Chân dung Nguyễn Du 2
Tình quê hương của Thúy Kiều
Doãn Quốc Sỹ
Phẫn nộ về thái độ "hèn kém" của Thúy Kiều chịu hầu rượu Hồ Tôn Hiến,
Tản Đà có bài Đường luật vịnh Kiều như sau:Tiếng sấm ân tình bốn mặt ranTướng quân chi tiếc cánh hoa tànĐôi hàng nước mắt đôi làn sóngNửa đám ma chồng, nửa tiệc quan.Tổng đốc ví thương người mệnh bạcTiền Đường chưa chắc má hồng nhan.Trơ trơ nấm đất bờ sông nọ,Hồn có nghe xa mấy giọng đàn.Đào Duy Anh viết trong cuốn Khảo luận về Kim Vân Kiều:"Khi Từ Hải chết rồi, Hồ Tôn Hiến đã không thương hại cho một người đàn bà
vì nhẹ dạ tin người mà giết chồng, lại không biết ơn người giúp mình dẹp yên được
giặc để lập công, nỡ lòng bắt Thúy Kiều đánh đàn hầu rượu. Ta đã thấy Hồ Tôn Hiến
bất tín với những hùng tướng thì cử chỉ của Hồ đây cũng không đủ khiến ta lạ,
nhưng ta phải lấy làm lạ rằng Thúy Kiều vừa mới chôn chồng xong, người chồng bỏ
mạng vì mình, thế mà còn ngồi đánh đàn hầu rượu cho kẻ giết chồng mình được. Ta
có thể dễ hiểu được nếu Thúy Kiều gắng ẩn nhẫn ngồi hầu chờ Hồ Tôn Hiến say mà
rửa thù hoặc nếu Thúy Kiều không lập tâm báo cừu thì cũng mắng vào mặt kẻ vừa lừa
giết chồng mình mà còn toan cử chỉ bất chính với mình. Nàng là người đã đem
thân chịu đựng bao nhiêu nỗi đau đớn ê chề, tưởng nay đã được yên thân và mong
được về quê thăm cha mẹ với tình lang cũ, mà bỗng phút tan tành biết bao nhiêu
hạnh phúc và hy vọng, thì mối chán nản không thể cho nàng còn có nghị lực mà
tính và làm việc báo thù, nhưng trong cơn đau đớn và tức giận kẻ lừa mình nàng
há lại sợ uy thế mà không dám mắng nhiếc sao? Vì sao Nguyễn Du có
ngòi bút chắc chắn như thế mà chỗ này tả tâm lý Thúy Kiều lại sơ hở thế? Thật
ra chỗ này Nguyễn Du chỉ theo khít nguyên văn mà nguyên văn thì
rập lại cái khuôn truyện Thuý Kiều ở Ngu sơ tân chí, Nguyễn Du đọc
tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân thấy Thuý Kiều nhẫn nhục ngồi hầu rượu Hồ
Tôn Hiến mà nghĩ đến thân mình cũng ẩn nhẫn bấy nay mà không kịp nhận ra chỗ
khác nhau của hai tình thế ấy và không thấy được vẻ bỉ ổi trong thái độ của
Thuý Kiều. Song dẫu ta cố tìm lý do để hồi họ, ta cũng không thể chối được đó
là một đoạn đáng tiếc nhất trong Đoạn trường tân thanh".(Đào Duy Anh, Khảo luận về Kim Vân Kiều, Quan Hải Tùng Thư, Huế,
1943, trang 77-79)Trước lời kết tội của Đào Duy Anh, trước lời mỉa mai của Tản Đà, chúng ta
bào chữa cho Thuý Kiều ra sao ở đoạn này? Tôi thiết nghĩ chúng ta có thể nêu
tình quê tha thiết của Thuý Kiều. Trong suốt mười lăm năm luân lạc, một trong
những tình cảm luôn luôn xáo động trong cùng thẳm tâm linh Thuý Kiều là tình nhớ
quê hương. Nàng nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, nhớ nơi có cha già mẹ yếu, em thơ,
nhớ nơi đã cùng chàng Kim thề thốt thuở bắt đầu. Giờ đây chúng ta hãy lần lượt
nghiên cứu tình quê của Thuý Kiều từ ngày ra đi cho tới ngày tái ngộ.Nhớ nhà khi ra đi với Mã Giám SinhSau bữa tiệc tiễn đưa Vương ông ngoài mười dặm tràng đình, Kiều vĩnh biệt cùng
cha mẹ và cảnh lên đường sao mà phũ phàng tàn bạo:Đùng đùng gió giục mây vần,Một xe trong cõi hồng trần như bay.Hiện tại sầu lạnh, tương lai mù mịt như cảnh vật trên bước đường lưu ly:Nàng thì cõi khách xa xăm,Bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây.Kiều thấy tủi hổ trước vầng trăng thề nguyền với chàng Kim trước đây:Dặm khuya ngất tạnh mù khơi,Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.Rồi dò cảnh:Rừng thu tùng biếc chen hồnggợi ý sự vật đang tàn tạ mà liên tưởng đến cha mẹ đương trở về già:Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn.Ở đây Kiều nhớ Kim Trọng trước vì tới tuổi xuân của nàng, với mối tình đầu quý
giá, với sự kiện nàng đã thất tiết với Mã Giám Sinh thì trong việc ra đi này ai
là người thiệt thòi nhất, há không phải chàng Kim? Ngay từ lúc Mã Giám Sinh rước
nàng về trú phường (nhà trọ), Kiều đã có ý tưởng thật là táo bạo:Biết thân đến trước lạc loài,Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.Vì ai ngăn đón gió đông,Thiệt lòng khi ở đau lòng khi đi.Sau đó nàng mới nhớ đến cha mẹ, điều này có thể tha thứ được vì bổn phận đối với
chữ hiếu có thể nói nàng đã làm đầy đủ một phần nào.Nhớ nhà khi ở lầu Ngưng BíchSau một tháng ròng đi đường, Mã Giám Sinh đưa Kiều tới Lâm Tri. Nàng phản đối
không chịu ra tiếp khách và tự vẫn… Tú Bà cứu kịp phải đấu dịu đưa nàng ra ở lầu
Ngưng Bích với lời hứa sẽ "tìm nơi xứng đáng làm con cái nhà".Tới lầu Ngưng Bích khoá kín phòng xuân, giữa cảnh một bên thì biển khơi muôn
trùng, một bên thì cát vàng cồn nọ, ở chung với nàng chỉ gần có bóng trăng, xa
có vẻ núi.Vẫn những lý do trên đây nàng nhớ chàng Kim trước. Mối tình đầu tuy dang dở
nhưng lòng yêu Kim Trọng mãnh liệt xúi nàng đoán rằng chàng vẫn còn mong đợi
tin mình:Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,Tin sương luống những rày trông mai chờ.và thương cho phận mình:Bên trời góc bể bơ vơ,Tấm son gội rửa bao giờ cho phai?rồi nhớ đến cha mẹ và hai em:Xót những tựa cửa hôm mai,Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?Sân Lai cách mấy nắng mưa,Có khi gốc tử đã vừa người ôm.Lần này nhắc đến hai em, Kiều như có tự tôn mặc cảm:Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?Kể cũng dễ hiểu vì Vương Quan là trai nhưng là con út. Thuý Vân thì vô tư lự.
Điều này Kiều biết hơn ai hết: Vân đã trách Kiều bên mộ Đạm Tiên "Khéo
dư nước mắt khóc người đời xưa". Khi Kiều đã bán mình và khóc cho mối
tình dang dở trước khi ra đi với Mã Giám Sinh lúc đó Vân mới sực tỉnh giấc ngủ
êm ái:Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuânDưới đèn ghé đến ân cần hỏi han.Ông Vũ Trinh, quan tham bộ Hình đời trước, đọc đến chỗ này đã phải phát bẳn mà
phê bình rằng: "Thuý Vân xuất hiện ba lần mà lần nào cũng trơ như hòn đá.
Trong hội đoạn trường sao có kẻ ngu xuẩn như vậy, có Đạm Tiên còn làm gì nàng
được nữa! Nàng chỉ đáng cho theo cái thói giàu sang làm bà quan là phải".Tiện thể chúng ta nghiên cứu đoạn dưới nói về sự cô độc của Kiều trước cảnh trời
cao biển rộng quanh lầu Ngưng Bích. Cảnh vật thật não nề sau tình cảm thương nhớ
cố hương:Buồn trông cửa bể chiều hôm,Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.Buồn trông ngọn nước mới sa,Hoa trôi man mác biết là về đâu.Buồn trông nội cỏ rầu rầu,Chân mây mặt nước một màu xanh xanh.Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh,Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.Đã có người giải thích rằng: Cứ mỗi câu Buồn trông… với một ảnh tượng
thị giác có thật thì trong lòng Kiều lại nảy ra một ảnh tượng ảo hiện tương xứng
trong ý nghĩ của Kiều về cuộc đời nàng. Nhìn cửa bể chiều hôm thì trong lòng nảy
ra ảnh tượng thuyền lênh đênh, buồm thấp thoáng; nhìn ngọn nước thì trong lòng
nảy ra ảnh tượng hoa trôi man mác. Nhìn nội cỏ thì trong lòng có ảnh tượng một
màu xanh ngao ngán nối liền trời đất; nhìn gió cuốn mặt ghềnh thì trong lòng có
ấn tượng tiếng sóng.Nhận xét trên đây đã tinh tế! Nhìn ra cửa bể chiều hôm Kiều thấy con thuyền với
cánh buồm thấp thoáng. Thuyền vốn là hình ảnh lênh đênh trôi nổi (như cuộc đời
trôi nổi của Kiều):Chiếc bách buồn vì sự nổi nênh,Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh.("Chiếc bách" – Hồ Xuân Hương)Cánh buồm xa bao giờ cũng đẹp. Nó hiện ra đẹp đẽ như bóng hạnh phúc rồi qua đi
(như hạnh phúc của Kiều):Trời biếc, én nghe chèo vỗ nước,Nhớ nhung ai tiếc cánh buồm xa.(Thế Lữ)Thấy thuyền, Kiều buồn về nỗi lênh đênh của mình, thấy buồm nghĩ đến hạnh phúc
xa dần. Lòng đau đớn tê tái, tư tưởng càng mở rộng, nên khi nhìn ngọn nước mới
sa Kiều như nhìn thấy bằng tâm tưởng – chỉ bằng tâm tưởng thôi – những "hoa
trôi man mác biết là về đâu".Bông hoa bị dòng nước cuốn đi chẳng biết sẽ trôi về đâu cũng như đời nàng bị
dòng định mệnh cuốn đi rồi đây cũng chẳng biết sẽ trôi dạt ra sao.Có lẽ rùng rợn về những hình ảnh rộng lớn và chuyển động của biển cả của dòng
nước, của thuyền lênh đênh, của mặt đất vững vàng những mong trốn thoát ý nghĩ
trôi nổi, lênh đênh, nhưng ở đây trời đất tự xóa nhòa biên giới bằng một màu
xanh ngao ngán, màu xanh của:Vương tôn du hề bất quyPhương thảo thanh hề thê the.(Ly tao – Khuất Nguyên)(Vương tôn ra đi không vềĐồng phương thảo ngút ngàn xanh).màu xanh của:Cùng trông lại mà cùng chẳng thấyThấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.(Chinh phụ ngâm)Hay:Trông bên nam bãi che mặt nướcCỏ biếc um dâu mướt màu xanh.(Chinh phụ ngâm)Rời bỏ đất liền trở lại nhìn biển, Kiều như muốn nhắm nghiền mắt để khỏi phải
nhìn lại những hình ảnh lênh đênh cũ, vì vậy thị giác nhường cho thính giác, ý
nghĩ trôi nổi lênh đênh khuếch đại thành tiếng sóng, tiếng sóng bất tuyệt như mối
sầu của nàng.Nhớ nhà khi ở lầu xanhSau cả một đoạn văn dài 20 câu từ câu 1233: "Khi tỉnh rượu lúc tàn
canh…" đến câu 1253: "… Chẳng vò mà rối chẳng dần mà
đau" tả nỗi đau lòng bi thiết của Kiều khi ở lầu xanh, tới đây nàng lại
nhớ nhà nhưng lần này sự thương nhớ theo một trình tự khác:Nhớ ơn chín chữ cao sâu,Một ngày một ngả bóng dâu tà tà.Dặm ngàn nước thẳm non xa,Nghĩ đâu thân phận con ra thế này!Sân hòe đôi chút thơ ngây,Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình?Nhớ lời nguyện ước ba sinhXa xôi ai có thấu tình chăng ai?Khi về hỏi liễu Chương đài,Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay.Tình sầu mong trả nghĩa dày,Hoa kia đã chấp cây này cho chưa.Mở đầu một câu thơ đột ngột bày tỏ lòng vô cùng thương nhớ cha mẹ. Tình yêu cha
mẹ được gợi lên với một ý nghĩa huyết thống của ơn sinh thành. Theo liền đó là
hình ảnh não nề của cánh đồng dâu xanh dưới ánh chiều tà. Câu thứ ba tăng thêm
sự buồn bã của câu thứ nhì và câu thứ tư diễn tả một ý nghĩa đầy màu tủi hổ.Lần này Kiều không nhớ Kim Trọng trước vì nàng tự thấy cuộc đời của mình đọa lạc
quá rồi chỉ có tình thương yêu cao rộng của cha mẹ mới bao dung nổi.Nghĩ đến hai em, Kiều vẫn giữ tự tôn mặc cảm không hiểu hai em có làm được đầy
đủ bổn phận thay mình chăng.Nghĩ đến chàng Kim ngay câu đầu Kiều như muốn cầu xin lòng đại lượng của tình
lang, những mong chàng hiểu thấu cho nỗi đau khổ của nàng. Sau đó chua xót và hổ
thẹn: liễu Chương đài không những đã bẻ cho người khác mà còn rất nhiều người
chuyền tay nhau nữa. Để tìm lối thoát, để tự an ủi mối tình dang dở của mình,
nàng tự hỏi không biết em đã lấy chàng Kim chưa. Lời cầu khẩn "cho
chưa" tỏ sự mong mỏi chí thành của Kiều vì nếu chuyện đó không thành, lời
phụ ước còn mãi mãi.Nhớ nhà khi ở với Thúc SinhBóng dâu đã xế ngang đầu,Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi?Tóc thề đã chấm ngang vai,Nào lời non nước nào lời sắt son?Sắn bìm chút phận con con,Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?Ở với Thúc Sinh cuộc đời nàng Kiều tương đối yên, nhưng yên theo một thế quân
bình bất ổn vì còn sợ Hoạn Thư. Các câu thơ diễn tả sự nhớ thương cha mẹ, sự
hoài niệm tình cũ, rồi sự lo sợ về tương lai của chính mình đều là những câu hỏi
không có lời giải đáp. Hiện tại còn bất ổn, tương lai chưa biết ra sao nên thái
độ Kiều ở đây như ngại ngùng không muốn suy nghĩ đi sâu vào bất cứ vấn đề gì.Nhớ nhà sau khi đã lấy Từ HảiQuê hương quá xa cách (trong thời gian cũng như trong không gian) nhưng lòng nhớ
quê chính vì thế càng trở nên vô cùng mãnh liệt:Đoái thương muôn dặm tử phầnHồn quê theo ngọn mây tần xa xa.Nhớ đến cha mẹ, Kiều không nghĩ đến bổn phận nữa mà nghĩ đến sự đổi thay:Xót thay duyên cỗi xuân giàTấm lòng thương nhớ biết là có nguôi.Sự đày đọa trong "thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần" đã
khiến Kiều quen với ý nghĩ tình xưa đổ vỡ hoàn toàn. Giờ đây nhắc tới chàng Kim
thì nói là nghĩa (bổn phận nhớ lời thề cũ) chứ không dám nói là tình nữa:Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.Vả nếu Thuý Vân đã lấy Kim Trọng thay mình thì cũng đã "tay bồng tay
mang" rồi. Như vậy giữa nàng với Kiều tương quan đạo đức gia đình
càng trở nên ngăn cách.Căn cứ vào câu "Tiếc thay chút nghĩa cũ càng" mà bảo rằng
tình xưa với chàng Kim đã nhạt cũng đúng. Ta phải hiểu khi nhắc đến chàng Kim,
Kiều còn bồi hồi xúc động lắm nên chi mới phải tìm đủ cớ chứng minh rằng: tình
không còn nữa chỉ còn nghĩa (bổn phận) thôi.Suốt mười lăm năm luân lạc, tình quê nồng nàn canh cánh bên lòng là vậy, Kiều
tha thiết với quê hương đến nỗi Từ Hải cũng đã từng thông cảm mà rằng:Xét nàng còn chút song thân,Bấy nay kẻ Việt người Tàu cách xa.Sao cho muôn dặm một nhà,Cho người thấy mặt là ta cam lòng.Trước khi bàn với Từ Hải nên ra hàng, trong nhiều nguyên cớ cũng có nguyên cớ cố
hương:Công tư vẹn cả hai bềDần dà rồi sẽ liệu về cố hương.Cũng ngôi mệnh phụ đường đườngNở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha.Quê hương nơi kết tụ những hình ảnh quý báu (cha mẹ, em thơ, người tình). Quê
hương nơi ý nghĩ của Kiều luôn luôn hướng về để gửi gắm và đồng thời kết tinh mọi
sầu hận đã qua khiến chúng chợt lung linh đẹp như những vì sao. Quê hương một
linh dược khả dĩ thoa dịu mọi sầu hận hiện tại. Với tình quê muôn vàn tha thiết
đó Kiều tin rằng hễ được trở về quê là mọi sầu hận sẽ tan đi như ảo ảnh. Bão
táp của đời biến thành gió thoảng mùa hè khi nàng nép dưới bóng quê hương như
chàng Antée trong truyện thần thoại Hy Lạp dù sinh mạng có lâm nguy nhưng hễ gặp
đất mẹ là hồi sinh. Tâm hồn và thân thể càng nhàu nát bản năng tự vệ càng hướng
về quê hương, đó chính là lý do khiến nàng Kiều chịu nhẫn nhục đánh đàn, chuốc
rượu cho Hồ Tôn Hiến:Rộng thương còn mảnh hồng quầnHơi tàn được thấy gốc phần là may.Nhưng lúc rạng ngày Hồ công sực tỉnh:Nghĩ mình phương diện quốc giaQuan trên nhắm xuống người ta trông vào.Và quyết định:Lệnh quan ai dám cãi lờiÉp tình mới gán cho người thổ quan.Mộng quê hương tan tành, ngọn lửa tình cảm nhớ quê thoạt bừng bừng nay bị trận
mưa lạnh của thực tế dập tắt ngấm, tiếng nói của lý trí độc tôn vang lên, tới
đây Thúy Kiều mới cảm thấy hết cái bỉ ổi của mình khi vừa chôn chồng xong mà
còn ngồi đánh đàn hầu rượu cho kẻ giết chồng mình. Với Kim Trọng, Kiều đạt đến
cùng tột của mối tình lý tưởng cao nhã, với Từ Hải, Kiều đạt đến cùng tột của
vinh quang, nhưng gặp Từ Hải là sự giễu cợt cuối cùng của định mệnh. Trèo cao
ngã đau, từ là vợ Từ Hải qua Hồ Tôn Hiến đã là một vực một trời rồi, đến phải lấy
thổ quan thì quả thật là:Ông tơ thực nhé đa đoan,Se tơ sao khéo vơ quàng vơ xiên?Chẳng cần phải nhớ lại lời Đạm Tiên nhắn nhủ trong mộng, tới đây Kiều không còn
lựa chọn nào hơn là sự chết. Ấy thế mà tới lúc nàng cảm nhận sự chết thì sự sống
lại đến với nàng! Cái thần diệu của ngòi bút Nguyễn Du chính là ở
đấy.Đọc Tây du ký ta thấy khi sắp tới chùa Linh Sơn, qua biển cả,
Đường Tam Tạng được Tiếp Dẫn Bồ Tát hoá thành người lái thuyền ra đón. Thấy
thuyền không đáy, không chèo, Đường Tam Tạng còn chần chừ thì Tôn Hành Giả đã đẩy
thầy xuống. Đường Tam Tạng ngó thấy trên mặt biển một cái thây trôi vật vờ mới
hỏi đồ đệ rằng: "Đây là đất Tây phương cực lạc của nhà Phật sao lại có xác
người nằm chết trôi ở đây?" Tôn Hành Giả đáp: "Thầy lại còn không biết
ư? Đó là cái phàm thai thầy vừa rũ bỏ trước khi vào đất Phật đó".Đường Tam Tạng khi ấy mới ý thức rằng đó chính là thể phách xưa của mình và phải
một lần rũ bỏ phàm thai người mới đạt tới ý thức chân lý, tới đạo.
Gieo mình xuống sông Tiền Đường há chẳng phải vì tuyệt vọng đến cực độ, Kiều muốn
tự hủy nốt thân mình. Chính vì Kiều trải qua một lần chết thực sự như vậy nàng
mới tỉnh ngộ mà ý thức được rằng hạnh phúc của thế nhân chỉ là tương đối, hạnh
phúc thế nhân chỉ thể hiện đối lập tịnh hành với đau khổ. Thiên đường địa ngục,
hạnh phúc sầu khổ chỉ là một màng ảo hoá Maya. Chân hạnh phúc
không ở ngoài vào mà cốt ở thái độ an nhiên tự tại xây dựng trên sự sống không
ham muốn.Chính vì vậy mà Kiều đã tìm thấy ánh trăng rộng lớn thanh bình trong một nếp sống
thuần phác dưới thảo lư, bên Giác Duyên:Một nhà chung chạ sớm trưa,Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng.Chính vì vậy mà trước cảnh rộng lớn:Bốn bề bát ngát xa trông.Nàng không bận lòng quê nữa, chỉ tiếp tục đắm hồn vào cảnh rộng lớn đó mà vui với
âm thanh kia, màu sắc nọ:Triều dâng hôm sớm, mây hồng trước sau.Chính vì vậy mà khi cha mẹ, các em và chàng Kim tìm đến am mây nàng không muốn
theo gia đình, tới nơi chàng Kim trị nhậm:Sự đời đã tắt lửa lòng,Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi.Rồi nàng viện ra cớ mạnh để xin ở lại chùa là không nỡ dứt ơn cứu sống của
Giác Duyên:Trùng sinh ơn nặng bể trờiLòng nào nỡ dứt nghĩa người ra đi?Vương ông hứa sẽ lập am rước Giác Duyên về cùng tu, lúc đó Kiều mới không
còn chối cãi vào đâu. Về tới nhà mở tiệc đoàn viên, Thúy Vân đề cập đến chuyện
kết hôn, Thuý Kiều vội gạt đi. Kim Trọng viện lời thề cũ cũng bị nàng gạt nốt.
Phải nhờ cả Vương ông, Vương bà, nghĩa là cả nhà hùa nhau vào một phe mới áp đảo
được tấm lòng kiên quyết của nàng Kiều. Nhưng đến lúc động phòng hoa chúc chỉ
còn nàng với chàng Kim đối diện – số phiếu thăng bằng – nàng mới thổ lộ hết lời,
thuyết phục bằng được để chàng Kim đổi duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ.Tâm lý nhân vật uyển chuyển, phức tạp mà vẫn hợp lý, ngòi bút kỳ diệu của Tiên
Điền tiên sinh không hề một chút sơ hở.Nguyễn Du và tình yêuVũ Khắc Khoan… Ta cũng nòi tình…(Chu Mạnh Trinh)Tôi thường ao ước được đọc một thiên tình sử kể lại tóc tơ những cuộc
tình duyên của tác giả Đoạn trường tân thanh. Tôi linh cảm rằng Nguyễn Du đã
yêu, phải biết yêu, đã có nhiều suy nghĩ về tình yêu. Nhưng cho đến bây giờ, cả
một phần sống – phức tạp nhất, dễ thương nhất – của một trang phong lưu công tử "văn
chương nếp đất" "người mẫu" và đồng thời người sáng tạo những
nét hào hoa Kim Trọng, cả phần sống đó vẫn còn im lìm lên bụi, mờ loãng trong
thời gian xa thẳm không bao giờ trở lại. Người tình nhân họ Nguyễn đã
tự lâu nhượng chỗ cho một pho tượng thi bá với một nhãn hiệu "Hoài niệm Lê
triều" (làm như bình sinh, Nguyễn Du chỉ có một hoài niệm
Lê triều!)Nhưng đọc Đoạn trường tân thanh, đọc lại nhất là những vần mô tả tình yêu,
theo dõi những cuộc tình duyên trong tác phẩm, rồi chắp nối, hàn gắn, tưởng
tượng, tôi tự an ủi có thể một phần nào tìm thấy dấu vết những suy tư của họ Nguyễn về
một thứ duyên nợ của kiếp làm người: Tình yêu. Những suy tư đó – hay cho
đúng danh từ thời thượng – luyến ái quan đó chắc là phức tạp, chắc là phong
phú.Người được yêu nhiều nhất trong cuộc đoạn trường đến nỗi mang tiếng là "mắc
điều Tình ái…" chính thị nhân vật của tác phẩm: Thuý Kiều. Đó là điểm
trung tâm của rất nhiều quay cuồng ham muốn, nạn nhân của biết bao là vật lộn
tranh giành, đó cũng lại là đầu mối của tình yêu hiện ra muôn hình vạn trạng,
tùy theo từng trường hợp, tùy theo từng nhân vật nhập cuộc. Lấy tình yêu làm
tiêu chuẩn, đọc Đoạn trường tân thanh, tôi thấy rõ được làm khán giả một
vũ khúc mà người vũ nữ Thuý Kiều phải dấn bước cho tới nhịp nhạc Bạc mệnh cuối
cùng. Mỗi bước của nàng tiêu biểu cho một bộ mặt của Tình yêu: từ bước tình
đầu e ấp chàng Kim, qua bước tình hám [1] nhầy
nhụa sa lầy họ Mã, bước tình si [2] Thúc
Sinh, những bước dập dìu ong bướm, bước tình hiệp [3] người
trượng phu Từ Hải, bước tình hèn quay quắt viên đại tướng họ Hồ, đến
bước mơ hoảng lão Thổ quan.Đến đây vũ khúc chợt ngừng: ngọn triều Tiền Đường đã trùng trùng nổi sóng. Bản
nhạc Bạc mệnh giữ một phút yên lặng để bắt đầu đi vào khúc chót, ý nhạc chuốt
giáng vươn tới một âm giai chót vót. Thuý Kiều bước những bước cuối cùng của vũ
khúc, những bước trinh nữ đăng đàn cầu nguyện. Dáng điệu cuối cùng của vũ khúc
Tình yêu là một dáng điệu mặc niệm.Nguyễn Du trình bày khách quan một thực tại. Trong cái thực tại đa dạng
đó Nguyễn Du đã chọn lựa riêng cho mình một quan niệm. Quan niệm
này tất nhiên chung đúc trọn vẹn vào mối tình đẹp nhất, mối tình gây được nhiều
thiện cảm nhất trong tác phẩm. Mối tình nào?Loại trừ tất cả những gặp gỡ bất đắc dĩ với Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hạnh, Hồ
Tôn Hiến và lão Thổ quan, chỉ còn lại 3 mối tình đáng kể: Kim Trọng, Thúc Sinh
và Từ Hải với Kiều. Tôi có thể loại nốt cả hai mối tình sau. Như vậy là vì nhiều
cớ. Cớ thứ nhất là do cái lý thông thường hiểu nghĩa chữ yêu. Tình yêu không thể
đơn độc một chiều. Tình yêu chỉ có nghĩa khi người trong cuộc cùng đồng thanh
xướng hoạ. Thúc Sinh có thể say mê Thuý Kiều, nhưng đáp lại Thúc, Kiều chỉ cảm
thấy cái ý nghĩa lứa đôi. Từ Hải có thể thành thật yêu Kiều, nhưng đối với Từ,
Kiều chỉ có lòng kính phục. Cớ thứ hai là do sự bất bình đẳng của người trong
cuộc. Đối với Thúc và Từ, Kiều luôn luôn phải mang mặc cảm hàm ơn. Cớ thứ ba là
do sự vắng mặt của một điều kiện căn bản của Tình yêu: sự tự do. Trong cái cảnh
địa ngục lầu xanh tù hãm, Thuý Kiều không thể không hưởng ứng lời đề
nghị của Thúc và Từ. Nói một cách khác, Thuý Kiều không có quyền chọn lựa bởi
không thể từ chối.Ba cái cớ vừa nêu lên lại là ba điều kiện tất yếu để tình yêu nảy nở. Ba điều
kiện đó tôi nhận thấy đầy đủ trong mối tình Kim Kiều. Vậy theo dõi những bước
tiến triển của mối tình này, ta chắc chắn sẽ gặp được những suy tư của Nguyễn về
tình yêu.Trước hết, về mọi phương diện phải công nhận rằng hai bên Kim Kiều đã rất xứng
đôi vừa lứa. Tài ngang nhau, sắc ngang nhau, gia thế xấp xỉ như nhau, cả hai thẳng
thắng vô tư đối diện: điều kiện bình đẳng đã trọn vẹn. Thế rồi hai bên ngẫu
nhiên gặp gỡ. Sự lựa chọn hoàn tất trong một không khí tự do không ràng buộc
hoàn cảnh, không ảnh hưởng tinh thần…Người ta có thể nghĩ rằng Kim Trọng đã lưỡng lự khi nhận thấy:Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai…nhưng trong khoảng thời gian từ lúc:Khách đà xuống ngựa…đến lúc:… tới nơi tự tình.Nhưng trong thời hạn tâm lý giữa hai vần thơ liên tiếp:Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai,Người quốc sắc, kẻ thiên tài…thì Kim đã phải thôi do dự, Kim đã chọn, Kim đã yêu. Bởi Kiều cũng đã chọn, và
Kiều cũng đã yêu. Cả ba điều kiện tất yếu họ Nguyễn đề ra thật đã hiện
diện đầy đủ trong bước đầu Kim Kiều chập chững đi vào tình yêu. Tình yêu nở hoa
trong yên lặng, trong tự do, trong sự đồng tình, giữa đôi lứa xứng đôi:Người quốc sắc, kẻ thiên tài,Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.Chập chờn cơn tỉnh cơn mê…Chiều đã xuống tự lâu, có thể đêm đã bảng lảng bắt đầu. Nhưng trời đất chợt
rung động trước mối tình vừa bén:Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha…Như đã nói ở trên, bước đầu chập chững đã qua. "Tiếng sét ái tình" giờ
đây chỉ còn lại dư âm. Người trong cuộc có thể nhớ nhung canh cánh bên
lòng, "nhớ cảnh, nhớ người", "nhớ nơi kỳ ngộ" lại
cũng có thể thẫn thờ ngắm một ngọn hải đường lả ngọn, lặng nghe những giọt
sương đêm gieo nặng ngoài trời, gieo nặng trong lòng bề bộn, thẫn thờ tự hỏi:Người đâu gặp gỡ làm chi…Nhưng nếu người trong cuộc không có cơ hội gặp nhau, gần nhau, hiểu nhau, nếu
bước đầu tình yêu bồng bột không được tiếp nối bởi những bước xây dựng tiếp
theo, kết tinh qua một thời gian thử lửa thì… tình yêu mặc dầu có nở hoa, hoa
tình yêu rồi ra cũng phải thui chột. Một tâm hồn đa tình như Nguyễn tất
phải biết đến điều đó cho nên liền ngay cuộc gặp gỡ ngày hội Đạp thanh – giai
đoạn thứ nhất – sẽ liên tiếp là 4 lần gặp gỡ.Bốn lần gặp gỡ này hợp thành giai đoạn thứ hai của tình yêu tiến triển, giai đoạn
đôi bên xây dựng tình yêu, giai đoạn của tình yêu kết tinh.Lần thứ nhất là lần gắn bó: hai bên đối thoại, nói lên với nhau hai chữ yêu
nhau:Rằng trăm năm cũng từ đây…Lần thứ nhì gây cơ hội phô tài để hai bên đi sâu vào sự hiểu nhau. Chàng Kim có
dịp phô tài hội hoạ, Thuý Kiều cũng nhân dịp đáp lại, đã để cho người yêu chính
mắt nhìn thấy mà thầm phục cái tài "nhả ngọc phun châu" của mình:Tay tiên gió táp mưa sa…Cũng trong lần này, Kim Trọng lại còn hiểu thêm người yêu trong tận cùng tiềm
thức: Kim biết Kiều luôn luôn bị ám ảnh bởi một mặc cảm: mặc cảm đoạn trường:Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn,Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay…Lần thứ ba là lần thử lửa: người trong cuộc sẽ cùng nhau cảm thông trọn vẹn.
Lúc bấy giờ đêm đã vào khuya, trăng xế đầu cành, thư phòng vắng vẻ, Kim Kiều đối
diện. Bản đàn Bạc mệnh vừa buông tiếng cuối cùng: dư âm còn ngân
vang, còn đọng lại nơi đầu mày cuối mắt của cả người gẩy đàn lẫn kẻ nghe đàn:Hoa hương càng tỏ thức hồng,Đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu.Sóng tình dường đã xiêu xiêu…Và cả hai bên đều cảm thấy xiêu xiêu đến rợn người trước cơn lốc thu hút của vực
sa ngã, lòng vực đen thẳm sẽ là nấm mồ của tình yêu, nếu người trong cuộc không
kịp cầm lòng: họ đều biết rõ như vậy. Nhưng… trăng vẫn còn sáng, đêm vẫn còn
khuya, men tình nồng nàn, men nhạc ngân lên đến tận ngọn núi Thần Châu, đến tận
đỉnh hòn Vũ Giáp… cả hai muốn quên tất cả để lặng chuồi xuống dốc.Nguyễn Du – chính Nguyễn, tôi chắc thế – cũng cảm thấy chóng mặt. Nguyễn nhận
thấy cần phải chấm dứt cuộc thử lửa. Nguyễn dằn lòng hạ bút:… đừng lấy làm chơi!Dẽ cho thưa hết một lời đã nao…Kiều vụt tỉnh và cố gắng cầm lòng, cố gắng dìu Kim Trọng để cả hai cùng cố gắng
dìu nhau vượt qua miệng vực sa ngã.Nhưng Định mệnh đã lảng vảng từ lâu, chăm chú rình mò. Và giữa lúc tình yêu vừa
qua cơn thử lửa để thăng hoa tới tuyệt đỉnh thì Định mệnh phũ phàng lên tiếng:Tin đâu đã gõ cửa ngăn gọi vào…Cũng vì vậy mà lần gặp gỡ thứ tư là lần ly biệt: gặp gỡ ngắn ngủi nhưng ly biệt
dài tới mười lăm năm.Thường thường sau khi kết tinh đến mực chín muồi, tình yêu sẽ bước sang giai đoạn
cuối cùng: giai đoạn thể hiện, giai đoạn hôn nhân. Nhưng Nguyễn Du lại
nghĩ rằng hôn nhân sẽ hạ thấp tình yêu – sự thể hiện nào mà có thể sánh kịp những
ý tưởng còn đang tiềm tàng trong tâm não? Đối với Thuý Kiều, Kim Trọng không thể
là một người chồng. Đối với Kim Trọng, Thuý Kiều không thể là một người vợ. Đối
với nhau, cả hai chỉ có thể mãi mãi là những người yêu.Cho nên với Nguyễn Du, giai đoạn thứ ba của mối tình Kim – Kiều không
phải là giai đoạn hôn nhân. Giai đoạn thứ ba là đêm tái hợp, là đêm Kim Kiều
thỏa thuận:Đổi duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ.Đêm tái hợp nhắc đến đêm năm xưa hội ngộ. Bản đàn cũ khoan nhặt lại vang lên,
nhưng để rồi tắt ngấm. Không khí nay đã khác hẳn. Người trong cuộc mang nặng
thêm mười lăm năm quá khứ, nay cũng đã đổi thay. Người gảy đàn tự nhủ:Cuốn dây từ đấy, về sau cũng chừa…Và cả hai chợt hiểu: đối với họ, đối với mối tình của họ, giai đoạn thứ ba
không thể là giai đoạn hôn nhân. Mối tình đầu đã thăng hoa đến chỗ tuyệt vời.
Giai đoạn thứ ba chỉ có thể là giai đoạn mặc niệm. Trắng đêm lần tái ngộ, người
trong cuộc tìm ra một lối thoát:Duyên đôi lứa đổi làm duyên bạn bầy.Và một thái độ: thái độ của một đôi giáo sĩ cùng chung một niềm thông cảm trước
bàn thờ, nơi yên vị tự mười lăm năm cũ, một mối tình đầu thăng hoa đã đến tuyệt
vời.Trần Thanh HiệpĐể giải quyết mâu thuẫn trong Đoạn trường tân thanhTrên sông Tiền Đường, lúc đó sau mười mấy năm dài đằng đẵng sống trong day dứt,
Thuý Kiều đã không còn tìm thấy đường thoát nào khác ngoài lối đi vào cõi chết.Trước cửa ngõ vũ trụ mở rộng bao la giữa vòm trời cao và con nước mênh mông,
Thuý Kiều lạnh lùng "Đem mình gieo xuống giữa dòng tràng
giang". Giả thử bước đi ấy đã có thể là chuyến trở về theo nhịp điệu
luân hồi thì những tiếng nói mà hậu thế dành cho Thuý Kiều sẽ chỉ còn là những
lời thương khóc một giai nhân đa tài nhưng bạc mệnh.Nhưng mảnh lưới của ngư ông lại cố ý vớt con người tài sắc đó lên, đem trả lại
cho đôi tay âu yếm của một người yêu đính ước là một người chồng mà số mệnh đã
đày đoạ phải xa cách ngay từ phút sơ ngộ.Có thể nói những vấn đề phức tạp nhất của triết lý Đoạn trường tân thanh đều
phát sinh từ cái nút biến chuyển động tác ấy, đưa tới cuộc tái hợp Kim Trọng –
Thuý Kiều tẻ nhạt trong cái không khí tàn tạ của "gương vỡ lại
lành" mà "đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ". Và cái
hình ảnh kết thúc trên đã đem lại cho Nguyễn Du biết bao nhiêu
là lời phê bình, vừa để khen vừa để chê. Đáng lẽ phần trách nhiệm của Nguyễn Du không
vượt khỏi phạm vi trách nhiệm của một dịch giả. Nhưng ngọn bút thần diệu của
thi sĩ họ Nguyễn đã "hoán thai đoạn cốt" cho một Thanh Tâm
Tài Nhân trong Đoạn trường tân thanh. Bởi vậy người ta đã gán
cho Nguyễn Du cái trách nhiệm của một tác giả.Tất nhiên, tùy theo khán pháp nghiên cứu, người ta đặt và sẽ đặt Nguyễn Du trước
nhiều luận thuyết khác nhau. Đi song song với đời sống hơn một trăm năm của Đoạn
trường tân thanh có cả một quá trình phê phán cho đến nay vẫn chưa hề hứa
hẹn chấm hết. Vì tới mỗi một giai đoạn lịch sử mới, người ta lại phải tiếp tục
khai phá thi phẩm này. Người đi trước đã trao lại cho chúng ta ít nhiều mâu thuẫn
trong triết lý Đoạn trường tân thanh. Chúng ta lựa chọn lấy những mâu thuẫn
chính yếu và thử đem giải quyết.I. Những cửa ngõ đưa tới mâu thuẫnBàn tới triết lý Đoạn trường tân thanh, người ta thường phải nhắc đến tư
tưởng Tam giáo. Những mâu thuẫn trong triết lý Đoạn trường tân thanh được
nêu lên từ trước đến nay đều do sự đối chiếu tư tưởng Nguyễn Du trong Đoạn
trường tân thanh và tư tưởng Tam giáo (hay đúng hơn tư tưởng Nho Phật).
Khác với Nho và Phật, Lão giáo không được Nguyễn Du trình bày trực
tiếp như Nho và Phật giáo. Điều này cũng dễ hiểu vì sức tác động của Lão giáo đối
với người Việt Nam xưa kia thường chỉ thể hiện ở hai trường hợp: công phá Nho,
Phật giáo và đồng hoá với phong tục bình dân. Vậy phải xét lại hai nguồn tư tưởng
Phật học và Nho học của Nguyễn Du mà thôi.1. Cửa ngõ Phật học: Từ cửa ngõ Phật học đi thẳng vào triết lý Đoạn
trường tân thanh, khám phá bằng con mắt nghiêm khắc của giáo lý Phật học, người
ta liền nhận thấy ngay cái lệch lạc của Nguyễn Du khi thuyết
minh về Nghiệp báo. Lệch lạc vì bất nhất và không chính thống. Chữ nghiệp của
nhà Phật vốn không chỉ bao hàm một ý niệm đơn giản. Trái lại chữ Nghiệp chứa đựng
một nội dung vô cùng phức tạp. Nó vừa giải thích được những nguyên
nhân bản thể đồng thời lại quy định được cả những phương châm, phương thức,
phương pháp hành động. "Nghiệp" là tâm điểm của hệ thống liên lạc
nhân quả. Con người do hành vi, ngôn ngữ và tư tưởng từ những đời kiếp trước phối
hợp với kiếp hiện tại đã tạo nên cho mình một thân phận, hay nói theo thuật ngữ
Phật học, một Biệt nghiệp. Và tất cả mọi người với biệt nghiệp của họ
đã kiến tạo nên một Công nghiệp của xã hội. Biệt nghiệp và công nghiệp
hỗ tương tác động mà chi phối đời sống con người. Cho nên đời sống đó nằm trong
tay con người mà không phương thức một ý chí tối cao của một đấng toàn trí toàn
năng nào cả.Vấn đề dứt nghiệp không phải là công việc trả nợ, mà là vấn đề chuyển nghiệp.
Nhờ giác ngộ, con người tìm thấy những nghiệp nhân. Tùy theo ác thiện mà diệt
trừ hay tăng trưởng những nghiệp nhân đó khả dĩ cải thiện đời sống của mình và
của xã hội…Trong Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du đã du nhập
vào nội dung của chữ Nghiệp những ý niệm về Trời trong vai trò tư
pháp định công, tội:"Cho hay muôn sự tại trời,Trời kia đã bắt làm người có thân,Bắt phong trần phải phong trần,Cho thanh cao mới được phần thanh cao"."… nhân quả dở dang,Đã toan trốn nợ đoạn tràng được sao?Số còn nặng nợ má đào,Người đà muốn chết trời nào có cho"."Khi nên trời cũng chiều người,Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau".Rồi ngược lại, Nguyễn Du lại nâng cao địa vị con người so với trời:"Sư rằng: giải cứu là duyên,Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều".Chính cái quan niệm mơ hồ về nghiệp báo như vậy đã đẩy động tác đến một kết cấu
tương phản với giáo lý Phật học; Thuý Kiều, sau mười lăm năm chịu đau đớn nhục
nhã, vì tự bán mình chuộc tội cho cha, đã rửa sạch nghiệp cũ, nhận nghiệp mới.
Sự thật, trong suốt thời gian đó, để chuyển nghiệp Thuý Kiều chưa hề diệt trừ hết
những nghiệp nhân xấu vẫn chứa sẵn trong người nàng tự những kiếp nào. Đó là
chưa kể Thuý Kiều đã mắc thêm những tội ác của báo oán để khiến cho "Máu
rơi, thịt nát, tan tành"!Rồi giả thiết rằng Thuý Kiều đã chuyển được nghiệp của mình thì sông Tiền Đường
chính là lối trở về để Thuý Kiều bước sang một kiếp khác nhận một nghiệp mới.
Nhưng cái thân nhơ nhớp đó không thể là nơi chứa đựng nghiệp mới này và cũng
không ai có thể biết trước được thời gian sạch nghiệp như nhà sư Tam Hợp mà chỉ
dẫn cho Giác Duyên đợi chờ bên sông Tiền Đường.Nói tóm lại, tới khám xét triết lý Đoạn trường tân thanh bằng cửa ngõ
Phật học, chúng ta có thể tìm gặp được những mâu thuẫn nội tại của nguồn tư tưởng
Phật học của Nguyễn Du.2. Cửa ngõ Nho học: Nghi ngờ bản lĩnh của Nguyễn Du về Phật
học, như có người đã làm, thì còn là vấn đề phải bàn cãi. Nhưng người ta không
thể chê trách Nguyễn Du về Nho học được, không thể nghi ngờ cả
cái địa vị ưu tú trên văn đàn thời Lê mạt của dòng họ Nguyễn (Nghi
Xuân) mà Nguyễn Du là một phần tử đáng kể. Nhưng qua Đoạn
trường tân thanh, người ta đã tìm thấy nhiều nhược điểm thật sửng sốt đáng lẽ
không thể có được đối với một nhà Nho học uyên thâm như Nguyễn Du:Trước hết là những ý niệm về Trời. Nho giáo công nhận có Trời nhưng Trời chỉ là
một cái lý độc nhất tuyệt đối, Thái Cực, lưu hành khắp vũ trụ, làm nguyên nhân
cho sự sinh hoá của vạn vật. Nhưng cho rằng Lý Thái Cực này quá cao siêu đối với
tri thức của con người nên Nho giáo không tìm đến bản thể, chỉ nghiên cứu những
động thể của Lý Thái Cực mà thôi. Rút lại Trời chỉ còn là một ý niệm của chuyển
động đơn thuần đi đến phức tạp, sinh sinh hoá hoá, vô cùng vô tận. Và sự chuyển
động ấy có tính chất tất nhiên vì theo một quy luật chung. Sự tất nhiên đó là
Thiên Mệnh.Vậy Trời đối với Nho giáo chỉ là một cái Lý vô hình và thiên mệnh chỉ là một biến
động của Lý ấy vốn có chứa đựng trong khắp vạn vật. Tri thiên mệnh vì thế không
phải là thái độ của một tín đồ chịu khuất phục trước uy quyền của một đấng giáo
chủ, mà chỉ là một sự hoà đồng của một phần tử trong cái nhịp điệu biến hoá
đương nhiên của toàn thể.Nhưng với Nguyễn Du, Trời không còn là một lý vô hình nữa, vì đã được
nhân cách hoá. Trời định công, tội cho con người và Trời cũng mang nhiều dục vọng
như con người, ghen cả với sự toàn thiện của con người…Một mặt khác, Nguyễn Du đã vượt khỏi những ràng buộc luân lý Nho
giáo khi để cho Thuý Kiều tự ý thề thốt với Kim Trọng trước khi được phép cha mẹ.
Hành động tự do ấy đã bị các nhà Nho khe khắt lên án. Nguyễn Công Trứ
đã dõng dạc buộc cho Thuý Kiều tội tà dâm khi Thuý Kiều phải vào chốn thanh
lâu:Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải,Tấm thân tàn đem bán lại chốn thanh lâu,Bây giờ Kiều còn hiếu vào đâu?...Dễ đem chữ Hiếu mà lầm được ai?Để cho Thuý Kiều phải gánh tội tà dâm, Nguyễn Du đã xây dựng một
hình ảnh tương phản với hình ảnh Công, Dung, Ngôn, Hạnh của người đàn bà
kiểu mẫu Nho giáo…Kiểm điểm lại, trên địa hạt của Phật học hay của Nho học mà nghiên cứu triết
lý Đoạn trường tân thanh, chúng ta đã ghi nhận được những mâu thuẫn
do Nguyễn Du đã dựng nên đối với Phật học và Nho học. Ngoài những
mâu thuẫn riêng của từng nguồn tư tưởng, còn có mâu thuẫn gây nên bởi sự xung đột
của hai nguồn tư tưởng đó: Cái tất nhiên của thiên mệnh đã bị nghiệp lực phá vỡ
và ngược lại nghiệp lực đã phải chịu sự can thiệp của thiên mệnh và bước song
hành của thuyết Tạo Hoá đố hồng nhan, tài mệnh tương đố, v.v...Trước những mâu thuẫn rõ rệt đó, nếu cứ mượn những ánh sáng của Phật học và Nho
học mà xét đoán thì khó lòng mà có thể dễ dãi với Đoạn trường tân thanh. Từ Nguyễn Công
Trứ, qua Phan Thạch Sơ, Nguyễn Khắc Hiếu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc
Kháng cho đến Nguyễn Bách Khoa, Đức Nghiệp và Minh Hạnh, người ta chỉ
tìm thấy những lời khiển trách nghiêm khắc. Riêng có học giả Trần Trọng Kim, cố
gắng lồng nó vào khung Phật học và Nho học. Dĩ nhiên là tiếng nói ấy chẳng khuất
phục được phe đối lập.Nhưng phải chăng dư luận đó đã thành hẳn một nếp phê bình về Đoạn trường
tân thanh? Nghĩa là Nguyễn Du, bên cạnh sự thành công rực rỡ về văn
chương, đành chịu nhận những lời khiển trách kia chăng? Nếu giả thử rằng không
còn điều gì để bàn luận nữa thì ít nhất cũng còn phải giải thích cái địa vị hiện
tại mà Đoạn trường tân thanh đã chiếm được trong mọi tầng lớp dân
chúng. Chúng ta tin rằng sự kiện đó còn giúp chúng ta khai phá thêm những lối
đi mới và thống nhất những mâu thuẫn các nhà phê bình, đứng trên quan điểm Phật
học và Nho học, đã nêu lên cho đến nay.II. Thống nhất mâu thuẫn từ một điểm khởi hành mớiNỗi khó khăn của những người muốn giải thích bài toán Đoạn trường tân
thanh chính là cái việc phải chứng minh được tính chất thuần nhất của Đoạn
trường tân thanh cả về nội dung lẫn hình thức trước dễ dãi bình
dân cũng như trước khe khắt của trí thức. Đối với bình dân thì công việc được
nhiều phần nhẹ nhàng vì bình dân tiếp nhận Đoạn trường tân thanh không
cần phân tích. Nhưng đối với trí thức thì cũng là một vấn đề khá phiền phức, nhất
là khi phân tích Đoạn trường tân thanh, họ có cả một hệ thống triết lý để
sử dụng. Những lập luận yếu ớt, gượng gạo của học giả họ Trần đã không trấn áp
nổi những lời chỉ trích của những người nhân danh Phật học và Nho học để lên tiếng.
Lại còn có những người vì lúng túng, không tìm được chỗ đứng, đã bỏ qua vấn đề
nội dung để chỉ đề cập tới vấn đề hình thức, cắt xén Đoạn trường
tân thanh cho vừa với lý luận của mình.Chúng ta sẽ cố gắng, với cái nhìn tổng hợp của thời đại, hãy thử bắt tay tiếp tục
hoàn tất cái công việc đang còn dở dang kia. Lẽ tất nhiên chúng ta phải tránh
những bước đi xưa cũ để lên đường theo một hướng mới. Chúng ta khởi hành đúng từ
xuất phát điểm thì sẽ khỏi mắc những tệ bệnh thiên lệch.Đa số người Việt Nam yêu thích Đoạn trường tân thanh là vì họ bắt gặp
hình ảnh, nhịp ý, nhịp tình của họ trong đó. Đoạn trường tân thanh vì
vậy là kết tinh của nền văn học bình dân Việt Nam. Đừng vội cho rằng nói như thế
là đã dung tục hoá Đoạn trường tân thanh. Bông hoa nghệ thuật ấy
đã vươn lên từ đám vườn quần chúng để rồi toả hương sắc cho cả khu vườn văn học
Việt Nam.Tồn tại độc lập đối với những lời phê bình, là một thực tại nghệ thuật, Đoạn
trường tân thanh đã tự biện hộ cho nó. Nếu còn phải nói điều gì, chẳng qua
cũng chỉ để tìm hiểu Nguyễn Du trong việc kết tinh được nền văn
học bình dân bằng những chất liệu do bình dân cung cấp và do chính cá
nhân Nguyễn Du cống hiến. Những chất liệu ấy không còn ở nguyên
trạng nữa, vì đã được nhào nặn để xây dựng thành một áng văn bất hủ. Nhưng để
cho tiện việc trình bày, chúng ta tạm kết tập những chất liệu ấy thành hai hệ
điểm:1. Tín ngưỡng bình dân, nền tảng tinh thần cấu thành triết lý Đoạn trường tân
thanhNguyễn Du trong Đoạn trường tân thanh lúc nào cũng đứng về
phía bình dân mặc dầu văn tài lỗi lạc đã đưa Nguyễn Du lên địa vị
của một trong năm "An Nam ngũ tuyệt". Ngay từ bước đầu, Nguyễn Du đã
muốn rời bỏ mảnh đất bác học của mình:Trăm năm trong cõi người ta,Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.Trải qua một cuộc bể dâu,Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.Lạ gì bỉ sắc tư phong,Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.Hai thuyết Tài mệnh tương đố và Tạo Hoá đố hồng nhan đã được
chiếu rọi qua lăng kính bình dân.So sánh nhập đề Đoạn trường tân thanh với nhập đề Cung oán ngâm
khúc chúng ta sẽ có một chứng cớ rõ rệt:Trải vách quế gió vàng hiu hắt,Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng,Oán chi những khách tiêu phòng,Mà xui phận bạc nằm trong má đào.Ở những đoạn diễn tả tư tưởng bác học, Nguyễn Du chưa khoác hẳn
được bộ áo bình dân. Phải đợi lúc Nguyễn Du trình bày những nhân
vật bình dân hay lúc Nguyễn Du được thảnh thơi không phải suy tưởng,
chúng ta mới nhận đủ bình dân tính của thơ Nguyễn Du. Để kết
thúc Đoạn trường tân thanh đáng lẽ Nguyễn Du đã có thể
ngừng ở hai câu thơ với một nội dung bác học:Thiện tâm ở tại lòng ta,Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.Nhưng Nguyễn Du không quên vọng thêm lên tiếng nói muôn thuở của
đám người đông đảo:Lời quê chắp nhặt dông dài,Mua vui cũng được một vài trống canh.Sự thật đó hình như hay bị lãng quên.Nhiều người vẫn mang một ám ảnh rằng Nguyễn Du đã phải sáng tạo
một thi phẩm theo khuôn khổ bác học, nên họ đã không ngần ngại đem xét xử Nguyễn Du trước
công lý Nho học và Phật học. Và cũng còn có kẻ lại đã đưa Nguyễn Du "đấu
tố" trước toà án giai cấp đấu tranh. Hèn nào mà chả có lắm mâu thuẫn!Hãy trả Nguyễn Du về cho nguồn tín ngưỡng bình dân.Đòi hỏi này sự thật không phải một điều hoàn toàn mới lạ. Nhiều nhà phê bình
trước kia cũng nhắc đến cái nguồn tín ngưỡng bình dân ấy nhưng lại chỉ coi như
một cửa ngách để đẩy lui Đoạn trường tân thanh vào hậu trường. Ở đây
ngược lại, chúng ta chọn nguồn tín ngưỡng bình dân đó làm sân khấu cho nhân vật
trong Đoạn trường tân thanh, và dĩ nhiên cả Nguyễn Du, động tác
trên lĩnh vực của họ. Tự đó, phóng tầm mắt ra bốn phía, chúng ta có thể ghi nhận
được cái khả năng của dân tộc chế hoá các nguồn tư tưởng ngoại lai. Và chúng ta
sẽ thấy các mâu thuẫn lần lần được san phẳng và thống nhất.Danh từ tín ngưỡng này không mang một ý nghĩa thuần tuý tôn giáo. Đối với bình
dân, tín ngưỡng chỉ có nghĩa là một lòng tin hồn nhiên, bằng trực giác, bằng tưởng
tượng, bằng hy vọng, v.v. mà không bắt buộc phải có lòng tôn thờ của một tín đồ
mộ đạo. Cả một quá khứ sinh tồn xa dài mấy nghìn năm đã rèn đúc cho dân chúng
Việt Nam những nếp suy tưởng riêng biệt, quy định bởi những yếu tố chủng tộc,
kinh tế, chính trị. Bởi lịch sử của họ là cả một cuộc trường kỳ đối kháng nên nếp
cảm nghĩ của họ nhẹ phần vô ngã siêu hình, nặng phần hữu ngã. Âu cũng là một cần
thiết để giữ cho họ khỏi bị dịu dàng đồng hoá, tận diệt. Nhưng cái cơ cấu đặc
biệt tinh thần và vật chất của họ, ngoài những phản ứng tự vệ, vẫn giúp họ có
được một đời sống tinh thần phong phú, hiền hoà, không chỉ bó chặt trong thế giới
hữu hình, hiện tại mà còn vươn tới thế giới vô hình, quay trở về dĩ vãng, hướng
lên tương lai. Họ hình như có liên lạc thường xuyên với vũ trụ vạn hữu, những
liên lạc họ thiết lập một cách hồn nhiên bằng trí tưởng tượng mà không bằng những
suy tưởng siêu hình [4].Trên nền tảng bao gồm những tương quan đó họ quy định tiêu chuẩn để nhận thức
và hành động. Nhưng không phải là để phục vụ cho một lý tưởng nào cao xa mà để
phục vụ cho đời sống hằng ngày của họ thêm đầy đủ ý nhị. Có thể nói họ đã chấp
nhận một luật tắc trung tâm mà họ tin chắc rằng đã chi phối đời sống con người:
Luật Nhân Quả. Đó là một lòng tin thiết thực và hợp lý có thể được minh chứng
và củng cố bằng kinh nghiệm. Luật tắc đó sẽ biến dạng qua nhiều sắc thái để giải
thích dẫn đạo sự sống tại khắp mọi mặt: luân lý, văn chương, luật pháp, v.v... Nó
không kiến tạo được một hệ thống thuần tưởng nhưng nó tan biến vào tâm trí bình
dân Việt Nam.Tất cả mọi nguồn tư tưởng ngoại lai nào du nhập Việt Nam đều gặp phải
cái chủ quan đó. Nếu là đồng tính thì nguồn tư tưởng ngoại lai được thấm nhập
trực tiếp. Đạo Lão với tính chất phóng khoáng, tự do đã ăn sâu vào dân chúng Việt
Nam để trở thành phong tục (cúng lễ, đồng bóng, v.v.). Nếu là dị tính thì liền
gặp ngay một sự đối kháng lúc ào ạt, lúc mềm dẻo để đi tới kết quả là tu chỉnh
nguồn tư tưởng cho thích hợp với chủ quan Việt Nam.
Đại diện cho cái chủ quan bình dân Việt Nam, Nguyễn Du đã tu chỉnh
hệ thống tư tưởng của Phật giáo và Nho giáo. Nguyễn Du đã mang
thêm một ý niệm về Trời, không phải của Phật giáo (vì Phật giáo không bàn đến
Trời) mà cũng không phải của Nho giáo (Trời của Nho giáo là một cái Lý vô
hình). Chính là của bình dân Việt Nam. Để chế ngự xu hướng tự do quá khích hoặc
lòng tham không bờ người ta đã phải ước lệ một trọng tài: Trời.
Không có Trời, ai ở với ai.
Đối với bình dân chính Trời đã nhận rõ hiếu tâm của Thuý Kiều, đã nhận rõ Thuý
Kiều không mắc tội tà dâm. Tuy nhiên Thuý Kiều là người đa tình có lẽ vì đa
tài. Mà tất cả những thứ gì quá độ đều nguy hiểm. Hình phạt mười lăm năm phong
trần đã quá đủ để cảnh tỉnh Thuý Kiều. Nên Trời đã không bắt Thuý Kiều chết,
cho nàng được sống tái hợp với Kim Trọng. Trời ở đây là một cơ quan vô hình giữ
trọng trách điều chỉnh xã hội. Cũng bởi thế cho nên Thuý Kiều mới được báo ân
và trả oán đến máu rơi, thịt nát… (điều mà Phật giáo ngăn cấm). Ý niệm
Trời của bình dân Việt Nam là một ý niệm hết sức linh động. Nhưng có một đặc điểm
là bình dân Việt Nam chỉ đem ý niệm Trời phụ thuộc vào đời sống của mình mà
không đem đời sống của mình phụ thuộc vào ý niệm Trời. Và thiếu ý niệm ấy,
trong mỗi cá nhân sẽ mất những giềng mối bảo vệ đời sống xã hội khỏi hỗn loạn.
Người ta đã đặt vấn đề Hiếu trong Đoạn trường tân thanh. Nguyễn Công
Trứ đã nghiêm khắc phủ nhận hiếu tâm của Thuý Kiều mà kết luận rằng nàng chỉ là
người tà dâm. Vì rằng việc Thuý Kiều ở lầu xanh đâu có là chỉ vì để chuộc tội
cho cha. Đó là Nguyễn Công Trứ đã mượn luân lý Nho giáo mà xét xử.
Nhưng chữ Hiếu của bình dân Việt Nam thiết thực và giản dị hơn chữ Hiếu của Nho
giáo. Nó không là những nghi tắc phiền toái cứng nhắc khiến con người phải quên
thân mình đi (cha mẹ còn sống không được đi xa, cha mẹ khỏe đánh đập con
không được kêu đau, cha mẹ già đánh đập con phải giả vờ kêu đau, v.v...). Đối
với họ, Hiếu là tình tri ân công đức cha mẹ nuôi dưỡng, tượng trưng cho sự ràng
buộc máu mủ giữa các thế hệ. Người con có hiếu không bắt buộc phải gò ép vào những
khuôn phép hình thức. Thuý Kiều tuy không đợi lệnh cha mẹ đã đính ước với Kim
Trọng nhưng bán mình chuộc tội cho cha vẫn là người con có hiểu. Và cái hành động
hy sinh ấy không là cận nhân thì cũng là viễn nhân của việc Thuý Kiều vào thanh
lâu hai lần để rồi hy vọng tìm một cơ hội tự giải phóng. Chưa ai muốn vào thanh
lâu để thoả mãn lòng tà dâm!
Tóm lại, nguồn tín ngưỡng bình dân đã giúp Nguyễn Du cải bổ tư
tưởng Nho học và Phật học thuần tuý, thích ứng với chủ quan Việt. Học thuyết Duy
Nghiệp chỉ còn rút lại thành một luật tắc: Nhân Quả đơn giản như những câu ca
dao:
Ở hiền gặp lành
Cây xanh cành lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con
Đời cha ăn mặn, đời con khát nước…
Và nền luân lý Nho giáo đầy thành tích đã biến cải thành một nền luân lý bình
dân phù hợp với nhân tính.
Chúng ta có thể thấy rõ rằng chọn tín ngưỡng bình dân làm cứ điểm lập luận,
không những chúng ta giải quyết được những mâu thuẫn kể trên mà còn có được
thêm một viễn kiến sâu xa khám phá Đoạn trường tân thanh.
Tuy nhiên cần nói ngay rằng tín ngưỡng bình dân không phải là một yếu tố duy
nhất quyết định sự thành công của Đoạn trường tân thanh. Chúng ta không thể
bỏ quên được sự đóng góp của cá nhân Nguyễn Du.
2. Sự cống hiến của chủ quan Nguyễn Du
Đến với bình dân, đứng chung một vị trí với bình dân, Nguyễn Du đã
không chỉ giữ một thái độ thụ động. Như một cái cây mọc trên đất bình dân, được
chất màu bình dân nuôi dưỡng, Nguyễn Du đã mang lại cho thơ bình
dân những cống hiến đặc sắc tiến thăng tư tưởng bình dân.
Trước hết Nguyễn Du đã thu xếp cho cái hồn nhiên bình dân gặp gỡ
cái suy tưởng sâu sắc bác học. Chữ Nghiệp của nhà Phật giúp cho bình dân đào
sâu luật nhân quả, khám phá giải thích sự sống. Chữ Tâm cũng truyền cho bình
dân ý chí quay trường, chọn mình làm trung tâm điểm của đời sống.
Nhưng điều đáng kể nhất là Nguyễn Du đã khơi nguồn rung cảm cho
bình dân để nâng cao trình độ thưởng ngoạn. Chúng ta đừng quên rằng Đoạn
trường tân thanh trước hết là một tác phẩm văn nghệ. Nhờ hai giả thuyết
"Tài, Mệnh Tương Đối" và "Tạo Hoá Đố Hồng Nhan", Nguyễn Du có
thể đẩy tới cực độ của nó, thảm kịch Thuý Kiều, thảm kịch xã hội Thuý Kiều, mà
không phải là hoàn toàn bịa đặt. Lòng chúng ta sẽ chan chứa yêu thương, giận
thù, kinh tởm những hiệp thông mà Nguyễn Du trình bày
trong Đoạn trường tân thanh. Người bình dân không phải nhọc nhằn gì mới có
thể hiểu được rằng:
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau…
và:
Nghĩ đời mà ngán cho đời
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen…
Thế thì hai cái giả thuyết này, có thể mâu thuẫn với thuyết Duy Nghiệp của
Phật giáo, đã tự lý giải được sự hiện diện trong Đoạn trường tân thanh.
Tất cả những kỳ công kể trên, Nguyễn Du dã thực hiện bằng một thứ
linh cảm đặc biệt mà người ta chỉ tìm thấy ở những thi hào. Linh cảm đó trùng
khít Nguyễn Du với vạn vật, rung lên nhịp điệu của tiếng than,
tiếng cười, tiếng khóc, tiếng lá rơi, nước chảy, gió reo, của hoa nở, trăng
lên, sóng vỗ, v.v... và Nguyễn Du đã dẫn dắt theo mình cả một đám
dân chúng quảng đại. Vì Nguyễn Du đã nói tiếng nói của họ, đã
rung cảm, suy tư từ tâm trạng họ. Sự kiện ấy bó buộc Nguyễn Du phải
phá vỡ những nguồn tư tưởng bác học chứa chất trong mình, điều mà tất cả những
ai còn đứng riêng rẽ trên địa hạt của từng nguồn tư tưởng đó không khỏi bất
bình vì những mâu thuẫn Nguyễn Du đã tạo nên cho họ.
Tới đây chúng ta tạm thời có thể kết luận. Nhưng trong cái khuôn khổ của một Nguyễn Du tác
giả kết tinh của tín ngưỡng bình dân Việt Nam và của một Đoạn trường tân
thanh, tác phẩm kết tinh của văn nghệ bình dân Việt Nam.
Những mâu thuẫn mà thoạt đầu chúng ta tưởng sẽ phải bó tay, vô phương giải quyết
thì dưới ánh sáng của một triết lý sống bình dân, đã tiêu tan để thống nhất một
cách thoả mãn trong một toàn thể thuần nhất.
Chúng ta chưa dám đoán quyết rằng Nguyễn Du đã giải thích đúng đắn,
giải quyết đúng đắn những vấn đề cá nhân và xã hội. Nhưng chúng ta dám khẳng định
rằng Nguyễn Du đã trình bày rất sống những sự thật mà hiện nay vẫn
còn bắt gặp bất luận ở Đông phương hay Tây phương. Thảm kịch Thuý Kiều không phải
chỉ là đau xót riêng tây của Nguyễn Du, của chúng ta, những người Việt
Nam trong khoảng hơn một thế kỷ nay, mà của loài người tất cả đang run sợ trước
những trang sổ mở đoạn trường vĩ đại. Tiếng nói Nguyễn Du sẽ chỉ
mất hết mầu nhiệm ngày nào mà nhân loại không còn phải nhỏ lệ khóc cho thân phận
con người.
Còn một điều khá quan trọng đáng lưu ý chúng ta đó là việc còn phải phân biệt
bình dân với bác học. Nguyễn Du đã mang cái vốn tư tưởng sở đắc
trong Nho và Phật học cống hiến cho bình dân. Có thể là chúng ta vẫn còn nhiều
bất mãn đối với nguồn tư tưởng bình dân, thể hiện qua Nguyễn Du trong Đoạn
trường tân thanh, những bất mãn của con người hôm nay đối với những con người
hôm qua. Nhưng phần lỗi ở Nguyễn Du hay ở đám người mà Nguyễn Du đã
phản ảnh dưới ngọn bút thi thánh của mình?
Phải chăng những giọt nước mắt mà Nguyễn Du chờ đợi là những giọt
nước mắt của những kẻ tri âm, nối nghiệp?.
Chú thích:
[1] Chữ mượn trong cuốn Tình sử
Trung Hoa
[2] Chữ mượn trong cuốn Tình sử Trung Hoa
[3] Chữ mượn trong cuốn Tình sử Trung Hoa
[4] Xin xem thêm: "Thần tri và Hồn tính của
dân tộc Việt Nam", Nguyễn Sĩ Tế, Sáng tạo, số 4, tháng Giêng
1957
Cửa vào Đoạn trường tân thanh
Thanh Tâm Tuyền
Có người hỏi ta rằng: Thúy Kiều có phải là người thật hay không? Ta đáp rằng:
Không biết. Người ta lại hỏi rằng: Thế thì làm sao mà lại có truyện Thúy Kiều?
Ta đáp lại rằng:
Từ lúc mờ mịt chưa có gì, đến lúc có thái cực, có lưỡng nghi, có tứ tượng, rồi
tự nhiên biến hoá không ai dò được manh mối tự đâu. Trong khoảng ấy có rét, có
nóng, có âm, có dương, lúc sinh ra, lúc mòn đi, lúc đầy lên, lúc vơi xuống,
không thể nào giữ mãi được mực thường. Đã không giữ được mực thường thì tất có
cuộc biến. Vì thế hoặc năm sáu trăm năm, hoặc ba bốn trăm năm, hoặc năm sáu
mươi năm, cũng phải có một lần biến. Cái biến ấy đã khác với cái thường, thì
phàm ai gặp phải thời ấy, bước vào cái cảnh ấy, ngổn ngang những biến cố ở
tình cảm ắt, chồng chất những khối lỗi ở trong lòng, mới phải mượn đến bút
mực để chép ra, như những truyện anh hùng, truyện phong tình, truyện trung thần,
liệt nữ, truyện đạo sĩ ni cô, chẳng qua là mượn ngòi bút, tờ giấy để chép những
cái cảnh ngộ lịch duyệt của bản thân mà thôi. Truyện Thuý Kiều có lẽ cũng
là một thứ sách như thế cả.
Phong Tuyết, Chủ nhân Thập Thanh Thị:
… nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả ngàn đời
thì tài nào có cái bút lực ấy.
Tiên Phong, Mộng Liên Đường chủ nhân:
Giữa những đêm tối vô cùng, sự thao thức kiếm tìm giấc ngủ bình yên dìm đắm ý
thức vào một luồng chập chờn hư vô bất tận. Chợt trong khoảnh khắc nào đó, con
mắt bỗng nhận ra đang nhìn đêm tối; như tia chớp lòe lên, ý thức bỗng sáng rõ
nhìn suốt thấy mình. Đó là lúc ngoại giới tan biến mất, chỉ còn ý thức đối diện
với chính nó theo một nhịp quằn quại triền miên, đó là lúc ý thức muốn nhận định
hình dáng của chính nó trong tự thân không chịu để mất mình ở ngoại giới; đó là
lúc đau đớn nhất của ý thức, cưỡng lại sức cuốn hút của ngoại giới nó tự giam
mình vào nỗi cô quạnh chỉ ở nó.
Nỗi cô quạnh hãi hùng đầy ý thức vào thật sâu trong nó, trở ngược về quá khứ, gặp
lại cái dòng sống đã trôi qua, cái dòng sống đã từng hiện hữu, lối giải thoát độc
nhất và nguy hiểm cho ý thức. Độc nhất vì hiện tại lúc này cũng chập chờn và tù
túng như ý thức, nguy hiểm vì có thể quá khứ là một vật không hồn chết cứng mà
ý thức chỉ lởn vởn xung quanh than khóc thương tiếc. Phút linh diệu bắt đầu khi
ý thức mở được cửa quá khứ thoát ra cùng ngoại giới trông suốt trong một cái
nhìn cả cuộc đời huyền bí: Ý thức nhập thể vào tác phẩm. Một tác phẩm chỉ làm bằng
những cái đã qua, không làm bằng những cái sắp tới.
Mộng Liên Đường chủ nhân đã viết: Người đời sau thương người đời nay, người đời
nay thương người đời xưa, cũng chỉ là một – Giải thoát cái ý thức tù
túng, Nguyễn Du đã trở ngược quá khứ gặp nàng Kiều, mở
cửa nhìn ra đời bằng Đoạn trường tân thanh; chúng ta tìm về Nguyễn Du nơi
tác phẩm của người cũng bằng con đường ấy: con đường độc đạo của nghệ thuật.
Thiên tài vốn dĩ là cô đơn. Phải hiểu nghĩa câu ấy cho chân xác. Đó
không phải là sự cô đơn tầm thường khoảnh khắc, sự cô đơn của kẻ bỗng chốc thấy
mình chia lìa cùng cuộc đời. Cái ý thức quằn quại giây lát là những phút cô đơn
của người đời, khi nó trở vào sâu tìm kiếm hình dáng một cách bướng bỉnh và
không ra thoát là nỗi cô đơn của kẻ lạc loài, chỉ khi nào cái ý thức nhập một
vào tác phẩm lúc ấy mới là nỗi cô đơn của thiên tài. Đó là nỗi cô đơn rộng lớn
lắm vì ý thức đã trở về với đời và ôm lấy cuộc đời một mình, người đời buông
cho ngoại vật ôm lấy ý thức, kẻ lạc loài là ý thức ôm lấy ý thức.
Cái ý thức của thiên tài không thể bảo là cô đơn theo nghĩa thông thường vì nó
không là sự cách biệt tối tăm, nó là luồng sáng trong khoảng nhất định nào của
cái ý thức bao trùm – ý thức thời đại – soi rọi vào đời sống. Đó là nỗi cô đơn
sâu thẳm bởi thiên tài đã "nhìn thấu sáu cõi, trông suốt nghìn đời".
Cái đêm tối khi Nguyễn Du tỉnh giấc đã kéo dài ba trăm năm, cơn
khủng hoảng xã hội bắt đầu từ thế kỷ XVI khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê vẫn chưa
dứt. Trước Nguyễn Du, không phải là sự mê muội hoàn toàn, đã có những
sự thức tỉnh không đáng kể. Ở Nguyễn Du là sự thành hình của cái
ý thức đã quằn quại quá lâu. "Bất tri tam bách dư niên hậu…" tại
sao Nguyễn Du lại chờ đợi tri âm ở người ba trăm năm sau, nếu
không phải là người đã thương kẻ ở ba trăm năm trước? Kẻ ba trăm năm trước tại
sao người ta chỉ nghĩ là một nàng Kiều ở chân trời mơ mộng nào đó mà
không phải là những kiếp người đày đoạ có thật trong suốt ba trăm năm lịch sử
mà Nguyễn Du đã sống? (Nguyễn Du đã sống vài chục năm
trong khoảng ba trăm năm, nhưng ý thức của người đã thâu nhận, chịu đựng hết cả
ba trăm năm ấy). Tiếng kêu đoạn trường này sao người ta không nghe thấy là tiếng
kêu ba trăm năm? Sao người ta chỉ nghe là tiếng kêu của tâm sự cá nhân, của một
thời đại ngắn ngủi bằng kiếp sống của thiên tài?
Bởi thế muốn hiểu cho nổi Nguyễn Du, người ta phải trông rõ cái ý thức
trước khi nhập vào Nguyễn Du đã thế nào, người ta còn phải định
lại những ý niệm cho chính xác tương ứng với những danh từ quá quen thuộc mà
người ta vẫn hiểu cạn hẹp nên sai lệch khi nhắc đến Nguyễn Du. Đọc lại
những bài viết về Tố Như của kẻ đồng thời, tôi thấy người ta hiểu Tố Như hơn những
kẻ sinh sau.
Trong suốt ba trăm năm tối tăm nhất trong lịch sử, cái ý thức chỉ tỉnh được ở
lúc khởi đầu và lúc tận cùng, còn lại là mê muội hoảng hốt. Khởi đầu là sự sáng
suốt rất gần với Đạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhà thi sĩ đồng thời là
tiên tri ấy trông trước được cái bước đường sắp tới của thời cuộc, nhận định rõ
cơn khủng hoảng trầm trọng của lịch sử, chọn lấy cái an nhiên của đạo sĩ. Cái
an nhiên trong đời sống nhất là trong thi ca của Bạch Vân sau này không thể nào
tìm lại được, có thể bảo Bạch Vân tiêu biểu xứng đáng nhất cho tư tưởng của Lão
tử trong văn chương của chúng ta. Không kể đến cái cốt cách lẽ đạo của Nguyễn Bỉnh
Khiêm thực hiện được là bởi người sống trong cái thế kỷ đầu tiên của thời kỳ,
áp lực của ngoại giới chưa đủ sức nặng giam giữ ý thức.
Sau đó không bao giờ chúng ta còn gặp lại cái con người hồn nhiên yêu đời thảnh
thơi như thế nữa:
Chín mươi thì kể xuân đà muộn,
Xuân ấy qua rồi xuân khác còn.
Cái thế kỷ XVII là một sự im lặng, lạnh lẽo, cuộc chiến tranh Nam Bắc thực sự
khai diễn từ 1627 đến 1672. Mãi đến đầu thế kỷ XVIII, ý thức mới bắt đầu trở
mình. Tiếng nói đầu tiên là lời ca thán: Khúc Chinh phụ ngâm của Đặng
Trần Côn, tác phẩm được các danh sĩ đương thời tán tụng. Chinh phụ
ngâm tuy mới là sự nhận thức khách quan một hoàn cảnh chưa có gì là bi thảm
tuyệt vọng, một tác phẩm còn yên ổn lắm, nhưng nó đã báo hiệu được sự quay về của
ý thức với đời sống. Chưa đi sâu vào tư tưởng triết lý nhưng cũng không đứng lại
ở luân lý đạo đức, Chinh phụ ngâm chỉ là tác phẩm tự tình, nghĩa là
hoàn toàn nhân đạo. Nó không chủ ngợi ca cái khí phách anh hùng của chàng tuổi
trẻ vốn dòng hào kiệt, cái đức hạnh gương mẫu của người chinh phụ chờ chồng, nó
không là khúc anh hùng ca, nó là một khúc bi ca về thân phận của "khách má
hồng" trong "cơn gió bụi". Người ta đã nghe thấy thấp thoáng đâu
đây cái tiếng nói thành thật của nhân loại muốn đòi thấy hạnh phúc của mình:
Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy,
Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau,
Thiếp xin chàng chớ bạc đầu,
Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung.
Một thứ hạnh phúc gần gũi với hiện tại, hết sức tầm thường và thế tục. Tại sao
lại không như thế?
Và một khi ý thức đã tỉnh dậy thì nó chỉ còn một đường là mỗi ngày mỗi vào sâu
trong nó, khắc khoải hơn cho đến khi nào giải phóng được hoàn toàn. Tới Cung
oán ngâm khúc, tiếng kêu đòi hạnh phúc rõ ràng hơn, thúc bách hơn, tầm thường
hơn, não nùng tuyệt vọng hơn và cũng bi thảm hơn bao giờ. Ngoài ba trăm câu thơ
suy nghĩ những nỗi khao khát thèm thuồng cực lực sự vuốt ve ôm ấp của hạnh phúc
(ở đây các nhà đạo đức hãy ngoảnh mặt tránh xa, không phải chỗ của họ nữa) mà
chỉ là hạnh phúc vật dục thôi. Sự thèm khát cuồng bạo ấy đã sinh ra một thứ nghệ
thuật độc đáo: Nghệ thuật chú trọng vào cảm xúc giác quan; tác phẩm đầy dẫy người
hình ảnh thô bạo, những cảm giác táo tợn vui tới độ tan hoang thần phách, buồn
tới độ chết lịm thịt da:
Cung đàn, càng địch, càng mê,
Càng gay gắt điệu, càng tê tái lòng...
Giết nhau bằng cái Lưu Cầu,
Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa.
Sự nhận thức của Cung oán ngâm khúc không dưng lại trong một cảnh ngộ
riêng, nó muốn mở rộng bao lấy cái kiếp nhân sinh này, Cung oán ngâm
khúc là một tác phẩm triết lý. Triết lý bi thảm quá mức, kiếp sống có
nghĩa là khổ đau như là một lò lửa lớn, con người không còn một chút tự do nào
hết và bi phẫn tới độ nếu có thể dám chống lại Định mệnh:
Đang tay muốn dứt tơ hồng,
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra.
Với Cung oán ngâm khúc, con người bị dồn vào thế tuyệt vọng cô độc
hoàn toàn không một sự giúp đỡ, không một nguồn an ủi. Tiếng ca thán cất lên
trong đêm thu lạnh lẽo, trong cung quế vắng ngắt, không bóng dáng đồng loại. Một
thế giới thê lương hiu quạnh chưa từng thấy.
Có ai nghe thấy tiếng oán than ấy trong cái thế kỷ hỗn loạn mê hoảng là thế kỷ
XVIII? Cái ý thức quằn quại bắt đầu thành hình ở Nguyễn Gia Thiều, cái
con người đã phải giả điên ở cuối đời mình để cô đơn ôm lấy ý nghĩa của kiếp sống
tìm thấy.
Năm 1798, Nguyễn Gia Thiều mất trong cảnh ẩn dật ở Tây Hồ. Vào lúc ấy Nguyễn Du cũng
đã sống hết cuộc đời của người, cuộc đời suy nghĩ, trở về nương náu ở quê nhà.
Bên dòng Lam Giang, trên đỉnh Hồng Lĩnh, trong cảnh cô đơn, cái ý thức của người
sáng dần lên rực rỡ khi quay nhìn lại bao nhiêu biến cố đã trải qua, những mộng
ước cùng hoài bão đã tan tành. Ba mươi tuổi đầu tóc bạc trắng, vì lo lắng phiền
muộn, vì cảnh đói khổ lang thang mười năm ở đất Bắc sau cuộc Cần Vương thất bại,
vì bệnh tật không thuốc thang, thân thể thì gầy mòn, tinh thần thì "đóng cửa
gối cao nằm khểnh chơi, mắt xem việc đời như phù vân, lưng đeo kiếm dài trước
gió thu" [1] .
Có thể lấy lời của Nguyễn Gia Thiều mà chỉ Nguyễn Du –
tôi coi Nguyễn Gia Thiều và Nguyễn Du đồng thời với
nhau và so sánh tác phẩm của hai người để soi sáng lẫn cho nhau:
Hình thì còn bụng chết đòi nan,...
Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc,
Lớp cùng thông như đốt buồng gan.
Bệnh trần đòi đoạn tâm can,
Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da
Gót danh lợi bùn pha sắc xám,
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê…
Có thế mới hiểu cái thái độ của Nguyễn Du khi miễn cưỡng nhận lời
mời của Gia Long, cái hình bóng vất vưởng của Nguyễn Du trong
sân triều nhà Nguyễn, cái lời nói cuối cùng của người khi từ biệt cõi thế.
Cho nên phải nhận định trong mười năm của triều Nguyễn, người có đó mà sự
thật người đã xa lìa cái thế giới ấy rồi.
Nhưng vượt hơn Nguyễn Gia Thiều, trong cuộc hành trình tìm về đời sống,
ý thức của Nguyễn Du không chỉ ôm lấy cái đau khổ riêng tư để
suy lý về kiếp nhân sinh trừu tượng, trong ý thức của Nguyễn Du còn
thấp nhập những nguồn đau khổ gớm ghê của kẻ khác, thập loại chúng sinh, những
người có thật trong một kiếp sống chồng chất những thảm sầu từ ba trăm năm. Bởi
thế cái thế giới của Nguyễn Du cũng thê thảm, cũng bi đát như thế
giới của Nguyễn Gia Thiều nhưng chưa đến nỗi tuyệt vọng như Nguyễn Gia
Thiều. Cơ cứu khổ vẫn còn, những oan hồn lẩn quất tìm được lượng từ bi của Phật
tổ, nàng Kiều sạch nợ ở bến sông Tiền Đường vì "thiện tâm" của nàng.
Diễn trình ý thức ở Nguyễn Gia Thiều đi đến tự hủy, ở Nguyễn Du đi
đến hồi sinh. Và thiên tài Nguyễn Du xuất hiện từ chỗ đó. Bỏ cái
thế giới lạnh lẽo rợn rùng của Nguyễn Gia Thiều, người ta bước sang
cái thế giới có những lẽ an ủi, những hơi thở ấm gần gũi của đồng loại.
Toàn thể tác phẩm của một thiên tài là một sự thống nhất hiển nhiên không thể
phủ nhận. Với thiên tài gần như mỗi tác phẩm chỉ là một lần theo đuổi tìm kiếm
soi sáng cái ám ảnh chẳng bao giờ dời đổi trong tâm khảm. Cả cuộc đời rộng lớn
phức tạp, thiên tài triệt tiêu hết để chỉ nhìn thấy một phía, phóng lớn phía ấy,
cho nó bao lấy hết cuộc đời, đào sâu phía ấy để tìm vào đến bản thể của sự vật,
nhưng bao giờ cũng bắt được đúng cái phía sinh tử của vật thể – Nói như một nhà
thơ [2] là "Tôi
không hiểu là tôi đang nhìn một bầu trời sao hay đang ngắm một giọt nước qua
kính hiển vi". Vì tác phẩm chỉ là sự thể hiện của ý thức, mà ý thức
khi nhập vào tác phẩm đã phải tìm thấy cho nó một hình thể, dù đó là một hình
thể tơi tả sau cơn khủng hoảng quằn quại.
Người ta không thể thấu hiểu Nguyễn Du, hay rất dễ sai lạc khi nhận định,
nếu người ta chỉ chú ý đến Đoạn trường tân thanh mà thôi. Đoạn
trường tân thanh là tác phẩm chính của Tố Như. Nhưng bên cạnh Đoạn
trường tân thanh, còn có Văn tế thập loại chúng sinh, hai tác phẩm
của một ý thức, chúng soi sáng lẫn cho nhau. Bởi vậy muốn hiểu Đoạn trường
tân thanh, sự thể hiện hết sức phức tạp của ý thức Nguyễn Du,
người ta hãy hiểu Văn tế thập loại chúng sinh đã, ở đấy sự thể hiện
còn đơn giản minh bạch.
Chúng ta sẽ phải tìm được cái mối ám ảnh chính của Tố Như qua hai tác
phẩm của người rồi từ đó vượt lên mà bắt gặp ý thức của người. Để hiểu một
thiên tài, những điều kiện xã hội và đời sống là cần thiết nhưng phụ, tài liệu
quan trọng hơn hết là tác phẩm. Tác phẩm làm phát hiện một thế giới riêng phản ảnh
của ý thức.
Văn tế thập loại chúng sinh giống như một Divine Conmédie thu nhỏ,
ở đây Nguyễn Du là thi sĩ dẫn đường đưa chúng ta vào cõi âm.
Theo chân người chúng ta gặp những oan hồn vất vưởng không nơi nương
tựa, từ những kẻ "chí những chăm cướp gánh non sông" chỉ còn là
"quỷ không đầu van khóc đêm mưa", "những kẻ màn lăn chướng huệ"
"mà khi nhắm mắt không người nhặt xương", "những kẻ mũ cao áo rộng"
bây giờ thì "mang oan khôn nhẽ tìm đường hoá sinh", "những kẻ
bài binh bố trận" "bãi sa trường thịt nát máu rơi", những kẻ tri
phú chết trong cảnh "hòm gỗ đa bỏ đóm đưa đêm", những kẻ mưu cầu công
danh thì lìa cửa lìa nhà khi chết, "vững vàng liệm sấp chôn nghiêng"
không người thân thích, đến một lũ dân thường kẻ thì "thân chôn dấp vào
lòng kính nghê", kẻ mắc vào khoá lính mà "buổi chiến trận mạng người
như rác", kẻ buôn nguyệt bán hoa, kẻ hành khất ngược xuôi, kẻ mắc đoàn tù
rạc, những tiểu nhi "lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha", kẻ chìm sông lạc
suối, kẻ gieo giếng thắt dây, kẻ trôi nước lũ lây lửa thành, tất cả đám oan hồn
ấy bồng bế dắt díu nhau trong "trường dạ tối tăm trời đất" lánh ẩn
bóng mặt trời lang thang nơi "điếm cỏ bóng cây", "đầu chợ cuối
sông", tất cả là:
Sống đã chịu mọi bề thảm thiết,
Ruột héo khô, dạ rét căm căm,
Dãi dầu trong mấy mươi năm,
Thở than dưới đất, ăn nằm trên xương.
Cái cảnh địa ngục lẩn khuất ở trần gian ấy phải chăng nó chỉ mới có trong thế kỷ
mười tám? Không, những oan hồn mà chúng ta gặp đó, chúng kêu khóc đã từ ba trăm
năm rồi (có thể là hơn thế nữa) và bây giờ mới có một người nghe thấy chúng.
Cũng như Dante, Nguyễn Du đã dẫn chúng ta vào cõi âm để nhìn cho
rõ bộ mặt thật của xã hội, của kiếp sống. Cái địa ngục lẩn lút quanh trần gian
trong Chiêu hồn ca cho ta trông lên cái trần gian địa ngục mà người
đã sống.
Tác phẩm của Nguyễn Du không thu hẹp, giới hạn trong một
vài hoàn cảnh, một vài hạng người, nó bao trùm toàn thể xã hội cuộc đời.
Nhưng Nguyễn Du không chủ nhắm vẽ lại bức hoạ lớn của một xã hội,
một cuộc đời, con mắt nhìn bao trùm lấy toàn thể ấy để giúp cho người nhận định
rõ cái ý nghĩa của đời sống được hoàn toàn. Cũng như Nguyễn Gia Thiều,
ý nghĩa đời sống đối với Nguyễn Gia Thiều cái kiếp tang thương khiến
cho con người cô đơn tuyệt vọng bi phẫn đòi chống lại Định mệnh một cách bướng
bỉnh vô ích, thì ở Nguyễn Du là một sự chấp nhận lặng lẽ và can
đảm tìm về một chút hy vọng gần gũi ở kiếp sống dù mong manh. Bởi thế ở Văn
tế thập loại chúng sinh, đám oan hồn còn gặp được lòng thương của thi sĩ bên cạnh
nguồn từ bi của Phật tổ. Trong Đoạn trường tân thanh, nàng Đạm Tiên
thay vì bị ném xác ra ngoài suối còn gặp được mối tình của người khách viễn
phương tình cờ, nàng Kiều gặp Mã Kiều ở lầu xanh, gặp mụ quản gia ở nhà họ Hoạn.
Mối an ủi, nguồn hy vọng hết sức nhỏ bé so với nỗi "đoạn trường"
nhưng đó là những hơi thở ấm yếu ớt quý báu của đồng loại trong cơn băng giá,
những đốm lửa yếu lập lòe trong đêm địa ngục, đó là tính cách nhân đạo trong
tác phẩm của Nguyễn Du. Thế giới của Nguyễn Du là một
thế giới chưa tuyệt vọng, còn có thể sống được dù số kiếp đoạn trường.
Phải nhận định được rằng lòng nhân đạo mới chính là nguồn động lực khiến Nguyễn Du viết Đoạn
trường tân thanh cũng như Văn tế thập loại chúng sinh. Và Đoạn
trường tân thanh chỉ là sự phóng lớn của Văn tế thập loại chúng
sinh mà thôi. Tôi không thể hiểu tại sao người ta lại cho rằng Nguyễn Du viết
hơn ba ngàn câu thơ Kiều để ký thác tâm sự – cái tâm sự của kẻ tôi trung phải
thờ hai chúa (?), của kẻ chiến bại, đâu phải dài dòng như thế, một bài tứ tuyệt
là quá đủ (cả trong trường hợp Nguyễn Gia Thiều nữa) – trừ phi người
ta hiểu tâm sự có nghĩa là ấm ức vì "ngổn ngang những biến cố ở trước mắt,
chồng chất những khối lỗi ở trong lòng" như Phong tuyết chủ nhân Thập
Thanh Thị đã nói. Cái đau khổ riêng tư có thể làm nên những nhà văn tài mọn,
không làm ra thiên tài; với thiên tài mối đau khổ riêng chỉ mở đường cho người
vào gặp cái mối đau khổ rộng lớn, tâm sự cá nhân phải trở thành tâm sự thời đại,
ý thức cá nhân phải vào gặp ý thức thời đại và hơn nữa muôn thuở. Muốn đạt tới
chóp đỉnh nghệ thuật trong Đoạn trường tân thanh, ngòi bút của Nguyễn Du phải
đang đuổi theo một hình bóng gì to lớn hơn chính mình, cái hình bóng ấy chính
là một cuộc đời đoạn trường bạc mệnh không phải là của người.
Vậy Đoạn trường tân thanh là tiếng kêu đứt ruột của một giấc tỉnh sau
ba trăm năm. Ý thức ấy tìm về cuộc đời đem vào một chút hy vọng cho những số kiếp
đày đoạ không còn thiết sống, đó là một ý thức muốn hồi sinh, ý thức của thiên
tài. Vào Đoạn trường tân thanh bằng cửa ngõ ấy, người ta mới mong gặp Nguyễn Du trong
thế giới của người, thế giới chân thật có đời sống và nghệ thuật.
Minh oan cho Kiều
Việt Tử
Đứng trên phương diện văn chương, Đoạn trường tân thanh là một tác phẩm
tuyệt bích! Xưa nay không ai chối cãi điều đó, nhưng về phương diện luân lý các
cụ đồ nho đã không tiếc lời thoá mạ.
Nguyễn Công Trứ chê bai đời sống dâm bôn của Kiều trong mười lăm năm luân
lạc, ám chỉ đến những mối tình Kiều – Sở Khanh, Kiều – Thúc Sinh và Kiều – Từ Hải:
Đã biết má hồng thời phận bạc,
Trách Kiều nhi chưa vẹn tấm lòng vàng.
Chiếc quạt thoa đành phụ nghĩa với Kim lang,
Nặng vì hiếu, nhẹ vì tình thời cũng phải.
Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải,
Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu.
Bây giờ Kiều còn hiếu vào đâu,
Mà bướm chán ong chường cho đến thế!
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa,
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm.
Bán mình trong bấy nhiêu năm,
Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai.
Nghĩ đời mà chán cho đời!
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chỉ trích Kiều chưa tống táng chồng xong đã
ngồi gảy đàn, hầu tiệc rượu nhất là tiệc rượu ăn mừng cuộc chiến thắng đã giết
chết chính người chồng anh hùng mà quá tin đó:
Tiếng sấm ân tình bốn mặt ran,
Tướng quân chi tiếc cánh hoa tàn.
Đôi hàng nước mắt, đôi làn sóng,
Nửa đám ma chồng, nửa tiệc quan.
Tổng đốc có thương người mệnh bạc,
Tiền Đường chưa chắc mả hồng nhan.
Trơ trơ nắm đất bờ sông nọ,
Hồn có xa nghe thấy tiếng đàn.
Nguyễn Khuyến giữ một thái độ khách quan nhân hậu, rộng lượng
bao dung mà cũng không tránh được nụ cười mai mỉa:
Kiều nhi giấc mộng thật nực cười,
Tỉnh dậy xuân xanh quá nửa rồi.
Số kiếp bởi đâu mà lận đận,
Sắc tài cho lắm cũng lôi thôi.
Cánh hoa vườn Thuý duyên còn bén,
Ngọn nước sông Tiền nợ chẳng xuôi.
Không trách chàng Kim đeo đẳng mãi,
Khăng khăng vớt lấy một phần đuôi.
Đến như đối với Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng thì Kiều là đồ bỏ đi, đủ cả ai,
dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi. Kiều, theo hai cụ chỉ là con đĩ, không
có lý gì mà người Việt sùng bái. Đứng ở quan điểm của các cụ, không những văn
chương tuyệt tác không gỡ được tội Kiều lại còn làm tăng thêm di hại. Văn
chương hấp dẫn là cái bả càng mầu nhiệm để gieo rắc tội lỗi: "Một cái hộp
sơn son thếp vàng, trổ rồng chạm phượng; về mặt mật thiết, rõ là của tốt mà ở
trong đựng những vật có chất độc: ai khen cái hộp ấy tốt mặc ai, chớ những người
chỉ nó mà nói với công chúng rằng: Trong có chất độc ấy có hại – thật không có
chút gì là tàn nhẫn mà khi nào cũng là chính đáng cả".
Những người bênh vực Kiều đã đổ lỗi cho các cụ trên phê bình với thiên kiến
không khách quan.
Nguyễn Công Trứ con Đức Ngạn Hầu cũng là dòng dõi cựu thần nhà Lê, sống dưới
đời Minh Mạng đa nghi nên không thể "đồng điệu, đồng thuyền" với Nguyễn Du.
Vả chưng con người hoài bão phác hoạ điển hình cho thanh niên mai hậu "miền
hương đảng đã khen rằng hiếu nghị" lại "phù thế giáo một
vài câu thanh nghị" không thể chấp thuận một hạng "trên bộc,
trong dâu" vì dù sao Kiều là "cành hoa hạnh cũng đã xuất ngoài tường". Nguyễn Công
Trứ không thành công chính vì ông không tự khe khắt với mình (ông 16 vợ và đa
tình đến thoả mãn nhục dục ở giữa đồng với cô đầu Thư: "Giang sơn một
gánh giữa đồng, Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ chăng?") mà lại rất
khe khắt với người.
Tuy nhiên trong trường hợp Kiều, Nguyễn Công Trứ đã dùng thể hát nói
với giọng tuy chê bai mà vẫn đú đỡn, bỡn cợt chứ không gay gắt.
Cùng giọng mỉa mai nhẹ nhàng bỡn cợt, người ta cảm thấy Tản Đà tìm – và đã
thành công – một tứ đặc biệt cho thi ca hơn là chê trách – Tản Đà gay gắt với Hồ
Tôn Hiến là khía cạnh khoan dung với Kiều. Hình như nhà thơ núi Tản
ôm hoài vọng "bồi" lại bức "dư đồ rách" giễu cợt người con
gái vì bản tính đa tình nhưng không thèm chấp nhất.
Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng là hai chiến sĩ tranh đấu cách mạng nên luôn
luôn quá khích – câu tuyên ngôn của Phạm Quỳnh: "Truyện Kiều còn, tiếng ta
còn, tiếng ta còn nước ta còn" cùng với lồng son "Khai trí kiến đức",
tờ Nam phong "phun bạc đánh đuổi Đức tặc" là những phương tiện phản bội
dân tộc nên lòng nhiệt huyết của hai nhà chí sĩ đã dùng Kiều để sỉ vả con
"chim hoạ mi" họ Phạm và dã tâm của thực dân. Cả tràng chữ nguyền rủa, ai,
dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi dội lên đầu bất cứ kẻ nào vì danh lợi riêng
tư mà coi rẻ giống nòi Việt.
Con người bào chữa cho Kiều nhiều nhất, tha thiết nhất là nhà thơ họ Chu. Theo
ông thì Kiều hiếu nghĩa đủ đường "bông hoa hạnh nở ngoài tường chưa để đàn
ong qua tới". Kiều đủ tài sắc nên bị gian truân chỉ vì "kiếp hoa không
lẩm cẩm" chứ không phải lỗi tại Kiều – Giọng văn họ Chu tha thiết quá,
tính chất lãng mạn "cũng nói tình thương người đồng điệu" bộc
lộ quá, nên dù ông tuyên bố không ham "phấn hương thừa", dù ông làm
cho người ta cảm động sâu sắc nhưng không làm thoả mãn người trên phương diện
lý luận chặt chẽ và xác đáng. Bênh vực Kiều, giải oan cho Nguyễn Du cần
phải có lý luận chặt chẽ dựa trên bằng chứng xác thực chứ không thể bằng tình cảm
chan chứa.
Truyện Kiều rất phổ thông trong dân chúng. Ảnh hưởng Kiều rất lớn đối với dân tộc
Việt cho nên minh định một thái độ đối với Kiều, với đời sống nàng Kiều là một
điều tối cần thiết. Nhất là từ hơn một thế kỷ nay, tất cả dân tộc ta vừa được
ru ngủ bởi truyện Kiều lại vừa rêu rao:
Đàn ông chớ đọc Phan Trần,
Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều,
Đó là một điểm mâu thuẫn trong tâm tình dân tộc Việt – Thiết tưởng đã đến lúc
ta nên tìm nguyên nhân sâu sắc trong vô thức quần chúng Việt để làm sáng rõ vấn
đề. Hai phe chê khen như trên đã trình bày chưa phe nào có đủ lý lẽ tối hậu.
Nếu ta theo phương pháp Tây phương để định giá trị luân lý một cuốn truyện, ta
lại càng do dự. Thật vậy, Tây phương chia tác phẩm ra làm ba hạng: Hạng tác phẩm
hoàn toàn phù hợp với luân lý, hạng tác phẩm tương đối phù hợp với luân lý và hạng
tác phẩm vô luân.
Trong tác phẩm hoàn toàn phù hợp với luân lý, đường lối tổng quát của tác phẩm
hợp với chân, thiện, mỹ gây cho ta một thứ cảm kích. Khi cảm kích đến ngay
với ta thì tác phẩm gây được hoà điệu bậc cao, khi cảm kích đến chậm làm ta phải
suy nghĩ, ngạc nhiên, phải cần đến sự phán đoán thì tác phẩm gây hoà điệu bậc
thấp. Trong tác phẩm, khi tác giả tả về say mê, tác giả phải chỉ định quyền uy
của con người làm chủ hay sự nguy hại khi con người nô lệ cho say mê.
Ở những tác phẩm tương đối phù hợp với chân lý, cảm kích bị gián đoạn
hay ngừng trệ để lại một mối tình cảm lờ mờ bất định. Đây là những tác phẩm
theo thời thượng, có thành kiến, có tệ xấu.
Tác phẩm vô luân là tác phẩm mơn trớn bản năng tình cảm thấp hèn, tán tụng những
tư tưởng hỗn loạn của tâm hồn làm đồi bại luân lý, phá hoại lương luật. Tác phẩm
đó làm cho độc giả cảm thấy bất lực, sa ngã, bại hoại về trí thức và luân lý,
gây cho ta sự chán chường khô khan hay sự thù hằn phá hoại.
Vậy thì với con mắt Tây phương ta thử phân tích truyện Kiều. Kiều bán mình chuộc
cha, bảo Thúc Sinh về nói với Hoạn Thư chịu phận cát đằng, đổi duyên cầm sắt
ra duyên cầm kỳ gây cho chúng ta cảm kích hoà điệu bậc cao. Những cảnh khổ
của Kiều vừa chớm yêu đương đã bị chia rẽ, gian nan hai lần thanh lâu, hai lần
thanh y, 3 lần bị đánh đập tàn nhẫn làm ta xót thương, tiêu cực gây cho ta cảm
kích hoà điệu bậc thấp, có thể làm ta vì thương mà quyết tâm theo phải cũng có
thể vì gương xấu nêu lên mà ta ghét đời trở thành độc ác gian dối. Đến như những
đoạn Mã Giám Sinh so đo để "mở lối động đào" khi Kiều trốn chạy với Sở
Khanh rồi về với Tú bà xin chừa trinh bạch, khi Kiều tắm trước mắt Thúc Sinh,
Kiều ăn cắp chuông vàng khánh bạc, trả ân oán thì hành động có thể dễ dàng thúc
đẩy thanh thiếu niên vào tội lỗi.
Cho nên cuốn Kiều nếu được ưu điểm vạch đúng xã hội đủ gian, ngay, tốt, xấu,
thì cũng lại là cuốn truyện phức tạp không biết nên liệt vào hạng nào.
Dù sao đó là vấn đề bàn cãi của người trí thức phân tích tỉ mỉ, còn dân chúng
thường được thấm nhuần bởi quan niệm phổ thông: Nam nữ thụ thụ bất thân, đã đồng
thanh trách Kiều khi còn con gái dám lẻn sang với Kim Trọng. Đời Kiều sau khi
đã bị bán đối với quần chúng là đời nô lệ phải làm đủ điều theo người khác nên
không còn có gì đáng chê trách. Và người ta vẫn không hiểu tại sao một nhà
nho Nguyễn Du dù đa tình đến đâu cũng không thể quên "văn
dĩ tải đạo", cũng không thể để Kiều tự do rạch dậu sang thăm Kim Trọng –
ngôn tình như Hoa Tiên mà Nguyễn Huy Tự cũng phải đắn đo dùng nhiều
thủ đoạn mới cho trai gái gặp nhau. Lương Sinh ngẫu nhiên gặp được Giao Tiên
đánh cờ, phải nhờ nữ tì Vân Hương lừa cho Giao Tiên đi dạo ra vườn để tỏ tình.
Cuộc chuyện trò cũng chấm dứt ở đó, không đi quá trớn…
Vậy thì tại sao nhà nho Nguyễn Du lại đi một mức vượt quá lễ
giáo đến bậc ấy! Và tại sao quần chúng vừa chê trách lại vừa như
khoan dung tha thứ? Muốn hiểu cho thấu đáo, ta phải phân tích tâm
linh con người Việt – vô thức con người Việt không đơn thuần có hai phần vừa hỗn
hợp vừa kèn cựa để bộc lộ tùy trường hợp thắng hay bại – đúng như tính cách thắng
bại của Gène trong luật tắc truyền thống của Mendel (caractère dominant et
récessif du gène dans la théorie génétique de
l’hérédite du moine Mendel): Ý thức hệ Việt và Nho. Ý thức hệ Việt là
căn bản nhưng bị ảnh hưởng hàng ngàn năm đô hộ bị ý thức hệ Nho chà đạp nên có
lúc bộc lộ, có lúc tiềm ẩn trong tâm não như không vong. Nhà Nho Nguyễn Du sống
vào thời đại Quang Trung là thời đại phục hưng Việt nên nhân sinh quan Việt bộc
lộ tuy vẫn bị giáo dục Nho giáo kèn cựa. Trong Kiều về vấn đề triết lý đã có một
phần lớn quan niệm trời, trả ân trả oán của người Việt. Về vấn đề ái tình cũng
thế.
Nhà Nho Nguyễn Du quan niệm "nam nữ thụ thụ bất thân"
đã phải nhường bước cho Nguyễn Du bản chất Việt. Thật thế, quan
niệm nam nữ thụ thụ bất thân là đặc biệt của người Trung Quốc. Người Việt từ
ngàn xưa vẫn cho phép trai gái được gặp gỡ và hiểu biết nhau – Bà Trưng chỉ cần
một lời hiệu triệu mà toàn quốc vâng theo đánh đuổi Tàu, đến khi thành công lại
đồng lòng suy tôn lên ngôi quốc chủ là một bằng chứng hùng hồn chứng minh rằng
người Việt trọng đàn bà – coi đàn bà là bình đẳng với đàn ông – miễn là có tài
– Người đàn bà có thể làm mọi việc dù việc đó đòi hỏi phải giao thiệp với đàn
ông.
Tục lệ hiện tồn tại ở những hội hè, còn là bằng chứng nữa. Thật vậy, ở thôn
quê, hàng năm cứ vào khoảng tháng Giêng, tháng Hai, ở những nơi đất cũ như Bắc
Ninh, Bắc Giang, trong những ngày ấy, con trai con gái được tự do trò chuyện.
Dân làng còn lập ra hát đúm, hành trình quan họ, hát đối để họ thả cửa tỏ lộ
trước mọi người những ước vọng thầm kín, cũng như chí khí và tài ba để nhận xét
nhau mà thầm trao duyên, gắn bó.
Tục đánh cờ người, tế nữ quan đều là những cơ hội để con gái đi ra khỏi nhà gặp
gỡ người bạn lòng. Chính cũng vì lẽ đó mà dân tộc Việt khi gặp gỡ Tây phương đã
đồng hoá phong tục cho trai gái tự do giao dịch một cách rất nhanh chóng. Ngày
nay ít người Việt còn cố chấp bắt con gái cấm cung – như ở Ấn Độ, Trung Hoa, Mã
Lai, v.v. Tuy nhiên ta phải nhận rằng phong tục Việt và phong tục Tây phương có
đại đồng tiểu dị. Trai gái Việt gặp gỡ nhau trao đổi tình duyên ở trước mặt
mọi người nghĩa là được xã hội bảo chưởng trong sạch. Còn Tây phương theo chủ
nghĩa cá nhân nên để cho họ tự do. Đó là nguồn gốc tội lỗi, ở xã hội Tây
phương, ta còn tìm thấy bằng chứng cụ thể xác thực hơn ở trên Mường. Các nhà
nhân chủng học đã đồng thanh công nhận rằng người Mường là người Việt còn thuần
tuý – Sử cũng nhắc lại rằng khi Tần Thủy Hoàng thống nhất xong Trung Quốc, cho
Đồ Thư sang đất Giao Chỉ, người Bách Việt chạy lên rừng ẩn náu để kháng chiến.
Những người ấy, tức là người Mường vậy. Ở trên Mường chữ quan lang còn nhắc cho
ta tổ chức lang với Lạc hầu, Lạc tướng dưới thời Hùng Vương. Vậy thì ta có thể
không nhầm lẫn kết luận rằng những tập tục Mường là những tục lệ của người Việt
đời Hồng Bàng. Về vấn đề nam nữ ở Mường có chế độ Bộ Mong. Đó là một chế độ đặc
biệt cho trai gái tới tuần cập kê được đi lại nói chuyện với nhau, tìm hiểu
nhau và khi nào đồng ý thì xin cha mẹ cưới xin. Cha mẹ đợi thời gian thử thách
xem mối tình có bền chặt rồi bắt buộc phải làm vừa lòng con trẻ. Điểm đặc biệt
của tục lệ này ở chỗ trong khi giao dịch, có khi thời gian rất lâu dài, thanh
niên nam nữ phải có đồng bạn chứng kiến. Người con gái có thể đi quá mức bá cổ
người con trai, nhưng người con trai nhất thiết phải gìn giữ không được cử động.
Sự nghiêm trang đứng đắn phải giữ gìn mãi đến sau đám cưới. Người con trai nào
đi quá mức không những sẽ bị từ hôn mà còn phải phạt vạ làng.
Vì những tục lệ ấy tồn tại nên ta có lý do nhận rằng trai gái giao thiệp với nhau
như Kiều – Kim, dù trái Nho giáo nhưng không tổn hại đến tục lệ Việt. Nguyễn Du đã
dám để cho đôi trẻ tự do vì nhân sinh quan Việt trong vô thức trỗi dậy bộc lộ
ra. Và cũng vì vô thức điều khiển cho nên dù lý trí theo Nho giáo kết án, nhưng
trong tâm hồn người Việt, ai cũng không cho câu chuyện đó là quan hệ. Đó là một
nguyên nhân đã cảm luyến, quyện lấy tâm hồn độc giả. Sức gắn bó còn tăng thêm
vì Nguyễn Du dùng văn lục bát là thể thơ thể hiện nhịp điệu của
tâm hồn Việt và nhất là vì trong sự giao thiệp của Kim – Kiều, những lời đối
thoại mềm mỏng, khéo léo, duyên dáng không kém ca dao. Ta thử trích và so
sánh những bài ca dao với đoạn văn đối thoại sau này của Nguyễn Du ta
cũng nhận được tất cả sức quyến rũ của truyện Kiều.
Đây là ca dao:
Sáng ngày tôi đi hái dâu,
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn.
Hai anh đứng dậy hỏi han,
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu?
Thưa rằng: Tôi đi hái dâu,
Hai anh mở túi đưa trầu cho ăn.
Thưa rằng: "Bác mẹ tôi răn,
Làm thân con gái chớ ăn trầu người"...
Vào vườn hái quả cau xanh,
Bổ ra làm chín mời anh xơi trầu.
Trầu này têm những vôi Tàu,
Giữa đệm cát cánh, hai đầu quế cay.
Trầu này ăn thật là say,
Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù nồng,
Dù chẳng nên đạo vợ chồng,
Xơi năm ba miếng kêu lòng nhớ thương...
Hôm qua tát nước đầu đình,
Để quên chiếc áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà.
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Đến lúc lấy chồng anh sẽ giúp cho.
Giúp em một thúng xôi vò,
Một con lợn béo một vò rượu tăm.
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi chằm em đeo.
Giúp em quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.
Mua cau thì chọn cau tươi,
Mua trầu chọn lấy hai trăm lá vàng...
Và đây là cuộc đối thoại giữa Kim – Kiều:
Kim Trọng:
Rằng: "Từ ngày ngẫu nhĩ gặp nhau,
Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn.
Sương mai, tính đã thâu mòn,
Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay!
Tháng tròn như gửi cung mây,
Trần trần một phận, ấp cây đã liền!
Tiện đây xin một hai điều,
Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng?".
Kiều:
Ngẩn ngơ nàng mới thưa rằng:
"Thói nhà băng tuyết, chất hằng phi phong.
Dù khi lá thắm, chỉ hồng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
Nặng lòng xót liễu vì hoa,
Trẻ thơ đã biết đâu mà dám theo!".
Đến như cách tả nỗi tương tư trong cảnh đêm trăng thì thiết tưởng Nguyễn Du đã
nhập thần những câu ca dao.
Ca dao:
Ngày ngày em đứng em trông,
Trông non, non ngất, trông sông, sông dài,
Trông mây, mây kéo ngang trời,
Trông trăng, trăng khuyết, trông người, người xa…
Sáng trăng suông vằng vặc cái đêm hôm rằm,
Nửa đêm về sáng, trăng bằng ngọn tre.
Em trót yêu anh cho trọn một bề,
Để anh thấp thoáng ngồi kề bóng trăng.
Cái sự tình này ai thấu cho chăng,
Để anh ngồi tựa bóng ông trăng trăng chịu sầu.
Cái gánh tương tư một dịp đôi ba cầu,
Bắc Nam đôi ngả, chịu sầu đôi ba nơi.
Con chim không chết mệt vì mồi,
Nó kêu réo rắt ghẹo người tình chung,
Hai chút ta vấn vít sợi tơ hồng...
Kiều:
Kiều từ trở gót trướng hoa,
Mặt trời tới đất, chiêng đà thu không,
Gương nga chênh chếch dòm song,
Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.
Hải đường lá ngọn đông lân,
Giọt sương chĩu nặng cành xuân la đà.
Một mình lặng ngắm bóng nga,
Rộn đường gần với nỗi xa bời bời.
Vài thí dụ ấy cho ta bằng chứng để kết luận là Nguyễn Du nhà Nho
đã quên mình nhiều lần để cho Nguyễn Du thuần Việt tác dụng khi
viết Kiều.
Tìm được nguyên nhân ấy ta còn cắt nghĩa được nhiều điều khác trong truyện Kiều.
Kiều ở với chồng sung sướng (Thúc Sinh), đủ danh vọng (Từ Hải) mà vẫn tha thiết
muốn trở về quê hương, đến nỗi vì lòng khát khao đó mà xui Từ Hải ra hàng là đặc
tính Việt.
Kiều dặn Thuý Vân thay Kiều; Kim Trọng ở với Thuý Vân có con mà vẫn không có
tình, tình hoàn toàn gửi gắm ở Kiều cũng là đặc tính Việt. Người Việt rất thực
tiễn, cần người nối dõi tông đường nên lấy vợ lẽ cho chồng mà không lạt tình
yêu chồng. Trong thâm tâm người đàn bà, công việc giữa chồng và vợ lẻ chỉ là
thi hành một bổn phận chớ chính người vợ cả mới nắm tình yêu. Thống nhất tam
giáo ở bà Đạo cô là tinh thần bao dung rộng rãi của người Việt. Báo
ân, báo oán nhãn tiền một cách máy móc cũng là tín ngưỡng của người Việt đã giản
dị, thực tế hoá luật nhân quả phiền toái của đạo Phật. Công nhận có một ông Trời
nhân tính hóa cầm cân nẩy mực:
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần.
thế mà chính cái ông Trời ấy lại phải do người mới thể hiện được ý chí (có trời
mà cũng có ta) cũng đều là quan niệm siêu hình mà rất thực tiễn phổ thông của
người Việt. Giải quyết vấn đề mâu thuẫn tài mệnh, vấn đề nghiệp báo bằng cái
tâm, cách ăn ở hợp đạo cũng là tín điều thông thường của người Việt. Giải quyết
vấn đề mâu thuẫn tài mệnh, vấn đề nghiệp báo bằng cái tâm, cách ăn ở hợp đạo
cũng là tín điều thông thường của Việt Nam mà Nguyễn Du đã sử dụng
và hệ thống hoá. Đến như nguyên lý đạo đức mà bà sư Tam Hợp đã nói:
Sư rằng: Phúc hoạ đạo trời,
Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra.
Có trời mà cũng có ta,
Tu là cõi phúc, tình là dây oan.
là do triết lý vô nguyên đặc biệt của người Việt.
Vậy thì sở dĩ truyện Kiều rung cảm toàn dân chính vì truyện Kiều đã kết tinh
cao độ tất cả nhân sinh quan và triết lý của người Việt, đã thu hút tất cả yếu
tố hay của Nho, Thích, Đạo – Ngoài giá trị về văn chương ta còn tìm thấy giá trị
triết lý cả hình nhi thượng và hình nhi hạ độc đáo của người Việt. Phải là người
Việt, đọc hiểu bằng giác quan Việt mới cảm thông hết cái hay của truyện Kiều, mới
hiểu được Nguyễn Du và tìm thấy cả giá trị luân lý, cái nền luân
lý rộng rãi bao dung độc đáo Việt. Và như thế sẽ chấm dứt tất cả những
bàn cãi từ xưa đến nay về giá trị luân lý truyện Kiều.
7/2/2021Vũ Hoàng Chương - Nguyễn Sỹ Tế - Nguyễn Văn
Trung - Trần Bích Lan - Đinh Hùng - Doãn Quốc Sỹ - Việt Tử - Trần Thanh Hiệp -
Phạm Thếng - Thanh Tâm Tuyền - Vũ Khắc Khoan - Nguyễn Thị SâmNguồn: Chân dung Nguyễn Du, in tại nhà in
Nam Sơn, 36 Nguyễn An Ninh, Sài Gòn. Kiểm duyệt số 401/XB ngày
8-3-1960


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét