Truyện ngắn của
Hoa Nip: G.K.8251
1. Tôi còn nhớ như in ván cờ đầu đời của mình. Đó là vào một
buổi sáng Chủ Nhật, năm tôi học lớp 2B buổi chiều. Hôm đó trời sáng đẹp tinh
sương, sân trường vắng vẻ. Vì chưa từng đến trường vào buổi sáng Chủ Nhật nên
tôi rất đỗi ngơ ngác trước vẻ đẹp tinh khôi của ngôi trường trong sáng sớm. Lác
đác vài bóng người thấp thoáng ra vào trong hội trường. Tôi là lớp trưởng, nên
được cô giáo chủ nhiệm giao cho nhiệm vụ sáng nay phải đến trường dự thi giải cờ
vua của trường.
Thực ra, cho đến lúc đó, tôi chẳng có tý khái niệm gì về môn
cờ, ngoài hình ảnh hai con người im lặng ngồi vò đầu bứt tóc, trầm ngâm đợi đến
lượt mình để di chuyển từng con cờ. Sau một lúc phân định thi thố, thắng thua
gì thì cũng chỉ lẳng lặng đứng dậy bỏ đi mà không được hét toáng lên mừng chiến
thắng như môn bóng đá.
Nhà văn Hoa Nip
Cũng như đám bạn, tôi thích môn bóng đá hơn. Thứ nhất, vì
bóng đá rất đông vui. Thứ hai, bọn tôi được chạy nhảy, được vận động tẹt ga sau
những buổi học chỉ ngồi và ngồi. Thứ ba, chúng tôi có niềm vui mỗi khi ra sân,
ghi bàn và chiến thắng. Tuyệt vời nhất là những khi bạn ghi bàn và chạy một
vòng ăn mừng và chia vui với bạn bè. Thứ tư, hơi riêng tư một chút, tôi đá bóng
khá hay, và gần như luôn luôn ghi bàn mỗi khi ra sân.
*
Tôi rụt rè bước vào cổng trường và tiến về phía hội trường,
nơi căng tấm băng rôn nhỏ với dòng chữ: Cuộc thi cờ vua trường tiểu học… Trong
đầu tôi vẫn lẩm nhẩm về luật cờ vua mà mới tối hôm qua, tôi được ba mẹ hướng dẫn.
Cô chủ nhiệm đã đứng chờ tôi từ lúc nào ở trong hành lang hội trường. Thấy bóng
tôi bẽn lẽn đi từ ngoài vào, cô gọi tên và ngoắt ngoắt tôi lại dặn dò.
Giọng cô hồ hởi, đầy kỳ vọng:
“Nam này, tối qua ở nhà, em đã học kỹ luật chơi chưa?”
Không dám ngẩng đầu lên nhìn cô, tôi lý nhí:
“Dạ rồi thưa cô! Nhưng,… nhưng em sợ!”
Cô vội ngồi khụy xuống ngang tôi, hai tay cô nắm vai tôi lắc
lắc và bảo:
“Em sợ gì? Sợ thua à! Yên tâm nào! Cô tin ở em! Em là học
sinh thông minh nhất của lớp ta! Cô hoàn toàn tin vào chiến thắng ở em! Em phải
chiến thắng để giành điểm thi đua về cho lớp mình chứ! Phải không nào?”
Tôi lại lí nhí hơn:
“Dạ dạ…”
Rồi cô đẩy tôi vào phòng thi. Tôi lò dò tiến đến bậu cửa thì
quay đầu lại nhìn cô lần nữa. Thở một hơi thật mạnh, tôi cũng dấn người vào
trong cánh cửa phòng thi.
Trong phòng thi, mọi người đang ngồi hàng dài im lìm thi đấu.
Ai cũng đăm đăm chiêu chiêu. Ở bàn cờ gần cuối phòng có ghi tên tôi, một cô bé
đang ngồi đối diện. Cô bé tên Vân, học lớp 2A buổi sáng. Cô bé dáng người hơi mập
mạp, khuôn mặt tròn tròn như mặt trăng, tóc cột đuôi gà để lộ vầng trán rộng và
cao. Khi tôi đến, cô chào tôi với một nụ cười bí hiểm. Và dĩ nhiên, cô khai triển
cờ rất tự tin, thoải mái, như là đã sẵn có phương án thi đấu trong đầu. Còn
tôi, hạ thủ một cách nặng nề bởi trách nhiệm. Ít khi tôi ngước mặt lên nhìn đối
thủ. Điều này thật khác hẳn với tôi trong các kỳ thi học kỳ. Một tôi thông minh
nổi tiếng toàn trường, luôn luôn làm xong bài thi học kỳ trước tiên và ngồi
nhìn các bạn lọ mọ tính toán, làm bài, thì ngược lại giờ đây, tôi không dám
nhìn thẳng vào đối thủ của mình.
Tôi lọ mọ, khó khăn với từng bước di chuyển. Những con cờ gỗ
nhỏ bé trong tay tôi bỗng dưng có sức nặng lạ lung. Ngón tay tôi run run rụt rè
đặt từng con cờ xuống bàn. Thỉnh thoảng trộm nhìn cô ấy, thấy cô ấy vẫn giữ một
nụ cười bí hiểm. Thú thực là cho đến tận lúc đó, tôi vẫn chưa biết rõ mình di
chuyển những con cờ ấy với mục đích gì. Trong đầu tôi luẩn quẩn ý nghĩ mắc mớ:
quái lạ, làm sao ăn được con vua bên kia nhỉ? Và tôi cứ như trôi đi trong ý
nghĩ đó. Khi tôi hoàn hồn thì ván cờ cũng vừa kết thúc. Cô ấy cầm trên tay con
vua màu đen của tôi và nhanh chóng nhỏm dậy khỏi ghế, chạy đi báo với thầy phụ
trách. Tôi vẫn còn ngồi thừ trên chiếc ghế ấy, với những quân cờ ấy, xấp ngả
trên nền trắng đen lẫn lộn. Dường như có ai đó đến vỗ vai tôi, nói bâng quơ điều
gì đó rồi nhanh chóng đi khỏi. Khi tôi ngước mặt khỏi bàn cờ thì căn phòng đã
không còn một bóng người. Mọi người dù thắng thua cũng đã ra về hết, để lại ngổn
ngang những quân cờ trắng đen đứng ngã lơ lửng trong căn phòng rộng thênh
thang.
Đó hẳn nhiên là thất bại đầu đời. Tôi không còn nhớ gì hơn nữa
về cái ngày khủng khiếp đó. Hình ảnh cuối cùng còn đọng lại mãi mãi trong ký ức
tuổi thơ tôi là một căn phòng thinh lặng tuyệt đối, với những quân cờ trôi lửng
lơ trong không gian. Tôi cũng không nhớ mọi người đã đối xử với tôi thế nào sau
trận thua tan nát đó. Thầy cô, bạn bè cùng lớp, gia đình,… tôi không nhớ gì. Có
chăng, chỉ còn lại nụ cười bí hiểm của cô gái đó.
2
Từ thất bại đầu đời đó, tôi trở nên câm lặng. Trong các năm học
sau đó ở tiểu học, tôi vẫn được chọn là lớp trưởng. Tôi vẫn hoàn thành tốt nhiệm
vụ học tập và các hoạt động ngoại khóa của lớp mình. Trong các kỳ thi học kỳ,
tôi vẫn làm bài xong trước tiên, nhưng thay vì ngồi nhìn hay chọc phá các bạn
khác, tôi im lặng dò lại bài làm và nhìn đồng hồ. Dần dần tôi đã trở nên một cậu
bé cẩn trọng.
Mùa hè năm đó, tôi không thường ra cánh đồng đá bóng với bạn
bè nữa. Tôi lẳng lặng xin mẹ cho đi học cờ vua ở cung văn hóa thiếu nhi trong
thành phố. Sáng sáng mùa hè, tôi ôm sách dạy chơi cờ. Đầu giờ chiều, tôi nhảy
xe lam đến cung văn hóa học cờ vua. Ngay năm sau, tôi đoạt giải cờ vua cấp trường.
Rồi đoạt luôn giải cờ vua cấp thành phố. Rồi cấp tỉnh. Năm lên lớp sáu, ở cung
văn hóa, tôi được các huấn luyện viên coi là vận động viên nhí của tỉnh. Tôi bắt
đầu được đầu tư để đi dự thi các giải cờ vua gần xa trong toàn quốc. Tôi mau
chóng trở thành kiện tướng tuổi nhí. Đến cuối năm lớp tám, huấn luyện
viên của tôi ở cung văn hóa bảo không còn gì để dạy cho tôi nữa, nên ông ấy đã
tư vấn để gia đình tôi gửi tôi vào Sài Gòn tiếp tục tập luyện trong môi trường
đỉnh cao.
Và rồi tôi giã biệt bạn bè ấu thơ, giã biệt làng quê, chòm
xóm, giã biệt cánh đồng, để một mình cắp cặp vào Sài Gòn học tập. Mẹ tôi xin
cho tôi vào học trong một trường nội trú. Sáng học văn hóa trên lớp, chiều có
xe ôm chờ sẵn để đưa tôi đến trung tâm luyện cờ. Tôi được sắp xếp dự thi vài giải
cờ vua quốc tế nho nhỏ, và không mấy khó khăn để thắng giải. Và cứ thế, các giải
thưởng cứ lũ lượt đến với tôi. Nhưng trong những năm tháng vinh quang đó, tôi vẫn
không sao quên được nụ cười bí hiểm của đối thủ cờ đầu tiên ấy. Và khi càng nhớ
đến, tôi càng ham muốn chiến thắng. Tôi muốn dành tất cả thời gian có được của
mình để luyện cờ.
Năm tôi tròn mười sáu tuổi, mẹ tôi cũng nghỉ việc công chức để
vào Sài Gòn ở cùng tôi. Mẹ con tôi thuê một căn nhà nhỏ ở quận ngoại ô. Mẹ luôn
là người cùng tôi ra nước ngoài thi đấu. Các khoản tiền thưởng ở những giải đấu
quốc tế giúp mẹ con tôi rất nhiều trong cuộc sống, và khiến tôi hoàn toàn yên
tâm chơi cờ. Khi tôi đạt đến Elo 2600 thì số tiền thưởng từ các giải đấu quốc tế
cũng đủ để mẹ con tôi mua một căn nhà sạch sẽ, khang trang hơn. Đời ở trọ của
tôi kết thúc trong niềm vui khấp khởi rạng ngời của mẹ. Mẹ cứ hay bảo: “Gia
đình mình may mắn thật! Nếu con không theo nghiệp cờ thì hai mươi năm nữa cũng
không mua được nhà ở Sài Gòn.” Tôi cười cười với mẹ, chẳng nói gì. Mẹ tự hào đặt
những tấm huy chương, những chiếc cúp, những hình ảnh của con trai mẹ ở chính
giữa phòng khách. Trong một bức ảnh, con trai bé bỏng mười chín tuổi của mẹ mặc
áo veston bóng bẩy, bên trong là một chiếc sơ-mi trắng toát, đầu tóc gọn ghẽ, mắt
đeo kiếng cận, đang trầm ngâm bên một ván cờ. Mẹ bảo: “Con trai mẹ mới đó, giờ
đã trông như một chính khách!” Tôi lúc đó còn chưa hiểu “chính khách” là kiểu
người như thế nào. Lớn lên chút nữa và bắt đầu hiểu chuyện, tôi cười chống chế
mẹ: “Mẹ này! Sao lại nói con như thế! Con trai ngoan của mẹ có phải là loại ăn
tục nói phét đâu cơ chứ!”
3
Ngày tôi đạt được giải thưởng quan trọng trong khu vực, các
huấn luyện viên của tôi lại bảo không còn gì để dạy tôi. Và họ khuyên tôi nên đầu
quân cho một câu lạc bộ cờ chuyên nghiệp của nước ngoài để trau dồi thêm, vả lại
cũng được trả lương hậu hĩnh.
Hai mươi tuổi, tôi từ giã mẹ, một thân một mình đến nước Nga
để đầu quân chơi cho một câu lạc bộ cờ hàng đầu tại đây. Mẹ cho thuê lại căn
nhà Sài Gòn và trở về quê ở với ba. Hàng tháng, tôi gửi phần lớn tiền lương về
cho ba mẹ. Đợi cha tôi về hưu, ba mẹ tôi sẽ có một cuộc sống đủ đầy, sung sướng,
an nhàn lúc tuổi già. Đúng như các huấn luyện viên của tôi đã mách nước, trong
môi trường chuyên nghiệp, tôi được nhận mức lương hậu hĩnh và được cọ xát với rất
nhiều đại kiện tướng tầm cỡ thế giới. Vả lại, đến nước Nga, tôi có cơ hội gặp
được thần tượng của mình, Garry Kasparov – người đang giữ kỷ lục Elo của thế giới.
Dù Garry đã tuyên bố giải nghệ, nhưng với tôi, ông ấy là đại kiện tướng xuất sắc
nhất trong những người xuất sắc. Tôi ước gì được chơi với ông ấy một ván cờ.
Ở nước Nga, tôi được đấu trí nhiều hơn, gặp phải nhiều đối thủ
rất sừng sỏ. Nhưng dù là cờ truyền thống hay cờ chớp, tôi vẫn đánh không e dè.
Tôi nghiên cứu chiêm nghiệm rất nhiều thế ra cờ mà nếu được cầm quân trắng, tôi
sẽ mau chóng hạ đối thủ trong vòng 35 nước đi. Khi cầm quân đen và trước một đối
thủ mạnh, tôi chủ động đưa về thế cờ hòa. Và gần như tôi rất ít khi để bị
đánh bại bởi đối thủ có Elo dưới 2700. Việc tránh được bại cờ trước một đối thủ
mạnh đã dần dần khiến cho Elo của tôi thăng tiến đều đặn qua năm tháng.
Dù được xếp vào hàng ngũ siêu đại kiện tướng của Thế giới,
nhưng trước báo giới, tôi vẫn không giấu diếm ước mơ một ngày nào đó được đánh
với Kasparov một ván cờ. Tôi nghe ngóng và biết được một quy tắc bất thành văn
của Kas. Kể từ ngày 10 tháng 3 năm 2005, sau khi tuyên bố giải nghệ vì cảm
thấy không có đối thủ ngang tầm, Kasparov gần như không đụng đến những quân cờ
nữa. Ông ấy suốt ngày chỉ ngồi câu cá bên bờ biển. Người ta đồn rằng chỉ có thể
mời Kasparov xuất cờ nếu ta đã đạt được Elo trên 2830. Và tôi cắm cái đích tạm
thời cho mình là Elo 2830.
Nói là cái đích tạm thời thôi, song phải đến năm ba
mươi bảy tuổi, tôi mới đạt đến ngưỡng đó. Sau năm ván thắng, một hòa, tôi nâng
cúp vô địch của một giải đấu quan trọng trong năm. Thời điểm đó, Elo của tôi
lên 2832,7. Báo chí đăng tin khắp nơi về chiến tích này của tôi. Và họ dẫn trả
lời phỏng vấn của tôi: “Cuối cùng thì tôi cũng đạt được mục tiên Elo 2830 đặt
ra từ mười hai năm trước. Giờ tôi sẽ đi gặp Garry Kasparov để xin được tỷ thí một
ván cờ.”
4
Một sớm, tôi lần theo chỉ dẫn của một số người dân địa phương
để đến cầu tàu nơi chiếc du thuyền của ông thường neo đậu ở đó. Nói là du thuyền
cho sang, chứ thực ra đó chỉ là một chiếc thuyền đánh cá cỡ nhỏ, dài khoảng hai
mươi lăm mét, rộng khoảng tám mét. Trên tấm thân sơn màu xanh midnight-blue của
con thuyền, có một đường lượn màu trắng xuyên suốt thân thuyền trông khá bắt mắt.
Và trên thuyền không có thủy thủ. Chắc hẳn Kas là thuyền trưởng, kiêm thủy thủ.
Phía mui thuyền có ghi dòng chữ số màu trắng, ngay ngắn G.K.2851 và
hình một con vua. Chắc hẳn người hâm mộ cờ vua nào cũng biết 2851 là Elo kỷ lục
mà một kỳ thủ có thể đạt đến hiện nay.
Garry Kasparov đang ngồi câu cá trên ghế bành trong cái nắng
chang chang trên boong gần phía mũi thuyền thì tôi nhẹ nhàng tiến đến. Mặc dù
ông đội nón nhưng không đủ che đậy mái đầu đã bạc trắng. In trên sàn boong thuyền
là chiếc bóng của tôi đang dần tiến về phía ông, cho đến khi bóng tôi che mát cả
chỗ ông ngồi, thì ông mới gác cần câu qua một bên và quay đầu lại. Lưng vẫn
không rời ghế, ông dở nón lên cao một chút và nheo nheo mắt nhìn tôi. Tôi chào
ông và đưa cho ông tờ báo trên tay mình. Ông mất vài phút đọc trang bìa trong
bóng mát của tôi, rồi ông hỏi bằng thứ tiếng Anh khàn khàn nhàu nhĩ hơi khó
nghe:
“Cậu có chắc là muốn đánh với tôi một ván cờ chứ?”
Tôi chắc mẩm, nhanh nhảu trả lời ông:
“Chắc chắn thế! Đó là ý nguyện bao năm nay của tôi!”
Ông cười nhếch mép, hất hất cằm về phía cabin và bảo:
“Vào trong lấy ghế và cần ra đây, tôi và cậu cùng câu.”
Tôi hơi ngạc nhiên vì vẻ thân thiện của ông nên tôi có chút bỡ
ngỡ. Thấy vậy, ông bảo:
“Sẵn tiện trong tủ lạnh có dĩa trứng cá hồi và Vodka, cậu
mang ra đây luôn nhé!”
Hai chúng tôi cùng ngồi câu và uống rượu. Món trứng cá hồi nhắm
rượu Vodka thực sự là danh bất hư truyền. Thời tiết mùa hè thật tuyệt vời. Thỉnh
thoảng vài cơn gió nhẹ lướt qua mát rượi. Tôi chẳng mấy chăm chú câu cá, mà chỉ
nhìn dáng ông ngồi câu trong nắng. Ông thấy đầu cần câu tôi giật giật, thì vội
vã bảo:
“Cá cắn câu kìa! Nhanh nhanh thu dây vào!”
Tôi hối hả thu dây vào, kéo lên thì chỉ còn cái lưỡi câu trống
không. Lũ cá đã tranh thủ lúc tôi lơ đễnh mà rỉa sạch mồi.
Được một lúc, ông bảo tôi đi cuốn dây neo lại, còn ông thì
vào cabin lái chiếc thuyền ra xa bờ. Chiếc G.K.2851 ra cách bờ hơn một hải lý
thì ông tắt máy, bảo tôi thả hết neo xuống biển. Nhìn vào bờ thấy một hàng dừa
xanh mướt trên bãi cát trắng thật đẹp. Đất liền giờ trông như một ốc đảo nuột
nà, biếc xanh. Mặt biển phản chiếu bầu trời xanh ngắt. Ông thấy tôi ngây người
vì cảnh thiên nhiên đẹp, liền hỏi:
“Tuyệt không? Một vẻ đẹp tuyệt đối phải không?”
Tôi gật gù, tỏ vẻ thích chí. Ông hỏi tiếp:
“Cậu đã thấy cảnh đẹp như thế này bao giờ chưa?”
Tôi gật gật đáp:
“Thỉnh thoảng. Ở những nơi tôi đi qua. Nhưng hầu hết chỉ
thoáng qua!”
Ông thu lưỡi câu về. Mồi ở phần đầu lưỡi câu cũng hết, để lộ
ra một cái lưỡi câu nhọn hoắt, sáng bóng trong ánh nắng. Ông móc thêm mồi vào
lưỡi và đứng dậy lấy đà quăng câu thật xa. Tua lại dây câu cho căng, ông lại ngồi
xuống ghế. Một lúc lâu sau, ông lại lên tiếng, hỏi:
“Cậu có xúc động trước nó không? Nó có đem lại cảm xúc gì cho
cậu không?”
Tôi ngớ người hỏi lại:
“Ai cơ? Cờ vua ấy à?”
Ông lắc đầu đáp:
“Cảnh đẹp. Thiên nhiên ấy!”
Tôi nheo nheo mắt nhìn vào mắt ông hòng đoán xem ông hỏi thế
là có ý gì, rồi đáp:
“Không. Thật tiếc là không. Tôi không có thời gian dành cho
chúng.”
Ông tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi lại:
“Thế gần bốn mươi năm nay cậu dùng cuộc đời vào những việc
gì?”
Không tìm được câu trả lời nào cho thỏa đáng, mắt vẫn nhìn về
phía dải đất liền xanh mướt kia, giọng hơi ấp úng, ngượng ngùng:
“Đánh cờ. Tôi bắt đầu đánh cờ từ năm lên tám. Đến bây giờ đã
tròn ba mươi năm.”
Ông nhấm một ngụm Vodka, khà một hơi mạnh vào không gian, rồi
hỏi tiếp:
“Thế cậu chưa bao giờ dừng lại ở đâu à? Cậu có gia đình chứ?”
Tôi lắc đầu đáp:
“Tôi không có nhiều thời gian. Tôi không dừng lại được. Tôi
thường xuyên di chuyển đây đó để đánh cờ. Tôi đang tập trung phát triển từng thế
cờ của riêng tôi. Tôi còn chưa có đến một cô bạn gái. Hiện giờ tôi chưa có thời
gian nghĩ đến những chuyện đó.”
Ông đặt ly Vodka lên mặt chiếc bàn gỗ pallet sơn trắng thô
nhám, và nhăn nhăn mặt hỏi tiếp:
“Đã dùng hết nửa đời người rồi mà cậu vẫn không có thời gian?
Thế sao cậu còn rảnh rỗi ngồi đây câu cá với tôi?”
Tôi vừa ve ve mồi trên lưỡi câu, vừa trả lời ông:
“Tôi muốn đọ cờ với ông. Tôi đặc biệt ngưỡng mộ một người như
ông!”
Ông cười phá lên rõ to và cầm lấy chiếc cần giơ giơ trước mặt
tôi, bảo:
“Cậu thấy đó! Tôi đã gần đất xa trời rồi mà không có lấy nổi
một người bạn bên cạnh. Không vợ, không con, không bạn bè, không gia đình! Cậu
ngưỡng mộ và theo đuổi điều ấy ư?”
Nghe ông nói thế, tôi không giấu nổi cảm giác tức tối, tôi đứng
bật dậy khỏi ghế, và quăng lưỡi câu thật mạnh ra xa. Tôi nửa nói nửa gào lên với
ông:
“Đời tôi chỉ có cờ! Đời tôi đang vào guồng. Tôi có một hợp đồng
tốt. Những đối thủ lớn đang chờ tôi khuất phục họ. Người hâm mộ khắp nơi vẫn
đang nhìn vào tôi. Nhưng tôi vẫn thiết tha chơi cờ với một người vĩ đại như
ông! Vì tôi muốn ông dạy cho tôi đạo cờ!”
Ông lại phá lên cười khì khì, không thành tiếng:
“Cuộc đời này không ai dạy ai được điều gì. Mà chính bản thân
cậu phải tự học lấy. Cuộc đời sẽ dạy cậu tất. Ba mươi năm chơi cờ, và giờ cậu
còn hỏi tôi về đạo cờ ư? Vậy tôi hỏi cậu: Cậu đánh cờ để làm gì?”
Tôi gắt gỏng đáp:
“Cờ cho tôi tiền bạc và danh tiếng!”
Ông cũng quăng lưỡi câu ra xa, điều chỉnh dây cước cho căng,
rồi hỏi:
“Thế cậu đã đủ danh tiếng và tiền bạc chưa? Cậu vẫn muốn kiếm
thêm hai thứ đó chứ?”
Tôi chắc chắn đáp:
“Tôi nghĩ hai thứ ấy tôi không thiếu!”
Ông trặc lại:
“Vậy cậu đâu còn thiếu điều gì nữa?”
Tôi ấp úng:
“Tôi… tôi… tôi thiếu… đạo của người chơi cờ! Tôi vẫn chơi, vẫn
thắng, nhưng đôi khi tôi cảm thấy không biết mình chơi cờ để làm gì? Tôi cần
ông thông suốt cho tôi! Tôi chắc chắn một kiện tướng vĩ đại như ông sẽ hiểu được
đạo cờ và giúp được tôi.”
Đầu cần câu của ông giật giật mạnh, ông vội thu lưỡi câu lại.
Một con cá thu nặng hơn một ký lô đang giãy giụa, vùng vẫy dưới nước. Ông bảo
tôi cầm chắc cần câu cho ông. Rồi ông hớt ha hớt hải lấy cái vợt hớt cá lên.
Ông sung sướng nhìn con cá giãy giãy trong lưới. Ông thong thả gỡ lưỡi câu mắc
trong miệng con cá thu, rồi an nhiên ông thả lại nó xuống biển. Con cá bơi đi mất
tăm mà không một lần quay đầu nhìn lại.
Ông rửa tay chỗ vòi nước ngọt, lấy khăn lau tay, rồi lại đặt
lưng xuống ghế. Ông bảo tôi nâng ly cụng với ông. Rồi ông xắn cho tôi nửa muỗng
trứng cá hồi. Ông nói:
“Và đó là lý do khiến cậu nhất định đánh cờ với tôi?”
Tôi nhìn ông gật gật, không nói gì, rồi tôi lại đưa mắt nhìn
về phía bờ xa. Ông nhìn tôi mà không nói gì thêm nữa. Ông bảo tôi rót rượu đi
chứ. “Hậu sinh thì phải rót rượu cho tiền bối chứ. Cậu là người phương Đông mà
phải không.”
Và chúng tôi cứ ngồi đó cho đến cuối hoàng hôn.
5
Tôi bị đánh thức bởi mùi thơm của món thịt nướng Shashlyk bốc
lên từ phía dưới khoang bếp. Garry hẳn đang làm bữa tối cho chúng tôi. Ông ấy sống
một mình nên có vẻ khéo nấu nướng. Món salad và Shashlyk do chính tay ông ướp
và pha trộn đều có một hương vị đặc biệt khác với những gì mà tôi tưởng tượng một
người đàn ông luống tuổi có thể chế biến được. Rõ ràng nó có hương vị gì đó rất
Nga hơn so với những món nhàm chán mà tôi thường dùng tại chuỗi nhà hàng
Gostiny Dvor ở thủ đô Moscow.
Hoàng hôn trên vịnh thật đẹp và yên bình. Mặt trời mùa hè rực
rỡ như lòng đỏ trứng gà cỡ lớn, chiếu ánh đỏ xuống mặt biển như muôn ngàn mảnh
gương vỡ long lanh lóng lánh. Gió lùa từng cơn vào bờ mát lạnh. Đất liền như một
dải khăn xanh ấm áp. Sâu trong vịnh, thuyền về cập bến đổ cá tấp nập, xôn xao.
Chúng tôi ngồi trên boong, cùng nhấm nháp Vodka, trong ánh
hoàng hôn dìu dịu. Hải âu ở đâu cũng kéo về bay lượn chập chờn. Vừa bay vừa kêu
oang oác. Chờ cho tôi chuếnh choáng vì rượu, ông bắt đầu tâm sự:
“Cậu biết thời trẻ tôi say mê điều gì không?”
Tôi gật gù, bảo:
“Ông nói tiếp đi. Tôi đang nghe đây!”
Ông nhìn vào ánh mặt trời đang lặn dần và nói:
“Tôi mê được đi biển, mê câu cá. Tôi thích lênh đênh trên
sóng nước. Thuở nhỏ, tôi có thể ngồi hàng giờ liền chỉ để chờ cá đớp mồi. Tôi
xin được lên thuyền cá gần bờ. Rồi tôi trở thành thủy thủ nhí trên những chiếc
thuyền cá đó. Sáng sáng mùa hè tôi dậy thật sớm, cùng ngư dân ra biển. Đến chiều,
thuyền lại cập bờ và tôi có một ít cá đem về nhà. Thưở đó, tôi có một cô bạn
cùng lớp. Nàng cũng có sở thích đi biển giống tôi. Thỉnh thoảng, từ sáng sớm
tinh mơ, tôi xin phép cho nàng được cùng lên thuyền. Chúng tôi đã có những ngày
tháng tuyệt diệu trong tuổi thơ của mỗi người.”
Mặt trời đã lặn hẳn xuống dưới đường chân trời, nhưng ánh
sáng của nó thì vẫn ngầu đỏ một mảng trời. Dừng một lát, rồi ông nói tiếp:
“Rồi một ngày, bằng cách nào đó người ta biết được tôi có khả
năng chơi cờ vua. Và thế là họ yêu cầu gia đình tôi đưa tôi lên thành phố để huấn
luyện đặc biệt. Tôi giã biệt người bạn gái đầu đời của mình, và không bao giờ gặp
lại nàng nữa. Những ngày đầu, mẹ đưa tôi đi đánh cờ khắp cả nước. Và cả một số
lần ở nước ngoài thi đấu. Sau đó, lớn hơn một chút thì tôi tự đi. Ở đâu có giải
thi đấu lớn, ở đấy luôn có tôi. Và tôi đi một mạch không ngơi nghỉ, cho đến lúc
tôi nhận ra một điều rằng: Không có ai ở ngoài kia là đối thủ của tôi. Đến giờ,
tôi không nhớ mình đã thắng bao nhiêu giải, được bao nhiêu tiền thưởng. Sự thật
là đã lâu lắm rồi tôi không kiểm tra tài khoản ngân hàng. Mà tôi cũng không muốn
quan tâm đến nó nữa. Tiền chẳng là gì với tôi lúc này. Mà nghĩ cho cùng, chúng
ta cũng chưa từng túng thiếu đến mức phải đánh đổi tuổi thơ, sở thích, người
tình, thời gian, và cả cuộc đời của chúng ta. Tiền không bao giờ mua lại được
thời gian đã mất, người tình đã mất, tuổi thơ đã mất. Dù tôi đã trích một ít tiền
mua con thuyền này, chỉ để tiếp tục sở thích đi biển thời ấu thơ của mình,
nhưng cũng chỉ là níu vãn trong vô vọng. Cuộc đời tôi chỉ có thế thôi, có gì là
vĩ đại?”
6
Đêm đó, tôi nằm một mình trên boong. Những lời của Kas vẫn
văng vẳng bên tai, âm ỉ như lời thở than. Gió đêm từ ngoài khơi xa hiu hiu thổi
vào, dịu dàng tỏa mùi mênh mang của đại dương. Trăng vằng vặc sáng như trăng cố
hương. Muôn ngàn ánh đèn nhấp nháo xa xăm từ bờ như ve vãn mời gọi tôi trở lại.
Con thuyền nhẹ nhàng dập dềnh dập dềnh như đang lầm lũi trôi trên dòng thời
gian mênh mông không cùng, không bắt đầu, cũng không kết thúc. Tiếng sóng nhịp
nhàng vỗ vỗ đều đều vào mạn thuyển nghe êm đềm như tiếng gõ cửa thầm thĩ của dĩ
vãng.
Tiếng bíp bíp bất chợt từ chiếc BlackBerry, là tin nhắn từ huấn
luyện viên của tôi. “Tôi đã book vé cho chúng ta đi London chuyến 11 giờ trưa
mai. Nhớ canh giờ đến sân bay nhé! Sẽ là một giải đấu thú vị nữa đấy, nhà vô địch
của tôi.”
Vung tay quẳng chiếc điện thoại xuống biển, tôi như con mèo
lười nằm dài trên boong. Tiếng “bõm” nghe mong manh, rồi nhanh chóng tan hút
vào không gian vô tịch.
Bầu trời trong veo, không một gợn mây. Thi thoảng có cánh
chim lướt qua khung trời, kêu thảng thốt. Tôi nhớ những lời Kas nói về cuộc trở
về vĩ đại của loài cá hồi Thái Bình Dương. Cho đến nay vẫn không ai có thể giải
thích được ý nghĩa của việc những quả trứng cá hồi li ti ở những khúc sông nằm
sâu trong lục địa Bắc Mỹ, cách Thái Bình Dương hai ngàn dặm, nở ra những sinh
linh có tính cách vô cùng đặc biệt, chúng cùng nhau xuôi dòng ra Thái Bình
Dương để trưởng thành, và sau bốn năm trời, chúng lại cùng nhau ngược dòng trở
về đúng cái khúc sông, nơi chúng được sinh ra, để sinh sản và kết thúc một hành
trình dài.
Chẳng ai biết được loài cá hồi kia bơi ra đại dương để làm gì
và suốt bốn năm trời ngoài đại dương mênh mông kia chúng đã làm những việc gì.
Cũng chẳng ai biết được lý do chúng phải vượt ghềnh thác, ngược dòng nước hơn
hai ngàn dặm để trở về chính khúc sông mà chúng từng được sinh ra. Tất cả những
cuộc ra đi và trở về ấy có nghĩa lý gì?
*
Trên đỉnh trời, trăng vẫn vằng vặc sáng như trăng ấu thơ. Tôi
ngắm những vì sao nhấp nháy bằng đôi mắt long lanh ngập ngụa ánh trăng. Ánh
trăng chảy tràn xuống đôi má, xuống hai tai. Ướt đẫm. Nóng ấm.
HOA NIP
27/6/2020
Nguyễn Lê Vân Khánh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét