Thứ Ba, 1 tháng 2, 2022
Hoa đào năm trước
Nhà Y ở trên đỉnh đồi xưa kia nhìn xuống một thung lũng thật
lớn có tên là Nam Đại Cốc, nhưng nay đã mọc lên những khu nhà ở đông đúc trên đỉnh
đồi lẫn ở dưới chân đồi. Từ ga đi vào nhà Y có hai cách. Hoặc ra khỏi nhà ga, cứ
thế đi dọc theo đường rầy. Bên này đường rầy là đường nhựa rộng đủ hai dòng xe
chạy ngược chiều nhau, nhưng chỉ có một lề đường dành cho người đi bộ sát với
hàng rào ngăn cách đường dành cho xe hơi với đường rầy. Đường rầy chạy càng đến
gần nhà Y càng đi xuống dốc. Đường dành cho xe hơi thì đi dần lên đồi cao, nên
người ta mới phải làm hàng rào cản như trên đường đèo. Bên kia đường rầy là
công viên rất rộng và có lẽ xưa kia cũng là một thung lũng mọc đầy rau cần, nên
mới có tên là Seri ga ya hay Cần Cốc. Đi dọc theo đường rầy về nhà được ngắm cảnh
bốn mùa trong công viên bên kia đường, mùa này có thể nhìn thấy những ngọn cây
hoa anh đào hồng nhạt gần như trắng xóa. Chỉ có điều là vì chỉ có một lề đường
duy nhất dành cho người đi bộ, nên khách bộ hành đi về hướng nào cũng phải đi
cùng trên một vỉa hè.
Xuân Huế giữa thời gian
Xuân Huế giữa thời gian...
Xuân đã thấp thoáng sau nhiều tháng thu đông đằng đẵng. Giả từ
bão lụt, Huế chờ đợi những giọt nắng nguyên sơ trên cánh cổng 2008. Một mệnh đề
mới về thời gian đang rộng mở. Đây cũng là lúc thích hợp để chuẩn bị nhiều hứa
hẹn mới với tương lai. Sắc xanh vừa trở lại trên từng ngọn cỏ úa trong vườn.
Đâu đó... Hoàng mai đã bắt đầu nhú búp.
Vượt qua hệ quy chiếu ba chiều nguyên thủy, Einsten trực nhận
về kích chiều thứ tư của vũ trụ. Chiều thời gian. Vật lý và thi ca tìm thấy tiếng
nói chung từ đó...Bất chấp tất cả, xuân hạ thu đông vẫn tuần tự xoay vần để thời
gian vẫn là điệp khúc bốn mùa miên viễn. Thiên hà ngôn tai. Tứ thời hành yên.
Thiên hà ngôn tai. Khổng Tử khi san định Kinh Dịch, ông đã ngạc nhiên, bừng
tĩnh: "Trời có nói gì đâu! Bốn mùa vẫn cứ xoay vần đúng độ. Trời có nói gì
đâu". Vâng, trong muôn vàn biến dịch vẫn có điều bất biến. Giữa trăm ngàn
lẽ động luôn tồn tại mặt tĩnh ẩn tàng. Thời gian là chân lý của mọi chân lý. Là
kẻ đóng dấu lên tất cả để khẳng định sự ấn chứng sau cùng.
Khí xuân làm cỏ cây nảy nở. Tự nhiên con người cũng tâm sự,
giao tiếp nhiều hơn. Ăn nên đọi, nói nên điều. Có người quân tử khăn điều vắt
vai.
Không biết từ bao giờ - qua những câu thường đàm, thành ngữ -
phạm trù thời gian đi vào tâm thức Huế bằng những hình thái đặc thù, đa diện. Ẩn
dưới từng câu nói đơn giản, khi hiểu theo cung cách Huế, là bóng dáng trầm mặc
của một phần văn hoá nơi đây...
Ra năm, ngày rộng tháng dài. Vâng, câu nói đầu xuân còn có
nghĩa ngoài chiều dài, thời gian ở đây còn có thêm chiều rộng. Thật lạ lùng, dù
chỉ tồn tại qua cảm nhận song thứ chiều rộng ấy chưa hẳn đã quá hoang đường, xa
lạ. Thời gian sắp đến của năm mới bao giờ cũng dài, rộng và thênh thang hơn dẫu
tháng năm chẳng có gì thay đổi.
Quả thực Huế trong mùa mưa, bầu trời thấp xuống và không gian
cô đặc, nhỏ hẹp đến bất ngờ. Mỗi một bức trường thành cứ tưởng như dày dặn hơn,
hoá hiện những bức tường mưa chất ngất. Bây giờ, khi mà nắng mới đã giao mùa.
Ngàn mây trắng thênh thang lơ lững. Là lúc Huế chợt rộng ra trên mặt thoáng của
sông dài. Màu xanh lam bóng núi hiện hình tận chân trời khói toả...
Sự "co giãn không gian" Huế theo mùa, tiết trong
năm luôn là nguyên nhân gây cảm xúc bâng khuâng đầy bất ngờ, xa vắng. Điều ấy cắt
nghĩa vì sao Huế gần gũi với thi ca? Ngày nay, nhịp sống nền văn minh đô thị
đang dần chiếm hữu những khoảng không gian thi ca ấy...
Câu thành ngữ hàm chứa biết bao hy vọng, dự kiến được gửi gắm
ở ngày mai. Mặt khác, giúp con người đánh giá lại, ngầm nhắc nhở nhau về hiện
thực. Trong đó có triết lý lạc quan hướng về tương lai nhưng không hề ảo vọng.
Triết lý ấy luôn cho thấy, chấp nhận hiện thực và công nhận hiện thực là hai mệnh
đề chưa bao giờ đồng nghĩa. Phải chăng tiến bộ của văn minh nhân loại cũng đã
và đang được xây dựng ngay trên nền tảng ấy. Kỳ lạ thay một trong những thuộc
tính nổi bật của văn minh nhân loại là phục chế và bảo lưu tối đa những nền văn
minh xưa cũ! Hồi ức quá khứ bỗng nhiên được trân trọng sánh ngang hàng bảo vật.
Đó là thứ "quặng mỏ tinh thần" vô giá.
Sông có khúc, người có lúc thành ngữ so sánh các thời kỳ đột
biến của đời người không mấy khác sự biến động phức tạp một dòng sông. Mặc
nhiên, dòng sông còn biểu tượng cho dòng chảy của thời gian, dòng sống hay mệnh
vận của con người. Hương giang trầm lắng, xanh trong như hôm nào. Những hình ảnh
cuồng nộ mới đâu đây hoàn toàn biến mất như chuyện kể một giấc mơ. Từng chiếc
thuyền rồng tiếp tục cuộc tuần du của những khách viễn phương. Đứng ở Nghinh
Lương đình, chùa Thiên Mụ bất cứ lúc nào có thể nhìn thấy nhiều quý khách
phương Tây tất bật chỉa ống kính thu hình lên hai bờ cây lá. Hình ảnh Kinh
thành Huế xanh rêu, lặng lẽ kia vẫn không ngừng đổ bóng xa hơn, đậm hơn lên
trong lòng nhân loại...
Nhìn dòng chảy trôi đi...Ta cảm nhận được lẽ huyền vi của tạo
hoá. Thoắt có thoắt không, trong không gian tĩnh lặng mơ hồ có tiếng vọng từ nội
tâm sâu thẳm. Ngôn ngữ của thời gian. Là hồi ức ban sơ cùng kỷ niệm của đời người...Phải
chăng sau tất cả biến động thăng trầm, con người Huế vẫn luôn cố lắng nghe âm
vang muôn đời trong đất đai, thành quách. Tiếng vọng của mùa xuân. Mọi thứ có
thể sẽ nhạt nhòa song tiếng vọng ấy vẫn muôn đời tồn tại. Tiếng vọng vượt thời
gian, mang tần số của nhịp tim người xa Huế...
Chuyện từ đời tù huy, tù huýt. Là chuyện đã lùi sâu vào quá
khứ...Khi mà mọi gợi tưởng đã không còn cầm chắc như gợi tưởng về âm thanh một
đồ chơi ấu thơ thuở trước. Con tu huýt nặn bằng đất sét quê hương. Độ lùi của
thời gian bây giờ được thông qua mã số một âm thanh kỳ thú, huyền hồ.
Huế còn nhiều chợ quê nhưng đã dần thiếu vắng đi con tò he,
những chiếc còi tu huýt hoặc trống giấy lung tung màu đỏ, xanh hàng mã. Chẳng
khác gì tuổi ấu thơ đã qua... Chúng cũng một đi không trở lại. Còn lại những gì?
Nhan nhản một đại dương đồ chơi vô cảm. Những thứ được cơ điện hóa, mang thông
điệp "ngoại hành tinh viễn tưởng", xa lạ hẳn với con người. Tuổi thơ
hôm nay rất thiếu ân cần với thiên nhiên ngay nơi chốn giàu có thiên nhiên như
Huế. Mãi đến khi lớn lên, cầm chắc chẳng có ai trong trẻ thơ hôm nay phải bồi hồi
nhắc lại từng trò game điện tử? Nhưng chính lúc ấy chúng sẽ không còn kinh ngạc
vì sao người lớn luôn say sưa kể lại chuyện tát cá, tìm chim...Về các thú vui
hoa niên ở tận những miền quê, xa điện đường đô thị.
Gạo tháng giêng, tiền tháng chạp. Trong mỗi cuối năm, khi các
bà mẹ Huế gặp gỡ nhau, câu chuyện mua sắm rất có thể sẽ bắt đầu qua câu tâm sự ấy.
Bão lụt, mưa gió thất thường trong nhiều tháng thu đông khiến lúa gạo luôn trở
thành mối ưu tư khi trời quang, mây tạnh. Mùa lúa mới hãy còn xa, chờ gieo mạ...Nước
vẫn trắng mênh mông trên những cánh đồng dọc thôn trang heo hút. Người Huế lo
giỗ tết gia tiên giữa thời khắc đầy nghiệt ngã trong năm. Ít ai hiểu, khi vất vả
làm cúi khói, lọi lưng là lúc nhà nông yên tâm không còn lo thiếu đói, mất mùa.
Lọi lưng nhưng vui vì đòn xóc nặng trĩu lúa vàng nhờ gặt hái xum xuê. Cúi khói
hay đầy nhà rạ rơm để ngày ngày bếp lửa vẫn có người cúi lưng thổi khói lam chiều.
Vâng, từ thời điểm tháng bảy, nước dẫy lên bờ người Huế làng quê đành bó gối,
khoanh tay vì bão lụt tràn qua...
Để có được nụ cười và hơi ấm gia đình, bây giờ hoa trái của
nương vườn trở thành niềm cứu rỗi...Mới hay rằng, vườn Huế ngoài khung cảnh trầm
mặc thanh nhàn kia, còn chất chứa thứ tình cảm sâu đậm không thể nói nên lời. Với
người Huế, chẳng phải ngạc nhiên khi phải rời bỏ gia nương (nhà, vườn) là cả một
chia lìa đau xót Gia nương lút cút mẹ già. Bên tê sông chàng đợi, thiếp theo
qua răng đành. Và vì thế, khi bước đi lấy chồng người con gái Huế ngày xưa, chỉ
ước mơ thực tế Thì thôi, trăm đỉnh ngàn chung...
Chi bằng hai chữ gia nương bên chồng.
Khúc ruột miền Trung thắt lại thành chiếc eo mềm dịu. Gợi tưởng
hình ảnh đầy cảm xúc những người phụ nữ giỏi giang, chịu đựng. Phụ nữ Huế một đời
tần tảo nắng mưa Những người thắt đáy lưng ong. Đã giỏi chìu chồng lại khéo
nuôi con Đời sống gia đình Huế qua muôn ngàn cuộc bể dâu, nhờ thế vẫn giữ được
nếp riêng, rất ít khi phải xô bồ giao động.
Một mùa xuân mới bắt đầu. Tất cả đặt hy vọng vào những tháng
ngày rộng mở. Ai cũng nguyện thầm may mắn. Gặp may xưa là cách nói khiêm nhường
của những người đang được điều may mắn. Cũng có nghĩa, nhờ vào phước đức của
cha ông từ xa xưa để lại. Riêng bản thân, không hẳn đã tài giỏi hơn những người
chưa dự phần may mắn...
Khi đã rạch ròi câu chữ, ta không còn nhìn thấy ở đây một lý
lẽ thần quyền nào như những người chưa thấm nhuần tâm thức Huế. Vượt lên trên
còn cho thấy, ở đây còn một niềm tin mãnh liệt vào đạo đức xử thế. Niềm tin vào
lẽ phải của con người. Sự kính ngưỡng tổ tiên và không quên quá khứ.
Người Huế - nhất là trong những dịp Tết đến, xuân về - trân
trọng sự gặp gỡ hai hạng người đặc biệt... Hoặc tượng trưng cho hồn nhiên dễ mến
của trẻ thơ, hoặc tử tế hiền lành như những bô lão vui cười dễ tính. Những hạng
người ấy vô hại không tiểu tâm, thường đem an lành cho kẻ khác. Sự lựa chọn thật
đơn giản, không mảy may đề cao vật chất danh uy... Nhưng đấy lại là biểu tượng
đích thực nhất của đạo đức dân gian. Thứ đạo đức vô cùng cụ thể chẳng cần đợi
nghi lễ cao xa hoặc triết luận đưa con người vào hư văn, mê tự...
Cũng từ đó Gặp may xưa với quan niệm người Huế - trước hết và
trên hết - phải là gặp gỡ những cái Tâm an lành theo ngữ nghĩa bình dân... Như một
lời chào "rất Huế" xin hãy chúc may xưa khi gặp nhau trên ngưỡng cửa
mùa Xuân.
10/1/2008Trần Hạ ThápNguồn: Chimvietcanhnam. free/
Hãy tìm lại "Khí thôn Ngưu" trong bài thơ của Phạm Ngũ Lão
Hãy tìm lại "Khí thôn Ngưu"
trong bài thơ của Phạm
Ngũ Lão
"Thuật hoài" của Điện súy Thượng tướng quân Phạm
Ngũ Lão. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt - như một Anh hùng ca - mãi mãi còn vang
danh sử Việt. Đời sau cảm nhận được tráng chí chói trời Nam, một thuở hào hùng
đầy "Khí thôn Ngưu, Đẩu":
"Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu"
"Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu"
"Nam nhi vị liễu công danh trái"
"Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu"
Học giả Trần Trọng Kim đã để lại bản dịch nắm bắt được phần
nào nguyên nghĩa của bài thơ:
"Tỏ lòng"
"Múa giáo non sông trải mấy thu"
"Ba quân hùng khí nuốt sao Ngưu"
"Công danh nam tử còn vương nợ"
"Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu"
Tuy dịch giả tinh thâm Hán học chưa gạn lọc, phơi bày đầy đủ
kết tinh tối hậu, song vẫn tốt hơn so đa số bản dịch khác - vô tình, do giới hạn
của người dịch - làm lệch lạc nguyên nghĩa bài thơ rất đáng tiếc. Câu thứ hai -
chính xác hơn tất cả chỉ gói trong ba chữ - thật đơn sơ, nhưng để gọi là "Tỏ lòng" của
Phạm Điện súy, e rằng không quá dễ dàng như ta tưởng...
Vâng, ba chữ "khí thôn Ngưu" rất nên cẩn
trọng, chính xác hơn trong nghĩa bóng để khỏi phải rơi vào các "diễn
nghĩa" tầm thường, dung tục hoá làm oan uổng lập ngôn tác giả mang bản sắc
anh hùng. Một nhân tài kiệt xuất mà ngay cả Hưng Đạo vương cũng hết lòng mến
thương, cưng quý.
Phạm Điện súy Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão đối với Hưng Đạo
vương, đầy đủ bốn tư cách: Thứ nhất, là thuộc tướng dưới quyền, người cộng tác
đắc ý nhất, chưa bao giờ thất bại. Thứ hai, người học trò ưu tú thừa hưởng chân
truyền học thuật, binh pháp do thánh sư Hưng Đạo vương khổ công tuyển tạo, kẻ
vượt trổi toàn vẹn nhất trong hệ phái truyền gia Vạn Kiếp. Thứ ba, mặt quốc gia
đại sự đấy là người tài đức nhắm chừng có khả năng gánh vác nhiều hơn hết những
gì Hưng Đạo vương phải để lại lúc xa lánh cõi trần. Ngài hết lòng tiến cử đã
đành, vua Trần còn thêm phần trân trọng. Thứ tư, trở thành con rể Hưng Đạo
vương qua một thủ tục chưa từng có. Một biệt lệ sắp đặt nhằm vượt qua quy luật
hoàng tộc đã an bài... Công chúa, quận chúa nhà Trần không được phép phối hôn
người khác họ. Hưng Đạo vương đã làm lễ đổi họ cho con gái ruột để biến thành
gái nuôi, ngài quyết một lòng có con rể Phạm Ngũ Lão bằng mọi giá - thực chất -
không là người cùng họ với hoàng gia.
Tất cả những sự kiện ấy, quá đặc biệt đủ để nói lên tài năng,
trí tuệ và công phu học thuật Phạm Ngũ Lão ra sao, tầm cỡ nào? Quả thực không
thể chỉ đánh giá ông chung chung "Văn võ song toàn ", loại mà triều đại
nhà Trần lúc này không thiếu người thành đạt... Đã có sắp xếp vị trí ông trên cả
Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư và chỉ dưới Trần Hưng Đạo mà không ai dị nghị gì,
dù đấy chỉ là người xuất thân ngoại tộc.
Văn chương ngày xưa mang tính ước lệ, mượn điển tích và học
thuật, tư tưởng phương Đông để cấu thành thi pháp cổ điển. Đấy là việc hiển
nhiên, không cách nào khác hơn nắm vững - hoặc tối thiểu đại cương - các điển
tích, nhất là học thuật phương Đông trước khi dịch thuật, tuyên thuyết hoặc chê
khen định luận... Đó là chưa nói tới tác giả, loại người như Phạm Điện súy ắt
văn thơ tư tưởng của ông - dù ít số lượng - còn ẩn tàng dấu vết những học thuật
cao đẳng - rất chuyên môn - chỉ các bậc quân sư, danh tướng, hoặc học giả căn
cơ "vạn nhân hy hữu" mới mong thành đạt học thuật về Binh pháp, Kỳ
môn hoặc Thiên văn quan tượng...
Trở lại với ba chữ "khí thôn Ngưu"... Trước
hết, thuật ngữ đầy đủ của chính nó "Khí thôn Ngưu, Đẩu" hoặc có khi
"Khí xạ Đẩu, Ngưu" do vần điệu văn thơ đòi hỏi mà người xưa tuỳ nghi
sử dụng... Ngay cả bỏ bớt chữ Đẩu như trường hợp bài thơ đang nói, cũng không
làm xoá đi gốc chữ. Nhưng Ngưu, Đẩu đến từ đâu? Phải chăng đấy là hai chòm sao
đặc biệt? Tại sao Ngưu, Đẩu thường đi đôi trong thuật ngữ thiên văn?
Vòng Hoàng Đạo trên bầu trời chia thành các khoảng cách tương
đối không đồng đều, định vị hai tám chòm sao gọi vẫn gọi chung Nhị thập
bát tú: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất,
Bích, Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm, Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực,
Chẩn. Trong đó vị trí thứ 8 chòm sao Đẩu, và thứ 9 chòm sao Ngưu kế cận, đi
đôi. Chúng chủ trì hai "phân dã" trực tiếp liên quan phương đông bắc
và đông bắc kiêm bắc, dưới mặt đất tương ứng...
Đế quốc Trung Hoa vẫn tự nhận là "Thiên triều", là
"ở giữa tinh hoa toàn nhân loại" vì thế, không lạ gì trong Thiên văn
quan tượng - theo hệ quy chiếu của riêng mình - hai phân dã Đẩu, Ngưu của họ trực
tiếp liên quan tới "rợ Địch" - một cách gọi trịnh thượng, miệt thị đối
với các lân quốc mặt bắc nói chung như Cao Ly (Hàn quốc ngày nay)chẳng hạn...
Cũng với hai chòm sao nầy theo hệ quy chiếu nước ta thì
"phân dã " đông bắc và đông bắc kiêm bắc - thật trớ trêu, kỳ thú -
tương ứng với ai? Nếu không là cương thổ vĩ đại của "Thiên triều".
Khi lấy Kinh thành Thăng Long làm chuẩn đặt vào trung tâm hệ quy chiếu riêng
cho nước ta(để sử dụng học thuật Thiên văn quan tượng nhằm liệu định việc quân
cơ trong Binh pháp)... Thì phương đông bắc và đông bắc kiêm bắc cũng là địa bàn
chính Phạm Ngũ Lão được phân công, từng mấy lần làm Mông Nguyên khiếp đảm.
Ông đặc biệt được triều đình tin tưởng cử trấn thủ biên cương
Hoa Việt, nhiệm vụ chặn đường rút và tiêu diệt quân thù. Cũng chính ở phương nầy
Lý Quán, Lý Hằng các danh tướng của quân đội viễn chinh đã phải bỏ mạng dưới ngọn
giáo kiêu hùng Phạm Điện súy. Hơn thế, Thái tử Thoát Hoan khi rút lui phải đối
đầu cánh quân Phạm Ngũ Lão. Kẻ tổng chỉ huy quân xâm lược Mông Nguyên kia đã
hai lần thoát chết nhờ chui ống đồng, lần khác cải trang lẫn vào tàn binh vượt
biên trốn về "Thiên triều" cố quốc.
Học thuật Thiên văn quan tượng thường sử dụng hai chòm Ngưu,
Đẩu để dự đoán vận mệnh anh tài, tướng soái. Án theo góc độ quan sát riêng của
một nước, một địa bàn quản hạt rộng lớn... Khi thấy hai sao lu mờ, u ám bất thường
do phạm phải ánh sáng sao khác bắn vào, lấn lướt gọi là "Khí xạ
Đẩu, Ngưu". Vẫn chưa tệ hại bằng "Khí thôn Ngưu, Đẩu" không
những bị lấn lướt lu mờ mà chìm khuất dưới ánh sáng sao khác trùm lên, phủ
nuốt. Là lúc dự đoán sự tệ hại ở mức độ kinh hoàng. Anh tài đều tuyệt lộ.
Điềm bại binh không cứu vãn.
Hãy đọc lại câu tuyệt bút văn chương, không những thế còn bao
hàm một học thuật uyên bác, kinh nhân của Điện súy Thượng tướng quân Phạm Ngũ
Lão, học trò yêu quý nhất của thánh sư Trần Quốc Tuấn:
"Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu".
Vâng, quân ta như ánh sao chói lọi làm "Khí thôn Ngưu, Đẩu"
- từ lâu vẫn tượng trưng cho hào kiệt, tướng soái "Thiên triều" trên
bầu trời kiêu hãnh. Chữ "thôn" - nuốt - trong thôn
tính, động từ mà "Thiên triều " chưa bao giờ từ bỏ mộng áp đặt lên
sơn hà cõi Việt. Với Phạm Ngũ Lão, cách chơi chữ của ông không còn bình thường
như - cuộc chơi - người đời làm thơ để uống rượu tiêu sầu, hoặc thú tài điệu thi
nhân lấy văn chương tỏ đôi chút tư tưởng cao xa so mấy người dung tục. Không,
ông tuyệt nhiên không đứng vào hạng ấy. Hạng làm thơ dù chuyên môn rồi cũng chỉ
để làm thơ.
Không chỉ qua chiến công giữ nước mà thôi, ông còn sử dụng
văn chương để hiên ngang lấy lại công bằng. Phạm Ngũ Lão đã trả món nợ chữ "thôn" cho
lịch sử Việt Nam, cho tự ái dân tộc và cả cho con cháu, hậu duệ - nhỡ có ai -
còn tự ti về một nước Nam bé nhỏ. Với chỉ một bài thơ để lại kia - quá đủ, quá
nhiều - giá trị đã tự nói, tự giải nghĩa với đời sau, rằng với ông có nhất thiết
cần viết gì thêm nữa?.
25/2/2009Trần Hạ ThápNguồn: http://chimviet.free.fr/
Hoa tigôn trắng
Hoa tigôn trắng
Trở lại
Sông Mao sau ngày Tết thật là buồn và nhớ nhà nên đi bộ về căn nhà tập thể tôi
cảm thấy như con đường dài hơn. Đột nhiên khi đến ngã rẽ, thầy Bình trờ xe đạp
trước mặt tôi, chìa hai gói bọc bằng giấy báo:
“Đây là hai gói quà Tết anh để dành chờ Lan trở lại để đưa
Lan đây. Lan mở gói này ra ăn trước vì thức ăn đã lâu. Còn gói kia thì giữ đến
khi nào mở cũng được.”
Dứt lời anh đạp xe thật nhanh không kịp để tôi nói lời nào.
Tôi ngờ ngợ nhìn theo dáng anh rồi nhìn hai gói quà. Gói nhỏ hơn thì nặng còn gói
mà anh nói lúc nào cũng mở được thì to nhưng nhẹ hơn rất nhiều. Cảm động và háo
hức tôi vội bước thật nhanh đến nhà mở cửa rồi đi nhanh lên gác.Vừa cất tập
xong tôi nhét gói quà to phồng dưới gầm đầu giường rồi mở gói quà nhỏ ra ngay.
Một thanh bánh tét, vài chiếc bánh thuẩn, và số loại mứt gừng dừa xếp gọn trong
bọc nhựa. Tất cả dường như được sắp xếp rất cẩn thận trước khi bọc vào trong giấy
báo. Mỉm cười tôi đem bánh tét xuống nhà để chia cùng các chị ở tập thể nhưng
giữ những món ngọt để dành ăn từ từ.
Những ngày tiếp theo đó, tôi định gặp thầy Bình cảm ơn nhưng
anh có vẻ lẫn tránh. Tôi vì bận với những việc dạy dỗ, giáo án, và sinh hoạt
các nhân tôi đã quên bẵng luôn. Đến khi những món mứt bánh của thầy Bình đã hết
tôi chợt nhớ món quà mà anh dặn khi nào mở cũng được ra để kiếm thức ăn, ăn tiếp.
Kéo gói quà từ gầm giường ra, tôi mỉm cười đắc ý vì tin rằng mình sẽ có những
món ăn hết sức đặc biệt và thú vị. Thế nhưng khi mở gói giấy ra tôi ngạc nhiên
đến sững sờ vì gọn trong các tấm báo là một chùm hoa tigôn màu trắng rất tươi đẹp.
Tôi nhớ có lần thầy Bình hỏi tôi có biết T.T K.H không và tôi
trả lời ngay:
“Biết chớ! Lan thích nhất là bài Hai Sắc Hoa Tigôn. Đại khái
là Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn. Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn. Nhuộm
ánh trăng tà qua mái tóc.Tôi chờ người đến với yêu thương. Phải không?”
Thầy Bình gật đầu:
“Đúng rồi, anh thích đoạn: Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài trong lúc thấy tôi vui. Bảo rằng hoa giống như tim vỡ. Anh sợ tình ta
cũng vỡ thôi.”
Tôi mỉm cười, giễu:
“Anh Bình thật lãng mạn! Đến giờ còn nghĩ đến thơ T.T.K.H là
quá lãng mạn rồi nhưng cái xứ khô cằn sỏi đá như vầy thì lấy đâu ra hoa Tigôn
mà kể đến chuyện Hai Sắc Hoa.”
“Thế mà có ngày nào anh sẽ tìm hoa Tigôn cho Lan xem!”
Tôi đã cười trừ cho qua chuyện bởi những cuộc đối thoại với
những đấng mày râu như thế thường là những cuộc bàn luận qua loa...
Thế nhưng, bây giờ chùm hoa tigôn trắng đang nằm trong hai
bàn tay tôi. Nó không đơn giản là bằng chứng của sự cam chắc mà là một sự trao
tặng hết sức trân trọng. Một thoáng bâng khuâng loang trong ý nghĩ của tôi khiến
tôi hồi tưởng lại những cử chỉ ân cần của thầy Bình đối với tôi trong những
ngày trước đó. Đột nhiên tôi cảm thấy sợ hãi. Sau khi ra trường Cao Đẳng Sư Phạm
Nha Trang, tôi đã tình nguyện đăng ký đi dạy xa. Khi đến thị trấn Sông Mao này
tôi nghĩ mình đã chôn hết kỷ niệm của những gì thuộc về trước năm 1975. Bây giờ
tôi sống trong cái vỏ của một người khác, một người đã mất cả mọi thứ thuộc về
tinh thần và nhất là hai chữ tình yêu. Hai năm trong thị trấn hiền hòa Sông Mao
này, tôi đã vin vào tình thương dành cho những đứa học trò chân chất để quên những
đau buồn tiềm ẩn. Có lúc niềm đau xưa tiềm tàng trong những phút nhớ nhà, nhớ
thành phố biển, tôi sợ phải nhận những gì thuộc về tình yêu. Ba ngày nay có lẽ
thầy Bình chờ phản ứng của tôi nhưng tôi đã không biết món quà mình có và đã hết
sức bình thản như đã từng. Vậy thì tôi tiếp tục giả như tôi chưa từng mở món
quà này ra hay đã vô tình tặng cho ai mất rồi.
Năm học mới tôi dời về nhà tập thể mới. Tuy gọi là nhà tập thể
nhưng căn nhà này không thuộc Nhà Nước mà là căn nhà trống của mẹ chị Hát, giáo
viên cùng trường, cho tôi và cô giáo Hoa, người cùng quê Nha Trang với tôi, ở
miễn phí. Giữa năm học cô Hoa lấy chồng, thường về khu tập thể của chồng ở trường
khác, tôi thường ở nhà một mình.
Năm đó tôi bị nhức chiếc răng cấm nên quyết định đi đến Phan
Rí, nơi căn lầu có bảng quảng cáo thật lớn “Sáu Nhổ Răng Không Đau” để nhờ nha
sĩ Sáu nhổ dùm. Nhổ răng về tôi bị sốt, chóng mặt và nhức đầu suốt cả tuần. Đau
nặng, tôi không thể lên giường mình trên gác mà nằm trên giường cô giáo Hoa
đang bỏ trống. Mê man với cơn sốt, tôi nằm li bì không thể mở mắt ra. Và vì
không thể ngồi dậy nên tôi đã để cửa không khóa ngày cũng như đêm. Mê man ngày
này sang ngày khác tôi không ăn uống gì.
Khi những tiếng nói của học trò văng vẳng tôi hé mắt ra thì
thấy từng tốp học trò cả nam lẫn nữ đang chăm chú nhìn tôi với những cặp mặt lo
âu. Nghiêng nhìn sang chiếc ghế xếp được dung làm chiếc bàn nhỏ cạnh giường tôi
chập chờn thấy tô cháo, ly nước và vài loại trái cây nhưng tôi không thể nào
nói hay làm gì được và tôi thiếp đi.
Đang mê man tôi chợt linh tính có ai đang chăm chú nhìn mình
nên tôi mở mắt ra và nhận ra đôi mắt lo âu của thầy Bình. Vẫn thói quen tôi
nghiêng đầu về phía cạnh giường. Chiếc ghế xếp kê thành bàn nhỏ không còn bên cạnh
và thầy Bình đang ngồi sát cạnh giường tôi. Khoảng cách gần sát khiến tôi chau
mày. Tôi và thầy chưa từng có khoảng cách gần như thế nên tôi rất ngại. Tôi muốn
nói gì đó nhưng miệng tôi khô khốc và tôi lại thiếp đi.
Khi tiếng nói của ông hiệu phó trường dội vang căn phòng, tôi
tỉnh giấc, lồm cồm ngồi dậy tìm hiểu nguyên nhân. Ông cho tôi biết phòng giáo dục
đến kiểm tra giáo án trường nên ông phải tìm lấy những cuốn giáo án của tôi để
trên tại bàn viết ngay tại đầu giường mà tôi đang nằm để nộp cho ban thanh tra.
Ông khuyên tôi đi khám bệnh để xin giấy nghỉ thêm vì sức khỏe tôi khá trầm trọng.
Lời khuyên của ông không tác dụng nhưng tin thanh tra khiến tôi lo lắng, tỉnh hẳn.
Hôm sau tôi vẫn còn sốt nhẹ nhưng có thể ngồi dậy được. Để trị
chứng sốt và khô miệng, tôi uống nước rất nhiều. Tuy nhiên, tôi không trị được
chứng sốt ương bướng này. Thêm vào đó, tôi ho rất nhiều. Khi khạc đàm, thấy máu
lợn cợn bên trong tôi tưởng mình bị lao nên chán nản trở lại giường năm lì.
Thầy Bình tới thăm, tôi buồn rầu bảo anh:
“Lan ho mà trong đàm có máu rất nhiều chắc bị ho lao rồi. Người
ta nói sốt mà ho có máu là bị lao anh đừng đến đây nhiều mà lây lao thì khổ
đó!” Nói xong, cơn sốt làm tôi thiếp đi.
Khi tỉnh lại, tôi thấy vài đứa học trò đứng cạnh giường, hỏi
han gì đó. Tôi mơ màng trả lời những điều không rõ rồi thiếp đi. Khi tỉnh lại
tôi lại thấy thầy Bình nhìn tôi chăm chú. Tôi muốn nói gì nhưng không nói được.
Mắt tôi sụp xuống rồi lại thiếp.
Chập chờn lúc nhắm mắt, lúc mở mắt, có lúc tôi thấy học trò,
có lúc tôi thấy thầy Bình với khoảng cách thật gần. Bởi đầu nặng như búa bổ và
không nói được tôi thường thiếp đi sau khi mở mắt nhìn mông lung trong giây
lát. Tuy nhiên, trong tiềm thức, có lẽ cái khoảng cách giữa tôi và thầy Bình
quá gần đã làm tôi sợ đến độ khi tỉnh dậy tôi đã trả lời câu hỏi “Lan thấy thế
nào? Đã khỏe chút nào chưa?” bằng câu hỏi “Sao anh Bình đến đây hoài vậy? Học
trò hay tới thăm Lan mà Lan nằm như thế này và anh ngồi sát cạnh đây, tụi nó dị
nghị tưởng tụi mình có gì thì làm sao?”
Thầy Bình ôn tồn nói:
“Anh nghe Lan ho có triệu chứng lao nên tìm lá (Tên lá gì
quên rồi) nấu nước cho Lan uống. Anh chế nước trong bình rồi, có ly nước đây. Nếu
uống hết thì Lan ra đàng sau bếp lấy thêm.Vẫn còn nhiều nước trong soong. Thôi
giờ anh về.”
Hôm sau tôi hết sốt, đi đứng bình thường nên đến trạm xá khám
bệnh cốt để xin giấy chứng nhận nghỉ bệnh. Y sĩ cho biết tôi không có bị lao
nhưng bởi nhổ răng máu còn đọng trong cổ nên khi ho, máu vẫn vào đàm. Trùng hợp
là tôi có bệnh cúm cùng lúc nên bị sốt, nhức đầu và kiệt sức. Chứng nhận bệnh của
trạm xá cho tôi được phép nghỉ thêm nhưng tôi đi làm ngay vì tôi buồn bực về kết
quả kiểm tra của phòng giáo dục đối với bộ giáo án của tôi. Họ cho rằng tôi đã
nhờ người viết giáo án hộ khi chữ viết của tôi có hai loại hoàn toàn khác nhau:
Một ngay ngắn và một fantasy.
Bị đánh giá oan, tôi quá ức nên cằn nhằn với ông hiệu phó trường,
đồng thời phụ trách chuyên môn của giáo viên cấp hai: “Tại sao thầy không cho họ
biết là tôi ở một mình thì tôi nhờ ai viết? Mà ai có thể soạn thảo được giáo án
để cho tôi dạy? Thầy biết tôi là người thế nào, tôi không làm biếng cũng không
bao giờ gian dối. Đời nào tôi mượn công người khác để làm việc cho mình mà sao
thầy không nói với họ để họ đánh giá bộ giáo án của tôi như vầy?”
Ông hiệu phó trả lời một cách lạnh lùng: “Tôi chẳng bao giờ
thấy cô viết chữ viết xiên xẹo, bay bướm như thế này làm sao tôi nói với họ được.”
Tôi im lặng, nghĩ ông nói đúng quá. Chẳng bao giờ ai thấy hay
biết tôi viết loại chữ fantasy này. Vì loại chữ này tôi có thể viết nhanh hơn
loại chữ tôi thường nên tôi thường ghi nhanh những điều xảy ra trong tập nhật
ký trước khi đi ngủ mà thôi. Những ngày bị chiếc răng đau hành, tôi đã dùng loại
chữ fantasy để viết cho nhanh. Cho nên, bây giờ mở cuốn giáo án Lịch Sử Lớp 8,
tôi còn thấy rõ hai loại chữ hoàn toàn khác nhau. Rõ là tình ngay lý gian và là
chứng cớ rõ ràng để ban kiểm tra đánh giá một cách chắn chắn là tôi bị bệnh nên
nhờ người khác viết giáo án hộ. Không biết nói gì hơn, tôi đành im lặng với sự
oan ức.
Chưa hết cơn buồn, vừa ra khỏi phòng ban giám hiệu, tôi gặp
thầy Bình mời dự đám cưới của thầy. Tôi sững sốt không hiểu hư thật nhưng cố tạo
vẻ bình thản. Giờ chơi, các giáo viên họp trong phòng giáo viên bàn tán chuyện
đám cưới của thầy Bình và hẹn nhau đi dự. Tôi cũng xin tháp tùng theo. Lòng
phân vân không rõ tình cảm của đàn ông như thế nào? Tôi chợt nhớ nhánh hoa
tigôn trắng năm học vừa qua và nồi thuốc lá chữa bệnh lao mới một tuần trước đó
rồi suy nghĩ hoài không hiểu tình cảm của người đàn ông này đối với tôi ra sao?
Tình yêu? Tình bạn? hay tình thương hại? Tôi chua chát với ý nghĩ: “Đã muốn yên
nên mình tìm đến chỗ khỉ ho cò gáy này, thế mà không được yên!”
Chiều hôm đó tôi đi dự đám cưới thầy Bình với các chị giáo
viên cấp 1 ở Hòa Thuận. Cô dâu có khuôn mặt đẹp phúc hậu rất xứng với khuôn mặt
điển trai nét lai Pháp của thầy Bình. Vì lần đầu tiên được dự đám cưới ở Chợ Lầu
cùng với hầu hết các giáo viên cùng trường Hải Ninh, tôi cảm thấy rất vui. Vui
nhất là được thưởng thức những món ăn mà từ khi vào Sông Mao dạy cho đến lúc ấy
tôi mới được ăn như vậy.
Một tuần sau, tất các giáo viên trong trường Hải Ninh đều phải
đến xã học chính trị. Vì họp vào buổi tối những người đại diện trong Ủy Ban Xã
phải dùng đèn dầu cho bàn chủ tịch. Tôi đến trễ, thu mình một góc ngoài sân, cạnh
chiếc cửa bên hông của phòng họp. Ánh đèn lù mù không rõ ai là ai. Tôi cảm thấy
dễ chịu bởi không muốn ai biết mình ngồi ở đâu; thế nhưng, những cơn ho khan
làm tôi khốn khổ cố ngăn lại. Chợt một bàn tay chìa ra trước mặt tôi với một một
gói nho nhỏ trong đó. Tiếng nói của của thầy Bình vang lên:
“Lan cất thuốc này uống sẽ hết ho ngay!”
Tôi ngạc nhiên, ngần ngừ, không nói gì và cũng không nhận.
Bàn tay đưa sát tôi hơn:
“Lan nhận đi! Vợ anh làm y tá ở trạm xá có nhiều lắm. Đừng ngại!”
Tôi nhận, cất vào túi và im lặng. Như những người đang im lặng
ngồi gần, tôi cố gắng lắng nghe những người trong uỷ ban xã đang nói về vấn đề
gì.
Chợt thầy Bình nói:
“Có lẽ Lan không biết anh bị mụt hành chân phải mổ, phải
không? Khi anh đến trạm xá được Thanh đang làm y tá tận tình chăm sóc cho anh
khiến anh nhớ ngày tìm lá chữa bệnh cho Lan. Thay vì cảm động tình anh, Lan hỏi
sao anh tới thăm Lan nhiều lần và còn sợ học trò dị nghị nên anh nghĩ rằng Thanh
mới là người thực sự thương anh và xứng đáng là vợ của anh. Vì vậy sau khi chữa
lành chân, anh xin cưới Thanh ngay”.
Gật đầu nhè nhẹ tôi nói khẽ:
“Anh quyết định thật đúng vì anh sẽ có hạnh phúc với người
thương yêu anh như chị Thanh”.
Nói xong tôi im lặng không nói gì thêm giả như lắng nghe lời
phát biểu từ trong phòng. Tôi mắc cỡ bởi biết những người ngồi cạnh đang lắng
nghe đối thoại của chúng tôi. Tôi đoán mọi người đang quan sát chúng tôi bởi
không chuyện gì mà không biết trong trị trấn Sông Mao nhỏ bé này.
Nhưng… có một chuyện mà mọi người không biết là gói hoa Tigôn
anh tặng cho tôi. Tôi không biết thầy Bình hái chùm hoa Tigôn này ở đâu khi bốn
năm Sông Mao tôi không bao giờ tìm thấy bụi hoa Tigôn nào.
15/2/2015Cung Thị Lan
Chữ Quốc ngữ dưới mắt một nhà cai trị Pháp cuối thế kỷ XIX
Chữ Quốc ngữ dưới mắt
một nhà cai trị Pháp cuối thế kỷ XIX
Gần một tuần nay không khỏe, không ngồi làm việc được, bèn
nhân đó nghỉ ngơi và đọc hết cuốn sách CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC TẠI NAM KỲ CUỐI THẾ
KỶ 19 do anh Lại Như Bằng vừa gởi tặng.
Cuốn sách là bản dịch các tập tài liệu: “Tiếng Pháp và Nền Học
Chính taị Đông Dương (La langue française et l’enseignement en Indo-chine), gồm
những “thông tri” của Etienne Francois Aymonier, Giám đốc Trường Thuộc địa tại
Paris được đọc trong hai Hội nghị Thuộc địa tổ chức tại Paris vào hai năm 1889
và 1890, và bài phản biện của Emile Roucoules, hiệu trưởng Trừờng Trung học
Chasseloup-Laubat ở Sài Gỏn: “Tiếng Pháp, chữ quốc ngữ và nền học chính tại
Đông Dương - trả lời ông Aymonier” (La langue française, le quốc ngữ et
l’enseignement en Indo-chine - Réponse à M. Aymonie,r” và một
bài viết khác cũng của Emile Roucoules, “Nghiên cứu về giáo dục công ở Nam Kỳ (Etude
sur l’instruction publique en Cochinchine.”
Chủ đề chính của cuốn sách là về nền học chính (hoặc nền giáo
dục) Pháp tại Nam Kỳ, nhưng tôi chỉ quan tâm đến sự phát triển của chữ quốc ngữ
trong thời kỳ còn sơ khai, và nhân đây tìm hiểu xem người Pháp đã bắt đầu xoay
sở như thế nào áp đặt nền giáo dục của họ trong giai đoạn đầu của nền đô
hộ, khi người cai trị mới đến và người dân bị trị chưa thể giao tiếp được với
nhau bằng ngôn ngữ; giữa họ chỉ mới có một dúm chữ viết ký âm tiếng nói của dân
bản xứ bằng chữ cái La tinh, là thứ ký tự quen thuộc của người Tây phương.
Tuy cuốn Từ Điển Việt Bồ La (Dictionarium Annamiticum
Lusitanum et Latinum) đã ra đời từ năm 1651, nghĩa là cho đến khi Hải quân đô đốc
Pháp Rigault de Genouilly chiếm được thành Gia Định vào năm 1859, tiếng Việt đã
được ghi âm bằng chữ cái La Tinh từ hơn hai trăm năm rồi, thế nhưng, cho đến
lúc đó thứ chữ viết mới này chưa có tên gọi chính thức và đang còn ở giai đoạn
phát triển; hơn nữa nó chỉ mới được một số giáo dân bản xứ sử dụng trong nhà thờ,
còn đa số dân chúng nói chung thờ ơ, và giới sĩ phu chống đối và tẩy chay. Loại
văn tự “truyền thống” và chính thức lưu hành lúc bấy giờ là chữ Hán và chữ Nôm.
Hai năm sau khi chiếm được Sài Gòn, năm 1861 người Pháp đã mở
trường Thông ngôn tại Sài Gòn, đào tạo một số người biết tiếng Pháp để làm việc
cho họ. Ngay từ đầu người Pháp muốn dùng chữ Pháp thay thế chữ Hán trong giáo dục
từ cấp thấp nhất trong làng xã trở lên. Muốn vậy thì phải mở trường đào tạo
ngay từ trong mỗi làng xã. Đây là một chuyện vạn nan. Nhất thời chính phủ Pháp
không tìm đâu ra đủ người có trình độ sư phạm cần thiết và có đủ tiền bạc để mở
trường mở lớp dạy trẻ em miễn phí trong hàng ngàn xã khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh.
(Không những miễn phí mà có lẽ phải có học bổng hậu hĩ thì may ra người ta mới
cho con em mình đi học!) Vả lại những ông thầy người Pháp bên mẫu quốc mới qua,
không biết một tiếng bản xứ nào, càng không đọc được một chữ Hán hay một chữ
Nôm, mà học trò bản xứ cũng ngơ ngác không biết tiếng Tây thì việc dạy dỗ là cực
kỳ khó khăn, nếu không nói là hoàn toàn bất khả.
Ngày 15/4/1865, tờ Gia Định Báo, tờ báo tiếng Việt đầu
tiên, ra đời tại Sài Gòn, sử dụng chữ viết mới gọi là “chữ Tây quốc ngữ.” Lần đầu
tiên chữ quốc ngữ bắt đầu có tên.
Thế là người Pháp sử dụng ngay chữ “Tây quốc ngữ” có sẵn vừa
nhanh vừa tiện. Ngày 22/2/1869 Thống đốc Nam Kỳ là Phó Đề đốc Marie Gustave
Hector Ohier, ký nghị định bắt buộc dùng chữ quốc ngữ bằng chữ cái Latinh thay
thế chữ Nho trong các công văn của chính quyền ở Nam Kỳ. Từ đây chữ quốc ngữ
chính thức có tên gọi này - chữ quốc ngữ.
Ngày 6/4/1878, Thống đốc Nam Kỳ, lần này là Chuẩn đô đốc
Louis Charles Georges Jules Lafont, ký Nghị định 82 ấn định “Kể từ mồng một
Tháng Giêng năm 1882 tất cả văn kiện chánh thức, nghị định, quyết định, lịnh,
án tòa, chỉ thị... sẽ viết, ký tên và công bố bằng chữ Quốc ngữ.
Đó là hai điểm mốc quan trọng và quyết định, thúc đẩy sự phát
triển của chữ quốc ngữ.
Nhưng theo Aymonier, đó là một sự sai lầm trong chính sách
giáo dục của Pháp áp dụng ở thuộc địa trong thời kỳ mới bình định xong đất Nam
Kỳ.
Etienne Francois Aymonier, giám đốc Trường Thuộc địa ở Paris
(trường đào tạo nhân viên phục vụ tại các thuộc địa của Pháp), một cựu sĩ quan
trong lực lượng viễn chinh Pháp, tốt nghiệp trường Võ bị nổi tiếng Saint Cyr, từng
là công sứ pháp tại Nam Kỳ, từng tham gia tiêu diệt phong trào Cần Vượng tại
Bình Thuận. Aymonier lấy vợ người Chăm, biết tiếng Chăm, Khmer và tiếng Việt,
Theo Aymonier, đáng lẽ ngay từ đầu, người Pháp nên cưỡng bách
dạy tiếng Pháp cho dân bản xứ, biến người Việt thành người Pháp-Á Đông để sau
này dù có được trả chủ quyền người Việt vẫn gắn bó với “mẫu quốc” Pháp. Ông thậm
chí chủ trương dạy tiếng pháp “bồi” (mà ông gọi là tiếng Pháp “tóm gọn” -
sabir.) cho người bản xứ để nhanh có kết quả “nhằm tạo ra một nước Pháp-Á-Đông
gắn bó chặt chẽ với nước Pháp-Âu-Châu bằng một sự hòa đồng tư tưởng và tình cảm,
điều kiện duy nhất để nước Pháp có thể trực tiếp thừa hưởng những tiến bộ tương
lai của thuộc địa.”(24) (Từ đây, những con số trong ngoặc đơn trong bài viết là
số trang trong sách mà những đoạn văn được trích dẫn).
Thế nhưng các viên toàn quyền trước đó đã sai lầm nghiêm trọng
khi ra sức bắt dân An Nam học chữ quốc ngữ trong suốt 30 năm trời, tiêu phí của
công quỹ Pháp đến 30 hay 40 triệu franc, mà ngay cả giới “sĩ phu bản xứ”
cũng tỏ tra khinh bỉ sâu sắc thứ chữ quốc ngữ này. Aymonier gọi chữ quốc ngữ là
chữ An Nam viết bằng chữ cái của Pháp thay vì hoặc chỉ một đôi khi ông chịu gọi
là chữ cái La tinh, và ông gọi thứ ngôn ngữ của người Việt là “tiếng An Nam
thông tục” (Annamite vulgaire), “một phương tiện rất thô sơ […] cho những ai
có ý muốn quảng bá một số ý thông tục thuộc lãnh vực luân lý hay đạo
giáo. Nó không cho phep bàn đến những vấn đề sâu sắc hơn, thuộc lãnh vực văn
chương hay khoa học.”(56)
Và: “Vốn không có tính cố chấp, tôi sẵn sàng công nhận rằng
chữ quốc ngữ là phương tiện đơn giản, dễ học, người bản xứ có thể tiếp
thu nội trong vòng vài tháng. Nhưng tiền nào của đó, công dụng của nó rất
giới hạn, Tôi nghĩ không nên cho nó tầm quan trọng vượt quá mức thực thụ của
nó, và ta không thể lấy nó làm cơ sở cho nền học chính của cả một dân tộc.
(59).
Khoảng thời gian 30 năm là tác giả nói từ năm 1859 khi Đô Đốc
Rigault de Genouilly chiếm thành Gia Định, cho đến năm 1889 có các cuộc Hội nghị
Thuộc địa này.
Tác giả còn dẫn lời một ông Luro nào có lẽ rất uy tín từng “than
tiếc về sự ra đời của chữ quốc ngữ là một thứ cũi sắt chúng ta muốn dùng để
giam hãn tri thức của dân An Nam.” (59 – 59)
Rồi tac giả “kết luận và nhắc lại rằng không thể nào đặt cơ sở
nền học chính của cả một dân tộc lên trên chữ quốc ngữ.” (61)
Vài mươi trang sau, tác giả khẳng định thêm: “Tiếng An Nam sẽ
tiếp tục tồn tại trong điều kiện hiện thời […] nghĩa là tồn tại như một thổ
ngữ. Ta đã hé thấy nó sẽ mau chóng tàn lụi đi. Thanh điệu của tiếng nói
đã mất đi nét sắc sảo chính xác khi vào đến Nam Kỳ thuộc Pháp. Về lâu dài trong
tương lai xa, có lẽ nó sẽ héo tắt đi và chỉ còn lưu lại vài từ trong thứ tiếng
Pháp tương lai của xứ này, cũng giống như tiếng nói của dân Guarani đã để lại
nhiều từ trong tiếng Bồ Đào Nha được dùng tại xứ Braxin. Chuyện này cũng
không hại gì, điều cốt yếu là sau này, cơ sở của tiếng nói [của người An
Nam] phải là tiếng Pháp. (82)
Aymonier không nhìn thấy những khó khăn mà những người đi trước
ông ta 30 năm trước đã không khắc phục được, bắt buộc họ phải phát triển ngôn
ngữ của người bản xứ đáp ứng ngay cho việc cai trị trước mắt. Nhưng ở đây chúng
ta chú ý thái độ thực dân kẻ cả và tầm nhìn nông cạn của người Pháp lúc bấy giờ
đối với tương lai của chữ quốc ngữ và ngôn ngữ của người Việt. Trong mắt
Aymonier tiếng Việt và chữ quốc ngữ chỉ là một thứ sản phẩm tinh thần tầm thường,
thông tục, không có giá trị, và sẽ mau chóng lụi tàn.
Có người nhắc Aymonier: “Sau 12 thế kỷ bị Trung Hoa đô hộ,
dân bản xứ vẫn nói tiếng An Nam chớ không nói tiếng Hoa.” Aymonier cho rằng tiếng
Việt chỉ là một thổ ngữ của tiếng Trung Hoa, như tiếng Quảng Đông, mà tiếng
Quan Thoại của Trung Hoa, “một thứ tiếng có khả năng uốn nắn vào khuôn phép đời
sống tinh thần của cả một dân tộc hơn những ngôn ngữ khác, vì nó vốn dồi dào
hơn, sâu sắc hơn,” đã không thèm đồng hóa; và những ai ủng hộ giải pháp chữ quốc
ngữ “để giải Hán hóa Bắc Kỳ” là tự mâu thuẫn, vì “việc giải Hán hóa chỉ
có thể thực hiện được bằng tiếng Pháp.” (84)
Aymonier không tin chữ quốc ngữ - một sự kết hợp giữa tiếng
nói của người Việt bản địa với hệ thống chữ cái Âu tây mang lại giá trị gì, và
ông ta huênh hoang phát biểu: “Tôi cũng sẵn sàng thiếp đi trong năm, sáu thế kỷ
để khi tỉnh dậy, nghiên cứu xem sự gặp gỡ giữa tiếng nói thô sơ đó với nền văn
minh và chữ viết Âu Tây đưa đến thành quả nào.” (29)
Ngay cả Emile Roucoules, Hiệu trưởng trường Trung học
Chasseloup-Laubat, Sài Gòn, người bênh vực giảng dạy chữ quốc ngữ, cũng cho rằng
“Không hề có ai nói rằng tiếng An Nam thông tục có thể diễn dịch các lập luận
trừu tượng hay khoa học.” (135)
Thời bấy giờ một số lớn sĩ phu người Việt cũng coi thường chữ
quốc ngữ như những người Pháp này, và thậm chí họ tẩy chay chữ viết mới, nhưng
không phải vì họ có cùng quan niệm với người Pháp. Họ tẩy chay chữ quốc ngữ chỉ
vì đó “không phải chữ thánh hiền” và nhất là thứ chữ viết đó do những người Tây
phương mang lại: Họ đồng hÓA những gì thuộc về “tây phương” là giặc, là thế lực
xâm lăng cướp nước. Thế là phải chống lại. Sự tẩy chay chữ quốc ngữ của giới sĩ
phu Nam Kỳ thời đó là do động cơ tinh thần, tình cảm yêu nước, hơn là do ý thức,
nhận thức rõ khả năng của chữ quốc ngữ.
Tuy vậy, hơn 40 năm sau những Hội Nghị Thuộc địa này, vẫn có
một người Việt đồng ý với quan điểm của các quan chức thực dân Pháp nói trên về
ngôn ngữ của người Việt. Trong cuốn sách Vietnamese Tradition on
Trail,1920-1945, tác giả David G. Marr kể “Vào tháng chín năm 1931, một chính
trị gia lão thành hợp tác với Pháp, là Hồ Duy Kiên, trong một cuộc thảo luận của
Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ về giáo dục tiểu học đã nói ngôn ngữ Việt Nam như một
thổ ngữ dân tộc tương tự như những thổ ngữ thấy ở các xứ Gascogne, Brittany,
Normandy, hay Provence của Pháp”.
Bị dư luận cả nước phản đối, Hồ Duy Kiên giải thích: ngôn ngữ
thực sự đáng kể, theo ông, là tiếng Trung Hoa cổ và tiếng Pháp; tiếng Việt thô
thiển không đủ dùng. Thậm chí, ông ta đi xa hơn giấc ngủ thiếp sáu thế kỷ của
Aumonier, mà đoan chắc rằng năm trăm năm hoặc một ngàn năm sau may ra tiếng Việt
được như tiếng Pháp.
Thực ra, không cần phải có thời gian năm, sáu thế kỷ hay một
ngàn năm để tiếng Việt và chữ Quốc ngữ chứng tỏ khả năng của mình. Sau thất bại
trận Điện Biên Phủ, quân Pháp trên hai miền Việt Nam cuốn cờ về nước. Không lâu
sau đó cả hai miền Nam Bắc, hai chính thể Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa gạt bỏ tiếng Pháp ra khỏi các chương trình giáo dục mà không gặp một
khó khăn hay lấn cấn nào cả. Tiếng Việt và chữ quốc ngữ đã đảm nhận vai trò
truyền tải, giao tiếp và trao đổi mọi ý tưởng của người dân trong nước không có
trở ngại nào. Cho đến nay, đã không có một vấn đề khoa học cao siêu hóc búa nào
không diễn tả được bằng tiếng Việt và chữ Quốc ngữ; không một triết thuyết trừu
tượng, lớn lao hay vi tế của một triết gia nào trên thế giới không dịch ra được
bằng chữ quốc ngữ.
Ngoài ra, tiếng Pháp cũng không hề bám rễ lâu dài với người
dân Việt Nam. Tuy Việt Nam được kể trong khối Francophone (các quốc gia nói tiếng Pháp)
nhưng đó chỉ là một thứ “liên minh” liên kết nước bọt mang tính chính trị, chớ
cả hai bên cùng biết rõ tiếng Pháp chỉ còn là một sinh ngữ hạng hai ở đất nước
này, chớ không phải là thứ ngôn ngữ chính thay thế "tiếng An Nam thông tục"
như Aymonier đã tin tưởng.
Aymonier, cũng như mọi con người trên trái đất, đã chết là chết
thẳng luôn. Như thế vớt vát phần nào mặt mũi ông ta. Bởi vì, không phải đợi
năm, sáu thế kỷ nữa, nếu ngay bây giờ sống dậy, Aymonier ắt phải rất tẽn tò về
sự huênh hoang của mình về chữ quốc ngữ vào cuối thế kỷ 19 - mới đây thôi.
17/10/2020Thiếu Khanh
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Cái Tôi của Phạm Duy trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...