Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2017

Trần Tiến: Đàn ông làm phụ nữ cũng hay

Trần Tiến: Đàn ông làm phụ nữ cũng hay 
Nhạc sĩ Trần Tiến là nhân vật chính của đêm nhạc Như chờ từng giấc mơ - diễn ra tại Nhà hát Lớn Hà Nội vào 11 và 12-8. Chương trình nằm trong chuỗi hòa nhạc thường xuyên Trong tâm điểm (In The Spotlight). Ông sẽ là người dẫn chuyện cho âm nhạc của mình qua sự thể hiện của Hà Trần (hát chính), Tấn Minh và cặp đôi Đinh Mạnh Ninh, Tô Minh Đức.
Trần Tiến và các ca sĩ trong họp báo chiều 17-7 tại Hà Nội .
Nhạc sĩ Trần Tiến đọc diễn văn mở màn buổi họp báo tại Hà Nội: “Tôi được cộng tác với những người tôi chưa biết nhiều, nhưng tôi tin họ sẽ làm nên chuyện vì các bạn rất trẻ.
Ca sĩ 8X thể hiện bài hát của tôi thế là tôi sướng. Vì các bạn túi tiền hơi mỏng nhưng cái tâm hơi dày, dám liều lĩnh bán cái nhạc rất xưa của tôi.
Cũng có thể các bạn có mưu đồ gì đây, muốn tặng tôi một điều bất ngờ, muốn tặng các khán giả hôm nay những điều bất ngờ bằng âm nhạc của một người đã lùi vào dĩ vãng…”
Ngoài Hà Trần, gần đây Tùng Dương gây chú ý với các bài hát của ông. Nhưng hình như ông hay ai đó nói Tùng Dương hát nhạc Trần Tiến rất âm tính. Vậy ngoài Hà Trần và chính mình ra, ai hát nhạc của ông hay như ông mong muốn?
Nhiều lắm, nhưng mỗi người hát 1-2 bài hay thôi, trừ cháu Hà Trần hát khá nhiều bài tôi thấy thích. Rất ít khi có một ca sĩ của một nhạc sĩ. Vì vốn hiểu biết và màu sắc của ca sĩ có đa dạng thì họ mới trở thành nghệ sĩ đích thực.
Làm sao có nhạc sĩ nào đáp ứng hết các màu sắc âm nhạc đó. Vì vậy trong cuộc đời tôi, tôi rất sung sướng khi từ thuở ban đầu gặp những người như Sỹ Thanh- lúc nào tôi cũng xúc động khi anh ấy hát Điệp khúc tình yêu. Rồi một cô ca sĩ nữa hát Vết chân tròn trên cát hay vô cùng. Cả hai đều mất rồi.
Từ bấy đến nay, không hiểu trời cho thế nào mà tôi gặp được những ca sĩ hát bài tôi hay lắm, nhất những người không làm nghề hát. Như anh thương binh mà tôi viết tặng bài Vết chân tròn trên cát mà hát Điệp khúc tình yêu thì thôi rồi.
Tôi rất hạnh phúc đã gặp nhiều người hát hay hơn tôi nhiều. Thực ra tôi chưa bao giờ hát hay cả, nói thẳng như vậy. Tự giới thiệu bài của mình thì đành phải hát thôi, chứ tôi không có nghề hát.
Tùng Dương hát nhiều khi tôi cũng bực mình vì âm tính quá, nhưng cũng lại có cái hay riêng. Giống như Mai-cồ (Micheal Jackson- PV) ngày xưa- cái giọng nửa thiên thần nửa quỷ dữ, nửa nam nửa nữ, không giống ai trên trái đất này, lúc đầu nghe khó chịu, nhưng sau này tôi thấy tài năng ghê gớm.
Mãi sau này tôi mới hiểu đấy mới là những nghệ sĩ đặc biệt. Tôi thấy Tùng Dương cũng như vài ca sĩ nữa sau này xuất hiện- đàn ông mà cứ làm những gì của phụ nữ cũng hay, cũng như phụ nữ cứ làm những gì của đàn ông cũng hay.
Vấn đề không phải là nam với nữ mà là nghệ thuật, anh tạo ra một cảm giác gì đó mà người ta chưa bao giờ thấy trong giọng hát, trong cách diễn, cách xử lý tác phẩm.
Vì sao ông thích Hà Trần hát nhiều bài của mình? Hà Trần gần ca khúc Trần Tiến ở điểm gì?
Có lẽ vì ADN, tiếng gọi sâu thẳm nơi hoang dã của dòng giống. Hà Trần hát bài âm thì ra âm mà bài dương thì ra dương.
Ông nói rằng nhà tổ chức “phải có bản lĩnh vững chãi” khi tổ chức đêm nhạc của ông. Cảm giác ông không tự tin với khán giả của mình lắm. Tại sao?
Thực lòng tôi không có kinh nghiệm gì về khán giả trong khoảng 15 năm nay. Tôi không bao giờ đi xem ca nhạc, không xem truyền hình và không đọc báo. Rất lạc hậu.
Tôi đi làm công việc riêng của tôi ở một cõi riêng. Tôi không biết đã xuất hiện những ca sĩ nào, ngay cả cháu của mình hát cái gì tôi cũng không được xem.
Nhạc sĩ nào cũng vậy, cứ lo bài hát của mình không bán được- nghe chữ bán nó kỳ- nhưng liệu nó còn sống được nữa không. Tôi rất mừng vì tôi nghĩ chính tôi đã quên tôi rồi mà bây giờ những người trẻ lại đưa tôi ra.
Tôi nghĩ chắc mình vẫn còn khán giả nhưng không thể nào đông bằng những nghệ sĩ hot hiện nay. Vấn đề không phải tôi tự tin, mà là nhà tổ chức tự tin hay không.
Tình hình sáng tác của ông hiện nay thế nào, ngoài những bài theo đơn đặt hàng như “Sen hồng hư không”?
Thực ra tôi lừa đảo họ đấy. Tôi mượn việc quảng cáo họ để hát tâm hồn tôi. Cũng giống như tôi lừa chuyện sinh đẻ kế hoạch để viết Sao em nỡ vội lấy chồng. Vẫn đúng yêu cầu của họ. Mỗi người cũng phải sống chứ. Đặt hàng thì tôi cứ nhận hết, nhưng quan trọng nhất là phải không thấy cái mùi thị trường, mùi tiền bạc ở đây mà vẫn thấy đúng chất của mình.
Mình vẫn có thể tự hào: bài hát này của tôi. Vẫn đưa ra công chúng, hát rất nhiều. Như vừa rồi Hà Trần hát bài Vật đổi sao dời tôi viết ca ngợi ông Bá Thanh (Bí thư Thành ủy Đà Nẵng- PV), mặc dù tôi chẳng ăn gì của ông ấy cả. Nó trở thành nghệ thuật.
Chính ông ấy còn bất ngờ. Ông ấy lên bắt tay Trần Thu Hà và xúc động, ông ấy chỉ thấy nó hay. Mãi về sau ông ấy mới hiểu thằng cha này viết tặng mình. Tôi viết về một con người như bất cứ một con người nào trên trái đất này, tôi viết bằng cái tâm của tôi.
Vì vậy bạn hãy yên tâm, có viết com-măng hay không thì Trần Tiến vẫn cứ cố gắng làm nốt những gì mà cuộc đời của mình cần.
Vậy còn những đề tài không mang tính “lừa đảo” mà ông đang quan tâm?
Tôi nói đùa cho vui. Tôi đang rất mong có một công ty vệ sinh, công ty mai táng nào mời tôi viết, thích lắm. Vì rồi người ta sẽ không thấy mai táng, không thấy vệ sinh, rồi người ta thấy một điều gì mới người ta chưa được nghe.
Tuổi của tôi cứ được ai mời viết là sướng, có cái cớ để tuôn trào con người mình ra. Kể cả vừa rồi nhà văn Nguyễn Quang Lập đố tôi viết văn, thì cũng trào ra cái ngẫu hứng văn chương đàng hoàng.
Ai trong số chúng ta trong cả cuộc đời, tưởng mình sẽ không làm được cái nọ cái kia, tự nhiên cái cớ ở đâu đến rồi mà làm đấy. Tôi cũng vậy.
Ông từng viết: “Hà Nội những năm 2000 trẻ em không còn ăn xin”… Ông có định sửa dự đoán không chính xác?
Nghệ sĩ mãi mãi chẳng bao giờ được làm nhà tiên tri cả nhưng được phép ước mơ. Tôi cũng đã ước mơ. Những năm 2000 cơ mà. Bây giờ mới có… nhỉ!
Lý do nào khiến 15 năm nay ông không có khái niệm về khán giả, không theo dõi báo chí, thậm chí quên mất chính mình?
Có thể do bệnh tật hoặc do cái gì đó tôi cũng không biết nữa… Nhưng việc này tôi có thể trả lời cho bạn sau vì hôm này mình đang bàn về chương trình mà. OK? Cám ơn.
N.M.H ghi
Nguồn: tienphong.vn
Theo http://vnmusic.com.vn/


Không gian âm nhạc của Văn Cao

Không gian âm nhạc của Văn Cao 
Từ những năm 70 của thế kỉ trước tôi đã ám ảnh tiếng đàn độc tấu hawai của một nhạc sĩ nào đó trên làn sóng điện Sài Gòn phát đi vào mỗi buổi sáng với bài Suối mơ. Tiếng đàn cao vút nghe như một dãi lụa bay xé vào không gian.
Năm 1993 mới có cuộc hội ngộ tại Sài Gòn giữa hai kẻ tài hoa trong làng nhạc Việt Nam Văn Cao và Trịnh Công Sơn, không ai nghĩ rằng đó là cuộc gặp cuối cùng của hai huyền thoại âm nhạc!
Văn Cao đã có trên 30 năm cô đơn ngồi trước ly rượu, Trịnh Công Sơn từng nói như vậy.
Văn Cao và Trịnh Công Sơn
Mỗi lần Trịnh Công Sơn ra Hà Nội đều ghé thăm Văn Cao, người ta thấy hai người bạn vong niên ngồi trước ly rượu đàm đạo. Người thường chăm chút buổi rượu đó là bà Thuý Băng - phu nhân của nhạc sĩ Văn Cao. Trịnh nói âm nhạc của Văn Cao sang trọng như một ông Hoàng, còn Chàng Văn tặng cho Trịnh một biệt danh là Người ca thơ.
Chúng ta đã quá quen những ca khúc trữ tình bất hủ của Văn Cao, nhìn ông gầy gò như thế không ai nghĩ rằng đây là tác giả của những bài hành khúc đầy chất lãng mạn, giàu hình ảnh như bài Không quân Việt nam, Tiến về Hà Nội, Chiến sĩ Việt Nam…
Riêng Trường ca Sông Lô (1946) thì mang nhiều chất sử thi hơn, với cấu trúc giàu kĩ thuật, giai điệu phong phú (chuyển cung từ D – G – B – Bm - G…). Đoạn đầu rất trữ tình: Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u…. với một đoạn hành khúc hào hùng: Đoàn quân thời chinh chiến ca rằng đây Volga, đây Dương Tử, đây Sông Lô đây sóng căm hờn vút cao. Nhạc sĩ Phạm Duy thời đó cũng có sáng tác bài Sông Lô (Elvis Phương hát) nhưng không đa dạng phong phú bằng bài nầy.
Năm 1993 ông khi vào Sài Gòn, Hội Âm nhạc TP HCM có làm một chương trình nhạc của ông tại Nhà văn hoá Thanh niên, những bài hát một thời được thể hiện qua giọng ca của Ánh Tuyết thì giới trẻ Thành phố mới hiểu nhiều hơn về dòng nhạc của ông sau một thời gian gián đoạn:
…Âm ba thoáng rung cánh đào rơi
Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan
Buâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền
Ai hát bên bờ Đào Nguyên…
(Thiên Thai)
Có thể nói nhạc sĩ Văn Cao rất đa tài từ nhạc, vẽ, làm thơ… đều hay (một thời từng décor cho Tạp chí Văn nghệ ) từng đa đoan lận đận năm 1956 khi tham gia nhóm Nhân Văn giai phẩm (Bài thơ Những chiếc xe chở xác qua phường Dạ Lạc rất hay, rất nổi tiếng thời ấy).
Những Tình ca của ông phải nói là bất tử trong lòng mọi người như các bài: Suối mơ, Bến Xuân, Thiên thai, Trương Chi, Thu cô liêu, Cung đàn xưa... Bài Buồn tàn thu (qua giọng ca vàng của Thái Thanh) sáng tác tại Hải Phòng khi ông mới 16 tuổi (1939) ở trọ trong nhà máy nước cũ kỹ, suốt ngày phải nghe những âm thanh ầm ĩ và ông đã tham gia nhóm nhạc đầu tiên ở Hải Phòng- nhóm Đồng Vọng của nhạc sĩ Hoàng Quý (tác giả bài Cô láng giềng).
Năm 2000 Phạm Duy về nước lần đầu tiên đã ra Hà Nội thăm mộ người bạn cũ và rưới lên mộ một ít rượu xem như uống cùng người bạn cũ thời chiến khu. Ông thương xót than rằng: “Văn Cao chết đi như Trương Chi, trái tim chàng có lẽ trở thành viên ngọc đá. Ai là người nhỏ lệ lên trái tim Văn Cao?”*.
Khi xưa ông đã từng thốt lên câu thơ buồn:
Sao đàn u hoài gì mùa thu?
Sao đàn u hoài gì mùa thu?
Tri âm nghe thử dây đồng vọng
Lạc lõng đêm vàng khi nhạc ru
(Bài Một đêm đàn lạnh trên sông Huế)
Rất nhiều người có thể nghe nhạc, mê nhạc Văn Cao đến suốt đời… nhưng để làm một tri âm nghe thử dây đồng vọng với ông thì chắc chưa ai dám nhận vậy?.
* Trích trong HỒI KÍ PHẠM DUY.
Nguyễn Duyên
Theo http://vnmusic.com.vn/

Chàng Trương Chi của những bản tình ca và hùng ca

Chàng Trương Chi của những bản 
tình ca và hùng ca 
Nhạc sĩ Văn Cao - chàng Trương Chi gõ mạn thuyền mà ca vào một thời lãng mạn xa xưa cũng là một đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam, mà theo lời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân phận riêng tư…”. Ông cũng là một trong những người đặt nền móng cho nền tân nhạc Việt Nam thế kỷ XX.
Trong giới nghệ thuật của Việt Nam, Văn Cao là một nghệ sĩ hiếm hoi mà bước lãng du ở lĩnh vực nào cũng để lại dấu ấn sâu đậm, từ thơ ca đến nhạc họa. Nhưng ca khúc là lĩnh vực ông thành công hơn cả.
Người nghệ sĩ đa tài Văn Cao sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923 tại Hải Phòng, sớm bộc lộ năng khiếu âm nhạc. Người thầy dạy nhạc muốn phát huy năng khiếu thiên bẩm của cậu học trò nhỏ đã gửi Văn Cao vào trường dòng Bonnal để học nhạc. Văn Cao tập sáng tác ca khúc từ đó.
“Buồn tàn thu”, ca khúc đầu tiên, sáng tác khi ông mới 17 tuổi, với những ca từ rất lãng mạn: “Nhờ bóng chim uyên/ Nhờ gió đưa duyên/ Chim với gió bay về/ Chàng quên hết lời thề…” đã làm chấn động công chúng yêu nghệ thuật ở Hải Phòng và thủ đô Hà Nội. Văn Cao nổi danh từ đó.
Từ hơi hướng nghệ sĩ lãng mạn, với những “Buồn tàn thu”, “Thu cô liêu”… Văn Cao đã nhanh chóng hòa nhập vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Năm 1944, mới 21 tuổi, trong những ngày mới đến với cách mạng, Văn Cao đã viết bài “Tiến quân ca”  được Quốc hội khóa I (năm 1946) công nhận là quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là một vinh dự lớn bởi không phải nhạc sĩ nào cũng được dân tộc tôn vinh và lấy một bài hát làm quốc ca. Sau “Tiến quân ca”, một loạt ca khúc cách mạng ra đời: “Công nhân Việt Nam”; “Ca ngợi Hồ Chủ tịch”; “Tiến về Hà Nội”; “Bắc Sơn” và đặc biệt “Trường ca sông Lô”… là những hùng ca nhưng vẫn mang phong cách thư thái, đỉnh đạc mà dung dị của tâm hồn người Việt Nam.
Song song với những bản hùng ca, Văn Cao vẫn dành sự ưu ái cho tình ca. Nhiều người vẫn say sưa hát bài “Thiên Thai”: “Thiên Thai chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian/ Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn quá một lần/ Đèn soi trăng êm, nhạc lắng tiếng quyên đây đó nỗi lòng mong nhớ/ Này khúc bồng lai là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi/ Đàn xui ai quên lời dương thế/ Đàn non tiêu, đàn khao khát cuộc tình duyên…”. Hay bâng khuâng, mơ mộng với “Trương Chi”: “Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ/ Trầm trầm không gian mới rung thành tơ/ Vương vất heo may hoa bướm mong chờ/ Nghe tiếng cầm ca thu tới bao giờ…”.
Rồi lại say đắm, mơ màng cùng “Suối mơ”: “Suối ơi! Ôi nguồn yêu mến/ Còn ghi khi bóng ai tìm đến/ Đàn ai nắn buông lưu luyến/ Suối hát theo đôi chim quyên/ Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối/ Nghe suối róc rách trôi/ Hoa lừng hương gió ngát/ Dàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi…”. Nếu “Buồn tàn thu”, “Thu cô liêu” còn mang hơi hướng lãng mạn thì đến “Thiên Thai”, “Trương Chi”, “Suối mơ”, “Mùa xuân đầu tiên”, “Làng tôi”… Văn Cao đã đổi mới sáng tác, cách tân giai điệu, khúc thức và hướng về âm nhạc dân tộc, thể hiện một bản lĩnh vững vàng, biết kế thừa và phát huy vốn âm nhạc dân tộc.   
Không những có năng khiếu âm nhạc, Văn Cao còn có năng khiếu hội họa. Văn Cao đã tham gia cuộc triển lãm Salon Unique tại Hà Nội ở Nhà Khai Trí Tiến Đức cùng với các danh họa như Tô Ngọc Vân, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Tiến Chung, Lưu Văn Sìn vào năm 1944, với 3 bức sơn dầu “Cô gái dậy thì”; “Thái Hà ấp đêm mưa” và “Cuộc khiêu vũ của những người tự tử” đã gây sự chú ý cho giới mỹ thuật về bút pháp và màu sắc.
Nhận xét về hội họa Văn Cao, nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân viết: “Ở Văn Cao tiếng vọng hoài niệm như một vẻ đẹp có thẩm mỹ siêu thực, theo tôi là một ẩn hiện di truyền lác đác trong cả cuộc đời nghệ sĩ đẹp đẽ của anh. Nhưng cái nhìn hội họa ở anh có địa vị dẫn đường và chi phối: chính Văn Cao và vài ba người nữa (Bùi Xuân Phái, Sỹ Ngọc, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng…) vào những năm 60 đã mở hướng thẩm mỹ mới cho minh họa và đồ họa. Có thể nói Văn Cao đã lập được một trường phái minh họa vẽ bìa sách. Nhiều minh họa của anh trên báo Văn Nghệ phải gọi là xuất sắc. Nếu âm nhạc, thơ ca là một bản thể tươi tốt của anh, thì hội họa là một tâm thức sâu sắc. Văn Cao có cái nhạy bén về cảm xúc tinh tường trong quan sát”.
Rồi người nghệ sĩ đa tài trải qua bao thăng trầm cũng đến lúc dừng bước lãng du. Tháng 7 năm 1995, ông đã vĩnh viễn ra đi trong niềm tiếc thương của người yêu nhạc cả nước. Trước sau, ông vẫn là một nhân cách lớn, không a dua, chạy theo thời thế. Trong lời vĩnh biệt người nghệ sĩ đa tài Văn Cao, nhạc sĩ Thế Bảo đã viết: “Thơ với họa đã theo suốt hành trình âm nhạc hơn nửa thế kỷ, vỗ về an ủi ông, chia sẻ những cảm xúc đầy ắp tâm hồn nghệ sĩ mà đôi lúc âm thanh dường như phải nhường bước cho ngôn từ và màu sắc”.
Văn Cao đã yên nghỉ ở cõi vĩnh hằng. Mọi vui buồn, được mất của đời nghệ sĩ cũng đã lắng xuống. Ông đã đến với chúng ta, sống giữa chúng ta rồi rời xa chúng ta và để lại những “Buồn tàn thu”; “Thiên Thai”; “Trương Chi”; “Suối mơ” “Mùa xuân đầu tiên”; “Trường ca sông Lô”… như những bó hoa tươi thắm dâng tặng cho đời.
Trịnh Chu
Nguồn: nghethuatbieudien,vn
Theo http://vnmusic.com.vn/

Một sáng tác bị bỏ quên của nhạc sĩ Văn Cao

Một sáng tác bị bỏ quên 
của nhạc sĩ Văn Cao
Tôi cam đoan rằng người Việt Nam nào cũng yêu mến âm nhạc của Văn Cao và sẽ là một niềm vui nếu được tiếp xúc với sáng tác mới của con người tài hoa này. Câu chuyện ấy tưởng như đã qua đi từ lâu lắm bỗng được nhớ lại như ngày nào.
Đó là vào một ngày hè năm 1960, khi ấy tôi là cậu học sinh cấp 3 trường Việt Đức (tên ban đầu của trường là Trường con em cán bộ), vừa bước lên cầu thang gác tôi vừa nghêu ngao "Thiên Thai, chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm..." bỗng bác Thụ, là người cần vụ của cha tôi (*) hỏi "Cậu này hát bài của Văn Cao à?". Tôi vô cùng ngạc nhiên vì cứ nghĩ bác Thụ chỉ là một người cần vụ rất chi hiền lành, làm sao lại biết đển âm nhạc của Văn Cao?
Gặng hỏi mãi, thì ra bác Thụ chính là cơ sở năm nào, từng che dấu Văn Cao khi ông nhạc sĩ hoạt động cách mạng thời kì Việt Minh mà theo bác Thụ, Văn Cao vốn yêu ca hát nên lâu lâu lại ca lên đôi câu và bác biết được đó là bài hát của nhạc sĩ. Từ đó tôi rất kính nể bác Thụ, vì bác là người từng bảo vệ Văn Cao, lại nữa, có lẽ bác Thụ còn có một tâm hồn văn nghệ nên con trai bác là Vương Tâm, sau này là một nhà báo, nhà thơ.
Cuối năm đó, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra đời và vào năm sau, trường tôi đổi tên là Trường Việt- Đức sau khi Thủ tướng Đức, ngài Grôt-tơ-vôn sang thăm Việt Nam, vị Thủ tướng đã đến thăm nhà trường, đi cùng có Thủ tướng Phạm Văn Đồng và nhà trường đã nhận được nhiều quà của nước bạn, trong đó có một chiếc đàn accordeon 160 bass, vào loại to nhất Việt Nam. Và tôi rất xúc động vì một hôm, anh Lê Khương là Bí thư đoàn trường đã mời tôi lên phòng hội đồng và thay mặt nhà trường giao cho tôi quản lí chiếc đàn to đẹp ấy.
Một hôm, có anh bạn đem đến bài hát Dưới ngọn cờ giải phóng và nói đó là sáng tác của Văn Cao. Ngày ấy, những sáng tác mới rất ít khi có điều kiện phổ biến bằng ấn loát, chương trình dạy hát trên đài TNVN cũng chưa nhiều và vì thế chúng tôi rất khoái, quyết định tập ngay và tôi nhớ đã phân công bạn Chu An, anh trai của nhà văn Chu Lai, đảm nhiệm phần lĩnh xướng. Tốp ca nam hát bài này do tôi đệm bằng chiếc đàn 160 bass. Đây là một ca khúc cách mạng có giai điệu đẹp và tiết tấu khỏe khoắn, ca từ rất hay. Tôi nhớ như in là đúng vào dịp ấy, những thanh niên và học sinh Hà Nội đang khoái với Sech-xpia, lại nhớ mãi lời thoại của nhũ mẫu Ophelia khi khóc thương nàng Juliet đã chết như con thiên nga cất tiếng hát vào mùa xuân trên bầu trời, vì thế khi nhạc sĩ Văn Cao viết "trước những lời ca từng đồng chí hy sinh gọi ta là lời hát thiên nga khi mùa xuân qua" tất cả đều thấy hay. Tuy nhiên không lâu sau, lứa chúng tôi tan đàn xẻ nghé và chẳng có dịp nào được cùng nhau ca hát, nhất là không ai nhớ đến bài hát ấy nữa.
Thấm thoắt đã nửa thế kỷ trôi qua.
Ngay trước ngày 2-9 năm nay, tôi chợt nhớ đến bài hát ấy và giật mình suy nghĩ rằng tại sao mà một bài hát hay như thế lại chẳng thấy ghi trong tài liệu nào, từ sách của Hội NSVN cho đến Google, và tôi chợt nhớ ra Văn Cao còn có con trai, tôi liên hệ được với anh Văn Thao, là con trai nhạc sĩ Văn Cao, chỉ với mục đích là kiểm tra lại xem có đúng nhạc sĩ Văn Cao có sáng tác ra bài hát ấy không (vì đã qua mấy mươi năm rồi!). Chỉ 2 hôm sau tôi đã nhận thư chuyển phát nhanh của Văn Thao, bài hát rất hay ấy quả là của nhạc sĩ Văn Cao!. Từ Hòa Bình, Văn Thao điện thoại tâm sự và cho tôi biết, đúng vào dịp GS Nguyễn Văn Hiếu, Bộ trưởng Văn hóa của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra miền Bắc và vào thăm Bác Hồ, vào ngày 20-12-1962 (thông tin này tôi đã kiểm tra lại qua anh bạn Dương Trung Quốc), nhạc sĩ Văn Cao đã gửi bài hát này nhờ GS Nguyễn Văn Hiếu đem về cho nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Vậy mà không hiểu vì lý do gì, sự thất thoát của thời chiến hay sao mà bài hát ấy không thấy ai hát? Nghe tôi kể chuyện này, nhà văn Chu Lai đã tâm sự rằng bài hát nào cũng có số phận, giá như giai điệu của Dưới ngọn cờ giải phóng được vang lên trong những ngày hào hùng đã qua, có lẽ quân và dân miền Nam lại có thêm một nguồn sức mạnh và ý chí nữa để xốc tới và đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
Ghi chú: (*) Bác Vương Thụ là cần vụ của cố GS Nguyễn Xiển, nguyên Chủ tịch UBND Bắc Bộ, Phó chủ tịch UBTV Quốc Hội, Giám đốc Nha Khí tượng Thủy văn...

Nguyễn Lưu  
Nguồn: ANVN13  9/2010
Theo http://vnmusic.com.vn/



Các ca khúc quanh bài thơ "Màu hoa sim tím"

Các ca khúc quanh bài thơ "Màu hoa sim tím"
"Màu tím hoa sim" là một bài thơ rất nổi tiếng của cố nhà thơ Hữu Loan, được sáng tác năm 1949 tại Thanh Hoá, vào thời điểm được cho là sau khi người vợ đầu tiên của tác giả qua đời.
Năm 1990, bài thơ được in lần đầu trong tập thơ đầu tiên được xuất bản của ông: "Màu tím hoa sim".
Sự nổi tiếng của bài thơ còn được góp công phần nào bởi các nhạc sĩ: Dzũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng, Duy Khánh... là những người đã phổ nhạc dựa trên ý thơ của bài.
Riêng bài "Những đồi hoa sim" của Dzũng Chinh và "Áo anh sứt chỉ đường tà" của Phạm Duy, một bi ca, một hùng ca, cho đến nay vẫn là những tác phẩm nổi tiếng nhất dựa trên bài thơ "Màu tím hoa sim".
Bài Những đồi hoa sim của Dzũng Chinh ra đời vào thập niên 1960, là bản phổ nhạc cho bài thơ này sớm nhất được ghi nhận, được nhiều thế hệ ca sĩ thể hiện: Phương Dung, Hương Lan, Duy Quang, Sơn Tuyền, Như Quỳnh...
Bài hát viết theo điệu Slow rumba (cũng thường được đàn theo điệu Boléro), âm giai chủ Rê thứ. Lời bài ca không bám sát theo nội dung thơ, chỉ lấy ý. Tuy nhiên, trong một bài phát biểu đăng trên Kiến Thức Ngày Nay, Hữu Loan cho rằng ông thích nhất bản phổ nhạc này.
Những đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Vào chuyện ngày xưa 

nàng yêu hoa sim tím khi còn tóc búi vai
Mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến ai hẹn được ngày về
Rồi một chiều mây bay, từ nơi chiến trường đông bắc đó
Lần ghé về thăm xóm hoàng hôn tắt sau đồi...
Là một bản phổ nhạc nổi tiếng khác, tác giả là nhạc sĩ Phạm Duy. Bài hát gồm một loạt trường đoạn phối hợp, diễn tả nhiều cung bậc và sắc thái tình cảm, với các nhịp 4/4 (âm giai Đô thứ), 2/4 (âm giai Đô trưởng), 4/4 (âm giai La thứ), 3/4 (âm giai đô trưởng). Ca từ của bài hát rất gần với nguyên bản.
Bài hát này được các ca sĩ Thái Thanh và Elvis Phương thể hiện rất thành công, về sau còn có Trần Thái Hoà, Bích Liên, Ý Lan, Đức Minh...
Nàng có ba người anh đi quân đội lâu rồi!
Nàng có đôi người em có em chưa biết nói
Tóc nàng hãy còn xanh, tóc nàng hãy còn xanh...
Tôi là người chiến binh xa gia đình đi kháng chiến
Tôi yêu nàng như yêu người em gái tôi yêu
Người em gái tôi yêu, người em gái tôi yêu.
Ngày hợp hôn tôi mặc đồ hành quân
Bùn đồng quê bết đôi giầy chiến sĩ
Tôi mới từ xa nơi đơn vị về
Tôi mới từ xa nơi đơn vị về
Nàng cười vui bên anh chồng "kỳ khôi"
Thời loạn ly có ai cần áo cưới?
Cưới vừa xong là tôi đi.
Cưới vừa xong là tôi đi ...

..tím chiều hoang biền biệt (Ảnh: MQ)
Áo anh sứt chỉ đường tà 
Phạm Duy - Ý Lan
Và những khúc ca khác
Ngoài hai tác phẩm của hai nhạc sĩ trên, còn nhiều những bản phổ nhạc khác khá nổi như "Chuyện hoa sim" của Anh Bằng, trích lời:
...
Ôi lấy chồng chiến binh
Lấy chồng thời chiến chinh, mấy người đi trở lại
Sợ khi mình đi mãi, sợ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người em nhỏ hậu phương
Mà chết người em gái tôi thương
...
Hay như "Màu tím hoa sim" của Duy Khánh, một bài hát có lời theo rất sát nguyên bản.
Ngoài ra bài thơ này còn là đề tài gợi ý cho các nhạc sĩ soạn các bài như: "Tím cả chiều hoang" (Nguyễn Đặng Mừng), "Tím cả rừng chiều" (Thu Hồ), "Chuyện người con gái hái sim" (Hồng Vân),...
Niệm Vỹ 
Nguồn: Giaidieuxanh.vn
Theo http://vnmusic.com.vn/


Khi những dòng sông chảy thành âm nhạc

Khi những dòng sông chảy thành âm nhạc
Trong lịch sử âm nhạc thế giới và các quốc gia, có lẽ con số những dòng sông được âm nhạc diễn tả và ngợi ca thật khó đếm hết.
Nhờ âm nhạc mà dòng sông Đa nuýp chảy qua nhiều nước châu Âu đã trở thành dòng sông của nhân loại qua bản Sông Đa-nuýp xanh đẹp của nhà soạn nhạc J. Strauss. Sông Hắc Long Giang (tiếng Nga gọi là sông A-Mua) cũng nổi tiếng nhờ bản hợp xướng Sóng Hắc Long Giang của Klao-ut. Gần đây hơn, trong không khí trẻ trung của nhạc nhẹ, giới thanh niên toàn cầu cùng hát vang Dòng sông Babilon. Với riêng quốc gia của mình, người nước nào cũng sẽ đều tự hào bởi những bài hát viết về những dòng sông trong tổ quốc yêu quý. Và với đất nước Việt Nam ta, điều đó cũng không là ngoại lệ.
Từ khi lịch sử Tân Nhạc Việt Nam hình thành có lẽ con sông đầu tiên được hát lên chính là sông Bạch Đằng lịch sử với những chiến công lẫy lừng từ thời Ngô Quyền đến thời Trần Hưng Đạo. Những thanh niên thập kỷ 40 thế kỷ trước đã hơn một lần hát vang những Bạch Đằng Giang (Lưu Hữu Phước), Trên sông Bạch Đằng (Hoàng Quý). Khi Hoàng Phú (sau là nhạc sĩ Tô Vũ) hát về dòng Hát Giang thời Hai Bà Trưng trong nhạc phẩm Ngày xưa, thì Lưu Hữu Phước lại hát về sông Gianh giới tuyến phân tranh Trịnh - Nguyễn một thời dài qua Hờn sông Gianh. Nhưng đấy là những âm hưởng chính ca mang hơi thở hùng tráng.
Con sông được chảy thành những giai điệu trữ tình đầu tiên lại là sông Thương (Bắc Giang). Tên sông đã được Đặng Thế Phong đưa vào trong nhạc phẩm Con thuyền không bến: "Lướt theo chiều gió. Một con thuyền theo trăng trong. Trôi trên sông Thương. Nước chảy trôi dòng ...". Văn Cao sau những âm hưởng chính ca về sông Bạch Đằng, lại chợt thăng hoa con sông nhánh ở miền Thủy Nguyên (Hải Phòng) chảy ra sông Bạch Đằng thành con sông trong chốn thiên thai: "Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan, quê hương dần xa khuất núi ngàn. Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền. Ai hát bên bờ Đào Nguyên" trong nhạc phẩm Thiên Thai. Rồi cũng như Đặng Thế Phong, khi viết về Trương Chi trong nhạc phẩm Trương Chi, Văn Cao cũng thêm lần cảm hứng về sông Thương với nhịp chèo đò dị biệt: "Đò ơi! đêm nay dòng sông Thương dâng cao mà ai hát dưới trăng ngà ...".
Sông Hồng - dòng sông Mẹ (sông Cái) đã tạo nên cả một nền văn minh châu thổ Bắc - nền văn minh sông Hồng - khi ấy lại lặng lẽ chảy vô danh trong nhạc phẩm Con thuyền xa bến của Lưu Bách Thụ. Chỉ khi đọc hồi ký của nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc – tác giả Cô lái đò (thơ Nguyễn Bính) cũng viết về một dòng sông ở Nam Định – ta mới có thể tưởng tượng được rằng Lưu Bách Thụ viết về sông Hồng mùa lũ. Hồi ký viết: "Ngồi trên mặt đê, nhìn làn nước mênh mông, đỏ quạch phù sa đang sôi réo ngay dưới chân trước mặt, tôi thấy nôn nao trong lòng ... Những người màn trời chiếu đất trên mặt đê này sẽ dạt về đâu?
Tôi vừa tự hỏi vừa nhìn những xoáy nước đang xoay vần với những đám bọt đỏ ngầu và cánh bèo tây dập dềnh giai điệu con thuyền xa bến chợt vang lên trong tôi với hình ảnh Lưu Bách Thụ đang nhìn tôi: Theo gió thuyền xuôi, sóng đưa bèo trôi, tiếng đàn trầm man mác lòng tôi ...". Sông Hồng chỉ thực sự chảy thành âm nhạc rồi chảy ra thế giới trong festival thanh niên thế giới 1950, khi nhịp điệu và hình ảnh của sông được đưa vào trong nhạc phẩm Người Hà Nội tuyệt tác của Nguyễn Đình Thi: "Hồng Hà tràn đầy. Hồng Hà cuốn, tràn đầy dâng, ngàn nguồn sống ...", "Việt Nam yêu dấu ngả soi bóng sông Hồng Hà ...". Đấy là những ngày tổ quốc Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ và kiêu hãnh đứng lên làm cuộc kháng chiến trường kỳ. Bêncạnh sông Hồng, sông Hương ở Huế cũng chảy vào nhạc phẩm Bình Trị Thiên khói lửa của Nguyễn Văn Thương: "Hướng về Nam. Ai từng vô sông Hương, từng nương Thiên Mụ, từng ngụ Đập Đá, Văn Xá, Truồi Nong ...". Sông Hàn ở Đà Nẵng cũng lai láng trong nhạc phẩm Bến Hàn Giang của Ngọc Trai: "Đêm nay trên sông Hàn mờ sâu. Vi vu đưa gió ngàn về đâu. Buồm xuôi gió thuyền xa bến bờ ...".
Ở châu thổ sông Cửu Long miền Nam Bộ, từ sau ngày 23.09.1945 vang lên trong câu hát Tạ Thanh Sơn: "Mùa thu rồi ngày hăm ba ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến", dòng Cửu Long cũng lặng lẽ chảy vào âm nhạc qua nhạc phẩm Tiếng còi trong sương đêm của Hoàng Việt (khi đó còn bút danh là Lê Trực): "Bến nước gió rét đò thưa khách sang. Lau xanh ven sông mờ rung bóng trăng ...".
Nhưng cuộc chiến đấu càng ác liệt, càng thắng lợi thì lại càng thiếu hình ảnh những con sông xuất hiện trong các nhạc phẩm. Riêng sông Lô - một nhánh thượng lưu chảy vào sông Hồng – sau chiến thắng Thu Đông 1947 đã có 5 tác phẩm thanh nhạc đồ sộ ngợi ca. Đó là Lô Giang (Lương Ngọc Trác), Chiến sĩ sông Lô (Nguyễn Đình Phúc), Bên bờ sông Lô (Phạm Duy), Đoàn quân sông Lô (Lưu Hữu Phước) và Trường ca sông Lô của Văn Cao. Dựa trên cấu trúc của Sông Đa-nuýp xanh đẹp, Văn Cao đã sáng tạo ra một bức tranh âm thanh về sông Lô với những nét vờn tỉa, với những sóng dạt dào chảy vào hồn ta: "Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u ...". Cũng ở nhạc phẩm này, Văn Cao lại sáng tạo thêm một nhịp chèo đò mới sau nhịp chèo đò ở Trương Chi. Đó là nhịp gõ thuyền lách cách trên dòng sông: "Vui hát ca hòa vui hát ca hòa dân buông lưới Phan Lương vui bóng thuyền ...". Sau khi viết về sông Lô, Văn Cao lại viết về sông Thao – cũng là một nhánh thượng lưu sông Hồng chảy về từ miền Tây Bắc – trong nhạc phẩm Serénada: "Từ con sông Hồng như máu. Bao người dân đang đổ dồn về quê cũ...".
Song phải đến khi Du kích sông Thao của Đỗ Nhuận dâng trào mênh mang thì người thưởng thức âm nhạc mới thấy bộ ba Trường ca sông Lô, Du kích sông Thao và Người Hà Nội mới thực sự tạo ra một dòng sông Hồng bằng âm nhạc: "Sông Thao ngoài bến Việt Trì có những chàng áo nâu về say mê dòng nước, vui tràn trề". Sông Đuống miền quan họ tuy nhỏ nhoi nhưng qua tài năng thi sĩ Hoàng Cầm cũng được biết đến như một dòng sông kháng chiến danh tiếng. Bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm đã được nhạc sĩ Hồ Bắc phổ nhạc: "Sông Đuống một dòng lấp lánh. Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ".
Ở Nam Bộ, cùng những Con kênh xanh xanh trong âm nhạc Ngô Huỳnh, tên sông Cửu Long Giang đã nhập vào bao nhạc phẩm. Đấy là Du kích Long Phú (Quốc Hương): "Ai vượt Cửu Long Giang. Vững chí lướt sóng ngàn ..." hay Tiểu đoàn 307 (Nguyễn Hữu Trí. Thơ: Nguyễn Bính): "Ai đã từng đi qua sông Cửu Long Giang. Cửu Long Giang sóng trào cước xoáy ...". Cũng như sông Đuống, sông Vàm Cỏ Đông nhỏ nhoi cũng chảy thành âm nhạc nhờ tài năng của nhạc sĩ Hoàng Việt qua nhạc phẩm Lên ngàn : "Hò ơ ! dòng sông chảy xiết lái thuyền cheo đi, trên sông Vàn Cỏ Đông nước chảy ngược dòng ...". Tuy nhiên, bên cạnh nét hùng tráng ghi lại chiến công trên những dòng sông, âm nhạc vẫn lưu tâm đến những cảnh phân ly, chia biệt bên sông do chiến tranh: "Quay về hướng làng. Đà Giang lệ ướt nồng.
Mẹ già ngồi im bóng. Mái tuyết sương mong con bạc lòng ..." (Thuyền viễn xứ - Phạm Duy. Thơ: Hà Huyền Chi) hay: "Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh. Có sông sâu lờ lững lượn quanh ..." ( Làng tôi – Chung Quân). Sự phân ly ấy càng ngày càng rõ ràng, khi sau ngày hoà bình, Việt Nam chia thành hai miền Nam và Bắc. Những ngày đầu chia cắt, âm nhạc tập trung vào con sông được chọn làm giới tuyến hai miền. Con sông Bến Hải có bến Hiền Lương nên còn gọi là sông Hiền Lương chảy ra cửa Tùng. Bên cạnh hợp xướng Sóng cửa Tùng của Doãn Nho là Câu hò bên bến Hiền Lương của Hoàng Hiệp (thơ Đằng Giao) với giai điệu man mác, da diết nhớ nhung, rơm rớm nỗi niềm: "Bên ven bờ Hiền Lương. Chiều nay ra đứng trông về, mắt đượm tình quê", cũng với cảm hứng ấy, Vĩnh Cát viết Bạn ơi hãy nghe bến Hải tâm tình: "Dòng bến Hải nước xanh xanh mằn mặn. Có từng dàn cá bạc nhảy tung tăng. Dòng sông hẹp sóng êm êm phẳng lặng. Có sẵn đò mà chẳng được sang ngang ...". Trần Viết Bính không nêu địa danh nhưng cũng tả rõ về con sông giới tuyến ấy qua "Nhà em ở phía bên sông": "Nhưng dòng sông từ ngày có kẻ ngăn đôi, cho tình ta bên này bên ấy rời xa...".
Những nhạc sĩ miền Nam ra tập kết ở miền Bắc thì mang nỗi nhớ da diết về những dòng sông quê hương mà hát lên: "Quê tôi ở miền Nam có rừng dừa mát xanh. Bên dòng sông uốn quanh" (Quê tôi miền Nam – Phan Huỳnh Điểu), "Phù sa nước bạc Cửu Long ruộng đồng xanh tươi đôi dòng sông ..." (Quê tôi – Lưu Cầu), "Bến nước Cửu Long còn đó em ơi" ( Tình ca – Hoàng Việt), "Ta nhớ quê ta có núi Ấn có sông Trà ..." (Nhớ đàn xe nước – Trần Kiết Tường). Ngược lại, các nhạc sĩ miền Bắc thì lại phơi phới những giai điệu về quê hương giải phóng và xây dựng. Lân Tuất trong Người con gái Việt (thơ: Anh Thơ) đã tha thiết: "Quê hương tôi bên dòng sông Nhuệ. Bãi dâu mươn mướt xanh rơn". Nguyễn Đức Toàn thì vui vẻ trong Mời anh đến thăm quê tôi : "Xóm quê tôi bên bờ sông Hồng. Đò đưa về bến cũ, khắp thôn trang vui mừng tưng bừng, nô nức khắp cánh đồng. Đến nay mai trở thành nông trường. Đời vui lên phơi phới ...". Nhạc sĩ miền Nam, Bửu Huyền thì bên nỗi nhớ nhung là sức hoà nhập: "Năm xưa chiến đấu bên bờ Cửu Long. Sóng reo ca mừng chiến công. Năm nay tôi hát bên dòng sông Hồng. Lòng phơi phới vui xây hòa bình ..."
Khi cuộc chiến tranh vì thống nhất đất nước lại diễn ra, thì đấy là những năm tháng mà những dòng sông chảy dạt dào thành âm nhạc khôn xiết, nhất là từ ngày máy bay Mỹ ném bom miền Bắc và cuộc chiến đấu đất đối không diễn ra ác liệt trên mọi vùng đất. Nếu ở miền Nam là những Qua sông của Phạm Minh Tuấn, Mỗi bước ta đi của Thuận Yến: "Vượt qua sông Bé oai hùng về Phước Long xây chiến thắng"... thì ở miền Bắc là hàng loạt những nhạc phẩm về những dòng sông miền Trung. Sông Gianh sau Hờn sông Gianh của Lưu Hữu Phước, có thêm Chiến thắng sông Gianh của Mộng Lân: "Chiến công oai hùng của dòng sông Gianh ngày qua thắng Mỹ ..." Bên sông Gianh là sông Nhật Lệ với Bài ca sông Nhật Lệ của Nhật Lai. Sông Lệ Thuỷ, sông Kiến Giang cũng chảy vào Quảng Bình quê ta của Hoàng Vân. Lùi ra Hà Tĩnh là Người em gái sông La của Doãn Nho (thơ Phương Thuý), tới Nghệ An là Tiếng hát sông Lam của Đinh Quang Hợp, tới Thanh Hoá là Chào sông Mã anh hùng của Xuân Giao. Sông Hồng lại trào dâng trong Tiếng nói Hà Nội của Văn An (thơ: Cảnh Trà): "Dưới chân cầu Hồng Hà vẫn ngàn năm sóng vỗ". Sông Tích, sông Đà lại thêu vào giai điệu Nhật Lai qua Hà Tây quê lụa.
Trở lại với miền Nam rực lửa đấu tranh, những dòng sông lại thêm lần hiện diện. Từ sông Cửu Long với hợp xướng Cửu Long Giang của Phan Miêng đến những dòng sông chiến công mà trước đấy ta chưa nghe thấy bao giờ. Đấy là sông Pơliu (hoặc Pơling) nhỏ bé trong thung lũng A Lưới được nhắc đến trong nhạc phẩm Người con gái Pa Kô của Trí Thanh. Đấy là sông Ba Lòng trong Tiếng hát trên đường quê hương của Huy Thục. Đấy là sông Pô Kô trong Người lái đò trên sông Pô Kô của Cầm Phong (thơ Mai Trang). Đấy là sông Đắc Kroong trong Sông Đắc Kroong mùa xuân về của Tố Hải. Đấy là sông Vàm Cỏ Đông trong Vàm Cỏ Đông của Trương Quang Lục (thơ Hoài Vũ) ...
Sau ngày thống nhất đất nước, những dòng sông quê hương lại chảy tràn trề vào âm nhạc qua nhiều nhạc phẩm được các nhạc sĩ sáng tạo trong nhiều năm qua. Đấy là Sông Hàn vang tiếng hát (Huy Du. Thơ: Bùi Minh Quốc), là Dòng sông hát (Trần Viết Bính), Chảy đi sông ơi (Phó Đức Phương), Vàm Cỏ Tây (Đặng Văn Bông), Chiều về trên sông Ô Môn (Triều Dâng), Nơi ấy sông đầy (Nguyễn Dũng. Thơ: Nguyễn Lập Em), Sông quê (Nguyễn Hay), Khúc hát sông quê (Nguyễn Trọng Tạo. thơ: Lê Huy Mậu) ... Nhưng những sáng tác này vẫn chủ yếu là do các nhạc sĩ có lứa tuổi từ ngũ tuần trở lên viết ra. Những nhạc sĩ trẻ hiện nay thực sự là ít quan tâm đến những con sông cụ thể của quê hương, của đất nước. Con sông trong ca khúc của họ chỉ là con sông chung chung kiểu Dòng sông lơ đãng của Việt Anh. Không cần nhắc tên sông nhưng nếu viết như Trịnh Công Sơn, người thưởng thức vẫn nhận ra sông Hương xứ Huế rất rõ rệt. Dù chọn lựa thế nào thì cũng phải từ một tình yêu chân thành, một xúc cảm thực. Và mong những dòng sông mãi chảy thành âm nhạc.
Phương An
Theo http://vnmusic.com.vn/

Một ngày như mọi ngày

Một ngày như mọi ngày X in vội vàng thưa ngay: Đây là một ngày của một ông già Việt Nam trên xứ Mỹ, một người đang dè dặt đặt những "...