Thứ Ba, 1 tháng 2, 2022

Hoa đào năm trước

Hoa đào năm trước

Nhà Y ở trên đỉnh đồi xưa kia nhìn xuống một thung lũng thật lớn có tên là Nam Đại Cốc, nhưng nay đã mọc lên những khu nhà ở đông đúc trên đỉnh đồi lẫn ở dưới chân đồi. Từ ga đi vào nhà Y có hai cách. Hoặc ra khỏi nhà ga, cứ thế đi dọc theo đường rầy. Bên này đường rầy là đường nhựa rộng đủ hai dòng xe chạy ngược chiều nhau, nhưng chỉ có một lề đường dành cho người đi bộ sát với hàng rào ngăn cách đường dành cho xe hơi với đường rầy. Đường rầy chạy càng đến gần nhà Y càng đi xuống dốc. Đường dành cho xe hơi thì đi dần lên đồi cao, nên người ta mới phải làm hàng rào cản như trên đường đèo. Bên kia đường rầy là công viên rất rộng và có lẽ xưa kia cũng là một thung lũng mọc đầy rau cần, nên mới có tên là Seri ga ya hay Cần Cốc. Đi dọc theo đường rầy về nhà được ngắm cảnh bốn mùa trong công viên bên kia đường, mùa này có thể nhìn thấy những ngọn cây hoa anh đào hồng nhạt gần như trắng xóa. Chỉ có điều là vì chỉ có một lề đường duy nhất dành cho người đi bộ, nên khách bộ hành đi về hướng nào cũng phải đi cùng trên một vỉa hè.
Một cách thứ hai để đi về nhà, đó là khi vừa ra khỏi nhà ga vài chục thước liền rẽ sang bên trái, để đi theo con đường lớn, hai bên đường có nhiều cửa hàng, rồi tòa thị chính, các công sở. Con đường này có vỉa hè rộng rãi ở hai bên đường, trên vỉa hè có cả một hàng cây bạch quả cao vút, và giậu hoa đỗ quyên thấp ở dưới các gốc cây bạch quả. Xe buýt trong thành phố chạy trên đường này, nên khi chỉ đường cho xe tắc xi chỉ cần nói " Xin về đường xe buýt ". Xong vì trên đường còn có sở cứu hỏa, nên cũng có khi người tài xế tắc xi hỏi lại " À, Đường Sở cứu hỏa phải không? ".
Trên Đường Sở cứu hỏa này, sau khi qua khỏi sở cứu hỏa một quãng, sắp đến gần nhà Y, có một hiệu bánh ngọt tên là hiệu Wakabado, viết chữ Hán là Nhược Diệp Đường, tức là Hiệu bánh Lá Non. Hiệu ở ngay ngã tư của con đường nhỏ hơn từ trong khu phố dân cư có tên là Nakamachi chạy ra cắt ngang đường xe buýt. Đối diện với Nhược Điệp Đường, có một tòa biệt thự rất lớn, có lẽ xưa kia là cơ ngơi của một phú nông hay hào nông trong vùng, mà ở góc vườn còn có một cây anh đào cổ thụ, cành lá vươn ra ngoài mặt đường. Hơn nữa trong vườn của tòa biệt thự ấy còn có bóng dáng của một cái cổng sơn son màu đỏ của các đền thờ thần đạo. Y đoán đó là đền thờ thần cây anh đào. Thế là tình cờ mà trước hiệu bánh Nhược Diệp Đường lại có một cây anh đào. Từ Sở cứu hỏa đi tới hay từ nhà Y đi ra đều trông thấy cành lá xum xuê của cây anh đào vươn ra che kín cả mặt đường. Một cây anh đào cổ thụ trước cửa một hiệu bánh Nhật, thật không có cảnh nào đẹp hữu tình đến thế.
Bởi vậy mỗi khi mời khách tới nhà chơi, Y thường chỉ cho khách đi theo cách thứ hai này, tuy rằng có thể xa hơn vài phút vì phải chờ đèn đường ở ngã tư gần tòa thị chính, một ngã tư lớn vì có Kamakura Kaidou ( Nhai đạo Kamakura )cắt ngang đường xe buýt. Nhai đạo Kamakura là một con đường có từ thời đại Kamakura vào thế kỷ thứ 13, đi về thành phố Kamakura thơ mộng còn có tên gọi là một cố đô thu nhỏ của Nhật bản. Ngày xưa hẳn đã có biết bao lữ khách vai đeo bị tay nải, đầu đội nón lá, mình khoác áo tơi, đi theo nhai đạo này để tới Kamakura, nơi có phủ chúa Minamoto no Yoritomo, và dọc đường cách đó không xa có một quán nước bán trà bánh. Phải chăng đó chính là tiền thân của hiệu Nhược Diệp Đường dưới bóng cây anh đào nay đã gần ngàn tuổi.. Dĩ nhiên đây chỉ là những điều trong trí tưởng tượng của Y, đã phác họa ra khi đi tìm nhà và là một trong những lý do khiến Y muốn mua nhà ở đây.
Khi con còn bé, ngày ngày đi chợ Y thường đẩy chiếc xe chở con đi theo ngã hiệu bánh Nhược Diệp Đường có lề đường rộng rãi, đi qua cửa hiệu bánh. Mùa xuân đầu tiên được ngắm cây anh đào nở hoa, thật là hạnh phúc.Y rối rít gọi chồng cùng đi ra chụp ảnh trước cửa hiệu bánh, với cây anh đào nở hoa phía sau lưng. Hiệu Nhược Diệp đường bán các loại bánh Nhật điển hình như mọi hiệu bánh Nhật khác, nhưng chồng Y thích bánh Yakushi-ike của hiệu này nhất. Đó là loại bánh monaka, có nhân đậu đựng trong một cái vỏ bánh mỏng giống như bánh kẹp.Tên Yakushi-ike hay Dược Sư Trì chính là tên một vườn hoa nổi tiếng của thành phố xưa kia là vườn thuốc của một người thầy thuốc, giữa vườn có một hồ nước rất rộng, cảnh đẹp hữu tình. Lâu lâu Y lại ghé Nhược Diệp Đường mua bánh Yakushi-ike cho chồng.
Ở đây cũng có các loại bánh khảo, bánh thạch, bánh trôi, bánh chay, bánh hấp, bánh đậu. Bánh khảo của Nhật làm bằng bột gạo và đường, được in thành những cái bánh nhỏ hình cánh hoa, chiếc lá, chỉ bé bằng cái kẹo, ngậm vào miệng liền tan ngay, rất dễ ăn. Bánh thạch thì nấu bằng thạch với đường mạch nha, rất dẻo và khô ráo, cũng có hình dáng như những miếng pha lê trong suốt xinh xắn đủ mầu. Bánh hấp gần giống như bánh bao nhưng có nhân đậu, bánh trôi không nhân ô đangô, bánh chay ôhagi bọc bằng nhân đậu đỏ chứ không không phải là nhân đậu xanh. Ngày mồng 5 tháng 5 lễ mừng con trai, Nhược Diệp Đường bán bánh kashiwa mochi bằng nếp có nhân đậu gói trong chiếc lá kashiwa ướp muối.
Các loại bánh Nhật nói chung, chỉ trừ bánh thạch và bánh khảo vừa kể, hầu hết làm bằng đậu trộn đường, đều ngọt quá là ngọt, hình như chất đậu càng làm cho vị ngọt của bánh tăng lên gấp bội, có vẻ ngọt hơn cả đường nguyên chất. Y còn nhớ mãi nét mặt nhăn nhó kêu "Ngọt quá" của bà Nakamura chủ nhà trọ cũ, mỗi khi có ai đem bánh đến biếu. Bà Nakamura thường chỉ ăn thử một cái, rồi đẩy cả hộp bánh về phía Y, ý muốn bảo Y ăn hết đi dùm bà. Nhưng Y cũng chỉ nhón lấy một cái rồi lắc đầu đẩy hộp bánh trả lại cho bà.
Khi con được ba tuổi bắt đầu đi mẫu giáo, cũng vào ngày khai giảng của vườn trẻ, Y mới biết ngoài bánh kashiwa mochi, có một loại bánh Nhật ngọt vừa phải thôi. Vào ngày nhập học này, vườn trẻ của con Y đã phát cho mỗi em bé mới đi vườn trẻ lần đầu một hộp bánh có hai chiếc, dường như làm bằng bột nếp, một cái màu trắng và một cái nhuộm màu hồng như cánh hoa hải đường. Đó là hai màu hồng bạch tượng trưng cho sự vui mừng của người Nhật. Thoạt nhìn tưởng chỉ là bánh dầy vô vị, mà nào ngờ ăn thử thấy có vị ngọt giống hệt bánh dẻo trung thu, tiếng Nhật gọi là su-ama. Y nghe tên ngẫm nghĩ rồi tự nhủ "À, su-ama có lẽ có nghĩa là bánh nếp ngọt, mà là bánh suông không có nhân ở trong". Lâu nay cứ đến trung thu khi nào Y cũng đi mua bánh nướng ở phố Tàu Yokohama, nhưng không thể nào tìm đâu ra bánh dẻo. Nay biết được bánh su-ama này rồi, Y mừng qúa vì từ nay Y chỉ cần mua bánh su-ama, cho vào khuôn bánh trung thu in ra là có bánh dẻo. Y còn nghĩ bụng khi nào sẽ muối trứng gà, và lấy lòng đỏ trứng muối làm nhân bánh dẻo nữa cho đẹp.
Con Y có vẻ thích bánh su-ama phát vào hôm lễ nhập học, nên từ đó thỉnh thoảng Y thường dắt con ra hiệu Nhược Diệp Đường mua bánh. Dạo này Nhược Diệp Đường lại dành ra một góc hiệu làm thành trà thất, ba mặt tường vách gỗ trang trí thật trang nhã na ná giống như trà thất dành để cử hành nghi thức trà đạo, tuy nhiên ở đây người ta để một bộ bàn ghế gỗ chứ không lát chiếu tatami như trong trà thất. Y thường mua một đĩa bánh su-ama cho con. Hiệu bánh sẽ bưng ra một chiếc bánh xinh xắn đặt trên chiếc đĩa nhỏ, có chiếc nĩa để xắn bánh làm bằng một mảnh gỗ nhỏ, kèm theo một chén trà xanh. Trên bàn thể nào cũng có một bông hoa nhỏ cắm trong chiếc bình thấp nhỏ. Y chậm rãi uống trà hồi lâu chờ con ăn xong chiếc bánh. Cậu bé con cũng vừa cắn từng miếng bánh nhỏ ăn chậm rãi. Nhân viên hiệu bánh là mấy bà Nhật đứng tuổi, hay ông chủ còn trẻ của hiệu bánh thỉnh thoảng dòm vào phòng hỏi chuyện cậu bé con
- Bé thích bánh su-ama hả? Bánh ngon không?
Chủ nhân thực sự của Nhược Diệp Đường có lẽ đã ngoại lục tuần, có dáng dấp một người thợ cả khắc khổ. Trái lại người con trai trưởng được gọi là Wakadana- ông chủ còn trẻ - khoảng ba mươi tuổi, dáng người cao lớn mà hơi phốp pháp, khuôn mặt tròn xoe, khiến Y thường liên tưởng đến khuôn mặt búp bê kiểu Nhật. Dường như anh ta mới cưới vợ chưa có con, nhưng có vẻ như rất thích trẻ con, thường hay ân cần với con Y, cậu bé khách hàng tí hon của hiệu bánh. Đôi khi anh còn tự ý tặng thêm cho cậu bé vài cái bánh su-hama xinh xinh nhỏ như cái kẹo hay đôi khi cả một cái bánh manju.
Mùa hè qua rồi sang thu, trời mát dần, Y thường đi qua hiệu Nhược Diệp Đường hơn, chờ xem hôm nào thì trước cửa hiệu có để một chiếc vại sành lớn cắm đầy hoa lau và hoa rindo thì biết hôm ấy đúng vào ngày rằm trung thu. Khách vào mua bánh trôi bày cỗ ngắm trăng đều được tặng hoa lau và hoa rindo, muốn lấy bao nhiêu cành tùy thích. Qua rằm trung thu sẽ đến tháng 11 có lễ Shichigosan, tức là lễ mừng những trẻ em đã lên ba, lên năm và lên bảy tuổi. Ngày ấy hiệu bánh thường bán những thanh kẹo kéo chiyoame đựng trong phong giấy rất trịnh trọng, kẹo này cho trẻ ăn để cầu cho được khỏe mạnh sống lâu, bởi chiyo là cách đọc chữ Thiên Đại.
Năm tháng trôi qua, mỗi mùa lại có một dịp lễ lạc để Y đến mua bánh cho con, thì lại được người chủ trẻ tuổi giải thích về từng loại kẹo bánh của hiệu. Không chỉ mua bánh cho con, Y cũng thích vào hiệu xem ngắm nghía những chiếc bánh làm bằng đậu tuyệt đẹp gọi là namagashi, là bánh ăn liền không để lâu được. Mỗi hiệu bánh có những namagashi riêng của hiệu, biểu lộ tài năng của người chủ hiệu. Ông chủ hiệu bánh nay đã lớn tuổi, theo lời wakadana tức người con trai kể lại thì lúc còn trẻ ông đã đến học ở một hiệu bánh tại cố đô Kyoto, và có học cả môn họa Nhật bản. Thảo nào mà mỗi chiếc bánh namagashi của Nhược Diệp Đường quả là một tác phẩm nghệ thuật, và mùa nào thức nấy. Vào tháng ba, khi những hoa anh đào còn chưa hé nở, Nhược Diệp Đường đã bày những chiếc bánh ửng hồng màu cánh hoa anh đào. Tuy nói mùa nào thức nấy, nhưng thật ra tháng ba hoa anh đào chưa nở mà hiệu Nhược Diệp Đường đã bày bán bánh hoa anh đào, là vì người sành điệu bao giờ cũng đón mùa sớm hơn người khác, tương tự như trai thanh gái lịch ở thủ đô vẫn thường khoác lên người những kiểu áo mới sớm hơn bất cứ ở thành phố nào trên toàn quốc. Sang tháng tư bánh có màu xanh của lá non vừa nhú trên cành. Tháng năm bánh có những sợi thạch trong suốt vắt ngang tượng trưng cho mùa mưa mai vũ trong tháng sáu sắp tới.Cứ thế, từng chiếc bánh thể hiện cho cảnh sắc bốn mùa xuân hạ thu đông, thực sự là những tác phẩm điêu khắc tí hon làm bằng bột và đường. Người thợ càng khéo tay và có tâm hồn nghệ sĩ thì chiếc bánh càng có vẻ đẹp thanh thoát. Wakadana của Nhược Diệp Đường dáng người cao lớn, bàn tay to rộng bản, thế mà những chiếc bánh của anh mới đẹp và thanh nhã làm sao. Ở những hiệu bánh trong siêu thị thường bày bán những chiếc bánh nặn hình hoa lá cũng rất khéo, cúc nhìn ra cúc, đào nhìn ra đào. Thế nhưng bánh của hiệu Nhược Diệp Đường không mang những hình dáng cụ thể như thế, mà chỉ có những màu sắc và dáng dấp tượng trưng cho cảnh sắc bốn mùa. Trên chiếc bánh ấy có thể đang có một đỉnh núi tuyết ửng hồng dưới ánh thái dương, một vầng mây nhạt bay ngang đỉnh núi, một hồ nước trong vắt mát rượi giữa buổi trưa hè. Nhìn chiếc bánh mà tưởng như có cả một rừng thu phong rực đỏ trước mặt, như nghe thấy tiếng lá khô vang lên xào xạc dưới gót chân nai.
Một mùa xuân nọ qua đầu tháng tư, khi những cánh hoa anh đào rơi lả tả thành từng bè hoa trôi trên những giòng nước hay biến mọi ngả đường thành những chiếc thảm màu hồng nhạt, Y bắt gặp wakadana đang ngồi phác thảo từng cánh hoa trên cuốn tập vẽ của anh. Có lẽ vì biết Y là người nước ngoài, anh không ngần ngại cho Y xem những ký họa khác trong cuốn tập vẽ ấy. Mỗi trang đều có những bức ký họa từ chân phương cho tới cách điệu, cho thấy được những ý tưởng độc sáng của anh. Thảo nào mà những chiếc bánh của anh khác hẳn với của những người thợ khác. Trong những trang vẽ hoa anh đào, Y thấy có cả hình chiếc cổng đỏ của ngôi đền thờ nhỏ dưới gốc cây anh đào trong vườn nhà bên kia. Bất giác anh chỉ vào chiếc cổng đền ầy mà bảo
- Đây là ngôi đền hộ mạng của hiệu bánh chúng tôi. Ông tổ của chúng tôi trước kia ở dưới chân núi Isehara cũng là khu suối nước nóng Tsurumaki-Onsen nổi tiếng, một ngày nọ đem bánh đến dọn trong tiệc trà của Trường Kiến Tự ở Kamakura, lúc trở về theo Nhai đạo Kamakura đến đây định rẽ vào Cần Cốc xem rau cần, thì thấy nơi đây có cây anh đào đẹp quá, mới chọn địa điểm để mở hiệu bánh.
Y gật đầu tán đồng với câu nói này của anh ta, và được dịp kể lể về chuyện mình hay chỉ đường cho khách đến nhà chơi đi theo lối này qua gốc anh đào và qua cửa hiệu Nhược Diệp Đường.
Wakadana liền lịch sự cảm ơn Y đã quảng cáo cho hiệu bánh của anh, và hãnh diện chỉ cho Y xem tấm biển treo phía bên phải cửa hiệu có ghi giòng chữ " Ngự Dụng Quả Phố "cho biết là bánh của Nhược Diệp Đường đã từng được dọn trong tiệc trà của hoàng gia.
Anh cũng cho Y biết vì có lúc túng quẫn nên dòng họ của anh đã bán bớt thửa đất bên kia dưới gốc cây anh đào cho người khác. Nhưng dù sao thì cây anh đào ấy vẫn còn mãi mãi ở đó, như hình với bóng trên mái của Nhược Diệp Đường
Từ khi con lên tiểu học Y thường đưa con ra ga đi học sớm nên đã lâu ngày không còn đi theo ngã Nhược Diệp Đường, mà thường đi theo đường rầy cho mau. Y cũng không còn hay đi mua bánh ở Nhược Diệp Đường, vì con nay thích nhiều loại bánh kẹo khác chứ không chỉ còn thích su-ama nữa. Bánh Yakushi-ike ngon nhưng làm toàn bằng đậu và đường, Y cho là ngọt quá, khuyên chồng nên bớt ăn ngọt, vì vậy Y cũng không còn đi mua bánh, tuy biết rằng thỉnh thoảng chồng viện cớ đi dạo vẫn ra Nhược Diệp Đường tự tay mua về vài gói.
Một hôm Y thấy ông bà nhà hàng xóm khuân về một thân gỗ khá lớn, như thể là một khúc cây vừa được cưa ra từ một gốc cây tươi nào đó. Y trầm trồ khen thân cây gì mà lớn thế, liền được bà hàng xóm giải thích:
- Ô thế bà không biết ư? Cây anh đào ở trước Nhược Diệp Đường cành lá sum suê vươn ra che khuất cả đèn đường mà chủ nhà không chịu tỉa bớt, bởi cũng phải thuê xe cần cẩu cắt dùm, tốn kém. Vì vậy mà mấy hôm nay họ đốn đi rồi. Mọi người đang đến xin mỗi người một khúc thân cây ấy về để trong vườn, làm mặt bàn hay các thứ đấy.
Y nghe vậy, sửng sốt chạy bổ ra xem, thì hỡi ôi chẳng còn thấy bóng dáng của cây anh đào đâu nữa. Như một phản xạ tự nhiên, Y lại vào hiệu Nhược Diệp Đường, có ý tìm ông chủ hiệu hay Wakadana để chia buồn, nhưng chẳng thấy bóng dáng anh ta đâu. Chỉ có mấy bà bán hàng, nghe Y tỏ ý ái ngại tiếc cây anh đào, họ kể lại đại khái rằng nếu được thì bên hiệu Nhược Diệp Đường cũng muốn bỏ tiền ra cắt tỉa cành anh đào hàng năm để khỏi phải đốn cây, xong làm như thế thì e rằng mất mặt chủ nhà bên kia, nên không dám ngỏ lời.
Góc đường từ dạo mất cây anh đào nhìn trơ trụi lạ thường. May mà còn hàng cây bạch quả trên vỉa hè, và hàng giậu hoa đỗ quyên dưới thấp, nếu không thì hiệu Nhược Diệp Đường nằm trơ trụi chẳng có cỏ hoa. Y thầm nghĩ từ nay mỗi năm cứ đến mùa hoa anh đào có lẽ Wakadana sẽ phải sang bên công viên để ngắm hoa và tìm ý tưởng cho tác phẩm vào mùa hoa năm sau.
Thời gian lại trôi qua, con Y nay đã sắp vào đại học. Nhà nào có thí sinh thì suốt năm ấy mọi sinh hoạt như quay cuồng theo các kỳ thi thử chuẩn bị cho kỳ thi nhập học vào đầu năm tới, giữa mùa tuyết đổ. May sao con thi đỗ ngay, Y cảm động chợt nhớ ngày nào lần đầu tiên đưa con đi học mẫu giáo và hai chiếc bánh su-ama hồng bạch mừng nhập học, liền vội ra Nhược Diệp Đường mua bánh. Vẫn hiệu bánh mọi khi, nhưng các bà bán hàng quen thuộc hình như đã nghỉ việc, thay vào đó là mấy cô gái trẻ. Trà thất ở góc hiệu nay đã bị phá bỏ để thay vào đó một chiếc tủ mới. Trên mặt tủ kính còn có để một loạt hình ảnh cắt từ tạp chí, nhìn kỹ thì ra đó là bài báo giới thiệu Nhược Diệp Đường, có hình người ký giả chụp với chủ hiệu đội mũ màu trắng của người đầu bếp. Nét mặt người ấy không trẻ không già, không phải là Wakadana, cũng chẳng phải là ông chủ hiệu. Y đưa mắt vào sau tủ bánh chỗ quầy gói bánh, có ý tìm người quen. Rồi cuối cùng Y cũng không đủ kiên nhẫn, buột miệng hỏi thăm
- Wakadana và ông chủ có khỏe không ạ?
Cô nhân viên vội vàng mời Wakadana ra, hóa ra đó là một người lạ.
Y không giấu được sự sửng sốt
- Ông là em của Wakadana trước đây à?
Người đàn ông trẻ tuổi ngập ngừng đáp
- Không phải ạ, chúng tôi là chủ mới. Chủ cũ đã nhượng lại cho chúng tôi cửa hiệu này.
Y vội vàng xin lỗi và mua vội vài chiếc bánh đoạn nhanh chân rời hiệu bánh. Lòng buồn man mác, chẳng hiểu vì sao mà có sự thay ngôi đổi chủ như vậy.
Về sau Y mới hỏi những người hàng xóm quanh nhà và mới hay Wakadana qua đời rất đột ngột đã mấy năm qua, vì đứt mạch máu. Người vợ còn trẻ, và ông bố thì đã già, cả hai đều buồn rầu không còn đủ sức lực và ý chí truyền nghề lại cho đứa cháu trai đích tôn còn nhỏ. Và thế là họ đành nhượng cửa hiệu này cho một người thợ phụ, đồng ý nhượng luôn cả thương hiệu Nhược Diệp Đường gia truyền gần hai trăm năm qua.
Năm năm hoa anh đào lại nở trên khắp nẻo đường. Cứ đến mỗi mùa hoa nở, nhìn những cánh hoa rơi trên mặt nước trôi bồng bềnh về nẻo xa, Y lại ngậm ngùi nhớ đến cây anh đào không còn nữa, cùng với những người chủ cũ của Nhược Diệp Đường, kẻ mất người còn nhưng chẳng biết nay đã lưu lạc về đâu.
23/5/2008
Quỳnh Chi
Nguồn: Chimviet
Theo https://vnthuquan.net/

Xuân Huế giữa thời gian

Xuân Huế giữa thời gian...

Xuân đã thấp thoáng sau nhiều tháng thu đông đằng đẵng. Giả từ bão lụt, Huế chờ đợi những giọt nắng nguyên sơ trên cánh cổng 2008. Một mệnh đề mới về thời gian đang rộng mở. Đây cũng là lúc thích hợp để chuẩn bị nhiều hứa hẹn mới với tương lai. Sắc xanh vừa trở lại trên từng ngọn cỏ úa trong vườn. Đâu đó... Hoàng mai đã bắt đầu nhú búp.
Vượt qua hệ quy chiếu ba chiều nguyên thủy, Einsten trực nhận về kích chiều thứ tư của vũ trụ. Chiều thời gian. Vật lý và thi ca tìm thấy tiếng nói chung từ đó...Bất chấp tất cả, xuân hạ thu đông vẫn tuần tự xoay vần để thời gian vẫn là điệp khúc bốn mùa miên viễn. Thiên hà ngôn tai. Tứ thời hành yên. Thiên hà ngôn tai. Khổng Tử khi san định Kinh Dịch, ông đã ngạc nhiên, bừng tĩnh: "Trời có nói gì đâu! Bốn mùa vẫn cứ xoay vần đúng độ. Trời có nói gì đâu". Vâng, trong muôn vàn biến dịch vẫn có điều bất biến. Giữa trăm ngàn lẽ động luôn tồn tại mặt tĩnh ẩn tàng. Thời gian là chân lý của mọi chân lý. Là kẻ đóng dấu lên tất cả để khẳng định sự ấn chứng sau cùng.
Khí xuân làm cỏ cây nảy nở. Tự nhiên con người cũng tâm sự, giao tiếp nhiều hơn. Ăn nên đọi, nói nên điều. Có người quân tử khăn điều vắt vai.
Không biết từ bao giờ - qua những câu thường đàm, thành ngữ - phạm trù thời gian đi vào tâm thức Huế bằng những hình thái đặc thù, đa diện. Ẩn dưới từng câu nói đơn giản, khi hiểu theo cung cách Huế, là bóng dáng trầm mặc của một phần văn hoá nơi đây...
Ra năm, ngày rộng tháng dài. Vâng, câu nói đầu xuân còn có nghĩa ngoài chiều dài, thời gian ở đây còn có thêm chiều rộng. Thật lạ lùng, dù chỉ tồn tại qua cảm nhận song thứ chiều rộng ấy chưa hẳn đã quá hoang đường, xa lạ. Thời gian sắp đến của năm mới bao giờ cũng dài, rộng và thênh thang hơn dẫu tháng năm chẳng có gì thay đổi.
Quả thực Huế trong mùa mưa, bầu trời thấp xuống và không gian cô đặc, nhỏ hẹp đến bất ngờ. Mỗi một bức trường thành cứ tưởng như dày dặn hơn, hoá hiện những bức tường mưa chất ngất. Bây giờ, khi mà nắng mới đã giao mùa. Ngàn mây trắng thênh thang lơ lững. Là lúc Huế chợt rộng ra trên mặt thoáng của sông dài. Màu xanh lam bóng núi hiện hình tận chân trời khói toả...
Sự "co giãn không gian" Huế theo mùa, tiết trong năm luôn là nguyên nhân gây cảm xúc bâng khuâng đầy bất ngờ, xa vắng. Điều ấy cắt nghĩa vì sao Huế gần gũi với thi ca? Ngày nay, nhịp sống nền văn minh đô thị đang dần chiếm hữu những khoảng không gian thi ca ấy...
Câu thành ngữ hàm chứa biết bao hy vọng, dự kiến được gửi gắm ở ngày mai. Mặt khác, giúp con người đánh giá lại, ngầm nhắc nhở nhau về hiện thực. Trong đó có triết lý lạc quan hướng về tương lai nhưng không hề ảo vọng. Triết lý ấy luôn cho thấy, chấp nhận hiện thực và công nhận hiện thực là hai mệnh đề chưa bao giờ đồng nghĩa. Phải chăng tiến bộ của văn minh nhân loại cũng đã và đang được xây dựng ngay trên nền tảng ấy. Kỳ lạ thay một trong những thuộc tính nổi bật của văn minh nhân loại là phục chế và bảo lưu tối đa những nền văn minh xưa cũ! Hồi ức quá khứ bỗng nhiên được trân trọng sánh ngang hàng bảo vật. Đó là thứ "quặng mỏ tinh thần" vô giá.
Sông có khúc, người có lúc thành ngữ so sánh các thời kỳ đột biến của đời người không mấy khác sự biến động phức tạp một dòng sông. Mặc nhiên, dòng sông còn biểu tượng cho dòng chảy của thời gian, dòng sống hay mệnh vận của con người. Hương giang trầm lắng, xanh trong như hôm nào. Những hình ảnh cuồng nộ mới đâu đây hoàn toàn biến mất như chuyện kể một giấc mơ. Từng chiếc thuyền rồng tiếp tục cuộc tuần du của những khách viễn phương. Đứng ở Nghinh Lương đình, chùa Thiên Mụ bất cứ lúc nào có thể nhìn thấy nhiều quý khách phương Tây tất bật chỉa ống kính thu hình lên hai bờ cây lá. Hình ảnh Kinh thành Huế xanh rêu, lặng lẽ kia vẫn không ngừng đổ bóng xa hơn, đậm hơn lên trong lòng nhân loại...
Nhìn dòng chảy trôi đi...Ta cảm nhận được lẽ huyền vi của tạo hoá. Thoắt có thoắt không, trong không gian tĩnh lặng mơ hồ có tiếng vọng từ nội tâm sâu thẳm. Ngôn ngữ của thời gian. Là hồi ức ban sơ cùng kỷ niệm của đời người...Phải chăng sau tất cả biến động thăng trầm, con người Huế vẫn luôn cố lắng nghe âm vang muôn đời trong đất đai, thành quách. Tiếng vọng của mùa xuân. Mọi thứ có thể sẽ nhạt nhòa song tiếng vọng ấy vẫn muôn đời tồn tại. Tiếng vọng vượt thời gian, mang tần số của nhịp tim người xa Huế...
Chuyện từ đời tù huy, tù huýt. Là chuyện đã lùi sâu vào quá khứ...Khi mà mọi gợi tưởng đã không còn cầm chắc như gợi tưởng về âm thanh một đồ chơi ấu thơ thuở trước. Con tu huýt nặn bằng đất sét quê hương. Độ lùi của thời gian bây giờ được thông qua mã số một âm thanh kỳ thú, huyền hồ.
Huế còn nhiều chợ quê nhưng đã dần thiếu vắng đi con tò he, những chiếc còi tu huýt hoặc trống giấy lung tung màu đỏ, xanh hàng mã. Chẳng khác gì tuổi ấu thơ đã qua... Chúng cũng một đi không trở lại. Còn lại những gì? Nhan nhản một đại dương đồ chơi vô cảm. Những thứ được cơ điện hóa, mang thông điệp "ngoại hành tinh viễn tưởng", xa lạ hẳn với con người. Tuổi thơ hôm nay rất thiếu ân cần với thiên nhiên ngay nơi chốn giàu có thiên nhiên như Huế. Mãi đến khi lớn lên, cầm chắc chẳng có ai trong trẻ thơ hôm nay phải bồi hồi nhắc lại từng trò game điện tử? Nhưng chính lúc ấy chúng sẽ không còn kinh ngạc vì sao người lớn luôn say sưa kể lại chuyện tát cá, tìm chim...Về các thú vui hoa niên ở tận những miền quê, xa điện đường đô thị.
Gạo tháng giêng, tiền tháng chạp. Trong mỗi cuối năm, khi các bà mẹ Huế gặp gỡ nhau, câu chuyện mua sắm rất có thể sẽ bắt đầu qua câu tâm sự ấy. Bão lụt, mưa gió thất thường trong nhiều tháng thu đông khiến lúa gạo luôn trở thành mối ưu tư khi trời quang, mây tạnh. Mùa lúa mới hãy còn xa, chờ gieo mạ...Nước vẫn trắng mênh mông trên những cánh đồng dọc thôn trang heo hút. Người Huế lo giỗ tết gia tiên giữa thời khắc đầy nghiệt ngã trong năm. Ít ai hiểu, khi vất vả làm cúi khói, lọi lưng là lúc nhà nông yên tâm không còn lo thiếu đói, mất mùa. Lọi lưng nhưng vui vì đòn xóc nặng trĩu lúa vàng nhờ gặt hái xum xuê. Cúi khói hay đầy nhà rạ rơm để ngày ngày bếp lửa vẫn có người cúi lưng thổi khói lam chiều. Vâng, từ thời điểm tháng bảy, nước dẫy lên bờ người Huế làng quê đành bó gối, khoanh tay vì bão lụt tràn qua...
Để có được nụ cười và hơi ấm gia đình, bây giờ hoa trái của nương vườn trở thành niềm cứu rỗi...Mới hay rằng, vườn Huế ngoài khung cảnh trầm mặc thanh nhàn kia, còn chất chứa thứ tình cảm sâu đậm không thể nói nên lời. Với người Huế, chẳng phải ngạc nhiên khi phải rời bỏ gia nương (nhà, vườn) là cả một chia lìa đau xót Gia nương lút cút mẹ già. Bên tê sông chàng đợi, thiếp theo qua răng đành. Và vì thế, khi bước đi lấy chồng người con gái Huế ngày xưa, chỉ ước mơ thực tế Thì thôi, trăm đỉnh ngàn chung...
Chi bằng hai chữ gia nương bên chồng.
Khúc ruột miền Trung thắt lại thành chiếc eo mềm dịu. Gợi tưởng hình ảnh đầy cảm xúc những người phụ nữ giỏi giang, chịu đựng. Phụ nữ Huế một đời tần tảo nắng mưa Những người thắt đáy lưng ong. Đã giỏi chìu chồng lại khéo nuôi con Đời sống gia đình Huế qua muôn ngàn cuộc bể dâu, nhờ thế vẫn giữ được nếp riêng, rất ít khi phải xô bồ giao động.
Một mùa xuân mới bắt đầu. Tất cả đặt hy vọng vào những tháng ngày rộng mở. Ai cũng nguyện thầm may mắn. Gặp may xưa là cách nói khiêm nhường của những người đang được điều may mắn. Cũng có nghĩa, nhờ vào phước đức của cha ông từ xa xưa để lại. Riêng bản thân, không hẳn đã tài giỏi hơn những người chưa dự phần may mắn...
Khi đã rạch ròi câu chữ, ta không còn nhìn thấy ở đây một lý lẽ thần quyền nào như những người chưa thấm nhuần tâm thức Huế. Vượt lên trên còn cho thấy, ở đây còn một niềm tin mãnh liệt vào đạo đức xử thế. Niềm tin vào lẽ phải của con người. Sự kính ngưỡng tổ tiên và không quên quá khứ.
Người Huế - nhất là trong những dịp Tết đến, xuân về - trân trọng sự gặp gỡ hai hạng người đặc biệt... Hoặc tượng trưng cho hồn nhiên dễ mến của trẻ thơ, hoặc tử tế hiền lành như những bô lão vui cười dễ tính. Những hạng người ấy vô hại không tiểu tâm, thường đem an lành cho kẻ khác. Sự lựa chọn thật đơn giản, không mảy may đề cao vật chất danh uy... Nhưng đấy lại là biểu tượng đích thực nhất của đạo đức dân gian. Thứ đạo đức vô cùng cụ thể chẳng cần đợi nghi lễ cao xa hoặc triết luận đưa con người vào hư văn, mê tự...
Cũng từ đó Gặp may xưa với quan niệm người Huế - trước hết và trên hết - phải là gặp gỡ những cái Tâm an lành theo ngữ nghĩa bình dân... Như một lời chào "rất Huế" xin hãy chúc may xưa khi gặp nhau trên ngưỡng cửa mùa Xuân.
10/1/2008
Trần Hạ Tháp
Nguồn: Chimvietcanhnam. free/
Theo https://vnthuquan.net/

Hãy tìm lại "Khí thôn Ngưu" trong bài thơ của Phạm Ngũ Lão

Hãy tìm lại "Khí thôn Ngưu"
trong bài thơ của Phạm Ngũ Lão

"Thuật hoài" của Điện súy Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt - như một Anh hùng ca - mãi mãi còn vang danh sử Việt. Đời sau cảm nhận được tráng chí chói trời Nam, một thuở hào hùng đầy "Khí thôn Ngưu, Đẩu":
"Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu"
"Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu"
"Nam nhi vị liễu công danh trái"
"Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu"
Học giả Trần Trọng Kim đã để lại bản dịch nắm bắt được phần nào nguyên nghĩa của bài thơ:
"Tỏ lòng"
"Múa giáo non sông trải mấy thu"
"Ba quân hùng khí nuốt sao Ngưu"
"Công danh nam tử còn vương nợ"
"Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu"
Tuy dịch giả tinh thâm Hán học chưa gạn lọc, phơi bày đầy đủ kết tinh tối hậu, song vẫn tốt hơn so đa số bản dịch khác - vô tình, do giới hạn của người dịch - làm lệch lạc nguyên nghĩa bài thơ rất đáng tiếc. Câu thứ hai - chính xác hơn tất cả chỉ gói trong ba chữ - thật đơn sơ, nhưng để gọi là "Tỏ lòng" của Phạm Điện súy, e rằng không quá dễ dàng như ta tưởng...
Vâng, ba chữ "khí thôn Ngưu" rất nên cẩn trọng, chính xác hơn trong nghĩa bóng để khỏi phải rơi vào các "diễn nghĩa" tầm thường, dung tục hoá làm oan uổng lập ngôn tác giả mang bản sắc anh hùng. Một nhân tài kiệt xuất mà ngay cả Hưng Đạo vương cũng hết lòng mến thương, cưng quý.
Phạm Điện súy Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão đối với Hưng Đạo vương, đầy đủ bốn tư cách: Thứ nhất, là thuộc tướng dưới quyền, người cộng tác đắc ý nhất, chưa bao giờ thất bại. Thứ hai, người học trò ưu tú thừa hưởng chân truyền học thuật, binh pháp do thánh sư Hưng Đạo vương khổ công tuyển tạo, kẻ vượt trổi toàn vẹn nhất trong hệ phái truyền gia Vạn Kiếp. Thứ ba, mặt quốc gia đại sự đấy là người tài đức nhắm chừng có khả năng gánh vác nhiều hơn hết những gì Hưng Đạo vương phải để lại lúc xa lánh cõi trần. Ngài hết lòng tiến cử đã đành, vua Trần còn thêm phần trân trọng. Thứ tư, trở thành con rể Hưng Đạo vương qua một thủ tục chưa từng có. Một biệt lệ sắp đặt nhằm vượt qua quy luật hoàng tộc đã an bài... Công chúa, quận chúa nhà Trần không được phép phối hôn người khác họ. Hưng Đạo vương đã làm lễ đổi họ cho con gái ruột để biến thành gái nuôi, ngài quyết một lòng có con rể Phạm Ngũ Lão bằng mọi giá - thực chất - không là người cùng họ với hoàng gia.
Tất cả những sự kiện ấy, quá đặc biệt đủ để nói lên tài năng, trí tuệ và công phu học thuật Phạm Ngũ Lão ra sao, tầm cỡ nào? Quả thực không thể chỉ đánh giá ông chung chung "Văn võ song toàn ", loại mà triều đại nhà Trần lúc này không thiếu người thành đạt... Đã có sắp xếp vị trí ông trên cả Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư và chỉ dưới Trần Hưng Đạo mà không ai dị nghị gì, dù đấy chỉ là người xuất thân ngoại tộc.
Văn chương ngày xưa mang tính ước lệ, mượn điển tích và học thuật, tư tưởng phương Đông để cấu thành thi pháp cổ điển. Đấy là việc hiển nhiên, không cách nào khác hơn nắm vững - hoặc tối thiểu đại cương - các điển tích, nhất là học thuật phương Đông trước khi dịch thuật, tuyên thuyết hoặc chê khen định luận... Đó là chưa nói tới tác giả, loại người như Phạm Điện súy ắt văn thơ tư tưởng của ông - dù ít số lượng - còn ẩn tàng dấu vết những học thuật cao đẳng - rất chuyên môn - chỉ các bậc quân sư, danh tướng, hoặc học giả căn cơ "vạn nhân hy hữu" mới mong thành đạt học thuật về Binh pháp, Kỳ môn hoặc Thiên văn quan tượng...
Trở lại với ba chữ "khí thôn Ngưu"... Trước hết, thuật ngữ đầy đủ của chính nó "Khí thôn Ngưu, Đẩu" hoặc có khi "Khí xạ Đẩu, Ngưu" do vần điệu văn thơ đòi hỏi mà người xưa tuỳ nghi sử dụng... Ngay cả bỏ bớt chữ Đẩu như trường hợp bài thơ đang nói, cũng không làm xoá đi gốc chữ. Nhưng Ngưu, Đẩu đến từ đâu? Phải chăng đấy là hai chòm sao đặc biệt? Tại sao Ngưu, Đẩu thường đi đôi trong thuật ngữ thiên văn?
Vòng Hoàng Đạo trên bầu trời chia thành các khoảng cách tương đối không đồng đều, định vị hai tám chòm sao gọi vẫn gọi chung Nhị thập bát tú: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm, Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn. Trong đó vị trí thứ 8 chòm sao Đẩu, và thứ 9 chòm sao Ngưu kế cận, đi đôi. Chúng chủ trì hai "phân dã" trực tiếp liên quan phương đông bắc và đông bắc kiêm bắc, dưới mặt đất tương ứng...
Đế quốc Trung Hoa vẫn tự nhận là "Thiên triều", là "ở giữa tinh hoa toàn nhân loại" vì thế, không lạ gì trong Thiên văn quan tượng - theo hệ quy chiếu của riêng mình - hai phân dã Đẩu, Ngưu của họ trực tiếp liên quan tới "rợ Địch" - một cách gọi trịnh thượng, miệt thị đối với các lân quốc mặt bắc nói chung như Cao Ly (Hàn quốc ngày nay)chẳng hạn...
Cũng với hai chòm sao nầy theo hệ quy chiếu nước ta thì "phân dã " đông bắc và đông bắc kiêm bắc - thật trớ trêu, kỳ thú - tương ứng với ai? Nếu không là cương thổ vĩ đại của "Thiên triều". Khi lấy Kinh thành Thăng Long làm chuẩn đặt vào trung tâm hệ quy chiếu riêng cho nước ta(để sử dụng học thuật Thiên văn quan tượng nhằm liệu định việc quân cơ trong Binh pháp)... Thì phương đông bắc và đông bắc kiêm bắc cũng là địa bàn chính Phạm Ngũ Lão được phân công, từng mấy lần làm Mông Nguyên khiếp đảm.
Ông đặc biệt được triều đình tin tưởng cử trấn thủ biên cương Hoa Việt, nhiệm vụ chặn đường rút và tiêu diệt quân thù. Cũng chính ở phương nầy Lý Quán, Lý Hằng các danh tướng của quân đội viễn chinh đã phải bỏ mạng dưới ngọn giáo kiêu hùng Phạm Điện súy. Hơn thế, Thái tử Thoát Hoan khi rút lui phải đối đầu cánh quân Phạm Ngũ Lão. Kẻ tổng chỉ huy quân xâm lược Mông Nguyên kia đã hai lần thoát chết nhờ chui ống đồng, lần khác cải trang lẫn vào tàn binh vượt biên trốn về "Thiên triều" cố quốc.
Học thuật Thiên văn quan tượng thường sử dụng hai chòm Ngưu, Đẩu để dự đoán vận mệnh anh tài, tướng soái. Án theo góc độ quan sát riêng của một nước, một địa bàn quản hạt rộng lớn... Khi thấy hai sao lu mờ, u ám bất thường do phạm phải ánh sáng sao khác bắn vào, lấn lướt gọi là "Khí xạ Đẩu, Ngưu". Vẫn chưa tệ hại bằng "Khí thôn Ngưu, Đẩu" không những bị lấn lướt lu mờ mà chìm khuất dưới ánh sáng sao khác trùm lên, phủ nuốt. Là lúc dự đoán sự tệ hại ở mức độ kinh hoàng. Anh tài đều tuyệt lộ. Điềm bại binh không cứu vãn.
Hãy đọc lại câu tuyệt bút văn chương, không những thế còn bao hàm một học thuật uyên bác, kinh nhân của Điện súy Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão, học trò yêu quý nhất của thánh sư Trần Quốc Tuấn:
"Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu".
Vâng, quân ta như ánh sao chói lọi làm "Khí thôn Ngưu, Đẩu" - từ lâu vẫn tượng trưng cho hào kiệt, tướng soái "Thiên triều" trên bầu trời kiêu hãnh. Chữ "thôn" - nuốt - trong thôn tính, động từ mà "Thiên triều " chưa bao giờ từ bỏ mộng áp đặt lên sơn hà cõi Việt. Với Phạm Ngũ Lão, cách chơi chữ của ông không còn bình thường như - cuộc chơi - người đời làm thơ để uống rượu tiêu sầu, hoặc thú tài điệu thi nhân lấy văn chương tỏ đôi chút tư tưởng cao xa so mấy người dung tục. Không, ông tuyệt nhiên không đứng vào hạng ấy. Hạng làm thơ dù chuyên môn rồi cũng chỉ để làm thơ.
Không chỉ qua chiến công giữ nước mà thôi, ông còn sử dụng văn chương để hiên ngang lấy lại công bằng. Phạm Ngũ Lão đã trả món nợ chữ "thôn" cho lịch sử Việt Nam, cho tự ái dân tộc và cả cho con cháu, hậu duệ - nhỡ có ai - còn tự ti về một nước Nam bé nhỏ. Với chỉ một bài thơ để lại kia - quá đủ, quá nhiều - giá trị đã tự nói, tự giải nghĩa với đời sau, rằng với ông có nhất thiết cần viết gì thêm nữa?.
25/2/2009
Trần Hạ Tháp
Nguồn: http://chimviet.free.fr/
Theo https://vnthuquan.net/

Hoa tigôn trắng

Hoa tigôn trắng

Trở lại Sông Mao sau ngày Tết thật là buồn và nhớ nhà nên đi bộ về căn nhà tập thể tôi cảm thấy như con đường dài hơn. Đột nhiên khi đến ngã rẽ, thầy Bình trờ xe đạp trước mặt tôi, chìa hai gói bọc bằng giấy báo:
“Đây là hai gói quà Tết anh để dành chờ Lan trở lại để đưa Lan đây. Lan mở gói này ra ăn trước vì thức ăn đã lâu. Còn gói kia thì giữ đến khi nào mở cũng được.”
Dứt lời anh đạp xe thật nhanh không kịp để tôi nói lời nào. Tôi ngờ ngợ nhìn theo dáng anh rồi nhìn hai gói quà. Gói nhỏ hơn thì nặng còn gói mà anh nói lúc nào cũng mở được thì to nhưng nhẹ hơn rất nhiều. Cảm động và háo hức tôi vội bước thật nhanh đến nhà mở cửa rồi đi nhanh lên gác.Vừa cất tập xong tôi nhét gói quà to phồng dưới gầm đầu giường rồi mở gói quà nhỏ ra ngay. Một thanh bánh tét, vài chiếc bánh thuẩn, và số loại mứt gừng dừa xếp gọn trong bọc nhựa. Tất cả dường như được sắp xếp rất cẩn thận trước khi bọc vào trong giấy báo. Mỉm cười tôi đem bánh tét xuống nhà để chia cùng các chị ở tập thể nhưng giữ những món ngọt để dành ăn từ từ.
Những ngày tiếp theo đó, tôi định gặp thầy Bình cảm ơn nhưng anh có vẻ lẫn tránh. Tôi vì bận với những việc dạy dỗ, giáo án, và sinh hoạt các nhân tôi đã quên bẵng luôn. Đến khi những món mứt bánh của thầy Bình đã hết tôi chợt nhớ món quà mà anh dặn khi nào mở cũng được ra để kiếm thức ăn, ăn tiếp. Kéo gói quà từ gầm giường ra, tôi mỉm cười đắc ý vì tin rằng mình sẽ có những món ăn hết sức đặc biệt và thú vị. Thế nhưng khi mở gói giấy ra tôi ngạc nhiên đến sững sờ vì gọn trong các tấm báo là một chùm hoa tigôn màu trắng rất tươi đẹp.
Tôi nhớ có lần thầy Bình hỏi tôi có biết T.T K.H không và tôi trả lời ngay:
“Biết chớ! Lan thích nhất là bài Hai Sắc Hoa Tigôn. Đại khái là Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn. Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn. Nhuộm ánh trăng tà qua mái tóc.Tôi chờ người đến với yêu thương. Phải không?”
Thầy Bình gật đầu:
“Đúng rồi, anh thích đoạn: Người ấy thường hay vuốt tóc tôi, Thở dài trong lúc thấy tôi vui. Bảo rằng hoa giống như tim vỡ. Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi.”
Tôi mỉm cười, giễu:
“Anh Bình thật lãng mạn! Đến giờ còn nghĩ đến thơ T.T.K.H là quá lãng mạn rồi nhưng cái xứ khô cằn sỏi đá như vầy thì lấy đâu ra hoa Tigôn mà kể đến chuyện Hai Sắc Hoa.”
“Thế mà có ngày nào anh sẽ tìm hoa Tigôn cho Lan xem!”
Tôi đã cười trừ cho qua chuyện bởi những cuộc đối thoại với những đấng mày râu như thế thường là những cuộc bàn luận qua loa...
Thế nhưng, bây giờ chùm hoa tigôn trắng đang nằm trong hai bàn tay tôi. Nó không đơn giản là bằng chứng của sự cam chắc mà là một sự trao tặng hết sức trân trọng. Một thoáng bâng khuâng loang trong ý nghĩ của tôi khiến tôi hồi tưởng lại những cử chỉ ân cần của thầy Bình đối với tôi trong những ngày trước đó. Đột nhiên tôi cảm thấy sợ hãi. Sau khi ra trường Cao Đẳng Sư Phạm Nha Trang, tôi đã tình nguyện đăng ký đi dạy xa. Khi đến thị trấn Sông Mao này tôi nghĩ mình đã chôn hết kỷ niệm của những gì thuộc về trước năm 1975. Bây giờ tôi sống trong cái vỏ của một người khác, một người đã mất cả mọi thứ thuộc về tinh thần và nhất là hai chữ tình yêu. Hai năm trong thị trấn hiền hòa Sông Mao này, tôi đã vin vào tình thương dành cho những đứa học trò chân chất để quên những đau buồn tiềm ẩn. Có lúc niềm đau xưa tiềm tàng trong những phút nhớ nhà, nhớ thành phố biển, tôi sợ phải nhận những gì thuộc về tình yêu. Ba ngày nay có lẽ thầy Bình chờ phản ứng của tôi nhưng tôi đã không biết món quà mình có và đã hết sức bình thản như đã từng. Vậy thì tôi tiếp tục giả như tôi chưa từng mở món quà này ra hay đã vô tình tặng cho ai mất rồi.
Năm học mới tôi dời về nhà tập thể mới. Tuy gọi là nhà tập thể nhưng căn nhà này không thuộc Nhà Nước mà là căn nhà trống của mẹ chị Hát, giáo viên cùng trường, cho tôi và cô giáo Hoa, người cùng quê Nha Trang với tôi, ở miễn phí. Giữa năm học cô Hoa lấy chồng, thường về khu tập thể của chồng ở trường khác, tôi thường ở nhà một mình.
Năm đó tôi bị nhức chiếc răng cấm nên quyết định đi đến Phan Rí, nơi căn lầu có bảng quảng cáo thật lớn “Sáu Nhổ Răng Không Đau” để nhờ nha sĩ Sáu nhổ dùm. Nhổ răng về tôi bị sốt, chóng mặt và nhức đầu suốt cả tuần. Đau nặng, tôi không thể lên giường mình trên gác mà nằm trên giường cô giáo Hoa đang bỏ trống. Mê man với cơn sốt, tôi nằm li bì không thể mở mắt ra. Và vì không thể ngồi dậy nên tôi đã để cửa không khóa ngày cũng như đêm. Mê man ngày này sang ngày khác tôi không ăn uống gì.
Khi những tiếng nói của học trò văng vẳng tôi hé mắt ra thì thấy từng tốp học trò cả nam lẫn nữ đang chăm chú nhìn tôi với những cặp mặt lo âu. Nghiêng nhìn sang chiếc ghế xếp được dung làm chiếc bàn nhỏ cạnh giường tôi chập chờn thấy tô cháo, ly nước và vài loại trái cây nhưng tôi không thể nào nói hay làm gì được và tôi thiếp đi.
Đang mê man tôi chợt linh tính có ai đang chăm chú nhìn mình nên tôi mở mắt ra và nhận ra đôi mắt lo âu của thầy Bình. Vẫn thói quen tôi nghiêng đầu về phía cạnh giường. Chiếc ghế xếp kê thành bàn nhỏ không còn bên cạnh và thầy Bình đang ngồi sát cạnh giường tôi. Khoảng cách gần sát khiến tôi chau mày. Tôi và thầy chưa từng có khoảng cách gần như thế nên tôi rất ngại. Tôi muốn nói gì đó nhưng miệng tôi khô khốc và tôi lại thiếp đi.
Khi tiếng nói của ông hiệu phó trường dội vang căn phòng, tôi tỉnh giấc, lồm cồm ngồi dậy tìm hiểu nguyên nhân. Ông cho tôi biết phòng giáo dục đến kiểm tra giáo án trường nên ông phải tìm lấy những cuốn giáo án của tôi để trên tại bàn viết ngay tại đầu giường mà tôi đang nằm để nộp cho ban thanh tra. Ông khuyên tôi đi khám bệnh để xin giấy nghỉ thêm vì sức khỏe tôi khá trầm trọng. Lời khuyên của ông không tác dụng nhưng tin thanh tra khiến tôi lo lắng, tỉnh hẳn.
Hôm sau tôi vẫn còn sốt nhẹ nhưng có thể ngồi dậy được. Để trị chứng sốt và khô miệng, tôi uống nước rất nhiều. Tuy nhiên, tôi không trị được chứng sốt ương bướng này. Thêm vào đó, tôi ho rất nhiều. Khi khạc đàm, thấy máu lợn cợn bên trong tôi tưởng mình bị lao nên chán nản trở lại giường năm lì.
Thầy Bình tới thăm, tôi buồn rầu bảo anh:
“Lan ho mà trong đàm có máu rất nhiều chắc bị ho lao rồi. Người ta nói sốt mà ho có máu là bị lao anh đừng đến đây nhiều mà lây lao thì khổ đó!” Nói xong, cơn sốt làm tôi thiếp đi.
Khi tỉnh lại, tôi thấy vài đứa học trò đứng cạnh giường, hỏi han gì đó. Tôi mơ màng trả lời những điều không rõ rồi thiếp đi. Khi tỉnh lại tôi lại thấy thầy Bình nhìn tôi chăm chú. Tôi muốn nói gì nhưng không nói được. Mắt tôi sụp xuống rồi lại thiếp.
Chập chờn lúc nhắm mắt, lúc mở mắt, có lúc tôi thấy học trò, có lúc tôi thấy thầy Bình với khoảng cách thật gần. Bởi đầu nặng như búa bổ và không nói được tôi thường thiếp đi sau khi mở mắt nhìn mông lung trong giây lát. Tuy nhiên, trong tiềm thức, có lẽ cái khoảng cách giữa tôi và thầy Bình quá gần đã làm tôi sợ đến độ khi tỉnh dậy tôi đã trả lời câu hỏi “Lan thấy thế nào? Đã khỏe chút nào chưa?” bằng câu hỏi “Sao anh Bình đến đây hoài vậy? Học trò hay tới thăm Lan mà Lan nằm như thế này và anh ngồi sát cạnh đây, tụi nó dị nghị tưởng tụi mình có gì thì làm sao?”
Thầy Bình ôn tồn nói:
“Anh nghe Lan ho có triệu chứng lao nên tìm lá (Tên lá gì quên rồi) nấu nước cho Lan uống. Anh chế nước trong bình rồi, có ly nước đây. Nếu uống hết thì Lan ra đàng sau bếp lấy thêm.Vẫn còn nhiều nước trong soong. Thôi giờ anh về.”
Hôm sau tôi hết sốt, đi đứng bình thường nên đến trạm xá khám bệnh cốt để xin giấy chứng nhận nghỉ bệnh. Y sĩ cho biết tôi không có bị lao nhưng bởi nhổ răng máu còn đọng trong cổ nên khi ho, máu vẫn vào đàm. Trùng hợp là tôi có bệnh cúm cùng lúc nên bị sốt, nhức đầu và kiệt sức. Chứng nhận bệnh của trạm xá cho tôi được phép nghỉ thêm nhưng tôi đi làm ngay vì tôi buồn bực về kết quả kiểm tra của phòng giáo dục đối với bộ giáo án của tôi. Họ cho rằng tôi đã nhờ người viết giáo án hộ khi chữ viết của tôi có hai loại hoàn toàn khác nhau: Một ngay ngắn và một fantasy.
Bị đánh giá oan, tôi quá ức nên cằn nhằn với ông hiệu phó trường, đồng thời phụ trách chuyên môn của giáo viên cấp hai: “Tại sao thầy không cho họ biết là tôi ở một mình thì tôi nhờ ai viết? Mà ai có thể soạn thảo được giáo án để cho tôi dạy? Thầy biết tôi là người thế nào, tôi không làm biếng cũng không bao giờ gian dối. Đời nào tôi mượn công người khác để làm việc cho mình mà sao thầy không nói với họ để họ đánh giá bộ giáo án của tôi như vầy?”
Ông hiệu phó trả lời một cách lạnh lùng: “Tôi chẳng bao giờ thấy cô viết chữ viết xiên xẹo, bay bướm như thế này làm sao tôi nói với họ được.”
Tôi im lặng, nghĩ ông nói đúng quá. Chẳng bao giờ ai thấy hay biết tôi viết loại chữ fantasy này. Vì loại chữ này tôi có thể viết nhanh hơn loại chữ tôi thường nên tôi thường ghi nhanh những điều xảy ra trong tập nhật ký trước khi đi ngủ mà thôi. Những ngày bị chiếc răng đau hành, tôi đã dùng loại chữ fantasy để viết cho nhanh. Cho nên, bây giờ mở cuốn giáo án Lịch Sử Lớp 8, tôi còn thấy rõ hai loại chữ hoàn toàn khác nhau. Rõ là tình ngay lý gian và là chứng cớ rõ ràng để ban kiểm tra đánh giá một cách chắn chắn là tôi bị bệnh nên nhờ người khác viết giáo án hộ. Không biết nói gì hơn, tôi đành im lặng với sự oan ức.
Chưa hết cơn buồn, vừa ra khỏi phòng ban giám hiệu, tôi gặp thầy Bình mời dự đám cưới của thầy. Tôi sững sốt không hiểu hư thật nhưng cố tạo vẻ bình thản. Giờ chơi, các giáo viên họp trong phòng giáo viên bàn tán chuyện đám cưới của thầy Bình và hẹn nhau đi dự. Tôi cũng xin tháp tùng theo. Lòng phân vân không rõ tình cảm của đàn ông như thế nào? Tôi chợt nhớ nhánh hoa tigôn trắng năm học vừa qua và nồi thuốc lá chữa bệnh lao mới một tuần trước đó rồi suy nghĩ hoài không hiểu tình cảm của người đàn ông này đối với tôi ra sao? Tình yêu? Tình bạn? hay tình thương hại? Tôi chua chát với ý nghĩ: “Đã muốn yên nên mình tìm đến chỗ khỉ ho cò gáy này, thế mà không được yên!”
Chiều hôm đó tôi đi dự đám cưới thầy Bình với các chị giáo viên cấp 1 ở Hòa Thuận. Cô dâu có khuôn mặt đẹp phúc hậu rất xứng với khuôn mặt điển trai nét lai Pháp của thầy Bình. Vì lần đầu tiên được dự đám cưới ở Chợ Lầu cùng với hầu hết các giáo viên cùng trường Hải Ninh, tôi cảm thấy rất vui. Vui nhất là được thưởng thức những món ăn mà từ khi vào Sông Mao dạy cho đến lúc ấy tôi mới được ăn như vậy.
Một tuần sau, tất các giáo viên trong trường Hải Ninh đều phải đến xã học chính trị. Vì họp vào buổi tối những người đại diện trong Ủy Ban Xã phải dùng đèn dầu cho bàn chủ tịch. Tôi đến trễ, thu mình một góc ngoài sân, cạnh chiếc cửa bên hông của phòng họp. Ánh đèn lù mù không rõ ai là ai. Tôi cảm thấy dễ chịu bởi không muốn ai biết mình ngồi ở đâu; thế nhưng, những cơn ho khan làm tôi khốn khổ cố ngăn lại. Chợt một bàn tay chìa ra trước mặt tôi với một một gói nho nhỏ trong đó. Tiếng nói của của thầy Bình vang lên:
“Lan cất thuốc này uống sẽ hết ho ngay!”
Tôi ngạc nhiên, ngần ngừ, không nói gì và cũng không nhận.
Bàn tay đưa sát tôi hơn:
“Lan nhận đi! Vợ anh làm y tá ở trạm xá có nhiều lắm. Đừng ngại!”
Tôi nhận, cất vào túi và im lặng. Như những người đang im lặng ngồi gần, tôi cố gắng lắng nghe những người trong uỷ ban xã đang nói về vấn đề gì.
Chợt thầy Bình nói:
“Có lẽ Lan không biết anh bị mụt hành chân phải mổ, phải không? Khi anh đến trạm xá được Thanh đang làm y tá tận tình chăm sóc cho anh khiến anh nhớ ngày tìm lá chữa bệnh cho Lan. Thay vì cảm động tình anh, Lan hỏi sao anh tới thăm Lan nhiều lần và còn sợ học trò dị nghị nên anh nghĩ rằng Thanh mới là người thực sự thương anh và xứng đáng là vợ của anh. Vì vậy sau khi chữa lành chân, anh xin cưới Thanh ngay”.
Gật đầu nhè nhẹ tôi nói khẽ:
“Anh quyết định thật đúng vì anh sẽ có hạnh phúc với người thương yêu anh như chị Thanh”.
Nói xong tôi im lặng không nói gì thêm giả như lắng nghe lời phát biểu từ trong phòng. Tôi mắc cỡ bởi biết những người ngồi cạnh đang lắng nghe đối thoại của chúng tôi. Tôi đoán mọi người đang quan sát chúng tôi bởi không chuyện gì mà không biết trong trị trấn Sông Mao nhỏ bé này.
Nhưng… có một chuyện mà mọi người không biết là gói hoa Tigôn anh tặng cho tôi. Tôi không biết thầy Bình hái chùm hoa Tigôn này ở đâu khi bốn năm Sông Mao tôi không bao giờ tìm thấy bụi hoa Tigôn nào.
15/2/2015
Cung Thị Lan 
Theo https://vnthuquan.net/

Chữ Quốc ngữ dưới mắt một nhà cai trị Pháp cuối thế kỷ XIX

Chữ Quốc ngữ dưới mắt 
một nhà cai trị Pháp cuối thế kỷ XIX

Gần một tuần nay không khỏe, không ngồi làm việc được, bèn nhân đó nghỉ ngơi và đọc hết cuốn sách CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC TẠI NAM KỲ CUỐI THẾ KỶ 19 do anh Lại Như Bằng vừa gởi tặng.
Cuốn sách là bản dịch các tập tài liệu: “Tiếng Pháp và Nền Học Chính taị Đông Dương (La langue française et l’enseignement en Indo-chine), gồm những “thông tri” của Etienne Francois Aymonier, Giám đốc Trường Thuộc địa tại Paris được đọc trong hai Hội nghị Thuộc địa tổ chức tại Paris vào hai năm 1889  và 1890, và bài phản biện của Emile Roucoules, hiệu trưởng Trừờng Trung học Chasseloup-Laubat ở Sài Gỏn: “Tiếng Pháp, chữ quốc ngữ và nền học chính tại Đông Dương - trả lời ông Aymonier” (La langue française, le quốc ngữ  et l’enseignement en Indo-chine - Réponse à M. Aymonie,r” và một bài viết khác cũng của Emile Roucoules, “Nghiên cứu về giáo dục công ở Nam Kỳ (Etude sur l’instruction publique en Cochinchine.”  
Chủ đề chính của cuốn sách là về nền học chính (hoặc nền giáo dục) Pháp tại Nam Kỳ, nhưng tôi chỉ quan tâm đến sự phát triển của chữ quốc ngữ trong thời kỳ còn sơ khai, và nhân đây tìm hiểu xem người Pháp đã bắt đầu xoay sở như thế nào  áp đặt nền giáo dục của họ trong giai đoạn đầu của nền đô hộ, khi người cai trị mới đến và người dân bị trị chưa thể giao tiếp được với nhau bằng ngôn ngữ; giữa họ chỉ mới có một dúm chữ viết ký âm tiếng nói của dân bản xứ bằng chữ cái La tinh, là thứ ký tự quen thuộc của người Tây phương.
Tuy cuốn Từ Điển Việt Bồ La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) đã ra đời từ năm 1651, nghĩa là cho đến khi Hải quân đô đốc Pháp Rigault de Genouilly chiếm được thành Gia Định vào năm 1859, tiếng Việt đã được ghi âm bằng chữ cái La Tinh từ hơn hai trăm năm rồi, thế nhưng, cho đến lúc đó thứ chữ viết mới này chưa có tên gọi chính thức và đang còn ở giai đoạn phát triển; hơn nữa nó chỉ mới được một số giáo dân bản xứ sử dụng trong nhà thờ, còn đa số dân chúng nói chung thờ ơ, và giới sĩ phu chống đối và tẩy chay. Loại văn tự “truyền thống” và chính thức lưu hành lúc bấy giờ là chữ Hán và chữ Nôm.
Hai năm sau khi chiếm được Sài Gòn, năm 1861 người Pháp đã mở trường Thông ngôn tại Sài Gòn, đào tạo một số người biết tiếng Pháp để làm việc cho họ. Ngay từ đầu người Pháp muốn dùng chữ Pháp thay thế chữ Hán trong giáo dục từ cấp thấp nhất trong làng xã trở lên. Muốn vậy thì phải mở trường đào tạo ngay từ trong mỗi làng xã. Đây là một chuyện vạn nan. Nhất thời chính phủ Pháp không tìm đâu ra đủ người có trình độ sư phạm cần thiết và có đủ tiền bạc để mở trường mở lớp dạy trẻ em miễn phí trong hàng ngàn xã khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh. (Không những miễn phí mà có lẽ phải có học bổng hậu hĩ thì may ra người ta mới cho con em mình đi học!) Vả lại những ông thầy người Pháp bên mẫu quốc mới qua, không biết một tiếng bản xứ nào, càng không đọc được một chữ Hán hay một chữ Nôm, mà học trò bản xứ cũng ngơ ngác không biết tiếng Tây thì việc dạy dỗ là cực kỳ khó khăn, nếu không nói là hoàn toàn bất khả.
Ngày 15/4/1865, tờ Gia Định Báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên, ra đời tại Sài Gòn, sử dụng chữ viết mới gọi là “chữ Tây quốc ngữ.” Lần đầu tiên chữ quốc ngữ bắt đầu có tên.
Thế là người Pháp sử dụng ngay chữ “Tây quốc ngữ” có sẵn vừa nhanh vừa tiện. Ngày 22/2/1869 Thống đốc Nam Kỳ là Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier, ký nghị định bắt buộc dùng chữ quốc ngữ bằng chữ cái Latinh thay thế chữ Nho trong các công văn của chính quyền ở Nam Kỳ. Từ đây chữ quốc ngữ chính thức có tên gọi này - chữ quốc ngữ.
Ngày 6/4/1878, Thống đốc Nam Kỳ, lần này là Chuẩn đô đốc Louis Charles Georges Jules Lafont, ký Nghị định 82 ấn định “Kể từ mồng một Tháng Giêng năm 1882 tất cả văn kiện chánh thức, nghị định, quyết định, lịnh, án tòa, chỉ thị... sẽ viết, ký tên và công bố bằng chữ Quốc ngữ.
Đó là hai điểm mốc quan trọng và quyết định, thúc đẩy sự phát triển của chữ quốc ngữ.
Nhưng theo Aymonier, đó là một sự sai lầm trong chính sách giáo dục của Pháp áp dụng ở thuộc địa trong thời kỳ mới bình định xong đất Nam Kỳ.
Etienne Francois Aymonier, giám đốc Trường Thuộc địa ở Paris (trường đào tạo nhân viên phục vụ tại các thuộc địa của Pháp), một cựu sĩ quan trong lực lượng viễn chinh Pháp, tốt nghiệp trường Võ bị nổi tiếng Saint Cyr, từng là công sứ pháp tại Nam Kỳ, từng tham gia tiêu diệt phong trào Cần Vượng tại Bình Thuận. Aymonier lấy vợ người Chăm, biết tiếng Chăm, Khmer và tiếng Việt,  
Theo Aymonier, đáng lẽ ngay từ đầu, người Pháp nên cưỡng bách dạy tiếng Pháp cho dân bản xứ, biến người Việt thành người Pháp-Á Đông để sau này dù có được trả chủ quyền người Việt vẫn gắn bó với “mẫu quốc” Pháp. Ông thậm chí chủ trương dạy tiếng pháp “bồi” (mà ông gọi là tiếng Pháp “tóm gọn” - sabir.) cho người bản xứ để nhanh có kết quả “nhằm tạo ra một nước Pháp-Á-Đông gắn bó chặt chẽ với nước Pháp-Âu-Châu bằng một sự hòa đồng tư tưởng và tình cảm, điều kiện duy nhất để nước Pháp có thể trực tiếp thừa hưởng những tiến bộ tương lai của thuộc địa.”(24) (Từ đây, những con số trong ngoặc đơn trong bài viết là số trang trong sách mà những đoạn văn được trích dẫn).  
Thế nhưng các viên toàn quyền trước đó đã sai lầm nghiêm trọng khi ra sức bắt dân An Nam học chữ quốc ngữ trong suốt 30 năm trời, tiêu phí của công quỹ Pháp đến 30 hay 40 triệu franc, mà ngay cả giới “sĩ phu bản xứ” cũng tỏ tra khinh bỉ sâu sắc thứ chữ quốc ngữ này. Aymonier gọi chữ quốc ngữ là chữ An Nam viết bằng chữ cái của Pháp thay vì hoặc chỉ một đôi khi ông chịu gọi là chữ cái La tinh, và ông gọi thứ ngôn ngữ của người Việt là “tiếng An Nam thông tục” (Annamite vulgaire), “một phương tiện rất thô sơ […] cho những ai có ý muốn quảng bá một số ý thông tục thuộc lãnh vực luân lý hay đạo giáo. Nó không cho phep bàn đến những vấn đề sâu sắc hơn, thuộc lãnh vực văn chương hay khoa học.”(56)
Và: “Vốn không có tính cố chấp, tôi sẵn sàng công nhận rằng chữ quốc ngữ là  phương tiện đơn giản, dễ học, người bản xứ có thể tiếp thu nội trong vòng vài tháng. Nhưng tiền nào của đó, công dụng của nó rất giới hạn, Tôi nghĩ không nên cho nó tầm quan trọng vượt quá mức thực thụ của nó, và ta không thể lấy nó làm cơ sở cho nền học chính của cả một dân tộc. (59).
Khoảng thời gian 30 năm là tác giả nói từ năm 1859 khi Đô Đốc Rigault de Genouilly chiếm thành Gia Định, cho đến năm 1889 có các cuộc Hội nghị Thuộc địa này.
Tác giả còn dẫn lời một ông Luro nào có lẽ rất uy tín từng “than tiếc về sự ra đời của chữ quốc ngữ là một thứ cũi sắt chúng ta muốn dùng để giam hãn tri thức của dân An Nam.” (59 – 59)
Rồi tac giả “kết luận và nhắc lại rằng không thể nào đặt cơ sở nền học chính của cả một dân tộc lên trên chữ quốc ngữ.” (61)
Vài mươi trang sau, tác giả khẳng định thêm: “Tiếng An Nam sẽ tiếp tục tồn tại trong điều kiện hiện thời […] nghĩa là tồn tại như một thổ ngữ. Ta đã hé thấy nó sẽ mau chóng tàn lụi đi. Thanh điệu của tiếng nói đã mất đi nét sắc sảo chính xác khi vào đến Nam Kỳ thuộc Pháp. Về lâu dài trong tương lai xa, có lẽ nó sẽ héo tắt đi và chỉ còn lưu lại vài từ trong thứ tiếng Pháp tương lai của xứ này, cũng giống như tiếng nói của dân Guarani đã để lại nhiều từ trong tiếng Bồ Đào Nha được dùng tại xứ Braxin. Chuyện này cũng không hại gì, điều cốt yếu là sau này, cơ sở của tiếng nói [của người An Nam] phải là tiếng Pháp. (82)
Aymonier không nhìn thấy những khó khăn mà những người đi trước ông ta 30 năm trước đã không khắc phục được, bắt buộc họ phải phát triển ngôn ngữ của người bản xứ đáp ứng ngay cho việc cai trị trước mắt. Nhưng ở đây chúng ta chú ý thái độ thực dân kẻ cả và tầm nhìn nông cạn của người Pháp lúc bấy giờ đối với tương lai của chữ quốc ngữ và ngôn ngữ của người Việt. Trong mắt Aymonier tiếng Việt và chữ quốc ngữ chỉ là một thứ sản phẩm tinh thần tầm thường, thông tục, không có giá trị, và sẽ mau chóng lụi tàn.
Có người nhắc Aymonier: “Sau 12 thế kỷ bị Trung Hoa đô hộ, dân bản xứ vẫn nói tiếng An Nam chớ không nói tiếng Hoa.” Aymonier cho rằng tiếng Việt chỉ là một thổ ngữ của tiếng Trung Hoa, như tiếng Quảng Đông, mà tiếng Quan Thoại của Trung Hoa, “một thứ tiếng có khả năng uốn nắn vào khuôn phép đời sống tinh thần của cả một dân tộc hơn những ngôn ngữ khác, vì nó vốn dồi dào hơn, sâu sắc hơn,” đã không thèm đồng hóa; và những ai ủng hộ giải pháp chữ quốc ngữ “để giải Hán hóa Bắc Kỳ” là tự mâu thuẫn, vì “việc giải Hán hóa chỉ có thể thực hiện được bằng tiếng Pháp.” (84)
Aymonier không tin chữ quốc ngữ - một sự kết hợp giữa tiếng nói của người Việt bản địa với hệ thống chữ cái Âu tây mang lại giá trị gì, và ông ta huênh hoang phát biểu: “Tôi cũng sẵn sàng thiếp đi trong năm, sáu thế kỷ để khi tỉnh dậy, nghiên cứu xem sự gặp gỡ giữa tiếng nói thô sơ đó với nền văn minh và chữ viết Âu Tây đưa đến thành quả nào.” (29)
Ngay cả Emile Roucoules, Hiệu trưởng trường Trung học Chasseloup-Laubat, Sài Gòn, người bênh vực giảng dạy chữ quốc ngữ, cũng cho rằng “Không hề có ai nói rằng tiếng An Nam thông tục có thể diễn dịch các lập luận trừu tượng hay khoa học.” (135)
Thời bấy giờ một số lớn sĩ phu người Việt cũng coi thường chữ quốc ngữ như những người Pháp này, và thậm chí họ tẩy chay chữ viết mới, nhưng không phải vì họ có cùng quan niệm với người Pháp. Họ tẩy chay chữ quốc ngữ chỉ vì đó “không phải chữ thánh hiền” và nhất là thứ chữ viết đó do những người Tây phương mang lại: Họ đồng hÓA những gì thuộc về “tây phương” là giặc, là thế lực xâm lăng cướp nước. Thế là phải chống lại. Sự tẩy chay chữ quốc ngữ của giới sĩ phu Nam Kỳ thời đó là do động cơ tinh thần, tình cảm yêu nước, hơn là do ý thức, nhận thức rõ khả năng của chữ quốc ngữ.
Tuy vậy, hơn 40 năm sau những Hội Nghị Thuộc địa này, vẫn có một người Việt đồng ý với quan điểm của các quan chức thực dân Pháp nói trên về ngôn ngữ của người Việt. Trong cuốn sách Vietnamese Tradition on Trail,1920-1945, tác giả David G. Marr kể “Vào tháng chín năm 1931, một chính trị gia lão thành hợp tác với Pháp, là Hồ Duy Kiên, trong một cuộc thảo luận của Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ về giáo dục tiểu học đã nói ngôn ngữ Việt Nam như một thổ ngữ dân tộc tương tự như những thổ ngữ thấy ở các xứ Gascogne, Brittany, Normandy, hay Provence của Pháp”.
Bị dư luận cả nước phản đối, Hồ Duy Kiên giải thích: ngôn ngữ thực sự đáng kể, theo ông, là tiếng Trung Hoa cổ và tiếng Pháp; tiếng Việt thô thiển không đủ dùng. Thậm chí, ông ta đi xa hơn giấc ngủ thiếp sáu thế kỷ của Aumonier, mà đoan chắc rằng năm trăm năm hoặc một ngàn năm sau may ra tiếng Việt được như tiếng Pháp.
Thực ra, không cần phải có thời gian năm, sáu thế kỷ hay một ngàn năm để tiếng Việt và chữ Quốc ngữ chứng tỏ khả năng của mình. Sau thất bại trận Điện Biên Phủ, quân Pháp trên hai miền Việt Nam cuốn cờ về nước. Không lâu sau đó cả hai miền Nam Bắc, hai chính thể Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gạt bỏ tiếng Pháp ra khỏi các chương trình giáo dục mà không gặp một khó khăn hay lấn cấn nào cả. Tiếng Việt và chữ quốc ngữ đã đảm nhận vai trò truyền tải, giao tiếp và trao đổi mọi ý tưởng của người dân trong nước không có trở ngại nào. Cho đến nay, đã không có một vấn đề khoa học cao siêu hóc búa nào không diễn tả được bằng tiếng Việt và chữ Quốc ngữ; không một triết thuyết trừu tượng, lớn lao hay vi tế của một triết gia nào trên thế giới không dịch ra được bằng chữ quốc ngữ.
Ngoài ra, tiếng Pháp cũng không hề bám rễ lâu dài với người dân Việt Nam. Tuy Việt Nam được kể trong khối Francophone (các quốc gia nói tiếng Pháp) nhưng đó chỉ là một thứ “liên minh” liên kết nước bọt mang tính chính trị, chớ cả hai bên cùng biết rõ tiếng Pháp chỉ còn là một sinh ngữ hạng hai ở đất nước này, chớ không phải là thứ ngôn ngữ chính thay thế "tiếng An Nam thông tục" như Aymonier đã tin tưởng.
Aymonier, cũng như mọi con người trên trái đất, đã chết là chết thẳng luôn. Như thế vớt vát phần nào mặt mũi ông ta. Bởi vì, không phải đợi năm, sáu thế kỷ nữa, nếu ngay bây giờ sống dậy, Aymonier ắt phải rất tẽn tò về sự huênh hoang của mình về chữ quốc ngữ vào cuối thế kỷ 19 - mới đây thôi.
17/10/2020
Thiếu Khanh
Theo https://www.vanchuongviet.org/

  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...