Chân dung Nguyễn Du 3
Người em vườn Thúy
Nguyễn Thị Sâm
Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ hy sinh có ở đời,
Tôi sẽ nạm vàng muôn khổ cực,
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.
(H.D.)
Trong Đoạn trường tân thanh, nhân vật Thúy Kiều nổi bật lên vô cùng lộng lẫy.
Người cha đẻ tạo thành đã ít nhiều thiên lệch khi thảo bút phác hoạ tài hoa người
đẹp của Dư Hoài xa xưa, qua vần điệu, âm thanh.
Làn thu thủy nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một mai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một tài đành họa hai.
Rồi hơn trăm năm sau, vì lòng "cảm cựu", vì não lòng tâm sự Tố Như,
tao nhân mặc khách giẫm mòn lối cũ; hình ảnh nàng Kiều càng đậm nét vàng son.
Và người xưa đến người nay, vô tình hay cố ý, cạnh Kiều, mà xóa đi bao hình
bóng. Tôi muốn nói người ta quên rồi người em vườn Thúy: Thúy Vân. Nghĩa là tôi
quyết đề cập đến Thuý Vân trong thiên khảo luận hôm nay, gọi là tròn bổn phận
phải phá tan một trong nghìn bất công nhân thế, mà cũng gọi là tròn bổn phận kẻ "trót
giàu cảm luỵ" dù biết cuộc đời nhiều phi lý, vẫn cố tìm hoa đẹp để
làm thắm mãi cuộc đời, cho cuộc đời có nghĩa thêm lên.
Thúy Vân
Để trọn vai trò, chỉ dành riêng cho mươi dòng chữ trong toàn tác phẩm: vô cùng
khiêm tốn vô cùng kín đáo, muôn vàn thầm lặng! Cái thầm lặng, cái kín đáo ấy
không phải là tất cả hình ảnh người đàn bà gương mẫu Việt Nam trong lịch sử,
trong cuộc sống nghìn đời hay sao?
Này vẻ đẹp!
Vẻ đẹp cổ kính mà thùy mị, mà phúc hậu:
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
Có bao giờ rực rỡ huy hoàng! Nhưng bảo rằng không đẹp thì nghìn lần vô lý! Đẹp
như chiếc áo tứ thân miền Bắc, chiếc áo cụt miền Trung, hay chiếc áo bà ba miền
"mưa nắng hai mùa", thô sơ mà vĩnh cửu.
Này tâm tình!
"Vô tri đến độ không tình cảm" thế nhân thường bảo khi phải nhắc
nhở Thuý Vân. Có đúng không bao lời phê phán?
Buộc miệng lên lời:
Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa.
quả cũng ít nhiều thờ ơ lãnh đạm trong khi Kiều đã đầm đầm châu sa, nhưng
nếu nghĩ người nằm dưới đáy mồ hoang tàn không tình quen biết, thì khóc than
van vái đề thơ, cũng thật đáng nực cười nếu không muốn nói rằng bệnh
hoạn. Bản tính bình dị nhiều thiết thực, không mơ mộng hão huyền, không ước vọng
cao xa của con người Việt, nhất là của người đàn bà Việt Nam lề lối đáng khen
nào đáng trách! Nhiều tình cảm nhưng bao giờ cũng đặt tình cảm trong lẽ phải chẳng
là một đức tính người đời thường ca tụng, nhờ đấy nước Việt còn bền vững tận
ngày nay.
Thế sao còn vì ai mà nặng lời người em vườn Thuý và quên đi bao cao cả của một
tâm hồn?
Tôi nói cao cả không là quá đáng. Vì thiếu Thuý Vân, Kiều có vẹn ân toàn nghĩa
với chàng Kim?
Khen tặng Kiều sao lại nỡ quên Vân? Ngoài ra, đã là người lẽ tất nhiên nàng vẫn
có tình cảm riêng tư cá biệt. Nàng cũng có thể biết yêu và đã yêu. Gán ép nàng
cho Kim Trọng, Kiều và cả gia đình Vương ngoại đã chà đạp một tâm hồn, gián tiếp
đem nàng làm một con vật hy sinh. Thế mà nàng có phản đối đâu, thế mà nàng có
khóc than tru trếu bên tình bên hiếu như Kiều đâu? Lẳng lặng quên
mình vì người. Hành động quá âm thầm nhưng và cùng tế nhị. Hành động chỉ do
thúc đẩy của tấm lòng.
Tôi lại nhớ mẹ tôi, những ngày khói lửa! Cuộc tản cư kéo dài mãi, từ làng này
chúng tôi phải vượt qua làng khác triền miên. Ngày về vô định, mà tiền bạc chẳng
còn. Viễn ảnh chồng con sắp chết đói có lẽ làm đau lòng mẹ tôi biết mấy! Vì thế
người có ý định vào vùng chiếm đóng tìm lại mớ nữ trang chôn giấu dưới nền nhà
(độ một lượng vàng quá ít so với một sinh mệnh!). Tôi hồi tưởng lại khoảng đường
mẹ vượt qua mà rùng mình ghê sợ. Máu toàn là máu. Mỗi đoạn đường ngăn ngắn là một
tháp canh, là những tên lính ngoại quốc chực hờm. Ai có biết qua Gò Công mùa
kháng chiến, thì hiểu rằng vào thành lúc ấy là một chuyện nguy hiểm nhất cho
người đàn bà. Và từ đấy, hơn mười năm trôi qua, mẹ tôi chẳng bao giờ nhắc lại
hành động trên. Chắc người cho rằng, chỉ là một việc dĩ nhiên phải làm.
Nhưng tôi, tôi lại nhớ nhiều. Hình ảnh mẹ tôi bao lần khiến tôi giữ ý nghĩ cuộc
đời không hoàn toàn xấu xa nhơ nhớp! Cũng như tôi vẫn mến Thuý Vân nhiều hơn Kiều,
ở đoạn này và những đoạn kế truyện Kiều.
Một kẻ đến sau trong tình ái! Nàng không bao giờ biết mà làm gì? Là một chiếc
bóng âm thầm bên cạnh người chồng hờ (Kim Trọng có phút giây nào nghĩ đến Thúy Vân đâu?) nàng cũng chẳng than thân, vẫn tròn bổn phận. Ấy mới gan, ấy mới tài,
mới nhiều khả kính. Cắn chặt răng, nén đau thương để mưu hạnh phúc cho người
thân, còn gì cao đẹp cho bằng? Lại vì chồng, đồng chung ý nghĩ tìm người chị
thân yêu, mà cũng là người tình địch. Chứng cớ đoạn thơ sau:
Phòng xuân trướng rủ hoa đào
Nàng Vân nằm bỗng chiêm bao thấy nàng.
Tỉnh ra mới rỉ cùng chàng,
Nghĩ lời chàng cũng hai đường tin nghi.
thì thật nàng vẫn đã quá hơn người!
Rồi đến phần tái hợp Kim – Kiều. Bao tầm mắt hướng về cô em gái. Không phụ lòng
mong mỏi, đoán trước ý muốn của người thân:
Đứng lên, Vân mới giãi bày…
Rằng trong tác hợp cơ trời
Hai bên gặp gỡ một lời kết giao,
Gặp cơn bình địa ba đào
Vậy đem duyên chị buộc vào cho em,
Cũng là phận cái duyên kim,
Cũng là máu chảy ruột mềm có sao?
Những là nay ước mai ao,
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình.
Bây giờ gương vỡ lại lành,
Khôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi.
Còn duyên nay lại còn người,
Còn vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa.
Quả mai ba bảy đường vừa,
Đào non sớm liệu se tơ kịp thì.
Thật chí tình!
Thúy Vân chỉ nghĩ đến kẻ mười lăm năm luân lạc truân chuyên, nghĩ đến tình ai
chung thủy. Nghẹn ngào cho người em ấy? Khách quan ngậm ngùi cho kẻ chỉ luôn vì
người, vì người tất cả trong cuộc đời. Nhưng nàng thì chỉ cho là một việc tất
nhiên (đọc lại mấy dòng thơ trên, ta sẽ thấy quá dịu dàng,
quá chân thành không một lời mai mỉa).
Trách một điều chàng Kim nàng Thuý cũng đành lòng cho đấy là một việc tất
nhiên; trước mặt người em đau thương – làm sao tránh khỏi, nàng là một con người
kia mà – còn trao đổi những lời thân giao ân ái:
Dẫu rằng vật đổi sao dời
Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh.
Duyên kia có phụ chi tình,
Mà toan chia gánh chung tình làm hai.
Và từ chối cuộc hôn nhân cũng chẳng phải vì nàng Vân mà vì:
Chữ trinh còn một chút này
Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan.
Hay là:
Thương nhau sinh tử đã liều,
Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình.
Gương trong chẳng chút bụi trần,
Một lời quyết hẳn muốn phần kính thêm.
nghĩa là họ chỉ vì nhau, thế thôi!
Nát lòng không người em gái!
Thế mà không một tiếng vang, không một phản ứng: nàng trở về kiếp sống âm thầm,
khi bổn phận đã tròn. Mặc lời phẩm bình, mặc thế nhân.
Ngày xưa, cũng một cảnh đời na ná, bà Phan Bội Châu, vì cha chồng, vì chồng,
tìm kế thất cho ông để tránh cho ông cái tội "đại bất hiếu" không con
nối dõi tông đường. Bà Phan Bội Châu còn được nhà cách mạng lão thành ca tụng
trong bài văn tế, nghìn năm nêu gương hiền phụ. Chỉ tội cho nàng Vân, muôn thuở
bị lãng quên.
Thúy Vân, thế là hết một vai trò! Giở xong trang chót truyện Kiều, tôi cũng biết
rằng, nàng cũng như mẹ tôi, cũng như bao người đàn bà gương mẫu khác trên toàn
đất Việt, không cần tôi nhắc đến. Tôi cũng có ý niệm rằng vũ trụ bao la vốn dĩ
đẹp muôn đời là vì nó câm lặng vô biên. Nhưng tôi vẫn trở về với nàng, với những
hình ảnh thân yêu xa xưa, có lẽ chỉ để ấm lòng đôi chút giữa một xã hội xô bồ
mà có đẹp chăng chỉ là những giả tạo bên ngoài! Mà cũng có lẽ để làm ngát hương
đời trong giây phút – mặc cuộc đời không cần hành động của riêng tôi – với người
em gái Thúy Vân, một đóa hoa nhiều hương sắc dù không lộng lẫy huy hoàng.
Tiếng khóc Tố Như
Phạm Thếng
Năm Minh Mệnh nguyên niên tuế thứ Canh Thìn, tháng 8 ngày mồng 10, tại kinh
thành Huế, tắt nghỉ nhà thơ mà sự nghiệp còn lưu lại hậu thế mãi mãi, như một
gia bảo làm say sưa và hãnh diện con cháu, nhưng đôi khi cũng như một ám ảnh đè
nặng lên tâm tư nhiều người.
Tương truyền khi lâm chung, Nguyễn Du có khẩu chiếm hai câu thơ:
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
Chúng ta mạn phép nghĩ rằng ví thử linh hồn người còn phảng phất ở cõi cửu u,
chắc cũng đã nhiều phen được hả hê đối bao nhiêu hương sùng bái của quốc dân bấy
nay.
Vinh dự cuối cùng [1] vừa dâng cho người có lẽ là "Một
tháng diễn thuyết về truyện Kiều" của Trường Cao đẳng Sư phạm. Thật là vĩ
đại! Chẳng rõ các quý cụ có phát minh được điều gì mới lạ gớm ghiếc không?
Còn gì nữa? Ba ngàn câu thơ, một thế kỷ rưỡi, cày đi xới lại, ngâm, vịnh, lẩy,
tập, thêu thùy lý thuyết, thưởng thức tán dương. Kẻ chê bai cũng có nhưng càng
chê càng nâng cao tác phẩm bởi vì đã có kẻ chê tất nhiên phải có kẻ đứng ra
bênh vực, tìm ra nhiều khía cạnh khác để tán dương thêm lên.
Từ những lời như hoa như gấm của các nhà Nho đến những lời lẽ như dao như kéo của
lớp tân học. Từ những bài bình luận thí sinh non nớt vụng dại đến những thiên
khảo cứu giáo sư uyên bác tinh vi. Thưởng thức một mình chán lại đem ra công cộng
diễn thuyết, tung lên mặt báo tranh luận. Ôi những cuộc tranh luận về truyện Kiều
từ khi văn đàn của nước ta có báo chí! Còn đề tài nào phong phú bằng, hào hứng
bằng, lúc nào cũng có thể khơi ra, nhân một chi tiết nhỏ nhặt nhất, một câu, một
chữ, một chủ từ, một dấu phẩy. Và lúc nào cũng thấy những cây bút đầy thiện chí
sẵn sàng xông vào.
Người ta còn nhớ, nóng hổi, cuộc đấu bút nẩy lửa bốn năm trước đây ở Hà Nội,
nhân phần tư một câu Kiều, giữa một nhóm học giả uyên bác hạch sách nhau nào
không biết tra tự điển, nào không biết cưỡi ngựa. Bấy nhiêu om sòm để lại chẳng
làm mỉm cười người nơi chín suối ư?
Xưa thì, nói theo kiểu Trần Trọng Kim, từ kẻ ngu phu ngu phụ đến bậc hiền nhân
quân tử, nay từ cậu học trò nho nhoe dọn cái bằng trung học đến những ông lớn
thông thái ngồi ở bộ, không ai là không biết ba chữ Kim Vân Kiều. Từ một câu
chuyện "chắp nhặt dông dài" làm lúc trà dư tửu hậu, để cho thiên hạ
mua vui những trống canh thừa, mà nay công nhiên vào cửa lớn, ngồi chủ vị, chiếm
một phần ba chương trình, thành kính giáo huấn cho cả một giai cấp văn bằng. Chẳng
là một vinh dự quá ý ước muốn của tác giả ư?
Vinh dự ấy lại vượt cả bây giờ, toả ra quốc tế. Những ông Tây thực dân sang
khai hoá xứ này trước kia đều biết danh một nàng Kiều sắc nước hương trời. René
Craysac uốn tóc mặc "jupe" cho nàng, định dắt nàng về Tây làm gia bảo.
Chẳng đợi người ta tìm đến, các học giả Annam sành chữ Pháp đã vinh hạnh làm
cái công việc rước nàng ra giới thiệu với khách Lăngsa. Lại mới đây, gần kề
đây, Vương Thuý Kiều lại được cái hân hạnh vô song được một ông tổng trưởng kim
sinh viên, ministre étudiant (danh từ của Cung Giũ Nguyên trong La
Conscience matheureuse chez Nguyễn Du) là ngài Trần Cửu Chấn gợi lại
bóng dáng diễm huyền (nói theo kiểu tuồng Kim Chung) trước toà khảo quan đạo mạo
trong Viện Sorbonne. Vẻ vang thay! Giờ đây chắc chắn phải đến lượt bọn tân học
hậu tiến giới thiệu với những ông bạn người Mỹ. Nên lắm thay!
Tóm lại thì thi phẩm bất hủ của Nguyễn Du đã nghiễm nhiên trở
thành một trong những danh tác đã, theo lời của một nhà văn Pháp, Jean Cocteau:
"Vượt qua ngục thanh tẩy (purgatoire) và bay lên trời đứng im, bất động,
cho đời đời chiêm ngưỡng".
Tôi thường khi những đêm mưa gió, pha trà Thiết quan âm đốt hương Ngọc long
diên, ngồi đọc Kiều. Tư tưởng con người như thế, gặp cảnh ngộ như thế, rồi qua
tiếng tơ đồng thầm lặng, cầu bóng dáng lạc trong thiên cổ, thì thấy mảnh hồn
thơm như quanh quất đâu đây trên nóc, bên thềm mơ màng đồng vọng. Nhưng mà thảng
thốt "Chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu". Giật mình, lại
chỉ thấy giấy trắng mực đen, sờ phải những câu thơ rời rạc lổng chổng như những
bộ xương. Mình mình trường dạ, nào hồn Tố Như?
Tố Như tử có được người ta khóc không?
Truyện Kiều có được người ta hiểu không?
Đó là những câu hỏi mà tôi thường tự hỏi mỗi khi xảy ra những vụ tranh luận hoặc
viết lách tiếng tăm về truyện Kiều. Nhất là những cuộc bút chiến, chi li tế
toái cùng nghĩa tận lý, tuy nhiên kết cục bao giờ cũng treo lửng vì không ai chịu
ai, ai cũng có lẽ của người ấy. Tôi bèn lẩn thẩn nghĩ rằng giá ta có thể làm thế
nào, dùng thuật đồng thiếp chi chi, mà làm cho tác giả hiện về mươi phút lên tiếng
trọng tài thì khoẻ biết mấy cho tụi chúng ta.
Tôi lại lan man nghĩ rằng chúng ta nên cẩn thận ngay từ giờ, nhắn nhủ các thi
bá, văn hào nào sắp đi vào vĩnh cửu hãy ngồi lại chịu khó chú thích kỹ càng văn
thơ các ông để cho sau này hậu thế khỏi nhọc công cãi nhau khám phá ý văn cùng
nỗi lòng các ông. Nên bắt chước thi sĩ Tản Đà. Người in thơ mình ra lại kèm cả
lời giải, lời bình: "Hay ở chỗ đó, hay là như thế. Đến thế là tuyệt, tuyệt
đó!" Tuy nhiên lại có điều phiền là những chỗ những bài thi sĩ cho là hay
là tuyệt đó, vị tất độc giả ngày nay đã đồng tình. Sự tuyển lựa của người ngày
nay sự thật đã hướng về những khía cạnh chắc chắn thi sĩ không ngờ tới.
Cho nên rút bài học gần kề ấy, tội "lại bèn nghĩ lại" rằng ví thử tác
giả truyện Kiều có tái sinh mà lên tiếng trong cũng cuộc tranh luận, vị tất đã
được người ta nghe theo. Một việc hình thức cỏn con đủ hiểu, là việc trước đây
mấy cụ sửa văn Kiều: "Thế này mới đúng mới hay, thế ấy là nghĩa lý quái
gì!". Mỗi cụ lại đều có cái hay cái đúng của mình. Cho nên có thể chắc chắn
ta ví thử Nguyễn Du có trở về mà lên tiếng, cũng chẳng dồn được
vào im lặng những cây viết chủ quan và háo thắng. Người trước mắt còn khó thông
cảm nói chi kẻ xa xôi nằm trong thiên cổ. Một câu một chữ còn như vậy, nói chi
lý thuyết sâu xa.
Cho nên ngẫm nghĩ tôi lại càng thêm hoài nghi mà tự hỏi: Truyện Kiều có được
người ta hiểu không? Tố Như có được người ta khóc không? Trong hơn một thế kỷ
nay từ khi tác phẩm ra đời, nào những ai đã cảm truyện Kiều? Mà trước sau bởi
những duyên cớ ra sao?
Cuối triều Nguyễn, các nhà Nho có nói đến Kiều khi thì để ngông nghênh một
"lão Viên già", khi thì để xỏ xiên một "con đĩ Đạm", khi
thì để đổ tất cả tội lỗi lên đầu "hoá công". Chỉ là gửi gắm bóng gió,
mượn trống để động phách. Sang thế kỷ này phong trào các ông Phạm Quỳnh, Trần
Trọng Kim xướng ra, đề cao Kiều, chú giải Kiều, diễn thuyết Kiều tất nhiên nhằm
một chủ ý. Các ông Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng đả kích Kiều cũng vì một ẩn ý
riêng. Nguyễn Bách Khoa đả kích tất cả, lại nhằm một chủ ý rõ rệt hơn
cả. Cho đến chúng ta ngày nay, bọn học trò nhai Kiều để đi thi, các ông thầy đồ
mài Kiều làm kế sinh nhai, mấy ông tiến sĩ vác Kiều đi lòe thiên hạ đặng kiếm mảnh
bằng về lòe bà con (để rồi lại vất Kiều vào xó tủ cho bụi phủ nhện chăng). Từng
thời đại, từng đoàn thể, từng cá nhân xông vào Kiều, khác chi một phường bấu xấu,
khi để kiếm lợi, khi thì cầu danh. Nào ai đã thực bụng yêu Kiều? Nào ai đã khóc
Tố Như?
Của đáng tội, cũng có đôi khi chẳng vì lợi mà còn vì tình. Nhưng đây nữa, dù vì
tình chăng nữa, thì cũng chỉ là vì mình, vẫn vì một ý chủ quan. Người ta phóng
đại một nét son người ta ưa, nhấn mạnh vào một nốt nhạc người ta thích, có khi
tưởng tượng hẳn ra một hương thơm người ta yêu. Chung quy chỉ là – mượn chữ họ
Chu – "bán không chi tưởng" cả. Giằng đi kéo lại, vo tròn bóp méo,
nào ai đã biết Truyện Kiều là cái chi chi?
Điều đó đáng trách, đáng la không? Không. Bởi vì chẳng qua là cái định luật cái
số phận chung của các danh tác văn chương.
Kléber Haedens nói rằng những danh tác văn chương chẳng phải như lời Jean
Cocteau, một khi bay lên trời là đứng im bất động. Trái lại, "chúng gặp gỡ
nhau, cải dạng do ảnh hưởng thời gian trôi qua và cũng tùy thời gian trả lời
vào những câu hỏi khác nhau, đưa ra những lời nhắn bảo nhau".
Có thể nói những danh tác giống như những tấm gương sáng treo cao, hậu thế ngẩng
lên nhìn vào và càng sùng bái nồng nhiệt khi thấy hình ảnh mình trong đó hùng
tráng hoặc bi đát, đáng trọng hay đáng thương. Còn như đàng sau tấm kiếng có
gì, ai lo biết đến? Ai cần biết đến? Mà đã dễ biết được sao?
Ai đã bảo quyển sách cũng như cái quán trọ Y Pha Nho, độc giả thấy ở đấy cái gì
mình đem đến. Có thể nói nó như tình trường, người ta nhìn ra cái gì người ta
ưa. Anh chàng si tình quỳ dưới chân người yêu ngước đôi mắt say sưa
lên, khám phá ra nào suối tóc, nào giếng mắt, nào trời trán, nào biển miệng,
nào núi mũi. Nhưng mà tất cả những thức ấy, mỹ nhân đã có từ khi lọt lòng mẹ, mỹ
nhân vẫn ăn vẫn ngủ, mỹ nhân nào biết gì đâu? (Ví thử mỹ nhân có một linh hồn
mà tình lang muốn tìm vào dễ đã được đâu?) Chung quy toàn là những cái "tưởng
thấy" bên ngoài cả.
Nhưng mà thôi đi "triết gia!". Đừng làm cho chúng tôi mất thú vui.
Cái gì ở đời này chẳng là "tưởng thấy", tán tụng, hoan hô, ái tình và
sự nghiệp, tất cả mật thiết, văn chương. Nhưng mà là những cái tưởng thấy cần
thiết. Nó tô điểm cho cuộc đời. Nó là lẽ sống.
Thế thì bữa nay, bước vào năm thứ 138, sau ngày thi hào tạ thế, chúng ta đốt
nén hương lòng, dâng niềm kính nhớ, chúng ta còn có thể tưởng thấy những gì
đây?
Trước hết mường tưởng bóng dáng một con người vô cùng cao nhã và lịch lãm
"gặp phải thời ấy, bước vào cảnh ấy, ngổn ngang những biến cố trước mặt,
chồng chất những khối lối trong lòng mới phải mượn bút mực để chép ra" (Lời
tựa của Thập thanh thị).
Con người ấy chắc phải đau khổ lắm mới lấy hai chữ "Đoạn Trường" mà đặt
tên cho thi phẩm thân yêu như thế. Con người ấy chắc phải tha thiết với nhân
sinh lắm mới khi đã sắp trả hình hài cho cát bụi, mà còn thốt ra những lời thơ
đầy nước mắt nhân thế như vậy.
Và ngày nay cách nhau thiên cổ, đọc lại câu chuyện kiếm gãy hoa rơi ấy còn có
thể thấy gì đặng cảm động chúng ta?
Đất nước chúng ta cũng vừa trải qua hơn 10 năm ly loạn. Biết bao nhiêu nàng Kiều
sẩy chân lìa nhà, lạc vào vòng giáo dựng gươm trần, kề lưng hùm sói,
ê chề phấn son. Bây giờ thanh bình trở lại, nếu may mắn thoát hàm rồng cá, chẳng
hay trên giải đất tự do này đã tìm được những chàng Kim đủ hào hiệp để băng bó
vết thương lòng chưa?
Có thể nói cả dân tộc Việt Nam ta, trong giai đoạn vừa qua, cũng là một nàng Kiều
mà Việt Cộng chính là tên Mã Giám Sinh mày râu nhẵn nhụi đã một sớm lợi dụng
cơn gia biến sấn tới lôi đi.
Rồi thì:
Thoắt buôn về, thoắt bán đi
Nơi thì lừa đảo nơi thì xót thương!
Cho đến ngày nay ác mộng đoạn trường xem đã liễu. Dưới ánh sáng miền Nam, phải
chăng hết cơn bĩ cực đã đến tuần thái lai?
Nhưng mà nghĩ lại thì:
Bấy chầy gió táp mưa sa
trăng đã khuyết, huê đã tàn, quả mai đã qua kỳ ba bảy. Cho nên gốc hòe chồi quế,
mở mắt với đời về sau, ấy là trông mong tất cả vào "con em nó" ở miền
Nam này đó!
[1] Bài này tác giả viết năm 1957, nhân
ngày kỷ niệm Nguyễn Du.
Người thơ thuần túy Nguyễn Du trong Văn tế thập
loại chúng sinh
Đinh Hùng
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
Lời thơ khẩu chiếm của thi sĩ Nguyễn Du trước khi nhắm mắt lìa đời,
hơn một thế kỷ rồi, vẫn còn như một dư âm quen thuộc của bản nhạc nào chưa dứt.
Bản nhạc lớn dội về từ quá khứ, rung lên từ một tấm lòng người – tôi muốn gọi
đó là "Tiếng Vọng Tố Như",
tiếng vọng thiết tha truyền cảm nhất trong ngôn ngữ Thi Ca Cổ Điển – không phải
chỉ chứa đựng cái tâm sự gió mưa của một thế hệ, mà kết đọng cả nỗi lòng dâu biển
của kiếp nhân sinh từ thiên cổ; không phải chỉ góp "thêm một tiếng nói đứt
ruột" vào cái nhịp sống khắc khoải thời Lê Mạt Nguyễn Sơ, mà người
thơ đã tận nhập hẳn vào thinh không nghìn vạn thuở, để gieo lại những âm đàn
linh ứng, giao hưởng với tất cả những tấm lòng còn ấm nóng cũng như với những hồn
ma vất vưởng trong đêm dài mênh mang.
Tôi muốn nói: "Tiếng Vọng Tố Như" không phải chỉ có "Đoạn trường
tân thanh" mới đáng kể là tiêu biểu mà còn có "Văn tế thập loại chúng
sinh", tức Thơ Chiêu hồn. Tuy ảnh hưởng thực tế không lan rộng như truyện
Kiều, nhưng tầm quan trọng của áng thơ nhất khí này không phải vì thế mà kém
truyện Kiều.
Vả lại, giữa hai áng thơ kiệt tác, không có vấn đề hơn kém giá trị. Cả truyện
Kiều cùng Văn tế thập loại chúng sinh đều giúp cho ta tìm hiểu
con người toàn vẹn của Nguyễn Du. Và phải có cả hai, Nguyễn Du mới
thực là Nguyễn Du. Sắc thái "cây bút thần Hồng Lĩnh" mới thực
toả hết cái ánh sáng xuất thần của "viên ngọc liên thành không vết" [2] và sắc diện linh hồn của người thi sĩ thuần
tuý mới thể hiện rõ những đường nét phiêu diêu khiến cuộc đời hôm nay còn ngưỡng
mộ.
Thử đặt giả thuyết: Nếu tác phẩm chữ nôm của Nguyễn Du không
có Đoạn trường tân thanh, tất nhiên cõi đời đã từ lâu thiếu mất một nguồn
an ủi bao la; những người sống trong cái thế gian thực tại này, đã thiếu rất
nhiều dịp để rung động hòa điệu cùng tiếng đàn Tố Như, để thương yêu, sầu cảm,
thở than cùng tiếng đàn Tố Như. Văn học sử Việt Nam đã thiếu mất một viên ngọc
quý giá, tuy rằng với một Thơ Chiêu hồn, Nguyễn Du đã đủ chiếm
được một chỗ ngồi độc đáo trên thi đàn, đủ trở nên bất tử (như Cao Bá Nhạ đã bất
tử với một Tự tình khúc).
Thiếu Đoạn trường tân thanh quả thật là thiếu thốn lớn cho làng thơ cổ
điển Việt Nam. Ngược lại nếu Nguyễn Du chỉ tạo nên một Đoạn
trường tân thanh mà không sáng tác Thơ Chiêu hồn, có thể danh tiếng Nguyễn Du vẫn
không suy giảm, cõi đời cũng không ai bị mất mát thiếu thốn gì… Những người sống
vẫn sống yên ổn. Những người viết văn học sử vẫn có nhiều tài liệu khác đủ chứng
minh cho cái vốn tinh thần phong phú của dân tộc. Nhưng, bao nhiêu cô hồn lạc
loài phiêu bạt giữa thời gian vô tận ở cõi u minh lạnh lẽo sẽ thiếu mất một Niềm
Thương bát ngát dâng lên lời kinh cầu nguyện chí thành, một cung đàn từ bi mầu
nhiệm gửi về "Thế Giới Bên Kia". Thiếu Văn tế thập loại chúng
sinh, những "cô hồn thất thểu dọc ngang", những "đoàn vô tự
không hương không khói", những "hồn đơn phách chiếc", những
"hồn xiêu phách lạc", những "hồn đường phách sá", những
"hồn mồ côi lang thang trong trường dạ", v.v... tóm lại, tất cả những
"cô hồn nheo nhóc đang tìm đường hoá sinh trong cõi âm huyền mờ mịt"
sẽ thiếu một nguồn Bác Ái tuyệt vời làm phương thuốc siêu sinh tịnh độ, thay giọt
nước cành dương cứu khổ giải mê – ít nhất cũng thiếu một Bản Nhạc Giao Cảm dành
riêng cho âm hồn.
Trên đường thiên cổ, những vong hồn không nơi nương tựa sẽ bơ vơ biết bao
nhiêu! Và Thế Giới của Người Chết, nếu vắng cung đàn chiêu niệm của Tố Như sẽ
còn thê lương tĩnh mịch đến chừng nào?
Nhưng Văn tế thập loại chúng sinh đã ra đời. Có nên nói rằng: May
thay cho những cô hồn ở bên kia cõi thế, và may thay cho cả chúng ta, những người
còn sống dưới ánh mặt trời hôm nay?
Bởi vì Thơ Chiêu hồn của Nguyễn Du ra đời thật là một nguồn an ủi
xót thương không cùng cho những vong hồn đọa lạc – trong số đó mai đây sẽ có
thêm cả chúng ta, những người đang sống hôm nay.
Không phải duy tâm, tiêu cực, cũng không phải nói giọng bi quan, yếm thế.
Đó là sự thật hiển nhiên: Mai đây, cả những con người duy vật nhất, những
con người tự tin mình có tinh thần khoa học sáng suốt nhất, cũng như cả những
nhà khoa học thực sự, cả chúng ta rồi cùng sẽ phải chết, và chết đi, rồi cũng
"hoàn phản không hư".
Cõi không hư, mà tất cả loài người đều sẽ phải đi tới đối với những kẻ tin có
linh hồn, đó là chỗ dung thân cuối cùng, khu vực cư ngụ vĩnh viễn
(không phải như cuộc đời thực tại, chỉ đáng kể là nơi tạm trú dọc đường). Đó là
Thiên Đàng, Cực Lạc, miền Thanh Tịnh vô biên, địa hạt trường sinh của Linh Hồn bất
diệt, nhưng cũng có thể là Địa Phủ, Âm Thầy, là Ngục Ngã Quỷ, là cõi U Minh
thăm thẳm, chìm đắm Hồn người vào giấc mê dài, ám ảnh hoang mang hơn hết mọi giấc
mê. Trong ý niệm siêu hình về Cõi Chết, vẫn có hai sắc thái biểu tượng chập chờn
sau màn sương linh giác, giao nhau trên hai bình diện: Thiên Đàng và Địa Ngục,
nơi linh hồn được giải thoát (vì đã có công tu dưỡng Thiện Căn) và nơi linh hồn
phải chịu đoạ đày (vì chưa rũ sạch Nghiệp Ác). Tùy theo trạng huống tinh thần,
bình yên hay sóng gió, mỗi con người (có linh hồn) đều tự nhiên có sẵn một hình
ảnh rực rỡ hay thảm sầu về cõi tịch diệt của đời mình.
Tuy bọn người "duy tâm" chúng ta – xin mạn phép gọi chung những người
tin ở cái tâm bất diệt là "duy tâm", chưa ai biết đích xác hình tượng,
kích thước cùng vị trí Cõi Chết ra sao, nhưng chúng ta vẫn linh cảm thấy cái Thế
giới bên kia là có, và có thật, nhiều khi thật hơn chính cả hình hài chúng ta.
Niềm tin tưởng đó cần thiết cho những người cần sống toàn vẹn, ham sống lâu
dài, và khao khát sống đến tận cõi tinh tuý vi diệu của sự sống. Nếu không thì
cuộc sống hôm nay của chúng ta, so với thời gian vô tuyệt ký, quả thật
phù du, vô nghĩa quá!
Những con người duy vật sẽ bảo rằng: Chết là hết! Nhưng họ cũng chưa thể
chứng minh bằng khoa học thực nghiệm cho ta nhận chân thấy Cái Không
đó thật là Không. Vậy qua Thơ Chiêu hồn, chúng ta cứ nói đến cái chết và nói đến
những vong hồn đang "sống" trong cõi chết, như nói tới những cảnh, những
người quen thuộc. Chúng ta không cần thuyết minh với những kẻ thiếu lòng tin,
những kẻ thật ra cũng đáng thương như đám cô hồn đọa lạc, vì đã tự tay làm rớt
mất linh hồn [3].
Tôi chợt có một ý nghĩ tin tưởng: Văn tế thập loại chúng sinh của thi
sĩ Nguyễn Du viết ra vì lòng thương xót những vong hồn u mê trót
dại trên đường hoá sinh, nhưng chính cũng là những lời cảnh tỉnh thâm trầm gửi
cho lũ người sống mê ảo của trần gian, những con người sống cũng như đã chết,
hoặc đang chết dần chết mòn để rồi đi vào tiêu diệt, vì không sống bằng tim,
không sống với hồn, không sống với cái ý niệm linh hồn trường cửu, không sống với
cái hình ảnh Cõi Chết hiện sinh. Văn tế thập loại chúng sinh rất có thể chính
là văn tế sống một lũ người chỉ còn vật chất, người mà thiếu mất cái phần tinh
tuý nhất của Người là Linh Hồn.
Đó là tác dụng bất ngờ của Nghệ Thuật, mà chính tác giả thường cũng không lượng
được trước. Nhưng trí tưởng tượng của Nguyễn Du phong phú quá,
nguồn cảm xúc của Nguyễn Du mãnh liệt quá, thi tứ của người dạt
dào lôi cuốn, cái tiềm lực sáng tạo thần linh hay cái ma lực huyền bí nào đã nhập
vào người thơ, khiến ngòi bút của người trở nên xuất thần, quán thế, giữa không
hư sống cho cả những vật vô tri, thổi tâm ý vào từng thể phách sắp tiêu tan, kết
tụ lại cả những điểm tinh anh thoi thóp. Thơ Chiêu hồn của thi sĩ nói với những
chết mà như sấm ngữ tiên đoán cả vận mạng những người sống; gửi về âm thầy cho
ma sầu, lệ quỷ, mà cũng là gửi chung cho cả muôn vàn kiếp phù sinh đang nối gót
nhau bước theo vòng nghiệp chướng luân hồi bất tận:
"Cầu Nại Hà kẻ trước người sau".
Đó là cái viễn tượng cuối cùng của tất cả những chết lẫn người sống, bức
"kiến thần họa" trình bày một hoạt cảnh hiển linh bên kia cánh cửa
huyền bí mà tác giả Chiêu hồn đã mở rộng trước mắt chúng ta.
Cái hướng truyền cảm của Thơ Chiêu hồn như vậy là đã khác với truyện Kiều,
nhưng vẫn bổ khuyết cho Truyện Kiều, về phương diện triết học, đạo lý thuần khiết.
Tầm quan trọng của Thơ Chiêu hồn đặt bên Truyện Kiều vì thế không thành vấn đề
hơn kém. Nếu Truyện Kiều ví như một tòa lâu đài uy nghi dựng lên giữa cuộc sống
biến diễn từng lớp kịch nhân tình bi hoan, thì Thơ Chiêu hồn là một ngọn hải
đăng cô tịch chiếu ánh sáng ngoài cửa biển đêm dài, soi đường cho những con
thuyền lạc lõng trên sóng nước mù sương.
Mở đầu truyện Kiều, Nguyễn Du viết:
Trăm năm trong cõi người ta…
Mở đầu Chiêu hồn, chúng ta đọc:
Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô.
Não người thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuộm bạc, lá ngô rụng vàng.
Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Dịp đường lê lác đác sương sa!
Lòng nào lòng chẳng tha thiết,
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm…
Không có "truyện" gì hết. Người ta chỉ thấy một không khí thê lương
tê lạnh đến não người, cái lạnh như toát ra từ một tử thi, khiến người ta phát
rùng mình. Và, chỉ thấy hiện ra trước mắt một cảnh sắc bàng bạc úa tàn chìm
trong màn sương mờ mịt – tuy là khung cảnh trần gian nhưng đã mất hết sinh khí,
bởi vì "cõi dương" ở đây có phảng phất cái hơi hám của "cõi
âm".
Chúng ta đi vào thế giới của "Chiêu hồn" như đi vào chiêm bao, một
chiêm bao dằng dặc thâu góp tất cả những giấc mơ linh ứng nhất của kiếp người.
Lý trí chúng ta dần dần hôn mê như kẻ nhập "đồng thiếp".
Chúng ta không còn trông thấy cái bóng dáng của thế sự. Cuộc sống thực tế, cuộc
sống xã hội, chính trị, tất cả mọi băn khoăn xao xuyến của kiếp sống MỘT THỜI đều
nhòa đi trước cái chu tuần thời gian bất tận chuyển vần bao nhiêu duyên
nghiệp trong vòng luân hồi truyền kiếp: Những "Hoài niệm Lê triều",
"Giấc mơ Từ Hải", những tâm sự u uất về "Tài mệnh tương đố",
"hồng nhan đa truân", những "hỷ, nộ, ai, lạc…" của một con
người sống giữa nhiều con người khác, trước cái đối tượng con người, cả những
thái độ "tự kỷ biện minh", "tự kỷ biện thể hiện" của tác giả,
tất cả đều không còn là mối vướng bận ở đây, mà chỉ còn là ảo ảnh, là hồi
thanh, dư hưởng, là biểu tượng, là âm ba… Và đó mới là tính chất của Thi Ca Thuần
Tuý. Bởi vì tất cả đều đã gạn lọc, kết tinh, chìm lắng vào địa hạt kỳ diệu của
trực giác, địa hạt linh ứng của tiềm thức – địa hạt vô cùng sáng láng của Cái
Tâm siêu thoát, địa hạt siêu ý thức của Linh Đài.
Chúng ta gọi Thơ Chiêu Hồn của Nguyễn Du là một bài thơ thuần
tuý. Nguyễn Du chỉ coi đó là một thứ "Văn tế thập loại
chúng sinh".
Cái mạch truyền cảm của ngòi bút nhà thơ, từ trong ý niệm sáng tạo, trước nhất
chỉ dành riêng cho những người chết, những linh hồn:
Trong trường dạ tối tăm trời đất,
Có khôn thiêng phảng phất u minh.
Thương thay thập loại chúng sinh,
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người…
Niềm thương nhân thế của thi sĩ ở truyện Kiều dẫu sao cũng chỉ là một
niềm thương có hạn. (Bởi vì chạnh thương thân phận mình cho nên mới thương
chung nhân loại). Nhưng tình thương của người thơ ở Chiêu hồn thật là một tình
thương mênh mang vô bờ bến. Một Nguồn Thương thanh tịnh bao la trùm lên trên tất
cả mọi nghiệp chướng của kiếp phù sinh, một nguồn thương rộng lớn như tâm hồn
uyên nhiên cao khiết của bậc chân tu, như tấm lòng từ bi xả kỷ của đức
Phật.
Tất nhiên phải thấm nhuần Triết Học Phật giáo tới chỗ thâm viễn, Nguyễn Du mới
sáng tác nên Chiêu hồn. Nhà phê bình văn học sẽ tìm mọi ảnh hưởng của nền triết
học bi quan giao động trong tâm trạng nhà thơ, đồng thời sẽ căn cứ vào niềm
khát vọng đạt tới Hình Nhi Thượng của thi nhân, để bảo rằng Nguyễn Du là
một thi sĩ triết gia.
Tôi không nghĩ khác. Tuy nhiên, tôi muốn nói thêm với Chiêu hồn, Nguyễn Du là
một triết gia thi sĩ, nhưng Nguyễn Du không dụng ý đặt thành một
căn bản triết học hay tôn giáo. Thi sĩ mặc nhiên tin theo luật Nhân Quả Luân Hồi
của Tiểu Thừa Phật Giáo, cũng như thi sĩ tin người ta có linh hồn sẽ bất diệt.
Nếu có những kẻ (duy vật) coi cái chết là chỗ tận cùng của kiếp người, thì trái
lại, đối với tác giả Chiêu hồn, cái chết mới là khởi điểm của cuộc sống miên
trường, ở trong cõi "Linh Hồn vị Linh Hồn" cái chết mới chính thức dẫn
người ta tới con đường đọa lạc hoặc siêu thoát. Bởi vậy Nguyễn Du đã
nhìn thẳng vào cái chết, chiêu niệm lên những âm vọng, tha thiết kêu gọi các
linh hồn, để gửi chung cho họ một lời cầu nguyện chí thành.
Tự nhiên, trong một tột độ cảm hứng, Nguyễn Du đã phát Bồ Đề
Tâm, như một vị Phật Sống. Hay đúng hơn, phải nhận rằng: trong lòng Nguyễn Du đã
có sẵn cái Tâm Ý của Thích Ca. Lời nói của nhà thơ tự nhiên cũng chứa đựng sẵn
cái tinh tuý của bản thuyết pháp.
Trên thực tế, người ta đã biết Nguyễn Du không những là một nhà
Nho uyên thâm, mà còn thông đạt cả đạo Phật lẫn Lão Trang, nhưng, trong cõi
mênh mang huyền bí của cuộc sống tâm linh, đã mấy ai theo dõi được tường tận cuộc
chuyển hoá mầu nhiệm của bản chất người thơ? Và cái Tâm Vô ngã của Nguyễn Du đã
mấy lần vượt khỏi mọi ràng buộc của vật thể để tận nhập vào cõi vô cùng thanh tịnh,
mở đường siêu thoát cho chúng sinh và cho chính mình? Và bản thể Nguyễn Du đã
mấy lần tự hủy để rồi lại tái sinh qua bao nhiêu hình tướng, bao
nhiêu duyên nghiệp? Và thần phách Nguyễn Du đã có lần nào lẩn
vào xác bướm, hồn hoa? Hoặc có lần nào con người siêu phàm trong Nguyễn Du,
biến hình thành Tiên thành Phật, thành Quỷ, thành Ma?
Những trạng thái đó, không mấy ai nhận thức được đích xác. Tuy nhiên, đối với
người thơ thuần tuý Nguyễn Du, mọi sự phi thường đều trở nên sự thường.
Trong cô độc, Nguyễn Du đã từng sống với thần tiên, ma quỷ, bởi
vì ma quỷ thần tiên cũng chỉ là hình ảnh "phản hồn" của chính con người Nguyễn Du.
Có thể nói: Thần tiên với ma quỷ cũng chỉ là "sản phẩm sáng tạo" của
Người Thơ trong những phút giây xuất thế.
Hiện trạng sau đây sẽ chứng tỏ rằng tác giả "Chiêu hồn" có một thứ
tâm bệnh thần linh, những lúc cơn bệnh bạo hành cũng là những lúc cái
"thiên thể" kết tinh của người thơ xuất hiện, để lâng lâng tiêu dao
trong cõi huyền vi ngoài vật lý:
"Từ ngày khởi nghĩa Cần Vương thất bại, tiên sinh trốn vào Gia Định không
xong, bị giam lỏng ở quê nhà, đã trải qua bao nhiêu khổ cực: Mới ba mươi tuổi,
đầu đã bạc, bệnh tật không có thuốc uống, thân thể đau ốm gầy gò, khi nằm phải
lấy bó sách mà kê cho khỏi đau xương, mặt mày xanh xao phải nhờ chén rượu mới
có nhan sắc, bế nước thì cả ngày không nấu nướng. Nhưng chính trong những năm về
ở ẩn quê nhà đó, tiên sinh đã chu du trên 99 ngọn Hồng Lĩnh, ngắm
dòng sông Lam, ngó vào mình, rồi nghiền ngẫm về cuộc đời đã trải qua, thương
mình, thương người. Đứng trên đỉnh Hồng Lĩnh thương xót lũ chúng sinh vô tội,
người nhìn dòng sông Lam thấy:
Bờ hư lử ầm ầm như sấm dữ, sóng lớn trông như có ma quỷ…
Rồi nghĩ rằng:
Ta trông thấy dòng sông Lam, tấc lòng thương áy náy, nên sợ lỡ "sẩy chân thời
chìm xuống chốn không đáy…"
Và ngạc nhiên hỏi:
Sao mà người thế gian nguy hiểm không biết sợ, kẻ đi sao "cuồn cuộn, kẻ lại
còn không ngớt".
Và lo hộ mọi người:
Lòng trời vốn hiếu sinh nhưng không được thế mãi.
Và ước vọng:
Muốn xô núi Thiện Nhẫn, lấp bằng 500 dặm" [4].
Lại nữa, vào giai đoạn chót của cuộc đời nhà thơ, "lúc đau nặng, Nguyễn Du không
chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay xem, nghe thưa đã lạnh hết rồi, thi sĩ
nói: "Tốt! Tốt!" rồi tắt hơi…" đủ hiểu thần trí Nguyễn Du an
nhiên, bình thản biết chừng nào, khi người nhận thấy hình hài xương thịt không
còn vướng bận, linh hồn sắp được nhẹ cánh bay xa. Biết mình sắp chết, nghĩa là
sắp đi vào cõi "âm huyền mờ mịt", sắp lạc vào cõi "trường dạ tối
tăm trời đất", mà vẫn ung dung tự tại, hơn nữa, còn tỏ ý hân
hoan, sảng khoái, tất người đã trút bỏ được hết những não phiền nhân thế, chờ
đón cái chết đến như một niềm giải thoát tột vời – cái chết sẽ đưa người tới
cõi Vô Cùng Thanh Tịnh, nơi "vạn cảnh giai không". Phải chăng bởi vì
người tự tin rằng trong kiếp sống, người đã có công tu dưỡng thiện căn, và tự
nhiên người sẽ "siêu thoát khỏi trong luân hồi", không sự nghiệt chướng
theo đuổi, như cái chết dữ ám ảnh những vong hồn đoạ lạc? Chỉ có đức Phật, trước
thời khắc tịch diệt, mới giữ được Đức Tin vô lượng đó cùng niềm Hoan Lạc cao
khiết kia.
Trong đời Nguyễn Du – đúng hơn: phải nói trong "đời sống
anh hoa" của Nguyễn Du – hẳn có nhiều thời khắc tịch diệt
như đức Phật. Vì, xin nhắc lại cái ý: "Bản thể Nguyễn Du hẳn
từng có nhiều lần tự hủy để rồi lại tái sinh"… Người thơ đã hoà đồng chính
mình cùng vạn vật, cho nên cũng sinh hóa, chuyển kiếp không ngừng như vạn vật. Đoạn
trường tân thanh đến Văn tế thập loại chúng sinh, chúng ta có thể bảo
rằng Nguyễn Du đã từng nhiều phen "chết trong cuộc sống"
cũng như đã từng "sống toàn vẹn trong cả cõi chết". Và, chúng ta có
thể nhận thấy: Dù nhìn vào cuộc sống huy hoàng về cái chết, tầm mắt nhà thơ vẫn
là tầm mắt thấu thị (voyant), soi tỏ nhân tình và thông suốt hư linh. Ở cuộc sống
hay cõi chết, thi sĩ đều bắt nguồn giao cảm từ một Tình Thương bao la như tấm
lòng biển lớn của Phật tổ, để cũng như đức Phật từ bi, mở đường phương tiện, tiếp
độ cho chúng sinh thoát khỏi mê lầm, khổ ải, đồng thời vạch lối tự tu, tự giác
cho chúng sinh thấm nhập được cái lẽ uyên nhiên của Đạo Lý nghìn đời.
Tình thương xả kỷ của Nguyễn Du, nguồn tin tưởng độ thế của Nguyễn Du,
hơn đâu hết, ở Chiêu hồn, đã dâng cao thành một niềm Tín Ngưỡng thiêng liêng,
và hơn đâu hết, cái Khát Vọng Vô Cùng và Tuyệt Đối của người thơ ở đây đã được
biểu lộ trọn vẹn nhất, tha thiết nhất, với tất cả nồng nhiệt tôn sùng của một
tâm hồn không lúc nào ngừng khám phá thêm những vũ trụ huyền bí.
Tuy vậy, tác giả "Chiêu hồn" không dụng tâm làm một kẻ tín đồ truyền
giáo. Cũng như không dụng ý đặt thành một căn bản triết học hay tôn giáo, với
cái bản chất hướng thiện hàm dưỡng lâu ngày đã hầu thành một cao đạo, với hoài
vọng thuần khiết của một kẻ sĩ quân tử hằng khao khát tìm một ý nghĩa nhân ái
cho cuộc sống, và tìm một cứu cánh giải thoát cho cái chết, tự nhiên từ trong ý
niệm sáng tạo của nhà thơ, đã có sẵn cái mầm kết tụ nhuỵ hương tinh tuý của đoá
hoa Chân Lý toàn năng, toàn mỹ. Tự nhiên, trong mỗi âm thanh, vần điệu
của Thơ Chiêu hồn, nghe như có vọng lại cái tiếng vang linh ứng của những bài
Kinh Thần Tụng, vời vợi dâng lên dư hưởng tôn nghiêm của bản Thánh ca: Tất cả
chìm đắm trong một mùi khói hương huyền diệu, khiến người có lòng tín mộ tự
dưng muốn chắp tay cúi đầu khấn nguyện, hòa theo nhịp rung thần bí của những lời
thơ xuất tự cùng thẳm linh đài sùng bái.
Vậy, trước hết, với cái tính chất tổng hợp, súc tích chuyển tới kết tinh thành
hương khói thanh thoát, Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du chính
là một áng thơ thuần túy – theo cái nghĩa toàn vẹn nhất của chữ "thuần
túy". Trên tất cả màu sắc triết lý và tôn giáo, cái bản ngã "Người
Thơ Thuần Túy" của Nguyễn Du bao trùm nhịp nhàng lên toàn
thể áng thơ từ dòng đầu tới dòng cuối, truyền cảm xúc mê hoặc vào mỗi nhịp điệu,
phổ cung bậc tân kỳ vào từng nét chữ và tạo cho chữ viết một ma lực quyến rũ
khác thường, vượt xa hết mọi ảnh hưởng đương thời của văn học từ chương.
Chừng ấy nhận định đủ khiến ta cảm thấy Thơ Chiêu hồn tất phải được thai nghén
trong một thời khắc xuất thần, "thời khắc duy nhất" – ở độ tột
cùng của cảm hứng, giữa một trạng thái siêu ý thức của nhà thơ.
Áng thơ nhất khí dài 184 câu đó, từ chữ đầu đến chữ cuối chảy liền mạch không
ngừng hơi, tuy gọi "Văn tế thập loại chúng sinh", nhưng không viết
theo thể tài cố hữu của văn tế, mà viết theo ngôn ngữ thi ca song thất lục bát,
chứng tỏ nguồn cảm hứng của thi sĩ trước hết chỉ là một nguồn cảm thuần chất
thơ. Trước hết, thi sĩ muốn nói lên một tiếng nói chí thành và tha thiết của
tâm linh nhắn gửi cho những vong hồn phiêu bạt ở bên kia cõi thế. Kiến trúc bài
thơ như đã biến hình để chỉ còn là sương khói chập chờn, vọng thanh huyền bí,
dư ba tuyệt vời. Cái tính chất linh ứng của tiếng nói thi nhân cứ tự nhiên lâng
lâng rung trên vần điệu, và trong mỗi âm hưởng, trong mỗi ảnh hình, màu sắc,
bài thơ tự nhiên toả ngát khói hương, chìm đắm hồn người vào không khí tín mộ của
đàn chẩn tế, của lễ cầu siêu: Thoát khỏi mọi ước lệ của hình thức, văn thể,
"Chiêu hồn" của Nguyễn Du với cái tính chất kết đọng của
một áng thơ thuần túy, vừa mới khởi đầu gảy khúc dạo, đã xô dồn cung bậc gió
mưa cao vút, mỗi chữ đều có một thần phách chỉ đường, bút pháp như phất phới
linh kỳ dẫn lối. Tất cả tạo nên một bản hợp tấu lạ lùng, mỗi hòa âm đều thâm trầm
nhập điệu tôn nghiêm của bài ca chiêu niệm, của bản Kinh Thần tụng.
"Văn tế thập loại chúng sinh" đã thành hình – và phải nói đã thành
hình từ trong tiềm thức Người Thơ.
Nhưng cần phải xác nhận: Nếu gọi Văn Tế, thì đây thật là một bài "Văn Tế"
độc nhất linh ứng trong lịch sử văn học cổ kim. Linh ứng theo cái hướng truyền
cảm hoàn toàn vô tư của một công trình sáng tạo dành riêng cho thập loại chúng
sinh trên đường Thiên Cổ. Vậy đừng tìm ở "Văn tế thập loại chúng sinh"
cái nghĩa cụ thể của những thứ Văn Tế đãi ngộ với người sống nhiều hơn cảm hứng
cùng người chết. Cũng đừng tìm ở đấy những nguyên lý cấu tạo trên bình diện thực
tế, những yếu tố kích thước phàm tục. Danh từ "Văn tế" quả đã được
dùng với một cái nghĩa siêu thực tình cờ mà đắc vị.
Bài "Văn Tế" nhập hình thức một áng thơ thuần túy đó, ngay từ dòng chữ
đầu tiên, đã lôi cuốn người ta vào một khung cảnh "không thường":
Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô.
Não người thay buổi chiều thu…
Tuy vậy, đó mới là cảnh sắc trần gian. Cõi trần gian mà trời đất đã thê lương ảm
đạm nhường ấy (gió heo may toát hơi lạnh buốt đến tận những
nắm xương khô), thì cõi âm kia còn thảm sầu bi thiết tới chừng nào?
Cuộc sống với cõi chết chỉ cách nhau một chặng đường ngắn. Như người đi trong
giấc chiêm bao, thi sĩ nhẹ gót dạo qua chặng đường đó lúc nào không biết. Chỉ một
bước, thi sĩ đã dẫn chúng ta đi lạc vào thế giới U Hồn, để mà chia nỗi xót
thương cùng lũ âm vọng đơn chiếc:
Thương thay thập loại chúng sinh,
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.
Hương lửa đã không nơi nương tựa,
Hồn mồ côi lần lữa mấy niên;
Kể chi ai khá, ai hèn,
Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu…
Thế giới của vong hồn đột ngột dựng lên trước mắt chúng ta. Và đây mới thật là
"Thế Giới Đại Đồng", không còn phân biệt đẳng cấp, giá trị - cả giá
trị vật chất lẫn giá trị tinh thần! Bởi vì "trước cái chết, mọi người đều
bình đẳng". Thấm được trong lời nói vô cùng thương xót, chân lý
Sắc Không đã bắt đầu mở hé một phương trời siêu thoát.
Tiết đầu thu lập đàn giải thoát,
Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi.
Muôn nhờ đức Phật từ bi,
Giải oan cứu khổ cùng về Tây phương…
Tấm lòng bác ái vô biên của thi sĩ đã hòa đồng cùng tấm lòng từ bi vô lượng của
đức Phật. Lời nói của thi sĩ cũng là những lời kinh cầu nguyện thấm thía hơn cả
mọi lời kinh. Ngay trong lòng tác giả "Chiêu hồn" đã có sẵn cả một
đàn chay cứu khổ. Giọt nước cảm xúc của nhà thơ chính là hạt nước cành dương mầu
nhiệm, có cái hiệu quả siêu sinh tịnh độ đối với những vong hồn còn nặng chướng
căn.
Hương hoa tín ngưỡng cùng khói nhang phụng thờ từ trong ý nguyện thi nhân, đã
dày bày thành một lễ Vu Lan [5] thành khẩn, tuy không thể hiện với đầy đủ
nghi thức trọng thể, nhưng có lẽ là một lễ Vu Lan đầy đủ ý nghĩa nhất, và cũng
thiêng liêng linh dị nhất.
Đàn chẩn tế của thi sĩ, dù chỉ thành hình trong ý nguyện nhưng có một giá trị
tượng trưng tuyệt đối, một giá trị nhân đạo vô cùng cao đẹp. Và tuy Nguyễn Du không
tu thành Phật như một Mục Kiền Liên [6], nhưng tấm lòng nhân từ kiêm ái của thi
sĩ cũng kết tự "Phật tính" viên mãn không kém gì đạo đức tu dưỡng của
người cao đệ Thích Ca Mâu Ni. Một đàng nhờ Phật pháp nhiệm mầu làm phương thuốc
giải mê cho chúng sinh chỉ vì thương chúng sinh đau khổ – một tình thương hoàn
toàn vị tha, xả kỷ, một thiên chức hoàn toàn vô tư, một ý nguyện không gợn mảy
may dục vọng! Một đàng muốn cầu xin ân đức hải hà của Phật Tổ để cứu vớt cho
linh hồn khổ đọa của bà mẹ tội lỗi – vì lòng mộ đạo chí thành, và trong hết, vì
bổn phận báo hiếu của người Phật tử.
Hai thái độ sùng tín, hai nguyện vọng giải thoát linh hồn! Hai đài thiêng cùng
thiết lập,và hai linh hồn cùng tự hiến dâng cho Đạo lý: Từ Mục Kiền Liên đến Nguyễn Du,
từ lễ Vu Lan đầu tiên đến Văn tế thập loại chúng sinh, thiết tưởng chúng
ta khỏi cần tìm nhịp cầu ảnh hưởng tương quan, cũng như khỏi cần vạch rõ con đường
chuyển tiếp mạch nguồn cảm hứng. Cái Tâm Duy Nhất của Phật Tổ đã vượt qua
cả không gian lẫn thời gian để chứng nguyện cho tất cả mọi tấm lòng mộ đạo. Từ
tấm lòng thành kính của người Phật tử đầu tiên mở đường hương khói Vu Lan đến tấm
lòng tín ngưỡng tinh khiết của nhà thơ tác giả Chiêu hồn, con đường nối duyên
không còn cách biệt. Hai tấm lòng đều có chung một vị Phật. Hay là: mỗi tấm
lòng đều hiển hiện một vị Phật sẵn sàng phổ độ cho chúng sinh.
Phật có mặt ở khắp mọi nơi. Và hơn đâu hết, ở áng thơ thuần túy của Nguyễn Du,
bóng dáng Phật lại càng hữu tình, huyền diệu. Không vướng mắc hình thức lễ nghi
phức tạp, đường lối tìm đến Phật của nhà thơ chỉ là đường lối thanh tuyền của
linh giác, cho nên càng dễ thần giao cảm ứng, càng dễ đạt tới địa hạt thoát tục,
siêu hình.
Chúng ta không hiểu có phải hào quang của Phật pháp đã phản chiếu ở lời thơ
Chiêu hồn, hay chính là hào quang của lời thơ đã khiến cho phép Phật thêm linh
diệu.
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,
Phóng hào quang cứu khổ độ u.
Rắp hòa tứ hải quần chu,
Não phiền trút sạch, oán thù rửa không.
Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,
Chuyện pha luân tám giới thập phương,
Nhơn nhơn Tiên Diệu Đại Vương,
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.
Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh,
Trong giấc mê khuy tỉnh chiêm bao.
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh…
Chúng ta cũng không hiểu có phải tấm lòng từ bi vô ngã của Phật đã thấm vào lời
thơ, hay chính là tinh tuý phát tiết từ những lời thơ nhuần thấm vô lượng Tình
Thương của thi sĩ đã khiến chúng ta "nhìn" thấy bóng dáng Phật, và
truyền cho chúng ta nguồn thanh hương sáng láng của đạo tâm. Trên lĩnh vực tín
ngưỡng tôn giáo, chúng ta cũng không hiểu công phu hàm dương của Nguyễn Du đã
có đủ quyền lực thần thông để thi sĩ tự mình ban ân huệ cho những vong hồn đọa lạc như một vị Bồ Tát đem phép thiêng "biến không thành có, biến ít thành
nhiều". Nhưng trên địa hạt nghệ thuật, hoan lạc thi tứ của Nguyễn Du quả
thật có thể tạo được nên những phép lạ.
Phép lạ thứ nhất ở Chiêu hồn là cái phép "biến không ra có", làm cho
cái vô hình trở nên hữu hình, làm cho những vật trừu tượng cũng hiện thực, truyền
cho những vong hồn một đời sống hiển nhiên của vật thể. Dưới ngòi bút thi sĩ,
những bộ xương khô nằm trong huyệt lạnh bỗng đỡ nâng thao thức cựa mình, những
người chết từ mấy kiếp cũng dần dần hồi sinh, lũ hồn ma thiên cổ lần lượt sống
lại, và đi dạo chập chờn ngay trước mặt chúng ta. Với kỹ thuật tái tạo của thi
ca, Nguyễn Du đã kết tụ được cả từng điểm tinh anh thoi thóp trong
trời đất, dung hợp được cả những thực thể có hình tượng, sắc màu - những
bóng ma sống lần cùng trần thế:
Nghe gà gáy tìm đàng lẩn tránh,
Lặn mặt trời lẩn thẩn bò ra.
Lôi thôi bồng trẻ dắt già…
Những hồn ma "phảng phất u minh" đó, từ khi Nguyễn Du lên
tiếng chiêu niệm, đã trở nên quen thuộc quá đối với chúng ta: Với Chiêu hồn, Nguyễn Du đã
khiến trần gian làm quen với cõi Chết, và làm cho những hồn ma thêm gần gũi người
trần.
Không phân biệt sang hèn, hiền ngu, thi sĩ kêu gọi tất cả mọi vong hồn, chia đều
tình thương cho tất cả, nguyện cầu cho tất cả mọi linh hồn khổ luỵ đều thoát khỏi
nghiệp chướng luân hồi. Hình bóng của thập loại chúng sinh khắp ba ngàn thế giới
đau thương được thi sĩ gọi lên, trong tất cả mọi cảnh ngộ, dưới tất cả mọi chiều
ánh sáng, kinh dị vì xác thực, thê thảm tới rợn người vì hiện
rõ chân tướng.
Nhưng kẻ ham tranh bá đồ vương gặp buổi vận cùng thất thế, những kẻ hào phụ
giàu sang gây nên thù oán đến nỗi máu chảy xương rơi, những kẻ màn loan chướng
huệ, những kẻ cung quế phòng hoa gặp khí sơn hà thay đổi, những kẻ mũ cao áo rộng
đầy túi kinh luân, hết cơn thịnh mạn tới buổi lầu cao viện hát tan tành, những
kẻ bài binh bố trận gặp lúc đạn lạc tên rơi, những kẻ hám danh chuộng lợi, những
kẻ bạc chảy tiền ròng, bất kỳ gặp phải tuần mưa cữ nắng, những kẻ xông pha hồ hải
gặp cơn giông tố giữa dòng, những kẻ đi buôn về bán gặp phải phong sương, những
kẻ buôn nguyệt bán hoa, những người hành khất, đoàn tù rạc, những tiểu nhi lỗi
giờ sinh, những kẻ bỏ mình vì tai nạn.
Tất cả những kiếp người đó, tuy mỗi người một nghiệp khác nhau, nhưng chết đi,
rốt cuộc chỉ còn lại là một lũ cô hồn thất thêu "thở than dưới đất, ăn nằm
trên sương"…
Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi,
Hoặc là nương ngọn suối chân mây.
Hoặc là điếm cỏ, bóng cây,
Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ.
Hoặc là nương thần tu Phật tử,
Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông.
Hoặc là trong quãng đồng không,
Hoặc là gò đống, hoặc vùng lau tre…
Trước kiếp sống phù du cùng cái chết đọa lạc như vậy, thi sĩ đã xúc động
viết nên Chiêu hồn với tấm lòng cứu nhân độ thế của đức Phật. Đáng kể hơn: đức
Phật trong lòng Nguyễn Du không phải chỉ có phép màu giải thoát
chúng sinh, mà còn hoàn thành một công trình sáng tạo kỳ diệu truyền lại dư âm
tới muôn đời. Phải nói rằng: Chính phép mầu của những vần thơ Chiêu hồn đã đặt
vào giữa lòng mỗi người một vị Phật:
Kiếp phù sinh như hình như ảnh,
Có chữ rằng: "Vạn cảnh giai không";
Ai ơi lấy Phật làm lòng,
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi…
Ở đây, thật không còn cái bóng dáng của thế sự.
Cuộc sống thực tế, cuộc sống xã hội, chính trị, tất cả mọi băn khoăn xao động của
kiếp sống MỘT THỜI đều nhòa đi trước cái chu tuần thời gian bất tận chuyển vần
bao duyên nghiệp trong vòng luân hồi truyền kiếp: Những "hoài niệm Lê
triều", "tài mệnh tương đố", "nỗi lòng Từ Hải", tâm sự
Thuý Kiều", những "hỷ, nộ, ái, ố, dục…" của một con người sống
giữa nhiều con người khác - trước cái đối tượng con người - tất cả đều không
còn hiện lên bóng dáng cụ thể mà chỉ còn là ảo ảnh, là hội thanh, là dư hương,
là âm ba, là biểu tượng… Và đó mới là tính chất của Thi Ca Thuần Túy. Bởi vì tất
cả đều đã gạn lọc, kết tinh, chìm lắng vào địa hạt khói sương huyền mặc của trực
giác.
Xét về phương diện Kỹ Thuật, thì Nguyễn Du là một tay phù thủy
dùng chữ như sai âm binh. Bài thơ phảng phất cái ma lực quyến rũ của bài thần
chú. Có những vần điệu, những âm thanh, từ ngữ tọa triết linh hồn ta, thấm vào
tận não cân ta, và không biết phép nhiệm mầu phát khởi từ đâu khiến ta mê hoặc,
có lúc run sợ, hoang mang, có khi xót xa thông cảm. Kỳ dị nhất có khi ta đọc lời
thơ mà thấy rờn rợn y như chợt nói lên một điều gở miệng mà chúng ta thường
kiêng nhắc tới, cũng như kiêng đọc lên bài kèn lâm khốc, khi trong nhà chưa có
người nằm xuống.
Thử đọc đoạn thơ trích sau đây - ai mà không thốt nhiên rùng mình, ít nhất cũng
thấy lòng se lại trong một niềm tê tái thoáng qua, giữa đêm khuya chợt nghe thấy
tiếng khóc đám ma, hoặc tiếng đóng cá quan tài từ đâu văng vẳng:
Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé,
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.
Lấy ai bồng bế xót xa,
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.
Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,
Cũng có những sẩy cối sa cây.
Có người đào giếng đứt dây,
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.
Người thì mắc sơn tinh thủy quái,
Người thì vướng mảnh hái ngà voi.
Có người hay đẻ không nuôi,
Có người sa sẩy có người khốn thương…
Thiết tưởng trong lịch sử thơ văn Đông Tây kim cổ, hiếm có một áng thơ truyền cảm
tới cái độ trở nên một niềm ám ảnh, hơn thế nữa, một lời nguyền linh dị, những
lời thần chú thiêng liêng, những lời nói của Định Mạng!
Người ta thường nói đến bản nhạc "Danse Macabre" của
Saint-Saëns [7], một vũ khúc kỳ ảo
mà âm hưởng, tiết tấu dựng lên cả khung cảnh ma quái, với những bộ xương khô từ
dưới huyệt hiện lên múa nhảy, va chạm vào nhau lóc cóc…
Trước đây tự hơn một thế kỷ, và trước cả Saint-Saëns, Nguyễn Du cũng
đã tạo nên một khúc nhạc tấu ma quái không kém gì Danse Macabre. Nhưng
"đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc", những "quỷ không đầu đón khóc
đêm mưa", những "cô hồn thất thểu", những "bãi tha ma kẻ dọc
người ngang", những "nắm xương vô chủ", nắm xương chôn rập góc
thành", những "ngọn lửa ma trơi", những "tiếng oán văng vẳng"…
đặt bên những khung cảnh: "mô nấm ngổn ngang", "trời xâm xẩm mưa
gào gió thét", "khi âm huyền mờ mịt", "hòm gỗ ra, bó đóm
đưa đêm"… tất cả mọi kho tàng hình ảnh rùng rợn, gở quái, rung theo những
nét nhạc tuy thuần chất Đông phương, nhưng vang lên âm hưởng thắm thiết lạ
lùng, đắm đuối vào những tiết điệu có lúc buông chìm thăm thẳm, có lúc dâng cao
tuyệt vời: chính đó là một bản hợp tấu thần kỳ mà bút pháp cổ điển của các thi
gia Việt Nam trước Nguyễn Du cũng như đồng thời với Nguyễn Du chưa
từng thí nghiệm.
Nghệ thuật gợi cảm hết sức tân kỳ của tác giả Văn tế thập loại chúng sinh đã
truyền một Hồn Sống Vĩnh Cữu cho chữ viết khiến chúng ta ngày nay cũng vẫn còn
thấy nghệ thuật đó Mới. Cái Mới của Thơ Chiêu hồn đã sống bền hơn một trăm năm.
Chúng ta có thể tin chắc rằng áng thơ thuần tuý độc nhất vô nhị đó tới ngày tận
thế cũng vẫn còn Mới. Và chắc rằng ở cả thế giới bên kia đối với những linh hồn
thiên cổ, Thơ Chiêu hồn mãi mãi cũng sẽ còn giữ được cái màu sắc tân kỳ.
Tự bao lâu nay, linh hồn Nguyễn Du, sống trong luồng sinh diện thần
giao phát tiết ra từ bao linh hồn khác, tới bây giờ và bao giờ nữa, vẫn còn rạo
rực ấm nóng trong Văn tế thập loại chúng sinh. Trong từng âm thanh, văn điệu,
linh hồn Người Thơ toả rộng bao trùm, với tất cả khói hương ngây ngất (mùi khói
của trầm bạch, của hương đen, mùi hương gỗ của hoa sen, hoa huệ… có cả cái mùi
lạnh toát của gỗ hạnh đan, cái mùi nồng nàn mà rờn rợn của nước ngũ vị hương, của
thứ "nước vàng" để rửa những bộ xương khi bốc mộ…) hòa cùng những tiếng
trống, tiếng kẻng, tiếng mõ, tiếng đều đều tụng kinh trước một đàn chay phá ngục…
(văng vẳng cả những tiếng xương khô va chạm vào tiêu sành, tiếng một điệu kèn
Già Lam thổn thức…). Toàn cõi U Minh của người chết tất có một lúc thốt rùng
mình đón nhận một luồng sáng truyền cảm mê hồn của thi nhân, như đón nhận một
luồng sinh khí hồi dương huyền diệu.
Như một bực Á Thánh, như một vị cao tăng đạo đức, như một thuật sĩ có quyền
phép nhiệm mầu, hay là như một nhà thần linh học có trực giác bén nhạy khác thường,
thi sĩ có thể vẫn dùng được cái quan năng siêu phàm của mình, để cảm thông với
Hư Linh, cho nên bất cứ lúc nào thi sĩ cũng có thể làm cho Âm
Dương dung hợp.
Hơn cả một nhà khoa học, tác giả Chiêu hồn đã để lại cho chúng ta một công
trình khám phá kỳ tuyệt. Thi sĩ đã đem lại cho chúng ta tất cả dư hưởng gần gũi
của cõi U Huyền vô hình vô ảnh, làm cho thân mật thêm cái Thế Giới Bên Kia huyền
bí hơn cả muôn triệu vì sao lạ.
Viết Chiêu hồn, Nguyễn Du trực tiếp đàm thoại cùng những vọng
thanh linh ứng của người chết. Giữa hai dòng chữ ở một chỗ ngừng hơi (hay ứ hơi
thì đúng hơn) – tựa một khoảng im lặng của một bản nhạc – tưởng chừng có phảng
phất cái âm khí ma quái từ cõi Diêm Cung thoảng về? Tất cả cái thi vị ghê rợn đến
não nùng đó, không hiểu sao truyền tới những người sống như chúng ta, liền bên
cạnh giây phút rùng mình, vẫn phơn phớt gợn nhẹ một cảm giác vô cùng sảng
khoái.
Chúng ta chợt hiểu: Con đường siêu thoát mở ra trong Chiêu hồn chính là con đường
dẫn chúng ta đi vào hủy diệt để mà tìm lấy Bất Diệt.
Tất cả mọi công trình vĩ đại trên thế gian này – kể cả công nghiệp lộng lẫy của
chính Nguyễn Du xây dựng trên nền cẩm thạch Đoạn trường tân
thanh – tất cả rồi cũng sẽ có ngày trở về cát bụi. Nhưng Chiêu hồn vốn chỉ
là một bản thông điệp gửi cho thế giới của Linh Hồn, sẵn kết tụ cái tinh tuý của
Không Hư, thấm nhập được vào tận cõi vi diệu của Đạo Sống miên trường, Chiêu hồn
sẽ không bao giờ ngưng tắt dư vang âm vũ trụ.
Chúng ta cứ yên trí rằng: Một ngày nào tới đây, xa lìa cuộc sống, khi tất cả mọi
vang bóng trần gian đều lặng chìm vào tịch mịch, chỉ riêng khi đó, chúng ta sẽ
lại nghe Người Thơ Thuần Túy Nguyễn Du lên tiếng nói tiên tri ứng
nghiệm tự mấy kiếp của thơ Chiêu hồn:
Ai đến đó dưới trên ngồi lại,
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.
Phép thiêng biến ít thành nhiều,
Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng thầy.
Phật hữu tình từ bi phổ độ,
Chớ ngại rằng có có không không…
Chú thích:
[1] Bài
này tác giả viết năm 1957, nhân ngày kỷ niệm Nguyễn Du.
[2] Những chữ đóng dấu ngoặc kép là của giáo sư
Nghiêm Toản, viết về truyện Kiều (Việt Nam Văn học sử trích yếu, tr. 116).
[3] Viết đoạn này, tôi muốn tiếp ý nhà văn Hoàng
Trọng Miên, trong cuốn phê bình khảo luận về "Chiêu hồn" của Nguyễn Du,
xuất bản năm 1942. Họ Hoàng chắc đã bận tâm nhiều về thái độ "vô thần"
của những kẻ mệnh danh theo khoa học duy vật thời đó, nên đã viết:
"Học thuyết hình nhi thượng của Phật giáo đã làm nền tảng cho hai tác phẩm
(Kim Vân Kiều và Chiêu hồn) của Nguyễn Du, ngày nay chắc có kẻ sẽ căn
cứ vào khoa học mà công kích chỗ duy tâm của thi sĩ. Những kẻ ấy lầm, vì họ
quên nghĩ rằng ở trong con người muôn thuở bao giờ cũng có một phần vượt lên
trên lệ luật của khoa học duy vật. Tự muôn đời, thi văn, nghệ thuật, học
thuyết cao siêu đều căn cứ vào hình nhi thượng, vì cái phần muốn vươn lên trên
cao là một sức mạnh căn bản của linh hồn loài người".
[4] Tài liệu trích trong cuốn "Khảo luận về Đoạn
trường tân thanh" của Doãn Quốc Sỹ và Việt Tử (Nam Sơn xuất bản, tr.
57-58).
[5] Lễ cúng dường chư Phật, nhằm ngày rằm tháng Bảy
(tiết Trung nguyên) để cầu nguyện cho các vong hồn được siêu sinh tịnh độ.
[6] Theo kinh Vu Lan Bổn (Avalambana) gốc ở Ấn Độ,
một đệ tử của đức Phật Thích Ca Mâu Ni là Mục Kiền Liên, có bà mẹ làm nhiều tội
ác, khi chết phải đày xuống địa ngục chịu mọi cực hình. Mục Kiền Liên tu thành
Phật, nhìn xuống cõi âm thấy mẹ bị giam cầm trong ngục quỷ đói, chạnh lòng
thương xót, đem cơm xuống dâng cho mẹ. Nhưng thức ăn chưa vào miệng đã hoá ra lửa,
hồn không thể nuốt trôi. Mục Kiền Liên cầu xin Phật Tổ cứu vớt. Phật Tổ dạy đến
ngày Trung nguyên phải kiếm lễ vật trọng thể bày vào mâm Vu Lan dâng cho các thầy
từ mười phương để họ tụng kinh cầu nguyện cho vong hồn, có thế mới thoát khỏi
những khổ cực ở ngục ngã quỷ. Mục Kiền Liên vâng lời, tự đó mới tiếp độ được
cho mẹ. Và cũng tự đấy, người Tàu theo sự tích trên, đặt ra lễ Vu Lan.
[7] Saint-Saëns (Camille), nhạc sĩ Pháp, sinh tại
Balê (1835-1921), tác giả những nhạc phẩm nổi tiếng: Samson et Dalila, Phryné
và Danse Macabre…
7/2/2021
Vũ Hoàng Chương - Nguyễn Sỹ Tế - Nguyễn Văn
Trung - Trần Bích Lan - Đinh Hùng - Doãn Quốc Sỹ - Việt Tử - Trần Thanh Hiệp -
Phạm Thếng - Thanh Tâm Tuyền - Vũ Khắc Khoan - Nguyễn Thị Sâm
Nguồn: Chân dung Nguyễn Du, in tại nhà in
Nam Sơn, 36 Nguyễn An Ninh, Sài Gòn. Kiểm duyệt số 401/XB ngày
8-3-1960
Theo http://quyetnguyenblog.blogspot.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét