Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2025

Nhà thơ Trần Hùng và đôi cánh trập trùng của ước vọng

Nhà thơ Trần Hùng và
đôi cánh trập trùng của ước vọng

Phải vào mùa thu năm nay, khi chớm bước sang buổi xế chiều của tuổi tác, tôi mới sực tỉnh và nhận ra, nhiều năm qua mình đã quá vô tình với những sáng tác của bạn bè, bỏ lướt qua biết bao những giá trị được chắt ra từ bầu máu nóng mà bạn hữu đã vật vã trút lên trang giấy của nghiệp mệnh. Những giá trị thi ca thì vẫn nguyên vẹn. Nhưng quả là nó có bị phủ lên những lớp bụi của thời gian cùng sự quên lãng một thời của dư luận. Những ánh sáng mà nó chất chứa ở trong chính mình, vẫn lấp lánh và ngời sáng như buổi đầu nó hiển lộ. Tôi đã bỏ cái thời cơ mà lẽ ra mình đã có, là chiêm ngưỡng vẻ đẹp đích thực của chúng ngay từ lúc nó ra đời. Tôi từng tự vấn, rằng trong mấy chục năm đeo đuổi nghiệp bút mực, mình đã dành ra bao nhiêu khoảng thời gian thích đáng để chiêm nghiệm, suy ngẫm về sáng tác của những người cùng thời, cùng trang lứa, một cách sâu sắc, thấu tỏ tinh thần thi ca của họ, trong sự thanh tĩnh cao nhất của tâm thế. Rồi thời gian cứ trôi xuôi mải miết và vô tình. Giờ đã bắt vào mùa đông, đêm qua những đợt gió mùa ào ào thổi suốt đêm. Hình như thời tiết và sự biến đổi của mùa đã truyền những thông điệp và năng lượng của vũ trụ một cách thật mạnh mẽ, trực tiếp. Nó đánh thức và làm trồi lên bề mặt của ý thức những xung động tiềm ẩn sâu kín nhất của con người
Chót buổi cuối chiều ngày đầu tuần của tuần trước, tôi và nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu ngồi ở một quán trà, dưới tán những cây bằng lăng treo đầy quả trên hè đường phố Hà Đông. Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu phàn nàn, Hà Đông gần đây sao đông đúc quá mức vậy. Rồi nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu nói với tôi, anh vẫn cứ băn khoăn về cái quả bưởi anh thả ở bến Âu Lâu – Yên Bái từ mùa xuân năm 1998, chắc nó phải qua bao ghềnh thác, qua bao vùng đất. Liệu quả bưởi đó có về được quê anh, Mỹ Lộc – Thái Bình hay không? Tôi chợt nhắc tới thơ của nhà thơ Trần Hùng, sắc diện nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu sinh động hào hứng một cách kỳ lạ. Anh nói trào chảy say đắm về Trần Hùng và thơ Trần Hùng, như không có tôi trước mặt, như anh đang đứng trên bục giảng đường Đại học Tổng hợp vậy. Đó là những suy nghĩ và cảm nhận sâu sắc của nhà thơ Nguyễn
Linh Khiếu khiến đầy tâm huyết về một nhà thơ, một vùng đất mà anh tâm đắc.
Tôi nhận thấy trong khoảng trời đất bao la rộng lớn này, còn gì quý hớn là những sự đồng cảm của con người. Sự đồng cảm giống như những luồng gió lớn đưa con người lên cao vút.
Mẹ
Xa một ngàn cây số
Cong đang nói cùng mẹ đây
Con quỳ xuống tắt đèn
Con nhắm mắt cho tối thêm lần nữa
mẹ ơi quay lại với con
mẹ đứng trước bàn thờ
rồi tới ngồi bên lửa
để đun cho nồi nước nóng lên
rồi lại đun cho nóng lên
ngoài hiên
những bông lửa trên trời đỏ rực
mẹ chợt nhận ra
mình còn nhiều đứa con
chúng ra đi đã lâu mà không về,
sao lại như thế nhỉ?
mẹ ơi
giao thừa rồi
con quỳ xin mẹ đây
xin mẹ uống một liều thuốc ngủ
rồi nằm xuống-nhẹ nhàng thôi
thanh thản cho đến sớm mai
sẽ trở dậy thắp hương mẹ nhé
(Giao thừa)
Đây là nguyên văn bài thơ Giao thừa của nhà thơ Trần Hùng viết năm 1989, tôi chép lại bằng bút mực trong cảm xúc thức dậy từ sâu thẳm chợt dâng lên mãnh liệt. Trong cuộc đời của một người mẹ, sự mất mát thiếu vắng những đứa con  của mình, sự thiếu vắng này nó trào đến và vút lên đau thương nhất là vào đêm giao thừa. Trong những giờ phút thiêng liêng của một năm này, hình ảnh những người thân trở về một cách trọn vẹn và đầy đủ nhất, nó làm sống lại từng hơi thở, cử chỉ, bước đi của người thân, như có thể nghe thấy, chạm vào được. Không thời điểm nào trong cuộc đời, mà người ta sống trong ảo giác với thế giới của những hồi ước mạnh mẽ bằng những ngày cuối năm và đêm giao thừa. Mẹ ơi/giao thừa rồi/ con quỳ xin mẹ đây/ xin mẹ uống một liều thuốc ngủ/ rồi nằm xuống-nhẹ nhàng thôi/ thanh thản cho đến sớm mai/ sẽ trở dậy thắp hương mẹ nhé. Đau thương này, sức của một con người khó có thể chịu đựng nổi.
Bài thơ Giao thừa của nhà thơ Trần Hùng đã dựng lên tượng đài của sự vĩnh hằng. Tượng đài của sự hy sinh cao cả vô bờ bến của người mẹ. Con người với sự hy sinh cho lý tưởng của mình, là phẩm chất cao quý bậc nhất mà loài người đã kết tinh đựoc và truyền nối cho các thế hệ kế tiếp. Đó là bài ca mãi mãi thuộc về vĩnh hằng.
Tôi đọc thơ Trần Hùng, không chỉ thấy thơ mà thấy trào ra những khối tâm huyết đã kết tụ ở trong tâm can và huyết mạch xiết chảy của nhà thơ.
Trung thu
áp thấp về đêm Hà Nội
cha như ông trăng sau màn trời
con đang làm gì con ơi
chiếc đèn ông sao trung thu năm ngoái
vẫn nằm trến giá sách đầy bụi
hay con đang ngồi ôm
ngoài kia
những ngôi sao đang bò ra từ các góc tối
rủ con cùng chạy chơi
nếu thiếu nến thì con bắt đom đóm bỏ vào
không có đom đóm thì cầm sao ra ngoài ngõ
rồi đèn sẽ sáng lên
và con sẽ tin
cha trở về cho con đêm trung thu khác
một đêm trăng xà cừ tíu tít
trên những dấu chân bé bỏng của con
(Nhớ con)
Tôi thấy đây không chỉ còn là thơ thuần tuý nữa, mà đây là tấm lòng của người cha rộng như trời đất, đang dõi theo và ôm trọn những đứa con của mình trong tết Trung thu. Đây là áng thơ hay và vô cùng xúc động về tình phụ tử và Tết Trung thu mà tôi được đọc. Đọc thơ Trần Hùng gợi cho tôi liên tưởng về loài chim Đan Tước chuyên sinh sống ở trên núi cao, cả vòng đời của loài chim này chỉ cất lên tiếng hót vào giờ hoàng đạo của những ngày thời tiết đẹp nhất. Tiếng hót của loài chim Đan Tước trong trẻo vang vọng. Những dải âm của tiếng hót như làn gió thanh nhẹ vút lên cao rồi toả xuống một vùng không gian rộng lớn của núi rừng, âm thanh của nó vọng đến cả những thung lũng và khe sâu dưới chân núi.
Những bài thơ của nhà thơ Trần Hùng thường được hắt lên bởi một ánh sáng mạnh, đó là ánh hồi quang toả ra từ miền thẳm sâu của tiềm thức, từ niềm trắc ẩn như xuyên thấu vào lõi của trái đất. Tôi cảm nhận được cái xung động cảm xúc cực kỳ mãnh liệt này. Nếu chỉ bằng với trái tim bình thường của con người, thì sẽ không thể chịu nổi cái áp lực của năng lượng quá mạnh xuyên qua nó. Có lẽ những câu thơ của nhà thơ Trần Hùng đã truyền dẫn trực tiếp những xung lực mang đầy năng lực của cảm xúc từ trái tim của nhà thơ - và những câu thơ là điểm cuối cùng chứa đựng cái xung lực quá mạnh mẽ đó.
Gánh nặng nào
nắng vang vang trên đầu
gió hoang trên đồng
cá hoang dòng suối
tôi hoang lòng tôi
kìa con trai
hãy tới gục đầu vào ngực gầy mà khóc
con sẽ về hiền ngoan với đất (…)
thôi
chị xin nào em trai
chị sẽ đền cho em
bờ sông đầy cát
tôi biết tôi biết
có một mặt trăng ban ngày
một mặt trời ban đêm
lớn lên tôi mới lơ mơ hiểu thêm
đấy chính là đôi mắt của một  bé nào đó
(Tự thoại kẻ tâm thần)
Đây là bài thơ của nhà thơ Trần Hùng trực diện viết về lời tự thoại của người tâm thần. Một người mắc bệnh lý nhiễu loạn tâm thần, gần giống hình bóng một số  người mắc bệnh tâm thần mà ta thi thoảng gặp trên đường phố ở một nơi nào đó. “ha ha/ họ thua ta rồi/ đập đầu vào tường/ máu máu mắt mắt/ nụ cười bay bay”. “Người đàn ông kia/ gánh nặng nào/ khiến người kêu cầu/ khiến người xua đuổi/ (…)/ lặng im lời giẻ rách/ ánh sáng đang về/ từng dàn voi cao lớn/ đuôi sao chổi lê thê”. Sự cảm thông chia sẻ của nhà thơ thật lớn lao nhường vậy. Thế giới của người tâm thần hiện lên thật đẹp dưới ánh sáng của ký ức và tình yêu thương che chở của những người thân. Sự cảm thông, chia sẻ và tình thương yêu của con người là một thứ nước thiêng như thứ nước từ bình nước cam lồ của Đức Bồ tát quán tự tại rưới xuống tình đồng loại, làm sự sống hồi sinh toả hương ngào ngạt. Tôi cũng tự hỏi, nếu không có sự cảm thông, chia sẻ và tình thương yêu của con người đối với nhau, thì nhân loại chắc đã biến thành sa mạc cằn cỗi từ lâu rồi. “Ôi, xin mau tìm về/ nụ hôn yên tĩnh nhất/ trên vầng trán nhàu nát/ - anh tôi”. Tôi cho rằng đây là một bài thơ lớn, bởi sự đồng cảm chia sẻ thật ân tình và thiêng liêng với người mắc chứng bệnh tâm thần. Không chỉ vậy, bài thơ còn toả ra vẻ đẹp của một đời sống tinh thần bị che mờ, khuất lấp trước sự thờ ơ lãnh đạm của đồng loại, của cuộc đời. Ánh sáng huyền linh trong thế giới đời sống tinh thần của người mắc bệnh tâm thần, lần đầu tiên được nhà thơ Trần Hùng mở ra như một sự khải thị, trong tình thương yêu, cảm thông, chia sẻ tột cùng.
Thơ Trần Hùng mở thông những cánh cửa thật rộng tới một thế giới vỗ những đôi cánh khát vọng giữa bầu trời của tình yêu, ước vọng trong “niềm trinh tĩnh vỡ oà” (Thời gian)
Phương trời nào ta cùng nhau trôi đi vun vút
qua bao nhiêu vườn nắng
qua bao nhiêu vườn người
cơn mưa chiều dòng kênh xa lạ (…)
Mây bay về đâu cho tôi theo với
(Phương hạc bay)
Thôi chào nhé
những bờ vườn hoe nắng
hoa rau dền gai, hoa rau sam tím
chào dòng sông lặng im (…)
Ròng ròng một mùa hè
tôi đi
tôi đi
tôi đi
nhẹ nhàng như cánh bướm
tìm về giấc thuỵ miên vĩnh viễn
(Thảm thắc)
Dưới đôi cánh đập mạnh trong bầu trời của ước vọng, ngập tràn âm thanh và ánh sáng “ròng ròng”. Cùng nhau trôi đi vun vút, chập chờn “nhô lên nỗi buồn sừng sững” (Thời gian). Ta có thể chạy đuổi với theo những đám mây “mây bay về đâu cho tôi theo với”, nhưng ta cũng có thể nhẹ nhàng như cánh bướm trở vào giấc thuỵ miên trong chiếc kén của vĩnh hằng. Tôi tự hỏi, rằng trong khoảng trời đất này, có ước vọng nào mang tính biểu tượng về con người với hai thái cực của tâm thế, đẹp và lãng mạn hơn hình ảnh con người chạy đuổi với theo những đám mây, rồi nhẹ nhàng chìm vào giấc thuỵ miên trong ngôi nhà vĩnh hằng của những chiếc kén.
Kia buổi sớm
Hạt mầm thức dậy
Niềm khát vọng nhói đau
(Khát vọng)
Mây lang thang
Nhớ mùa thu rất xa (…)
Trên thảm lá dày
Gương mặt cổ nhân về đâu đây bên chiếc đồng hồ nước
(Đồng hồ mùa thu)
tôi đã ôm con tôi thật lâu
tôi đã khóc trên ngực người yêu
tôi lầm lũi bước theo những giọt nước mắt…
(Gửi một thi sĩ)
Dù sao, những sợi dây mỏng tang tưởng như vô hình của cuộc đời nơi thế tục, vẫn ghì riết níu kéo đôi cánh ước vọng của nhà thơ. Làm sao có thể dứt được những sợi dây giằng dịt của tình thương nỗi nhớ. Nó liên tục như những đợt sóng vỗ dồn dập vào ghềnh đá của số phận lầm lũi bước theo những giọt nước mắt, của niềm khát vọng nhói đau, như hạt mầm thức dậy vào buổi sớm nào đó trong cuộc đời. Những đám mây vẫn lang thang nơi mùa thu rất xa, ở đấy trên thảm lá dày, gương mặt cổ nhân trở về bên chiếc đồng hồ nước. Ở đấy, “những con ve ngày ấy đã già/ chúng biến thành nếp nhăn trên cây cổ thụ/ chiều nay bên gốc cây nhìn lên/ ta lặng người/ trước bình thản cây thăm thẳm lên trời” (Thời gian)
Ôi, những cái cây mãi mãi nằm trong biểu tượng khát vọng của con người, trong sự bình thản và  thăm thẳm vươn lên bầu trời. Chân lý này đâu phải lúc nào và đâu phải ai cũng nhận ra, cùng thấu ngộ.
Thơ Trần Hùng luôn mở toang cánh cửa thế giới của cảm xúc và cảm giác đầy ấn tượng, từ một trực giác được ghi lại, bảo lưu đầy đủ và chính xác, từng cất giữ trong ký ức của nhà thơ.
Xưa ai áo trắng như em, ai cầm hoa cúc xanh như em
Trăng lên từ cánh đồng võng nước, tiếng sênh sáo cuối mùa, tay cầm tay lá trắng, em che trăng một tấm yếm sồi, ta che em ngực trần lá nóng.
Xưa ai áo trắng như em, ai cầm hoa cúc xanh như em
Bến đò than, sung rơi tầm tã, tay cầm tay lá lúa, mùi tóc ẩm, mùi áo ẩm, mùi dòng sông ngun ngút.
Rồi gật đầu tạnh cơn mưa nắng lên ngơ ngác.
(Cúc xanh)
Người đi đâu cả rồi
Liềm hái còn đây (…)
Giờ chim xa, mây xa, nước im
Người đi đâu cả rồi.
(Trên cánh đồng làng)
Trong cái thế giới như vừa trở về từ giấc mộng thoáng buồn và xa vắng. Người đi đâu cả rồi, liềm hái còn đây. Kìa mây xa, những cánh chim cũng đã xa khuất ở phương trời nào, gió lặng, nước im. Một không gian thật tĩnh lặng, xa ngái, trống vắng và tiếc nuối. Tất cả vẫn còn đấy, mà tất cả đã trở về một thế giới nào đó khác biệt. Nơi ấy, bến đò than sung rơi tầm tã, mùi tóc ẩm, áo ẩm, mùi dòng sông ngun ngút. Trăng lên từ cánh đồng võng nước, ai đấy áo trắng như em, cầm bông cúc xanh như em thuở ấy, đang trở về như thực như mơ. Chợt giật mình, tạnh cơn mưa nắng lên ngơ ngác.
Cuộc đời là vậy đấy. Bảo là thực thì là thực, bảo là mộng thì là mộng. Quá vãng liên tục thổi những luồng gió và hắt ánh sáng mạnh lên hiện tại. Ta cứ thử giả định, nếu vào một lúc nào đó, quá khứ ngừng thổi những đợt gió về hiện tại, thì đời sống của con người trên thế gian này thật đơn điệu, nhàm tẻ và trống rỗng lạnh lẽo như thế nào.
Rồi một ngày nắng lên thênh thênh nước về
Rồi một ngày cô Mùi ra đi bước chân xa lắm
Và chúng mình cũng ra đi, theo phù sa về các đường chân trời
Bỏ lại những vườn trăng, những câu đồng dao rơi vãi
Bỏ lại con thuyền
(Gọi nguồn)
Thế giới của cảm xúc và niềm trắc ẩn mở ra trong những câu thơ của Trần Hùng, rộng thênh và đẹp đến nao lòng. Những con thuyền, những vườn trăng, và những câu đồng dao rơi vãi. Bảo là bỏ lại, nhưng thực ra nhà thơ đang níu kéo, nâng niu và thổi hồn vào chúng, làm cho chúng trở nên thật sinh động và quyến rũ.
Rồi một ngày nắng lên thênh thênh nước về, và chúng mình cũng ra đi, theo phù sa về các đường chân trời.
Tuổi trẻ như những ngọn gió buổi mai, mới mẻ, tinh khôi, trong trẻo và tràn trề sức sống – Chúng cuốn theo một tiếng gọi rất xa nơi chân trời của khát vọng. Tuổi trẻ luôn làm mới thế gian này bằng đôi cánh ước vọng của mình
Qua nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn, tôi mới thực sự biết Cao Bằng và nhà thơ Trần Hùng, cũng chỉ cách đây dăm năm. Tôi còn nhớ, chuyến đi đầu tiên của chúng tôi lên Cao Bằng, chuyến đi làm nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn thật sự hào hứng, anh là người yêu và hiểu Cao Bằng một cách kỳ lạ.
Trước khi đến Cao Bằng gặp nhà thơ Trần Hùng, theo gợi ý của nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn, chúng tôi vào bái yết đền Đuổm, toạ trên núi Điểm sơn, đây là khối đá vôi tận cùng phía nam của vòng cung sông Gâm. Đền Đuổm thờ ngài Dương Tự Minh, được sắc phong là Cao Sơn quý minh. Ngài là Phò mã lang của nhà Lý, được hai vua nhà Lý gả cho hai công chúa là công chúa Diêm Bình và công chúa Thiều Dung. Hai công chúa cũng được thờ tại đây.
Nhà thơ Trần Hùng nói với tôi, anh mới chỉ in hai tập thơ mỏng vào năm 1991 và năm 1998. Tập thơ đầu tay Gọi bạn của nhà thơ Trần Hùng được nhà thơ Trúc Thông viết lời giới thiệu. Tôi chỉ thực sự được đọc thơ của nhà thơ Trần Hùng, là vào mùa hè năm 2007, anh sao lại cho tôi một bản tập thơ Mơ quê, xuất bản từ năm 1998. Chúng tôi gặp nhau nhiều lần, nhưng chưa bao giờ nói chuyện về văn chương. Đọc thơ Trần Hùng, tôi mới hiểu, đối với nhà thơ Trần Hùng mối quan tâm sâu sắc của anh không hẳn là câu chuyện thi ca, mà là câu chuyện của cuộc đời, đến độ nếu không có thi ca để ký thác, thì thật khó sống một cách thăng bằng và bình thản những năm tháng của một đời người trên thế gian đầy những lo âu bất trắc trong tiếng gõ cửa không ngừng của định mệnh. Có lẽ cái cao quý tột cùng của văn chương nghệ thuật và thi ca, cái mà nó phải mang vác cũng chỉ có chừng ấy mà thôi.
Lần tìm trong cỏ đêm thấy bài thơ cũ
Tìm trong bài thơ cũ thấy chiếc trâm cỏ thì người xưa đánh rơi
Và tôi chẳng thể cầm lòng, tôi lặng lẽ như vì sao xa nhất
(Ba giờ sáng)
Thơ Trần Hùng là thế, cứ run rẩy kiếm tìm, nâng niu, đồng cảm, sẻ chia với những gì mất mát của cuộc đời, trong tình cảm thiêng liêng nhất với sự đi lên đi xuống không ngừng của cảm xúc và suy tưởng. Trên đôi cánh vỗ không mỏi trong trập trùng của ước vọng, đôi lúc nhà thơ Trần Hùng cũng gợn lên thoáng qua cái linh cảm “có thể ban mai trong tôi sắp tắt/ (…)/ tôi cảm thấy một điều đang đến rất gần rất gần” (Ánh lên gương mặt).
Đọc thơ Trần Hùng, tôi thấy nhớ non nước đèo dốc Cao Bằng với những phiên chợ sớm. Tôi lẩm nhẩm ngâm hai câu thơ trong bài thơ Sơn hành của Đỗ Mục:
Đình xa toạ ái phong lâm vãn
Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa
(Dừng xe vì yêu cảnh rừng phong buổi chiều
Lá gặp sương mùa thu màu đỏ hơn cả hoa tháng hai)
Tôi đọc thơ Trần Hùng, cảm nhận được cái sắc đỏ, ánh lên như là cái màu đỏ của lá gặp sương mùa thu trong câu thơ của Đỗ Mục vậy. Đó là cái sắc đỏ hiện ra từ sự ngâm trải trùng điệp của một đời người.
Hà Đông, 16/11/2009
Dương Kiều Minh
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Quang Hoài và sự hiện diện tập thơ thứ sáu

Quang Hoài và sự
hiện diện tập thơ thứ sáu

(Đọc “CHỚP LỬA ĐƯỜNG CONG” - Tập thơ của Quang Hoài - Nxb. Văn học, 2009)
Mở tập thơ mới xuất bản của Nhà thơ Quang Hoài, bất thần gặp một ngôi toạ sơn trước mặt - đó là lời giới thiệu về thơ Quang Hoài của Nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa. Thú thực, tôi định viết đôi điều, nhưng quả là khó khăn. Sòng phẳng mà nói, không thể vượt qua ngọn danh sơn đang dựng trước mắt; nhưng nếu muốn qua chỉ còn một lối duy nhất, đó là men theo chân ngọn danh sơn mà đi, thì rồi chắc cũng sẽ qua.
Nhận định về thơ Quang Hoài, Nhà thơ Trần Đăng Khoa viết: “Có thể nói đó chính là những bức tranh được vẽ bằng hồn. Chúng đang lặng lẽ nói về Quang Hoài, giúp ta nhìn thấy anh, nhận ra gương mặt rất riêng của anh giữa ngổn ngang bóng người nơi trần thế (…). Vậy Quang Hoài là ai? Đó là một cây bút đa tài. Điều này thì khỏi phải bàn. Quang Hoài làm thơ, viết văn, viết bình luận văn học, soạn các sách chuyên đề… Nhưng trước hết, anh là một thi sĩ. Quang Hoài có thơ in trên các báo địa phương và Trung ương từ những năm Sáu mươi của… thế kỷ trước (…). Quang Hoài lạc ra ngoài đội hình. Anh tạo cho mình một lối đi riêng. Đó là cách lội ngược dòng. Đây là một đóng góp riêng của anh, cũng là một thiệt thòi của anh, khi anh tự che khuất mình trong cả một đội ngũ trùng điệp (…). Quang Hoài không chìm đắm vào những chất liệu bề bộn của hiện thực. Đời sống hiện thực phải lọc qua tâm hồn anh, lắng lại thành ký ức rồi mới ùa lên trang giấy. Thơ Quang Hoài là thế. Lối viết này đã chi phối toàn bộ các sáng tác của anh từ ngày đầu cầm bút cho đến tận bây giờ”.
Như Nhà thơ Trần Đăng Khoa cho biết, Quang Hoài “là tác giả của sáu tập thơ dày dặn, có tập dày đến mấy trăm trang. Anh còn có mặt trong hàng trăm tập tuyển đủ các chủng loại, từ Trung ương xuống các địa phương, suốt mấy thập kỷ”. Nhà thơ Quang Hoài còn là người đứng ra tuyển chọn biên soạn tuyển thơ NGÀY HỘI THƠ, đã xuất bản đến tập thứ tư. Mỗi bộ tuyển NGÀY HỘI THƠ của Quang Hoài, đều ra mắt công chúng vào đúng dịp linh thiêng nhất, đó là thời điểm khai mạc Ngày Hội thơ hàng năm do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, vị pháp chủ của Ngày Hội thơ hàng năm, đã đánh giá công trình các bộ tuyển NGÀY HỘI THƠ của Quang Hoài là đã có thành tích đặc biệt trong công tác hiện thực hoá Ngày Hội thơ hàng năm của Hội Nhà văn Việt Nam.
Giờ ta trở lại tập thơ mới xuất bản của Nhà thơ Quang Hoài “Chớp lửa đường cong”, cái tên tập thơ tạo cho người đọc cái ảo giác hình như đó là tập thơ của một hoạ sĩ - thi sĩ. Có lẽ Quang Hoài không cố ý tạo ra cái ảo giác này, mà anh chỉ ngầm gửi gắm cái thông điệp sâu xa nào đó.
Đối với Quang Hoài, thể thơ lục bát tình tứ được truyền dẫn hơi thở của truyền thống dân dã - khởi nguồn và hưng vượng nền văn học dân gian - là nền tảng, cội rễ khởi hứng những thi tứ của anh:
Thôn Đồng em có về không
Để anh chín đợi mười trông mỏi mòn
Hiên nhà cau đã đẫy buồng
Chái nhà trầu đã vàng giàn ngóng trông
Chẳng thà cách núi cách sông
Lẽ nào cách một quãng đồng mà xa?...
(Thôn Đồng em có về không?)
Dù vậy, với tập thơ mới này, Quang Hoài đã tạo ra nhiều mảng khối được tạo dựng trên nguồn cảm hứng khác. “Tản mạn chiều Bản Giốc”, là một bài thơ ngắn nhưng mang nhịp điệu và hơi thở của trường ca, của nền khí nhạc giao hưởng:
Ta đến đây khi mặt trời gác núi
Bầy quạ vừa bay qua
Tiếng còn vọng rừng thâm u
Trắng chiều lung linh thác đổ
Ta nghe nước xối gào những bình minh khép mở
Đàn chim Lạc về đây thắp lửa
Ánh lửa bừng lên đêm mông muội đầu ghềnh
Bên thác trắng ngang tàng bất tử…
Trong cái hơi thở trầm hùng, mạch thơ chảy xiết dội lên tiếng âm vang của truyền thống Lạc Hồng trong huyết mạch của đương đại:
Bản Giốc… Bản Giốc… Ơi! Bản Giốc ngàn năm
Rừng vẫn non xanh kề triền cỏ úa vàng
Nước vẫn trắng ngần ba dải ào ào đổ thác
Thành mạch nguồn tưới mát đất Văn Lang. (…)
Có phải nước từ chiều dài lịch sử bốn ngàn năm
Cho anh và em hôm nay dòng thác hồn người
Thác Bản Giốc, dốc về nguồn cội
Từ thác này thẳng tới tương lai?... (…)
Ơi! Bản Giốc… Bản Giốc
Ta lặng nhìn mảng bè bập bềnh mặt nước
Chiều biên cương lạnh buốt
Rưng rưng đọc câu thơ người xưa:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư”!
(Tản mạn chiều Bản Giốc)
Theo tôi, bài thơ “Tản mạn chiều Bản Giốc” là một trong những bài thơ hay viết về một danh thắng nổi tiếng của Cao Bằng.
Từ thác Bản Giốc của Cao Bằng, Quang Hoài tiếp tục khởi hứng về sông Thao, với “Lòng ta về với sông Thao”. Sông Thao là một đoạn của sông Hồng chảy qua Phú Thọ, nó mang theo địa danh của vùng đất trung du này, thực ra trên bản đồ không ghi, bởi nó chỉ là một đoạn của sông Hồng chảy qua Phú Thọ. Sông Thao là đoạn sông Hồng gắn liền với lịch sử cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm của dân tộc Việt Nam - nó vừa là đoạn sông lịch sử, vừa là dòng sông của thi hứng, nhạc hứng với các thi phẩm và nhạc phẩm nổi tiếng của các bậc đại gia về thơ và ca khúc đương đại. Trong bài thơ “Lòng ta về với sông Thao” của Quang Hoài có trích dẫn thơ của Cố nhà thơ Lưu Quang Vũ và Thi sĩ Nguyễn Duy. Có lẽ nguồn cảm hứng của Quang Hoài gần với hai nhà thơ này về sông Thao chăng:
Sông Thao, sông Thao
“Đêm nghe rì rầm nước chảy”
Ta thương em như dòng sông
Đục ngầu lau sậy!
Sông Thao, sông Thao
“Em đưa tiễn bước chân gìn giữ lắm”
Sao một trời nông nỗi? (…)
Sóng vỗ lòng ta đau nhói
Về với sông Thao
Hoàng hôn khép lối!
Về với sông Thao của Quang Hoài, là về với bóng dáng của “một mỹ nhân” một “yểu điệu thục nữ” khuất sau bờ lau sậy nơi “hoàng hôn khép lối”.
Tưởng vọng Thi tiên Lý Bạch, Quang Hoài đã dụng công dựng chữ thật công phu, đọc thoáng qua cứ ngỡ Quang Hoài dịch thơ Lý Bạch bằng vần điệu thơ lục bát:
Người ngồi chuốc rượu dưới hoa
Cùng Trăng với Bóng kết ba bạn đời
Trăng nào chạm được chén mời
Bóng nào cạn được cùng Người… Người ơi!
Chén sầu uống mãi chẳng vơi
Nỗi đau nhân thế ai người sẻ chia?
Rượu hay nước mắt đầm đìa
Chan chan từng chén hẹn về sông Ngân!
(Với Lý Bạch)
Quang Hoài viết tặng Nhà thơ đồng hương Trúc Thông, tác giả của “Chầm chậm tới mình” và “Maraton”, một nhà thơ trọn đời dâng hiến cho công cuộc cách tân thơ ca. Câu chuyện tâm tình giao cảm rất đáng lưu ý ở bài thơ, là tác giả đọc thơ của nhà thơ đó cho chính nhà thơ đó nghe, từ những hình ảnh của hiện tại như luồng gió lạ đẩy mối suy tưởng về vùng đất Sơn Nam với những kỷ niệm thuở thiếu thời của sông Châu, núi Đọi:
Tôi đọc thơ Trúc Thông
anh nghe như chìm trong bia lạnh
hai em gái ngồi bên rót mời…
“Bờ sông vẫn gió” cánh thơ bay (…)
giọt nắng cuối cùng hoàng hôn Hà Đông
đậu trên mí mắt Trúc Thông
như là giọt lệ! (…)
Mẹ ơi! Mẹ ơi!
người thơ ngồi đấy, con ngồi đấy (…)
gió và gió - Mẹ ơi, có thấy
“lá ngô lay ở bờ sông”
con và Trúc Thông
đang về quê mình
đang về sông Châu núi Đọi.
(Tôi đọc thơ Trúc Thông cho anh nghe)
Ở tập thơ mới xuất bản của mình, Quang Hoài vẫn phát huy sở trường là thơ lục bát. Bên cạnh đó, như tôi vừa dẫn, anh đã thật sự thuần thục và khoáng đạt trong thể thơ tự do với những liên tưởng phong phú trên nền cảm xúc vừa mạnh mẽ vừa phóng hoạt. Trong tập có những tứ thơ thật mới và lạ, như bài “Ghé hàng em bán quan tài”: “Quan tài tôi chả thèm mua/Ghé hàng em… hỏi giả vờ… làm quen”; hoặc bài “Em nguyệt thực và anh nhật thực”; và bài “Có dòng sông dọc bến đời”, đã làm tươi tắn thêm thể thơ lục bát:
Có dòng sông dọc bến đời
Liêu trai lún phún cỏ bời bời xuân…
Chèo em mái gác đầu ghềnh
Buồm anh bão xoáy chòng chành cột dong!
Tôi nhận thấy một điều hiện lên một cách sinh động là tình yêu thơ lục bát và câu chuyện “nhi nữ tình trường” - làm nên khối xoắn bện trong mối quan tâm không dứt của thơ Quang Hoài:
Mang mang mây trắng trên đầu
Mòn đêm tiếng cuốc gọi đau cháy hè
Xác tàn xương rũ gò tre
Ta ngồi gói lá bùa mê thả người
Thả nơi góc biển chân trời
Người đâu? Cuốc vẫn kêu hoài… người ơi!
Ta là người nẻo chơi vơi
Hay là người xứ muôn đời lẻ loi?
(Mang mang mây trắng trên đầu)
Lâu nay lưu truyền trong dân gian, rằng có ba loại bùa để thả cho người mình yêu, trong ba loại bùa đó, có một loại “bùa yêu” được làm bằng xương cốt của con cuốc khi đã kêu rạc đi và chết gục xuống, người ta lấy về đốt thành tro và nhào trộn làm thành một loại “bùa yêu”. Tương truyền là loại bùa này rất nhạy. Tác giả mượn loại bùa này để ám dụ về khối tương tư tâm tình của nhà thơ với thơ ca, cuộc đời và với tình duyên. Tình duyên - một trong thất tình, mà mỗi con người đã trót sinh ra trên cõi đời thật khó bỏ qua. Nhưng ta cũng nhận thấy trong bài thơ lục bát xuất sắc này của Nhà thơ Quang Hoài, tác giả không dừng lại ở tình duyên, mà bài thơ được nâng lên thành mối cảm hoài trước cõi đời mênh mang trong vũ trụ vô cùng vô tận, nó mang tinh thần của “bạch vân thiên tải không du du”:
Lẻ đêm trăng chếch song soi
Lẻ ngày trời ngả giại phơi mãn chiều
Mõ khua trăng rụng cuối đèo
Chuông buông trời lặn… đèn leo lét dầu
Mang mang mây trắng trên đầu
Ta tìm đâu gọi người đâu bây giờ?
Cõi người đốm lửa hư vô
Rạc rài tiếng cuốc dồn xô… rạc rài!
Trong tình yêu thơ lục bát của Quang Hoài có sự cảm mộ đặc biệt với Nhà thơ Nguyễn Bính - điều này Quang Hoài không che giấu, anh đã dành sự tưởng nhớ Nhà thơ Nguyễn Bính bằng một bài thơ lục bát khá dài:
Mộ người nắng trải mênh mang
Gió lay ngọn cỏ hàng hàng non tơ
Người đi từ bấy đến giờ
“Chân quê” gửi lại hồn thơ cho đời
Nỗi niềm gan ruột đầy vơi
Dứt day năm tháng lòng người thành Nam (…)
Tiếng thơ người - tiếng nhân gian
Hoá hồn non nước vọng ngàn mai sau
Còn tre xanh… còn trầu cau
“Chân quê” còn mãi xanh màu thời gian.
(“Chân quê” còn mãi xanh màu thời gian)
Vậy, “Tiếng thơ - tiếng nhân gian” rồi “hoá hồn non nước vọng ngàn mai sau” - là một trong những cái đích cao vời mà mỗi người làm thơ mong đạt đến. Quang Hoài tưởng nhớ Nhà thơ Nguyễn Bính, thiển nghĩ, như vậy là đã tận cùng vậy.
Để khép lại bài viết, tôi xin dẫn lời của Nhà thơ Trần Đăng Khoa viết về thơ Quang Hoài:
“… Thơ Quang Hoài - một loại rượu đặc sản của riêng anh sẽ chinh phục được độc giả, làm say lòng độc giả mà không cần tôi phải quảng bá, vân vi.
Tôi tin thế.
Và rất mong như thế!”.
Hà Đông, 28/7/2009
Dương Kiều Minh
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Trương Nam Hương và cuộc "Tìm mình"

 Trương Nam Hương
và cuộc "Tìm mình"

Tôi nhận được hai tập thơ 99 mini thơ và Ra ngoài ngàn năm của nhà thơ Trương Nam Hương vào những tuần mưa đang cuối hạ; và giờ cái khí vị của đầu thu đã lan tới làm trồi lên những bông tiểu ly lan đầu tiên của mùa thu. Cái loài thảo mộc này, chỉ khi xuất hiện khí vị của thu thì những bông hoa đỏ nhỏ xíu vươn lên hàng loạt.
Có lẽ nhà thơ là một loại giống khác biệt trong cái loài người đông đúc với con số hơn bốn tỉ trải khắp bề mặt vỏ trái đất. Cái đặc trưng loài loại của nhà thơ, là cứ mải miết đào những cái hang sâu hút vào chính bản thân mình. Thực ra, tôi cũng chưa biết cái cuộc tự đào bới mình đó là để làm gì, nhưng đã là thi sĩ thì những cái hang ngoắt ngoéo như những mê lộ cứ cuốn hút cả đời anh ta. Có một loài giống người khác với loài người nói chung mà tôi vừa đề cập ở trên, chính là thi sĩ, và chỉ có thi sĩ mới đào bới chính mình. Tôi nhận thấy nhà thơ Trương Nam Hương đã không giấu giếm cuộc Tìm mình đó.
“Thăm thẳm lòng người đi chẳng đến/ Tìm mình không biết lẫn mình đâu!”
(Tìm mình)
Cuộc “Tìm mình” là cuộc “hành lộ nan”, nhọc nhằn và hiểm khó, nó “thăm thẳm”, và “đi chẳng đến”. Có lẽ cái hiểm khó, việc không đi đến được lại là cái lực hút vô cùng mãnh liệt đối với những ai dâng hiến mình cho công cuộc đó, trong cái
“Thời gian rúc lòng người như mối vậy”
(Gặp Kiều trong tiết thanh minh).
“Có nửa giấc mơ ngập tràn sông suối/Có nửa cuộc đời tỉnh trơ đá cuội/ Có câu thơ lặng sóng treo giữa lòng/ Có trong cái có vô vàn cái không!”
(Nhịp hai)
Trong công cuộc “thăm thẳm”, “tìm mình” giống như cuộc du hành trong Thần khúc của Dante, ta phải qua nhiều tầng trời khác biệt. Đây là những tầng trời mà Trương Nam Hương đã qua. Theo Luận vãng sinh của Tây Tạng thì đó là tầng trời có “hào quang sắc vàng của thọ uẩn thuần tịnh, của bình đẳng tánh trí, trong sạch chói chang hầu như muốn xuyên thủng trái tim, mắt không dám nhìn. Đồng thời trong hào quang mênh mông sắc vàng đó, một thứ ánh sáng xanh nhạt của cõi người sẽ đến”.
“Quả sấu lăn một vòng trẻ dại/ Lá bàng xanh mướt tuổi học trò/ Điểm danh thấy tên mình chua ngọt/ Tiếng ve nằm đáy túi buồn ngơ”
(Ký ức)
“Hoa dại nở vô tư/ Thót ao đầm tháng sáu/ Thẩn thơ ta gỡ cỏ cho bà/ Mộ đất vù châu chấu/ (…)/ Sớm nay chợt bần thần thương tuổi nhỏ/ Lúc con ta nghịch ngã, nhem bùn/ Dỗ con khóc, tuổi ḿnh đâu dễ dỗ/ Gột vết bùn nghe ký ức rưng rưng”
(Mơ về)
Vâng, ký ức giống như con thuyền đưa ta trở lại những bến bờ của thời đã qua, của những kỷ niệm và trải nghiệm. Ký ức chính là muôn nẻo cuốn hút nhà thơ trong cuộc tìm mình. Cùng với người bà, thì người mẹ và người cha là những thiên thần sáng rực đứng ở các tầng trời trong cuộc “Tìm mình” của nhà thơ Trương Nam Hương.
“Mẹ hoá mưa phùn, cha hoá gió/ Em về thương lấy một câu thơ”
(Câu hát ấy)
Cha - dòng sông nhớ - con bơi/ Đắng cay vào giọt mồ hôi bến bờ/ (…)/ Hồn cha giờ hoá con đò/ Mang mang đầy cả giấc mơ suối nguồn”
(Lời thưa)
Các dạng tư tưởng biến hiện thành hiện thực, tưởng tượng biến hiện thành hình ảnh cụ thể và những năng lực tưởng chừng như chỉ nằm trong giấc mộng bỗng trỗi dậy.
Người cha và người mẹ đã hoá thành những biểu tượng của thiên nhiên và của cuộc đời, đó là “mưa phùn”, là “gió” và là “con đò” - là không khí, là hơi thở, là nước và là sự dìu dắt nâng đỡ chở che cho nhà thơ vượt qua những thác ghềnh của cuộc đời.
“Rồi dấu chân mờ xa/ Những nẻo đường tuổi tác”
(Ru người, ru ta)
Những trải nghiệm của nhà thơ giống như những giọt nhựa thông cổ thụ theo thời gian ngấm xuống lòng đất, sau một trăm năm những giọt nhựa thông đó hoá thành hổ phách. Trải nghiệm, dù là những vui sướng, sai lầm hay đau khổ, chúng đều là quà tặng quý giá nhất mà nhà thơ nhận được từ cuộc đời, quà tặng đó mang đến sự thức tỉnh.
“Thơ cứ phong phanh vị đời thấm tháp/ Sau những ghét thương lòng thường mất mát/ Giật mình bóng lá gọi mình loay hoay”
(Bâng quơ)
“Mình xài bao nắng/ Nợ nần bao mưa/ Mà sao sợi tóc/ Xa hoa trắng thừa!”
(Khúc lặng)
Theo Roberto Assagioli, thì trong tâm hồn con người có nhiều năng lực và năng lượng nói chung chưa được biết tới, những khả năng sáng tạo và biểu hiện đáng ngạc nhiên tồn tại trong trạng thái tiềm ẩn, sẵn sàng được bộc lộ một khi người ta mang lại cho chúng những điều kiện mong muốn. Nhà thơ Trương Nam Hương cũng thế,anh khơi mở thế giới của mình qua con đường trở ngược về ký ức.
Đến với vô cùng trong trẻo em/ Anh bơi qua anh qua mười sáu tuổi/ Hoa súng ao đầm tím lịm/ Mùa thu xanh nhói vàng ngân lên lặng im
(Miền em)
Có lẽ hình ảnh thiên thần toả ánh hào quang rạng rỡ nhất trong những tầng trời mà nhà thơ Trương Nam Hương đi qua, là hình ảnh về những người thân. Hình ảnh người thân đã nằm sâu trong tiềm thức của nhà thơ. Trong cuộc “Tìm mình” này, qua từng tầng trời khác nhau, hình ảnh người thân đã toả rạng từ trong sâu thẳm cõi lòng của tác giả.
“Mộ bà châu chấu vù bay/ Trưa cầm eo óc trên tay tiếng gà’
(Trưa quê)
“Áp mặt vào sông/ Bóng cha đáy nước/ Người khuất lâu rồi/ Vớt thương chẳng được”
(Trước sông)
“Mẹ giờ hoá nén hương thơm đỏ/ Thương lặng nhìn ta chẳng rụng tàn/ Con thắt se lòng lo mẹ nặng/ Cõi người cong vít cả thân nhang”
(Mẹ)
“Đêm nhớ, quờ tay đâu cũng biển/ Không không, bóng núi rủ cha ngồi/ Trăng hay dáng mẹ thầm bên cửa/ Quệt mắt nghe buồn mặn xuống môi!”
(Ảo giác)
Cõi người thực đấy, mà là ảo giác đấy. Trước mộ bà, trong tiếng “châu chấu vù bay”, giữa trưa nồng nhà thơ tưởng như cầm được “eo óc trên tay tiếng gà”. Kìa “bóng cha” đang in “đáy nước”, nhưng động vào mặt nước lại tan ra, để rồi “vớt thương chẳng được”. Người mẹ thân thương từng âu yếm chở che, nay “hoá nén hương thơm đỏ”. Là nén hương thơm đỏ hay là mẹ, để “cõi người cong vít cả thân nhang”. Đêm ở biển, nhà thơ thấy hiện về trong hiện thực của thế giới tâm tưởng mình, là “bóng núi rủ cha ngồi”, là “trăng hay dáng mẹ thầm bên cửa”. Đó là thế giới thực, hay là ảo giác. Là ảo giác hay là thế giới thực, không biết nữa, chỉ thấy rằng nhà thơ đang sống trong cái thế giới của tiềm thức, nơi những người thân toả ra những luồng sinh khí của đời sống cõi người - một đời sống mà nhà thơ được đắm chìm trong đó, được bao dung, được chở che.
Trong thế giới ảo giác cuộc tìm mình của nhà thơ Trương Nam Hương, hình ảnh người mẹ vẫn là hình ảnh hiện lên đậm nét nhất, nó hầu đã phủ khắp và thấm sâu vào từng mao mạch thế giới tinh thần của nhà thơ. Đó là bậc thiên thần hiện lên trong những làn hào quang và ánh sáng khác nhau, khi là màu thiên thanh, khi là màu hoàng thổ:
“Người trong ảnh trẻ hơn ta nhiều tuổi/ Ngỡ thời gian chưa dốc trận bão lùa/ Nâng tấm ảnh đã nhoà như sương khói/ Ta hôn về cô gái -mẹ ta xưa”
(Tấm ảnh)
“Đưa mẹ vào tháp cốt/ Quay về, con bần thần/ Quên hoá vàng đôi guốc/ Lên đó Người lạnh chân”
(Băn khoăn)
Chỉ là bài thơ ngắn bốn câu, nhưng đó lại là câu chuyện dài về sự ám ảnh trong thế giới tâm tưởng của nhà thơ. Thực tế, đó là cái lộ mạch bền bỉ của những nghi thức, quan niệm, như một quán tính chảy xiết của truyền thống, của phong tục về đời sống tâm linh. Sau khi thực hiện cái công việc cuối cùng đối với người mẹ đã khuất theo phong tục, quay về tác giả chợt “bần thần”. Sự bần thần đó là gì? Đó là việc “quên hoá vàng đôi guốc”. Việc quên hoá vàng đôi guốc liên quan tới việc người đã khuất ở cõi linh thiêng trong việc đi lại hàng ngày sẽ không có guốc để đi lại, vì thế “lên đó người lạnh chân!”. Nỗi ám ảnh đối với người mẹ đã khuất trong bài thơ của Trương Nam Hương liên quan tới cả một quan niệm, một học thuyết có tên là thuyết vật linh khởi từ xã hội nguyên thuỷ tiếp tục chảy cho đến ngày nay. Một mê lộ khác không thể không nhắc đến trong thơ Trương Nam Hương là thế giới của hương sắc tình yêu. Trong cuộc tìm mình, tình yêu như làn nước đổ xuống trên vách đứng của thời gian và của cuộc sinh tồn nơi trần thế.
“Mẹ cho anh tuổi mèo tam thể/ Thả bóng ban trưa bắt bóng chiều/ Câu thơ đêm thức, ngày thiu ngủ/ Thích vùi trấu bếp của tình yêu”
(Tự họa)
“Em nỗi dịu dàng hay mắt bão/ Anh ngồi câm lặng một cơn giông”
(Cơn giông)
“Thôi, anh về với mình thôi/ Bàn chân mỏi quá/ Dặm đời chông gai/ Thời gian tưởng ngắn mà dài/ Ước khi ngã xuống không ngoài yêu thương”
(Về)
Có ai đó nói, rằng sống là ra đời từng giây, từng phút. Chết xảy ra khi sinh dừng lại. Vị trí của con người trên thế gian, sự cách biệt, cô đơn, bất lực, và áp lực từ nhiều phía, cái gánh nặng này quá sức chịu đựng“bàn chân mỏi quá, dặm đời chông gai”. Khi ấy, chỉ có tình yêu như sự cứu rỗi mang đến nguồn sống mát lành cho con người trong cái sa mạc mênh mông của những lợi lộc, mưu chước và hư danh phù phiếm. Cuộc “tìm mình” của Trương Nam Hương, đó là cuộc du hành vào thế giới thẳm sâu của ký ức nơi miền tiềm thức, dâng lên như một hiện thực. Qua tầng tầng của thế giới ảo giác, nhà thơ lại về với thực tại trong cái “nắng nôi” của đời sống:
“Vào chùa vừa ngộ hồi chuông/ Bước ra đã lạc con đường nắng nôi”
(Không đề I)
Dù không công nhận, cũng phải thấy rõ cái đời sống trần tục trên thế gian tạo ra những vòng xoáy có sức hút siêu mạnh. Nhà thơ vừa “ngộ hồi chuông”, tức là sự thức tỉnh, sự lĩnh hội thực tại một cách trực tiếp và trọn vẹn, không tự biện, không phiền não, đã tiếp cận với những căn nguồn sâu thẳm nhất trong mình. Nhưng, khi vừa dứt cái “ngộ hồi chuông”, nhà thơ lại “lạc” vào con đường của “nắng nôi” trong những âm chói đục của đời sống: “Chạm vào dăm bảy trái ngang/Bàn tay sấp ngửa thời gian mệt nhoài”.(Lại viết về hoa cúc)và, cuộc đời thực đó còn làn “Cả lúc mình yêu sống cũng hình như”.(H́nh như)
Tôi đã đọc ở đâu đó có nói, rằng từ người bán khai đến nay, loài người đã chỉ đưa ra vài câu đáp về hiện sinh, và mỗi con người trong cuộc đời của chính mình đưa ra một trong những câu trả lời này, mặc dù thường thì anh ta không ý thức được câu đáp anh ta đưa ra.
Bằng vào cuộc “Tìm mình”, và với những câu thơ của mình, nhà thơ Trương Nam Hương đã có câu đáp cho chính mình.
5/12/2009
Dương Kiều Minh
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Thế Mạc - Nhà thơ ẩn khuất miền đá ong xứ Đoài

Thế Mạc - Nhà thơ ẩn khuất
miền đá ong xứ Đoài

Buổi tối cuối cùng của năm dương lịch, tôi đang chim trong tĩnh lặng hít thở làn mưa bụi giăng giăng mờ ảo xa xa, suy ngẫm về cái hào nhất dương của tháng 11 kiến tý, thuộc quẻ Phục, bắt đầu được khởi lên từ sau ngày 23 tháng 10 âm lịch, khi chuôi sao bắc đẩu chuyển về tý.
Tôi chợt nghe tiếng chuông điện thoại, và được nghe thông báo: Nhà thơ Thế Mạc đã mất. Tôi hoàn toàn bất ngờ, mặc dù đã biết nhà thơ Thế Mạc sức khỏe giảm sút nhiều năm nay từ sau cơn xuất huyết não. Thế là một người bạn vong niên lại đã khuất núi. Những người bạn tâm đắc cứ dần vắng bóng, ở Sơn Tây, sau nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc, giờ tiếp theo là nhà thơ Thế Mạc. Tôi đứng dậy, tiến gần tới làn mưa bụi trong đêm, dần trấn tĩnh và thả tâm tưởng ngược về xứ Đoài, tôi nghe thấy trên khoảng không xa tít những câu thơ của nhà thơ Thế Mạc vọng lại từ miền đất đá
ong xứ Đoài.
Cha ơi, cha cho con phép
Mở đất phong bao
Từ ngày cha lên núi (…)
Con đã thành những tảng đá ong
Mẹ nhỏ vào con nước mắt (…)
Cha lại đi trong sấm người trai Đông Chấn
Mẹ lại xa trong sóng rợn Tây Đoài
(Đá ong)
Nhà thơ Thế Mạc được sinh ra từ gia tộc họ Kiều ở Cần Kiệm, Thạch Thất, dòng dõi nho gia, bên dòng sông Tích, một dòng sông cổ Xứ Đoài. Theo Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu cho biết “Sông Tích phát nguyên từ chân núi Tản Viên, qua các châu Minh Nghĩa, Mỹ Lương, đến Hoài An chảy vào sông Hát, chảy qua xã Lạc Trang huyện Kim Bảng là sông Châu Giang”. Sông Tích đã theo nhà thơ Thế Mạc chảy từ Thạch Thất qua thị xã Sơn Tây - nơi ông đã quyết định chọn cho mình định cư đến cuối đời, sau nhiều cuộc di chuyển qua nhiều vùng đất. Dòng sông này khi chảy qua Xuân Mai của Chương Mỹ thì có tên là sông Bùi. Đoạn sông Tích chảy qua Cần Kiệm, quê hương của nhà thơ Thế Mạc, dòng sông chảy dưới hai bờ đá ong dựng đứng, nước bốn mùa trong vắt, in bóng những bụi tre cổ kính đã đứng đấy từ vài trăm năm. Thế Mạc thuộc trong số ít các nhà thơ, mà cái địa khí của vùng đất nơi sinh ra đã ngấm vào gen, tạo ra cái tiết điệu đặc trưng của máu và của hơi thở kiến tạo nên tính cách và tâm hồn nhà thơ.
Vùng đất đá ong cổ kính xứ Đoài đã thực sự sản sinh ra một nhà thơ của mình, vùng đất đá ong cằn cỗi khắc khổ ấy đã in dấu ấn đậm nét lên tính cách của con người và phong cách thơ của nhà thơ Thế Mạc.
Trăm năm
Quỳ hai chân trên thềm đá ong
Ba nén nhang ngang mặt
Nghìn năm
Tôi vẫn quỳ hai chân trên thềm đá ong
Ba nén nhang tôi khấn vọng (…)
Giờ
Chùa đã ngập trong hồ
Tôi vẫn quỳ trên thềm đá ong còn lại
(Chùa chìm đáy hồ)
Ngôi chùa cổ ấy đã ngập chìm trong hồ nước, nhưng cái cõi thiêng vẫn dựng mãi trong tâm tưởng của nhà thơ Thế Mạc. Cái cõi thiêng của vùng đất ấy vẫn uy nghi vời vợi giữa trời đất trên nền đất đá ong cứ rắn lại theo thời gian, và theo năm tháng. Nhà thơ mang hồn cốt của miền đất đá ong cổ kính khắc khổ và trầm mặc, suốt đời mải miết mong tìm bóng dáng của huyền thoại còn cất giữ đâu đó trong màn sương khói của những câu chuyện truyền miệng trong dân gian, nhưng rồi lại tìm thấy nỗi niềm nhân thế, lại chạm vào tục luỵ nơi làn da vừa kịp lành với những vết đau “Bạn sẽ bay ra tục lụy để đi về/ Nước mắt trần gian theo chân bước lê thê/ Chẳng thấy gì/ Lăn lóc trên vùng đồi toàn đá/ Nằm im im đợi mình thành huyền thoại” (Hồn đá);
“Giật mình một giọt gì rơi xuống
Ngoảnh nhìn đọng lại thành hồ”
(Quà tặng).
Thế Mạc là một trong số ít các nhà thơ đã nhập thân vào các biểu tượng của thiên nhiên, hướng thơ ca vào những biểu tượng ấy như là một mục đích tối thượng của nghệ thuật. Thơ Thế Mạc là thế giới của hồ, đầm, đá, đồi, đá ong, hang, thác, và loài chim âu đất “Mải miết một đường say trời đất/ Cất lên vụng về cảm ơn tỏa khắp/ Tôi yên tâm gửi vào đất/ Người đã giúp tôi/ Một chiếc trứng nâu” (Chim âu đất). “Trên núi cao tràn ra luồng khí thiêng/ Tôi nằm sấp rồi tôi nằm nghiêng/…/ Cho tới lúc trời một đám mây sà xuống/ Đất vỡ bung ra đầm Đượng/ Tiếng khóc thét thiêng suốt dọc sông Đà/ Một con rồng từ mặt đầm bay ra” (Đầm Đượng). “Húc vào đây rỗng toang ra một lỗ/ Nước mắt cứ âm thầm rả rích/ Xùi bao nhiêu thạch nhũ ở trên đời/ (…)/ Chính là chỗ khổ đau sâu xoáy/ Xô hoắm dòng thời gian”. (Hang). Qua những biểu tượng của thiên nhiên, nhà thơ ký thác gửi gắm mối tâm sự sâu kín, những quan niệm về thi ca nghệ thuật và về cuộc đời, những nỗi niềm nhân thế không thể bộc bạch được, chỉ có thể trút vào thơ ca và những biểu tượng của thơ ca.
Thơ ca chính là đôi cánh lớn giúp nhà thơ bay mải miết một đường bay say đắm trong trời đất, và không quên cất lên lời “vụng về cảm ơn tỏa khắp”. Trong cái cuộc chìm đắm chốn nhân gian “cái kiếp ấy mình lê trên đất”, “nước mắt cứ âm thầm rả rích”, “chính là chỗ khổ đau sâu xoáy, xô hoắm dòng thời gian”. Trong một cuộc đời, sống ẩn dật, lặng lẽ chiêm nghiệm, lánh xa danh lợi, không khỏi có lúc nhà thơ ứa ra trong lòng những xót xa của nỗi đau thật khó nói cứ ẩm ỉ mang theo.
“Ta đã lặn tưởng dửng dưng xa lạ
Nước mắt hòa trong nước trách chê ư (…)
Ta đã dành trên ta mặt phẳng lặng
Cho trăng sao in bóng vào đây”
(Đáy hồ)
Tôi chợt thoáng nghĩ rằng, đọc thơ Thế Mạc, nếu bỏ qua cái hệ thống biểu tượng trong thơ của ông, thì coi như đã bỏ qua cái thành tựu quan trọng nhất trong cuộc trăn trở vật lộn sáng tạo thi ca của nhà thơ Thế Mạc. Nhà thơ của miền gò đồi đá ong khắc khổ và trầm tích ấy, đã cảm nhận được rằng, mình đã thành “những tảng đá ong” “con đã thành những tảng đá ong/ Mẹ nhỏ vào con nước mắt/ (…)/ Cha thì hóa lửa/ Và mẹ hóa nước/ Nung thời gian cho con vững chắc” (Đá ong).
Nhà thơ Thế Mạc và nhà viết kịch nổi tiếng Tào Mạt cùng quê ở Thạch Thất, một ở Chàng Sơn và một ở Cần Kiệm, thời trẻ họ cùng học chữ nho ở trong vùng. Đấy là lớp người trí thức trưởng thành sau cách mạng tháng Tám năm 1945, họ đều giỏi chữ nho và thông thạo tiếng Pháp. Họ là lớp người suốt đời sống trong cảnh bần hàn thanh bạch, nuôi chí hướng miệt mài bền bỉ kiếm tìm những giá trị mới, bền bỉ không ngừng nạp vào mình những tri thức của nhân loại theo nhiều ngả đường khác nhau mà họ tiếp cận được. Không chỉ là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu, nhà thơ Thế Mạc còn là người ham mê và rất tinh thông về Lão Tử, Trang Tử, về các môn lý số và Kinh Dịch. Ông am hiểu sâu sắc và tường tận thơ Đường, Tống và các nhà thơ cổ của Việt Nam. Ông cũng rất hâm mộ và ngưỡng vọng những tác phẩm của các triết gia, các nhà văn, nhà thơ thuộc các trào lưu hiện đại trên thế giới. Ông luôn nhìn sự vận động cuộc đời và sự vật theo những quy luật của tự nhiên. Nhà thơ Thế Mạc đã mở thông những cánh cửa bí mật những biểu tượng của tự nhiên để đắm chìm hòa vào trong nó.
Ta đã đi
Đã gặp may hay vận xúi
Mà gập xuống, đổ xuống
Một tiếng kêu hạnh phúc ầm vang (…)
Ta ập xuống nằm tan trong nguyên vẹn
Có lẽ thử đi sang đời khác
Hình hài này hay hình hài khác
Cũng gập ghềnh và bắn tung những nước
Đang tán chia những giọt buồn, giọt hát
Nhập và thành những tặng vật cho nhau
(Thác)
Sau khi viếng nhà thơ Thế Mạc, Hà Nguyên Huyến mời tôi về nhà anh ở Đường Lâm để nghỉ trưa. Hà Nguyên Huyến, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Xuân Diện, Chu Hồng Tiến, Đỗ Doãn Hoàng, Đỗ Doãn Phương… là những học trò của nhà thơ Thế Mạc. Trong những người học trò đó, Nguyễn Lương Ngọc là người rất gần gũi gắn bó mật thiết với nhà thơ Thế Mạc. Là thầy trò, nhưng họ gắn bó với nhau như hai người bạn. Cùng ở thị xã Sơn Tây, cùng chung chí hướng theo đuổi con đường sáng tạo thi ca; và đặc biệt nhà thơ Thế Mạc từng là bạn của cố nhà cách tân kịch Nguyễn Khắc Dực, thân sinh của Nguyễn Lương Ngọc. Cách đây nhiều năm, trong một lần tôi ghé qua thăm nhà thơ Thế Mạc, ông rất vui vẻ và cười sảng khoái khoe rằng: Nguyễn Lương Ngọc vừa đi xuyên Việt về tặng ông một quả đước mang từ đồng bằng sông Cửu Long. Nhà thơ Thế Mạc cười sảng khoái và nói đùa rằng, Ngọc xỏ tớ ông ạ, nó bảo quả đước khi rụng thì rơi thẳng đứng cắm ngập xuống bùn. Hóa ra Ngọc ví tôi cũng như quả đước ngập trong bùn. Tôi được chứng kiến và cảm nhận về tình yêu cũng như sự mến mộ của nhà thơ Thế Mạc với người học trò của mình là nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc. Cuối năm 1993, Nguyễn Lương Ngọc đã vẽ bức chân dung nhà thơ Thế Mạc với tất cả sự kính trọng và hiểu biết về một người thầy, một nhà thơ sau nhiều năm gắn bó. Nguyễn Lương Ngọc nói tôi, màu đen của bức chân dung vì thiếu màu anh phải dùng than của nhọ nồi thay vào. Theo nhiều họa sĩ nghiêm túc đánh giá thì khó có họa sĩ nào vẽ chân dung nhà thơ Thế Mạc đạt hơn bức chân dung này. Khi Nguyễn Lương Ngọc mất, tôi thấy nhà thơ Thế Mạc thẫn thờ đến hàng năm trời, bởi ông đã mất đi không chỉ một người học trò, mà thực sự đã mất đi một người bạn tri âm, đó là người luôn mang về cho ông những thông tin mới và chia sẻ với ông những băn khoăn về nghệ thuật và cuộc đời mà ông không thể tâm sự được với ai.
Buổi trưa ngày mồng một đầu năm dương lịch, tôi ở lại nhà của nhà văn Hà Nguyên Huyến. Hà Nguyên Huyến giới thiệu với tôi một bức liễn cổ đang treo trên tường ngôi nhà của anh. Anh nói rằng bức liễn này, nhiều năm đã nhờ nhiều người dịch giúp, nhưng vẫn chưa dịch được. Rất mừng, vì vừa rồi có một người bạn đã dịch giúp bức liễn, mà nhiều năm vẫn là một bí mật treo trên bức tường, bây giờ bí mật đó đã được sáng tỏ. Hà Nguyên Huyến đọc, dịch, rồi chép lại cho tôi bài thơ trên bức liễn cổ đó.
“Ba tiêu tâm tận triển tân chi/ Tân quyển tân tâm ám kỷ tuỳ/ Nguyên học tân tâm dưỡng tân đức/ Chí tuỳ tân diệp khởi tân tri” (Tận sâu trong lòng cái lá chuối đang nảy một cái lá mới/ Cái lá mới ấy như là quyển sách ám ảnh ta mãi/ Nguyện học dưỡng tâm để có cái đức mới/ Theo cái lá mới đó mà nảy sinh được tri thức mới).
Hà Nguyên Huyến nói với tôi, cố tìm giúp anh tác giả của bài thơ trên bức liễn cổ đó.
Tôi thực sự bị thuyết phục bởi sự mới mẻ và thâm hậu của bài thơ cổ. Cuộc sống luôn luôn bí ẩn và mới mẻ như cái lá chuối mới ẩn sâu trong lòng một cái lá chuối. Cuộc sống như một quyển sách lớn, người ta phải hằng tu tập dưỡng tâm để cho cái đức của mình ngày một thêm mới. Cái đức của mình có ngày một thêm mới thì theo đó mới nảy sinh được tri thức mới. Nghe bài thơ cổ, tôi lại trào lên niềm vọng tưởng về nhà thơ Thế Mạc – một con người đã dâng trọn cuộc đời cho việc tu tập tích luỹ tri thức và tìm tòi sáng tạo thi ca. Nhà thơ Thế Mạc cả cuộc đời đã sống thanh đạm bần hàn, ẩn dật, kín đáo, lặng lẽ ẩn sâu như tàu lá chuối ở trong lòng cây chuối vậy.
Chìm giữa bầu không khí của làn mưa bụi cuối năm trong ngôi nhà cổ ở một làng cổ thật yên tĩnh, chúng tôi ngồi nói chuyện về bài thơ cổ, về nhà thơ Thế Mạc. Hít thở không khí của những ngày cuối năm, khí nhất dương đang khởi dậy trong trời đất, tôi nghe vang vang đâu đó những câu thơ của nhà thơ Thế Mạc, những câu thơ toả khắp bầu trời miền đá ong xứ Đoài.
Vâng
Quà gửi tặng của người
Đã cắm khắp vùng đồi (…)
Ta là quả của người vừa mới nứt
Một hạt u linh vừa vứt xuống trần gain
Ta bỗng thấy đi trong chiều nhị hợp
Tay ôm hoa, vai vác túi trăng ngàn
(Dốc Lễ Khê)
Tôi thấy nhà thơ Thế Mạc vẫn “quì hai chân trên thềm đá ong” quê hương ông. Sinh thời ông đã thấy chính mình trở thành “những tảng đá ong” thấm đẫm nước mắt của người mẹ nhỏ xuống. Nhà thơ Thế Mạc đã tự tạc dựng vóc dáng của mình lên vùng gò đồi đá ong, bằng những vần thơ “rích ra” từ những trăn trở trải nghiệm, kéo qua hai phần ba thế kỷ thầm lặng nhọc nhằn với nghiệp văn chương, với “Những con chữ quay chiều/ Lả tả bay lá lốc cuốn trên đường hầm hập/ Tiếng bút rơi, giấy xé, mực đổ nghiêng/ Bình vỡ tan tung toé/ ánh chiều chếch đỏ xuyên ngang cửa/ Bụi nắng quay vòng chói dọc hồ” (Chiều trở gió). Trong cái cảm nhận mạnh mang tính vũ trụ “Đêm qua thiên thể va vào người/ Giận dữ xoáy tròn và ta rơi” (Va), nhà thơ Thế Mạc không khỏi có lúc chạnh buồn nhận ra cái mong manh của kiếp người trong cái vũ trụ không không gian, không thời gian, trong vòng quay miên viễn vô cùng vô tận:
“Cái kiếp ấy mình lệ trên đất
Phơ phất chiều hơi mắt cay”;
hoặc “Hỡi những đàn chim thu - biết
Một giọt nước mắt rơi vào tro ta”
(Một cành cây gãy)
“Một nấc nào của khắc rụng rơi
Chỉ một thoáng ta nghe: phựt!”
(Cuống lá)
Lão Tử từng nói: “Chết mà không mất là thọ” (Tử nhi bất vong giả thọ). Sau 75 năm buồn vui trên mặt đất trần gian, lặng lẽ ẩn dật lánh xa danh lợi, lánh xa những chốn đua tranh ồn ào, với nửa thế kỷ theo đuổi nghiệp bút mực, từng đạt giải thơ báo văn nghệ từ năm 1959. Tôi thấy nhà thơ Thế Mạc vừa thực hiện một chuyến đi xa “Tay ôm hoa, vai vác túi trăng ngàn” phất theo “tiếng sấm người trai Đông Chấn” chợt ngoảnh nhìn “sóng gợn Tây Đoài”, vỗ nhẹ trên đôi cánh rộng thênh của thi ca trở về vùng gò đồi đá ong của quê hương ông. Nơi dòng sông Tích như một bài thơ cổ trong ngần chảy mãi giữa hai bờ đá ong dựng đứng.
Hà Đông, 1/1/2010
Dương Kiều Minh
Theo https://www.vanchuongviet.org/

  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...