bay lên cõi văn chương. Nghĩ mà tiếc cho những năm tháng đã qua, chỉ hiểu đời
có một nửa, chỉ biết người có một nửa, cái nửa ai cũng nhìn thấy, còn lại bỏ hẳn
cái nửa chỉ nhà văn mới nhìn thấy” (1).
Theo cách diễn
đạt của Nguyễn Khải, thì trong một thời gian dài chúng ta đã quên đi “một nửa”
kia cũng rất quan trọng của con người - nửa bản năng, mà nếu không có nó, con
người sẽ lệch lạc, sẽ xơ cứng và vô nghĩa.
M.Bakhtin, tác giả
công trình Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, cũng từng nhấn mạnh, nhiệm vụ
của nhà tiểu thuyết là đi tìm “con người trong con người”
“Chủ nghĩa
tự nhiên” và quan niệm về con người trong văn chương
Trước đây đã có lúc
chúng ta bày đặt ngôi vị cho các “chủ nghĩa” (chẳng hạn: chủ nghĩa hiện thực tiến
bộ hơn chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ưu việt hơn chủ
nghĩa hiện thực, còn chủ nghĩa tự nhiên thì bị xếp vào cái rọ “phản tiến bộ nghệ
thuật”). Nhưng đã đến lúc cần nhận thức lại “chủ nghĩa tự nhiên” trong văn chương
một cách công bằng, bởi vì “Khái niệm chủ nghĩa tự nhiên khi bị tách
khỏi văn cảnh lịch sử cụ thể, trở thành một thuật ngữ bị chuyển nghĩa, chỉ
chung nhiều hiện tượng văn hoá, văn học khác nhau, được nhận định là có những dấu
hiệu như: lối tiếp cận sinh học, phi xã hội đối với con người; lối miêu tả như
ghi biên bản hồ sơ đối với các hiện tượng đời sống, thiếu sự chọn lọc một cách
có phê phán, thiếu sự lý giải xã hội - triết học và sự khái quát, đánh giá bằng
nghệ thuật” (2). Như vậy vấn đề đặt ra là khi tiếp cận “chủ nghĩa tự nhiên” cần
gắn nó với một văn cảnh lịch sử cụ thể để nó không “bị chuyển nghĩa”. Dấu vết của
chủ nghĩa tự nhiên trong văn chương Việt Nam 1930-1945 thể hiện rất rõ trong sáng
tác của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng,.. Chúng tôi cho rằng, trong văn chương
đương đại Việt Nam (từ sau 1975), có dấu hiệu của “chủ nghĩa tự nhiên” trong sáng
tác của nhiều nhà văn từ Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn
Quang Lập, Nguyễn Việt Hà, Y Ban đến Nguyễn Văn Học, Vũ Đình Giang, A Sáng, Vũ
Phương Nghi, Nguyễn Quỳnh Trang…
Tôi rất thích câu của Mác, đại ý “Tất cả những gì gần gũi với
con người đều không xa lạ với tôi”. Ngay như Tô Hoài (1920- 2014), được đánh giá
là nhà văn viết rất hay về phong tục của một vùng ngoại thành Hà Nội xưa với những
tác phẩm gọn ghẽ, tinh tế và thâm trầm thì trong cuốn tiểu thuyết Ba người
khác (2006) cũng gây tranh luận sôi nổi xoay quanh vấn đề “con người thân xác”
(thậm chí có người cho rằng tục). Nguyễn Huy Thiệp đặc biệt quan tâm tới vấn
đề này khi sáng tác. Ông viết “ Khi nói đến “con người tự nhiên” và “con người
xã hội”, tìm hiểu nó, lý giải nó, nhà văn bị đẩy vào thế hiểm nghèo giữa hai thế
lực: một là Tạo hóa khôn cùng và hai là những thành kiến ràng buộc trong lịch sử
và luật lệ của thể chế chính trị đương thời. Những kẻ đểu cáng nhất trong số các
nhà văn đương thời thường bất chấp Tạo hóa, bất chấp tự nhiên, giày xéo lên bản
tính người để tìm kiếm danh lợi ở cơ chế chính trị trước mắt. Những nhà văn trẻ,
chất phác hơn nhưng do đó ngu ngốc hơn, cả tin nồng nhiệt ở Tạo hóa và tự nhiên,
chĩa ngòi bút của mình vào xã hội (…). Hình như chỗ giỏi của các nhà văn thiên
tài là bằng lòng tốt và ngòi bút bất lực của mình, anh ta kéo được sức mạnh của
Tạo hóa tự nhiên cùng với sức mạnh của thể chế chính trị xã hội đương thời xích
lại được gần nhau” (3). Trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp (truyện ngắn, tiểu
thuyết, kịch), “con người tự nhiên” nhiều khi lấn lướt “con người xã hội” (kiểu
như Tướng về hưu, Sang sông, Không có vua, Cún, Những bài học nông thôn,
Những người thợ xẻ, Huyền thoại phố phường…). Trong truyện Bài học tiếng
Việt tác giả viết “Tự nhiên có những lý lẽ khác với chúng ta” và “Con người
tự nhiên vốn dĩ vô luân, nó tự do” (4).
Nhà văn Bùi Anh Tấn,
tác giả tiểu thuyết Một thế giới không có đàn bà, xuất bản năm 2000
(tác phẩm đạt giải A Cuộc thi viết tiểu thuyết và ký về chủ đề “Vì an ninh Tổ
quốc và bình yên cuộc sống”, 1999-2002, do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam tổ
chức) đã thẳng thắn thừa nhận “Đồng tính luyến ái - đây là đề tài mà chúng tôi
quan tâm (…). Đồng tính luyến ái, vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam (…). Chúng
ta đã nhìn nhận và đánh giá những hiện tượng này như thế nào? (…). Đồng tính
luyến ái - nếu bạn hay tôi - chẳng may ai đó bị “đồng tính luyến ái” thật sự,
chúng tôi xin được gửi đến với tất cả tấm lòng cảm thông sâu sắc nhất. Hãy dũng
cảm phấn đấu vượt qua và chiến thắng chính bản thân mình, đừng để sa vào những
dục vọng thấp hèn, trái tự nhiên, sa đọa, để rồi ăn năn hối tiếc. Còn nếu, đây
là sự thật, là những thôi thúc bản năng của cá nhân, xin hãy sống và ngẩng cao đầu
đón bình minh, để tin vào một ngày mai cuộc sống bạn tốt đẹp hơn” (5)
Còn Thủy Anna, tác
giả tiểu thuyết Lạc giới (tức Điếm trai) và Thoát y dưới
trăng thì tự tin trả lời “Thực ra sex không còn là một khái niệm
xa lạ với văn chương nữa, nhưng viết làm sao để câu chuyện hàm chứa bi kịch tột
cùng của nhân vật, đó chính là sứ mệnh của người viết”.
II. HIỆN TRẠNG DÒNG TIỂU THUYẾT “THÂN XÁC”
1. Các tiểu thuyết được khảo sát:
Một thế
giới không có đàn bà (2000) của Bùi Anh Tấn, Gái điếm (2007) của
Nguyễn Văn Học, Tiểu Long Nữ (2006) và Gạ tình lấy điểm (2007)
của Nguyễn Huy Thiệp, Chuyện lan man đầu thế kỷ (2006) của Vũ Phương
Nghi, Bóng giai nhân (2010) của Đặng Thiều Quang, Lạc giới (2008)
của Thủy Anna, Tiểu thuyết đàn bà (2008) của Lý Lan, Vân Vy (2008)
của Thuận, Thời loạn (2009) của Lê Lựu, Quyên (2009) của Nguyễn
văn Thọ, Cocktail cho tình yêu (2009) của Trần Thu Trang, Thể xác lưu
lạc (2009) của Tiến Đạt, Sợi xích (2009) của Lê Kiều Như, Nhật
ký son môi (2010) của Gào (tên thật là Vũ Phương Thanh), Dại
tình (2010) của Bùi Bình Thi, Bờ xám (2010) của Vũ Đình Giang, Thân
xác (2011) của A Sáng, Mảnh vỡ (2011) của Đào Bá Đoàn, Xác
phàm (2014) của Nguyễn Đình Tú, ABCD (2014) của Y Ban,…
Những tác phẩm mà
chúng tôi khảo sát chưa phải là con số đầy đủ về dòng tiểu thuyết “thân xác”
trong văn chương đương đại Việt Nam những năm gần đây. Tuy nhiên, theo chúng tôi,
là khá điển hình để qua đó chúng ta có thể nhận biết được một cách căn bản bộ
phận tiểu thuyết viết về “thân xác”, hay gọi khác đi là đời sống bản năng của
con người.
2. Ý thức khám phá phần “bản năng gốc” của con người
Có thể nói Một
thế giới không có đàn bà (2000) của Bùi Anh Tấn là cuốn tiểu thuyết đầu tiên
“hot” nhất, khai thông cho dòng tiểu thuyết “thân xác” thập niên đầu tiên của
thế kỷ XXI. Mở đầu tiểu thuyết là một cái chết, vì thế một vụ án được mở ra, nạn
nhân là một nhà khoa học độc thân, có uy tín với mọi người. Các trinh sát Công
an được tung vào cuộc và phát hiện ra một thế giới đã và đang tồn tại trong xã
hội hiện đại - thế giới dị biệt của những người đồng tính luyến ái nam (gay).
Thành Trung, thiếu úy trinh sát Công an, là nhân vật chính, được giao điều tra
vụ án. Vụ án liên quan đến người đồng tính nam. Cũng vì được giao điều ta vụ này
mà Thành Trung bỗng nhiên phát hiện ra mình cũng “dính” bệnh. Thời gian tưởng
như khỏa lấp căn bệnh quái ác đó vì “Năm tròn 17 tuổi, ngay sau đêm sinh nhật của
tuổi mười bảy, ngủ và Trung chợt thức giấc nửa đêm kinh sợ vì trong mơ khi nó
thấy mình và thầy có những quan hệ tình dục với nhau. Khác hẳn với những lần thầy
vẫn làm cho nó trong phòng tập, Trung thấy có những cảm giác không thể giải thích
nổi nếu như không muốn nói là nó thích thú điều đó. Thành Trung sợ hãi trước sự
thật này”. Sau này khi bệnh tái phát (trong thời gian đánh án) đã có lúc Thành
Trung muốn tự tử vì “Bởi vì chúng ta không là ai cả, không giống ai cả. Đấy là
một điều bất hạnh mà chúng ta không hề tự chọn lựa cho mình điều ấy (…). Trong
cuộc đời mênh mông này, chúng ta chỉ là những kẻ lạc loài, trôi dật dờ bên lề
cuộc sống, vì đời không chấp nhận chúng ta” (6). Nhưng may mắn, cuối cùng anh đã
thoát ra được khỏi cái chết vô nghĩa và vô lí. M.Kundera ví nhà tiểu thuyết như
một nhà thám hiểm. Trong trường hợp của Bùi Anh Tấn, rõ ràng tác giả đã thám hiểm
vào miền của “cái nghịch dị” (grotesque) - ở đây là “gay” (đồng tính nam). Tôi
gọi tiểu thuyết của Bùi Anh Tấn là “chuyện trinh thám buồn”.
Năm 2010, thị trường
sách suốt từ bắc chí nam, nhất là Hà Nội, nóng lên vì tiểu thuyết Dại tình của
Bùi Bình Thi. Đây là cuốn sách kể chuyện ngoại tình của những người phụ nữ có tên
là Thuần, Hồng, Hương, Thoa, Sâm, Kim Liên, Ngân và Thắm…Họ là những người phụ
nữ thành đạt trong cuộc sống nhưng thiếu đi “cái nửa” kia, họ tự kể về mình một
cách thẳng băng, họ kể về bản năng của con người họ, bản năng cố vượt qua bao
nhiêu “barie”, hiểu là những định kiến nghiệt ngã, vốn có tự bao đời đã vô tình
kìm hãm người phụ nữ đi tìm khoái lạc thân xác. Họ coi bản năng tình dục là cao
quý, nó có thể làm cho con người trở nên minh mẫn hơn, cao thượng hơn, hòa đồng
hơn với đồng loại. Tác giả tỏ ra thành thực khi nói rõ về cách mình viết cuốn
tiểu thuyết này là do được một người bạn tặng cho một máy ghi âm đặc dụng “Nó cũng
hoàn toàn ghi rất rõ tiếng của những ai đó đang nói ở bên kia một bức tường,
trong một cái phòng nào đó, thí dụ cái phòng ấy là phòng ngủ của hai vợ chồng nào
đó đang nằm trên giường, đang dốc bầu tâm sự với nhau, và cả tiếng động của giường
khi họ làm tình”. Tiểu thuyết Dại tình của Bùi Bình Thi có nhiều cận
cảnh, đặc tả về chuyện chăn gối của phụ nữ. Cũng đã có một vài ý kiến phê phán
cuốn sách này, nhưng như một nghịch lý, sách bán rất chạy. Nói một cách văn vẻ
thì Dại tình là một cuộc nổi loạn của phụ nữ trong văn chương. Nguyễn
Huy Thiệp trong bài Một góc sơ xuất trong thế giới nội tâm nhà văn đã
nhấn mạnh “Sự ngộ nhận thứ hai không khủng khiếp như ngộ nhận thứ nhất nhưng lại
rót vào nội tâm con người nhiều muối hơn cả, tôi nghĩ rằng đây là sự ngộ nhận
giới tính. Phần lớn đàn ông chúng ta chẳng hiểu gì về phụ nữ. Tôi chỉ mang máng
hiểu rằng đấy là một lực lượng tự nhiên kỳ lạ. Tất cả những điều chúng ta biết
về họ và ra sức làm khổ họ đơn thuần chỉ vì chúng ta quá sợ hãi những ước lệ xã
hội, những ước lệ phi nhân tính mà thôi” (7).
Tiểu thuyết Thân
xác của A Sáng được coi là cuốn sách “bắt mắt” nhất trong năm 2011 (sách
do Nxb Phụ nữ ấn hành) trên chủ đề tình dục. Chuyện được kể từ ngôi thứ nhất (“tôi”).
Tiểu thuyết mở đầu bằng một lời tự thú thẳng thắn, theo phong cách của con người
hiện đại, thẳng thắn đến mức tàn nhẫn và lạnh lùng “Đêm qua tôi đã ngủ với lão.
Tôi đã để lão đạt được mục đích và cũng để chính tôi đạt được mục đích. Phải, tôi
đã làm tình với lão - đúng hơn - tôi và lão đã đổi chác bằng xác thịt (…).
Đó không phải là lần đầu tiên của tôi. Nhưng chưa bao giờ tôi sợ hãi như đêm
qua và cũng kinh tởm chính mình như đêm qua. Lão hổn hển, trườn trên người tôi,
hai mắt trắng dã. Có lẽ lão không nhắm mắt vì để chiêm ngưỡng thân thể của tôi
(…). Nhưng cũng thật kì lạ, đêm qua tôi cũng không nhắm mắt khi một gã đàn ông đang
trườn trên thân thể mình”. Cô gái kể câu chuyện này là một nhà báo, người dân tộc,
có bút danh là Sơn Nữ. Muốn được ở Hà Nội, muốn có việc làm ổn định, và nhất là
muốn có một cuộc sống đầy đủ, cô nhà báo giỏi giang này đã bán mình (không phải
để chuộc cha như Thúy Kiều của Nguyễn Du, mà để được sung sướng bản thân). Nhờ “vốn
tự có” mà cô có được nhiều tiền, có xe đẹp, có căn hộ sang trọng ở Thủ đô. Cô
phóng viên trẻ tuổi và xinh đẹp này đã “tiêu diệt” ông Tổng biên tập già nhưng
có “máu dê” bằng một cơn đột quỵ. Anh chàng kế ngôi vừa leo lên cái ghế Tổng
biên tập lại cũng bị cô cho “đo ván” bằng chính cái thân xác hùng mạnh của một
cô gái dân tộc đầy sức sống “Không kịp cho hắn nói hết câu, tôi lao vào như cơn
gió, bộ ngực đã tan hoang của tôi ve vẩy như đầu rắn kẹp chặt cái mặt bóng mượt
của hắn. Tôi đè lên người hắn, tôi lột quần áo hắn, dùng cặp đùi đầy sức sống và
dòng máu họ Nùng kẹp chặt thân thể hắn. Và tôi trườn - trườn như một con điếm có
hạng - bộ ngực tôi quấn lấy cổ hắn thật chặt, tay tôi ghì chắc tay hắn… Còn hắn,
có lẽ choáng vì sức mạnh bất thần của tôi, chỉ kịp rên rỉ và xì ra như quả bóng
bị đâm (…). Đang thắng thế, tôi muốn làm nhục hắn, nên quay ra vuốt ve cái lưng
ướt đẫm mồ hôi của hắn. Tay tôi thọc sâu vào con giống của hắn, rồi lại vuốt ve
cái má trơn như mỡ của hắn, mắt tôi nhìn hắn đầy thương hại. Mặt hắn tái dại,
thở khè khè như con mèo hen gặp thời tiết xấu”. Cũng có người khi đọc tiểu thuyết Thân
xác của A Sáng, cho rằng tác giả viết quá sâu, quá kĩ vào chuyện xác thịt.
Nhưng cũng không ít người có ý khen tác giả này đã biết vượt lên chuyện “thân xác’
để nói được một cái gì đó có ý nghĩa hơn. Nguyễn Quang Thiều trong Lời giới
thiệu in đầu sách thì khen “A Sáng là đứa con của người Tày Trùng Khánh và
anh thấu hiểu điều đó. Giống con đường của cô gái trong cuốn sách, anh đã rời làng
Pác Thay, Trùng Khánh và mang theo thân xác vùi vào đời sống đô thị náo loạn như
bao kẻ khác bởi số phận. Nhưng lá bùa có thể cứu tâm hồn cô gái kia, cứu tâm hồn
A Sáng hay cứu tâm hồn của bất cứ người Tày Trùng Khánh nào đó thoát khỏi cái lưỡi
dục vọng của đời sống đô thị chính là cái hạt dẻ”. Thiết nghĩ cái câu chuyện “thân
xác” mà tác giả kể lại trong cuốn tiểu thuyết này không đơn thuần là “thân xác”
phụ nữ, mà là cái “thân xác” con người thời đại vốn rất dễ bị tha hoá. Vì thế,
từ nhan đề tác phẩm đến toàn bộ diễn biến câu chuyện, ít nhiều mang ý nghĩa biểu
tượng.
Cũng gây ồn ào không
kém trên văn đàn gần đây về chuyện “thân xác” là cuốn sách Sợi xích (Nxb
Hội Nhà văn, 2010) của Lê Kiều Như. Về hình thức thể loại, ý kiến vẫn chưa thống
nhất khi gọi nó là tiểu thuyết hay truyện. Có người ác khẩu gọi nó là “dâm thư”,
có người nhẹ hơn thì gọi là “tiểu thuyết ba xu”. Trong Mở đầu tác phẩm, Lê
Kiều Như viết “Tôi trăn trở nhiều đêm và bị ám ảnh bởi người phụ nữ đáng thương
đó, bi kịch và hình ảnh ấy xâm chiếm tôi suốt bao năm qua. Nhiều khi tôi rơi nước
mắt nghĩ đến sự thật, giả trong cuộc sống. Có đêm tôi thức trắng, viết về số phận,
những đau đớn của tình yêu. Sau sự thiếu thốn, mất mát, họ trở thành một dạng
người khao khát hưởng sự khoái lạc bản năng và tự biến mình trở thành nô lệ, lạc
lối trong cuộc sống, nối theo sự cùng quẫn của lý trí, và bi kịch trút lên cuộc
đời họ! Tôi muốn viết về những bản năng nhục thể của con người, mặt phải và mặt
trái của sex làm cho con người thăng hoa trong cuộc sống nhưng cũng làm
cho con người khổ đau cùng quẫn”. Thực ra nếu không có một số ảnh minh họa có
phần phản cảm và buổi giới thiệu sách hơi ầm ĩ thì, công bằng mà nói, Sợi
xích của Lê Kiều Như cũng chưa phải là sách sex thực sự. Cô gái
trong truyện như là một nô lệ thời hiện đại vì người chồng do quá yêu hay quá
hay ghen tuông đã “Khóa chặt tôi bằng một sợi xích” (hiểu theo cả nghĩa đen lẫn
nghĩa bóng). Trong căn buồng hạnh phúc anh ta đã hành xác người vợ của mình bằng
những cách thể hiện tình cảm quái đản. Nhà văn Lê Thiếu Nhơn nhận xét “Ở góc độ
người đọc, tôi thấy Sợi xích chưa phải là sex. Đây là cuốn sách
bình thường, tác giả viết yếu. Yếu tố sex chưa đậm đặc như nhiều người
nghĩ mà vấn đề là viết về sex kém (…). Cái được nhất của cuốn này là
người viết đã nêu lên được một hình tượng rất văn học là hình ảnh người đàn bà
bị chồng xích, gợi lên nỗi đau về thân phận người phụ hữ. Tiếc là tác giả có ý
nhưng chưa giải quyết được vấn đề mình nêu ra trong sách” (8).
Chúng tôi muốn dừng
lại phân tích kĩ hơn hai tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp được coi là khá điển hình
cho dòng tiểu thuyết “thân xác” hiện nay: Tiểu long nữ (2006)
và Gạ tình lấy điểm (2007). Sau khi thành danh nhờ truyện ngắn (độ phát
tiết tài hoa của nhà văn này trong khoảng thời gian từ 1986-1991 với hai cột mốc Tướng
về hưu và Sang sông), nhà văn này sau khi tự cảm thấy không thể viết
thêm truyện ngắn hay, đã đổi ý sang viết tiểu thuyết và cổ súy cho thể loại “cỡ
bự” này trong văn chương. Ông viết liền ba bài trong năm 2003 Thời của tiểu
thuyết (về sau tập hợp in trong sách Giăng lưới bắt chim, Nxb Hội Nhà
văn, 2005). Thực ra trước đó ông đã viết và xuất bản ở nước ngoài tiểu thuyết Tuổi
hai mươi yêu dấu. Hai cuốn tiểu thuyết có tính chất “thân xác” của Nguyễn Huy
Thiệp đều dựa vào thời sự, hay nói chính xác là các vụ án hình sự có thật đã được
các phương tiện truyền thông loan tải công khai. Tiểu long nữ viết về
vụ án nổi đình nổi đám mà nhân vật chính có thực là Lương Quốc Dũng, người có
quan hệ với người nữ vị thành niên, bị Tòa xử tù giam. Nhà văn tự thú nhận “Tiểu long nữ là một cuốn tiểu thuyết thời sự. Nó được viết ra từ một
chuyện nhảm nhí (…). Thực ra, ý nghĩa của nó cũng chỉ để mua vui và kiếm tiền”
(Lời tựa). Nhân vật chính là Nguyễn Quốc Lương, một quan chức ngành xây dựng, có
năng lực, nhiều tiền và mê gái, tất nhiên. Chi (cô bé mới lớn bị “mẹ mìn” Thúy
Vinh đưa vào bẫy để tâng công với Lương và moi tiền của anh ta). Nhưng Nguyễn
Huy Thiệp đã rất cao tay, ở chương 34, khi Thúy Vinh “lùa” được bé Chi vào phòng
cùng với Lương thì không dàn cảnh chăn gối nữa, trái lại để nhân vật Lương sám
hối trước Chi, có thể vì cô ta còn quá bé nên Lương không nỡ, hoặc giả anh ta động
lòng trắc ẩn vì thấy cô bé Chi là “báu vật… Đúng là một báu vật… Mình đang làm
gì? Tội lỗi…” (chỗ này có thể Nguyễn Huy Thiệp ảnh hưởng tác phẩm Hồi ức về những
cô gái điếm buồn của tôi của G. Mackex). Lương đã ra khỏi phòng và không
quên để lại cho bé Chi số tiền 100 đôla. Vấn đề “thân xác”, trong trường hợp này
nếu được nhà văn viết theo tinh thần tối thượng của Chân - Thiện - Mỹ thì có thể
trở thành một biểu tượng của sự tha hóa và chống lại tha hóa, của nhân cách và
phi nhân cách. Nhưng đáng tiếc tác giả đã không làm được điều đó.
Cuốn tiểu thuyết “thân
xác” thứ hai của Nguyễn Huy Tiệp có nhan đề rất thị trường - Gạ tình lấy
điểm - cũng dựa vào một scandal rất thời sự, chuyện về một ông
thầy chuyên gạ tình sinh viên bằng điểm. Trong Lời tựa, tác giả viết “Tiểu
thuyết - đấy là một thể loại nghệ thuật có tính thị phi, ngồi lê đôi mách (nếu
chỉ là hiện thực thuần túy không có tư tưởng). Nó sinh động bởi sự nguyên thủy
của hình ảnh và của sự kiện trực tiếp. Nó đòi hỏi người viết “vừa tầm” với nó”.
Nhân vật chính của tiểu thuyết này là thầy giáo Đỗ Tư Công và cô sinh viên năm
thứ hai Vân Dung. Vì quan hệ này mà thầy Công phải rời nhiệm sở, còn Vân Dung
sau đó ra trường, bước vào cuộc đời rộng lớn với biết bao nhiêu cạm bẫy. Nhưng
có một điều lạ là không có nữ sinh nào căm ghét hay khinh bỉ thầy Công. Đây là
một người đàn ông sống có đam mê, có chủ kiến “Ngẫm đi ngẫm lại trên cõi đời này
mỗi chuyện âm dương trai gái là quan trọng nhất. Sự hòa hợp ấy làm nên ý nghĩa
cuộc sống của người ta. Có nó, mọi sự hanh thông, người ta như sống trên trời,
tâm tư nhẹ bổng, thời gian trôi nhanh vùn vụt, cuộc sống không còn là ngục tù,
không còn là thành kiến, niềm vui tựa như bất tận. Không có nó - không có sự hòa
hợp kì diệu ấy - mỗi một ngày sống là một ngày luyện ngục của kiếp người lưu đày
(…). Tạo được sự hòa hợp âm dương ở mỗi người đấy là bí mật ý nghĩa cuộc đời của
họ. Điều này cũng là ý nghĩa bí mật của cả xã hội, rộng hơn là của Tạo hoá vĩ đại
ngoài kia, của cả vũ trụ bao la rộng lớn”. Vấn đề là tại sao Vân Dung và những
nữ sinh khác sẵn sàng dâng hiến thân xác cho thầy Công, tại sao thầy Công lại đam
mê “thân xác” đến như thế để nhận một kết cục đáng buồn (phải “bêu gương” trước
dư luận xã hội và bị xử lý hành chính, buộc thôi việc)? Ở đây chỉ có thể giải
thích cái động lực có tính bản năng đã thôi thúc thầy Công hành xử như thế, còn
đám sinh viên nữ thì vừa xấu hổ lại vừa thích thú khi “gạ tình lấy điểm” với thầy
giáo. Ở đây là quan hệ hai chiều, không có sự cưỡng bức theo nghĩa đen. Dường
như con người ta hành động bởi sự thôi thúc và dẫn dắt của bản năng nhiều hơn là
lý trí.
Tuy tác giả
thừa nhận đây là loại “tiểu thuyết ba xu”, viết nhanh để kiếm tiền (và nếu kiếm
tiền thì cũng chính đáng vì bằng sức lao động của bản thân), nhưng đọc kĩ vẫn
thấy những nỗi niềm trăn trở trước nhân tình thế thái, thấy có những cơn xúc động
ngấm ngầm, và đôi khi biết đâu, tác giả đã gạt thầm nước mắt trước cảnh đời đen
bạc đã khiến cho nhiều người tốt sa cơ lỡ vận!
3. Một “cuộc chơi” ngôn từ
- Dòng tiểu thuyết
“thân xác” thể nghiệm một “cuộc chơi” ngôn từ theo hướng “phi sử thi”, “suồng
sã”, “đời thường”.
Ngay Tô Hoài là
nhà văn rất cẩn trọng khi dùng ngôn từ nhưng trong tiểu thuyết Ba người
khác (2006) cũng đã dám “phá rào” hướng tới việc sử dụng một thứ chữ nghĩa
“tung tẩy” (vì thế có người cho rằng nhà văn đã “tục hóa” ngôn từ văn chương).
Nguyễn Huy Thiệp, từ lâu vẫn được coi là nhà văn đã “bình dân hóa” ngôn từ văn
chương. Nhưng dường như độc giả lại sẵn sàng đón nhận cách viết này.
Chúng tôi đồng ý với
quan điểm của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình khi đề xuất thuật ngữ “ngôn
ngữ thân thể” đã gây không ít tranh luận “Xem xét ngôn từ trong một chỉnh thể tác
phẩm không thể không xem xét ở hai cấp độ: lời văn và các phương thức tổ chức lời
văn. Khảo sát văn xuôi đương đại ở cấp độ lời văn, chúng tôi nhận thấy một đặc điểm
rất đáng chú ý trong ngôn ngữ văn học giai đoạn này: lớp ngôn ngữ thân thể dược
nhiều nhà văn tập trung khai thác. Điều này không chỉ phản ánh tâm thức thời đại
tiêu dùng, thời đại hậu công nghiệp, thời đại cá nhân, mà có lẽ càng về sau càng
rõ xu thế hướng tới một hệ hình mới” (9).
Các nhà văn trẻ
trong tiểu thuyết riêng thích sử dụng kiểu “ngôn ngữ thân thể” để kể chuyện (chúng
ta tìm thấy kiểu ngôn từ này trong sáng tác thơ của Bùi Chí Vinh, Vi Thùy Linh,
Phan Huyền Thư, Nhóm Ngựa Trời; trong truyện ngắn của Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Vĩnh
Nguyên, Võ Hồng Thu…).
Mảnh vỡ (Nxb
Hội Nhà văn, 2011) của tác giả Đào Bá Đoàn là một cuốn tiểu thuyết về “thân xác”
đúng trong nghĩa đen của từ. Chuyện kể về một cô gái phải chấp nhận khỏa thân
cho người khác làm mẫu để vẽ nhằm kiếm tiền nuôi mẹ bị bệnh nặng. Nếu trước đây,
trong tình thế ấy, sẽ có một lớp ngôn từ đầy thương cảm, thậm chí mùi mẫn. Nhưng
nay, trong tay tác giả trẻ này thì thẳng băng “Khi những mảnh vải nhỏ cuối cùng
rời khỏi cơ thể tôi, theo phản xạ tự nhiên, tôi vẫn lấy tay che. Nhưng khi những
lời tự nhiên, không lúng túng của họa sĩ vang lên thì tôi dần dần buông thả… Tôi
đã trần truồng trước mặt đàn ông. Cảm giác đầu tiên của tôi là sự lâng lâng cao
dần. Tôi không dám nhìn vào họa sĩ, vì sợ sẽ phát hiện ra cái nhìn dục tính của
đàn ông (…). Và tôi trôi vào vô cảm nhận (…). Tôi đưa tay mở nhẹ hàng cúc. Chiếc
áo ngoài thoát ra, tôi như cô vũ nữ ở trần với chiếc coóc-xê bé con che vú.
Tôi vắt áo xong thì liền khom người tháo chiếc quần dài. Tôi như một khách du lịch
mùa hè đi tắm biển với chiếc quần lót và áo lót bé nhỏ. Tôi lại vắt nó lên xà.
Tim tôi hơi vội vàng. Hơi thở tôi hơi sâu… tôi đưa tay với lại đằng sau bật tung
chiếc cúc. Đoạn dây vải thõng xuống hai bên cạnh sườn, tôi khẽ gỡ nốt nó ra. Đôi
vú tôi bung lên, tròn trặn, trắng nuốt với núm vú hồng và đầu vú nhỏ tròn tự tôi
cũng đã trăm lần thấy nó xinh đẹp và hấp dẫn vô cùng”. Viết về “thân xác” như
thế quả là chuyện cấm kỵ trong quá khứ.
- Dòng tiểu thuyết “thân xác” có đặc trưng của một thứ ngôn ngữ tốc độ và gia tăng lượng thông tin, vì lẽ đó trong nhiều trường hợp nó
gần với ngôn ngữ báo chí. Dường như tâm thế “sống gấp” cũng ảnh thưởng đến cách
viết của người trẻ. Cây bút trẻ có tên một chữ Gào (tên thật là Vũ Phương
Thanh) trong tiểu thuyết Nhật ký son môi (Nxb Thời đại, 2010), đã trưng ra
một cách viết với một tốc độ cao “Tôi yêu một chàng trai vào đầu năm ngoái. Vậy
là tính đến bây giờ chúng tôi đã yêu nhau được gần hai năm… Mặc dù người yêu tôi
đi du học, nhưng phần lớn thời gian trong cuộc sống, chúng tôi đều dành cho
nhau… Ví dụ chúng tôi có thể ngồi nói chuyện với nhau qua skype 24 giờ mỗi ngày.
Hoặc nói chuyện điện thoại thâu đêm suốt sáng”. Người trẻ sống tốc độ và văn của
họ cũng tốc độ. Dường như họ muốn cho độc giả không cưỡng lại được khi đọc tác
phẩm bằng cách cuốn họ vào dòng thác của ngôn từ.
Vũ Đình Giang, tác
giả của hai cuốn tiểu thuyết bán chạy ở phía nam Song song (2008)
và Bờ xám (2010), đã có lần tuyên bố anh thích những “vũ điệu chữ”
hay “thác chữ”. Quả thực đọc Bờ xám của tác giả này mới thấy ngôn từ
luôn cựa quậy, xáo trộn, chen chúc, vừa xô đẩy nhau vừa nhảy múa. Xin dẫn một ví
dụ nhỏ “Thì đây: một đám sinh viên đột ngột xuất hiện từ ngõ trái - nơi ngự trị
một dãy chuồng trại khô cằn, ngày lại ngày diễn ra công cuộc chăn dắt, hút rỉa,
nhồi nhét, và tra tấn lũ sinh viên khoa thiết kế. Bọn chúng tuôn chảy cùng nhau
thành khối chất lỏng nhơm nhớp, vo ve bám đuổi mục tiêu như một bầy ruồi”.
III. KẾT LUẬN
1. Trong những tiểu
thuyết chúng tôi dẫn giải khảo sát, đặc biệt những cuốn chúng tôi dừng lại
phân tích kỹ sẽ thấy vấn đề tình dục nổi lên hàng đầu của việc miêu tả. Tuy
nhiên không nên vơ đũa cả nắm, cho rằng, đây là “tiểu thuyết ba xu” hay “dâm thư”
mà cần công bằng trong đánh giá. Tôi nhớ một câu của nhà mỹ học cổ điển Đức Hêghen,
đại ý, cái gì tồn tại cái đó hợp lý. Tiểu thuyết “thân xác’ có công chúng, có “thị
phần’ sách khá lớn, vậy ắt hẳn nó không dễ bị tiêu diệt bởi “văn chương tinh
hoa” như cách ai đó nghĩ. Tiểu thuyết “thân xác” có thuộc phạm trù “văn hóa đại
chúng” hay không, vấn đề này cần có thời gian nghiên cứu kỹ càng và có trao đổi
khoa học cẩn trọng. Tiểu thuyết thân xác là một thực thể văn chương, nó tồn tại
ngoài ý chí chủ quan của chúng ta. Cần thiết tiếp cận nó trong tinh thần khoa học
- công bằng và bình tĩnh. Nhìn đại thể dòng tiểu thuyết “thân xác” xuất hiện như
là một sự cân bằng văn chương về một vùng cấm từng xuất hiện trước đó trong vòng
khoảng 40 năm (1945-1985). Viết về thân xác đôi khi được coi như là cái mới về đề
tài chứ chưa bứt phá lên đến những giá trị nhân văn và nghệ thuật đích đáng.
2. Trong sáng tác
văn chương, một vấn đề muôn thưở được đặt ra: không phải “viết về cái gì” mà là
“viết như thế nào” mới quan trọng, mới thể hiện tài nghệ của nhà văn (chỉ cần
nhớ lại những sáng tác kiểu Lục xì của Vũ Trọng Phụng chúng ta sẽ được
khai sáng). Viết về “thân xác” (về bản năng tình dục, về chuyện chăn gối, về đồng
tính…), bản thân nhà văn không có lỗi, nếu độc giả thích đọc “thân xác” cũng không
có lỗi. Lỗi là ở những định kiến chật hẹp của chúng ta, lỗi là nếu nhà văn lợi
dụng “thân xác” để mưu cầu chuyện khác ngoài văn chương. Không tránh khỏi những
trường hợp non tay nghề (Lê Kiều Như viết Sợi xích) hoặc hơi tham lam và
thiếu kiềm chế trong khi viết như trường hợp Bùi Bình Thi với Dại tình.
3. Viết hay về “thân
xác” là viết về con người trong toàn bộ tính phức tạp, đa dạng và phong phú của
nó. “Thân xác” con người mãi mãi là một bí ẩn thách gọi nhà văn khám phá và thể
hiện trên tinh thần Chân - Thiện - Mỹ.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Nguyễn Khải: Chuyện nghề, Nxb Hội Nhà văn,1994,
tr.41-42
2. Từ điển văn học (Bộ mới), Nxb Thế giới, 2004,
tr.296
3. Nguyễn Huy Thiệp: Giăng lưới bắt chim, Nxb Hội
Nhà văn, 2005, tr. 28-29
4. Nguyễn Huy Thiệp: Cánh buồm nâu thuở ấy (Tuyển
chọn những truyện ngắn hay nhất và mới nhất), Nxb Hội Nhà văn, 2005, tr.
202, 210
5 và 6. Bùi Anh Tấn: Một thế giới không có đàn bà, Nxb
Công an nhân dân, 2000, tr 5-6 và 459
7. Nguyễn Huy Thiệp: Giăng lưới bắt chim, Nxb
Hội nhà văn, 2005, tr.15
8: http://VnExpress.net/
9. Nguyễn Thị Bình - Nguyễn Thị Tuyết Minh: Vài nét về
ngôn ngữ thân thể trong văn xuôi đương đại, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số
718, năm 2010.








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét