Như một tiền định, khi chào đời, gia đình đã đặt tên cho ông
là Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu). Và như vậy, số phận đời ông đã gắn với mùa tươi đẹp
nhất của đất trời: Mùa Xuân. Còn tên ông: Xuân Diệu, nghĩa là một mùa xuân diệu
vợi, mùa xuân của ấm êm trong tình yêu và hạnh phúc... Nhưng rồi, đời ông chưa
bao giờ được hưởng những phút giây huyền diệu ấy của mùa xuân tình yêu và mãi
mãi điều ấy với ông chỉ là những khát vọng không thành... Sự ẩn ức ấy đã dồn
nén trong tâm thức ông và phóng chiếu thành những cảm hứng sáng tạo. Và xét từ
điểm nhìn này, Xuân Diệu đã trở thành một minh chứng cho lý thuyết phân tâm học
của Freud trong lĩnh vực sáng tạo văn nghệ. Điều đó đã góp phần lý giải
vì sao cảm thức xuân trong thơ ông luôn gắn với tình yêu lứa đôi, với tuổi trẻ,
với sự nồng cháy.
Ta sẽ thấy rõ điều này trong bài thơ Nguyên đán của ông.
Xuân
của đất trời nay mới đến;
Trong tôi, xuân đến đã lâu rồi;
(Nguyên đán)
Quả thật, xuân trong cảm thức
của Xuân Diệu là “Nguyên đán” của tình yêu, là sự khai mở của tâm hồn con người.
Nó mời gọi và hiến dâng, nồng nàn và say đắm. Nó tồn sinh như một giá trị vĩnh
hằng. Nó là “xuân không mùa”. Nó vượt cả không gian, thời gian, không chịu sự
ràng buộc vào qui luật vận động của đất trời. Đây là một cảm thức xuân mang tầm
vũ trụ của một tâm thức hiện sinh luôn thao thiết với đời. Nó vĩnh hằng bởi nó
luôn gắn với tình yêu, mà tình yêu thì không có tuổi, tình yêu mãi mãi hiển
linh khi còn có con người. Tình yêu không chết trong thế giới con người và mùa
xuân là hiện thân của tình yêu nên nó cũng không bao giờ chết.
Từ
lúc yêu nhau, hoa nở mãi
Trong vườn thơm ngát của hồn tôi.
(Nguyên đán)
Tình yêu vốn là điều kỳ diệu mà thượng đế đã ban tặng cho con người. Sự kỳ diệu
đó đã làm nên một thế giới trong đó tình yêu được tôn thờ như một tôn giáo mà
đã là người thì không có ai là kẻ ngoại đạo. Nữ văn sĩ Quỳnh Dao, một cây bút
viết tiểu thuyết diễm tình lừng lẫy đã nói đại ý rằng: Tình yêu - Tôn giáo thứ
nhất của loài người; Tình yêu - Từ đó mà có mọi sự; Tình yêu - Không có nó con
người không còn là con người. Phải chăng vì thấu cảm được điều nầy mà trong thơ
Xuân Diệu, tình yêu đã trở thành một cảm hứng chủ đạo luôn đồng hành với mùa
xuân trong những xúc cảm dạt dào mãnh liệt.
Một
ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu.
Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều.
Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng.
(Xuân không mùa)
Và như vậy trong cảm thức của Xuân Diệu về mùa xuân, thì tình yêu và tuổi trẻ
bao giờ cũng song hành với mùa xuân. Nó tồn tại như một thực thể của tâm hồn,
tinh tế mà tha thiết, lắng sâu...
Bình
minh quá, mỗi khi tình lại hứa,
Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta
(Xuân không mùa)
Và không chỉ song hành mà xuân và tình yêu trong cảm thức của Xuân Diệu còn là
sự gắn kết, ràng rịt giữa con người với đất trời. Đó là một bản giao hưởng, là
tiếng vọng đa thanh, đa cảm của tâm hồn con người trong sự giao hòa với tự
nhiên.
Nghìn
buổi sáng, bình minh xe chỉ thắm
Đem lòng tôi ràng rịt với xuân tươi.
(Đa tình)
Để rồi từ đây, lại mở ra một chiều kích khác trong cảm thức về mùa xuân của hồn
thơ Xuân Diệu. Đó là sự cảm nhận về mùa xuân như biểu tượng cho sự sống của
thiên nhiên mà phải có một tâm hồn tinh tế, biết lắng nghe “từng đường tơ ánh
sáng” của đất trời lúc giao mùa thì mới thấu cảm được những điều vị diệu ấy.
Ta hãy nghe thi sĩ đa tình và đa tài Xuân Diệu thủ thỉ với xuân:
Những
tiếng ân tình hoa bảo gió,
Gió đào thỏ thẻ bảo hoa xuân.
(Với bàn tay ấy)
Hay những rung cảm tinh tế của buổi đầu xuân mà khi đọc lên lòng ta không khỏi
nôn nao cảm xúc và thấy như xuân đã đến gõ cửa lòng ta để chuyện trò,
tình tự...
Sao
buổi đầu xuân êm ai thế!
Cánh hồng kết những nụ cười tươi.
(Nụ cười xuân)
Xuân của đất trời đã hòa quyện với xuân của lòng người. Nó “len lén” đi vào tâm
hồn con người và ngự trị trong đó như một thiên sứ của ánh sáng và tin yêu
Ai
có biết mùa xuân lên nặng lắm
Trên cánh hồng và trong những trái tim?
Nghe điệu lòng hưởng ứng với ca chim,
Tôi tự thấy lạc loài trong nắng mới.
Và như vậy, xuân trong cảm thức của Xuân Diệu không dừng ở những cảm nhận về sự
giao hòa giữa xuân với tình yêu, xuân với tuổi trẻ, xuân với thiên nhiên mà
đã kết tinh thành lẽ sống với một khát vọng mạnh mẽ của một thi nhân luôn biết
trân quý từng sát na của sự sống. Với Xuân Diệu, Tuổi trẻ - Yêu và Sống chính
là Mùa xuân và Mùa xuân cũng chính là Sống - Yêu và Tuổi
trẻ. Sự hợp hôn diệu kỳ nầy là hiện thân của một tâm thức hiện sinh mà ở đó
không có chỗ cho những mưu toan nhỏ nhen, tầm thường của những tâm hồn băng
giá, vô cảm.
Chỉ có tan
hòa trong cõi thiên thai của cảm thức: Mùa xuân - Tuổi trẻ - Sống và yêu,
Xuân Diệu mới viết được những câu thơ đầy khát vọng sống mãnh liệt như thế nầy.
Xuân
đang tới, nghĩa là xuân đang qua,
Xuân
còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian;
(Vội vàng)
Phải chăng, từ những khát vọng sống mãnh liệt nầy mà Xuân Diệu đã khao khát sống,
thiết tha sống, quý yêu sự sống và ý thức về giá trị của sự sống đến vô ngần,
chứ không phải là một lối “sống gấp”, “sống vội” tầm thường như người ta đã từng
gán ghép cho ông một cách oan ức, thô bạo mà sinh thời ông chẳng bao giờ cải
chính. Tội nghiệp cho ông và cũng tội nghiệp cho thứ phê bình văn học theo kiểu
xã hội học dung tục của một thời đã xa!? Và với một cái nhìn nhân bản, có thể
khẳng định: Xuân trong cảm thức của Xuân Diệu chính là một tuyên ngôn sống mang
tâm thức hiện sinh rất đáng trân trọng. Không có một tấm lòng yêu cuộc đời, yêu
sự sống, yêu tuổi trẻ và mùa xuân thì làm sao Xuân Diệu lại viết được những câu
thơ bỏng cháy một khát khao sống cao đẹp đến thế.
Ta
muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng.
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
(Vội vàng)
Một mùa xuân mới lại về. Nhưng nhà thơ Xuân Diệu đã không còn trên cõi đời để
đón xuân sang, để được “cắn xuân hồng” mà ông luôn khao khát. Ông đã đi “ra
ngoài cõi sống” đến nay được 28 năm (Xuân Diệu mất năm 1985). Hai tám năm từ
giã cõi đời cũng là hai mươi tám năm “xuân vẫn tuần hoàn”. Và dẫu rằng Xuân Diệu
đã mất đi nhưng thơ ông vẫn hiện hữu trong lòng người như những mùa xuân bất tận.
Và đó là một giá trị không thể nào thay thế. Cảm thức xuân trong thơ Xuân Diệu
vì thế cũng là một hệ giá trị góp phần làm nên sự bất tử của Xuân Diệu và thơ
Xuân Diệu, một nhà thơ mà ngay từ khi mới hiện diện trên thi đàn đã được Hoài
Thanh tôn vinh là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (1). Và cái mới ấy
phải chăng được kết tinh từ sự huyền diệu của tình yêu, tuổi trẻ và mùa
xuân trong thơ như ông đã dự cảm:
Xuân
không chỉ ở mùa xuân ba tháng;
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim
trên cành há mỏ hót ra thơ;
Xuân là lúc gió về không định trước.
(Xuân không mùa)
Mùa xuân ơi! Những ngày mới bắt
đầu...
Chú thích:
(1) Hoài
Thanh, Thi nhân Việt Nam, Nxb. Văn học, H, 1988, tr.121.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét