Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2023
Bảy triết gia cổ đại Trung Quốc
Bảy triết gia cổ đại
Bảy Đại Triết Gia Trung Quốc Đời Chu - Tần
Kịp đến nước Tề, vào yết kiến Tề Tuyên Vương, vua Tề ngỏ ý muốn bàn về sự tích
bá nghiệp của Tề Hoàn Công và Tấn Văn Công thuở trước (Hai vì vua này, từng
xưng bá vào thời Xuân Thu), biểu lộ điều mà vua Tề mong muốn, hẳn là "Phú
quốc cường binh". Song, Mạnh Tử vốn chẳng tán thành lối phú cường của hai
vị bá chủ đó, bèn nói lảng sang đề tài khác bằng lời lẽ biện minh khôn khéo,
mong thuyết phục được Tề tuyên Vương chấp nhận chủ trương "Vương đạo"
của mình. Thuyết Vương đạo mà Mạnh Tử chủ trương, là một lý tưởng chẳng cao xa
lắm, mục tiêu chính trị Vương đạo, chẳng qua là yêu cầu "Người già cả được
ăn ngon mặc đẹp, lê dân chẳng ai bị đói rét". Lý tưởng đó tuy khá khiêm tốn,
nhưng vào thời Chiến Quốc, khói lửa không ngừng, thì dễ ai có thể đạt được? Tề
Tuyên Vương tuy không hoàn toàn đồng ý với lý luận của Mạnh Tử, nhưng hết sức
thán phục tài hùng biện của Người, nên đã mời ở lại làm Quốc khanh (Tương đương
với địa vị cố vấn cao cấp thời nay) . Lúc Tề Tuyên Vương vạch kế hoạch toan
tính đánh lấy nước Yên, có thỉnh ý Mạnh Tử, Người trả lời rằng: "Thủ chi
nhi Yên dân duyệt, tắc thủ chi; thủ chi nhi Yên dân bất duyệt, tắc vật thử . (Lấy
mà dân Yên vui lòng, thì nên lấy; nếu lấy mà dân Yên chẳng vui lòng, thì chớ lấy).
Nhưng Tề tuyên Vương đã bất chấp dân Yên có vui lòng hay chăng, cứ dùng võ lực
cưỡng chiếm nước Yên vào năm 314 tr. CN Đến chừng dân Yên đùng đùng nổi dậy chống
Tê, thì Tuyên vương mới hối tiếc đã không nghe theo lời khuyến cáo của Mạnh Tử.
Giai đoạn đầu, Mạnh Tử lưu trú ở Tề chẳng được bao lâu, thì về Lỗ chịu tang mẹ.
Ba năm sau, khi mãn tang trở lại Tề, tiếp tục ở đến năm 315 tr. CN người Yên dấy
loạn, mới bỏ Tề sang Đằng (Có truyền thuyết khác là, lúc đó Mạnh Tử đi làm quan
Đại phu ở nước Nguỵ). Tại Đằng, mặc dù Mạnh Tử có dịp phát biểu nhiều luận thuyết
quan trọng, nhưng ngặt vì Đằng là một nước nhược tiểu, chu vi chỉ được có năm
mươi dặm, lại nằm vào giữa hai đại cường là Tề và Sở, cho nên, thật tế chẳng có
tác dụng gì cho lắm. Chẳng bao lâu thì Mạnh Tử nhận lời mời của Lỗ Bình Công,
trở về cố quốc, song, bởi có kẻ nói xấu, thọc gậy bánh xe, rút cuộc chẳng được
gặp mặt Bình Công.
Tuân Tử tên Huống , tự Khanh, cũng tự Tôn Khanh. Đời Hán đặt tên sách của Tuân
Tử là "Tôn Khanh Tử", sang thời Đường mới đổi lại xưng hô "Tuân
Tử". Tuân Tử người nước Triệu, sanh vào năm nào không được rõ, chỉ biết
"Niên giám Tuân Tử", bắt đầu ghi chép sự tích của Người từ năm Triệu
Huệ Văn Vương nguyên niên, tức 298 tr. KN. TL và mất vào năm thứ 25 Sở Khảo Liệt
Vương, tức 238 tr. CN. Đại để là, trước 40 tuổi, Tuân Tử chuyên tâm về việc
trau dồi học vấn, khoảng trước sau 50 tuổi đi du hành qua các nước, từ 60 tuổi
trở đi, những năm đầu làm huyện lệnh Lan Lăng của nước Sở, những năm sau thì mở
lớp dạy học, y như Khổng Tử, Mạnh Tử thuở trước. Đúng vào năm 50 tuổi, Tuân Tử
đến nước Tề. Tuy được người Tề hết sức kính nể, đã trước sau ba lần cử làm
"Tế tửu , một danh hiệu vinh dự trong buổi "quốc yến", nhưng rốt
cuộc chẳng được trọng dụng. Sau khi rời Tề sang Tần, Tuân Tử được gặp tể tướng
Phạm Tuy. Lúc đó Tần là một cường quốc, thường ỷ thế mạnh đe dọa chư hầu. Phạm
Tuy hỏi cảm nghĩ của khách ra sao, đối với Tần. Đáp lại câu hỏi đó, trước hết,
Tuân Tử ca ngợi Tần là một nước có tập tục tốt, núi non đẹp, hơn nữa là, quan lại
dốc lòng vì dân, triều đình làm việc mau mắn. Nhưng tiếp theo thì vuốt mặt chẳng
nể mũi, thẳng lời phê bình nước Tần hãy còn khiếm khuyết đạo Nho. Chiếu theo
tiêu chuẩn của Tuân Tử thì, thiếu đạo Nho tức là thiếu Lễ nghĩa, mà lễ nghĩa là
linh hồn của quốc gia. Tuân Tử khen điều hay, chê điều dở của Tần một cách thẳng
thắn, chẳng ngại mếch lòng ai như vậy là thái độ nhận chân nghiêm túc, phải là
phải, trái là trái của con người Nho học. Song cũng vì thế, nên Tuân Tử đã thiếu
dịp may thi thố tài đức, thực hiện lý tưởng chính trị của mình, đành phải trở về
cố quốc. Ở Triệu là nơi nước nhà, Tuân Tử từng biện luận phép dụng binh với Lâm
Vũ Quân, trước mặt Triệu Hiếu Thành Vương. Lâm Vũ Quân dựa vào nguyên tắc
"xuất kỳ bất ý, công kỳ bất bị" của Tôn Tử binh pháp, cho ràng kẻ
dùng binh giỏi, bao giờ cũng "quyền mưu thế lợi " và "công đoạt
biến trá", nghĩa là không từ bỏ bất cứ thủ đoạn gian trá nào. Ngược lại,
Tuân Tử có quan điểm khác hẳn, Người nhấn mạnh kẻ giỏi về quân sự là biết
"thiện phụ dân", tức là dựa vào sức mạnh của dân một cách hiệu quả.
Tuân Tử cho rằng, được dân ủng hộ mới nắm chắc phần thắng, cho nên "thiện
phụ dân", là cái vốn quý nhất của người điều khiển chiến tranh.
Khổng Tử cùng Mạnh Tử, trước sau đều có dẫn nhóm học trò đi chu du liệt quốc,
nghiễm nhiên thành một tập đoàn sĩ nhân, dựa vào lớp người quyền thế trên thượng
tầng xã hội, để hoạt động chính trị, khỏi làm cũng có ăn. Trái lại, Mặc Tử cùng
môn đệ nhà Mặc, vẫn sống tự túc với nghề nghiệp lao động thợ thuyền, bằng tinh
thần khắc khổ, trong khi phải đi tuyên truyền, vận động thuyết "Kiêm ái
phi công". Cho nên Mặc Tử rất ác cảm với hàng Nho sĩ. Có dân Mặc Tử đến nước
Vệ, mục kích người Vệ sống theo lối xa xỉ, rất cảm khái mà nói với quan Đại phu
nước Vệ rằng: "Vệ là một nước nhỏ, lại nằm vào giữa hai nước lớn Tề và Tấn,
chẳng khác nào nhà nghèo sống trong xóm nhà giàu, rồi học theo thói xa hoa,
ngoài khả năng của mình, thì tránh sao cho khỏi sẽ mất nước sớm".
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét