Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2019

Đêm giao thừa có trăng

Đêm giao thừa có trăng
Đã ai từng thấy ánh trăng vào đêm ba mươi chưa? Mà lại là đêm giao thừa, thời điểm thiên địa giao hòa, thần linh động đậy trao đổi nhiệm sở, trời tối đen như như mõm chó.
Vậy mà, tôi đã từng nhìn thấy ánh trăng.
Đó là giao thừa năm một nghìn chín trăm chín bảy. Tôi vẫn nhớ rõ năm đó, bởi đằng sau tấm ảnh tôi chụp hoa mai vẫn còn ghi. Hồi đó, tôi mới học đại học năm thứ nhất và đang trong mối tình đầu với cô gái cùng lớp mắt một mí, đầy vẻ kín đáo huyền hoặc. Nhà nàng ở khu tập thể xây những năm sáu mươi trên đường Giảng Võ, còn nhà tôi tận một làng nhỏ ven thị xã S, cách Hà Nội sáu chục kilômét. Tết năm ấy, gần ba tuần nghỉ về quê, tôi vô cùng buồn và nhớ nàng. Vườn nhà tôi trồng mấy cây mai. Mai trắng, tết nào cũng nở hoa, đầu nụ chúm chím tim tím hồng đỏ, khi nở, cánh xoè ra trắng muốt tinh khiết, dịu dàng. Vừa đầy đặn, vừa mong manh, lại mạnh mẽ vô ngần giữa ngày mưa ủ ê cắt ruột. Như mọi năm, mai nở đúng dịp tết, rực rỡ sáng loá góc vườn. Nhìn hoa, bao nhiêu nỗi nhớ cứ dày lên. Thế là tôi nảy ra ý định ngông cuồng, sẽ đem một cành mai xuống Hà Nội để tặng nàng, mà phải tặng đúng phút giao thừa, cái giây phút làm tất cả những người Việt trên mảnh đất hình con cá ngựa này xốn xang.
Ý định có từ trưa ba mươi tết, sau bữa tối thì tôi chất đủ quyết tâm. Khoảng tám giờ tối, tôi cắt một nhánh mai đẹp nhất, còn chúm chím đẫm bụi sương mưa, thủ vào ngực áo khoác rồi dắt xe ra cổng. Mẹ tôi dặn, nhớ về sớm đón giao thừa, đừng có đi qua mười hai giờ... (Nếu qua 12 giờ mới về, sẽ là người “xông” nhà, đem may mắn hoặc tai họa cho gia đình cả năm). Tôi vâng dạ đạp xe đi. Quốc lộ vắng tanh. Gió lạnh thổi vi vút, nhưng tôi không dám co mình hay cựa mạnh vì sợ dập cành mai. Tôi không nhớ mình đạp xe có lâu không vì tôi đi trong mơ màng của tình yêu. Xuống đến Hà Nội, đèn đường ở Cầu Giấy, cửa ngõ phía Tây thành phố sáng trưng. Đến nhà nàng thì chỉ còn chừng mươi phút nữa sẽ giao thừa. Tôi dựng xe ở chân cầu thang, tim gõ lắc cắc trong ngực lúc bước qua khoảng cầu thang tối - nơi tôi đã trao nàng nụ hôn đầu tiên để lên căn hộ tầng hai của nàng. Mấy bông hoa mai sáng lên nhờ nhờ khi tôi lôi nó ra từ trong ngực áo dù cánh đã hơi héo. Tôi chợt ớ ra, làm sao để tặng nàng đây? Vào thì không được, gọi lại càng không. Nghĩ một chút, tôi quyết định gài lên khe cửa, thuận tay gõ nhẹ vài cái hi vọng nàng sẽ nghe thấy để ra mở rồi chạy ào xuống cầu thang lên xe đạp phóng ra phố. Tôi đang ngây ngất vì đã thực hiện xong một hành động “lãng mạn”. Tôi tròn hai mươi tuổi và đang yêu. Hỏi ai có thể giàu có, quyền lực và hạnh phúc hơn? Lòng sang trọng như một ông hoàng, tôi lững thững vừa đạp xe vừa ngắm phố xá thênh thang náo nức. Bên đường, những người công nhân dọn rác lúc đó vẫn phải làm việc vì mai mồng một tết, người ta kiêng không quét nhà, sợ đổ của ra cửa nên tối ba mươi ai cũng vứt hết rác ra đường. Nhìn tốp công nhân khoảng chục người đang vội vã chuyển rác từ những chiếc xe đẩy tay lên xe tải, tôi chợt nảy ra ý định muốn chúc tết họ. Nghĩ là làm, tôi xuống xe chầm chậm dắt đến gần rồi dừng lại dõng dạc: “Em xin chúc tết tất cả mọi người ở đây, sức khoẻ và hạnh phúc”. Cả tốp công nhân bất ngờ không hiểu chuyện gì. Đi qua rồi, tôi mới thấy tiếng cười nổ ra sau lưng, chắc họ tưởng tôi là một thằng điên. Nhưng không sao, lòng tôi đang phơi phới mà. Tôi đạp quanh một vòng Hồ Gươm xem mọi người đón tết rồi đi về theo phố Hàng Bông. Đến đường Kim Mã, thấy một cô gái đi bộ trên phố, ăn mặc diêm dúa, trát phấn dày cộp, giày cao gót, có vẻ như gái bán hoa. Tôi lại hứng chí dừng xe nói câu chúc. Cô gái làng chơi ngạc nhiên quá, bước vấp chân xuống đường tí ngã.
Lần này, tôi nhận được câu chúc tết đáp lại của cô.    

Trên đường về, tôi đạp xe khá nhanh. Lúc đó khoảng một giờ đêm, trời tạnh mưa. Từ đầu cửa ngõ phía Tây thành phố tới nhà, phải đi qua những đoạn rất vắng, hai bên là cánh đồng. Khoảng giữa, có một cái miếu nhỏ đổ nát, bên trong không còn gì, bên ngoài là tượng đá hai ông tướng canh miếu nhưng đã bị chém cụt đầu tự bao giờ. Bọn sinh viên chúng tôi đi học đạp xe về quê thường nghỉ chân ở đây, đứng sau lưng ông tướng, thò đầu ra, chụp ảnh. Đạp tới cái miếu đó, tôi thoáng thấy bóng người, rồi có tiếng đàn ông gọi với theo. “Anh gì ơi, cho em đi nhờ với”. Tôi dừng lại, không hiểu người muốn đi nhờ là ai nên hơi e ngại. Khi người đó đi tới, tôi nhận ra chiếc khăn quấn trên cổ lờ mờ trắng trong bóng tối. Cái ba lô đằng sau có vẻ khá nặng, vì nó khiến anh ta phải cúi gập về phía trước. Mặt anh ta đen kịt, nhòa vào bóng tối. Anh ta nói mình tên Hùng, người ở S, đi lính đóng quân trong Nam, lâu quá không về thăm nhà, nay mới tích đủ tiền. Anh bay ra Hà Nội trong chuyến cuối cùng, xuống sân bay đã muộn lắm rồi, định chơi ngông bắt taxi hoặc xe ôm về cho kịp đón giao thừa, nhưng không xe nào chịu đi xa, trả tới bốn trăm ngàn mà họ vẫn lắc, chắc sợ cướp. (Tôi xin được nói thêm, trên con đường này hồi đó rất hay xảy ra cướp. Cách đó hơn một tháng, một người xe ôm bị cướp đập búa vào đầu nát cả mũ bảo hiểm rồi nhận xác xuống mương, công an vẫn chưa tìm ra thủ phạm). Thế là anh đành đi xe bus từ sân bay Nội Bài về thành phố, rồi cuốc bộ về quê, đã được hai mươi cây số rồi. Anh hỏi xin đi nhờ. Tôi nhìn kỹ (thực ra cũng không kỹ được vì trời tối quá), phân vân một chút, rồi đồng ý, nhưng bắt anh lính phải đèo. Ban tối trước khi đi, tôi có lận một con dao Thái trong người. Giờ đây, nó chợt cồm cộm sau lưng khiến tôi vững tâm hơn.
Tôi nhấc ba lô, khoác lên vai. Đúng là ba lô nặng trĩu, thắt chặt, chật cứng đồ đạc ở bên trong. Anh ta đạp, còn tôi ngồi sau thò chân về trước “đạp guồng”. Đi một đoạn, anh lính rướn người cố đạp thật nhanh. Tôi bảo, cứ từ từ thôi, đằng nào cũng qua giao thừa mất rồi, về làm khách nhà mình năm mới. Mình là con trong nhà, mà lại là người “xông” nhà, chắc chẳng “dông” đâu mà lo.
Anh lính nghe tôi, đạp chậm lại.
Vừa đạp xe, chúng tôi vừa nhẩn nha nói chuyện. Anh lính biết nhiều chuyện trong Nam. Tôi chưa biết miền Nam ra sao, nên tò mò hỏi han liên hồi. Anh lính kể rằng mình đóng quân ở Biên Hòa, chưa có vợ, mẹ anh giục lâu rồi nhưng vì đi suốt nên không có thời gian để cưa cẩm một cô đúng theo ý mẹ. “Nhưng tôi đã từng có một cô bồ gần đơn vị sinh đúng năm 1975”. Rồi anh kể, bố cô ấy là sĩ quan chế độ cũ nên mỗi lần anh đến chơi, ông không dám ngồi nói chuyện, cứ loanh quanh ngoài bếp hay dưới sân. Anh phải bảo cô bồ rằng, em ơi mời bố vào đây, đừng như thế làm anh ngại. Lúc ấy ông bố mới dám vào, nhưng thái độ cứ khép na khép nép. Có một lần nhà không có người, cô bồ lấy ảnh ông bố cho anh xem. Tấm ảnh chụp ông hồi trẻ, đã đóng tới “lon” trung uý, mặc đồ rằn ri, đeo súng lục trễ hông, trông rất ngầu. Anh lính biết việc cưới cô bồ là thật khó, vì lý lịch nọ kia, nhưng lại mãi không bỏ được. “Vì bồ anh xinh lắm (anh ta đổi giọng xưng anh, bởi hỏi tuổi hóa ra tôi ít hơn nhiều). Người cô ấy vừa ấm vừa mềm vừa thơm vừa nhẵn, như trái vú sữa. Cậu đã ăn trái vú sữa bao giờ chưa, chưa hả, nắn một hồi rồi vỏ trái mọng nứt, sữa tứa ra thơm nức…”.

Lúc đó còn khoảng hơn hai mươi cây số nữa thì tới S, đường đi ngang qua một đập nước, trên con đê “bối” (đê bọc đằng sau lưng đê chính). Đoạn này rất vắng, một bên hồ, một bên cánh đồng ngô đã bẻ bắp, chết khô. Gió thổi hun hút sởn da gà. Tự nhiên tôi nghĩ đến ma, bèn hỏi: “Đợt này anh về Bắc lâu không? Mà anh đã thấy ma bao giờ chưa?”.
Không thấy anh ta trả lời, nhưng guồng chân chợt chậm lại.
Im lặng khá lâu anh lính mới trả lời vế thứ hai rằng đã thấy ma nhiều rồi, ma có thật. Rồi anh giải thích, khi ta chết, thì chưa phải đã chết hẳn. Vẫn còn hồn - một dạng lỏng của sự sống, đợi đầu thai. Nếu có biến cố gì đó, ví dụ một vụ nổ bom nhiệt hạch cực mạnh, thì không những người sống, mà cả hồn cũng chết. Đó là cái chết lần thứ hai của con người. Hồn chết lần thứ hai nhẹ hơn, loãng hơn hồn lần thứ nhất. Nếu cứ chết mãi đến bảy lần như vậy thì hồn hóa thành thể rắn như cục đá, như xỉ than. Đấy là anh nghe một người lính gốc Khơ-me dưới quyền nói vậy. Anh còn quả quyết rằng mình tin điều đó với giọng rất nghiêm trọng. Tôi thì vừa nghe vừa buồn cười và tưởng tượng người chết lần đầu tiên hóa thành thứ gì đó như bột sắn quấy, hay chè Huế. Hồn chết lần hai hóa thành trà đặc, lần ba thành nước cống, mãi mới thành nước trắng, sau khi biến thành hơi nước mới thành mây. Chết nhiều lần thế mất thì giờ quá, bao giờ xuống đi học sẽ kể chuyện này cho cô bạn gái nghe cho cô ấy cười tít mắt. Cô gái tôi yêu, có cái kiểu cười như vậy khi nghe người khác kể chuyện, làm bất kể thằng ngốc nào cũng tưởng mình thông minh lắm. Nghĩ vậy, nhưng tôi chỉ cười thầm khe khẽ, không dám cười to vì người bạn đồng hành kể một cách nghiêm trang giữa màn đêm đen gần như tuyệt đối, linh thiêng quá đỗi.
Minh họa: Phạm Hà Hải
Chúng tôi nói chuyện vãn, không để ý tới cái xe cà khổ cà tàng của tôi tự nhiên phát ra tiếng phật, phật, lạch cạch phía bánh trước. Tôi hốt hoảng bảo anh lính dừng xe lại xem sao. Bỏ cái ba lô xuống, tôi mò mò sờ vào bánh trước rồi than: “Chết cha, có lẽ gãy tanh rồi anh ạ”. “Thế à, gay nhỉ”. Anh lính dựng chân chống xe, rồi cũng lần lần tìm bánh trước. Đứng lên, anh vỗ bẹt bẹt cho sạch bùn bám vào tay rồi kết luận: “Gãy tanh, với lốp mòn quá, có chỗ gần thủng rồi, anh ấn mềm lắm, sờ thấy cả săm. Nó mà thủng ra thì mình bỏ mẹ!”. Tôi gãi đầu lo lắng. Chợt anh lính hỏi: “Có cái dây to bản nào không? Dây chun chẳng hạn, buộc vào đi tạm”. “Không có, mọi khi vẫn chằng một cái sau xe. Nhưng hôm nay đi chơi, em tháo ra”.
Cả hai lúng túng một lúc. Anh lính bảo: “Anh cũng không có dây trong ba lô… Thôi được rồi, cắt cha cái này ra”. Anh ta nghiêng người, cởi cởi cái nút ở cổ. Tôi giật mình. “Dây gì đó anh?”. “Anh bị thương, đây là dây băng gạc. Nhưng cuốn dày lắm, cắt ra một đoạn được. Ối chà, anh không có dao”. “Em có dao ở đây, nhưng tháo ra thế có làm động vết thương không. Mà anh làm sao lại bị thương ở cổ?”. Anh lính không trả lời mà chìa tay ra. “Đưa dao đây cho anh”. Tôi thò ra sau lưng, rút con dao Thái. Anh lính lắc đầu cởi luôn vài vòng dây nữa, cái dây dài ra, lúc lắc như con rắn trắng gần chạm đất rồi cầm lấy con dao, tì tay cắt xoẹt một cái, khoác đầu dây lên vai, thò tay gài đầu nút lại vào cổ. “Làm sao anh bị thương, khỏi chưa?”. Tôi hỏi lại. Anh lính vẫn như không nghe thấy, cầm đoạn dây đã cắt cúi xuống sờ lần cái lốp xe quấn quấn. Một lúc sau, anh xoa tay đứng lên. “Xong, chắc có thể đi tạm về đến nhà. Nghỉ làm điếu thuốc cho ấm nhỉ?”. “Vâng, anh hút đi, em không biết hút”. Anh lính lục ba lô, lôi ra một gói thuốc và bật lửa, bật lên hút, rít vài hơi, thở ra rất mạnh vẻ sảng khoái rồi ngồi thụp xuống đường. Tôi cũng ngồi xổm xuống đối diện duỗi chân cho đỡ mỏi. “Em có người yêu chưa?”. Anh lính hỏi, đầu điếu thuốc sáng lên. “Ừm, nói thế nào nhỉ, em có rồi, mà cũng coi như chưa”. Tôi đáp lời, tự nhiên muốn kể “chiến công” nhảm nhí của mình hồi tối. Anh lính nghe chăm chú, liên tục rít thuốc. Điếu thuốc cứ lấp lóe sáng giữa màn đêm đen.

Tôi bỗng thấy buồn ngủ, ngáp một cái rõ dài định bảo rằng có lẽ nên đi thôi. Đúng lúc ấy, một cảnh tượng kỳ quặc hiện ra. Vì tôi ngồi đối diện với anh lính, quay lưng về phía Hà Nội, nên trước mặt tôi là núi Ba Vì. Tự nhiên, phía đó chợt xuất hiện thứ ánh sáng nhàn nhạt. Lúc đầu, tôi không để ý cho tới khi ánh sáng rõ dần. Tôi xòe bàn tay ra và thấy cả màu da. “Ơ, có trăng à?”. Anh lính đang lúi húi châm một điếu thuốc khác, nghe vậy, ngẩng đầu lên, ngoảnh trước ngoảnh sau rồi cũng nói. “Ừ, lạ nhỉ, trời sáng lên mới lạ chứ”.
Tôi không tin vào mắt mình nên ngoái nhìn xung quanh. Cái xe đạp, những chỗ mạ kim loại ánh lên. Hai bên đường là cánh đồng, bên phải là đê sông Hồng… Tất cả hiện lên kỳ vĩ nhưng lành lạnh trong ánh nguyệt bạch mơ hồ. Quầng sáng dị kỳ ấy, trông như trăng hạ huyền lấp phía sau ba ngọn Tản Viên nở ra. Sau này nghĩ lại, hoặc lúc đó tôi thông minh và biết suy xét hơn một chút, hoặc là một người từng trải hơn, ắt hẳn đã phải cảm thấy rất kinh hoảng vì một điều kì lạ như thế. Nhưng lúc đó tôi chỉ hơi ngạc nhiên. Không thể hiểu tại sao tôi quên rằng đó là đêm giao thừa, trời đen tối, không thể nào sáng được. Những năm trước đó, giao thừa người ta đốt pháo các loại, tôi đứng trong nhà nhìn ra cũng thấy sáng một góc trời như thế. Nhưng pháo bị cấm đã ba năm rồi, không thể có ánh sáng như vậy. Mà lại sáng rất lâu.
Cơn buồn ngủ tiếp tục quay lại dù ở ký túc, có khi tôi thức học hoặc đọc sách thâu đêm mà chẳng sao. Tôi thụp xuống, hai bàn tay kẹp đầu gối cho đỡ cóng, gà gật, đầu nặng như búa bổ.
Dáng ngồi trước mặt tôi cứ nhập nhà nhập nhoạng, thì thào nói cái gì đó. Mắt tôi càng cố nhướng lên thì càng bị kéo sụp xuống. Tiếng thì thào dần trở thành léo nhéo, sôi như sóng radio kém tín hiệu, lại như tiếng rên rỉ mê hoặc của các cặp tình nhân. Một thứ thanh âm im ắng nhẹ bẫng, hoang đường. Tôi như toát hết hơi ra ngoài, từng lỗ chân lông mở to, đầu ong ong rần rần. Tay chân run lẩy bẩy, tôi soài ra mặt đường trong cơn chập chờn tỉnh thức. Đốm lửa từ điếu thuốc của anh lính nở to như một đóa hoa đỏ trước mắt tôi. Thế rồi, hình như anh lính đứng dậy, vứt mẩu thuốc sang vệ đường (không rõ là có đúng thế không). Tôi bị vỗ một cái thật mạnh lên vai, rồi nghe rõ ràng tiếng anh lính trở lại bình thường: “Đáng lẽ em không nên đi như thế này. Đừng ngủ nữa, đứng dậy về thôi”.
Tôi chợt tỉnh hẳn, ánh sáng lúc nãy đã biến mất, xung quanh tối đen, tôi nhận ra mình đang nằm phục giữa đường nhựa như một con nghê đá, tay chân lạnh cóng. Tôi đứng dậy, không nhớ mình đã ngủ bao lâu, đầu óc đầy nghi hoặc. Tôi chỉ nhớ cái đốm đỏ đầu điếu thuốc và một thanh âm léo nhéo rì rào… “Lên xe đi, ông em”. “Vâng” - tôi đáp, bước lại gần cái xe đạp, nhấc cái ba lô của anh lính khoác lên vai. Ngồi lên xe, thò chân vào đạp guồng, đầu óc vẫn láng máng chuyện của vài phút trước.

Quãng đường còn lại, tôi và anh lính trò chuyện rất ít. Cũng bởi sau mấy phút chợp mắt đó, tỉnh lại, tôi rơi vào một trạng thái lơ mơ nhẹ. Chân tay trở nên linh hoạt như chưa từng bị lạnh cóng bao giờ. Tôi hỏi mình ngủ gật lâu không thì anh lính ừ ào bảo rằng khoảng năm phút gì đó. Tôi vẫn nghi hoặc nhưng không dám hỏi, cái bánh xe buộc chằng bằng dây vải cứ khực lên trong mỗi vòng quay miên man.
Đã thấy ánh đèn huỳnh quang yếu ớt ở con phố đầu cửa ngõ vào thị xã, cả anh lính và tôi nhổm người lên vui vẻ, đạp nhanh hơn. “Nhà anh ở ngay đầu phố đây thôi, vào uống chén nước cho ấm bụng rồi hẵng về nhé. Quả thực là anh rất cảm ơn em. Không gặp em chắc đến sáng mới đi bộ về đến nhà mất”. Tôi lưỡng lự một chút rồi nói vâng.
Nhà ở rìa thị xã lơ thơ chứ không sát cạnh nhau, đằng sau, hai bên nhà vẫn là vườn, đồng lúa, cứ vài chục mét, lại có một ngọn đèn đường nhỏ lù mù dựng trên cột tre. Anh lính và tôi dừng lại trước một căn như thế, không có cổng, ánh sáng từ cái cột đèn gần đó hắt lại, tôi nhìn thấy hình như trước sân còn có một khoảnh đất trồng rau. Anh lính thở thật mạnh, bảo: “Thế là về đến nhà rồi”.
Tôi đứng lại thả cái ba lô xuống nền sân. Anh lính gõ cửa nhè nhẹ gọi: “Mẹ ơi, con Hùng đây. Mẹ ơi, mở cửa…”.
Hơn một phút, căn nhà vẫn im ỉm.
“Chắc là mẹ anh ngủ ở phòng trong, cụ già nên nghễnh ngãng rồi, không nghe thấy. Em đợi một chút, anh đi vòng ra cửa sổ đằng sau gọi”.
Anh lính bảo tôi vậy, rồi đi ra đầu chái nhà, phía không có đèn đường. Tôi nghe tiếng bước giầy lịch kịch rồi im bặt.
Một lúc không thấy động tĩnh gì, tôi ra ngó, chỉ thấy khoảnh vườn đen kịt, tối om. Tôi sốt ruột, lại gần cái ba lô và chợt phát hiện nó bị chùn xuống, bẹt ra như đựng nước bên trong. Xoay người để ánh đèn đường rọi vào, tôi nhìn kĩ lại lần nữa. Đúng là nó tự lả xuống, bẹt ra thật. Lấy chân di di thử bên ngoài thấy mềm mềm, tôi chợt rùng mình, lại chạy ra chái nhà ngó về phía anh lính đi vào hồi nãy. Khoảng tối vẫn im bặt. Tôi gọi một tiếng, không thấy trả lời. Rùng mình lạnh toát cả người, tôi hốt hoảng quay nghiêng xe đạp, nhảy lên, phóng qua khoảnh sân rồi phi xuống vỉa hè. Đạp vài chục mét, ngoảnh lại, căn nhà vẫn đứng sững như thế, cái ba lô tôi để trước cửa như một giọt mực đen sì trên khoảnh sân xi măng trắng toát dưới ánh đèn vàng vọt.
Tôi cắm đầu cắm cổ, đạp thục mạng. Dọc đường, những cơn rùng mình toát mồ hôi lạnh làm tôi ướt cả áo. Về đến nhà, tôi mở khóa căn bếp, dắt xe vào đó, để cả quần áo đi ngủ luôn.
Sáng muộn hôm sau, bố ngồi đầu giường đánh thức tôi dậy, hỏi nhẹ nhàng rằng hôm qua đi đâu mà giao thừa không về. Đầu nặng trịch, ngơ ngác một chút, tôi ú ớ nói dối rằng đêm qua ra thị xã chơi, hỏng xe. “Chiều qua bố đem xe đi sửa hết, thay cả lốp cho con rồi, hỏng làm sao hả con?”.

Câu nói ấy làm tôi giật thót mình, tỉnh hẳn.
Tôi dụi mắt vội vã bật dậy, cái xe đạp dựng tối qua ở cửa bếp, lốp trước còn mới tinh! Chuyện đêm qua, tôi nhớ rõ mồn một, anh lính với cái cổ quấn băng trắng, cái ba lô, ánh sáng như ánh trăng, cuộc trò chuyện, cái dây vải ngoằn ngoèo buộc lốp… Tôi nhìn vào bên trong áo khoác, vẫn còn một nụ mai, cánh mỏng tang tím héo, đó là nụ mai trên nhành mai tôi đem xuống tặng người yêu tối qua. Cả con dao Thái vẫn còn đây.
Thế là thế nào?
Sáng mùng hai, tôi đạp xe một mình ra thị xã S. Qua dãy phố cửa ngõ vào thị xã, tôi nhìn thấy căn nhà mình đã đến đêm giao thừa. Trước sân vẫn là vườn rau, có một lối đi đổ xi măng dẫn đến cửa, nơi tôi thả cái ba lô xuống đất. Cửa chính, cửa sổ căn nhà đóng im ỉm, không có vẻ gì là tết. Tôi đạp xe lượn một vòng rồi quyết định vào căn nhà chếch phía mặt đường đối diện để hỏi thăm.
Cửa để ngỏ, nhìn vào, thấy bên cạnh bàn nước lưa bừa hạt dưa cắn dở, đĩa kẹo ngổn ngang, một người đàn ông mặc áo đại cán, tóc muối tiêu, đang gối đầu lên thành giường ngáy khò khò. Nghe tiếng tôi gọi, ông bật dậy, xỏ dép loẹt xoẹt đi ra, giọng ngà ngà say, mời tôi vào nhà. Không để tôi nói, ông bảo, vào đây uống chén rượu tết với tao, Nam nó đi chơi từ sáng sớm chưa về (chắc ông tưởng tôi là bạn của con ông). Tôi ngồi uống cùng ông li rượu xuân, chúc tết, hỏi thăm… rồi như tiện thể hỏi.
- Cái nhà bên kia là nhà ai, sao ngày tết mà đóng cửa im ỉm thế hả bác?
- À, nhà bà Ngõa, bà ấy mới mất cách đây hơn một tháng.
Tôi giật mình, nói, thế ạ.
- Cũng tội bà ấy, có mỗi một thằng con trai, đi lính, hi sinh cách đây mấy năm rồi.
- Anh con trai tên gì hả bác?
- Nó là thằng Hùng,… bố nó là ông Hải, đi lính hồi chống Mĩ với tao, cũng hi sinh, và vẫn chưa tìm được hài cốt khi giải phóng miền Nam. Uống nốt đi, làm chén nữa nhé?
Hai tai ù đặc, tôi cảm thấy hoang vắng, như vừa chứng kiến một vụ tai nạn giao thông kinh khủng. Ông đại cán không biết, vẫn cứ khề khà kể, rằng thằng Hùng ấy, cái thằng rất ngoan, chưa vợ. Nó học sĩ quan công binh ở Bình Dương rồi về một đơn vị, hình như Biên Hòa thì phải, lên tới đại úy rồi đấy, thế mà đùng một cái, có tin nó hi sinh...
- Thời bình sao mà lại hi sinh được? Giọng tôi run run.
- Thì thế! Ai cũng nghĩ vậy, thế mà vẫn có đầy người hi sinh đấy! Tao nghe mấy thằng nhập ngũ với nó về kể, trong lần rà mìn ở một khu vực mà trước đây lính Mĩ đóng quân để giải phóng mặt bằng cho một trường học thì một quả mìn phát nổ, thằng Hùng dính trọn cú đó. Có một mảnh văng vào cổ, cứa quá sâu nên không cứu được. Sau khi hi sinh, vì xa xôi nên thằng Hùng được an táng tại nghĩa trang Biên Hòa. Bà Ngõa buồn lắm, mộ cả chồng và con đều ở trong Nam, chưa đưa về được. Bà ấy mới chết tháng trước, chính tay tao liệm cho bà ấy đấy. Nhà ấy giờ chẳng còn ai, có đứa cháu nó trông hộ, và sắp sửa bán thì phải… À mà sáng qua tao đi dạo phố, thấy đứa nào nghịch ngợm bỏ cái ba lô rách trước cửa, trong toàn đất, tao vứt xuống ao rồi...
Sau tết, tôi xuống học trở lại, gặp người yêu. Cô bạn ríu rít vui kể cho tôi một chuyện kỳ khôi. Ấy biết không, đêm giao thừa, không biết ai gài vào cửa nhà tớ một cành mai. Tớ ra mở thấy, nghĩ trẻ con tầng trên nghịch, định vứt đi thì mẹ tớ bảo đó là lộc ai đem cho đấy, tớ bảo lộc phải tươi chứ đây héo rồi mẹ ạ. Mẹ tớ bảo không sao, rồi đem cắm nó vào cốc nước ở bàn. Đêm giao thừa cả nhà tớ đi chơi về, cành mai vẫn héo. Thế nào mà sáng hôm sau thấy nó tươi lại ấy ạ, thế mới tài. Bố mẹ tớ bảo đùa, chắc đó là điềm năm nay nhà tớ được chia đất, khỏi phải ở nhà tập thể đây.
Nghe bạn kể, tôi cũng chỉ ồ à cho qua, không cười gượng nổi, không dám khoe rằng “cành lộc” đó là của tôi, cũng không kể lại được cho cô bạn nghe chuyện xảy ra trên đường về đêm giao thừa. Tôi giữ kín chuyện đó trong lòng, bởi những điều tôi chứng kiến trong đêm đó thật bình thường mà kì quái hết sức, có nói ra cũng không ai tin cả.
Mười năm sau, chuyện đêm giao thừa đó tôi cũng ít khi nhớ lại. Cô bạn gái mối tình đầu tôi ngỡ đẹp hơn cả hoa mai ấy cũng đã lấy người khác. Nhưng có một lần, đúng vào ngày tết dương lịch, một người bạn rủ tôi lên chùa chơi. Ngôi chùa này nghe nói có lịch sử hai nghìn tuổi. Người bạn “quảng cáo” sư trụ trì là người cùng quê với anh ta, một thiền sư chính cống, tuy có uống bia và nghiện thuốc lá Vinataba. Ngôi chùa khá cổ kính, giữ được sự thanh bạch, không phù phiếm như đa số chùa đền bây giờ. Ông sư hiệu là Đảm, Thích Nhất Đảm, tu theo dòng Mật Tông. Người bạn của tôi khúm núm xưng là “cụ”, mặc dù ông sư mới chỉ hơn bốn mươi. Mặt ông điềm đạm, có đôi mắt rất dài. Ông nói chuyện với chúng tôi hay đệm “dạ, dạ”, nghe rất buồn cười.
Trước cửa căn nhà tăng là một khu vườn nhỏ. Một nửa trống hoang, rẫy sạch cỏ, lác đác có ba bốn viên đá sa thạch to, hình thù tự nhiên. Một nửa trồng toàn mai trắng sít liền nhau, hoa rụng tơi tả. Vị sư rải chiếu ra thềm gạch, rồi mời chúng tôi uống bia, hút thuốc, trò chuyện. Uống bia say, nhìn hoa mai tươi sáng, ngà ngà, tôi bèn kể lại chuyện cũ cho ông sư và anh bạn nghe.
Nghe xong, anh bạn tôi cười cười ý bảo tôi bịa. Anh ta là một tay buôn nước bọt rất giỏi, lí trí và vật chất từ đầu đến chân, hắn nể sợ ông sư và hay lên đây nửa thật, nửa vờ vịt nhờ xem hộ ngày lành tháng tốt để làm ăn (mặc dù thâm tâm anh ta cũng chẳng tin, nhưng rất chịu khó tuân thủ, bởi anh ta biết buôn bán là may rủi). Còn ông sư nghe xong vẫn thản nhiên hút thuốc, thậm chí còn chúm môi phả khói hình chữ o, chữ a. Rồi ông chậm rãi bảo, trong một văn bản cổ của Phật giáo Tây Tạng viết rằng, những ngọn núi thiêng là “linh sơn” của một vùng đất, thì cứ độ vài trăm năm hay một nghìn năm có một đêm sẽ toát ra linh khí và ánh sáng, gọi nôm na là một nhịp “núi thở”. Trong quãng thời gian ấy, linh hồn người chết có cơ hội sống dậy bằng việc hấp thu khí núi để cô đặc mình, tìm thân xác khác để trở lại dương gian. Cũng trong thời gian ấy, các linh hồn đang ở rất xa quê, không về được, sẽ theo ánh sáng ấy để về với mẹ. Cái thứ ánh sáng giống như trăng thanh nhàn nhạt mà tôi từng nhìn thấy ấy, có lẽ là khí núi “thở” ra đó chăng? Và linh hồn anh lính kia, đã theo đó để về?
Tôi không biết nói gì thêm, nhìn sư. Vị thiền sư dùng bia, đốt thuốc liên tục này nói xong im lặng nhìn ra khoảnh đất để trống rải vài viên đá, và vườn hoa mai. Có thể tôi đã mang nhánh hoa mai tuyệt sắc, nhánh hoa của tình yêu, và nó đã thu hút sự chú ý của linh hồn người lính từ trong Nam ra trong đêm “núi thở”? Hoa mai, ôi hoa mai, loài hoa trắng ấy, đẹp vì nó chính là nụ cười của những thiên thần sắp sửa hoài thai.
Chợt đầu óc tôi bừng sáng. Tôi nhìn sang bộ mặt nhăn nhó “bất khả tri” của người bạn trước câu chuyện, lòng thốt nhiên vui vẻ.
Thấy nét mặt tôi rạng rỡ, ông sư khẽ cười nụ, như đọc thấu những gì tôi đang nghĩ trong đầu. Vị thiền sư nói ề à nho nhỏ, như ngâm như nga: “Đi sâu vào đời thường thì cũng gặp nhiều việc diệu kỳ, diệu kì lắm… dạ, thế đấy ạ”.
Gã bạn tôi vẫn nhăn nhó tỏ vẻ chẳng hiểu, rồi xì một cái ra vẻ hắn chẳng thèm quan tâm chuyện ngớ ngẩn của tôi, và câu trả lời của vị sư.
Có lẽ hắn thấy chúng tôi thật đáng thương.
AI TA YẾT LAM
Theo http://vannghequandoi.com.vn/ 

Tóc xanh mấy mùa

Tóc xanh mấy mùa
Ông Đặng mân mê tấm vé tàu, kín đáo liếc quanh, như thể sợ bị bắt quả tang làm điều vụng trộm. Dặng hắng mấy cái. Xốc xốc cổ áo. Tự tin. Mỉm cười một mình. Cuối cùng, cũng cưa đứt đục suốt! Cũng đi đến kết thúc. Sự kết thúc này, không phải là chấm hết, nhá! Mà là mở đầu. Sự mở đầu cuộc sống mong ước cả một đời người.
Ông soi đi soi lại mấy lần tấm vé. Số hiệu con tàu, ngày giờ, số toa, số giường nằm. Ông lật qua lật lại mấy lần roong giấy mỏng. Đôi khi, ông kín đáo đưa lên môi, tựa thể hôn người con gái hẹn đón đợi ông ngày kia ở sân ga. Không phải giấc mơ! Sự thật đây, tấm vé tàu nóng ấm và thơm mùi mực. Nó không chịu yên trên túi áo ngực ông, cứ rúc rích như con chim nhỏ tinh nghịch.
Tấm vé tàu chứng thực một điều trọng đại rằng, ngày mai ông vào Sài Sòn. Vào với người gần ba mươi năm ông chờ đợi một câu trả lời. Không mệt mỏi. Không chán nản. “Em đón anh ở sân ga...”. Ông mừng rung que rung cọng. Mừng phát ngố phát ngọng. Đời người, có lẽ không có nỗi nào lớn hơn nỗi sướng này. Cái anh chàng sinh viên cờ đỏ hồi đó khuyên yêu thôi, không cưới được, ngỡ đúng, mà trật lất! Giờ thì ông cưới đây! Ông sẽ cưới rênh rang, rộn ràng, trong một nhà hàng sang trọng bậc nhất thành phố với hàng ngàn con mắt bạn bè ngưỡng mộ. Ngưỡng mộ về ý chí của ông, ý chí một người lính trận. Ngưỡng mộ về tình yêu của ông, một tình yêu không giới hạn. Ngưỡng mộ về người đẹp của ông, một người đẹp hết thảy đàn ông đều mơ ước.
Hẳn rồi! Tấm vé tàu, tờ thông hành, chiếc chìa khóa, cho phép ông mở cửa trái tim Hoài, đưa nàng về dinh, đã chứng thực điều đó. Còn gì tuyệt vời hơn? Trái tim ông bất lực đeo đuổi tuyệt vọng suốt gần ba mươi năm qua. Như người trên chiếc thuyền câu nhỏ, lưỡi vướng hàm một con cá lớn và con cá kéo ông đi khắp cùng trời cuối biển gần ba mươi năm qua, không hi vọng có lúc dừng. Không hi vọng nhìn thấy mặt con cá.
Đã có lúc hình như dây câu bị đứt, ông chơi vơi giữa trùng khơi. Chỉ bấu víu vào hình ảnh khắc sâu trong dạ. Một sân khấu trên vùng đồi, giữa bốn bề sim mua. Cạnh những dãy lán sinh viên trường sư phạm sơ tán, chưa kịp chuyển về sau chiến tranh. Mắt Đặng như thôi miên bởi một đôi chân thon dài. Một thân hình róng rảy tuyệt đẹp. Một gương mặt trái xoan tươi rói. Một mái tóc lượn sóng tự nhiên. Ánh đèn ảo mờ. Màu trăng hoang sơ. Những vạt rừng lúp xúp sim mua hoang dại chạy quanh lớp học. Những lán tranh tre nứa lá, và xa tít là dãy Trường Sơn tím thẫm nền trời đêm phía tây tựa bức tường thành. Ánh trăng bập bùng. Tiếng trống bập bùng. Điệu nhảy bập bùng. Đặng lọt thỏm giữa rừng người chập chùng. Mặt Hoài cũng nhuốm màu man dại. Dù ở hướng nào trên sân khấu, Đặng cũng thấy Hoài quay về phía anh. Mỉm cười với anh. Đêm văn nghệ như một chương trình của người đẹp dành riêng cho anh, khi trong tà áo trắng nữ sinh lả lướt sân trường, lúc cô bộ đội giữa rừng chiến khu, suối khe róc rách, rồi bộ bà ba đen cô gái Sài Gòn đi tải đạn, thiếu nữ miền sơn cước với nhịp chày bập bùng giã gạo giã lẫn ánh trăng...
Lúc đó, Đặng là kỹ sư mới ra trường về công tác ở cơ quan bố Hoài sau năm năm chiến đấu ngoài mặt trận. Một trận bom làm anh gãy xương ống chân sát đầu gối khiến dáng đi hơi lệch. Anh phải đệm thêm một lớp cao su ở đế dép, để tạo thăng bằng. Anh thường bận quân phục xanh màu cỏ, cái màu khiến ai cũng thương nể. Có lẽ thế, nên bố Hoài chóng gần gũi anh, bố trí cho anh công việc thuận lợi. Và hai người thành bạn vong niên. Tự lúc nào, ông cố ý tạo điều kiện cho Đặng gặp được Hoài, cô con gái rượu rất mực xinh đẹp của mình. Đêm văn nghệ của trường sư phạm nơi sơ tán, cách hàng trăm cây số đường đồi núi được ông mật báo cho Đặng hay. Chỉ có cái tên, và tấm ảnh chân dung bằng mấy đốt tay ông trao cho, anh tự coi mình là người yêu của Hoài, từ lâu lắm. Nhưng Hoài hình như không biết điều đó. Đêm văn nghệ kết thúc, sinh viên ai về lớp nấy. Chỉ còn mình Đặng đứng thẫn thờ trên bãi cỏ. Chần chừ, định bụng cất bước đi tìm, nhưng biết Hoài ở dãy nào, phòng nào? Và nếu gặp được, sẽ ăn nói ra sao? Hai người nào đã biết mặt nhau? Nào đã thư qua từ lại?
Nhưng đây là cơ hội! Đã vượt trăm cây số núi đồi khe suối bì bõm đến đây, há dễ chỉ để nhìn Hoài từ xa? Không gặp, đợi lúc nào nữa? Xa xôi vạn dặm trắc trở thế kia! Vừa nghĩ, chân Đặng đã lò dò đi dọc hành lang một dãy lán nữ sinh từ lúc nào. Mấy cửa chính đóng chặt. Các cửa sổ lọt ra thứ ánh sáng của những chiếc đèn dầu yếu ớt. Ai cũng chăm chú vào trang sách. Những khuôn mặt nhìn nghiêng hao hao. Lặng phắc!
Đặng run run bước. Hồi hộp. Trống ngực dội thình thình. Gương mặt nào anh tìm? Hoài của anh có ở đây không? Chợt anh giật mình, suýt va phải một bóng người. Anh ta có lẽ cũng không thấy Đặng. Nhưng anh ta tỉnh như sáo trong khi Đặng phát hoảng như bị bắt quả tang rình mò. Chút ánh sáng mơ hồ cho Đặng thấy cái băng đỏ trên tay áo anh ta. Ra là đội cờ đỏ. Đặng đành cung cúc bước theo. Ra đến ngoài hoang cỏ, chiếc đèn pin trong tay anh ta bật một đốm sáng đỏ nhờ tựa con đom đóm bay lạc. Đặng moi mấy thứ giấy tờ tùy thân chìa ra. “Anh đến đây làm gì?”. “Xem văn nghệ”. “Văn nghệ bãi rồi! Anh lò dò đến lán nữ làm chi?”. “Tôi tìm... tôi tìm... gặp... người yêu”. Đặng nói liều. “Rứa... người yêu của anh là ai? Cô nào? Lớp nào? Khoa nào? Phòng mô?”. Đặng cứng lưỡi. Ấp úng không ra lời. Đã liều ba bảy cũng liều, Đặng lí nhí: “Lê Hoài...”. “Á á!.. Lê Hoài, lớp Ngữ văn, khoa Văn-Sử, hoa khôi của trường”. Anh ta gật gù, tựa đang thưởng thức vẻ đẹp của Hoài. “Hừm! Anh tốt số đấy! Nam sinh trường ni, tài hoa không thiếu. Rứa mà chẳng anh mô lọt mắt cô nàng!”. Mặt Đặng đỏ rần trong bóng tối. Nhưng anh chàng cờ đỏ bỗng lắc đầu, chậc lưỡi, tiếc rẻ. Đặng hoang mang: “Sao ạ?”. “Muộn rồi! Giờ nội bất xuất, ngoại bất nhập!”. Anh chàng cờ đỏ lia hạt đèn pin sang lối mòn giữa bãi sim ý mời anh ra. Đặng cun cút đẩy xe đạp theo lối đó. Chợt anh ta đuổi theo, tần ngần nói: “Người đẹp nước nớ, chỉ yêu thôi! Cưới không được mô!”. “Răng anh nói rứa?”. Đặng hỏi thân tình, nông quê. “Thì như bông hoa đẹp, rực rỡ hương sắc. Ong bướm xúm về. Rồi thành ra chẳng giữ được của riêng”. Ra thế! Ra thế! Mặc! Đặng lên xe, nhấn bàn đạp.
Đặng có thừa quyết tâm. Trong anh, có hai tố chất thâm căn cố đế, ấy là ý chí của người lính trận và sự duy mĩ duy tình dư dật! Trở về trường đại học sau năm năm lăn lóc ngoài chiến trường, kiến thức rơi vãi theo bom đạn, mọi cái phải làm lại từ đầu, anh dành thời gian tự học gấp đôi gấp ba các sinh viên khác. Hễ có giờ nghỉ, ngày nghỉ, là anh phóc lên thư viện, vào phòng thí nghiệm. Bộ đồ lính phai bạc trên người Đặng như một chứng chỉ trung thực khiến cho những người phụ trách rất cảm nể. Họ ngầm giúp đỡ, hướng dẫn anh những tài liệu sát thực. Và danh hiệu sinh viên ưu tú là món quà vô giá cho ý chí, nghị lực của anh. Những ngày hè, anh dồn hết thời gian cho mảnh vườn nhà. Ở đó, anh áp dụng các kĩ thuật lai ghép tiên tiến vào các giống cây ăn trái, rau củ quả, vào chăn nuôi gà lợn. Sổ tay ghi chép dày đặc những thất bại và thành công. Anh mang thói quen đó khi ra công tác. Ông bố Hoài mê anh như mê nhân tình. Ông tự hào dưới trướng có một kĩ sư canh nông tài giỏi. Đôi khi, ông đứng hàng giờ ngắm mảnh vườn đồi, trước sân cơ quan sơ tán, nơi Đặng trồng những luống cải, cà chua, bầu bí... trái lúc lỉu trên cây, trái lăn lóc mặt đất. Hàng ngày, Đặng không nghỉ trưa, đi nhặt phân bò rơi vãi trên các bãi chăn dắt gia súc về ủ, gánh nước dưới khe lên tưới. Anh là một mẫu đàn ông hiếm có. Ông bí mật om cô con gái rượu xinh đẹp nức tiếng của mình cho Đặng.
Hết giờ hành chính, Đặng luôn tay luôn chân ngoài vườn. Không mơ mòng mấy em trẻ trung trong cơ quan. Ai cũng lắc đầu ái ngại thương một đấng nam nhi trái tim khô cằn. Nhưng không ai biết trong túi áo ngực anh luôn nâng niu chân dung hai thiếu nữ xinh đẹp. Một, người đã cũ, anh coi là mối tình đầu. Một là Hoài, con gái giám đốc của mình.
Với thiếu nữ đầu tiên, khi học đại học năm thứ ba, Đặng ở cùng phòng với một cậu sinh viên trẻ măng. Một hôm, cậu ta thập thò tấm ảnh một người đẹp. “Ảnh ai rứa?”. Đặng sấn đến, ghé mắt. “Chị Liêm. Chị ruột em đó”. Cậu ta nói, chìa tấm ảnh cho Đặng. Anh chợt run lên. Trái tim đau nhói. Ngực tức thở. Một cái gì rần rật chạy buốt sống lưng. Trong ảnh, nữ quân nhân trẻ măng. Mọi nét thon gọn, đài các. Khuôn mặt trái xoan thùy mị. Ánh nhìn tỏa rạng nét thông minh. Đôi mắt đen láy, tinh nghịch và mơ mộng. Đường ngôi rẽ mái tóc dày như mây thành hai bím vắt trước ngực. Cái cổ cao thon tròn ba ngấn. Bờ vai đầy. Vừng ngực mẩy. Chỉ chừng ấy dáng nét, đủ cho Đặng chết đứng, mường tượng một giai nhân tuyệt sắc. Anh hình dung trong bộ quân phục vừa bó sát, mờ tỏ những đường cong chết người!
Hôm sau, Đặng khoác ba lô hướng ra biên giới phía Bắc. Hành trang như ngày xưa ra trận, chỉ khác là, túi ngực có thêm bức ảnh Liêm. Vượt một ngàn hai trăm cây số đường trường để tìm người đẹp trong ảnh, chỉ có mỗi anh. Sau chiến tranh chống Mỹ, đường sá, xe cộ còn rất khó khăn, đoạn nhờ được xe, đoạn phải đi bộ. Đường lên các tỉnh phía Bắc, không khác đường vượt Trường Sơn ra trận năm xưa, chỉ thiếu máy bay bỏ bom trên đầu.
Minh họa: Nguyễn Anh Minh
Anh tìm đến được khu vực đơn vị đóng quân của Liêm, thì người yêu trong ảnh của anh đã ra đi. Tuần trước, bất ngờ giặc tấn công qua biên giới trong đêm. Liêm là y sĩ của đại đội, đang băng bó vết thương cho bộ đội ngay trong trận chiến thì một quả đạn pháo địch bất thần nổ gần. Mảnh đạn găm trúng ngực, máu ra đầm đìa, cô vẫn tiếp tục cứu chữa thương binh, cho đến khi ngã xuống...
Người ta dẫn Đặng ra nghĩa trang, nơi có ngôi mộ của Liêm, đất còn tươi rói. Đặng đã lặng khóc trong hoàng hôn đỏ ối chân trời. Người đã khuất, chưa một lần gặp mặt, nhưng lại ở trong anh suốt một đời.
Tất cả những cô gái Đặng gặp sau này, kể cả nữ sinh viên mấy khóa sát đó, đều không lọt mắt xanh của anh. Mãi sau này mới gặp Hoài, qua bức ảnh ông bố nàng giới thiệu. Trái tim Đặng lại bị nhói buốt. Hụt hơi. Choáng váng...
Của đáng tội, lần thứ hai Đặng khoác ba lô đi tìm người trong ảnh. Lần này vào hướng Nam. Một chị trong bộ phận hành chính của khoa, vô tình để lộ tấm ảnh cô em gái út đang học một trường trung cấp y. Xinh đẹp và ngây thơ quá đỗi, có nét hao hao Liêm của anh đã mất. Đường vào Nam xe tàu thuận hơn. Đặng không mấy khó khăn để tìm được phòng nội trú của cô nàng trường y. Và anh đã thất vọng tràn trề. Anh ngỡ ngàng với sắc đẹp của cô nàng khi đi trên sân bao nhiêu, thì thất vọng ê chề khi tiếp xúc bấy nhiêu. Đến nỗi, anh phải tế nhị xin phép đi có việc, rồi không trở lại nữa. Chẳng có sự ăn nhập nào giữa vẻ đẹp sắc sảo với cái giọng khàn khàn vịt đực, tiếng cười hô hố, khùng khục âm thanh chợ búa, không thể chịu được của cô nàng. Bữa cơm anh mời ở quán, thành nỗi xấu hổ không quên được. Cô nàng vừa chan vừa húp sì soạt, nói cười oang oang như chốn không người. Anh thẹn chín mặt, kín đáo liếc qua những bàn bên cạnh, ngầm xin lỗi.
Bố Hoài lên chức giám đốc sở, cả gia đình chuyển vào Huế, thủ phủ của tỉnh lớn mới nhập. Hoài được bố trí dạy một trường ngoại ô kinh thành xưa. Đặng ở lại cơ quan cũ, huyện quê. Bố Hoài vẫn âm thầm làm tay trong đắc lực cho Đặng. Nhưng trái tim con gái ông chưa bao giờ có bóng hình anh. Thậm chí, hai người chưa một lần gặp mặt. Thư cũng chỉ chạy theo một chiều, từ nơi Đặng sang chỗ Hoài, tuyệt không ngược lại. Và những bức thư ấy, chưa một lần được mở. Chúng bị coi gửi nhầm địa chỉ. Hoài ném vào cái thùng đựng giấy loại lưu cữu, hoặc nhét vào đâu đó trong giá sách dày đặc.
Hai người bây giờ xa nhau mấy trăm cây số.
Với Đặng, không hề gì! Trái tim anh vẫn tươi rói cảm xúc ban đầu khi thấy Hoài trong bức ảnh bố nàng trao. Và bập bùng trong anh hình ảnh hoang dã của nàng trên sân khấu. Ngọn lửa cháy mãi. Sau mỗi bức thư chia sẻ gửi đi, tình yêu của anh ngày một nồng nàn. Anh cảm giác, ngày nào cũng được nắm tay Hoài, sóng bước dọc triền đê, trên bờ sông vắng, trên cánh đồng cỏ hoa. Đôi khi, anh ngọt ngào mỉm cười một mình tận hưởng niềm hạnh phúc tột đỉnh ấy. Vài tháng một lần, anh báo cáo cơ quan, xin nghỉ ngày thứ bảy, kết hợp chủ nhật, đi thăm người yêu.
Hoài không biết, có một người đàn ông dựng chiếc xe đạp cuốc, thập thò nhìn mình qua hàng rào sân trường. Nàng bấn bíu với chương trình văn nghệ lớp, và lịch trình hò hẹn người yêu. Hoài ngày càng đẹp. Từ khi trái tim nàng chết lịm, mê mệt với anh chàng Phức, giáo viên dạy hóa lưu dung, vẻ đẹp nàng trở nên chín mọng, tươi rói, thơm tho lạ thường!
Với Đặng, thế là quá đủ. Anh nhìn Hoài say mê qua khe hở hàng rào trường, tận ngắm vẻ đẹp trời cho của Hoài, đồng nghĩa trời cho anh. Một cách thỏa mãn! Lòng trở nên rộng rãi và khoáng đạt. Rồi lên xe trở về, vượt hàng trăm cây số, kịp làm việc sáng hôm sau.
Đất nước thống nhất, trái tim rộng mở, ai so bì chi giáo viên cách mạng, với giáo viên lưu dung? Mà anh chàng Phức dạy hóa, gương mặt dễ ưa và mái tóc xoăn tự nhiên. Bàn tay với những ngón dài của Phức, cầm lấy cây đàn rung lên những bản nhạc buốt nhức trái tim. Đôi mắt sau làn kính trắng mơ màng... Hoài làm sao mà không mê muội được. Căn phòng đợi giờ lên lớp của giáo viên, vô tình thành nơi hò hẹn tự nhiên của hai người. Những ngày nghỉ, hết đồi thông Thiên An, đến bãi tắm Lăng Cô. Hết leo rừng Bạch Mã, lại đi thuyền trên phá Tam Giang... Trái tim vốn hoang dại của Hoài, được yêu chiều, thỏa mãn.
Đột nhiên, cả trường dậy sóng. Trong căn phòng đợi giờ lên lớp, mọi người trố mắt nhìn ra khi ngoài sân, dưới cơn mưa tầm tã, một thiếu phụ cùng ba con nhỏ sàn sàn quỳ trên bùn nhão. Lặng im, không chớp mắt. Mưa chảy thành dòng trên từng khuôn mặt. Nom như một cụm tượng có từ vạn cổ.
Chuyện vợ Phức đem ba con nhỏ đến trường tìm chồng khiến bố Hoài đau đớn. Ông hiểu, hành động của vợ Phức và mấy đứa con, là nhắm vào cô con gái cưng của ông. Và ông biết phải làm gì. Ngay tắp lự, Hoài nhận được quyết định thuyên chuyển công tác. Nơi đến là một trường học, ngoại ô thành phố Sài Gòn xa hơn ngàn cây số.
Đặng nhận được địa chỉ mới của Hoài qua bố nàng thông báo. Anh ngẩn tò te một lúc. Có chút dỗi hờn vô cớ. Hôm sau thức giấc, anh chậc lưỡi, đó chỉ là một tai nạn. Tai nạn có đầy trong cuộc sống. Anh thấy yêu thương nàng nhiều hơn, có trách nhiệm nhiều hơn. Muốn mình là cột trụ vững chắc, tựa đỡ cho cuộc đời người con gái giữa phong ba. Người đẹp nào trên đời chẳng vậy?
Những bức thư tiếp tục gửi cho Hoài, anh viết từ gan ruột. Chân thành lời chia sẻ hết mực. Anh mường tượng nét mặt của nàng khi đọc những dòng thư, thổn thức tựa bông hồng buổi sớm. Lệ đẫm mi. Nước mắt lăn qua đôi má chín bừng...
Trên bàn làm việc, bức ảnh Hoài trong khung kính, luôn mỉm cười dịu dàng với anh. Bốn mắt họ chạm nhau hàng ngày. Trìu mến. Đặng đắm đuối mỗi đường nét trên khuôn hình thiếu nữ. Những lúc khó khăn, nản chí, nhìn vào tấm ảnh, cuộc đời lại nhẹ nhàng như không. Tuồng như, chân dung Hoài đủ năng lượng cho anh đi suốt cuộc đời khó nhọc của mình.
Nhiều gái trẻ cơ quan thấy anh sống cô độc cũng muốn ghé vai chung gánh. Họ tìm đến phòng ở của anh lân la chuyện trước sau. Nhưng anh hình như không hay biết. Cứ mau miệng, Lan này, Huệ này, Nhung này, người yêu anh đây! Anh chìa bức ảnh Hoài, kiêu hãnh. Có xinh không? Tất nhiên là xinh rồi. Ai mà bì được người đẹp trong ảnh. Và thế là lần lượt, hết Lan, Huệ, đến Nhung, lặng lẽ chào anh đi lấy chồng.
Chỉ còn anh với thiếu nữ trong ảnh. Không gì lay chuyển. Thủy chung hò hẹn, đợi chờ...
Hoài ra đi như sẵn sàng chấp nhận thử thách của tình yêu. Không hề hấn gì! Trái tim cô vẫn dành cho người trong mộng. Trên bàn làm việc, bức ảnh Phức phóng to mỉm cười dịu dàng với Hoài. Đêm đêm, tiếng đàn guitar của Phức từ chiếc đĩa mang theo bập bùng những giai điệu hoang dã đánh thức trái tim hoang dã của nàng. Một mình trong căn phòng kín, Hoài lột bỏ tất thảy, đi những vũ điệu hoang dại thuở chỉ có hai người rồi lên giường trùm chăn, mường tượng nụ hôn đẫm mướt. Da thịt rân ran...
Nhan sắc lồ lộ, tươi ngời, vẻ đẹp trời cho không giấu được, không có Phức, Hoài chẳng muốn khoe. Nhưng thời tiết xứ này không có mùa lạnh, Hoài phải mặc đồ mỏng. Đồ mỏng bất lực trước nhiệm vụ che đậy cơ thể Hoài. Những con mắt đàn bà lườm nguýt kín đáo. Những con mắt đàn ông thèm thuồng ngẩn ngơ. Phòng đợi giáo viên trở nên sôi nổi từ khi có Hoài. Cánh đàn ông, như những con gà trống ban mai. Giày da bóng lộn. Áo sơ mi cổ cồn. Mày râu trơn lứt. Tóc mượt chải gôm. Nói năng hoạt bát. Đôi khi còn đọc cả thơ. Cánh đàn bà chải chuốt thầm lặng. Váy vúng là lượt. Môi son má phấn. Lông mày xăm tỉa. Lông nheo giả lấp láy. Rổn rảng nói cười. “Em mới vô, há? Có khó khăn chi, nói chị giúp, nghen?”. “Chị mới vô à? Có trở ngại chi, em giúp một tay, hỉ?”. Hoài bối rối, dạ dạ, vâng vâng...
Hai giới có hai mục đích thầm kín rõ rệt. Cánh đàn bà cố công giữ chồng, giữ người yêu trước con quỷ mang dáng tiên này. Cánh đàn ông tỏ ra có trách nhiệm với người mới. Họ bỏ tiền thuê thợ tân trang căn phòng ở cho Hoài. Tiện nghi, thơm tho như khách sạn.
Lối vào nơi ở của Hoài mòn đường chết cỏ. Căn phòng rộn rã tiếng đàn ông nói cười. Giá sách, bàn làm việc, nơi trang điểm của Hoài khá tươm tất. Trong khi rót chén rượu mời cánh giáo viên nam thay lời cám ơn, Hoài làm như vô tình lấy khăn lau bụi tấm ảnh lồng khung kính trên bàn. Động tác cẩn thận và ánh nhìn âu yếm. Một tiếng hỏi bật lên, không tự chủ. “Ai đấy, hả em?”. “Dạ, người thương em đấy...”.
Đường vào nơi ở cô giáo Hoài, cỏ lại mọc. Phòng riêng của cô dần im ắng. Không còn nghe tiếng đàn ông. Chỉ còn hai người say nhau, nhìn nhau đắm đuối. Chỉ còn những kí ức ngọt ngào về đồi thông Thiên An, về rừng hoang Bạch Mã, về bãi biển Lăng Cô... Tiếng đàn guitar bập bùng. Và trái tim thiếu nữ trong người đàn bà, thổn thức bập bùng. Giai điệu hoang dã mỏi mòn...
Mặc cho ngoài đời, năm tháng vội vã đi qua. Mưa ngàn gió biển đi qua. Mặc cho những bức thư anh chàng Đặng nào đó gửi sai địa chỉ vẫn đến mỗi tuần, mươi ngày làm đầy lên thùng giấy loại của Hoài. Tất cả vẫn trượt đi ngoài không gian sống hạnh phúc của Hoài.
Gần ba mươi năm nhẹ như gió mây, ông Đặng vẫn thầm lặng, đơn phương, say mê theo mỗi bước chân của Hoài. Thiếu nữ vẫn cười dịu dàng với ông mỗi ngày. Vẫn chia sẻ với ông những buồn vui hạnh phúc mỗi ngày. Dù bố nàng, sợi dây kết nối duy nhất hai người, đã mất. Nhưng không hề gì. Ông tin, nàng vẫn đọc thư ông mỗi tuần, nghiện thư ông mỗi tuần. Hiểu được trái tim đợi chờ nồng nàn của ông mỗi tuần. Và mỗi tuần, ông chờ đợi câu trả lời của Hoài. Kiên nhẫn. Như đã từng đợi chờ gần ba mươi năm nay...
Mưa, đá núi cũng phải mòn, huống chi trái tim thiếu nữ ngày nào cũng được ướp lời cầu hôn chân thành và gan ruột của một đấng nam nhi tài giỏi suốt gần ba mươi năm. Hỏi, có ai yêu em được như anh không? Ông Đặng khẽ vuốt cái cằm nhẵn thín, nơi bộ râu thưa, bạc lốm đốm đã cạo sáng nay khẽ mỉm cười một mình. Phải, đấng cao xanh cảm kích trước tình yêu không bờ không bến đã động lòng trắc ẩn và ban cho ông đặc ân. Một đặc ân vô giá. Giá trị cả một đời người chờ đợi: “Em đón anh ở sân ga...”.
Bây giờ, đã có điện thoại di động. Ông có thể gọi, nói chuyện với Hoài cả tiếng đồng hồ. Nhưng ông thấy cần phải nén giữ. Rất thú vị, rất hồi hộp. Như món hàng đợi giờ bóc tem, gần ba mươi năm còn nén được, huống chi vài ngày. Có lẽ Hoài cũng thế. Không gọi. Chỉ nhắn đi một cái tin... Ôi, cái tin có sức mạnh kì diệu, đánh thức tất cả. Đánh thức trai tráng. Đánh thức hẹn hò. Đánh thức niềm đôi lứa. Đánh thức giá trị của đợi chờ. Cuộc đợi chờ gần suốt một đời người...
Hoài đã bỏ ngoài tai mọi lời khuyên can khi dịu dàng, lúc thịnh nộ như sấm nổ của bố. Thời gian vô tình trôi qua tuổi ba mươi. Tuổi bốn mươi. Tuổi năm mươi. Suốt ba mươi lăm năm đi qua, Hoài vẫn trơ như đá. Bỗng nhiên, một ngày, lời ông nhẹ như mây. Đấy là khắc lâm chung. Nàng chợt tỉnh, cuống quýt thét lên. “Bố! Bố ơi! Con xin lỗi bố! Con bất hiếu!”.
Ba mươi lăm năm là mấy trăm bức thư? Rất nhiều bức đã bị Hoài cho đi theo rác. Một số lẫn trong kệ sách. Hoài đọc số còn lại trong nước mắt chan hòa và trái tim thổn thức, ngậm ngùi. Hóa ra, có một người đàn ông yêu mình tha thiết đến thế này ư? Gần ba mươi năm, Hoài đuổi theo cái bóng tình yêu. Trò đuổi bắt vô vọng. Bỏ mất cái thực khô khát. Trong hàng trăm phong thư còn lại ấy, có một phong kèm ảnh. Chân dung một người lính. Áo màu cỏ. Gương mặt điển trai, phúc hậu. Mái tóc dày, rẽ ngôi bên trái. Ánh nhìn trung thực, khoan hòa, đối lập hoàn toàn với Phức lãng mạn, phong tình.
Không biết, giờ đây Hoài đã ngộ ra điều gì?
Nàng thay bức ảnh Phức lồng kính trên bàn bằng bức ảnh Đặng.
Và rụt rè, nhắn đi một cái tin.
Cả hai đều bổi hổi. Cuộc hẹn hò lần thứ nhất trong đời, với Đặng thì đã đành, với Hoài cũng không khác. Ngày xưa, Phức ở ngay bên cạnh. Ngày nào cũng gặp nhau, chỉ một cái nháy mắt là hiểu tất cả: Gặp nhau ở đâu, mấy giờ, đi đâu. Giờ, Đặng xa ngàn cây số, một đời chưa biết mặt. Không hồi hộp sao được?
Hoài như người bao năm bay trên không trung, giờ trở về mặt đất. Một mặt đất gần gụi, nở vàng hoa bầu hoa bí. Lại như người tỉnh ngủ, sau một giấc mơ dài, tinh khôi trong từng ý nghĩ. Có phải lời trăng trối phút lâm chung của bố qua điện thoại khiến nàng nhận ra bổn phận? Hay cái tin Phức bị tai biến mạch máu não qua đời, đã đánh rụng ảo ảnh bao năm? Lần đầu tiên, nàng thẹn thùng hôn lên tấm ảnh chàng trai mặc áo lính. Em xin lỗi anh! Xin lỗi tình yêu xa ngái...
Nàng hồi hộp chuẩn bị cho ngày gặp mặt. Tân trang lại căn phòng. Mọi cái đều sắm đôi. Bàn ăn hai bát, hai thìa, hai đũa. Buồng tắm hai khăn mặt, hai bàn chải đánh răng. Buồng ngủ là chiếc gối đôi thoảng thơm mùi nước hoa. Bỏ qua mọi nghi thức, nàng chấp nhận tất. Không đắn đo. Những bức thư nồng nàn của Đặng trong suốt ba mươi năm qua, cho phép nàng thầm gọi anh là chồng. Cuộc đón tiếp ngày mai trên sân ga, là vợ đi đón chồng. Chồng Hoài công tác xa mấy năm trở về. Hoài hình dung người đàn ông cô đón trên sân ga, sơ mi kẻ sọc cộc tay, giày đen mũ phớt, tay xách va li đen bóng, khoan thai sải những bước chân trai tráng. Sân ga ngập nắng. Vừa trông thấy nhau, cả hai cùng lao đến. Như một ngọn gió, ngọn gió hạnh phúc, thổi suốt miền đợi chờ gần ba mươi năm. Mặc chiếc va li quý giá dưới chân, anh bế bổng nàng lên. Đôi môi họ tìm nhau nồng nàn. Cánh tay nàng chung chiêng chiếc dù hoa mỏng tang trên đầu. Cả hai ngộp thở trong bầu trời hoa lung liêng ấy...
Ngày hẹn đến. Bóc tờ lịch mà bàn tay Hoài run rẩy, mãi mới gỡ được nó xuống. Hoài nhìn đi nhìn lại tờ lịch như thể đó là ngày cô kết hôn. Tâm trạng bồn chồn. Trái tim thiếu nữ trong ngực người đàn bà luống tuổi đập rộn ràng. Ngây ngốt! Thử đi thử lại mãi, cuối cùng, Hoài chọn bộ váy mỏng, màu ngà sậm, điểm những bông hoa kim tuyến nhỏ li ti. Chiếc váy giúp Hoài nhẹ nhõm, đủ bó sát để tôn dáng vóc dù có vợi bớt, vẫn thon tròn. Đủ sáng tôn làn da trắng. Đủ trang nhã để không lòe loẹt. Đôi giày cao gót cũng màu ngà. Chiếc ô hoa cầm tay cũng màu ngà nốt.
Hoài soi lại gương trước khi bước ra đường. Chiếc gương luôn chiều ý Hoài. Nó đã đi theo suốt cuộc đời Hoài. Phần thủy ngân tráng phía sau đáy gương kịp mòn dần theo ngày tháng khiến mặt gương mờ mờ, huyền ảo đủ không lộ những nếp nhăn mờ chân chim. Đủ không thấy da mặt hết mịn màng. Đủ không rõ những lọn tóc màu muối tiêu mờ tỏ. Hoài luôn vừa ý với mình trong gương. Hoài lấy vẻ đỏng đảnh vốn có trong mỗi bước đi...
Ông Đặng hết đứng lại ngồi. Thắc thỏm. Con tàu càng gần vào ga, ông càng sốt ruột. Khi nó giảm tốc độ, chạy là là vào, ông kín đáo soi lại mặt mình trong gương. Cũng là chiếc gương cũ bao năm. Cũng chiều ông hết mực bằng cách không cho ông biết cái tuổi sáu mươi đã đi qua, không cho ông nhìn được hai bọng mắt võng xuống và cái cổ đùn lên những lớp da nhõng nhẽo. Ông hài lòng khoác ba lô lên vai...
Mọi cái đúng như Hoài mường tượng. Sân ga ngập nắng. Tiếng còi tàu vang xa, giục giã. Người đi xao xuyến. Như ong vỡ tổ, từ trên tàu tuôn xuống, từ sân ga, từng luồng người chảy ngược lên tàu. Tấp nập. Hoài giương cao chiếc ô, đứng ở cửa, bên cạnh dòng người rời ga. Căng mắt nhìn từng người lỉnh kỉnh đồ đạc. Lâu lâu đưa bàn tay lên che nắng để nhận mặt. Dòng người vô tư bước ra cửa lớp này sang lớp khác. Hoài kiên nhẫn và hồi hộp ngóng chờ.
Ông Đặng cũng căng mắt giữa biển người. Dõi theo từng dáng nét phụ nữ. Ông đứng nguyên một chỗ, nén cơn hồi hộp dâng trào. Đó là một kinh nghiệm. Nếu cứ lao đi tìm nhau giữa đám đông, rất dễ bị mất hút.
Hoài cũng khôn chán. Bà cứ giữ cửa ra như giữ cửa nước. Thế nào, mọi người cũng đi qua đây. Không thể lọt đi đâu được.
Nhưng sân ga vãn dần rồi trống vắng. Bà vẫn không thấy đâu người đàn ông trai tráng cần tìm. Áo sơ mi kẻ sọc cộc tay. Quần tím than thẳng nếp. Giày đen mũ phớt. Tay xách va ly. Không thấy! Chỉ có đằng kia, cuối sân, một cựu binh già. Bộ đồ màu cỏ nhàu nhĩ. Chiếc mũ cối trầy tróc lớp sơn. Chiếc ba lô phai bạc... Hẳn ông đang đợi con cháu đến đưa đi. Người đàn ông của Hoài chắc đang ở trên tàu, có lẽ còn kẹt chuyện gì đó.
Bà quyết định đi về hướng đó.
Ông Đặng như sực tỉnh. Sân ga trống trơ. Người con gái đi đón ông vẫn chưa thấy. Chỉ phía xa, cạnh lối đi, một phụ nữ luống tuổi đang đứng. Tất cả đã vào thu. Một dáng hình đã qua thì tuổi trẻ rực rỡ, nghĩa là đã qua những ngày hạ nồng nàn, đang bước bên kia dốc cuộc đời. Những lọn tóc màu hoa râm uốn sấy gọn gàng. Cả chiếc ô che đầu cũng vậy, như một vầng mây thu bảng lảng...
Có thể, Hoài của ông không đến kịp. Có thể vì tắc đường. Giờ đang hối hả bên kia lối vào. Khổ thân Hoài!
Ông quyết định đi về hướng đó.
Hai người chậm rãi, lặng bước qua nhau. Ngay giữa sân ga ngập nắng. Không thể nói là họ không nhìn nhau. Hoài thấy người cựu binh già đi đôi dép cao su bước thấp bước cao. Đôi vai nghiêng lệch. Mái tóc bạc giấu gọn trong chiếc mũ cối. Ông Đặng nhìn người đàn bà đã luống tuổi vẫn cố lấy dáng điệu đàng vừa đi qua, khẽ nhếch mép...
Hai người lướt qua nhau. Thản nhiên. Không vội vã. Cũng không chùng chình. Người đàn bà giương cao chiếc ô, mắt hướng về các toa tàu đang đậu, chân đỏng đảnh từng bước đi không còn xuân. Người đàn ông bước tập tễnh, mắt hướng theo các ngả đường, nơi Hoài của ông hớt hải đến muộn. Trong đầu cả hai người, đều nghĩ về người kia của mình, với sự trẻ tráng, thanh xuân. Và mái tóc còn xanh...
Họ đã quên rằng, thời gian xuẩn ngốc! Như họ đã quên viết tên người cần tìm lên bảng, đeo trước ngực.
 H.P
Theo http://vannghequandoi.com.vn/

Bóng người dưới trăng

Bóng người dưới trăng
Nhà mới đã dựng xong, người cũng mệt lả như tàu lá nướng. Vợ chồng Chái đi nằm từ lâu mà hai mi mắt như có nhựa cây phết lên, khô két lại không sao khép được. Chái nhìn sang vợ, thấy Ém quay lưng về phía mình. Ngoài cửa sổ, trăng lừ đừ sáng.
- Đừng... đừng phá nhà đi mà Chái ơi! Chái!
Tiếng mẹ già khe khẽ từ phía bên kia buồng, chỉ cách vợ chồng Chái một tấm ri đô cũ. Khẽ lắm nhưng vẫn nghe thấy rõ. Ém trở mình giục chồng:
- Chái à, hay mẹ bị ốm nên nói mê rồi đấy!
Chái vùng dậy, bước chân đặt xuống nền nhà lạnh ngắt bỗng giật mình bởi cảm giác không quen dẫm lên nền đất. Mẹ nằm co như con mèo ngủ quay về phía vách, hai tay ôm vào trước ngực. Chái đặt tay lên trán mẹ nhưng không thấy nóng chỉ thấy mồ hôi túa ra, chắc mẹ không ốm. May quá! Mẹ già bỗng cầm tay Chái lắc mạnh:
Người ta phá nhà mình rồi phải không Chái? Nhà ấy bố mày vác từng cái cột, cái xiên, từng cái xà gian, vác đủ ba năm mới làm nổi một gian đấy mày biết không?
Là con nhờ người về chuyển nhà đi, không ai phá nhà mình đâu mẹ à.
Ông mày về gặp mẹ, bố mày về gọi mẹ bảo cái vía bám trên cây cột, trên tấm ván bưng vách cũng bị người ta đuổi đi không có chỗ quay về nữa...
Mẹ khóc, nước mắt người già khô và đặc nóng lăn trên tay Chái. Ngoài trời gió thổi mềm như cánh bông quết lên mặt người. Mẹ già lập cập bước ra ngoài, dưới ánh trăng mờ, đống gỗ tháo dỡ từ ngôi nhà cũ nằm ngổn ngang dưới đất. Mẹ già ngồi bên cạnh đưa tay sờ lên những tấm gỗ nằm im lìm như lần tìm những khuôn mặt thân quen trong bóng đêm. Chái đứng bên mẹ, muốn dìu mẹ vào nhà mà thấy vạt áo mẹ ướt đẫm. Không biết là sương đọng trên những thớ gỗ nhẵn thấm vào hay là nước mắt của người già. Nhìn xuống phía dưới Khau Dàng, mọi thứ đã ngủ say nhưng đèn vẫn sáng trên con đường mới đang thành hình. Phía trên cao này, mẹ già lẫn vào trong bóng tối.
Tiết trời đã sang tháng ba, mưa xuân phủ một lớp đục mờ như bụi đá trắng lên dải đất dài phía trước nhà. Lâu lâu trời chợt nắng, ánh sáng lấp lánh tràn trên cây cỏ bừng lên màu nõn xanh mới tinh. Chái nhìn về phía bên kia. Dưới chân Khau Dàng vẫn xám đục như hơi sương phủ lên bóng núi. Những con đường đất đỏ nâu chợt vẩn lên màu đất mới dưới bước chân người đi làm nương sau những cơn mưa dài. Đất sau mưa xuân thấm dần từng lớp, đến khi vừa kịp nhão ra thì cũng bắt đầu vào vụ nương mới. Người trong bản, trên Keo Lùng, Tà Pởi cũng ý ới gọi nhau phật phừ dao quắm trên vai, lên đèo vào phát nương làm vụ ngô, đỗ xuân mới. Chái chợt thấy bồn chồn như người đói bụng, khi lại như người khát nước, lại thấy muốn cuồng đôi chân, như con trâu mới qua mấy vòng kéo gỗ vực. Nằm nghĩ mãi thì nhận ra mình đói thật. Nhưng là đói mùa, đói một thói quen từ ngày nào khi còn ở trên căn nhà cũ. Mùa này Chái vẫn thường ngồi trên nhà, nhìn xuống dưới con đường nghe tiếng người í ới gọi nhau. Có khi nằm trong chăn vẩn hơi lạnh ngửi thấy mùi đất mới thấm vào lại rùng mình. Những điều ấy giờ xa xôi như người ngồi ở xa ngửi thấy mùi hương rất quen, bỗng thấy trong lòng rộn lên những điều tưởng như rất cũ.
Họ Lý của Chái đến Khau Dàng khi đất còn chưa có bóng người. Ông “Chỏ” tổ là người đi khắp nơi, suốt từ vùng đất giáp biên xuống tới nơi này. Nhưng cuối cùng ông chọn đất Khau Dàng để phát nương, dựng nhà xây nên một nhánh họ Lý mới. Nghĩ ông Chỏ tổ chọn đất này phải có lí do, không dễ như cắm cái cây xuống, thấy yên thì ở, thấy khó thì nhổ lên bỏ đi chỗ khác, thế nên năm nào vào đúng sáng ngày mùng một tết ông nội Chái cũng dặn: “Bao giờ ngọn núi kia đổ xuống, đè mất cái eo đất này thì họ Lý mới bỏ nhà, bỏ Khau Dàng mà đi. Nhớ lấy! con cháu họ Lý mình phải nhớ lấy”. Lần nào cũng thế, ông nói không sót một câu nào, cũng chẳng quên lời nào. Rồi ông lại bảo “Sau này bố thằng Chái, rồi tới thằng Chái cũng nói cho con, cho cháu nghe. Có nói dài hơn thì phải nói tốt về họ Lý, nhưng không được nói ít đi câu nào. Ít quá con cháu mình lại không thấy được bàn tay, dấu chân của tổ tiên trên từng mỏm đá, bờ nương nhà mình ở đâu”. Mấy lần Chái định cười vì những lời ông vừa nói. Chả biết bao giờ Chái mới có con, có cháu mà nói được như ông. Nhưng xem nét mặt của bố, của ông thấy quan trọng lắm, Chái lại thôi muốn cười. Ngày ấy Chái đứng, đầu vừa chạm bậc thang thứ năm.
- Mẹ à! nhà chú Sán ngày mai cũng dỡ ngói rồi đấy.
Chái ngồi bên bếp im lặng suốt bữa cơm tối, cuối cùng cũng hỏi được câu ấy. Đã mấy ngày hôm nay mẹ không buồn ăn cơm, cũng không thích xuống thang tưới mấy luống rau đã chết táp vì sương muối. Mấy sào ngô treo trên gác mẹ cũng mang xuống tẽ ra đựng đầy ba bao để góc nhà. Vừa làm vừa nghĩ mãi như thế làm người mẹ héo như cái nấm nhĩ phơi qua mấy nắng trên mái nhà. Rồi mẹ cũng quyết:
- Đi thôi, nghĩ mãi cũng không còn cách khác!
Người già hay nghĩ về đêm, giấc ngủ ngắn như chưa kịp tới đã thức đợi gà gáy sáng. Chái cũng đã nghĩ, con đường khó đi có vòng vèo thế nào thì cũng vẫn phải vấp vào hòn đá. Muốn đi qua chỉ có cách trèo lên nó mà đi. Chái muốn mẹ nói ra điều ấy, để mẹ là người quyết định. Còn gánh nặng từ lời dặn của ông, của bố về mảnh đất, về ngôi nhà cứ đè nặng lên vai mà chẳng biết trút vào chỗ nào cho vơi bớt đi được.
Dải đất Khau Dàng nằm co mình tựa đôi mi mắt ôm vào chân núi. Mùa xuân đến cái mi mắt ấy chơm chớp đủ sắc hoa, hoa đào nở hồng trên vách đá, hoa mận trắng phau phau bên bờ rào những nóc nhà sàn thấp thoáng mái ngói sau vườn chuối đang phần phật lá. Cuối thu đầu đông những tán cây lá đỏ như đốt đuốc trên những con đèo lên núi, những tán cọ nưa bung xòe thành từng chấm xanh rì lấp lóa dưới ánh mặt trời. Ấy là lúc cánh đàn ông trong bản mài cưa, đục lên rừng tìm gỗ làm nhà. Nhà bé cũng mất hai, ba năm. Nhà to thì lâu hơn thế. Có người cả đời không làm nổi ngôi nhà cho mình bằng gỗ tốt nhất trên núi đá, đến khi chết vẫn thấy mình thua kém người ta mấy phần. Khi ngôi nhà mới được dựng lên, nằm trong nhà lưng áp lên tấm ván sàn mới, mắt nhìn lên mái ngói, nghe gió thổi qua kẽ ván mới thấy tháng ngày vượt đèo cao, lũng sâu, nằm rừng đằng đẵng mấy năm thật bõ công. Chả thế mà khi vào nhà mới chủ nhà say lăn lóc cả tuần chưa tỉnh, anh em họ hàng đến chúc mừng mấy ngày liền cũng không xuống nổi chân thang.
Ngôi nhà sàn của Chái to lớn và vững nhất Khau Dàng, được dựng lên từ thời ông Chỏ tổ của Chái. Lũ rừng có to mấy, gió núi có quật mạnh bao lần nhưng nó vẫn đứng vững như cái cây cổ thụ đến bây giờ. Ba đời trước đây họ Lý chỉ có một con trai độc đinh. Nhưng bố may mắn lắm có được hai anh em Chái. Thế là họ Lý mới đông thêm một phần, bát hương thờ mới được chia làm hai. Nói là nói thế, nhưng chính điều ấy lại là câu chuyện buồn nhất của bố, của cả nhà. Chuyện buồn nhất ấy còn lưu trên chính ngôi nhà này. Trên vết rìu chém vào cái xiên ngang lối đi.
Bố thường nói với Chái, mỗi cái nhà giống một cái cây, cái cây to thì bóng càng rộng, rễ càng bám sâu vào đất. Cái nhà cũng giống như bố mẹ, như anh em ruột thịt. Ngôi nhà ấy ngày xưa ông bà tổ họ chỉ dựng lên được bốn cái cột làm gốc. Ông cụ làm thêm một gian, ông nội dựng thêm một gian lớn, rồi đến bố cũng làm nối thêm một gian vào đó. Ngôi nhà cứ thế rộng thêm ra, gian mới nối vào gian cũ. Đời con nối tiếp đời cha, đời ông. Giống như cái cây càng lớn, thì mọc thêm cành, thêm đốt.
Có tiếng động khe khẽ, như tiếng lật giở lá khô, khi lại nghe cồn cột như tiếng chuột gặm măng sống phía trước nhà. Chợt nhớ mùa này lũ chuột thường nhảy ra khỏi hang leo lên cả mái nhà, chui vào những búi thóc giống tìm thức ăn suốt đêm, Chái mở cửa bước ra ngoài, bỗng giật mình thấy bóng người ngồi trước sân, tấm bạt phủ đậy lên đống gỗ lật tung phì phù bay trong gió. Dưới ánh trăng non gần tàn, Chái nhận ra mẹ ngồi một mình bên chiếc xiên dài, cái xiên thò một đầu ra phía ngoài, vát nhọn như con dao lớn. Mẹ già ngồi đó, nhìn như bất động vào vết lõm phía trên thân gỗ. Chái bước tới phía mẹ, nhẹ như bước chân con mèo. Khẽ thế nhưng mẹ vẫn nghe tiếng. “Chái à, mẹ vừa mơ thấy anh mày về đấy, nó bảo sẽ về ở hẳn không đi nữa. Bố mày không còn, nhưng vết rìu vẫn ở trên cái xiên này, sao thằng Pài cứ chấp bố mày mãi thế, ở đây còn anh, còn em, còn cái thân già này mà nó cứ đi mãi”. Chái thấy thương mẹ quá, từ ngày chuyển nhà tới đây đêm nào mẹ cũng thức ra đây ngồi nói chuyện với đống gỗ nhà cũ. Mẹ ngủ ít mà sao mơ nhiều đến lạ. Chái nhìn vào vết rìu của bố đã hơn chục năm, bụi đã phủ mờ vết đứt trên đó. Nhưng chỗ gãy lõm thì còn nguyên như chính nỗi buồn đau của mẹ.
Chái còn nhớ rõ cái dáng cao gầy xiêu xiêu bước xuống con đường đá trước nhà buổi chiều hôm ấy. Phía trên nhà bố ngồi bệt xuống sàn ôm đầu mà đôi mắt vẩn đỏ lên vì giận anh. Anh Pài bỏ đi từ ngày đó, bao nhiêu năm Chái không buồn nhớ nữa. Chỉ nhớ khi ấy Chái mới chớm lớn thành một thằng trai, giờ Chái đã lấy vợ, có con mà anh vẫn chưa thèm về lấy một lần. Anh Pài là người nói ngang, nghĩ ngang như bước chân cua đá. Mười bảy tuổi anh đã leo lên đến đỉnh Tó Tẩn hái được nấm nghiến già, dám nhảy xuống vực sâu nhất con suối từ trên bờ đá chân Khau Dàng. Đầu năm thì xuôi theo chân đám buôn gỗ, cuối năm lại ngược lên cùng phường buôn rắn, buôn trâu. Lời nói của bố mẹ với anh như gió thổi qua đá tai mèo. Bố đi xem sách thầy bảo, số anh sinh ra chân trái dẫm lên lưng con hổ, chân phải đặt lên đầu con beo thì không ai giữ nổi ở một chỗ. Cứ mặc cho anh, bao giờ gối mỏi chân rời, ngã xuống lưng ngựa thì sẽ thấy đường quay lại.
Một ngày anh trở về với một người con gái lạ. Anh xin bố mẹ cho anh lấy người ấy làm vợ. Bố mẹ mừng như được mùa to năm ấy, nghĩ anh đã tìm ra người như ý, sẽ không còn như con nai con hoẵng nữa. Anh sẽ làm tiếp một gian nhà nối vào ngôi nhà lớn này. Nếu anh muốn, bố sẽ cùng lên rừng chặt gỗ dựng cho anh một ngôi nhà mới, nhưng phải ở trên đất Khau Dàng này. Bố chỉ cần thế là trút bỏ được nỗi lo nghĩ về anh. Nhưng mọi thứ không như lời bố và ông nội tính. Anh muốn theo người con gái ấy đến ở một nơi khác không phải đất Khau Dàng này. Tổ tiên họ Lý tìm ra Khau Dàng, thì anh cũng sẽ tìm ra Khau Dàng khác được. Chỗ ấy bố chưa tới, ông nội cũng chưa từng biết qua. Anh bảo chỗ nào anh thích ở thì sẽ là nhà, là đất của mình. Bố mới nghe được nửa ý trong đầu của anh đã đứng dậy. “Bao giờ ông mày chết, tao chết thì mày mới được nhắm mắt mà quên nơi đẻ ra thằng Pài”. Bố đã cấm anh như thế, mẹ và ông nội cũng khuyên anh nhiều lời nhưng anh vẫn lắc đầu ngồi yên không đáp lại. Sáng hôm sau người đàn bà theo anh về bỏ đi còn không kịp chào ông, chào mẹ một câu. Anh Pài ở lại nhưng lời nói của cả nhà chỉ trượt qua vành tai rơi xuống đất mà không giữ nổi chân anh. Nhìn anh say ngất ngưởng mà ý nghĩ trong đầu luôn chạy theo lưng người đàn bà kia, về nơi nào đó của riêng mình, bố nổi giận đùng đùng cầm rìu chém vào chiếc xiên trước cửa rồi mới nói:
- Cái đầu mày vẫn nghĩ thế thì mày với tao như cái xiên này thôi Pài à.
Anh Pài nhìn bố, rồi lại nhìn vết rìu trên thanh gỗ không nói một lời bước xuống thang. Đấy là lần cuối anh ở ngôi nhà này. Tết năm ấy anh cũng không trở về, và những năm sau cũng thế. Trong nhà ai nhắc đến anh, bố đều không hài lòng. Bố suy nghĩ mấy năm liền rồi đổ bệnh. Bệnh của bố từ trong lòng mà ra thì không ai chữa nổi. Chái nghe lời bố đi nghe ngóng tin anh, nhưng vừa kịp tìm tới thì anh đã bỏ đi nơi khác như chạy trốn mình. Bố không kịp đợi anh về qua nhà đã nằm xuống. Ngày bố mất anh cũng không về đội tang. Chái nghĩ sẽ không bao giờ tha thứ cho anh vì điều ấy. Nhưng một ngày Chái ra thăm mộ bố, thấy mâm cúng lễ còn nguyên, chân hương còn mới thì cũng thấy lòng nhẹ bớt đi phần nào nỗi giận.
Trời đã bắt đầu khô hơn, không còn cái cảm giác ẩm ướt của hơi nước bốc lên mỗi buổi sáng thức dậy. Khi những đám mây vừa kịp tan trên đỉnh núi thì gió bắt đầu tràn xuống khu đất mới tái định cư của xóm người Nùng. Mấy hôm nay Chái bắt đầu dọn khu đất mới bên sườn nhà, rồi giục Ém đem quang gánh đánh mấy phiến đá ở gần để cuối năm thuê người đục tảng kê cột nhà. Chái sẽ phải dựng lại ngôi nhà cũ, mỗi ngày nhìn thấy những mảnh gỗ nằm ngổn ngang trước mắt lại cứ nghĩ chân tay mình bị cắt bỏ xếp cùng vào đó. Nhìn mẹ già hàng đêm lần mò những điều quen thuộc trong bóng tối ngày nào thì ngày ấy lòng Chái còn như cây rừng trong bão.
Lại đêm. Chái nằm trong giường mà nghe rõ tiếng đá lở từ trên vách núi vọng về. Mà cũng không rõ là tiếng đá lở hay là nhà ai đang cuốn cót phơi ngô đêm muộn không nữa. Trong nhà, mùi cám ngô bén đáy nồi sực lên váng vất. Qua ánh lửa liu riu Chái thấy mẹ vẫn thức. Mẹ ngồi áp má vào cây cột ống mai đã khô bóng lên lấm tấm ướt. Không lẽ đàn bà thường thích ngồi áp má tựa vào cột nhà bếp đến thế. Chái chợt nhớ cây cột nhà bếp ngôi nhà cũ. Cây cột có hai vết đen bằng bàn tay lâu ngày bóng lên như có nước, một cao, một thấp. Có lần Chái thấy Ém ngồi áp má vào cây cột ấy bên bếp lửa lúc cả nhà đã ngủ say. Ém ngồi khóc một mình, nước mắt tràn xuống má thấm vào cây cột nghiến càng làm nó thêm bóng qua ánh lửa. Đứa đàn bà đến làm dâu lạ nhà, lạ người khi thương nhớ về nơi mình sinh ra chỉ biết đứng ôm cây cột bên bếp mà trộm khóc, khi mỏi chân rồi thì ngồi xuống mà nước mắt vẫn chưa hết. Ém tự nguyện theo Chái về làm vợ còn khóc nhiều thế, huống hồ bà nội, mẹ Chái, ngày lấy chồng mới biết rõ mặt chồng… Rồi cả cô vi nữa, cô cũng ngồi khóc bên cây cột bếp ấy. Chỗ vết đen bằng bàn tay người lớn cứ thế bóng lên qua mấy đời người bởi những người đàn bà trong căn nhà này âm thầm tưới nước mắt lên nó.
Và cây cột ấy, thành cái khăn, thành vạt áo lau nước mắt khi nào không hay.
Đã nhiều lần Chái tự hỏi, mình có nhớ hết những câu chuyện trên chính ngôi nhà cũ? Chắc chẳng bao giờ Chái quên được, khi nhìn vào đâu cũng thấy nhớ, có những thứ ám ảnh Chái mãi đến tận bây giờ. Lại nhớ ngày chuyển nhà đi. Khi những tấm ván lát nền gian nhà của bố được tháo tung ra rải dưới đất. Dưới ánh mặt trời Chái vẫn nhìn rõ những vết loang đã lấm tấm vẩn mốc, qua thời gian của váng mỡ gà thiến, mỡ lợn quay chặt xổ ra trên mặt ván. Lần ấy vào nhà mới, gian nhà của bố vừa dựng xong. Ông bảo thịt lồng gà thiến béo đã nhốt cả tháng dưới gầm sàn. Anh em, bạn bè kẻ gần người xa đều mang tới góp chung con lợn quay để chúc mừng nhà mới cho bố. Trong đám đông anh em bên Tà Pởi sang mừng tân gia, Chái để ý tới người thanh niên cao lớn, khuôn mặt bời bời sáng luôn trộm nhìn cô Ví từ phía sau. Mấy lần Chái bắt gặp cô Ví cũng nhìn anh bằng đôi mắt rất lạ từ sau đám người đang nói cười ngả nghiêng giữa nhà. Đến giữa buổi, người thanh niên ấy được mời giúp chặt thịt gà, thịt quay. Một mình anh ngồi giữa gian nhà bốn xung quanh đã xếp gà, xếp thịt đợi lưỡi dao “tàu slừ” pha chặt. Chái nhìn đôi bàn tay anh cầm dao phóng xuống những miếng thịt gà, thịt lợn vuông vức, đèm đẹp bay ra mâm. Mỡ bắn lên người, bám cả lên tóc nhìn như một con sâu tắm trong mỡ, mà người chặt vẫn cứ chăm chú làm. Chỉ lâu lâu mới liếc mắt về phía cô Ví một lần. Chái thấy cô trộm cười, đôi mắt sáng như cua đá đêm mưa rào tháng ba nhìn đáp lại. Sau bữa ăn, người ấy cầm chén rượu đến mời cô Ví một chén, nói một câu với cô rồi xuống thang ra về.
Suốt những ngày sau đó, cô Ví bỗng ít nói, ít cười. Đêm đêm bồn chồn thức đến gần sáng, bà nội phải giục mấy lần mà cô vẫn chưa chịu bước vào buồng. Có lần Chái thấy cô ngồi ngủ quên bên cạnh bếp lửa. Mãi như thế cô bỗng như người lên cơn sốt kéo dài. Hết ngồi bên bếp, cô lại bước ra ngoài ngồi dưới gốc cây mận già.
Đêm sương xuống thấm thành từng vũng ướt trên lưng áo chàm biết bao nhiêu ngày… Người ta bảo cô đã trúng độc sâu râu hổ của người ác. Thứ độc ấy làm người ta chết mòn như cái dây bị rút hết nhựa. Chái bỗng rùng mình nhớ câu chuyện về thứ độc từ sâu râu hổ mà đứa bé nào cũng bị người lớn đem ra kể dọa. Ở đất này vẫn có những dòng họ âm thầm nuôi loại trùng độc ấy. Người ta lấy từ râu hổ săn được cắm vào cây măng non, cây măng ấy thối rữa sinh ra một loại sâu lạ. Người nuôi bắt về bỏ vào chum đặt nơi tối vắng, đêm trăng tròn thì thả vào đó con gà, miếng thịt sống để nuôi sâu. Người ác lấy phân con sâu ấy bỏ vào rượu, người khác uống vào sẽ chết dần chết mòn, người khô đét như phiến đá, đem chôn dưới đất, thịt không thối được. Con sâu ấy cũng làm được thứ bùa tình. Nhốt một con đực ở cùng một con cái để chúng giao phối phóng ra một thứ nước tinh chiết, đem nước ấy thấm vào giấy bản, nhúng vào rượu mời người mình yêu uống thử một lần thì đời đời nhớ về nhau, khắc cả vào xương cốt. Nhìn cô Ví héo rũ đi từng ngày nhưng đôi mắt vẫn sáng rực, lại nhớ người thanh niên ngập trong nước mỡ bắn lên như con sâu trong nhà lần trước làm Chái sợ hãi mà không dám nói ra với ai. Đêm nằm ngủ nhắm mắt vào vẫn thấy những con sâu lớn bò lồm ngồm trên xà nhà, cả dưới gầm giường suốt thời gian dài.
Ông nội không tin chuyện về sâu hổ bùa yêu. Nhưng ông sợ sẽ có người con gái ế chồng trong nhà. Ông nhận lời gả cô cho người đàn ông chết vợ bên kia Tò Tẩn. Cô Ví theo chồng về đất khác, được ba năm thì chồng cô ngã núi chết. Cô chưa kịp đẻ con cho riêng mình mà chỉ sống qua ngày cùng đứa con của chồng với người vợ cũ trong căn nhà nằm giữa rừng hóp quanh năm rì rào tiếng gió. Cô về thăm bà mấy lần, Chái nhìn cô vẫn héo úa như ngày nào, nhưng đôi mắt không còn rực sáng như trước nữa.
Chái nằm nghĩ về cô đợi trời sáng mấy đêm liền, ngoài cửa tiếng mẹ già vẫn âm âm như tiếng gió trên rừng hóp nhà cô thổi về.
Con đường mới làm xong đi qua Khau Dàng vắt mình lên đèo như cái khăn vắt trên vai người xuống chợ.
Từ trên xóm mới tái định cư, ban ngày nhìn xuống thấy những lá cờ sắc đỏ phần phật bay trong gió. Đi mãi theo con đường ấy sẽ đưa người ta tới những vùng đất rộng lớn trù phú, hay bé nhỏ nhưng vẫn đẹp như Khau Dàng này Chái không biết. Chái chưa đi xa Khau Dàng bao giờ nhưng chắc chắn nơi nào cũng đều mang cho mình riêng một câu chuyện không quên.
Đêm nay trăng lại sáng, Chái ngủ mê mệt từ đầu tối. Bỗng nghe có tiếng người nói cười ồn ã. Chái trở mình bước ra ngoài, một thứ ánh sáng rực rỡ như ánh lửa, như đèn măng sông phả ra choáng ngợp. Trên đống gỗ nằm dưới đất, Chái thấy ông nội ngồi tỉ mẩn đẽo lên cây cột cũ, thấy bố ngồi kéo xẻ tấm ván bưng trước hiên nhà, thấy cả anh Pài nhìn như xoáy vào vết rìu của bố. Tất cả những người còn sống, hay đã chết đều có mặt đang rì rầm kể câu chuyện của mình nhưng không một ai nói với nhau câu nào. Chái đưa tay dụi mắt, lại thấy ngôi nhà cũ đã được dựng lên sừng sững. Trên nhà người ra vào nườm nượp làm ván kê sàn kêu lên ken két.
Chái định bước lên thang, bỗng có ánh đèn xanh lét rọi từ con đường mới lên quét qua, ngôi nhà sừng sững biến mất trong tích tắc. Chái bám một tay vào bực cửa, hơi gió nổi lên lạnh ngắt.
Trước sân, bên đống gỗ nhà cũ, bóng mẹ già lồng lộng dưới trăng non.
Nguyễn Văn Luân
Theo http://vannghequandoi.com.vn/


  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...