Thứ Năm, 19 tháng 9, 2019

Dạy học ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn

Dạy học ca khúc trữ tình 
của Trịnh Công Sơn
MỞ ĐẦU 
1. Lý do chọn đề tài 
Thanh nhạc là bộ môn nghệ thuật ca hát và dùng giọng hát con người để truyền tải những cung bậc cảm xúc qua những tác phẩm âm nhạc. Nghệ thuật ca hát đòi hỏi người hát phải nắm vững một số kỹ thuật thanh nhạc, điêu luyện, tinh ý trong cách hát và cách xử lý bài. Trong các tác phẩm thanh nhạc có rất nhiều thể loại như: thanh xướng kịch, liên khúc, tổ khúc... và ca khúc hay còn gọi là bài hát, là một thể loại được các nhạc sĩ sử dụng nhiều hiện nay. 
Trong thể loại ca khúc, ca khúc quần chúng và ca khúc nghệ thuật là hai khái niệm phổ biến nhất. Những ca khúc này mang các tính chất âm nhạc khác nhau như: hành khúc, vui nhộn, hài ước, dí dỏm... Trong đó, tính trữ tình được nhiều người quan tâm và lắng nghe. Ca khúc trữ tình là gì? Đây là một thể loại âm nhạc diễn tả những tâm tư, tình cảm chất chứa nỗi buồn sâu thẳm trong trái tim và nội tâm bao la với tiết tấu nhẹ nhàng du dương đi vào lòng người. Theo dòng chảy của thời gian, cùng với sự thay đổi và phát triển của nền lịch sử âm nhạc, các ca khúc trữ tình đã có những thay đổi lớn và rất nhiều nhạc sĩ thành công trong lĩnh vực này. Trên thế giới các tác gia nổi tiếng với các ca khúc trữ tình như: F. Schubert với Sérenade, Ave Maria; W. A. Mozart với Khát vọng mùa xuân, F. Chopin với Nhạc buồn, M. Glinka với Chim sơn ca, P. I. Tchaikovsky với Gặp em đêm vũ hội; và một số bài hát nhạc Nga lời Việt như: Đôi bờ, Chiều Matxcơva... Không chỉ các tác gia nước ngoài mà các nhạc sĩ Việt Nam cũng có những ca khúc nổi bật với phong cách trữ tình lãng mạn vừa trong sáng, vừa hào hùng như: Huy Du với Tình em và Chiều không em; Phan Nhân với Hà Nội niềm tin và hy vọng; Hoàng Hiệp với Trở về dòng sông tuổi thơ tôi; Đỗ Nhuận với Việt Nam quê hương tôi; Phạm Minh Tuấn với Đất nước; Phú Quang với Nỗi nhớ mùa đông... Nhưng có một nhạc sĩ đã trải qua hai thời kỳ lịch sử, từ trước và sau ngày giải phóng đất nước và cho đến khi ông đã mất tên tuổi ông bây giờ vẫn còn sống mãi trong lòng người Việt. Mọi người đều biết đến ông và các ca khúc của ông. Đó là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. 
Là một nhạc sĩ được nhiều người yêu mến bởi tài năng âm nhạc và phong cách sống, Trịnh Công Sơn là cái tên được nhắc tới rất nhiều trong các ca khúc trữ tình của Việt Nam về tình yêu lứa đôi cũng như số phận con người. Nói đến Trịnh Công Sơn, không thể không kể đến một giọng ca đã gắn bó trong thời kỳ đầu và thể hiện rất thành công các ca khúc như Diễm xưa, Hạ Trắng, Một cõi đi về, Biết đâu nguồn cội, đó là ca sĩ Khánh Ly. Những tác phẩm hay và thành công trên không chỉ làm cho nền âm nhạc ngày càng phát triển mà còn là một thư viện phong phú để đào tạo thanh nhạc cho các ca sĩ, nghệ sĩ chuyên nghiệp cũng như để đào tạo nên các giáo viên âm nhạc trong tương lai. 
Trường ĐHSPNTTW là nơi đào tạo nên nhiều giáo viên âm nhạc cho các trường học trên cả nước. Trải qua nhiều giai đoạn, trường đã phát triển từ cao đẳng lên đại học và mở rộng mã ngành đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ lý luận và dạy học âm nhạc. Trường hiện nay đã có nhiều hệ đào tạo như: Đại học Sư phạm âm nhạc, Đại học Thanh nhạc, Đại học Piano… Sinh viên ĐHSPAN được học các môn âm nhạc như: Lý thuyết âm nhạc, Lịch sử âm nhạc, Phân tích tác phẩm, Hòa âm... bên cạnh đó còn có các môn hoạt động âm nhạc như: chỉ huy, hợp xướng, nhạc cụ và thanh nhạc... Trong các bộ môn âm nhạc, bộ môn thanh nhạc có tầm quan trọng đối với sinh viên sư phạm âm nhạc, nó cung cấp những kiến thức bổ ích, sâu rộng về thanh nhạc. Để hoàn thành bộ môn thanh nhạc, sinh viên cần có những kỹ năng thanh nhạc cơ bản và thể hiện thành công được phong cách âm nhạc cũng như tâm tư tình cảm mà nhạc sĩ đã gửi gắm vào bài hát. Mặc dù ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn đã được đưa vào giảng dạy cho hệ đào tạo Sư phạm âm nhạc trường ĐHSP Nghệ thuật TW nhưng hiện nay vẫn chưa có phương pháp giảng dạy phù hợp, giúp học sinh hiểu rõ hơn phong cách âm nhạc của nhạc sĩ và làm sao để thể hiện tác phẩm một cách trọn vẹn. 
Vì thế, chúng tôi cho rằng, với một tác giả nổi tiếng, một tài năng âm nhạc như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, không chỉ ở Việt Nam mà ông còn được biết đến trên thế giới, thì việc đưa ca khúc trữ tình vào giáo trình dạy học âm nhạc tại trường ĐHSPNTTW để tìm hiểu, nghiên cứu, giảng dạy cho sinh viên biết cách thể hiện được phong cách âm nhạc trữ tình của Trịnh Công Sơn là rất cần thiết. 
Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài này: “Dạy học ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn cho sinh viên ở hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc trường Đại Học Sư Phạm Nghệ Thuật TW” để nghiên cứu và tìm hiểu cho luận văn Thạc sĩ. 
2. Lịch sử nghiên cứu 
Liên quan đến đề tài luận văn đã có một số nghiên cứu như sau: 
- Âm nhạc Việt Nam tác giả - tác phẩm tập III (2006), Nxb Viện Âm nhạc của nhóm tác giả như: PGS-TS Nguyễn Thị Nhung, PGS-TS Phạm Tú Hương, TS. Lê Văn Toàn, TS. Vũ Tự Lân và nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Minh Châu là người viết chính đã viết nhạc sĩ. Trong đó, từ trang 389 đến 446 tác giả đã viết tương đối đầy đủ về cuộc đời sự nghiệp, ngôn ngữ âm nhạc và phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn; 
- Phương thức so sánh trong ca từ của Trịnh Công Sơn (2010) của Hà Thị Thu Hương, luận văn Thạc sĩ “Ngôn ngữ học” đã nói về cuộc đời, sự nghiệp và các ca khúc của Trịnh Công Sơn. Bên cạnh đó tác giả đã bàn về đặc điểm ngữ nghĩa của phương thức so sánh và hình tượng nghệ thuật trong các ca khúc của ông; 
- Trịnh Công Sơn - Một người thơ ca, một cõi đi về (2001) do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên soạn, Nxb Âm nhạc, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây. Cuốn sách có nói đến những bài viết về Trịnh Công Sơn trước khi ông mất; giới thiệu 63 bài thơ (ứng với 63 năm ông ở trọ cõi trần) rút từ các ca khúc Trịnh Công Sơn. Trong đó, phần 4 - Một Cõi Đi Về đã tập hợp một phần nào bài viết về ông sau khi ông qua đời. Ngoài ra, cuốn sách còn giới thiệu một số hình ảnh tư liệu, tranh vẽ và bản nhạc của ông. 
Bàn về phương pháp giảng dạy thanh nhạc chuyên nghiệp, trước đây đã có những tài liệu nghiên cứu về đề tài này: 
- Phương pháp sư phạm thanh nhạc (2001) của PGS. Nguyễn Trung Kiên, Nxb Văn hóa Dân tộc. Ở quyển sách này tác giả đã trình bày một cách sơ lược về hệ thống phương pháp học hát bao gồm cả phần lý thuyết và thực hành trên cơ sở giải thích một cách tương đối toàn diện và khoa học về vấn đề kỹ thuật thanh nhạc của các trường phái thanh nhạc trên thế giới. Qua đó, có thể vận dụng phù hợp vào việc giảng dạy, học tập thanh nhạc ở Việt Nam; 
- Phương pháp giảng dạy thanh nhạc (2008) của NSƯT Hồ Mộ La, Nxb Từ điển Bách khoa. Tác giả Hồ Mộ La đã cho ta thấy tầm quan trọng của “giọng hát”, nó được coi là một nhạc khí trời phú. Vì thế tác giả viết cuốn sách này nhằm nghiên cứu về phương pháp dạy hát thanh nhạc cho các trường có đào tạo thanh nhạc; 
- Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật ca hát (2011) của TS. Trần Ngọc Lan, Nxb Giáo dục Việt Nam, đã nói về ngôn ngữ tiếng Việt đơn âm, đa thanh trong thanh nhạc. Do đó, người hát muốn hát tốt tiếng Việt, ngoài các yếu tố cần có như giọng hát tốt, kỹ thuật thanh nhạc tốt, kiến thức âm nhạc, cảm nhận âm nhạc, kỹ năng thể hiện, biểu diễn, chọn lựa thể loại, phong cách cho phù hợp với sở thích, giọng hát, khả năng của mình (thính phòng, dân gian, nhạc nhẹ…) cần phải tìm hiểu đặc điểm cấu trúc và nắm vững những kiến thức cơ bản chuyển động đóng, mở âm của tiếng Việt để rèn luyện kỹ năng thanh nhạc tốt hơn. Giáo trình sư phạm thanh nhạc cho đào tạo giáo viên sư phạm âm nhạc như: 
- Phương pháp dạy học âm nhạc (Tập một) (2001) của TS. Ngô Thị Nam, Nxb Giáo dục, chủ yếu nói về “Phương pháp dạy hát” ở trường Trung học cơ sở. Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập của bộ môn, ngoài những kiến thức cơ bản về phương pháp dạy hát, kỹ thuật hát các bài hát ở nhiều thể loại, cuốn sách còn hướng dẫn, phân tích cấu trúc, nội dung, hình thức bài hát dùng trong trường Trung học cơ sở, các bước tiến hành dạy hát. Qua các bài học cụ thể của chương trình, sách còn cung cấp một số phương pháp tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tổ chức các chương trình biểu diễn văn nghệ; 
- Hát (2004) (Giáo trình Cao đẳng Sư phạm) của TS. Ngô Thị Nam, Nxb Đại học Sư phạm đã giới thiệu một số cơ sở lý luận về nghệ thuật hát, một số bài tập luyện giọng và phương pháp thực hiện, cách ứng dụng để thể hiện bài hát ở trường Trung học cơ sở, một số ca khúc quần chúng, ca khúc nghệ thuật, dân ca Việt Nam và bài hát nước ngoài. Với giáo trình sử dụng tài liệu này cần có sự hướng dẫn của giảng viên chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc, thanh nhạc; 
- Giáo trình hát Tập II (2008) của TS. Ngô Thị Nam, Nxb Đại học Sư phạm đã giới thiệu những kỹ thuật và phương pháp thể hiện sắc thái cường độ, nhịp độ, phát triển hơi thở, phối hợp các kỹ thuật hát với 36 bài luyện thanh; giới thiệu một số kiến thức chung về hát tập thể, một số kỹ năng hát hợp xướng đơn giản. Bên cạnh đó trong sách có hướng dẫn cách ứng dụng các kỹ thuật hát vào phương pháp luyện tập thực hành thể hiện với 52 ca khúc quần chúng, ca khúc nghệ thuật, dân ca Việt Nam và bài hát nước ngoài khá đa dạng về đề tài, phong cách, thể loại tính chất âm nhạc.
Một số luận văn liên quan môn thanh nhạc cho sinh viên Đại học sư phạm âm nhạc:
- Luận văn Thạc sĩ Aria trong dạy học thanh nhạc trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương (2014) của Đào Khánh Chi bảo vệ tại Trường ĐHSPNTTW
- Luận văn Thạc sĩ Giảng dạy Thanh nhạc cho giọng nam cao hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương (2014) của Lê Minh Hưng bảo vệ tại trường ĐHSPNTTW
Những giáo trình, công trình nghiên cứu trên là tư liệu quý báu cho nền âm nhạc Việt nam, đã đề cập đến việc đào tạo thanh nhạc hệ Đại học Sư Phạm Âm nhạc. Tuy nhiên, qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu, chúng tôi thấy đề tài “Dạy học ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn cho sinh viên ở hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW” là đề tài mới, chưa tìm thấy ở bất kỳ đâu. Vì thế, chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm đi sâu tìm hiểu nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và các ca khúc của ông để đưa vào giảng dạy cho sinh viên một cách cụ thể. Từ đó tìm ra biện pháp dạy học cho sinh viên thể hiện tốt các ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn và phát triển khả năng ca hát của bản thân. 
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 
3.1. Mục đích nghiên cứu 
Đề tài luận văn nhằm giúp cho sinh viên có thêm hiểu biết về ca khúc trữ tình, cũng như phong cách âm nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, góp phần rèn luyện kỹ năng thanh nhạc cơ bản, bồi dưỡng tâm hồn, phát triển cảm xúc cho sinh viên để các em có thể diễn đạt tốt ca khúc của nhạc sĩ. Đồng thời, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn thanh nhạc cho sinh viên hệ ĐHSPAN
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 
Luận văn tập trung tìm hiểu: 
- Làm rõ đặc điểm ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn. 
- Tìm hiểu quá trình dạy học và thực tế sử dụng ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn trong chương trình môn Thanh nhạc ở hệ ĐHSPAN tại trường. 
- Nghiên cứu, vận dụng kỹ thuật thanh nhạc vào dạy học cho sinh viên hệ ĐHSPAN thể hiện ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn 
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 
4.1. Đối tượng nghiên cứu 
Biện pháp dạy học cho sinh viên ĐHSPAN thể hiện ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn. 
4.2. Phạm vi nghiên cứu 
Đề tài nghiên cứu biện pháp dạy học cho sinh viên hệ ĐHSPAN và thực nghiệm cho sinh viên hệ ĐHSPAN hiện ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn tại trường ĐHSPNTTW
5. Phương pháp nghiên cứu 
Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính như: 
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: so sánh - đối chiếu, phân tích tổng hợp các vấn đề được nêu ra, tổng kết kinh nghiệm sư phạm, 
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, khảo sát, dự giờ thăm lớp, quan sát, trao đổi và thực nghiệm sư phạm. 
6. Những đóng góp của luận văn 
Đề tài đưa ra biện pháp dạy học cho sinh viên ĐHSPAN thể hiện được phong cách trữ tình trong ca khúc của Trịnh Công Sơn. 
Đề tài sẽ đóng góp một phần nhỏ vào đào tạo bộ môn thanh nhạc tại trường và có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những người quan tâm. 
7. Bố cục của luận văn 
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm hai chương như sau: 
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. 
Chương 2: Biện pháp dạy học cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc thể hiện ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn.
Chương 1 
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 
1.1. Thanh nhạc 
1.1.1. Nghệ thuật thanh nhạc 
Hiện nay, nền nghệ thuật Việt Nam ngày càng được quan tâm và phát triển. Nói đến nghệ thuật ta nghĩ đến rất nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như: Âm nhạc, hội họa, kịch, điện ảnh, múa... và những bộ môn nghệ thuật trình diễn khác. 
Nghệ thuật Thanh nhạc còn được gọi là tiếng hát, giọng hát hoặc ca hát. 
Tiếng hát là tiếng nói của tâm hồn trở thành nghệ thuật lâu đời nhất, phổ cập và dễ hiểu nhất, được mọi người yêu thích. Tiếng hát mang lại cho con người nguồn hạnh phúc, dù là ở thời bão lửa chiến tranh hay xã hội hòa bình, tươi sáng của chúng ta hôm nay và ngày mai. Tiếng hát vẫn là hoa thơm, là không khí, ánh sáng mặt trời của trái đất... [11; tr.7]. 
Mặc dù sức truyền tải, phong phú, dễ hiểu và phổ cập như vậy, nhưng nghệ thuật thanh nhạc lại là một trong những loại hình nghệ thuật khó nhất. Nghệ thuật thanh nhạc là một loại nhạc khí có đặc thù riêng, được tạo ra bởi một nhạc cụ sống - cơ thể con người, có thể gọi là một nhạc cụ sống với sức mạnh biểu hiện lớn lao khác xa với những nhạc cụ bình thường. Mọi diễn biến tâm sinh lý của ca sĩ đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nghệ thuật. Hơn nữa, cái khó của nghệ thuật ca hát còn ở chỗ: ngoài những quy định chung về âm thanh, về kỹ thuật thanh nhạc, về thẩm mỹ còn bao gồm cả những quy luật về ngôn ngữ. 
Thanh nhạc hay ca hát là môn nghệ thuật phối hợp âm nhạc và ngôn ngữ. Chính vì điều đó mà nghệ thuật thanh nhạc có khả năng phổ cập rộng rãi, trở thành một phương diện truyền cảm, giáo dục tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ vô cùng quan trọng đối với con người.  
1.1.2. Một số kỹ thuật thanh nhạc cơ bản 
Để có thể xây dựng một giọng hát hay, chuyên nghiệp bản thân mỗi người cần có những kỹ thuật thanh nhạc cơ bản bao gồm như: hơi thở thanh nhạc, tư thế khi hát, vị trí âm thanh, điểm tựa âm thanh, âm vực, âm khu giọng hát, cộng minh, khẩu hình, âm sắc,... Trong cuốn sách “Phương pháp sư phạm Thanh nhạc” (2001) Tác giả Nguyễn Trung Kiên đã viết: 
Để xây dựng một nền nghệ thuật ca hát mới, đáp ứng các yêu cầu của thời đại, chúng ta rất trân trọng học tập, tiếp thu những kinh nghiệm nước ngoài, chúng ta cần nghiên cứu kỹ càng để áp dụng vào cách hát của ta sao cho phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ, tập quán, tâm lý, tình cảm của dân tộc. Như vậy, phương pháp của ta mới thực sự là khoa học. Tiếng hát hay được quần chúng yêu thích, thừa nhận, phải là tiếng hát mang tâm hồn người Việt Nam trong thời đại mới… [11; tr.363]. 
Trong cuốn “Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật ca hát” Tác giả Trần Ngọc Lan cho rằng: 
Nghệ thuật hát Bel canto - Nghệ thuật hát mở là nghệ thuật hát của ngôn ngữ đa âm. Khi phát âm, nhả chữ, nghệ thuật hát này quan tâm nhiều hơn đến trọng âm, các thành phần khác trong một từ; trước và sau trọng âm đều đọc lướt, nối âm tiết này sang âm tiết kia, nối âm của từ này sang từ kia… [21; tr.71]. 
Đối với nghệ thuật hát Bel canto thì nguyên tắc đầu tiên đó là luôn phải mở khẩu hình, hay như chúng ta vẫn nói một cách dân dã là cảm giác mở khẩu hình như ngáp khi hát, càng lên cao càng phải mở. Khẩu hình luôn mở theo chiều dọc để thu gọn âm thanh tập trung, chụm âm thanh. Âm thanh như vang lên, dội từ trên xuống và dội về phía trước mặt khi hát. 
Kỹ thuật thanh nhạc của Châu Âu có rất nhiều loại như legato, staccato, non legato, ngân dài, xử lý sắc thái, rung, hơi thở… Đối với các ca khúc trữ tình thì điều căn bản cần phải nhắc đến đầu tiên đó là hơi thở và cách xử lý bài hát. Tuy nhiên, khi học thanh nhạc dù là hát ở bất kỳ thể loại âm nhạc nào thì người học cần phải rèn luyện đầy đủ các kỹ thuật thanh nhạc Châu Âu để phát triển giọng hát của mình. Trong phần này chúng tôi xin đi sâu vào các kỹ thuật như sau: 
1.1.2.1. Kỹ thuật hơi thở trong thanh nhạc 
Kỹ thuật hơi thở trong thanh nhạc là một thành tố rất quan trọng giúp phát triển khả năng ca hát của từng người. Trong thanh nhạc thì hơi thở là một nghệ thuật, ta phải biết cách điều tiết và làm chủ hơi thở chứ không chỉ đơn thuần như hơi thở người bình thường. Khi hát phải biết thở sâu và thoải mái nhằm giảm tối thiểu sự căng thẳng và nâng cao hiệu quả thể hiện tốt ca khúc đến mức tối đa. 
Nguồn không khí cung cấp năng lượng cho ta hát đó chính là hơi thở. Để hát hay ta phải thở đủ và đảm bảo được sự cân bằng giữa năng lượng và thư giãn. Kiểm soát được hơi thở là mục tiêu chính khi bắt đầu học thanh nhạc. Nó ảnh hưởng đến âm chuẩn, âm thanh, âm vực, động lực, diễn cảm, linh hoạt, câu từ, và phong cách biểu diễn. 
Điều kiện cần thiết của ca hát chính là biết điều khiển hơi thở một cách có ý thức, hơi thở phải thật đầy trước khi hát. Thở phải ổn định, uyển chuyển, chậm, không có tiếng động và sâu, để cho lồng ngực có thể mở rộng tối đa. Hơi thở có tiếng ồn không chỉ không đẹp mà còn làm mệt thanh đới, người học phải vận dụng hoành cách mô, như vậy thanh quản sẽ ở trạng thái tự nhiên và đàn hồi. 
Cách đẩy hơi thở phải phụ thuộc vào sức mạnh của độ dài âm thanh, cần phải tiến hành không quá căng thẳng, khối lượng không khí được điều khiển phải đáp ứng nhu cầu của âm thanh. Có một hơi thở đầy đặn với cách hoạt động hơi thở đúng là điều kiện chính cho sự phát âm đúng. 
Ví dụ khi ta muốn nói hoặc muốn hát, muốn hát cao hoặc thấp, to hoặc nhỏ, kéo dài hoặc ngắt... thanh đới phải căng ra ở một mức độ cần thiết tương ứng với áp lực của làn hơi từ phổi đẩy lên, để tạo ra một âm thanh có cao độ, âm sắc, cường độ và trường độ theo ý muốn.
Áp lực của làn hơi và mức căng của thanh đới phải luôn luôn tương xứng với nhau thì mới có được âm thanh chính xác và chất lượng. 
Người hát không được lấy hơi một cách tùy tiện. Đối với những người hát kém, nghe như không có hơi khi thể hiện ca khúc một phần là do không biết điều khiển hoạt động của hơi thở và thanh đới. Trước khi hát, người hát phải chuẩn bị cho mình độ trường hơi thì âm thanh phát ra mới chuẩn về cao độ và đảm bảo được những chỗ ngắt hơi đúng lúc, những chỗ ngân dài. Ngoài ra hơi thở còn giúp thể hiện những cảm xúc tinh tế trong diễn tấu, chẳng hạn như để biểu hiện một sự xúc động đột ngột trong câu hát, sự ngạc nhiên, thán phục, sự dồn dập của cao trào âm nhạc… 
Tại các nước châu Âu nghệ thuật ca hát được phát triển rõ ràng hơn các nơi khác, rất nhiều giáo sư thanh nhạc đã viết sách về các kỹ thuật thanh nhạc, trong đó họ đã đề cập nhiều đến vấn đề hơi thở. “Trường phái ca hát cổ điển Ý quan niệm về hơi thở thanh nhạc như sau: khi hít hơi phải hết sức nhẹ nhàng, không được phình bụng ra, mà hơi hóp bụng vào, lồng ngực trên hơi nâng lên rồi hạ dần dần xuống khi đẩy hơi thở ra ngoài” [11; tr.48] 
“Người thầy đại diện cho trường phái này là ông F.Lamperti (1813- 1892), ông đã đào tạo được hàng loạt những ca sĩ nổi tiếng. Khi nói về hơi thở, ông khẳng định: “Nghệ thuật ca hát là nghệ thuật hơi thở”. Ông cho rằng hơi thở là khâu quyết định toàn bộ quá trình ca hát” [11; tr.48] 
Hiện nay, có bốn kiểu dạy cách lấy hơi cơ bản thường sử dụng khi hát đó là: 
- Thở ngực: Là kiểu thở khi hít hơi vào đầy phần trên của phổi thì lồng ngực căng ra, hoành cách mô hầu như không hoạt động. Kiểu thở ngực tạo điều kiện phát ra âm thanh nhẹ nhàng với âm lượng nhỏ phù hợp với những thể loại không có cao trào, chẳng hạn những ca khúc trữ tình nhỏ, những bài dân ca giai điệu dịu dàng, uyển chuyển. 
- Thở ngực và bụng: Là kiểu thở mà khi hít hơi, luồng hơi vào sâu hơn, phần ngực dưới nở ra, hoành cách mô cũng tham gia hoạt động. Kiểu thở này phát huy toàn bộ lồng ngực, giồng kiểu hơi thở ngực dưới và bụng. 
- Thở ngực dưới và bụng: Là kiểu thở khi hít hơi vào, phần ngực dưới căng ra, các xương sườn cụt giương lên, bụng cũng hơi phình ra ở phía dưới và hai bên sườn, ngực và cơ hoành làm việc tích cực, tạo điều kiện tốt cho việc nén hơi thở. Với kiểu thở này cho phép ca sĩ hát những nốt cao, nốt chuyển của giọng [11; tr.52]. 
- Thở bụng: Là kiểu thở khi hít hơi vào lồng ngực không động đậy, chỉ có bụng phình ra. Kiểu hơi thở này gồm hai hoạt động trái ngược nhau: cơ bụng hoạt động khi đẩy hơi ra và hoành cách mô căng ra khi hít hơi vào. Trong kiểu thở bụng và kiểu thở ngực dưới với bụng đều có sự tham gia tích cực của hoành cách mô, nhưng hơi khác nhau ở chỗ kiểu thở bụng khi đẩy hơi ra, bụng dưới hoạt động nhiều hơn, còn kiểu thở ngực dưới và bụng chỉ thấy rõ phần bụng trên hoạt động mà thôi [11; tr.53]. 
Muốn luyện tập hơi thở người hát phải biết kết hợp tập thở với âm thanh và kiểm tra hoạt động hơi thở qua chất lượng âm thanh. Để có một âm thanh bao gồm một hơi thở đúng cách đặt “vị trí” âm thanh đúng sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho việc đẩy hơi, tiết kiệm được hơi thở một cách tốt nhất. 
Bài tập bổ trợ: 
- Bước 1: Cúi gập người xuống hai tay chống vào hông, tiêu điểm là hai ngón tay cái chống vào hai bên hông bụng (hoành cách mô). 
- Bước 2: Hít hơi thở sâu bằng mũi nhẹ nhàng để hai hông đẩy hai ngón tay cái mở ra và giữ nguyên vị trí đó trong khoảng 1 đến 2 giây. - Bước 3: Hai hàm răng khép lại gần nhau, đầu lưỡi để vào giữa khe hai hàm răng, hai tay buông xuống, thả lỏng đầu và cho hơi thở ra một cách từ từ, đều đặn. 
- Bước 4: Kết hợp cùng với lúc hơi thở ra thì toàn thân dần dần trở về tư thế đứng thẳng 
Lưu ý: trong quá trình trở về tư thế đứng thẳng đầu không được đưa lên trước mà toàn bộ đầu và gáy vẫn thả lỏng, vai không được nâng lên. 
Tuy nhiên việc áp dụng hơi thở ra sao thì phụ thuộc vào từng ca khúc cụ thể. Nhưng hiện nay chúng ta vẫn áp dụng nhiều hai kiểu thở đó là: thở bụng và kiểu thở ngực dưới và bụng. Bởi hai kiểu thở này giúp cho người học giữ và điều tiết hơi thở sâu và khống chế hơi thở tốt hơn khi hát. 
1.1.2.2. Kỹ thuật pha giọng 
Cường điệu điểm ngắt âm vực khi chuyển từ giọng ngực sang giọng đầu là một kiểu tô điểm giọng gọi là đổi từ giọng trầm sang giọng cao lâu nay đã phổ biến ở nhạc đồng quê và bây giờ cũng được sử dụng trong nhạc nhẹ. Khi hát ở những nốt cao ca sĩ đổi giọng từ giọng ngực sang giọng đầu một cách linh hoạt và nhanh. 
Cách chuyển giọng nhẹ nhàng được dùng cho hầu hết phong cách âm nhạc, bao gồm pop, jazz, ballad... Việc luyện tập âm vực và cách chuyển giọng là một công việc bền bỉ và lâu dài. 
Những bài tập với cao độ xuống dần có thể giúp làm mờ các ranh giới giữa các âm vực. Chúng cũng giúp chuyển sang âm vực thấp dễ dàng. Dưới đây là một số bài tập pha giọng: 
Mẫu số 4: 
Mẫu số 5: 
Đối với cách hát và cách thể hiển các ca khúc trữ tình bằng các kỹ thuật quan trọng như đã nêu trên thì vẫn phải luyện tập những kỹ thuật thanh nhạc 15 cơ bản, cụ thể là việc luyện thanh trước khi hát nhằm làm cho giọng hát linh hoạt hơn với các kỹ thuật: 
1.1.2.3. Kỹ thuật legato (hát liền giọng) 
Hát liền giọng là cách hát cơ bản nhất trong kỹ thuật thanh nhạc của các trường phái ca hát trên thế giới. 
Hát liền giọng là cách hát chuyển tiếp liên tục, đều đặn từ âm nọ sang âm kia, tạo nên những câu hát liên kết không ngắt quãng. 
Xét về phương diện âm nhạc, hát liền giọng cũng mang ý nghĩa legato, yêu cầu giai điệu liên kết, âm thanh phải thanh thoát, trong sáng với hơi thở sâu và đều đặn, vị trí âm thanh phải thống nhất. 
Đối với những nốt cao người tập cần tăng cường hơi thở, nén hơi, đẩy hơi đầu đặn kết hợp với mở khẩu hình để tạo nên âm thanh tròn, vang sáng. Với kỹ thuật này, nếu chúng ta sử dụng thường xuyên để luyện tập sẽ có hiệu quả nhanh chóng đối với những sinh viên có tật hát rời rạc. 
1.1.2.4. Kỹ thuật staccato (hát âm nảy) 
Staccato là một trong những kỹ thuật khó của giọng hát chúng ta cũng thường hay gặp trong opera. 
Đây là kỹ thuật có tính linh hoạt cao nên thường dùng để diễn tả những ca khúc tươi vui, rộn ràng phù hợp với giọng nữ cao. Âm nảy với cách bật âm thanh (attacca) nhẹ nhàng, gọn tiếng sẽ tạo ra thói quen bật âm thanh đúng khi hát liền giọng. 
Trong kỹ thuật thanh nhạc nói chung, cách hát âm nảy có nhiều tác dụng tốt cho việc phát triển giọng hát [11; tr109]. 
1.1.2.5. Kỹ thuật passage (hát nhanh nhiều nốt) 
Hát nhanh là một kỹ thuật quan trọng của thanh nhạc. Đây là cách hát linh hoạt, rõ ràng, tốc độ hát nhanh với nhiều nốt nhạc trong cùng một câu thể hiện sự trong sáng, tươi vui rộn ràng. 
Hát nhanh nhằm rèn luyện cho giọng hát phát triển tốt, nhẹ nhàng và linh hoạt. Trong hát cổ điển, hát nhanh là một kỹ thuật khó. Trong một ca khúc mà xuất hiện dày đặc các nốt trong cùng một ô nhịp, thậm chí có nhiều câu còn kết hợp với cả hát nảy tiếng khiến cho tốc độ của bài càng được đẩy nhanh. Cách hát này yêu cầu người hát phải có một hơi thở tốt, biết điều chỉnh hơi và âm thanh một cách đều đặn. 
1.1.2.6. Kỹ thuật xử lý sắc thái to, nhỏ: 
Trong cuốn “Phương pháp sư phạm thanh nhạc” (2001), Tác giả Nguyễn Trung Kiên cho rằng: 
Trong một bài hát, tình cảm một phần được thể hiện bằng sắc thái, trong đó có sự to nhỏ, mạnh yếu của một nốt nhạc hoặc cả câu nhạc. Những sắc thái to nhỏ này được ghi bằng những ký hiệu chữ viết tắt. Các ký hiệu như: mạnh, to (forte); yếu, nhỏ (piano), từ to tới nhỏ - nhỏ dần (decrescendo). Cách hát thể hiện những sắc thái này cũng là một yêu cầu kỹ thuật cần thiết: hát nhỏ dần đi hoặc to dần ra trên một nốt nhạc một cách đều đặn, liên tục, không bị gãy âm thanh, không ngắt quãng, không thay đổi vị trí cộng minh của âm thanh… [11; tr.110]. 
Những người chưa nắm vững kỹ thuật thanh nhạc, khi hát từ nhỏ tới to chỉ chú ý tới việc phát triển âm lượng, nên nhiều khi âm thanh bị thô, không được mượt mà. Luyệt tập hát to dần, nhỏ dần là một vấn đề khó. 
Hát liền giọng, hát nhanh, hát âm nảy và hát sắc thái to nhỏ là những vấn đề kỹ thuật quan trọng của nghệ thuật ca hát, đó là những phương tiện kỹ thuật thiết yếu để biểu hiện những hình thức và nội dung của các tác phẩm. Luyện tập những yêu cầu kỹ thuật này đồng thời cũng là luyện tập phát triển giọng hát, để có một khả năng phong phú, giải quyết mọi yêu cầu của nghệ thuật một cách chủ động, vững vàng. 
Qua việc phân tích trên ta thấy rằng đối với cách hát các ca khúc trữ tình thì việc vận dụng kỹ thuật hơi thở của lối hát thanh nhạc cổ điển là vô cùng quan trọng. Các kỹ thuật thanh nhạc cơ bản là nền móng, tiền đề đầu tiên cho mọi cách hát, tùy thuộc vào từng thể loại âm nhạc cách thể hiện ca khúc mà người hát phải biết vận dụng những kỹ thuật cụ thể và phù hợp. Tuy không vận dụng tất cả nhưng trong quá trình học, chúng ta vẫn phải luyện tập và rèn luyện tất cả các kỹ thuật thanh nhạc cổ điển để trau dồi cho giọng hát được hoàn thiện hơn. 
1.1.3. Quá trình dạy học Thanh nhạc 
1.1.3.1. Quá trình dạy học 
Quá trình dạy học là một quá trình phức tạp, rộng lớn và bao gồm nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Để đưa ra một định nghĩa có tính khái quát nhất, bao quát toàn bộ hoạt động dạy và học là một công việc không dễ. Hiện nay, các nhà lý luận dạy học ở Việt Nam cũng như thế giới đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về QTDH tùy theo quan điểm tiếp cận về hoạt động dạy và học. Chẳng hạn, các nước sử dụng tiếng Anh khi nghiên cứu QTDH thường xem xét hai phạm trù độc lập: dạy và học (teaching and learning). Theo đó, với hoạt động dạy có phương pháp dạy của giáo viên, với hoạt động học có phong cách học của mỗi cá nhân. trong phạm vi tài liệu học tập chuyên đề này, chúng tôi thống nhất với khái niệm sau đây: 
Quá trình dạy học là hệ thống những hành động liên tiếp và thâm nhập vào nhau của thầy và trò dưới sự hướng dẫn của thầy, nhằm đạt được mục đích dạy học và qua đó phát triển nhân cách của trò, trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng và bước đầu hình thành kỹ xảo liên quan đến một nghề nhất định, qua đó góp phần hoàn thiện nhân cách nói chung, hình thành và phát triển nhân cách nghề nghiệp nói riêng ở học sinh [32].
Dạy và học thường chỉ được xem là quá trình trao và nhận. Thông thường, người ta vẫn luôn quan niệm rằng học tập chỉ đơn thuần là quá trình tích lũy kiến thức và học tập kinh nghiệm từ người truyền thụ. Cách quan niệm thụ động, cách hiểu như vậy là sai và dễ biến kiến thức thành một vật thể chết khô được truyền từ tay người này sang tạy người khác. [32]. 
Vì vậy, cần nhận thức một cách đầy đủ về QTDH nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay. Việc nhận thức bản chất của QTDH không phải dựa trên những cơ sở cảm tính, kinh nghiệm chủ nghĩa mà cần xuất phát từ những cơ sở khoa học. 
1.1.3.2. Quá trình dạy học Thanh nhạc trong đào tạo giáo viên Âm nhạc 
Ngày nay, yêu cầu về giáo dục toàn diện nhân cách con người vẫn luôn được đặt ra, đặc biệt đối với việc giáo dục nghệ thuật được xem như phương tiện hữu hiệu góp phần xây dựng nhân cách con người. Trước những xu thế mới của thời đại, yêu cầu đổi mới giáo dục ở nước ta nói chung, các trường Đại học - Cao đẳng nói riêng, được đặt ra với những thách thức mới. Đặc biệt, với các cơ sở đào tạo có tính đặc thù: vừa là giáo viên - vừa là nghệ sĩ như chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc thì việc đào tạo giáo viên có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp, có phương pháp tư duy khoa học, có nhân cách đạo đức nhằm đáp ứng tốt yêu cầu phát triển của xã hội là việc làm rất quan trọng, vì vậy quá trình dạy học Thanh nhạc trong đào tạo giáo viên Âm nhạc cần phải được xác định rõ ràng. 
Cũng như các ngành khác, phát triển trí tuệ cho sinh viên Sư phạm Âm nhạc là nhiệm vụ không thể thiếu trong đào tạo. Trong âm nhạc chia ra thành nhiều môn học như: Lý thuyết cơ bản về âm nhạc, Lịch sử âm nhạc, Hoà thanh, Phức điệu…trong đó có bộ môn Thanh nhạc. Nội dung các môn học bổ trợ qua lại lẫn nhau. Người học âm nhạc nếu không có tri thức âm nhạc thì sẽ không có tư duy âm nhạc. Như vậy, việc trang bị tri thức âm nhạc cho sinh viên cần theo một hệ thống logic về phương diện phát triển tư duy trong quá trình Dạy và Học. 
Không những các môn học lý luận, các môn học thực hành như: Nhạc cụ, Thanh nhạc, Xướng âm… sinh viên cần được sự rèn luyện để có kỹ năng, kỹ xảo môn học. Tuy nhiên, khác với các ngành khác, trong âm nhạc ngoài việc hình thành tri thức và kỹ năng thực hành còn gắn với sự rung cảm, cảm nhận và nhạy bén trong âm nhạc. Vì vậy, đánh giá nhận thức của người học âm nhạc không chỉ về mặt tư duy thuần tuý mà ở đó không thể thiếu phương diện cảm xúc - một yếu tố quan trọng để thể hiện âm thanh và truyển tải đến người nghe một cách thuyết phục. Đây là một đặc điểm của ngành học nên chúng ta một mặt trang bị cho sinh viên tri thức âm nhạc xong tri thức đó lại gắn với sự rung cảm. Chính cảm xúc trong âm nhạc đã phát huy ở sinh viên sự tưởng tượng, sự sáng tạo và từ đây kích thích ở sinh viên sự hứng thú say mê học tập. 
Trong quá trình dạy học Thanh nhạc, việc trang bị tri thức âm nhạc cho SV là quan trọng xong không có nghĩa là tri thức càng nhiều thì tư duy càng phát triển. Tri thức về âm nhạc hay những tri thức có liên quan đến ngành học là vô cùng rộng lớn, vì vậy việc trang bị tri thức cho SV cần có sự chọn lựa phù hợp với nghề nghiệp của họ. Trong thời đại khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, đất nước hội nhập, giao lưu văn hóa được mở rộng, việc trang bị tri thức cho SV Sư phạm Âm nhạc cần phải hiện đại, cập nhật. Ngoài ra, sinh viên còn phải nắm được những tri thức khoa học khác để bổ trợ cho nghề nghiệp của mình. 
Để thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển trí tuệ cho SV Sư phạm Âm nhạc, hoạt động đổi mới phương pháp, quá trình dạy học của GV là rất cần thiết. Phát triển trí tuệ giúp cho SV Sư phạm Âm nhạc lĩnh hội tri thức nhanh chóng, giúp họ hình thành thế giới quan, có phương pháp luận đúng đắn. Ngược lại, khi SV Sư phạm Âm nhạc có phẩm chất đạo đức, có thế giới quan, họ sẽ có động cơ học tập, động cơ để nắm tri thức, động cơ để phát triển trí tuệ. Thực hiện tốt các nhiệm vụ trên đây của các trường đại học, cao đẳng đào tạo Sư phạm Âm nhạc sẽ giúp người giáo viên âm nhạc tương lai có đủ bản lĩnh vững bước trên bục giảng của thời đại mới. 
1.2. Ca khúc 
1.2.1. Thể loại ca khúc 
Ca khúc là một thể loại âm nhạc được đề cập tới trong tác phẩm âm nhạc và nhìn dưới nhiều góc cạnh khác nhau của nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc. Không ít người đã từng thắc mắc ca khúc là gì? Đâu là tiêu chuẩn xếp loại và đánh giá ca khúc; đâu là tác phẩm âm nhạc… Tác phẩm âm nhạc ở đây bao gồm: khí nhạc và thanh nhạc. Thanh nhạc là âm nhạc dựa trên lời hát thể hiện rõ ý tưởng và tình cảm. Còn khí nhạc là âm nhạc dựa trên âm thanh thuần túy của các nhạc cụ, nên trừu tượng, gây cảm giác và sự liên tưởng. 
Trong từ điển tiếng Việt ca khúc là danh từ chỉ một bài hát ngắn có bố cục mạch lạc. Ca khúc được sáng tạo từ người nghệ sĩ, họ sử dụng giai điệu và lời ca để viết nên ca khúc và người biểu diễn ca khúc đó bằng giọng hát của mình dưới nhiều hình thức khác nhau.
Có thể ca khúc đó chuyển soạn cho nhạc khí bằng cách sử dụng giai điệu để chuyển soạn thành một tác phẩm âm nhạc mới. 
Sự biến đổi hình thức biểu diễn trong nghệ thuật luôn là điều mới mẻ mà chúng ta cần tìm hiểu, với cách nhìn của mỗi cá thể thì ca khúc được khái quát lên thành nhiều khái niệm riêng biệt, cá nhân nhạc sĩ hay nhà thơ có thể khái niệm về ca khúc theo khía cạnh riêng của họ. 
Trong âm nhạc, ca khúc là một thể loại âm nhạc có sức lôi cuốn mãnh liệt đối với con người. Ca từ của ca khúc tác động mạnh và ảnh hưởng tới tư duy, thẩm mỹ âm nhạc của người nghe, đặc biệt là giới trẻ. Tất cả những cái hay, cái đẹp; những niềm vui, nỗi buồn của cuộc sống hàng ngày được con người sử dụng ca khúc để diễn tả lại. Trong bài viết “Vai trò của người soạn Ca khúc và ý nghĩa của Ca từ” Tác giả Tuyền Linh nhận định: 
Ca khúc nói lên cái hay, cái đẹp của con người và thiên nhiên trong vũ trụ bao la rộng lớn. Bằng hình thức cụ thể hay trừu tượng, ca khúc có thể miêu tả (musique descriptive) hay mô phỏng (musique imitative) một cách sinh động và hùng hồn những sinh hoạt đời thường xảy ra hàng ngày trong cộng đồng xã hội [30]. 
Đôi lúc ca khúc là một khái niệm được dùng để chỉ một thể loại thanh nhạc ở thể loại đơn giản. Với đặc điểm chung của ca khúc là có lời ca và có sự tham gia biểu diễn của con người. Hay ca khúc là những tác phẩm thanh nhạc có giai điệu rõ ràng, mô phỏng âm điệu tiếng nói của con người. Điều này được Tác giả Nguyễn Bách định nghĩa trong bài viết “Ca khúc nghệ thuật là gì?” 
Ca khúc là một tác phẩm âm nhạc được biểu diễn bởi giọng người có hoặc không có nhạc đệm, hoặc một bài thơ được phổ nhạc. Âm nhạc làm nổi bật từ ngữ bằng những khả năng cảm xúc mà lời nói đơn thuần không truyền tải được [29]. 
Một cách hiểu rõ hơn, ca khúc dựa vào yếu tố cấu thành như: giai điệu tiết tấu và ca từ, từ những yếu tố đó, chúng ta tìm ra điểm chung cho khái niệm ca khúc: Ca khúc là một tác phẩm âm nhạc gồm 2 phần: Phần giai điệu và phần lời ca, được biểu diễn bằng giọng người, có hoặc không có nhạc đệm 
Tác giả Trần Hoàng Tiến nêu khái niệm ca khúc: “Ca khúc là một tác phẩm âm nhạc, gồm hai thành tố chủ đạo: tổ chức kết cấu giai điệu và lời ca, biểu hiện tư tưởng, tâm hồn, tình cảm của con người” [22; tr.68]. 
Như vậy, qua những quan điểm khác nhau về khái niệm ca khúc ta thấy được sự phong phú và đa dạng ở thể loại hát trong âm nhạc. Hiện nay, với sự phát triển của âm nhạc trên khắp thế giới là yếu tố quan trọng tạo được động lực thúc đẩy nhiều thể loại âm nhạc dân gian biến đổi theo xu thế mới, ngoài thể loại dân ca, dân vũ còn có sự tồn tại của những bài thơ được phổ nhạc thành ca khúc. Có thể định nghĩa ca khúc là tác phẩm âm nhạc, có phần đệm piano đi kèm, cùng với đó là sự kết hợp khéo léo giữa nhà thơ, nhà soạn nhạc, ca sĩ và người đệm đàn. Sáng tác ca khúc dần dần chuyển sang hướng chuyên nghiệp hơn, mọi khía cạnh của cuộc sống được các nhạc sĩ đưa vào âm nhạc, ca khúc trở thành một ‘món ăn” tinh thần trong đời sống sinh hoạt âm nhạc của con người. Mặt khác, ca khúc đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển toàn diện của con người trong hệ thống giáo dục hiện nay. 
1.2.2. Ca khúc trữ tình 
1.2.2.1. Khái niệm trữ tình 
Thuật ngữ trữ tình thường được dùng trong văn học - nghệ thuật. Theo từ điển tiếng Việt, trữ tình: “Có nội dung phản ánh hiện thực bằng cách biểu hiện những ý nghĩ, xúc cảm, tâm trạng riêng của con người, kể cả bản thân người nghệ sĩ trước cuộc sống”. 
Từ điển văn học có ý nghĩa về trữ tình ngoại đề là: “Khái niệm chỉ một trong những yếu tố ngoài cốt truyện trong tác phẩm tự sự, là những đoạn văn đoạn thơ mà tác giả hay kể chuyện trực tiếp bộc lộ những tình cảm, ý nghĩa, quan niệm của mình đối với nhân vật, đối với cuộc sống thể hiện trong tác phẩm”. 
Như vậy, trữ tình là kết quả của việc biểu hiện cảm xúc, tâm trạng chủ quan của con người, phản ánh ước mơ và khát vọng của con người trong cuộc sống. Các tác phẩm mang tính trữ tình thường vượt qua khỏi những khuôn mẫu cứng nhắc về nội dung, không tuân theo những quy tắc xã hội một cách gò bó. 
Tính trữ tình giúp giải phóng trí tưởng tượng cảm xúc, giải phóng cá tính sáng tạo, đôi khi còn mang trong mình tính cách mơ mộng, giàu cảm xúc, tưởng tượng, hoặc yếu đuối, ủy mị, cũng có khi là sự cổ vũ, ngợi ca tình yêu, những điều tốt đẹp của cuộc sống. 
1.2.2.2. Khái niệm ca khúc trữ tình 
Ca khúc trữ tình là ca khúc bộc lộ trực tiếp cảm xúc, ý thức, tình cảm của người sáng tác. Tác giả đã thông qua bài hát của mình để thể hiện ý nghĩ, cảm xúc chủ quan đối với thế giới và nhân sinh. 
Những ca khúc trữ tình thường miêu tả ngoại cảnh cũng như nội tâm con người, nói lên cảm xúc trước thực tại với cách nhìn phổ quát, hướng tới những vấn đề chung của tồn tại con người (sự sống, cái chết, tình yêu, lẽ sống,…). Nó giúp cho cuộc sống con người phong phú, thi vị, làm tâm hồn con người thêm giàu có và giúp con người có thêm niềm tin vào cuộc sống. 
Chủ đề sáng tác cho thể loại ca khúc trữ tình hầu hết là tình cảm đôi lứa, những đau thương, mất mát, kể cả những hoài vọng về tình yêu đã mất. Ngoài ra còn có các tác phẩm ca ngợi công đức của bậc sinh thành, dưỡng dục, biết ơn những anh hùng dân tộc, lòng tôn kính lãnh tụ và ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên tôn vinh quê hương, đất nước, cội nguồn dân tộc và tình yêu thương nhân loại. 
1.3. Cuộc đời và sự nghiệp của Trịnh Công Sơn 
1.3.1. Vài nét về cuộc đời 
Trịnh Công Sơn một người nhạc sĩ đã đi xa nhưng những ca khúc bất hủ của ông vẫn được ngân lên trong lòng công chúng yêu nhạc. Nhạc Trịnh có người yêu và có cả người không thích nhưng không ai có thể phủ nhận tài năng của ông và chẳng ai có thể hiểu hết ẩn ý trong từng bài ca ông viết. 
Ông sinh ngày 28-2-1939 tại tỉnh Đắk Lắk nhưng lúc nhỏ sống ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông lớn lên tại Huế. Lúc nhỏ ông học theo học các trường Lyceè Francais và Provindence ở Huế, sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lyceé J.J Rousseau Sài Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây. 
Một nỗi buồn đã nhuốm màu tang tóc lên tuổi thơ của người nhạc sĩ. Người cha của nhạc sĩ, ông Trịnh Xuân Thanh phải chịu trong nhiều năm ở lao tù vì tham gia kháng chiến chống Pháp. Khi cậu bé Sơn còn nhỏ tuổi đã biết luân phiên cùng mẹ đi thăm nuôi cha. Năm 1949, lúc ấy ông gần như nằm liệt trên giường bệnh trong nhà lao Thừa Phủ, cậu còn vào ở hẳn một năm chăm sóc cha. 
Sức khỏe ngày càng yếu và một tai nạn bất ngờ trên đường đã thực sự cướp đi người cha khi cậu bước sang tuổi mười lăm. Với mất mát và nỗi đau chia lìa từ tuổi ấu thơ mãi còn đó như một nguyên căn dẫn đến trạng thái hụt hẫng và “nỗi lo âu thường trực về sự vắng bóng con người”. 
Người cha đã mất còn lại người mẹ trẻ ở vậy nuôi nấng đàn con và một mình lo kế sinh nhai cho gia đình bằng cửa hiệu buôn bán nhỏ. Ưa đàm đạo thơ phú, bà thường vịnh Kiều và đọc thơ của mình cho con nghe và bà chính là người nuôi dưỡng tâm hồn nhạy cảm và thiên hướng thi ca cho đứa con của mình. 
Không khí gia đình tạo nên một trong những ngọn nguồn đem lại hồn Huế và chất thơ cho người nghệ sĩ tương lai. 
Bén duyên nghệ thuật với năng khiếu vượt trội, điều đó đã hé mở dần một cách tự nhiên như món quà trời cho, tình yêu với thơ văn thừa hưởng từ cha mẹ, tài hội họa cũng dồi dào. Vốn âm nhạc hoàn toàn do tự học, tích lũy kinh nghiệm mà có, mười tuổi cậu đã biết xướng âm, chơi mandoline, sáo trúc, rồi sau đó là guitare. Vào năm 17 tuổi ông đã sáng tác những bài hát đầu tiên như: Sương đêm và Sao chiều [10; tr.391] 
Năm 1961 vì bắt buộc phải trốn lính nên ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Quy Nhơn. Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại 1 trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng. Ông đã phải sống chốn heo hút núi đồi một thời gian khi trở về với Sài Gòn. Muốn có chỗ ở, nơi dung thân hợp pháp ông phải ép mình vào một khuôn khổ, ép cân để trọng lượng đạt yêu cầu để tuyển lính. Không chịu nổi với phương thức “ép xác” đó trên thân thể quá kiệt quệ nên ông đã không ra trình diện nữa mà chấp nhận một cuộc sống lang thang bất hợp pháp. 
Ông đã sống ở khu nhà hoang tồi tàn phía sau trường đai học Văn khoa. Đó là nơi của những sinh viên trốn lính, những văn nghệ sĩ trẻ vô gia cư ngủ trên ghế bố hay trên nền xi măng và đánh răng rửa mặt nhờ trong các quán xá ven đường, chia sẻ với nhau đĩa cơm, điếu thuốc, ly cafe. [10; tr. 393] 
Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lên đài truyền thanh Sài Gòn hát bài Nối vòng tay lớn do chính ông sáng tác, bài hát nói về ước mơ hòa hợp dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968. Đây là quãng thời gian với những chuyến đi thực tế cực mà vui trên những nông trường xa xôi, những đợt tăng gia trồng trọt vất vả trên những mảnh đất còn xót chông mìn.
Chính những khoảnh khắc, những trải nghiệm về cuộc đời đó đã thử thách lòng kiên nhẫn đi tìm “cái chưa bao giờ viết được” của chính nhạc sĩ. 
Năm 1979 nhạc sĩ trở về Thành phố Hồ Chí Minh cũng chính là lúc ông nhập cuộc dần vào đời sống ca nhạc và thực sự cảm thấy rằng ông đang được sống, được yêu, thả tâm hồn mình với đất trời giữa lòng quê hương. Khi về già ông bị bệnh gan, thận và tiểu đường và mất năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó hàng năm giới hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng niệm cho nhạc sĩ. 
Nền âm nhạc Việt Nam luôn tự hào khi có một nhạc sĩ đã sống qua hai thời kỳ lịch sử như Trịnh Công Sơn, không chỉ về cuộc đời mà sự nghiệp âm nhạc của ông cũng vô cùng phong phú và đa dạng. Nhạc Trịnh đã trở thành một thương hiệu, thành một dòng nhạc rất riêng mà trong đó còn ngầm thể hiện cả triết lý cuộc đời của nhạc sĩ và rồi những triết lý đó sẽ đi cùng năm tháng như lời khóc tiễn biệt Trịnh Công Sơn của Giáo sư Trần Văn Khê: “Những gì em đã viết cho đời, đời sẽ giữ mãi không chỉ ngày nay mà còn đến mai sau”. 
1.3.2. Sự nghiệp âm nhạc 
Để nhắc đến sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã tốn biết bao giấy mực, bao lời ca ngợi, bình luận của giới học giả trong và ngoài nước. Ông đến với âm nhạc như một cái duyên, hoàn toàn không có ý thức nghiêm túc chọn âm nhạc làm sự nghiệp cho đời mình, nhưng nhu cầu viết lách, nhu cầu sáng tạo, cũng như nhu cầu được chia sẻ cứ lớn dần trong tâm hồn đa cảm của người nhạc sĩ này. 
Thập niên 60, ông lớn lên với những dòng nhạc tình yêu, những dòng nhạc sau thời tiền chiến và những bài nhạc trẻ trung yêu đời, tình yêu đôi lứa. Trịnh Công Sơn sáng tác được khoảng hơn 600 ca khúc, những tác phẩm có ca từ độc đáo, mang hơi hướng suy niệm. Ướt mi là bài hát được nhà sản xuất An Phú phát hành năm 1959. Ca khúc này nói về lòng trắc ẩn trước những giọt nước mắt hiếu thảo một nữ sinh buộc phải bỏ học đi hát kiếm tiền nuôi mẹ đang ốm. Tiền nhuận bút đầu tiên trong đời người nhạc sĩ lớn gấp mười lần tiền ăn ở một tháng cho sinh viên. Từ Ướt mi, chàng trai đa tài này đã chính thức bước những bước chân rong ruổi trong sự nghiệp viết ca khúc. Với những rung động đầu đời trước hình bóng những người con gái lướt qua đời chàng đã đọng lại trong các tình ca như: Biển nhớ, Nhìn những mùa thu đi, Thương một người, Cuối cùng cho một tình yêu, Diễm xưa [10; tr.392]. 
Cuộc gặp gỡ tình cờ tại một phòng trà nhỏ ở Đà Lạt không ngờ lại là cái duyên gắn kết nhạc sĩ với cô ca sĩ mang tên Lệ Mai. Để có được thành công được nhiều người công nhận, cả nhạc sĩ và ca sĩ đã phải trải qua quá trình tập luyện vất vả. Chất giọng của cô ca sĩ này như sinh ra để hát những 28 lời ca của Trịnh Công Sơn. Từ đó hình thành một không gian âm nhạc mà khi nhắc đến nhạc Trịnh không thể thiếu giọng ca của Khánh Ly và Khánh Ly không hát ca khúc của ai ngoài nhạc Trịnh. 
Bạn bè đã tổ chức cho nhạc sĩ buổi ra mắt công chúng đầu tiên ngay sau trường Văn khoa với hai chục ca khúc về quê hương về thân phận người Việt. Bằng tình yêu quê hương đất nước, không chỉ là cầm súng, ra trận mà những người nhạc sĩ, ca sĩ họ lại có ý thức trách nhiệm của một nghệ sĩ yêu nước bằng những ca khúc khát khao hòa bình. 
Trịnh Công Sơn và Khánh Ly là một hiện tượng âm nhạc của niềm Nam tạm chiến với những bài ca phản chiến, xoáy đến tận cùng nỗi đau phận con người và nỗi đau đất nước bị đày đọa khổ cực trong chiến tranh. Thời kỳ đó tuổi trẻ miền Nam ai cũng biết đến những bài hát trong các tập Ca khúc da vàng, Kinh Việt Nam. 
Các tập ca khúc và băng nhạc phản chiến đã bị chính quyền Sài Gòn ra lệnh tịch thu, nhưng những bài ca bộc lộ tâm trạng chung của thanh niên đô thị niềm Nam trước thời cuộc vẫn tiếp tục được bí mật in ấn. Mặc dù bị cấm đoán nhưng tác giả vẫn viết, vẫn đi hát, vẫn ra mắt bài hát mới và bài hát nào ra mắt cũng nổi tiếng bài đó. Ca khúc “Con chim báo bão trong lửa đạn” đã trở thành mục tiêu săn đuổi của báo giới Sài Gòn và phóng viên nước ngoài… Bài Ngủ đi con qua giọng hát Khánh Ly đã đoạt giải Đĩa hát vàng ở Nhật năm 1972 và cũng từ đó tên tuổi Trịnh Công Sơn được ghi vào Từ điển Bách khoa Pháp Encyclopédie de tous les pays du monde. [10; tr.394]. 
Ông không dừng lại ở lĩnh vực sáng tác thể loại ca khúc mà Trịnh Công Sơn còn thử thách chính bản thân mình bằng những lĩnh vực mới như: nhạc phim và nhạc thiếu nhi. 
“Âm nhạc và giai điệu Trịnh Công Sơn vang lên trong các phim truyện: Tội lỗi cuối cùng, Cánh đồng hoang, Pho tượng, Tình yêu của em, Bãi biển đời người, Cho đến bao giờ, Mùa nước nổi, Thị xã trong tầm tay, Cho cả ngày mai… và các phim tài liệu: Qua cơn vật vã, Y võ dưỡng sinh” [10; tr.397]. 
Với tính cách hồn nhiên, yêu trẻ con, nhiều lúc rất ngây thơ trong con người đầy chất nghệ sĩ, ông đã sáng tác các ca khúc thiếu nhi rất gần gũi với các em nhỏ. Khi nhắc đến những ca khúc thiếu nhi như: Em là hoa hồng nhỏ, Em đến cùng mùa xuân, Tiếng ve gọi hè, Mùa hè đến, Mẹ đi vắng, Tết suối hồng… Em là hoa hồng nhỏ được công chúng nhỏ tuổi bình chọn là một trong 50 bài hát thiếu nhi hay nhất thế kỷ XX thì ta lại thấy được một con người rất mới mẻ của nhạc sĩ. 
Về mảng đề tài viết về quê hương ông đã có những tác phẩm như: Chiều trên quê hương tôi, những tác phẩm thể hiện quan điểm chính trị rõ hơn như: Huế - Sài Gòn - Hà Nội, Việt Nam ơi hãy vùng lên (1970), Nối vòng tay lớn, Chưa mất niềm tin (1972)... trong số đó có những bài hát được sáng tác ngay trong những cuộc xuống đường biểu tình cùng thanh niên, sinh viên, học sinh. 
Từ đầu thập niên 1980, khi bắt đầu được phép lưu hành nhạc trong nước, ông có viết một số bài nhạc cách mạng: Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ, Ánh sáng Mạc Tư Khoa, Ra chợ ngày thống nhất… 
Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ mà các ca khúc của ông được hát rất nhiều, được công chúng thuộc nhiều nhất và cũng đạt kỷ lục cao nhất về lượng băng đĩa phát hành trong nước và hải ngoại. 
Qua sự nghiệp âm nhạc ta thấy được những gian truân và khó khăn mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã trải qua để có được thành công như ngày hôm nay. Những bài hát được tác giả viết rất lạ, với giai điệu quen thuộc nhưng lại không dễ hiểu về lời ca vì có những câu chữ khó mà giải thích, nhưng khi nghe, khi hát lên thì có một điều gì đó chạm đến trái tim và Trịnh Công Sơn đã làm được điều đó. Ông đã mở ra con đường ngắn nhất đi từ trái tim của mình đến trái tim của khán giả một cách ấn tượng, sâu sắc mà công chúng không bao giờ quên. 
1.3.3. Ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn 
Bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình bằng tình khúc, trong số gần 600 ca khúc mà Trịnh Công Sơn để lại có hơn 400 ca khúc là trữ tình. Trịnh Công Sơn đã gặt hái nhiều thành công từ những bài hát về những mối tình dang dở, gần như đơn phương của chính mình. Như có lần ông đã thổ lộ: “Tôi chỉ có những mối tình lãng đãng, sương khói, hoàn toàn không có gì cụ thể”. Yêu thầm một mái tóc, một dáng hình, để khi từng mối tình khói mây ấy “bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ” thì cuối cùng ở lại chỉ còn một nỗi đau rất thật. 
Tình yêu là đề tài lớn và ảnh hưởng nhất trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn. Những bản tình ca chiếm đa số trong danh mục nhạc phẩm hay. Khả năng viết nhạc tình của Trịnh Công Sơn như có từ trong hơi thở và tưởng chừng như không biết mai một theo năm tháng, theo thời đại: từ 1958 với "Ướt mi" đã nổi tiếng cho đến thập niên 1990 ông vẫn có những tình ca được nhiều người ưa thích: "Như một lời chia tay", "Xin trả nợ người"... 
Nhạc tình của ông đa số là những ca khúc buồn, thường nói lên tâm trạng buồn bã, cô đơn như trong "Sương đêm", "Ướt mi", những ca khúc nhạc tình vẫn mênh mang nỗi buồn kiếp người như: "Diễm xưa", "Biển nhớ", "Tình xa", "Tình sầu", "Tình nhớ", "Em còn nhớ hay em đã quên", "Hoa vàng mấy độ", "Cỏ xót xa đưa", "Gọi tên bốn mùa", "Mưa hồng"...[31] 
Những bài hát này thường mang giai điệu nhẹ nhàng, dễ hát và được viết với tiết tấu chậm, thích hợp với điệu Slow, Blues hay Boston. Phần lời ca được rất nhiều nhạc sĩ đánh giá cao nhờ đậm chất thơ, nhiều chiêm nghiệm nhờ những biện pháp ẩn dụ, hoán dụ... đôi khi pha lẫn hơi hướng siêu thực, trừu tượng. 
Nhạc sĩ Thanh Tùng từng gọi Trịnh Công Sơn là "người Việt viết tình ca hay nhất thế kỷ”. Những ca khúc nhạc tình của ông rất phổ biến tại Việt Nam và hải ngoại. 
Tuy rằng không được giới chuyên môn đánh giá cao về phần âm nhạc, nhưng với giai điệu gần gũi và ca từ trừu tượng, ý nghĩa sâu lắng nhiều cảm xúc chứa đựng trong từng ca khúc như kể một câu chuyện khác nhau. Chính điều đó đã đưa âm nhạc của ông đến gần hơn với công chúng và để lại những dấu ấn khác biệt mang thương hiệu nhạc Trịnh. 
1.4. Thực trạng dạy học ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn tại trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW 
1.4.1. Một số nét về nhà trường và bộ môn thanh nhạc 
Trường ĐHSP Nghệ thuật TW là cái nôi duy nhất trong cả nước chuyên đào tạo những Thầy, Cô giáo dạy nghệ thuật. Qua nhiều năm phát triển, nhà trường đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong việc đào tạo nên đội ngũ giáo viên Nghệ thuật, Âm nhạc, cán bộ quản lý cho ngành giáo dục nói riêng và cả nước nói chung. Nhiều thế hệ sinh viên của nhà trường đã trưởng thành và đem tâm huyết cũng như trí tuệ của mình đi xây dựng quê hương đất nước. 
Đa phần sinh viên tốt nghiệp tại trường đều đảm nhiệm rất tốt nhiệm vụ dạy học. Không những thế, nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp trở thành hạt nhân về giọng hát ở trường phổ thông, tiếng hát của các Thầy, Cô giáo đã thu hút và làm cho học sinh phổ thông yêu mến các giờ học Âm nhạc. Sinh viên nhà trường còn đạt được rất nhiều thành tích trong các hội thi toàn quốc, thi hợp xướng quốc tế. Trường hiện có các mã ngành như: Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật, Quản lý văn hóa, Thiết kế thời trang, Hội họa, Thiết kế đồ họa, Thanh nhạc, Piano, Diễn viên kịch điện ảnh, Thạc sĩ Quản lý văn hóa, mã ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Mỹ thuật, đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học âm nhạc. 
Hệ ĐHSPAN trong nhà trường được đào tạo từ năm 2005 với nhiệm vụ đào tạo giáo viên âm nhạc, giáo viên nghệ thuật cho các trường phổ thông và chuyên nghiệp. Thanh nhạc là môn học quan trọng trong chương trình ĐHSPAN của Trường ĐHSPNTTW. Môn học này được giảng dạy trong suốt bốn năm học (riêng năm thứ tư chỉ học ở học kỳ VII còn kỳ VIII dành thời gian để sinh viên đi thực tập sư phạm). Để đáp ứng yêu cầu đào tạo môn Thanh nhạc, trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW đã đầu tư khá đầy đủ về cơ sở vật chất, các trang thiết bị. Cụ thể, có nhiều phòng dạy môn chuyên ngành và phòng nào cũng được trang bị đàn Piano. 
Ngoài ra, khoa còn có một phòng biểu diễn với trang thiết bị âm thanh để cho sinh viên có thể thường xuyên tập luyện. Hiện nay, khoa Thanh nhạc được chia thành hai tổ bộ môn: Thanh nhạc chuyên ngành và Thanh nhạc - Sư phạm Âm nhạc. Nhiều giáo viên tại khoa Thanh nhạc được đào tạo một cách bài bản chuyên nghiệp tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Chính vì vậy mà việc nghiêm cứu, tìm hiểu thêm những vấn đề liên quan đến việc giảng dạy bộ môn thanh nhạc sao cho hiệu quả là điều cần thiết. 
Để nâng cao chất lượng đào tạo môn thanh nhạc cho hệ ĐHSPAN tại trường trong thời gian tới, cần phải có những biện pháp, những định hướng nghiên cứu mới về nội dung cũng như sự tìm tòi, học hỏi của các giảng viên để vận dụng tốt nhất các phương pháp giảng dạy thanh nhạc của các chuyên gia, giáo sư, tiến sĩ âm nhạc. 
1.4.2. Chương trình môn thanh nhạc ở hệ ĐHSPAN
Chương trình đào tạo Thanh nhạc cho hệ ĐHSP gồm có 4 học phần = 07 ĐVHT tương ứng với 210 tiết (trong đó có 105 tiết học trên lớp và 105 tiết tự học) và được thực hiện trong cả 4 năm học (7 học kỳ/8 học kỳ). Hiện nay, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW bắt đầu thực hiện dạy học theo tín chỉ và đã áp dụng cho năm thứ nhất - khóa 8 Sư phạm âm nhạc. Theo chương trình tín chỉ thì thời lượng của môn Thanh nhạc là 04 tín chỉ. 
Mục tiêu chính của các học phần đó là: 
- Trang bị những kiến thức về tư thế, hơi thở trong cách hát, sử dụng âm thanh tự nhiên kết hợp với kỹ thuật cơ bản của thanh nhạc như hát liền tiếng, nảy tiếng… Làm quen với kỹ thuật hát chuyển giọng, vận dụng các kỹ năng thể hiện ca khúc từ quãng 10 trở lên. 
- Các kiến thức về cộng minh, phương pháp phân loại giọng hát, phương pháp xử lý ngôn ngữ trong khi ca hát. Vận dụng kỹ năng hát liền tiếng (legato), nảy tiếng (staccato), ngắt tiếng (non legato) và cộng minh vào thể hiện các tác phẩm có quãng 10 trở lên. 
- Cho sinh viên tìm hiểu một số kiến thức về phương pháp phát triển giọng hát ở trẻ em; kỹ thuật đóng giọng và tập trung thanh âm. Từ đó sinh viên vận dụng vào thể hiện các tác phẩm Thanh nhạc. 
- Trang bị cho sinh viên các biện pháp phát triển giọng hát, nguyên tắc chọn bài hát cho trẻ em trong trường phổ thông, phương pháp kết hợp với kỹ thuật thanh nhạc với phong cách biểu diễn trên sân khấu. 
Theo mục tiêu đặt ra trong chương trình đào tạo của trường ĐHSP Nghệ thuật TW, đó là đào tạo và cung cấp ngành giáo dục với số lượng không nhỏ giáo viên âm nhạc về các trường phổ thông hoặc tìm kiếm tài năng âm nhạc phục vụ cho sự nghiệp văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp của cả nước. 
Tuy nhiên với môi trường sư phạm, sinh viên phải học đều và học nhiều bộ môn khác như: chỉ huy hợp xướng, phương pháp sư phạm, múa, công tác đoàn đội… Sinh viên sư phạm tổng số tiết lên lớp trong một năm là 30 tiết, mỗi tiết hai sinh viên/1 tuần, trong đó có hai tiết đệm đàn chuẩn bị kỹ và thời gian cũng không nhiều như môi trường chuyên nghiệp. 
Qua nội dung chương trình cho thấy, chương trình được xây dựng chú ý đến kỹ thuật thanh nhạc khẩu hình, hơi thở, cách hát phát âm nhả chữ của tiếng Việt và có nội dung về phương pháp giảng dạy cũng như biểu diễn cho SV. Đó thực sự là những ưu điểm của chương trình để GV và SV có thể phát huy tốt trong quá trình dạy học. Các tác phẩm, ca khúc đưa vào giảng dạy chủ yếu là các dòng nhạc thính phòng, dân gian còn ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn chưa được áp dụng vào giảng dạy nhiều [PL1; Tr.94]. 
1.4.3. Đặc điểm khả năng ca hát của sinh viên ĐHSPAN
1.4.3.1 Đặc điểm về giọng hát của sinh viên 
Với tất cả những sinh viên mới vào học, đặc điểm giọng hát hầu hết còn mang tính chất tự nhiên, nghiệp dư, phần lớn các em đều có giọng hát theo bản năng, chưa theo học tập bài bản về kỹ thuật thanh nhạc. Đa số các em bước vào năm đầu tiên có độ tuổi mới tốt nghiệp Trung học Phổ thông (18 đến 20 tuổi). Đặc điểm của từng loại giọng nam và nữ đều được chia làm ba loại chính: giọng cao, giọng trung và giọng trầm, ở đây ta tập trung vào giọng nữ. Đối với giọng nữ thì có giọng nữ cao (soprano), giọng nữ trung (mezzo soprano) và giọng nữ trầm (alto). 
Khi mới bắt đầu học hát, xác định, phân loại giọng là công việc quan trọng và đôi khi khá phức tạp. Không nên coi nhẹ, làm một cách qua loa vội vàng, mà phải thận trọng, tìm hiểu kỹ, đặc biệt với những loại giọng khó phân biệt. Xác định được giọng hát đúng mới có một phương hướng đúng ngay tù bước đầu học tập để phát triển giọng. Ở độ tuổi 18 đến 20 tuổi các bạn SV cũng có nhiều điều thuận lợi là: các bạn đã có giọng hát tương đối ổn định, đã qua thời kỳ vỡ giọng, hơn nữa sinh viên trường ta thường có tính cần cù chịu khó, chăm chỉ và hay hát nên sau những năm học tại trường các sinh viên phần nào khắc phục được những nhược điểm về giọng hát của bản thân. 1.4.3.2 Một số nhược điểm về giọng hát của sinh viên 
Những khuyết điểm mà SV thường mắc phải: 
Mở khẩu hình sai là nguyên nhân trực tiếp làm ảnh hưởng tới âm thanh và ảnh hưởng tích cực tới các kỹ năng hát như legato, non legato… 
Khẩu hình mở to phía ngoài, nếu nhìn thấy thì mở rộng nhưng bên trong khoang miệng lại bị khép nên âm thanh phát ra không tốt. 
Khi hát không mở miệng hoặc mở ngang nên âm thanh bẹt, không vang xa mà bị rít lại ở răng. 
Hàm dưới bị cứng hoặc mở không đều làm âm thanh bị méo, cũng có sinh viên do bắt chước nên mở khẩu hình lớn không hiệu quả. Hơi thở: Lấy hơi bị nông (hơi ngực), khi lấy hơi thường so vai rụt cổ. Đa số những sinh viên mới vào học thường không quan tâm đến hơi thở nhiều, thậm chí không biết cách hít hơi sâu, chỉ lấy hơi theo kiểu tự nhiên. 
Vị trí âm thanh: Đa số SV còn chưa xác định được vị trí âm thanh, có em khi hát đưa âm thanh vào mũi khiến âm thanh không đẹp, bị mảnh, nghẹt. Có em lại đè âm thanh vào cổ, khiến âm thanh bị gằn, đỏ mặt tía tai, gân cổ nổi rõ. 
Tư thế hát: Trước tiên là vẻ đẹp, sau đó còn ảnh hưởng đến giọng hát. Với những sinh viên mới bắt đầu tập hát theo chuyên nghiệp, cơ thể thường bị căng cứng hoặc quá thả lỏng nên sẽ tạo ra những tư thế không đẹp như: 
· Cổ cứng, người gồng lên căng thẳng 
· Cằm đưa ra phía trước, so vai rụt cổ 
· Cổ ngửa ra phía sau, chúng ta thấy rõ là những âm thanh ở âm khu cao 
· Cúi đầu làm cổ gập lại khi hát xuống âm khu thấp 
· Đưa bụng ra phía trước ngực bị ép lại 
Hát không chuẩn cao độ: do ít được tiếp xúc với âm nhạc nên nhiều sinh viên không điều chỉnh được cao độ chính xác theo nốt nhạc, có sinh viên không hát được những quãng nửa cung, hoặc bị cao lên hay thấp xuống mà ta thường hay gọi là hát phô. 
1.4.3.3. Khả năng tiếp thu 
Mỗi sinh viên có khả năng tiếp thu bài khác nhau. 
Qua thực tế học tập và điều tra em chia ra hai nhóm như sau: 
- Nhóm một: gồm những sinh viên học giỏi, tiếp thu nhanh, họ thường có giọng hát tốt, làm chủ được cơ quan phát âm. Những bạn này thường tiếp thu bài nhanh, thông minh và dễ dàng phát triển được giọng hát trời cho của mình, nhưng lại rất dễ bắt chước giọng hát của giáo viên, hoặc của một số ca sĩ mà mình yêu thích… 
- Nhóm hai: gồm những sinh viên tiếp thu chậm, những sinh viên này thường rất khó sửa tật của giọng hát, năng khiếu về âm nhạc còn hạn chế. Có những sinh viên hát sai cao độ một hai nốt của bài mà giáo án sửa lại rất lâu mà không làm theo được, có những bạn chưa hát được quãng nửa cung… nhóm này cần lưu ý nhiều về lý thuyết âm nhạc, ký xướng âm, cần tiếp xúc nhiều với âm nhạc như: nghe hát nhiều, tập đàn, nghe nhiều băng đĩa và hát theo đầu tiên với những tác phẩm ưa thích… 
1.4.4. Tình hình dạy học cho sinh viên ĐHSPAN ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn 
1.4.4.1. Phương pháp giảng dạy của giảng viên 
Phương pháp dạy học của người GV là yếu tố vô cùng quan trọng để quá trình dạy học đạt kết quả cao. Chính vì vậy, người Thầy phải thật nhạy cảm và linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể. 
Với đối tượng là SV ĐHSPAN tại trường ĐHSP Nghệ thuật TW lại càng cần phải có sự linh hoạt trong phương pháp giảng dạy của các GV. Điều này có thể lý giải bởi những lý do sau: 
Thứ nhất: Thanh nhạc là một môn học mang tính đặc thù cao và khá trừu tượng. Việc giảng dạy của GV thường mang tính kinh nghiệm, còn việc tiếp thu của SV phụ thuộc rất lớn vào khả năng thanh nhạc và sự cảm nhận của mỗi cá nhân. 
Thứ hai: SV ĐHSPAN của trường đến từ nhiều môi trường khác nhau, chưa đạt được sự đồng đều về trình độ chuyên môn nên sự tiếp thu với môn học ở mỗi người là khác nhau. 
Thứ ba: Mỗi SV lại có những đặc điểm khác nhau về giọng hát. Có em phù hợp với những bài có tốc độ nhanh và linh hoạt, có em lại phù hợp với những bài có nhịp độ chậm… hoặc ngay trong mẫu luyện thanh, có em phù hợp với nguyên âm i, a, nhưng cũng nhiều em lại phù hợp với âm ô, ê… 
Thứ tư: Trong thanh nhạc phân chia thành nhiều loại giọng khác nhau như giọng nam cao, giọng nữ cao, giọng nam trung, nữ trung… Với mỗi loại giọng đều có những đặc điểm riêng về màu sắc, âm vực… Chính vì vậy, người GV cần phải biết phân loại giọng hát một cách chính xác và đưa ra phương pháp dạy phù hợp với từng loại giọng. 
Với vai trò là người hướng dẫn, điều khiển các hoạt động học tập của SV. Hiện nay, các GV thanh nhạc của trường ĐHSP Nghệ thuật TW luôn có ý thức trong việc học tập, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn và không ngừng tìm tòi, sáng tạo trong việc tìm ra các phương pháp mới nhằm động viên và khích lệ tinh thần học tập, phát huy tính tích cực, chủ động của SV. 
Qua các buổi dự giờ lên lớp của một số GV thanh nhạc chúng tôi nhận thấy, các GV là người luôn chỉ động trong việc tạo ra một không khí vui vẻ trong lớp học, luôn tạo cơ hội để SV có thể trao đổi, mạnh dạn đưa ra những vấn đề còn khúc mắc để cả GV và SV cùng nhau giải quyết, thống nhất quan điểm. Với những tác phẩm khó, GV cung cấp băng đĩa để SV nghe, cảm nhận và rút kinh nghiệm cho bản thân. Việc cung cấp băng đĩa cho SV nghe trong quá trình học là một việc làm thiết thực giúp SV có thể cảm nhận và hiểu sâu hơn về tác phẩm, để từ đó có cách xử lý bài phù hợp với phong cách tác phẩm, nâng cao tính tư duy, sáng tạo của mỗi cá nhân. 
Riêng với ca khúc trữ tình của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, hầu hết các GV hạn chế giao bài cho SV vì ca khúc của ông thường chỉ phù hợp với màu giọng nhất định, đó là giọng nữ trung và cũng ít SV thể hiện được đúng tính chất và phong cách âm nhạc của tác giả. 
Theo quan sát khi dự giờ chúng tôi thấy, phần lớn các GV chỉ dạy về kỹ thuật thanh nhạc trong các ca khúc trữ tình mà quên mất việc giới thiệu về nội dung và đặc điểm âm nhạc của các tác phẩm. Việc giảng dạy các ca khúc trữ tình thường bắt đầu bằng việc dạy SV đánh dấu những chỗ lấy hơi, tập từng câu từng đoạn, quan trọng nhất là khi hát phải xử lý bài tinh tế, khéo léo và giải quyết được những yêu cầu kỹ thuật của bài. Việc không với thiệu về nội dung, đặc điểm âm nhạc sẽ là một thiếu sót đáng tiếc khiến cho việc trình bày tác phẩm của SV không trọn vẹn. Các em hát nhưng không hiểu tác phẩm nên thiếu sự sâu sắc, có em do không hiểu mà thiếu sự nhiệt tình trong thể hiện. 
1.4.4.2. Tình hình học tập của sinh viên 
Với sinh viên hệ ĐHSPAN của nhà trường hầu hết là học sinh tốt nghiệp phổ thông đến từ khắp cả nước. Lứa tuổi này khoảng 18-19, cở thể phát triển ổn định cả về thể chất, trí tuệ lẫn tâm sinh lý, rất thuận lời trong việc học tập tốt bộ môn Thanh nhạc. Đặc biệt, giọng hát lứa tuổi này ở giai đoạn có khả năng để đào tạo và phát triển tốt nhất. Sinh viên hệ ĐHSP Âm nhạc đa số chưa học qua một trường lớp âm nhạc nào, ngoại trừ kiến thức học phổ thông. Một số ít đã học qua Trung cấp hoặc Cao đẳng Âm nhạc nhưng gồm khá nhiều chuyên ngành như Sư phạm Âm nhạc, biểu diễn Nhạc cụ và có SV đã học Trung cấp Thanh nhạc. Những SV học Trung cấp Thanh nhạc có khả năng và thuận lợi với việc học Thanh nhạc ở ĐHSPAN. Các SV học Cao đẳng hoặc Trung cấp SPAN cũng đã được học môn Thanh nhạc nên có sự thuận lợi nhất định trong việc học Thanh nhạc ở Đại học. 
Nhìn tổng thể các SV hệ ĐHSPAN đều đáp ứng yêu cầu của bộ môn Thanh nhạc. Nhiều em có khả năng ca hát tốt kết hợp với việc chăm chỉ học tập nên đã đạt được kết quả tốt cả môn Thanh nhạc và có một số học sinh tiêu biểu đạt giải thưởng trong các cuộc thi như: SV Bùi Thị Thùy Trang (ĐHSPAN khóa 6) giải nhất dòng nhạc nhẹ, SV Nguyễn Thị Thao (ĐHTN khóa I) giải ba dòng dân gian Sao Mai năm 2015, SV Tăng Thị Mai (ĐHSPAN khóa 5) giải nhất dòng Thính phòng trong Hội thi giọng hát hay Trường ĐHSP Nghệ Thuật TW (mở rộng) lần thứ nhất năm 2014. Trong năm 2014 có hai SV của Trường lọt Top 12 toàn quốc chương trình Sao Mai Điểm Hẹn là Trần Thị Hằng (ĐHSPAN khóa 7) và Bùi Thị Thùy Trang. Năm 2015 có SV Trần Thị Hòa (ĐHSPAN khóa 9) đã lọt top 20 Việt Nam Idol. Tuy nhiên còn một số sinh viên có chất giọng tốt nhưng lười học, học theo cách đối phó, trước khi lên lớp mới xem bài, thậm chí có cả những sinh viên cứ đến giờ lên lớp mới học, thầy cô dạy gì thì tiếp thu ngay tại đó không về nhà rèn luyện. Với những SV này, nếu có giọng hát bẩm sinh cũng không thể phát triển được, vì vậy mà kết quả học tập thấp, thậm chí có một số em phải thi lại, học trả nợ. Bên cạnh đó, một số SV khả năng thanh nhạc yếu, không có giọng chăm chỉ học cũng chỉ đạt ở mức trung bình. Ngoài ra, cũng phải kể đến một số sinh viên do không tiếp thu được phương pháp dạy của GV hoặc phương pháp không phù hợp nên kết quả cũng không tốt. 
Với ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn thì chỉ có một số em có khả năng, có chất giọng phù hợp mới được GV giao bài để hát. Qua quá trình giảng dạy và nghiên cứu từ thực tiễn dạy của các GV Thanh nhạc, học tập của SV ĐHSPAN, chúng tôi thấy SV giọng nữ trung, trầm phù hợp với ca khúc trữ tình. Tinh thần học tập chăm chỉ, chịu khó tìm tòi, nghiên cứu bài GV giao như Hạ Trắng, Dấu chân địa đàng,... Bên cạnh đó được thầy, cô hướng dẫn tận tình, đúng phương pháp nên đã thực hiện đúng những kỹ thuật thanh nhạc trong bài cần sử dụng, nhưng về phần giới thiệu và đặc điểm ca khúc thì GV chưa đáp ứng đầy đủ. Để hát được, thể hiện tròn vẹn và tốt nhất ca khúc trữ tình đối với SV là hơi khó. 
Tuy rằng số lượng SV có thể hát ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn không quá nhiều và trong số đó không phải ai hát cũng có thể thành công. Tuy nhiên, điều này ngoài việc phụ thuộc vào khả năng ca hát bẩm sinh của SV thì người thầy đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát hiện và bồi dưỡng cho khả năng ấy. 
Tiểu kết 
Trong chương 1 chúng tôi đã đi sâu nghiên cứu, phân tích một số khái niệm, thuật ngữ và tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp âm nhạc, ca khúc trữ tình của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Chúng tôi đã nêu ra một số khái niệm của các nhà nghiên cứu về ca khúc, ca khúc trữ tình. Đây cũng chính là cơ sở lý luận cho đề tài của luận văn này. 
Trong phần thực trạng dạy và học Thanh nhạc tại trường ĐHSP Nghệ thuật TW. Chúng tôi tìm hiểu về việc giảng dạy và học tập Thanh nhạc nói chung và các ca khúc trữ tình của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói riêng của bộ môn Thanh nhạc, trong đó chúng tôi cũng đã tìm hiểu về nội dung chi tiết các học phần môn Thanh nhạc. 
Về phương pháp giảng dạy, các GV không chỉ đơn thuần sử dụng các phương pháp truyền thống mà còn kết hợp linh hoạt các phương pháp hiện đại.
Tuy nhiên trong giảng dạy ca khúc trữ tình của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn phần lớn các GV chú trọng dạy về phần kỹ thuật Thanh nhạc mà ít quan tâm tới việc giới thiệu nội dung, đặc điểm âm nhạc, cách thể hiện xuyên suốt về mặt cảm xúc trong ca khúc nên việc trình bày tác phẩm của SV thiếu sự sâu sắc, chưa thể hiện đúng tinh thần của tác phẩm. 
Về tình hình học tập của sinh viên, cơ bản sinh viên hệ ĐHSPAN được cung cấp những kiến thức cần thiết, nhìn chung các SV đều đáp ứng được yêu cầu của bộ môn Thanh nhạc và một số em đã đạt được các thành tích cao trong học tập và các giải thưởng cao trong các cuộc thi. 
Chương 2BIỆN PHÁP DẠY HỌC CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ÂM NHẠC THỂ HIỆN CA KHÚC TRỮ TÌNH CỦA TRỊNH CÔNG SƠN 
2.1. Tìm hiểu một số đặc điểm ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn
2.1.1. Nội dung lời ca 
Nội dung lời ca là một trong những yếu tố quan trọng để tạo nên một ca khúc hay trong các sáng tác về ca khúc trữ tính của Trịnh Công Sơn. Chẳng phải vô cớ nhiều nhà thơ đã gọi Trịnh Công Sơn là thi sĩ. Lời ca trong nhiều bài hát của ông tách rời khỏi giai điệu vẫn đẹp như một bài thơ. Riêng điều đó đã cho thấy vị trí lời ca đặc biệt đến mức nào trong nhạc Trịnh. 
Tình yêu - Quê hương - Thân phận là các chủ đề trong nội dung lời ca của Trịnh Công Sơn. Mỗi chủ đề không phải lúc nào cũng phân định rõ ràng mà nó vẫn có sự liên kết với nhau. Trong quê hương có “Em”, có tình yêu đôi lứa, tình yêu xứ sở. Đôi khi trong tình yêu cho riêng “Em”, tình yêu nhân thế luôn có “Tôi”, gắn liền với thân phận “Tôi”, thân phận một đời người và có thể là thân phận một đất nước. Những ca khúc của Trịnh Công Sơn luôn độc đáo khác thường. Về Thân phận cái “Tôi” xuyên suốt mọi chủ đề, và hình ảnh “Tôi” hiện lên trọn vẹn nhất trong những bài hát nói về thân phận, về kiếp luân hồi và giải thoát bản ngã. 
Người nghe luôn thắc mắc nhân vật “Tôi” là ai? Phải chăng nhân vật “Tôi” là chính nhạc sĩ đang viết về mình, về cuộc đời. Nhiều lần nhân vật “Tôi” ấy lặng lẽ nhìn lại mình. Phải trả giá bằng những năm tháng trẻ thơ đầy ảo tưởng, “Ngày nay không còn bé” tôi mới “chợt nhận ra tôi”, thấy tôi như chiếc bóng phai mờ, như viết mực nhòe, như hòn đá nặng “tình cờ rớt xuống mịt mùng”, và tôi cứ “trôi trong cuộc đời… không chờ ai” 
Trong ca khúc Lặng lẽ nơi này đã viết: 
“Trời cao đất rộng 
Một mình tôi đi 
Một mình tôi đi 
Đời như vô tận 
Một mình tôi về 
Một mình tôi về với tôi...” 
Nói về quê hương cũng chính là đang nói thân phận và tình yêu, nhưng tình yêu ấy không chỉ riêng của một người, mà mang tính bao quát, rộng hơn. Tình yêu cho nhiều người và thân phận của nhiều người - cho quê hương và của quê hương. 
Tình yêu quê hương luôn gắn bó với mỗi người và tình yêu đó là tình yêu đồng loại, tình yêu thiên nhiên đất trời. Không chỉ là người tình của con người, Trịnh Công Sơn còn tự coi mình là một “người tình của thiên nhiên”. 
“Có những tình yêu tìm thấy 
Từng ngọn núi con sông ruộng vườn 
Từng dòng suối con sông đầu làng 
Đã mang hình bóng quê hương… 
Tìm thấy nỗi nhớ từ mỗi chiếc lá 
Góc phố nào cũng thấy quê nhà” 
Tình yêu tìm thấy [11; tr.405] 
Thiên nhiên gắn bó với từng buồn vui đời người trong ca khúc của nhạc sĩ. Trịnh Công Sơn đâu chỉ có gọi em trong nỗi cô đơn, ông còn đắm chìm trong ánh nắng, mê mải gọi tên bốn mùa. Một hiện tượng thiên nhiên được nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn thổi vào nhiều hồn người nhất, đó là mưa. 
Mưa là một hình tượng sống có màu sắc, có linh hồn được thể hiện trong ca khúc của Trịnh Công Sơn. Mưa rớt trong lòng người, đem cả lòngngười cô đơn ra “dệt hè phố” rồi “rưng rức khóc bên đường”. Mưa thì thầm, rồi mưa lạnh lùng, lặng lẽ, mà có khi mang cả sức mạnh hủy diệt để nhấn chìm cả ngàn năm trước và ngàn năm sau. Trong những ca khúc viết về chiến tranh, hình ảnh quê hương bị mất hết vẻ lung linh thơ mộng. Quê hương như đã phủ một màu đau thương, đắm chìm trong tiếng súng, tiếng boom đạn đến ám ảnh đối với mỗi người. Cái chết đến tự nhiên của một kiếp người không hề đáng sợ bằng cái chết nhan nhản khắp mọi nơi trong chiến tranh. Điều đó mang lại cảm giác hãi hùng và oan nghiệp. Mặc dù chiến tranh tàn phá khốc liệt đến thế nhưng tình yêu quê hương vẫn mãi còn đó. Bia đá cũng còn biết đau, sỏi đá cũng cần có nhau trong đời, không gì có thể hủy diệt được nỗi khát khao yêu thương, những ước muốn tha thiết từ con tim. 
Trong chiến tranh, tình yêu quê hương, tình yêu con người càng trở nên sâu nặng, gắn bó với nỗi khát khao hòa bình càng cháy bỏng. Đối mặt với chiến tranh không phải lòng hận thù, phản kháng chiến tranh không phải bằng trái tim căm hờn, mà cao hơn thế, khó hơn thế, người nghệ sĩ đứng trên mọi tranh chấp thắng thua. 
“Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay 
Ta đi vòng tay lớn mãi cho hết sơn hà 
Mảnh đất nguy nga anh em ta về 
Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng 
Bàn tay ta nắm nối liền một vòng Tử Sinh 
Biển xanh sông gấm nối liền một vòng Việt Nam” 
Từng ca từ trong ca khúc Nối vòng tay lớn mà nhạc sĩ đã viết như vượt qua tất cả giới hạn, thời gian, khoảng cách, hận thù để mỗi người dân Việt Nam được yêu, được sống trọn vẹn một vòng Sinh Tử. 
“Nắng có hồng bằng đôi môi em 
Mưa có buồn bằng đôi mắt em 
Tóc em từng sợi nhỏ 
Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh 
Gió sẽ mừng vì tóc em bay 
Cho mây hờn ngủ quên trên vai 
Vai em gầy guộc nhỏ 
Như cánh vạc về chốn xa xôi” 
Với tình yêu, hình tượng người tình của Trịnh Công Sơn thật đẹp và buồn. Từng câu hát trong ca khúc Như cánh vạc bay cho ta thấy hình ảnh ngườ con gái thật mảnh mai và xanh xao. Nếu trong nội dung lời ca thiên nhiên luôn được nhạc sĩ thể hiện tình người, thì người tình luôn được đối chiếu với vạn vật: mi cong cỏ mượt, đôi môi lửa cháy, đôi vai lụa mát, tay xanh ngà ngọc, da thơm quả ngọt và từng phiến mây hồng em mang trên vai. Tất cả những gì đẹp nhất của người phụ nữ đều được ông nhân hóa rất gần gũi như hoa lá giữa thiên nhiên hiền hòa và cứ thế, chân dung Em được vẽ bằng cả đất trời, bằng gió mây mưa... 
Những ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn khắc khoải với Tình nhớ, Tình sầu, ông đã đưa ra hàng loạt định nghĩa về tình bằng những hình ảnh so sánh rất Trịnh Công Sơn mà không thể lẫn với một nhạc sĩ nào khác. Trong thực có ảo, trong ảo có thực: tình vừa mong manh như nắng, lại có sức tàn phá như cơn bão đi qua địa cầu, tình lên cao vút như chim xa lìa bầy, rồi lại chìm mau như bóng chim cuối đèo. 
Tình yêu của Trịnh Công Sơn mong manh dễ vỡ, mang một nỗi buồn lặng lẽ rất đỗi dịu êm. Một người dành nhiều lời ca nhất để ru tình, ru người tình khi đã từng vài lần ru đời, vừa rơi lệ ru người vừa ngậm ngùi ru ta. 
Nhiều người phụ nữ đã đến rồi đi khỏi cuộc đời Trịnh Công Sơn và để lại trong ca khúc của ông hình tượng một người tình mong manh sương khói. 
Hình tượng chung của những người phụ nữ ấy đã trở thành nguồn cảm hứng để ông viết lên những bản tình ca bất hủ Người nhạc sĩ ấy vẫn là một kẻ độc thân, ông tìm về bên người phụ nữ mà ông sùng bái và yêu thương nhất. Đó chính là Mẹ, người Mẹ của riêng ông cũng như Mẹ Việt Nam, “người dạy cho con tiếng nói quê hương sẽ sống mãi trong Ca dao mẹ, trong Lời mẹ ru và tình mẫu tử còn đượm mãi trong Huyền thoại Mẹ, trong Đường xa vạn dặm [11; tr.413]. 
Nét đẹp trong lời ca của Trịnh Công Sơn là luôn có một tấm lòng chân tình. Cái đẹp đó còn được tạo bởi chất thơ. Nếu trong chủ đề thân phận nặng trĩu tính triết lý, thì đâu đó trong ca khúc Trịnh Công Sơn lại đậm chất thơ như trong chủ đề tình yêu. Chất thơ được thể hiện đầy ắp trong cảnh, trong tình. Trong mắt ông lúc này bao nhiêu cảnh bình thường bỗng hóa ra khác thường, đầy biểu cảm. 
“Ôi áo xưa lồng lộng 
Đã xô dạt trời chiều 
Như từng cơn nước rộng 
Xóa một ngày đìu hiu” 
Tình nhớ 
Trịnh Công Sơn luôn tả tình, tả tâm trạng theo cách riêng trong âm nhạc của ông. Bằng cách ghép từ độc đáo ông đã biến hóa linh hoạt giữa cái thực - cái mơ, mờ mờ - ảo ảo khiến lời ca trở thành những lời hay ý đẹp, độc đáo bất ngờ, mang đậm chất thơ. 
Với sức tưởng tượng bay bổng được kết hợp với tính linh hoạt trong cách sử dụng ngôn từ đã làm cho lời ca trong ca khúc của nhạc sĩ độc đáo, đẹp, lạ, vừa tình vừa thơ và góp phần quyết định làm nên một tên tuổi để đời như Trịnh Công Sơn 
2.1.2. Giai điệu 
Trong các thành tố cấu thành nên ngôn ngữ của âm nhạc, giai điệu là phương tiện diễn tả có vai trò quan trọng và là yếu tốt dẫn đầu tính biểu hiện của âm nhạc. Giai điệu là sự tập hợp một số thuộc tính của âm thanh và tạo cho âm thanh có tính nhạc. Nó thể hiện tư duy tình cảm của người sáng tác,là sự trình bày ý nhạc trong mạch cảm xúc của toàn bộ tác phẩm. 
Nhắc đến giai điệu trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn ta thấy rất đa dạng và phong phú. Mỗi ca khúc mang đặc điểm khác nhau về đường nét giai điệu, tầm cữ, các thủ pháp phát triển giai điệu để tạo nên nét đặc trưng trong âm nhạc của Nhạc sĩ và mang đậm dấu ấn từng ca khúc trong các sáng tác của Ông. 
2.1.2.1. Tầm cữ 
Một điều căn bản trong sáng tác là ta phải viết những bài hát khả dĩ cho ca sĩ có thể trình bày được, tức là nằm trong tầm cữ (range) của giọng người hát. Tầm cữ là khoảng rộng về độ cao của các âm tính từ âm trầm đến âm cao nhất mà người hát có thể hát được. 
Ðộ cao của giọng hát là một yếu tố quan trọng vì nếu ta viết nốt quá cao hay quá thấp đối với người hát thì người đó sẽ không thể trình bày bài hát, hoặc nếu có trình bày được, cũng sẽ không diễn tả bài hát một cách hoàn toàn thoải mái được. 
Tuy nhiên, người hát có cách “chữa” được điểm khó này bằng cách chuyển giọng lên cao hơn hay thấp hơn cho hợp với giọng mình. Phần lớn trong các ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn giai điệu nằm trong âm vực thuận cho giọng “người thường”, không phải ca sĩ chuyên nghiệp. 
Một số thí dụ sau sẽ cho ta thấy: 
Ca khúc Ru ta ngậm ngùi được nhạc sĩ sáng tác năm 1993, ca khúc là những an ủi, vuốt ve cho chính trong niềm cô đơn tội nghiệp. Ông muốn được trở lại ngủ trong vòng nôi, trong tiếng ru ấy. Tầm cữ của ca khúc này âm thấp nhất là nốt a (ở tầng quãng 8 nhỏ), âm cao nhất là nốt f2. 
Quãng trong ca khúc thường là quãng 9, 10, 11, ít khi rộng quá quãng 12, giai điệu nhảy quãng khiến cho người hát rất dễ xử lý giống với một số ca khúc khác của nhạc sĩ như: Để gió cuốn đi, Đi tìm quê hương. 
Ca khúc Bên đời hiu quạnh được nhạc sĩ sáng tác năm 1972, đến với ca khúc ta bắt gặp người lãng tử ngơ ngác như kẻ lạc loài giữa chốn đông người. Ngập tràn trên những con đường của người nhạc sĩ cô đơn này là sự trống vắng, hiu quạnh như cánh vạc trong đêm đông thảng thốt. Tầm cữ của ca khúc này thấp nhất là nốt c1, âm cao nhất là nốt c2. 
Quãng âm trong ca khúc này, giai điệu chỉ đóng khung trong một quãng 8 giống với những ca khúc nhạc sĩ đã sáng tác Trong nỗi đau tình cờ, Có một dòng sông đã qua đời. 
2.1.2.2. Đường nét giai điệu. 
Đường nét giai điệu là nơi bộc lộ rõ nhất mối quan hệ chặt chẽ giữa nhạc và lời. Với ca từ đẹp, ý nghĩa, ý thức rất cao về dấu giọng để đảm bảo độ chính xác ý nghĩa ngôn từ. 
Trịnh Công Sơn đã đưa giai điệu phù hợp vào âm nhạc của mình, đôi lúc chấm phá thêm những nốt hoa mĩ tạo nên một vẻ đẹp dễ nhớ, dễ gần với người nghe. 
+ Giai điệu tiến hành bình ổn. 
Với đặc trưng là ca khúc mang tính trữ tình, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã có những cách tiến hành giai điệu bình ổn như: 
Giai điệu của Trịnh Công Sơn mang tính giản đơn với lối sử dụng các âm cùng cao độ nối tiếp nhau. 
Ca khúc Nghe những tàn phai [PL2; tr.102]. 
Với các nốt cùng nhóm được khoanh tròn đều ở cùng một cao độ hay còn gọi điệp nốt bao gồm ba, bốn từ, có khi tới năm từ. Cách sử dụng điệp nốt làm tăng thêm tính tự sự và dồn sự chú ý của người nghe vào lời ca. 
Trong ca khúc Giọt lệ thiên thu giai điệu đi theo từng cặp âm có cùng cao độ với nhau theo bước lần đi xuống. 
Ca khúc Giọt lệ thiên thu [PL2; tr.103]. 
Nhiều trường hợp trong ca khúc của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn giai điệu sử dụng rải hợp âm theo quãng 3 trưởng đi lên hay quãng 3 trưởng đi xuống, hoặc kết hợp cả hai tạo thành hình lượn sóng [11; tr. 426].  
+ Giai điệu sử dụng các bước nhảy quãng. 
Theo ta thấy, đường nét giai điệu khá đa dạng và phong phú, khi bình ổn phẳng lặng, khi mở rộng uốn lượn. Bên cạnh các âm có cùng cao độ, giai điệu còn chứa đựng rất nhiều quãng nhảy. Trong âm nhạc của ông, ta phải kể đến vai trò chủ đạo của quãng 4 đúng và 5 đúng. 
Trịnh Công Sơn là một người nhạc sĩ luôn coi trọng chuẩn mực dấu giọng tiếng Việt chính vì mối quan tâm đó mà giai điệu trong ca khúc của ông luôn dùng hai quãng này.
Câu nhạc, tiết nhạc đầu thường bắt đầu từ những bước nhảy lấy đà trên quãng 4 đúng hay quãng 5 đúng 
“Tình sầu” với “Ướt mi” mở đầu bằng bước nhảy quãng 4 đúng (d - g), (e - a), “Tình nhớ” mở đầu bằng bước nhảy quãng 5 đúng (e - b). Bên cạnh đó cũng có những ca khúc được kết thúc bằng quãng này. 
“Chiếc lá thu phai”, “Nắng thủy tinh” kết thúc bằng quãng 4 đúng (e - a), “Biết đâu nguồn cội” kết thúc bằng quãng 5 đúng (g - c). 
Có những ca khúc đường nét giai điệu hình thành trên các bước nhảy quãng 4, quãng 5 liên tiếp. 
Đôi khi trong một câu nhạc, một tiết nhạc hoặc một motif các âm được mở và kết đều bằng quãng 4, quãng 5 (nhưng ngược hướng nhau) như một sự đối đáp, có câu hỏi và có câu trả lời. Sự đối đáp ấy còn được nhấn nhá thêm bằng hình thức mô phỏng (ví dụ 12).
Đêm mơ thấy ta là thác đổ [PL2; tr.107].
Tình khúc Ơ - Bai 
Giai điệu còn theo các quãng khác nhau, nhảy quãng trong khoảng âm nới rộng tới quãng 9, 10 hoặc hơn. 
Phôi phai [PL2; tr.125]. 
+ Các motif giai điệu tiến hành theo quãng 4, quãng 5 
Giữa mối liên hệ giữa quãng 4, quãng 5 đã có sự xuất hiện của một vài motif giai điệu cấu thành từ các quãng này: 
§ Một motif nối tiếp ngược hướng 
§ Các motif nối tiếp cùng hướng 
§ Các motif lồng hai quãng 4, 5 
Đầu tiên là motif nối tiếp ngược hướng hai quãng 4, tức là nhắc lại âm đầu:  
Nối tiếp cùng hướng hai quãng 4 gồm hai motif [11; tr.429].
Giai điệu lồng hai quãng 4 và 5 với nhau gồm có ba motif trong đó có hai motif đi lênvà motif đi xuống 
Motif giai điệu kết hợp quãng 3, 5 và 4 giữa âm đầu với các âm sau [11; tr.431]. 
Với sự kết hợp của các motif giai điệu nêu trên đã tạo nên sự liên kết chặt chẽ và nhất quán trong một ca khúc. Ông đã tạo ra cái riêng khác biệt và độc đáo trong các sáng tác của mình bằng việc sử dụng các motif giai điệu. 
Sự quay đi trở lại trong các ca khúc khác nhau giúp người nghe nhận ra đó chính là đặc điểm âm nhạc của Trịnh Công Sơn mang một dấu ấn riêng biệt mà không phải một nhạc sĩ nào khác. 
2.1.2.3. Các thủ pháp phát triển giai điệu 
Để tạo nên một ca khúc hoàn chỉnh, nhạc sĩ đã sử dụng các thủ pháp phát triển giai điệu. Đặc điểm trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn là giai điệu dễ nhớ, dễ thuộc và dùng các hình thức âm nhạc có tái hiện và trong mỗi đoạn nhạc thường lặp lại toàn bộ hoặc một phần của câu nào đó. Sau đây là một số thủ pháp phát triển giai điệu được nhạc sĩ sử dụng phổ biến 
+ Thủ pháp nhắc lại: Trong ca khúc Ru em, Trịnh Công Sơn đã sử dụng nguyên tắc cơ bản nhất của phát triển âm nhạc, đó là thủ pháp nhắc lại nguyên xi. Tiết nhạc thứ nhất trong câu 1 của đoạn b (từ ô nhịp 10 đến ô nhịp 19) được nhắc lại nguyên xi của đoạn a. 
Ru em [PL2; tr.126]. 
Hãy cứ vui như mọi ngày [PL2; tr.127]. 
Ca khúc Hãy cứ vui như mọi ngày được chia làm hai đoạn. Đoạn trình bày a và đoạn phát triển b. Trong đoạn nhạc dưới đây ta thấy trước khi đóng vai trò phát triển, đoạn b có nhắc lại motif của đoạn a. Motif được nhắc lại là một tiết nhạc trọn vẹn ứng với một câu thơ nhiều từ, một câu hát (Hãy cứ vui chơi cuộc đời). 
+ Bên cạnh việc sử dụng thủ pháp nhắc lại, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn còn sử dụng thủ pháp mô phỏng 
Lời thiên thu gọi [PL2; tr.106]. 
Ở ví dụ trên, câu nhạc thứ nhất của đoạn b mô phỏng lại câu nhạc thứ nhất của đoạn a. Thủ pháp mô phỏng này dựa trên sự giữ nguyên về cao độ và co dãn về trường độ 
+ Thủ pháp phát triển giai điệu bằng cách mô tiến - một cách “nhái lại” đường nét giai điệu trên cung bậc khác 
Quỳnh hương [PL2; tr.115]. 
Trong ví dụ này ca khúc được chia làm hai đoạn, đoạn b của Quỳnh hương được xây dựng hoàn toàn trên mô tiến: nửa sau dịch chuyển giai điệu của nửa đầu xuống quãng 2 trưởng; sau đó xuất hiện thêm đoạn b’ chính là giai điệu đoạn b được di chuyển xuống quãng 3 thứ. [11; tr. 434] 
Trong thủ pháp mô tiến có mô tiến nghiêm khắc và mô tiến tự do. Đối với Trịnh Công Sơn người nhạc sĩ tự do, tự tại không thích bị trói buộc thì ông sẽ theo mô tiến tự do nhiều hơn. 
Lời thiên thu gọi 
Với ca khúc này nhạc sĩ đã sử dụng thủ pháp phát triển giai điệu chủ yếu trên nguyên tắc mô tiến tự do. Mỗi đoạn trong câu nhạc đều có hai nhân tố chính, nhân tố đầu được dịch xuống liền bậc, còn nhân tố hai dịch lên liền bậc.
Một cõi đi về [PL2; tr.105]. 
Ví dụ trên nhạc sĩ đã sử dụng thủ pháp mô tiến tự do, dịch giọng lúc này được phép “sai số” một nốt và mô tiến lúc này khác với mô phỏng. 
+ Thủ pháp phát triển mô tiến giai điệu được sử dụng rất phổ biến. Sự xuất hiện lần này của motif giai điệu đã được thay đổi phong phú hơn có thể ở nguyên dạng hoặc biến dạng. 
Với Trịnh Công Sơn motif điển hình nhất còn được “hóa trang” bằng sự thay đổi tính chất trưởng thứ của các quãng nối tiếp.
Lời ca trong các ca khúc của nhạc sĩ cũng ảnh hưởng tới giai điệu được bộc lộ rõ rang như: một câu thơ được lặp lại nhiều lần trong bài, mỗi lần xuất hiện vẫn giữ nguyên giai điệu, như một motif chủ đạo: 
Biết đâu nguồn cội: “Em đi qua chuyến đò” 
Nghe những tàn phai: “Chiều nay em ra phố về” 
Như vậy qua một số dẫn chứng tiêu biểu đã nêu trên, ta thấy nhạc sĩ có lối xây dựng và phát triển giai điệu một cách khá phong phú như: có loại giai điệu hình lượn sóng. Cấu tạo với bước đi liền bậc, có loại kết hợp bước đi liền bậc kết hợp với bước nhảy quãng xa và có những âm được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. 
Trong các thủ pháp phát triển giai điệu ta cũng thấy nhạc sĩ đã xử lý một cách tinh tế, trong đó có các thủ pháp hay gặp như thủ pháp nhắc lại, thủ pháp mô phỏng, mô tiến cùng với cách tiến hành giai điệu có liên hệ chặt chẽ với lời ca. 
2.1.3. Tiết tấu 
Trong một tác phẩm âm nhạc, tiết tấu giữ vai trò quan trọng trong việc sử dụng và phát triển hình tượng âm nhạc. Tiết tấu có liên quan mật thiết đến đg nét giai điệu, sự chuyển động của đường nét giai điệu với chuyển động của tiết tấu thường phù hợp với nhau. Giai điệu sau các bước nhảy được tiến hành bình ổn. 
Tiết tấu cũng vậy, sau những âm hình đa dạng, tương phản mạnh mẽ, tiết tấu sẽ có chuyển động để tạo yếu tố cân bằng giữa các âm hình. Lời ca trong các ca khúc của nhạc sĩ là sự ảnh hưởng đến đường nét giai điệu thì ở đây là sự ảnh hưởng của lời ca đến âm hình tiết tấu. 
Cứ mỗi nốt nhạc tương ứng với một từ, vì thế số lượng từ trong một câu thơ thường quyết định luôn độ dài âm hình tiết tấu trong một tiết nhạc. Âm hình đó được giữ nguyên trong cả bài hoặc một đoạn nhạc, nếu lời ca gồm những câu thơ có số từ không đổi. 
Sau đây là một số phương pháp xây dựng tiết tấu thường được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sử dụng: 
Trong các ca khúc trữ tình của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, ông đã sử dụng các âm hình tiết tấu chủ đạo như một nhân tố tích cực cho sự phát triển của hình tượng âm nhạc, nhạc sĩ thường sử dụng nhiều các âm hình tiết tấu phổ thông, phù hợp cho thể loại thanh nhạc. 
+ Đầu tiên, đơn giản nhất là âm hình tiết tấu với các nốt có cùng trường độ (móc đơn hay nốt đen) và số nốt ứng với số từ trong câu hát.
Với âm hình tiết tấu này tương đương với 4 từ trong mỗi câu. Trong ca khúc Cuối cùng cho một tình yêu nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã sử dụng âm hình tiết tấu này là âm hình tiết tấu chủ đạo cho toàn bài. Bên cạnh đó còn có một số ca khúc trong những sáng tác của ông cũng sử dụng âm hình tiết tấu như: ca khúc Tuổi đá buồn được sử dụng ở đoạn a trình bày và Tôi rủ em ngủ được tác giả sử dụng ở đoạn b phát triển. 
Âm hình tiết tấu này tương đương với 5 từ trong mỗi câu. Trong ca khúc Thương một người nhạc sĩ sử dụng âm hình tiết tấu này cho cả bài còn với Ướt mi âm hình tiết tấu này được sử dụng ở đoạn a trình bày. 
+ Không chỉ dừng lại với sự bó buộc âm hình tiết tấu đều đều với các nốt móc đơn hay nốt đen mà trong ca khúc của Trịnh Công Sơn còn đa dạng và phong phú hơn với chùm ba (móc đơn hay móc đen) Với âm hình tiết tấu này nhạc sĩ đã sử dụng cả bài trong ca khúc Tôi đang lắng nghe và sử dụng ở đoạn b trong ca khúc Tình xót xa vừa và Vẫn nhớ cuộc đời.  
Âm hình tiết tấu được nhạc sĩ sử dụng toàn bài trong ca khúc Ru ta ngậm ngùi và Tình nhớ.
Với âm hình tiết tấu nhạc sĩ đã sử dụng đoạn b ca khúc Tình sầu. 
Cách sử dụng âm hình tiết tấu chùm ba đã làm thay đổi các ca khúc thêm mới lạ cả về cách hát và làm mới những nét giai điệu. Người hát ca khúc có tiết tấu này phải có hơi thở thật đầy, cách xử lýca khúc và cách hát liền hơi, liền tiếng hòa quyện và thống nhất trong toàn bộ cấu trúc tác phẩm. 
+ Bên cạnh với những âm hình tiết tấu như móc đơn, móc đen hay chùm ba thì nhạc sĩ còn đưa vào ca khúc những thành tố mới. Âm hình tiết tấu lúc này không còn chia đều do sự xuất hiện thêm nốt chấm dôi hoặc đảo phách. 
Âm hình tiết tấu nhạc sĩ sử dụng gần như cả bài trong ca khúc Em còn nhớ hay em đã quên. 
Âm hình tiết tấu được sử dụng trong đoan a trình bày trong ca khúc Nắng thủy tinh. 
+ Trong các ca khúc trữ tình được nhạc sĩ sáng tác, nhiều bài được xây dựng trên một mẫu âm hình mà trong đó có chứa một hạt nhân tiết tấu với hai nốt móc kép.  
Âm hình tiết tấu với hạt nhân móc kép này còn xuất hiện trong các ca khúc như: Cát bụi, Du mục,... 
Như vậy, qua sự tìm hiểu và phân tích một số ví dụ nêu trên ta thấy đối với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhân tố chính tạo nên sự thống nhất cao cho toàn bài đó là tiết tấu. Bên cạnh các âm hình tiết tấu kể trên ta thấy thêm một điểm thống nhất có thể gọi là quy luật trong tiết luật âm nhạc của nhạc sĩ: âm hình tiết tấu đều bắt đầu từ phách nhẹ và kết thúc ở phách mạnh (hoặc mạnh - nhẹ - 63 mạnh).Với cách lặp lại một âm hình tiết tấu cũng giống như việc sử dụng các motif giai điệu đó chính là đặc điểm khiến người nghe dễ nhớ, dễ hát trong các ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. 
2.1.4. Cấu trúc hình thức 
Đa số các khúc trữ tình của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đều được viết ở hình thức 2, 3 đoạn đơn, độ dài bài hát vừa phải phù hợp với đối tượng quần chúng. Trong đó, ca khúc trữ tình viết ở hình thức hai đoạn đơn ít hơn hình thức ba đoạn đơn. 
Với hình thức hai đoạn đơn được sử dụng chủ yếu ở hai dạng hai đoạn đơn có tái hiện và hai đoạn đơn không có tái hiện. Đôi lúc ta có thể bắt gặp trong ca khúc của nhạc sĩ với hình thức ba đoạn đơn với đoạn giữa mở rộng hoặc đoạn giữa thu hẹp. Ngoài ra còn có một số ca khúc nhạc sĩ viết ở hình thức nhiều đoạn. 
2.1.4.1. Hình thức hai đoạn đơn 
Hình thức hai đoạn đơn là cấu trúc tác phẩm âm nhạc gồm hai phần/ hai đoạn, mà trong đó mỗi phần/ đoạn thường được viết ở hình thức một đoạn. Phần thứ nhất thường giữ chức năng của phần trình bày và được viết theo kiểu một đoạn có nhắc lại. Phần thứ hai thường bao gồm trong nó cả hai chức năng phát triển và tái hiện/ hoàn thiện tư duy âm nhạc. [19; tr.41] 
Các ca khúc trữ tình viết ở hình thức hai đoạn đơn chiếm tương đối trong sáng tác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tiêu biểu có thể kể một số bài như: Ru em, Nắng thủy tinh, Phôi pha, Diễm xưa, Còn tuổi nào cho em, Ca dao mẹ, Xin cho tôi, Bên đời hiu quạnh, Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, Hoa vàng mấy độ,… 
Với khuôn khổ của đề tài và điều kiện của bản thân, tôi chỉ xin đưa ra một số dẫn chứng tiêu biểu trong các sáng tác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. 
+ Hình thức hai đoạn đơn có tái hiện: 
Lời thiên thu gọi [PL2; tr.106] 
Lời thiên thu gọi được viết ở hình thức hai đoạn đơn có tái hiện, viết ở giọng e-moll. Đoạn a gồm hai câu mỗi câu dài 8 ô nhịp; đoạn b có hai câu mỗi câu 10 ô nhịp. Đoạn trình bày a có câu 2 về phần giai điệu nhắc lại giống câu 1 có thay đổi âm kết. Câu 1 kết ở bậc III, câu 2 kết trọn bậc I. Đoạn phát triển b mô phỏng tiết nhạc đầu của a, giữ nguyên cao độ nhưng co giãn trường độ. Giai điệu câu 2 nhắc lại nguyên xi câu 1 và kết về âm chủ của giọng. 
+ Hình thức hai đoạn đơn không có tái hiện: 
Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui [PL2; tr.121] 
Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui được viết ở hình thức hai đoạn đơn không có tái hiện và viết ở giọng A-dur. Đoạn a trình bày có hai câu, câu thứ nhất có 4 ô nhịp, câu 2 có 5 ô nhịp đều kết ở âm chủ của giọng. Đoạn b phát triển có sự thay đổi, câu nhạc thứ nhất gồm 7 ô nhịp, câu 2 gồm 8 ô nhịp nhưng phần này chỉ có giai điệu không có lời ca dành cho kèn solo. Đoạn b được đẩy lên cao trào nhờ những đường nét giai điệu được viết ở âm vực cao, đối lập với đoạn a mang tính tự sự với những giai điệu nhẹ nhàng ở âm vực vừa phải. 
2.1.4.2. Hình thức ba đoạn đơn 
Hình thức ba đoạn đơn là dạng cấu trúc của tác phẩm âm nhạc gồm 3 phần mà cấu trúc mỗi phần không vượt quá hình thức một đoạn. Cấu trúc phổ biến của hình thức ba đoạn đơn với các phần chính là: a - phần trình bày, b - phần giữa, a/a’ - phần tái hiện [19; tr.41]. 
Để gió cuốn đi [PL2; tr.120]. 
Để gió cuốn đi được viết ở hình thức ba đoạn đơn có tái hiện, viết ở giọng Bb-dur. Đoạn a trình bày có hai câu, câu thứ nhất có 8 ô nhịp, câu 2 có 8 ô nhịp và kết ở âm chủ của giọng. Đoạn b là sự phát triển chất liệu của đoạn a gồm 2 câu, câu thứ nhất có 8 ô nhịp, câu 2 có 8 ô nhịp. Đoạn ba (a’) tái hiện nguyên xi lại phần trình bày và kết hoàn toàn ở điệu tính chính - giọng Xi trưởng. 
Ca khúc Để gió cuốn đi mang chất liệu âm nhạc Phật giáo, nhạc sĩ đã sử dụng lời ca, ngôn từ thế gian, mô tả triết lý đạo Phật. Đây là nghệ thuật đưa triết lý Phật giáo vào đời bằng ngôn ngữ âm nhạc. 
2.2. Rèn luyện kỹ năng thể hiện ca khúc trữ tình 
2.2.1. Liền tiếng 
Hát liền tiếng (liền giọng) còn được gọi là kỹ thuật hát legato. Đây là kỹ năng cơ bản, quan trọng nhất để thể hiện các ca khúc trữ tình. Hát liền tiếng đòi hỏi âm thanh phải ngân vang, từ âm này sang âm khác phải có sự liên kết với nhau, không bị ngắt quãng. Âm thanh lý tưởng phải tròn, gọn, sáng, thanh thoát và mềm mại. 
Bằng sự phối hợp uyển chuyển của các cơ quan phát âm, các xoang cộng minh và sự điều tiết hơi thở, giai điệu bài hát được liền mạch tạo thành dòng âm thanh trong sáng, diễn cảm, liên tục và có sức hút. 
Hát liền giọng trong ca khúc khó hơn trong những bài luyện thanh vì khi thực hiện kỹ năng hát liền giọng ta phải chú ý hát liền các nguyên âm theo giai điệu, phát âm những âm phụ nhanh, gọn và cách nhả chữ cho mềm mại và rõ lời. 
Mẫu luyện thanh kỹ thuật liền tiếng (legato) 
Để có được kỹ thuật hát liền tiếng trong ca khúc trữ tình ta cần có phương pháp hiệu quả áp dụng vào ca khúc.
Chiếc lá thu phai [PL2; tr.124]. 
Có thể lựa chọn ca khúc Chiếc lá thu phai của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn để luyện tập kỹ thuật hát legato. 
Trong ca khúc Chiếc lá thu phai mở đầu câu hát rơi vào phách nhẹ, từng câu hát có sự liên tục, liên kết với nhau bằng các nốt móc đơn, nối giữa các nốt nên khi hát SV phải chủ động lấy hơi đúng chỗ tránh lấy hơi nhiều, không đúng khiến câu hát bị chia nhỏ, vụn vặt. 2.2.2. Ngân dài 
Trong thanh nhạc, kỹ thuật ngân dài rất quan trọng, thường được luyện sau khi đã thức hiện tương đối ổn định các kỹ thuật cơ bản. Ngân đều tiếng từ đầu đến cuối bằng một sắc thái mf, mp hoặc p. Ngân dài từ piano đến forte: p < f, ngân từ piano đến forte rồi trở về piano: p < f > p. Kỹ thuật này được xem trọng vì nó có thể tô điểm thêm sắc thái cảm xúc của bài hát. 
Mẫu luyện thanh kỹ thuật ngân dài
Để gió cuốn đi 
Ca khúc Để gió cuốn đi của Trịnh Công Sơn nhạc sĩ đã sử dụng các nốt có trường độ ngân dài hòa quyện với lời ca. Muốn thể hiện câu hát này, SV phải biết sử dụng kỹ thuật ngân dài... 
Câu hát “Để gió cuốn đi” được tác giả viết trường độ ngân dài và nhắc nhiều lần trong ca khúc để khẳng định thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm đến người nghe. Để có thể ngân dài đều đặn, đúng cao độ các note, trước tiên SV cần phải kiểm soát được làn hơi cho thật tốt, vì làn hơi sẽ là nhân tố chính tác động đến thanh đới và giúp bạn thể hiện tốt nhất ca khúc.
2.2.3. Pha giọng 
Pha giọng là một kỹ thuật tương đối khó với SV, việc tập luyện để dịch chuyển âm vực là một công việc lâu dài và thường xuyên. Tập âm vực đầu có thể giúp cải thiện chất lượng của giọng trung và thấp bằng cách tăng sự uyển chuyển và tạo cho cảm giác không khó khăn e ngại khi hát ở các nốt cao. 
Trong hát nhạc nhẹ, ca khúc trữ tình chủ yếu là hát bằng giọng thật và khi nào lên nốt cao thì ta sử dụng giọng pha. Pha trộn là phương pháp phối hợp hoạt động cơ bắp khi hát được dùng để làm mờ đi sự rõ ràng giữa các âm vực khác nhau cho sự chuyển giọng được liền mạch. 
Đầu tiên, chúng ta hãy cho SV chuyển nhẹ nhàng từ nốt này sang nốt kia khi xuống giọng làm cho nhẹ và trở nên êm ái hơn, tiến hành lặp lại nhiều lần tạo cho SV thành thói quen. 
Mẫu luyện thanh kỹ thuật pha giọng 
Diễm xưa [PL2; tr.104].
Trong ca khúc Diễm xưa của Trịnh Công Sơn nhạc sĩ đã sử dụng bước nhảy quãng từ âm khu thấp lên âm khu cao. Muốn thể hiện câu hát này SV phải biết sử dụng kỹ thuật pha giọng, chuẩn bị hơi thở đầy đặn, khéo léo, chuyển từ giọng thật sang giọng đầu chuẩn cao độ một cách mềm mại, chuẩn xác mà không gây hụt hẫng cho người nghe cảm giác âm thanh bị với, hát không tới nốt. Để có thể thực hiện tốt kỹ thuật này, SV cần phải rèn luyện chăm chỉ mới có kết quả tốt. 
2.2.4. Phát âm, nhả chữ 
Thanh nhạc là bộ môn âm nhạc gắn liền với lời ca - ngôn từ. Để truyền tải được rõ ràng ý nghĩa nội dung mà tác giả mong muốn, người hát ngoài những yếu tố cần thiết như giọng hát, cảm nhận âm nhạc hay còn gọi là nhạc cảm, hát có hồn, có lửa, có kỹ thuật thanh nhạc,… thì việc hát rõ lời, rõ chữ là điều rất quan trọng. 
Hát rõ lời góp phần truyền đạt ca khúc một cách diễn cảm, bởi vì lời ca là bộ phận rất quan trọng trong nội dung tác phẩm thanh nhạc. Những nguyên tắc phát âm lời ca có liên quan chặt chẽ đến sự vận động của sáu thanh điệu (thanh không, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng) trong ngữ âm tiếng Việt. 
Cần phải nhắc nhở SV hát rõ lời nhưng vị trí âm thanh luôn đặt đúng và giữ được độ mềm mại, duyên dáng trong khi hát. 
Qua các ví dụ, mẫu luyện tập các kỹ thuật thanh nhạc, ta thấy được muốn thể hiện tốt nhất một ca khúc trữ tình không phải là điều dễ dàng. Ca khúc trữ tình cần người hát thể hiện nhiều hơn về mặt cảm xúc, thả hồn mình vào từng lời ca. Bên cạnh đó cần thể hiện đúng bản nhạc, những kỹ thuật cần có trong ca khúc để đạt được hiệu quả tốt nhất và truyền đạt được hết tâm tư, tình cảm mà nhạc sĩ muốn mang đến với công chúng nghe nhạc. 
2.3. Áp dụng kỹ năng thể hiện phong cách trữ tình vào ca khúc của Trịnh Công Sơn 
Ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn là những ca khúc bất hủ đi cùng năm tháng mà hầu hết ai cũng đã từng nghe trong đời. Muốn thể hiện tốt ca khúc trữ tình của ông, người hát phải tìm hiểu thật kỹ về mọi mặt. 
Sau đây là một số ví dụ được áp dụng kỹ năng để thể hiện phong cách trữ tình vào ca khúc của Trịnh Công Sơn. 
2.3.1. Diễm xưa 
Diễm xưa là một trong những ca khúc nổi bật nằm trong chủ đề về tình yêu được viết năm 1960, phát hành trong băng nhạc Sơn Ca 7 của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. 
Ca khúc là hồi ức đẹp về tình yêu một thời trai trẻ của nhạc sĩ. Người con gái rất mong manh, ngày hai buổi đến trường với chiếc áo lụa trắng thướt tha đi qua những hàng cây long não khiến cho chàng trai si tình ngóng đợi. Tiếng chuông Linh Mụ, thành cổ, lăng miếu, bia mộ, màn mưa giăng kín lối… lột tả không gian tĩnh lặng, đậm chất Huế đã gắn liền với ký ức vừa thực vừa mơ mà tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là "Diễm của những ngày xưa". 
Ca khúc được viết ở giọng: e moll, nhịp 4/4 
Âm vực 
Với mỗi ca khúc có đặc điểm khác nhau vì thế mà GV cần quan tâm đến phương pháp luyện thanh, lựa chọn mẫu âm luyện thanh nhằm phát triển kỹ thuật legato. Trong quá trình luyện thanh cơ bản dần dần đến những bài có giai điệu phức tạp hơn. Theo mẫu luyện thanh dưới đây, yêu cầu sinh viên phát ra âm thanh vang đều, liền giọng và hòa quyện vào nhau. Hít hơi một cách nhẹ nhàng, dồn hơi thở xuống sâu rồi đẩy ra từ từ cùng với âm thanh. Nín thở trong giây lát để đưa âm thanh ra một cách chắc chắn, đều đặn và liên tục. 
Mẫu luyện thanh: 
Cấu trúc bài 
Ca khúc có cấu trúc hai đoạn đơn có tái hiện 
Giai điệu bài hát uốn lượn mềm mại lên xuống hòa quyện nhịp nhàng, tính chất trữ tình sâu lắng. 
Yêu cầu SV phải giữ ổn định vị trí để âm thanh hòa quyện vào nhau đều và tạo nên sự liền mạch trong từng tuyến giai điệu. 
Lưu ý những chỗ lấy hơi như sau: 
Lấy hơi vào từ “mưa”… đến từ “cổ” rồi ngân dài. 
Lấy hơi vào từ “dài”… đến từ “xao” rồi ngân dài. 
Tiếp tục lấy hơi theo câu hát đến hết ô nhịp 12. 
Trong quá trình hát, yêu cầu SV mở rộng khẩu hình, nén hơi và nhả chữ một cách đều đặn tạo nên sự hòa quyện liền mạch gắn kết giữa các câu với nhau. 
Đoạn b là phần cao trào của ca khúc, nhạc sĩ đã sử dụng những nốt ở âm khu cao. Mở đầu sang đoạn b là bước nhảy quãng 5 với tiết tấu chùm ba thay đổi khác so với đoạn a. 
Ở đoạn này yêu cầu SV áp dụng kỹ thuật pha giọng, chuẩn bị hơi thở đầy, vị trí âm thanh thật chắc để xử lý những nốt âm khu cao một cách tốt nhất. 
Lưu ý những chỗ lấy hơi như sau: 
Bắt đầu từ “chiều”… đến từ “lại”… lấy hơi hát vào từ “nhỡ”’… đến từ “vùi”… 
Tiếp tục lấy hơi hát vào từ “làm”… đến từ “đau”… lấy hơi hát vào từ “bước”… đến hết. 
Đoạn a’ 
Đoạn a’ là phần tái hiện đoạn đầu của ca khúc, bao gồm 8 ô nhịp. Âm hình tiết tấu lúc này trở về như ban, giai điệu nhẹ nhàng, chậm rãi. 
Lưu ý những chỗ lấy hơi như sau: 
Bắt đầu lấy hơi hát vào từ “mưa”… đến từ “động”… 
Lấy hơi hát vào từ “làm sao”… đến từ “đau”… 
tiếp tục lấy hơi hát vào từ “xin hãy”… đến từ “rộng”… 
Lấy hơi hát vào từ “để”… đến từ “du” ngân hết bài [PL2; tr.105]. 2.3.2. Một cõi đi về 
Là một trong các ca khúc trữ tình viết về thân phận con người, Một cõi đi về đã để lại dấu ấn trong nền âm nhạc Việt Nam. 
Ca khúc được viết vào khoảng 1974 đầu năm 1975 nhưng từ năm 1980 mới phổ biến. Nếu Diễm xưa bộc lộ tình yêu da diết từ bên trong tâm hồn, thì Một cõi đi về đem lại sự trầm lắng hướng nội, suy nghĩ trong lòng mình. 
Ca khúc viết giọng: e moll tự nhiên, nhịp 2/4 
Âm vực: 
Mỗi ca khúc đều có đặc điểm khác nhau vì thế mà GV cần quan tâm đến phương pháp luyện thanh, lựa chọn mẫu âm luyện thanh phù hợp. Ở ca khúc này ta cần áp dụng kỹ thuật legato và kỹ thuật xử lý hơi thở. 
Hướng dẫn sinh viên luyện thanh những quãng khác nhau, cố gắng giữ sao cho âm thanh ở vị trí thống nhất, ổn định. Có thể hướng dẫn SV luyện tập mẫu luyện thanh dưới đây. 
Mẫu luyện kỹ thuật legato 
Mẫu luyện kỹ thuật xử lý hơi thở 
Cấu trúc bài 
Ca khúc có cấu trúc ba đoạn đơn tái hiện nguyên xi 
Khác với ca khúc Diễm xưa mở đầu là những nốt thấp, ca khúc Một cõi đi về mở đầu với những nốt cao và âm hình tiết tấu đều đặn 8 nốt móc đơn (theo thể thơ 8 từ). Muốn bắt đầu câu hát, SV phải lấy hơi bằng mũi, hít sâu, kín, nén hơi và nhẹ nhàng trước khi hát. 
Ở đoạn này SV cần áp dụng kỹ thuật phát âm, nhả chữ hát rõ lời ca.
Giai điệu gắn liền với ca từ, cứ 8 từ là hết 1 câu hát. SV phải giữ ổn định vị trí để âm thanh hòa quyện vào nhau đều và tạo nên sự liền mạch trong từng tuyến giai điệu. 
Lưu ý những chỗ lấy hơi như sau: 
Lấy hơi vào từ “bao”… đến từ “đi” rồi ngân dài. 
Lấy hơi vào từ “đi”… đến từ “mệt” rồi ngân dài. 
Tiếp tục lấy hơi theo câu hát đến hết ô nhịp 16. 
Trong quá trình hát, yêu cầu SV mở rộng khẩu hình, hít và nén hơi thật đầy để đủ hơi thể hiện câu hát. 
Đoạn b 
Yêu cầu SV ở đoạn này áp dụng kỹ thuật liền tiếng, sử dụng hơi thở ngực và bụng để nhằm đảm bảo cho âm thanh được liền mạch. Cần xử lý sắc thái to nhỏ rõ ràng và hát rõ lời ca. 
Lưu ý những chỗ lấy hơi như sau: 
Lấy hơi vào từ “lời”… đến từ “một” lấy hơi hát tiếp đến từ “nhẹ” rồi lấy hơi vào từ “ngày” hát và ngân dài. 
Lấy hơi vào từ “vừa”… đến từ “một” lấy hơi hát tiếp đến từ “về” rồi lấy hơi vào từ “chốn” hát ngân dài hết câu. 
Đoạn a’ 
Ở đoạn nhắc lại a’ gồm 16 ô nhịp tái hiện nguyên xi đoạn b, âm hình tiết tấu được giữ nguyên chỉ thay đổi cao độ. Cách áp dụng kỹ thuật và thể hiện ca khúc giống với đoạn a. SV cần áp dụng kỹ thuật phát âm, nhả chữ hát rõ lời ca, giữ vị trí âm thanh ổn định để thể hiện toàn bài một cách tốt nhất. 
Lưu ý những chỗ lấy hơi như sau: 
Lấy hơi từ “mây”… đến từ “vai” rồi ngân dài 
Tiếp tục lấy hơi vào từ “đôi”… đến từ “lại” rồi ngân dài. 
Lấy hơi vào từ “con”… đến từ “gọi” rồi ngân dài. 
Tiếp tục lấy hơi vào từ “lại”… đến từ “người” rồi ngân dài đến hết bài. 
2.3.3. Huyền thoại Mẹ 
Huyền thoại Mẹ là một trong những ca khúc trữ tình viết về Mẹ hay nhất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Ca khúc được sáng tác vào cuối những năm 1980, đầu thập niên 1990. Lời bài hát nói về hình tượng người Mẹ Việt Nam anh hung, dù trong mọi khó khăn gian khổ luôn sẵn sàng hy sinh cả bản thân mình để che chở cho các chiến sĩ. 
Ca khúc được viết ở giọng: a moll tự nhiên, nhịp 2/4 
Âm vực: 
Mỗi ca khúc đều có đặc điểm khác nhau vì thế mà GV cần quan tâm đến phương pháp luyện thanh, lựa chọn mẫu âm luyện thanh phù hợp. Ở ca khúc này ta cần áp dụng kỹ thuật legato và kỹ thuật xử lý hơi thở, xử lý sắc thái to nhỏ. GV hướng dẫn sinh viên luyện thanh những quãng khác nhau, cố gắng giữ sao cho âm thanh ở vị trí thống nhất, ổn định. Những mẫu luyện thanh luyện tập: 
Mẫu luyện kỹ thuật legato 
Mẫu luyện kỹ thuật xử lý hơi thở 
Mẫu luyện kỹ thuật xử lý sắc thái to nhỏ 
Đoạn a 
Đoạn a 15 ô nhịp gồm 2 tiết nhạc. Mở đầu bài hát giai điệu tiến hành chậm rãi ở các âm khu trung với đường nét giản dị, mạch lạc. Âm hình tiết tấu ở đây tác giả sử dụng nốt đơn chấm dôi, nốt móc kép và nốt trắng ngân dài. Để bắt đầu câu hát, SV phải lấy hơi bằng mũi, hít sâu, kín, nén hơi và nhẹ nhàng trước khi hát. Ở đoạn này SV cần áp dụng kỹ thuật dụng kỹ thuật legato, kỹ thuật xử lý hơi thở và phát âm, nhả chữ hát rõ lời ca. 
SV hát hơi nhấn hơn vào các từ ở đầu nhịp, các từ ở phách nhẹ hát lơi một chút, chú ý thể hiện rõ những nốt có trường độ nốt móc đơn chấm dôi và nốt móc kép. 
Lưu ý những chỗ lấy hơi như sau: 
Lấy hơi bắt đầu vào từ “đêm”… đến từ “lại” lấy hơi hát tiếp đến từ “xưa” rồi ngân dài. 
Lấy hơi trước từ “Mẹ”… đến từ “mưa” lấy hơi hát đến từ “ngủ”. 
Tiếp tục lấy hơi từ “canh”… đến từ “thù” lấy hơi hát ngân dài hết từ “mưa”. 
Đoạn b 
Đoạn b gồm 16 ô nhịp. Giai điệu đoạn b trong ý nhạc tiếp theo da diết vang từ âm khu trung đi lên rồi theo lối bậc thang đi xuống dần. Áp dụng hát liền tiếng với nhịp độ chậm, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc với tình cảm lắng đọng. 
Lưu ý những chỗ lấy hơi như sau: 
Lấy hơi bắt đầu vào từ “mẹ”… đến từ “ngại” lấy hơi hát tiếp đến từ “đồi” rồi ngân dài. 
Lấy hơi trước từ “Mẹ”… đến từ “tối” lấy hơi hát từ “gió” 
Tiếp tục lấy hơi hát từ “tóc”… đến từ “đi” ngân dài. 
Đoạn a’ 
Đoạn a’ có 16 ô nhịp nhắc đi nhắc lại một giai điệu, người hát cần xử lý sắc thái hát nhỏ dần để kết thúc bài và hát sao cho chính xác và thể hiện được đúng tinh thần của tác giả. 
Lưu ý những chỗ lấy hơi như sau: 
Lấy hơi bắt đầu vào từ “đêm”… đến từ “từng” lấy hơi hát tiếp đến từ “đồi” rồi ngân dài. 
Lấy hơi trước từ “Mẹ”… đến từ “mưa” lấy hơi hát từ “che”… đến từ “nhỏ”. 
Tiếp tục lấy hơi hát từ “xóa”… đến từ “về” lấy hơi hát từ “mẹ” đến từ “mưa” ngân dài hết bài [PL2; tr.124].
Hơi thở và vị trí âm thanh là linh hồn của Thanh nhạc, nó khẳng định kết quả rèn luyện cũng như học tập của người hát và bên cạnh đó là tâm hồn của người thể hiện. 
Sự am hiểu và trau chuốt ca từ một cách tỉ mỉ, xem mỗi câu hát là hơi thở của mình thì câu hát khi phát ra sẽ có ý nghĩa hơn. 
Tuy nhiên, để có thể đạt được những yêu cầu trên bên cạnh sự nỗ lực của bản thân người học thì người hướng dẫn cũng rất quan trọng. Người thầy sẽ là người theo sát, uốn nắn từng câu chữ cho người học để làm sao có kết quả tốt, mang đến một sản phẩm có tính nghệ thuật cao về chất lượng âm nhạc. 
2.4. Thực nghiệm sư phạm và tiết dạy thanh nhạc 
Với nhiều năm xây dựng và trưởng thành trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW đã đào tạo ra rất nhiều khóa SV ra trường, có cả SV nước ngoài tham gia theo học. Ở mỗi vùng miền có chất giọng khác nhau và điều đó ảnh hưởng đến cách nói, cách hát và cảm nhận về âm nhạc cũng có sự chênh lệch giữa các SV. Chính vì vậy, trong quá trình giảng dạy GV phải tiếp xúc và tìm hiểu về đặc điểm chất giọng của từng SV để tìm ra những phương pháp học tập phù hợp và hiệu quả nhất cho mỗi SV. 
Phương pháp giảng dạy của GV là điều vô cùng quan trọng để đạt được một tiết học hiệu quả. GV cần phải nắm bắt đặc điểm giọng hát và khả năng thanh nhạc của từng SV để có phương pháp dạy phù hợp. Không thể áp dụng một phương pháp dạy lên tất cả các SV mà cần linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình dạy bởi mỗi giọng hát đều có những đặc điểm riêng. 
Phân tích bài học SV, cung cấp thêm băng đĩa cho SV nghe trong quá trình. 
2.4.1. Mục đích thực nghiệm 
Trên cơ sở phương pháp dạy học đã trình bày ở trên, chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm, nhằm mục đích: Kiểm định tính khả thi và đánh giá hiệu quả của việc dạy học ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn ở hệ ĐHSP Âm nhạc trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW. 
2.4.2. Nội dung và đối tượng thực nghiệm 
Chúng tôi chọn 2 SV có khả năng hát ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn. 
+ SV thực nghiệm: Nguyễn Thúy Trang (k8A ĐHSP Âm nhạc trường ĐHSP nghệ thuật TW), hát bài Diễm xưa, Một cõi đi về, Huyền thoại Mẹ. 
+ SV đối chứng: Nguyễn Quỳnh Anh (K8A ĐHSP Âm nhạc Trường ĐHSP nghệ thuật TW), hát bài Diễm xưa, Một cõi đi về, Huyền thoại Mẹ. 
SV thực nghiệm được học theo cách đã trình bày trong luận văn: được tìm hiểu về cấu trúc tác phẩm, phong cách, nghe và học hát một ca khúc trữ tình trước khi nghe và học hát bài Huyền thoại Mẹ và học cách thể hiện như đã trình bày ở trên. 
SV đối chứng không thực hiện phương pháp trên mà học theo phương pháp bình thường. 
Hai SV thể hiện ca khúc giống nhau để có thể dễ so sánh được kết quả của từng SV khi được áp dụng phương pháp mới và phương pháp cũ. Về độ khó trong kỹ thuật ba bài có sự tương đương nhau. 
+ Giảng viên thực hiện: Bùi Thị Thùy Trang - Tác giả luận văn. 
2.4.3. Thời gian thực nghiệm 
Thời gian thực hành được tiến hành dạy trên lớp là 3 tiết. Trước khi tiến hành thực nghiệm, SV đã phải tự thuộc bài mà GV giao cho. 
2.4.4. Tiến hành thực nghiệm 
Sau khi giao bài, GV yêu cầu SV tự học thuộc giai điệu ca khúc ở nhà, nghe các ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn và tìm hiểu ý nghĩa và giai điệu 84 ca từ bài hát. Khi lên lớp SV đã ghép được lời của ca khúc cũng như nắm được đặc điểm âm nhạc của ca khúc trữ tình. 
+ Tiết 1 
GV yêu cầu SV trình bày đặc điểm âm nhạc của bài hát đã yêu cầu tìm hiểu trước khi đến lớp, kiểm tra hát một ca khúc trữ tình đã yêu cầu. GV sẽ bổ sung những kiến thức về các ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn. 
Sau khi luyện thanh, GV hướng dẫn cách sử dụng hơi thở và xử lý sắc thái của các ca khúc trữ tình và yêu cầu SV tự luyện tập sau khi đã được GV hướng dẫn. 
+ Tiết 2 
Tiến hành áp dụng những phương pháp dạy học được nghiên cứu trong luận văn theo các bước từ đơn giản đến phức tạp. 
Trong quá trình dạy học, GV và SV có thể trao đổi về ca khúc, phương pháp phân tích bài để thây được giá trị của bài hát để SV thực hiện một cách tốt nhất. 
GV cho SV nghe một số ca sĩ, nghệ sĩ đã thành công những ca khúc mà SV được học để SV trực tiếp học hỏi và tiếp thu cách hát, cách xử lý tác phẩm của ca sĩ, nghệ sĩ, tuy nhiên phải có sự chọn lựa và tìm ra sự khác lạ của riêng mình chứ không phải là sự bắt chước nguyên xi. 
+ Tiết 3 
Tiếp tục hoàn thiện các kỹ thuật và cách thể hiện một số ca khúc, những kiến thức tiến hành thực nghiệm và hoàn thiện ca khúc GV giao cho SV. 
Thực nghiệm làm theo những yêu cầu của GV những kiến thức đã học. 
Ngoài giờ học trên lớp, SV tự tìm hiểu và tham khảo thêm (cả phần nội dung và phương pháp thể hiện các ca khúc) qua các tư liệu khác như các phương tiện truyền thông, nghe đài,… 
2.4.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm 
Với ba ca khúc Huyền thoại Mẹ, Một cõi đi về, Diễm xưa 3 tiết học không thể hoàn thiện ca khúc mà phải được rèn luyện tiếp tục trong cả kỳ học. Song chúng tôi thực hiện để đối chứng giữ việc dạy học theo phương pháp mới với phương pháp cũ và đánh giá kết quả theo yêu cầu cần đạt của 3 tiết học. Kết quả thực nghiệm cho thấy, việc dạy học ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn ở hệ ĐHSPAN trong luận văn có tính khả thi, mang lại hiệu quả tích cực. 
Dựa vào kết quả khảo sát cho thấy SV thực nghiệm Nguyễn Thúy Trang sau khi được áp dụng kỹ năng thể hiện phong cách trữ tình vào ca khúc của Trịnh Công Sơn mà chúng tôi đưa ra đã đạt điểm tuyệt đối, đáp ứng tốt yêu cầu kỹ thuật thanh nhạc, cách xử lý hơi thở, ngôn ngữ và sắc thái tình cảm. Về thái độ học tập, tích cực tham gia thể hiện ca khúc và rèn luyện sau giờ lên lớp của SV thực nghiệm cao hơn so với SV đối chứng. 
SV đối chứng Nguyễn Quỳnh Anh do không được hướng dẫn cụ thể, không được áp dụng kỹ năng vào trong quá trình học nên hát vẫn bị cứng, thiên về cách hát của thanh nhạc Châu Âu nhiều hơn là cách hát thể hiện phong cách trữ tình trong ca khúc của Trịnh Công Sơn [PL4]. 
Từ đó ta có thể thấy được phương pháp áp dụng kỹ năng vào cách thể hiện ca khúc trữ tình trong dạy học thanh nhạc đã mang lại kết quả tốt, tăng thêm hứng thú và niềm say mê học tập cho SV. 
Tiểu kết 
Trong chương 2 của luận văn, chúng tôi đã tìm hiểu đặc điểm ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn. Bên cạnh đó rèn luyện và áp dụng những kỹ năng để thể hiện phong cách trữ tình vào ca khúc của nhạc sĩ có hiệu quả nhất. 
Trịnh Công Sơn ảnh hưởng đến tâm hồn người Việt như một văn hóa. Người ta thấy trong đó một cách yêu, cách sống, cách ứng xử với quê hương, với đất nước, với chiến tranh, với hòa bình, với thiên nhiên, với lịch sử, với sự 86 sống - cái chết, với thực tại - hư vô... Nó làm giàu thêm, đẹp thêm cho lối sống Việt, văn hóa Việt. 
Nhạc Trịnh giản dị dễ hát, ca khúc nào của ông cũng là những giai điệu đầy chân cảm, ca từ nào cũng là một bài thơ, tâm trạng truyền tải trong ca khúc không chỉ là tâm trạng tình nhân mà còn là trạng thái nhân thế của thời đại. Vì thế nó rất dễ đi vào lòng người. 
Ca khúc trữ tình Việt Nam nói chung và ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn nói riêng như một nét chấm phá đã khắc họa đậm nét lên bức tranh âm nhạc muôn màu sắc. Mỗi một thể loại, một chủ đề âm nhạc đều góp phần làm phong phú cho nền âm nhạc nước nhà, mang lại giá trị thẩm mĩ nghệ thuật trọn vẹn. Ca khúc trữ tình đã dần dần khẳng định được vị trí, vai trò không thể thiếu đối với cuộc sống như một nhu cầu tất yếu của đông đảo công chúng nghe nhạc. Hiểu được vai trò ấy những người làm âm nhạc chuyên nghiệp cũng như các GV âm nhạc cần xác định được vai trò của mình là phải tìm ra phương pháp dạy học trong quá trình đào tạo và định hướng cho thế hệ tương lai.
KẾT LUẬN 
Ca hát là một loại hình nghệ thuật vô cùng phong phú nhưng cũng rất phức tạp. Sự rèn luyện để trở thành giáo viên âm nhạc hay ca sĩ là cả một quá trình cần mẫn không ngừng nghỉ, học cách duy trì sức mạnh và hơi thở đều đặn, cùng với việc nắm chắc các kiến thức chung trong âm nhạc. Một trong những vấn đề quan trọng đó là việc học tập kỹ thuật Thanh nhạc. Đây là quá trình rèn luyện không thể thiếu nhằm phát triển giọng hát, nắm vững những kỹ thuật cơ bản, làm chủ được giọng hát và áp dụng thể hiện tốt ca khúc nghệ thuật. Ngày nay, để xây dựng một nền nghệ thuật ca hát phù hợp với những yêu cầu của thời đại, chúng ta cần tiếp thu những kinh nghiệm có cơ sở khoa học của nền nghệ thuật ca hát trong nước và các nước trên thế giới. Nhưng không phải tiếp thu toàn bộ, mà là tiếp thu có chọn lọc nghiên cứu kỹ càng, để áp dụng vào cách hát của người Việt sao cho phù hợp với đặc điểm về ngôn ngữ, tâm lí, tình cảm của dân tộc mình. Trong các ca khúc trữ tình Việt Nam để hát hay ca khúc có kỹ thuật vững vàng chưa đủ mà phải biết gắn liền với việc xử lý ngôn ngữ khéo léo. Để thế hệ trẻ - sinh viên âm nhạc tiếp nối sự phát triển nền âm nhạc nước nhà thì việc học và tiếp thu âm nhạc một cách đúng hướng là một điều vô cùng quan trọng. 
Xét về lĩnh vực nghệ thuật, ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn là một mảng đề tài hay, phong phú rất được quan tâm. Những tình ca mà ông sáng tác nối tiếp nhau ra đời và luôn mang những nỗi niềm về thân phận, về cuộc đời, về tình yêu và về nỗi cô đơn dường như không bao giờ vơi cạn. Chúng được sống và được nâng niu, ai cũng có thể tìm thấy cái gì đó sâu kín của tâm hồn mình từ những nốt nhạc, lời ca trong những ca khúc của ông. 
Trong luận văn chúng tôi trình bày về vấn đề dạy học ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn ở hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc trường ĐHSPNTTW. Từ quá trình trải nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy rằng, người GV không chỉ lên lớp dạy đơn thuần mà người GV trong thời đại mới phải tìm được phương pháp giảng dạy cho riêng mình. Nội dung học mới sao cho phù hợp với từng đối tượng SV của nhà trường. 
Từ đó, tìm ra những giải pháp tích cực, đề xuất với khoa Sư phạm Âm nhạc về bộ môn Thanh nhạc để đưa ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn vào dạy học. Đề xuất có vai trò góp phần mở rộng vốn kiến thức về mảng các ca khúc trữ tình cho sinh viên hệ Sư phạm âm nhạc. Thiết kế giờ học hiệu quả bằng cách phân định thời gian cụ thể cho từng nội dung giảng dạy, sử dụng các phương tiện hỗ trợ trong công tác giảng dạy. Tạo không khí thân thiện và hứng thú trong giờ lên lớp. Từ một số kỹ thuật thanh nhạc cơ bản ta có thể áp dụng vào giảng dạy cho sinh viên thể hiện tốt cảm xúc, nội dung, phong cách trữ tình trong ca khúc của nhạc sĩ. Việc học tập, tiếp thu và theo đuổi đam mê âm nhạc một cách văn minh, đúng hướng là điều rất quan trọng đối với sinh viên thế hệ mới luôn khao khát và ước mơ muốn trở thành một giáo viên âm nhạc trong tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Anne Peckham (2002), Phương pháp luyện giọng để trở thành ca sĩ, Nxb Âm nhạc, (Người dịch: Nguyễn Văn Vĩnh). 
2. Dương Viết Á (2005), Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn văn hóa, Nxb Hà Nội. 
3. Đoàn Tử Huyến, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha (2001), Trịnh Công Sơn - Một người thơ ca, một cõi đi về, Nxb Âm nhạc, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội. 
4. Hàn Thị Thu Hương (2010), Phương thức so sánh trong ca từ của Trịnh Công Sơn, Luận văn Thạc sĩ “Ngôn ngữ học”, Trường Đại học Thái Nguyên. 
5. Hồ Mộ La, (2008), Phương pháp dạy học thanh nhạc, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 
6. Lô Thanh (1998), Ca hát Việt Nam 1945 - 1975, Giáo trình Thanh nhạc Trường Đại học Nghệ thuật Huế. 
7. Mai Thị Xuân Hương (2004), Vấn đề giảng dạy ca khúc Việt Nam trong chuyên ngành Thanh nhạc, Luận văn cao học, Hà Nội. 
8. Mai Khanh (1982), Sách học thanh nhạc, Nxb Vụ đào tạo, Bộ Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 
9. Nguyễn Bách (2001), Để thành công trong nghệ thuật ca hát, Nxb Trẻ, Hà Nội. 
10. Nguyễn Minh Châu (2006), Âm nhạc Việt Nam - Tác giả - Tác phẩm Tập III, Nxb Viện Âm nhạc, Hà Nội. 
11. Nguyễn Trung Kiên (2001), Phương pháp sư phạm thanh nhạc, Viện Âm nhạc, Hà Nội. 
12. Nguyễn Trung Kiên (2009), Phương pháp học hát, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
13. Nguyễn Trung Kiên (2010), Giáo trình thanh nhạc cho hệ đại học, Bộ Văn hóa Thông tin Hà Nội. 
14. Ngô Thị Nam (2001), Phương pháp dạy học âm nhạc (Tập một), Nxb Giáo dục, Hà Nội. 
15. Ngô Thị Nam (2004), Hát, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội 
16. Ngô Thị Nam (2008), Giáo trình hát (Tập II), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội. 
17. Nguyễn Thị Nhung (1996), Thể loại âm nhạc, Nhạc viện Hà Nội, Nxb Âm nhạc. 
18. Ngô Văn Thành - Trần Thu Hà - Nguyễn Phúc Linh - Đỗ Xuân Tùng (2002), Bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc trong nội dung và quy trình đào tạo âm nhạc, Nxb Âm nhạc, Hà Nội. 
19. Phạm Lê Hòa (2012), Giáo trình phân tích tác phẩm Âm nhạc hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc, Nxb Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội. 20. Tú Ngọc - Nguyễn Thị Nhung - Vũ tự Lân - Trọng Oánh - Thái Phiên (2000), Âm nhạc mới Việt Nam - Tiến trình và thành tựu, Nxb Viện Âm nhạc, Hà Nội. 
21. Trần Ngọc Lan (2011), Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật ca hát, Nxb giáo dục Việt Nam, Hà Nội. 
22. Trần Hoàng Tiến (2000), Vài nét về ca khúc - Một loại hình âm nhạc, Thông báo khoa học, số 9, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. 23. Trịnh Công Sơn (1993), Lời tựa trong tập ca khúc Bên đời hiu quạnh, Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh. 
24. Trịnh Công Sơn (1996), Tình yêu và tiếng hát, Tạp chí Thế giới âm nhạc. 
25. Trịnh Công Sơn (1 - 1997), Để bắt đầu một hồi ức, Tạp chí Thế giới âm nhạc.  
26. Võ Văn Lý (2005), Phát âm tiếng việt trong thanh nhạc, Sách nghiên cứu dân ca. 
27. Vũ Tự Lân (2009), Âm nhạc Việt Nam - Tác giả - Tác phẩm, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 
28. Viện Âm nhạc (2003), Hợp tuyển tài liệu nghiên cứu lý luận phê bình âm nhạc Việt Nam, Nxb Viện Âm nhạc, Hà Nội. 
29. http://vianhem.com/ Ca khúc nghệ thuật là gì? 
30. http://www.trinhnu.net/ Vai trò của người soạn ca khúc và ý nghĩa của ca từ 
31. http://vi.wikipedia.org/ 
32. https://sites.google.com/.
PHỤ LỤC
MỘT SỐ CA KHÚC TRỮ TÌNH CỦA TRỊNH CÔNG SƠN 
7. ĐÊM THẤY TA LÀ THÁC ĐỔ
Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ - Khánh Ly - Nhac.vn
20. MỖI NGÀY TÔI CHỌN MỘT NIỀM VUI
Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui- Mỹ Linh - YouTube
Bùi Thị Thùy Trang
Theo http://spnttw.edu.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...