Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2025

Hoàng Tố Nguyên, nhà thơ lớn của đất nước

Hoàng Tố Nguyên, nhà
thơ lớn của đất nước

Nhà thơ Hoàng Tố Nguyên có số phận đặc biệt. Được sinh ra ở Gò Công nhưng ông sớm rời quê lên Sài Gòn. Từ Sài Gòn ông ra Bắc, sống nhiều cơ quan ở Hà Nội, Hà Tây rồi mất sớm do bạo bệnh ở Thái Bình. Có những “quê chung” nhưng Hoàng Tố Nguyên không thực sự gằn bó với quê nào. Do lẽ đó mà ông ít được quan tâm, gần như bị lãng quên, khuất lấp. Đã tới lúc cần có sự nhìn nhận thỏa đáng về ông.
Hoàng Tố Nguyên, cuộc đời và sự nghiệp
Nhà thơ Hoàng Tố Nguyên tên khai sinh là Lê Hoằng Mưu. sinh ngày 30.8.1928 tại xã Bình Ân, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Sau khi học xong tiểu học ở Gò Công, ông lên Sài Gòn học trường Mỹ thuật Gia Định. Năm 1947 ông hoạt động bí mật ở nội thành Sài Gòn. Từ năm 1947 đến 1949 là Chủ tịch Hội học sinh Mỹ thuật kháng chiến Gia Định. 1949–1950 là cán bộ Ty thông tin Thủ Dầu Một. Là cán bộ tuyên truyền, ông vẽ tranh cổ động, làm thơ, viết báo. 1950–1952, là Trưởng Ban Tuyên truyền Tỉnh đoàn Thanh niên Cứu quốc Thủ Dầu Một, Ủy viên Ban chấp hành phân hội văn nghệ liên tỉnh Thủ Biên (Thủ Dầu Một – Biên Hòa). 1952–1954 là cán bộ Sở thông tin Nam Bộ, biên tập viên báo Vì Chúa, vì Tổ quốc của Công giáo kháng chiến Nam Bộ. Năm 1954 ông tập kết ra Bắc, làm biên tập viên báo Văn nghệ, Ủy viên Thường trực Ban đại diện văn nghệ Nam Bộ. Năm 1959 về làm biên tập viên báo Độc lập. Năm 1969, ông về xây dựng phong trào văn nghệ ở tỉnh Hà Tây; và năm 1974 về công tác ở Hội Văn nghệ tỉnh Thái Bình. Ông mất ngày 30 tháng 6 năm 1975.
Hoàng Tố Nguyên là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957).
Những tập thơ đã xuất bản:
- Từ nhớ đến thương 1950.
- Truyện thơ Đổi đời (1955)
- Truyện thơ Cô gái bần nông sông Hồng (1956).
- Đất nước (1956)
- Gò Me  1957
- Quê chung 1962
- Gửi chiến trường chống Mỹ 1966
- Tên quê hương  1976
- Từ nhớ đến thương 1980
- Hậu phương không ngủ (chưa in)
- Bài thơ bên gối cưới (chưa in)
Mấy năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, Hoàng Tố Nguyên hoạt động bí mật, làm công tác tuyên truyền. Ông sáng tác một số bài thơ đăng trên báo phát hành công khai tại Sài Gòn, được người đọc biết đến như Vọng hướng sao rơi, Xuân về say ý nhạc… Trong tập THƠ MÙA GIẢI PHÒNG, một đặc phẩm mỹ thuật mùa thu 1949 của NXB Sống Chung, xuất bản năm 1949 tại Sài Gòn, ta thấy sự góp mặt của 20 nhà thơ Việt Nam hiện đại: Anh Huy, Ái Lan, Chim Xanh, Đại Ẩn Am, Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Tấn, Khổng Dương, Liên Chớp, Mộc Lan Châu, Bân Bân Nữ sĩ, Nguyễn Bính, Cô Phạm Từ Quyên, Sơn Khanh, Thâm Tâm, Thẩm Lệ Hà, Tố Hữu, Tố Phong, Trúc Khanh, Vũ Anh Khanh và Xuân Miễn. Ở đây, Hoàng Tố Nguyên có bài Xuân về say ý nhạc:
Anh đi miền Sông Hậu
Tôi về khám thị thành
Đêm đêm, nhìn Bắc đẩu
Nôn nao lòng nhớ anh.
Trời nơi anh sáng chứ?
Hoa đời nở ý xanh?
Máu sông sầu cuồn cuộn,
Có vương tình trăng thanh?
Gió muôn trùng… gió lộng.
Vẫn vang khúc viễn hành?
Bạn bè còn đủ cả
Hay cuối bãi đầu ghềnh?
Tương tàn bao thảm cảnh
Có hiện vào mắt anh?
Xuân về say ý nhạc
Có cạn chén tâm tình?
Ngựa Hồ thương Gió Bắc
Có vẹn lời sắt đanh?
Hay men Tần dễ bén
Mà say khúc hậu đình?
Mà quên thề cổ biệt,
Mà nguôi hận bất bình?
Nơi đây sầu phong tỏa
Hương đời cạn ý xanh
Mây giăng mờ tám hướng
Nắng loãng bụi kinh thành
Có lắm phường cẩu nhãn
Còn mơ chuyện Đế Đình.
Gái trai cười phấn lụa
Cao hát khúc Ân tình
(Còn mong gì tuyết trắng
Mà dâng hồn thơ xanh)
Sầu đông cay độc ẩm
Hồn đau nghẹn bất bình
Đêm đêm nằm đếm tóc
Nghĩ thẹn kiếp phù sinh.
Xuân về say ý nhạc
Đôi câu gọi chút tình
Trăng liềm chênh chếch đổ
Về phương nào đó anh?
(1949)
Bài thơ viết năm 1949, khi Hoàng Tố Nguyên tròn 20 tuổi. Tuy vẫn mang đặc điểm chung của dòng thơ Tiền chiến với ngôn từ và điển tích cũ nhưng ta thấy toát lên từ trong đó một âm hưởng mới trầm sâu mà khỏe mạnh, thuyết phục, lôi cuốn tuổi trẻ đi lên đường giải phóng. Hình như điều này báo hiệu một thế hệ nhà thơ xuất hiện trong hoàn cảnh mới của dân tộc.
Việc Hoàng Tố Nguyên được chọn đứng tên trong tuyển thơ cùng với những tên tuổi hàng đầu của thơ ca Việt Nam lúc đó đã khẳng định vị trí của ông.
Trong công trình Lược sử văn nghệ Việt Nam-Nhà văn tiền chiến (NXB Vàng Son, Sai Gòn 1974), Nhà phê bình văn học Thế Phong đánh giá về nhà thơ Hoàng Tố Nguyên như sau:
“Về bình diện thi ca miền Nam 1945–1950 chỉ có hai nhà thơ điển hình nhất là Vũ Anh Khanh và Hoàng Tố Nguyên. Họ bao trùm cho các nhà thơ khác như: Ái Lan, Tố Phong, Trúc Khanh, Khổng Dương v.v…
Ái Lan, một nữ thi sĩ có nhiều triển vọng loại thơ tranh đấu như Thu bất hủ; cũng như Trúc Khanh có trong loại thơ tâm tình lành mạnh, một thứ Nguyễn Bính non tay trong kháng chiến miền Nam.
Hoàng Tố Nguyên trội hơn hết, sau Vũ Anh Khanh. Tác giả nhiều bài thơ đăng rải rác trên báo, mặc dầu chưa in một tác phẩm nào… Những bài như: Vọng hướng sao rơi, Xuân về say ý nhạc… đăng trong tuyển tập thi ca Thơ Mùa Giải Phóng (5.1949).
Thơ Hoàng Tố Nguyên đi vào thực tiễn cách mạng, kỹ thuật cao, truyền cảm người đọc như Tha La của Vũ Anh Khanh. Như Vũ Anh Khanh, Hoàng Tố Nguyên nổi tiếng vì thơ có hình tượng sống mới, tiết tấu âm thanh mới, không dùng sáo ngữ, hoặc điển cố, như bài thơ Sa Cơ của Thẩm Thệ Hà hoặc Hoàng Tấn với Giang san khói lửa mù bay…
Xuân về say ý nhạc là bài thơ của một đồng đội chiến đấu chống xâm lăng Tây thuộc lần thứ hai; mà tác giả là Hoàng Tố Nguyên, nhà thơ xuất sắc.
Về bình diện văn nghệ Nam bộ 1945 –1950, hẳn không thể quên văn Lý Văn Sâm, thơ Vũ Anh Khanh, thơ Hoàng Tố Nguyên... là những người góp vào nền văn học cực thịnh của Nam Bộ.
Những năm sau, Hoàng Tố Nguyên sáng tác khá nhiều: - Từ nhớ đến thương (1950); Truyện thơ Đổi đời (1955); Truyện thơ Cô gái bần nông sông Hồng (1956) và Đất nước (1956). Nhưng những sáng tác này không gây được tiếng vang đáng chú ý. Không có trong tay tập Từ nhớ đến thương nên người viết không biết tập thơ nói gì, nhưng chỉ qua tên những tập truyện thơ Đỏi đời hay truyện thơ Cô gái Bần nông sông Hồng… ta hiểu rằng đó là những tác phẩm đẻ non trước áp lực của thời cuộc, trong phong trào Giảm tô, Cải cách. Nếu công bằng và trung thực thì cũng phải nhắc lại rằng, thời gian này Hoàng Tố Nguyên có tham gia phong trào Nhân văn Giai phẩm với một bài thơ ở Nhân văn số 3. Do việc này mà Hoàng Tố Nguyên bị liệt vào nhóm Nhân văn Giai phẩm trong số gần 40 nhà hoạt động văn hóa lúc đó. Hầu hết tài liệu trên mạng đều nhắc tới Hoàng Tố Nguyên “nhân văn giai phẩm” với chỉ một cái tên. Không có trong tay bài thơ “nhân văn” của Hoàng Tố Nguyên, ta không hiểu nội dung cụ thể ra sao. Nhưng theo nhà văn Tô Hoài thuật lại thì sau cuộc phê bình, Hoàng Tố Nguyên vẫn không thông: “Nói thơ mình còn tiểu tư sản thì được, chứ làm gì có chuyện đánh đấm?”
Cũng thời gian này, Gò Me ra đời, gây tiếng vang lớn. Nên nhớ rằng, tiếng vang của tác phẩm nghệ thuật không chỉ do bản thân giá trị của chính nó mà còn do tâm thức xã hội tác động. Ta biết, thời gian đó, những ước mong về 2 năm tổng tuyển cử thống nhất đất nước không thành. Trong Nam, chính quyền Sài Gòn đàn áp giáo phái và khủng bố người kháng chiến cũ. Ngoài Bắc. vừa qua nạn đói, không khí xã hội căng thẳng do Cải cách ruộng đất, cuộc đấu tranh trong giới văn nghệ sỹ… tạo ra không khí bất yên. Gò Me xuất hiện không chỉ là tập thơ mà như làn gió mát trong khung cảnh oi bức. Người đọc miền Bắc lần đầu biết đến một nhà thơ Nam Bộ, với người, với tình, với cảnh và giọng thơ Nam Bộ thứ thiệt hồn hậu, chất phác:
Ôi, thuở ấu thơ
Cắt cỏ chăn bò
Gối đầu lên áo
Nằm dưới hàng me, nghe tre thổi sáo
Và
Tôi, sáu tuổi trong lòng bà hớn hở
Xem tuồng "Ðoạt võ trạng nguyên”
Ðể ra về mơ mãi giấc thần tiên
Moi đất sét nặn quả chùy Nguyên Bá…
Quê tôi đó: Mặt trông ra bể
Đốm hải đăng tắt, lóe đêm đêm
Con đê cát đỏ, cỏ viền
Leng keng nhạc ngựa ngược lên chợ Gò
Ruộng vây quanh bốn mùa gió mát
Lúa nàng keo cháy rực mặt trời
Ao làng trăng tắm, mây bơi
Nước trong như nước mắt người tôi yêu”.
Có thể nói rằng, sau khi không thành công trong những tập thơ phục vụ kịp thời, ở Gò Me, Hoàng Tố Nguyên tìm lại giọng thơ đồng quê quen thuộc của mình. Như con sơn ca trên đồng, ông cất lên tiếng hát hồn nhiên của riêng Gò Công, riêng Nam Bộ. Đồng thanh tương ứng, đồng bào miền Bắc nhận ra ngay sự gần gũi thân tình của giọng ca ấy và chấp nhận nó. Chính tiếng hát ấy cũng làm nên riêng tên tuổi Hoàng Tố Nguyên.
Sau sự vồ vập ban đầu, nhiều người, trong đó có cả Hoàng Tố Nguyên sớm nhận ra, tập thơ có những nhược điểm. Có lần anh nói với chúng tôi ở Hội Văn nghệ Thái Bình: “Gò Me còn bản năng lắm!” Đó là cảm nhận chinh xác. Nếu đắc địa trong âm hưởng trữ tình của bài ca đồng quê thì quả thật tính tư tưởng của tập thơ chưa cao. Thêm vào đó thi pháp cũng còn yếu: Cái hỗn tạp trong cấu trúc thơ ảnh hưởng của lối nói thơ, kể thơ dân gian Nam Bộ cùng sự thô vụng trong những câu lục bát chưa nhuyễn.
Ở những tập sau: Quê chung (1962) và Gửi chiến trường chống Mỹ (1966), thơ Hoàng Tố Nguyên có sự trưởng thành rõ rệt, cả trong tư tưởng cả về bút pháp.
Nắng ửng chòm tre, gió thoảng đưa
Búp non thắp sáng lá cành thưa
Chim mang tiếng hót ra hong nắng
Tơ nhện vương sương trắng cỏ bờ                             
Mạ kiễng chân cho đất đổi màu
Lá vươn sắc lục lửa lò cao
Hôm qua sông rét trùm mây ngủ
Nay đã giăng buồm chở nắng xao…
Người chăn bò lùa bò về nhà.
Bỏ quên chiều trên cỏ.
Nắng như một bầy nai.
Dẫn buổi chiều chạy chơi với gió ...
(Sáng xuân)  
Anh từng ngắm em lặng lẽ
Với tâm tình của trẻ mồ côi
Trong tay có cả đất trời
Vẫn chưa có trái tim người cạnh bên.
Ước gì có một lời em
Để trong muôn vạn tiếng chim ngỡ ngàng
Để trong muôn vạn tiếng đàn
May ra một điệu nhịp nhàng cùng anh.
Xin đốt lửa nhiệt tình lên mắt
Cho đông dài băng rạn, tuyết tan
Đừng như cốc nước e tràn
Hãy như thác giữa lòng ngàn hỡi em!
(Với pho tượng đẹp)
Xin chào nhé, sông Cà Lồ đục mùa cá bột
Cái nắng trung châu thoảng mùi mít mật
Chào Hương Canh chất phác lòng người
Thắm như lạc già tách vỏ giữa sân phơi!
(Tạm biệt Hương Canh)
Nghe rau muống lụi dần trong ao giá
Bầu vội leo giàn, cải non mở lá.
(Vào chiêm)
Nhà thơ và cũng là nhà phê bình người Đức Rilker nói có lý: “Thơ không chỉ là tình cảm mà trước hết là tư tưởng.” Trên cái nền tình cảm, thơ phải đạt tới chiều sâu, chiều cao vời vợi của tư tưởng. Với hai tập thơ này, Hoàng Tố Nguyên đứng vào hàng đầu trong nền thơ hiện đại Việt Nam. Lọc qua những bài thơ cổ động hợp tác hóa nông nghiệp, động viên chiến đấu và sản xuất một thời, nhiều bài thơ của Hoàng Tố Nguyên đạt tới cái hay cái đẹp vĩnh cửu. Không phải tự nhiên mà khi lang thang trên mạng, ta gặp nhiều bài thơ của ông được dân cư mạng chuyền tay. Điều này chứng tỏ người đọc công tâm và có đôi mắt xanh, như Chế Lan Viên viết: Thơ hay như người đẹp, ở đâu đi đâu cũng lấy đựơc chồng.
Vị trí của nhà thơ Hoàng Tố Nguyên trong văn học
Cho đến nay, chính thức nhận định về Hoàng Tố Nguyên có hai ý kiến như sau:
Năm 1974, trong tác phẩm Lược sử văn học Việt Nam-Nhà văn tiền chiến, xuất bản tại Sài Gòn, nhà phê bình văn chương Thế Phong viết:
“Thơ Hoàng Tố Nguyên truyền cảm người đọc như Tha La của Vũ Anh Khanh. Như Vũ Anh Khanh, Hoàng Tố Nguyên nổi tiếng vì thơ có hình tượng sống mới, tiết tấu âm thanh mới, không dùng sáo ngữ, hoặc điển cố, như bài thơ Sa Cơ của Thẩm Thệ Hà hoặc Hoàng Tấn với Giang san khói lửa mù bay…
Xuân về say ý nhạc là bài thơ của một đồng đội chiến đấu chống xâm lăng Tây thuộc lần thứ hai; mà tác giả là Hoàng Tố Nguyên, nhà thơ xuất sắc.
Về bình diện văn nghệ Nam bộ 1945 - 1950, hẳn không thể quên văn Lý Văn Sâm, thơ Vũ Anh Khanh, thơ Hoàng Tố Nguyên... là những người góp vào nền văn học cực thịnh của Nam Bộ.”
Năm 1980, trong Lời tựa tập thơ Từ thương đến nhớ, nhà thơ Chế Lan Viên viết:
"... Tôi nhận được tin anh mất ở Sài Gòn, ngẩn ngơ vì thương tiếc một cây bút, những dòng thơ... Tôi tiếc cho Hoàng Tố Nguyên (Lê Hoằng Mưu) đã có một quê hương Gò Me-Nam bộ lúc ra đi, đã có một quê hương Hương Canh-miền Bắc lúc trở về, có cả một Tổ quốc thống nhất , giữa ngày sắp được đoàn tụ, thế mà không sống đến phút đoàn tụ ấy. Tôi cũng tiếc cho Gò Me, Gò Công quê anh đã không có anh trở về... Trong mấy nhà thơ Nam bộ tập kết ra Bắc hồi ấy, phải nói rằng anh là một trong mấy người có tài hơn cả... Lần đầu tiên khi thơ anh xuất hiện ở Thủ đô, nó đã được nhiều người yêu mến và giới sành thơ trân trọng."
Hai nhận đinh trên đã đánh giá công bằng vị trí nhà thơ Hoàng Tố Nguyên trên văn đàn Việt Nam. Từ “nhà thơ xuất sắc góp vào nền văn học cực thịnh của Nam Bộ” trở thành, “một trong mấy người có tài hơn cả trong mấy nhà thơ Nam bộ tập kết ra Bắc hồi ấy”. “Một trong mấy người” là lối nói khôn ngoan quen thuộc của “ông cai thơ” một thuở để tránh va chạm. Nói công bằng, Hoàng Tố Nguyên vượt qua đồng hương của mình để đứng vào hàng những nhà thơ nổi tiếng của đất nước, tạo dựng chỗ đứng riêng, vững chắc trong văn học nước nhà.
Giữa thế kỷ trước có một nhận định lưu truyền trong giới văn nghệ: “Dân Nam Bộ giỏi làm báo và viết tiểu thuyết, còn thơ không bằng dân Trung, Bắc.” Cắt nghĩa điều này, có người cho rằng, ngoài tình cảm, thơ cần chiều sâu tư tưởng, cần sự khái quát, mà cái này, do sống nặng về tình cảm hồn nhiên, anh em Nam Bộ còn thiếu. Nếu có quy luật như vậy thì Hoàng Tố nguyên đã vượt qua quy luật. Từ tình cảm đồng quê bản năng ban đầu, ông đã lột xác vươn lên đạt tầm cao của tư duy, tư tưởng. Chiều tiến hóa này chuyển dịch tới lứa nhà thơ Nam Bộ tiếp theo như Ca Lê Hiến, Diệp Minh Tuyền, Nguyễn Trọng Tín… những người được học hành nhiều hơn chứ không chỉ bản năng như chim sơn ca trên đồng nội.
Từ thế kỷ XIX vắt qua thế kỷ XX tới thập niên đầu của thế kỷ XXI, trên đất Mỹ Tho, Gò Công xưa và Tiền Giang nay nổi lên những tên tuổi văn chương nào? Trong tấm tưởng tôi, có 3 người: Hồ Biểu Chánh, Đoàn Giỏi và Hoàng Tố Nguyên. Với thời gian, cụ Hồ Biểu Chánh đã thành “di tích lịch sử được xếp hạng”. Đoàn Giỏi và Hoàng Tố Nguyên là con người của hôm nay. Đoàn Giỏi nổi tiếng với Đất rừng phương Nam, một tiểu thuyết phong tục mô tả những nét đặc sắc của con người và cảnh vật Nam Bộ. Nhờ được chuyển thể sang điện ảnh, sách của ông được phổ biến rộng và được mến bởi đồng bào trong nước cùng bè bạn quốc tế. Khi Hoàng Tố Nguyên đưa Gò Me tới miền Bắc và trở nên nổi tiếng. Người dân quê Gò Công hầu như không biết tới nhà thơ của mình. Có lẽ vì vậy, nhiều năm dường như ông bị lãng quên? Nhưng cuộc sống vẫn có lẽ công bằng. Nhiều bạn bè, đồng nghiệp nhớ tới ông. Và cả những bạn đọc vô danh vẫn đọc vẫn ngâm nga thơ ông. Chính vì vậy mà ông tồn tại.
Tôi nghĩ rằng, năm nay, kỷ niệm 80 năm sinh và sang năm là 35 năm ngày mất cùa Hoàng Tố Nguyên, các bạn văn nghệ Tiền Giang cần làm điều gì đó tưởng niệm nhà thơ lớn, người đã làm vẻ vang cho quê hương. Theo tôi, có lẽ cần làm một số việc sau:
Tập hợp, chọn lọc và xuất bản Tuyển thơ Hoàng Tố Nguyên.
Đưa di hài ông từ nghĩa trang tỉnh Thái Bình về mai táng tại Gò Công.
Bên mộ, tại khu vực Gò Me, dựng nhà tưởng niệm ông. Trong đó trưng bày thơ của ông, để cho bạn đọc từ mọi phương trời về chính đất Gò Me đọc thơ Gò Me và ngâm nga những vần tuyệt diệu:
Ao làng trăng tắm, mây bơi,
Nước trong như nước mắt người tôi yêu
Để trai gái tới đây tay trong tay, mắt trong mắt:
Đừng như cốc nước e tràn,
Hãy như thác giữa lòng ngàn, hỡi em!
Để viết bài này, người viết đã tham khảo tài liệu của nhà phê bình Thế Phong, nhà văn Hoài Anh, nhà thơ Võ Bá Cường, nhà giáo Nguyễn Phúc Nghiệp. Xin chân thành cảm ơn.
26/5/2009
Hà Văn Thùy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Tranh luận với Francois Jullien

Tranh luận
với Francois Jullien

Bài “Bàn về minh triết”* ghi lại buổi nói chuyện của Giáo sư F. Jullien tại Trung tâm Minh triết Việt Nam ngày 8.9.2008 gồm 3 phần. Tôi xin có đôi lời thưa lại với Giáo sư về phần thứ 3: “Minh triết và thời đại.”
Quan niệm về minh triết
Dẫn từ “sagesse” (minh triết) của Pháp ngữ và nhiều tác giả khác, F. Jullien cho ta thấy, văn hóa phương Tây có quan niệm tiêu cực về minh triết: “Minh triết là một cái gì nguội lạnh và lẩn thẩn". "Một khi Minh triết là như vậy thì nó thiếu lửa, thiếu sức sống, thiếu sức nóng, thiếu nhiệt, mà khi đã thiếu nhiệt thì nó chỉ che đậy cuộc sống, làm cho người ta không thấy được nó", "Minh triết là một thứ tro nguội lạnh, xám xịt, phủ lên lò lửa là sự sống". Một quan niệm như vậy hoàn toàn trái ngược với phương Đông. Nơi văn hóa phương Đông, minh triết (  ) thì Minh là sáng mà Triết cũng là sáng, có nghĩa hai lần sáng. Theo cách giải nghĩa khác thì Minh là sáng, còn Triết là triệt, là tận cùng, Minh triết có nghĩa cực sáng, sáng tới tận cùng! Triết còn nghĩa khác là trí tuệ. Như vậy, minh triết có nghĩa là trí tuệ sáng láng. Trong sự hiểu của tôi, Minh triết là “tinh chất bền vững của tâm hồn và trí tuệ dân tộc kết lắng trong chiều sâu nhất của văn hóa, luôn tỏa ánh sáng và sức nóng nuôi dưỡng nền văn hóa dân tộc."
GS F. Jullien cho rằng “Một khi Minh triết không có lịch sử thì nó đứng tại chỗ, nó trì trệ, do đó, nó chỉ đưa ra những kiến giải tầm thường và nó nói những ý kiến mà lương tri thông thường của con người cảm nhận được, nó chỉ dừng lại ở đấy,"
Tôi cho rằng, nếu hiểu đúng theo như quan niệm phương Đông thì minh triết có lịch sử của nó. Lịch sử của minh triết phương Đông bắt đầu ít nhất khoảng 15000 năm trước, khi người Hòa Bình Việt Nam thuần hóa được cây lúa nước. Có ai đó nói rất đúng: “Không có nền văn minh nào xứng đáng với tên gọi đó cho tới khi phát hiện ra nông nghiệp trồng ngũ cốc.” Khi tự trồng ra cây lúa làm lương thực, con người không còn hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên, tự thấy mình tách khỏi thiên nhiên, đứng cao hơn thú vật và bắt đầu có ý thức về bản thân mình. Con người bắt đầu biết “Trông trời trông đất trông mây…”, biết “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, nghe thấy tiếng sấm phất cờ mà lên”, biết “Muốn ăn lúa tháng Năm, trông trăng Rằm tháng Tám” và biết “Thua trời một vạn không bằng thua bạn một ly”, biết “Tua rua thì mặc tua rua, mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền”, biết “Xanh nhà hơn già đồng”. Đồng thời cũng biết: “Khôn độc không bằng ngốc đàn” và “Một người lo bằng kho người làm”. Không chỉ vậy, Minh triết còn là “Người là hoa của đất”,  là “Yêu em từ thuở lên ba, mẹ bồng ra ngõ hái hoa em cầm” là “Mình nói với ta mình hãy còn son, ta đi qua ngõ thấy con mình bò”… Minh triết được hình thành bởi những nhà hiền minh cổ xưa nhưng chủ yếu được sản sinh, chọn lọc và tích tụ bởi người vô danh trong dân gian, để nạp vào bộ nhớ dân gian và tạo thành văn hóa dân tộc. Lâu dần, với bề dầy thời gian, nó trở thành yếu tố bên vững, thành phẩm chất di truyền (fenotipe) truyền lại cho con cháu qua hoạt động xã hội. Điều này được thấy rõ trong thí dụ sau. Khi nhà xã hội học nổi tiếng Levi Stross phát hiện những sắc dân thiểu số ở Mỹ và Canada có tập quán rất giống với dân vùng Nam Trung Hoa như tôn trọng phụ nữ và sống hài hòa với thiên nhiên, người ta giải thích rằng đó là do hoàn cảnh sống giống nhau, đưa tới những cách sống tương đồng. Nhưng sau này, khi phát hiện rằng, tổ tiên những dân thiểu số châu Mỹ đó đã từ Đông Dương tới thì mọi người hiểu: những nét văn hóa đó được mang theo từ Đông Nam Á. Như vậy, minh triết chẳng những không chỉ là “những kiến giải tầm thường” mà cũng không hề “dừng lại ở đấy”, nó luôn tiếp thu trong sự chọn lọc nghiệm sinh những điều minh triết mới, bổ sung trong trầm tích văn hóa.
2. Minh triết và triết học
Trong những quan niệm đa chiều của phương Tây về quan hệ giữa minh triết và triết học, tôi ủng hộ ý tưởng cho rằng “minh triết ở trên triết học.“ Minh triết là mảnh đất màu mỡ của tâm hồn, trí tuệ và trên đó nảy sinh cây triết học. Nhưng khi đã thành “cây“ rồi, triết học tư biện coi khinh mảnh đất minh triết, nên mất dần sức sống, trở nên cằn cỗi và khủng hoảng. Điều này thấy rõ trong triết học Hy Lạp nói riêng và triết học phương Tây nói chung. Về lịch sử, ta thấy, 80% dân châu Âu hiện đại là con cháu những người sống bằng hái lượm, những người không có văn hóa và cố nhiên không có cả minh triết. Chỉ có 20% là dân nông nghiệp từ Trung Đông sang. Văn hóa và minh triết châu Âu có được chính là nhờ ở dân nông nghiệp này. Nhưng do số dân ít nên lớp trầm tích minh triết quá mỏng. Sự bùng phát rự rỡ của văn minh Hy Lạp không phải do nội tại mà là yếu tố ngoại lai. Thành bang Athene đã nhận văn minh của Ai Cập phương Đông từ trước thời Plato. Sau cuộc chinh phục của Alexander, Aritostele thày của vị hoàng đế này đã thu nhận toàn bộ thư viện của Ai Cập, và nhờ là “kẻ đạo văn lớn nhất mọi thời đại“, ông đã thành "người khổng lồ“. Cuộc cướp bóc này đã đưa lại sự phồn vinh về văn hóa, trong đó có cả minh triết cho Hy Lạp. Chính nhờ vậy, triết học Hy Lạp ra đời. Dựa trên lượng minh triết vay mượn của phương Đông, triết học Hy Lạp bừng nở nhưng rồi sớm mất sức sống. Khi „chất màu mỡ minh triết“ cạn kiệt, triết học phương Tây trở thành thuần túy tư biện. Có thể hình dung số phận của triết học phương Tây hiện đại như thế này: một ai đó đưa ra lý thuyết mù mờ và được một số người ủng hộ. Họ kết thành trường phái, thống trị diễn đàn. Thời gian sau, người ta tỉnh ngộ và thấy thuyết đó vô bổ. Lúc này lại có một thuyết mù mờ khác phủ định cái thuyết mù mờ trước. Họ lại có những ủng hộ viên và thành trường phái mới... Tuy có nhiều lịch sử nhưng triết học dần dần đi tới sự khốn cùng.
Minh triết phương Đông không bao giờ tự cho là thần thánh. Nó cũng không kết thành những trường phái mà an nhiên sống vô tư, bất diệt giữa cuộc đời, tỏa ánh sáng và sức nóng dẫn dắt xã hội.
3. Minh triết và chính trị
Giáo sư F. Jullien nói: "Trong quan hệ với chính trị, minh triết Trung Quốc cổ không có một lập trường xác định“ và "Do kết cấu không có lập trường nhật định, khi thế này, khi thế nọ nên những nho sĩ Trung Quốc không bao giờ là trí thức, không phải là trí thức. Trí thức phải cò lập trường.“ Có đúng vậy không? Theo tôi không phải vậy. Nếu coi Khổng Tử là nho sĩ đầu tiên của Trung Quốc thì rõ ràng ông có lập trường và kiên quyết giữ lập trường của mình. Chính vì chú tâm truyền bá "đạo“ mà không chịu bàn đến "lợi“ của các vương hầu nên cuộc du thuyết của ông thất bại. Mạnh Tử cũng vì lập trường phản đối chiến tranh mà không được dùng. Tư Mã Thiên kiên định lập trường chép sử vì sự thật. Tiêu biểu nhất lả trường hợp 4 anh em nhà Thái Sử thời Chiến Quốc: Sau khi 3 người anh là Thái Sử Bá, Thái Sử Trọng và Thái Sử Thúc bị giết vì ghi dòng "Thôi Trữ giết vua“ vào sử thì đến lượt mình, người thứ tư là Thái Sử Quý vẫn viết như vậy! Ở Việt Nam có trường hợp Chu Văn An sau khi dâng "Thất trảm sớ“ không được chấp nhận thì cáo quan hồi hưu. Nguyễn Trãi cũng là người giữ lập trường cứu nước kiên định. Rồi Đào Duy Từ, Ngô Thì Nhậm cùng biết bao vị hưu quan vì „bất đắc chí“... đều là những người có lập trường chính trị kiên định. Ai đó, hình như Voltaire, trong hoàn cảnh nặng nể của phong kiến thế tập châu Âu Trung Cổ, đã từng mơ ươc về phương Đông dưới sự cai trị của đạo Khổng Tử, khi mà vua hôn ám thì được phép „đổi nó đi!“ Như vậy, nói rằng trí thức phương Đông không có lập trường chính trị là không đúng sự thực. Càng sai hơn khi nói phương Đông không có trí thức!
Giáo sư F. Jullien còn nói: "Minh triết phương Đông né tránh mâu thuẫn để giữ sự hài hòa; để giữ gìn hài hòa, phương Đông đi con đường vòng để tránh mâu thuẫn. Tôi cho rằng cái đó là không đúng.“
Không phải vậy. Đúng là phương Đông coi trọng sự hài hòa, "Thái hòa“ là mặt quan trọng của minh triết. Nhưng không phải phương Đông không biết giải quyết mâu thuẫn. Dịch lý nói: "Cùng tắc biến“ và "Biến tắc thông“. Phương Đông không can thiệp "ngang xương“ vào quá trình diễn biến của sự vật mà theo lẽ biến cùng, tác động một cách minh triết cho mâu thuẫn tự giải quyết một cách nhi nhiên, tự nhiên.
4. F. Jullien và đạo Phật
Giáo sư F. Jullien nói: "Trong sách tôi ít nói đến Phật giáo bởi vì tôi nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại, mà thời cổ đại Hy Lạp tương ứng với cổ đại Trung Hoa và lúc ấy chưa có Phật giáo. Lý do nữa là Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, Ấn Độ cũng có liên hệ với phương Tây ở gốc Ấn - Âu... Phật giáo, từ gốc của nó đã có liên hệ gì đó với phương Tây ở gốc Ấn - Âu...“
Rõ ràng Giáo sư đáng kính đã lầm lẫn. Phật giáo xuất hiện đồng thời với Nho giáo và triết học Hy lạp cổ đại, khoảng thế kỷ V TCN. Sai lầm nghiêm trọng hơn khi ông cho Phật giáo "từ gốc có liên hệ với phương Tây.“ Điều này thuộc về kiến thức văn hóa lịch sử phổ thông. Theo tri thức mới nhất thì, khoảng 40.000 năm trước, người Việt cổ Australoid từ Đông Dương di tản tới Tây Ấn Độ. Muộn hơn một chút, những nhóm Việt khác cũng từ Tây Nam Trung Quốc vào đất Ấn. Người Australoid lan khắp Ấn Độ, được lịch sử gọi là người Dravidian, là chủ nhân nền văn hóa lúa nước sông Indus rực rỡ. Khoảng 1500 TCN, người Arian thuộc đại chủng Europid từ Ba Tư xâm nhập Ấn Độ, thống trị dân Dravidian. Từ văn hóa Dravidian, người Arian xây dựng nên văn hóa Ấn Độ, trong đó có đạo Phật. Người châu Âu là do một nhánh khác của người Europid từ Trung Đông di cư vào châu Âu. Như vậy, tuy cùng mã di truyền và tương đồng ngôn ngữ nhưng giữa người Ấn và người Âu khác nhau về văn hóa. Văn hóa Ấn, dù là người Indoeuropian cũng hoàn toàn là văn hóa phương Đông. Khi ít nghiên cứu Phật giáo với hàm lượng minh triết cao, tri thức về minh triết không thể không thiếu hụt.
5. Kết luận
Có thể là triết gia lớn, nhưng trong môi trường văn hóa châu Âu với hàm lượng minh triết thấp cùng quan niệm coi thường minh triết, sự hiểu biết của Giáo sư F. Jullien về minh triết nói chung và nhất là minh triết phương Đông còn hạn chế. Lời khuyên của ông: "Minh triết hiện nay phải khắc phục hai nhược điểm có từ xưa, một là không tư duy bằng khái niệm thì bây giờ Minh triết phải có khái niệm. Thứ hai là về chính trị không rõ ràng thì bây giờ phải rõ ràng đối với chính trị. Minh triết ở giai đoạn này phải đưa tư tưởng vào công trường của mình để làm ra những khái niệm...“ theo tôi là xui dại. Minh triết là... Minh triết, có nghĩa là những hạt tâm hồn, trí tuệ dân tộc tồn tại an nhiên trong cuộc sống, dười dạng vô tư, hồn nhiên, thơ trẻ... Tuy vậy nó có sức mạnh nội tại siêu việt: ủng hộ nền chính trị vương đạo, đả phá chính trị bá đạo. Khi thấy một nền chính trị đi trật đường rầy thì minh triết phản bác nó. Ông Mác nói rất chí lý: "Giai đoạn cuối của sự vật, đó là sự khôi hài“. Nền chính trị khi trở thành khôi hài trong con mắt của cộng đồng thì đang bước tới hồi cáo chung. Minh triết chỉ cho cộng đồng thấy sự sai lệch chệch hướng. Và đó là sự tham gia tích cực của minh triết vào chính trị. Như vậy, minh triết đứng cao hơn và điều chỉnh nền chính trị. Chính vì vậy mà phương Đông cần minh triết và minh triết được coi trọng. Nếu như minh triết biến thành khái niệm để tư duy theo khái niệm thì nó chỉ là cái bóng của triết học và rồi trở nên tư biện, nghèo nàn, xơ cứng.
Tôi nghĩ rằng, buổi nói chuyện của giáo sư F. Jullien rất có ích vì giúp chúng ta nhận biết hàm lượng minh triết thấp trong văn hóa phương Tây dẫn tới quan niệm tiêu cực về minh triết. Nó cũng cho thấy minh triết không phải là sở trường của học giả phương Tây. Từ đó, chúng ta thêm tự tin nghiên cứu minh triết của mình.
Sài Gòn,20/9/2009
Hà Văn Thùy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Trở về cội nguồn minh triết Việt

Trở về cội nguồn
minh triết Việt

Xưa nay, nói về minh triết, người ta thường đi tìm định nghĩa hoặc dẫn ra những ví dụ về minh triết. Trong khi vấn đề quan yếu nhất, là nguồn cội của minh triết lại chưa được quan tâm. Bởi lẽ, cội nguồn minh triết nằm trong cội nguồn văn hóa. Cho tới nay, khoa học nhân văn Việt Nam chưa cho chúng ta biết về cội nguồn văn hóa dân tộc. Vì vậy, trong suy nghĩ của nhiều người, tìm cội nguồn minh triết dường như vô kế khả thi… Trong tham luận nhỏ này, tôi thử đưa ra một vài suy nghĩ ban đầu.
I. Đi tìm cội nguồn minh triết Việt
Trong ý nghĩa nào đó thì minh triết là tinh chất của tinh thần, tâm hồn và trí tuệ của dân tộc được trầm tích trong chiều sâu nhất của văn hóa và tới lượt mình, minh triết là hạt nhân tỏa năng lượng nuôi sống nền văn hóa dân tộc. Vì vậy, muốn tìm cội nguồn của minh triết, trước hết phải tìm ra cội nguồn văn hóa dân tộc.
Cho tới nay, rất nhiều người vẫn mang ý niệm truyền thống cho rằng, tổ tiên người Việt từng sống bên sông Dương Tử, khoảng năn 330 TCN bị người Hán xua đuổi, chạy xuống đất Việt Nam hiện tại, chiếm đất của người Nguyên Đông Dương, lập nước Văn Lang. Do lịch sử như vậy mà cả về sinh học, cả về văn hóa, Việt chỉ là bản sao mờ nhạt của Hán. Trả lời Đài BBC tiếng Việt vào tháng Ba năm 2005, Giáo sư Trần Quốc Vượng khẳng định: “Tôi đã nói rồi, nói với ông Phạm Văn Đồng rằng, chúng ta có một nghìn năm Bắc thuộc. Tính cách nào thì cũng một nghìn năm. Quan sang rồi lính tới, chúng ta bị Hán hóa đứt đuôi!” May thay, đó là tri thức cũ, đã bị thế kỷ XXI loại bỏ!
Nhờ những phát kiến mới nhất về di truyền học, ta biết rằng, khoảng 70.000 năm trước, Người khôn ngoan Homo sapiens từ châu Phi men theo bờ biển Ấn Độ, Pakistan tới Việt Nam. Nhờ môi trường thuận lợi, hai đại chủng Australoid và Mongoloid hòa huyết, sinh sôi thành 4 chủng người Việt cổ: Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid. Khoảng 40.000 năm trước, người Việt cổ lan ra khắp lục địa Đông Nam Á, châu Úc, các đảo ngoài khơi rồi lên khai phá lục địa Trung Hoa để từ đó lên Siberi, vượt eo Bering sang chiếm lĩnh châu Mỹ.
Khoảng 15.000 năm trước, từ trung tâm Hòa Bình, người Việt cổ mang công cụ đá, cây kê, khoai sọ, lúa nước, giống gia súc lên đất Trung Hoa, bắt đầu gầy dựng nền nông nghiệp nơi này. Tới thiên niên kỷ IV TCN, người Việt sống trên duyên hải Đông Á chiếm tới 54% nhân loại và tạo dựng nền văn hóa nông nghiệp lúa nước tiến bộ nhất hành tinh.
Sống trên lục địa Trung Hoa, trong hoàn cảnh địa lý và khí hậu khác nhau, các tộc người Việt phân ly thành khoảng hơn 20 nhóm khác nhau, được lịch sử gọi là Bách Việt. Khoảng thiên niên kỷ V TCN, tại vùng  hoàng thổ Hoàng Hà, có sự tiếp xúc giữa người Bách Việt nông nghiệp và người du mục thuộc chủng Mongoloid phương Bắc, sinh ra chủng người Mongoloid phương Nam, mà theo tài liệu khảo cổ, là chủ nhân văn hóa trồng kê Ngưỡng Thiều.
Khoảng 2600 năm TCN, người Mông Cổ vượt Hoàng Hà, chiếm đất của người Việt. Lãnh tụ Bách Việt là Đế Lai hy sinh, Lạc Long Quân, một lãnh tụ Việt, dẫn đoàn quân dân Việt dùng thuyền ra biển xuống phía nam, đổ bộ vào Nghệ Tĩnh. Do cùng chủng tộc và cùng tiếng nói, đoàn thuyền nhân được người bản địa cưu mang. Sau đó Lạc Long Quân chuyển lên vùng Việt Trì lập nước Văn Lang. Sắc dân Mongoloid trong đoàn di tản hòa huyết với người bản địa, tạo ra lớp người Mongoloid phương Nam mới, dân dần trở thành đa số. Những người Mongoloid phương Nam mới sinh này là tổ tiên trực tiếp của người Việt (Kinh) hiện đại chúng ta. Nhiều di chỉ mộ táng mà tiêu biểu là khu mộ Mán Bạc, Ninh Bình chứng tỏ điều này.
Khi vào phía nam Hoàng Hà chiếm đất Bách Việt, người Mông Cổ từ bỏ lối sống du mục, học nghề nông của người bản địa. Với thời gian, số lượng người Mông Cổ ít ỏi hòa huyết với người Bách Việt, trở thành người Mongoloid phương Nam, được gọi là Hoa Hạ. Dần dần, như vết dầu loang, chủng Hoa Hạ trở nên thành phần chủ thể trên đất Trung Hoa. Là con cháu của người Bách Việt, người Hoa Hạ tiếp thu nghề nông cùng văn hóa Bách Việt để tạo dựng nền văn hóa Hoa Hạ rực rỡ vào khoảng giữa thiên niên kỷ II TCN.
Như vậy, bức tranh thời tiền sử Đông Á được vẽ bằng những nét chính sau:
- Tổ tiên người Việt có mặt sớm nhất trên địa bàn Đông Á. Lịch sử người Việt có hai thời kỳ. Thời kỳ đầu từ đất Việt đi lên khai phá Trung Hoa. Thời kỳ sau, từ Trung Hoa trở về xây dựng Việt Nam.
- Người Việt cổ thuộc nhóm loại hình Australoid xây dựng trên địa bàn Đông Á nền văn hóa nông nghiệp lúa nước phát triển sớm và rực rỡ nhất thế giới.
- Người Hoa Hạ, tổ tiên người Hán hiện đại ra đời do sự hòa huyết giữa người Bách Việt nông nghiệp và Mông Cổ du mục, khoảng 2600 năm TCN.
- Tất cả văn hóa vật thể và phi vật thể có mặt trên đất Trung Hoa trước 2600 năm TCN đều là của người Việt.*
Một phác đồ như vậy về tiến trình lịch sử của tổ tiên, chúng ta có thể tìm ra nhờ hỗ trợ của khoa học nhân loại. Nhưng việc xác định nền văn hóa đó là gì, gồm những yếu tố nào và tác động của chúng ra sao đến sự phát triển tương lai của dân tộc là điều cực kỳ khó mà chúng ta phải tự tìm ra vì không ai làm thay được!
Trên cơ sở phát hiện cội nguồn theo di truyền học và liên kết những tri thức khảo cổ học, nhân chủng, văn hóa học… ta có thể nhận ra những thành tựu văn hóa mà tổ tiên chúng ta sáng tạo trên địa bàn Đông Á:
- Sáng tạo công cụ đá mài, tiêu biểu là rìu đá.
- Sáng tạo Dịch
- Sáng tạo chữ viết
- Sáng tạo cây trồng, gia súc.
- Sáng tạo đồ đồng
- Sáng tạo Lễ, Nhạc, ca dao, tục ngữ…
Tuy nhiên, qua thời gian 4500 năm từ ngày bị xâm lăng, người Việt bị mất đất đai, lịch sử, văn hóa…. Tuy duy trì được giang sơn riêng của Lạc Việt, tộc cuối cùng trong dòng Bách Việt là điều kỳ diệu nhưng rõ ràng chúng ta bị tha hóa. Từ vị trí tiền bối của người Trung Hoa, chúng ta bỗng trở thành con cháu của họ. Từ vị trí thày dạy người Trung Hoa non trẻ, chúng ta trở thành học trò học mót của họ từ Thi, Thư đến Lễ, Nhạc. Chúng ta mất chữ nên phải học chữ của tổ tiên qua sách tàu! Tất cả những nghịch lý như vậy biến chúng ta thành kẻ hèn nép bóng Trung Hoa, là bản sao mờ nhạt của văn hóa Hoa Hạ. Bao thế hệ con cháu lạc đường!
Rất may mắn cho chúng ta là, nửa thế kỷ trước, trong khi những thông tin về nguồn cội, về lịch sử còn rất mù mờ thì triết gia Kim Định bằng dự cảm thiên tài, bằng chiêm nghiệm, quán tưởng, giải mã những truyền thuyết, huyền thoại Việt đã phát kiến ra bản sắc của văn hóa Việt với những đặc trưng sau:
1. Người Việt quan niệm về một vũ trụ “tham thiên lưỡng địa”: Vũ trụ vận hành đi lên với 3 phần Dương, và 2 phần Âm. Đấy là sự phát triển tích cực nhưng cân đối mà nay gọi là phát triển bền vững. Quan niệm này trái ngược với văn minh du mục trọng động đẩy vũ trụ vận hành 4 Dương 1 Âm, tức Dương cực thịnh, Âm cực suy , một sự phát triển quá nóng đưa Trái đất tới hủy diệt.
2. Từ trong bộn bề văn hóa phương Đông với Khổng nho, Hán nho, Tống nho… Kim Định tìm ra Việt Nho: nền văn hóa nguyên sơ của người Việt, mà ông gọi là Nguyên Nho với nội dung: Nhân chủ, Thái hòa, Tâm linh. Việt nho quan niệm trong tam tài thiên – địa – nhân thì con người là chủ. Trong vị trí chủ nhân, con người phải sống thái hòa với nhau và với thiên nhiên. Con người không chỉ là thể xác vật chật mà còn sống trong tâm linh, trong tương quan với  những thế giới siêu nhiên khác.
3. Để được như trên, con người phải sống trong Đạo Việt An vi. Không hữu vi duy vật tranh giành chiếm đoạt, không vô vi lánh đời mà sống tích cực tận tâm tận lực làm việc cho mục đích hướng thiện, theo lẽ an nhiên, an hòa của lòng mình hợp với sự vận hành của vũ trụ.
4. Sự tồn tại của xã hội dựa trên cơ sở bình sản.
Đấy chính là hạt nhân minh triết tồn tại trong tầng sâu văn hóa Việt. Và cũng chính những hạt nhân này tỏa năng lượng nuôi sống văn hóa Việt hàng vạn năm nay.
2. Minh triết Việt trong kỷ nguyên mới
Cùng một lần ra khỏi châu Phi 85.000 năm trước, nhưng khí hậu và đất đai khác biệt đã chia loài người thành nửa Đông nửa Tây với hai phương thức sống phân biệt. 80% dân châu Âu là con cháu những bộ lạc du mục, trong khi người Á Đông là con cháu của tổ tiên cấy trồng. Phương thức sống khác nhau đã tạo hai văn hóa khác nhau. Phương Tây du mục trong cuộc sống du cư luôn khai thác chiếm đoạt thiên nhiên và tranh giành với đồng loại. Để sinh tồn, họ buộc phải tạo những thủ lĩnh mạnh dẫn dắt bầy đoàn. Từ đó, dẫn tới óc tôn sùng lãnh tụ cùng sức mạnh cá nhân cần cho cuộc sống cạnh tranh, chiếm đoạt. Từ xa xưa, những bộ lạc du mục bên bờ Địa Trung Hải lớn dần, trở nên những thành bang rồi những quốc gia chiếm hữu nô lệ với những người lính và những cuộc xâm lăng cướp bóc. Tiếp đó, văn minh du mục chuyển hóa thành những hội đoàn công nghiệp, thương nghiệp với những đội thương thuyền dọc ngang trên biển buôn bán và chiếm thuộc địa. Trong khi phương Đông nông nghiệp cần ổn định, hợp tác, hòa hợp với thiên nhiên. Đông và Tây, nông nghiệp và du mục khác nhau như nước với lửa.
Hai ngàn năm qua, nói cho cùng, mọi biến động trên thế giới là sự tranh chấp khốc liệt giữa văn minh du mục và văn minh nông nghiệp. Văn minh du mục không chỉ là vó ngựa Mông Cổ mà còn là những cuộc thánh chiến, những cuộc xâm lược của các cường quốc phương Tây, là hai cuộc chiến tranh thế giới, là chủ nghĩa phát xít, là chủ nghĩa Staline toàn trị, là sự tàn phá môi sinh, là cuộc xâm lăng văn hóa đang diễn ra cùng sự xuất cảng suy thoái kinh tế của phương Tây ra toàn cầu… Trước mối đe dọa hủy diệt cuộc sống Trái Đất, nhiều thức giả phương Tây đã «Hành trình về Phương Đông» để tìm bí mật của Tây Tạng huyền bí, về giáo lý đạo Phật, tìm về Khổng giáo, về Lão Tử… Nhưng cho tới nay, điều cần nhất vẫn chưa tìm được! Một sự bối rối lúng túng như F. Julliens thừa nhận: «Với những huyễn tưởng phương Đông, họ tưởng tìm ra Minh triết, nhưng không phải thế. Người ta nghĩ phương Đông là mặt trái của phương Tây, bây giờ phương Tây gặp nhiều vấn đề lủng củng thì họ tìm đến mặt trái của nó để may ra tìm được cái gì hay hơn, tốt hơn. Họ tìm cái phi lý của phương Đông để đối lại với cái khủng hoảng duy lý của phương Tây hiện nay. Họ cho rằng phương Đông là phi lý, không có tính hiệu quả, nhưng tôi thấy rằng phương Đông là duy lý, theo cách của nó. Phương Tây có những vấn đề của nó, vấn đề mâu thuẫn giữa tự do và quyết định luận. Họ tưởng rằng tìm tới phương Đông là tìm những lời giải đáp cho vấn đề này, nhưng ở phương Đông không hề đặt ra vấn đề mâu thuẫn giữa tự do và quyết định luận, chưa từng đặt ra và sẽ không đặt ra. Phương Đông không quan tâm vấn đề này"*
Đấy là sự thật, nhưng sự thật này phản ánh sự thất bại của phương Tây vì chưa hiểu phương Đông và cũng là thất bại của phương Đông vì chưa hiểu chính mình.
Giữa thế kỷ XIX, khi nhận ra «Mỗi lỗ chân lông chủ nghĩa tư bản đều ứa máu vô sản», K. Marx và Engele đề xuất chủ nghĩa Cộng sản, mong đem lại công bằng xã hội, cứu rỗi triệu triệu chúng sinh bị đày đọa. Nhưng rồi, sau 70 năm thực hành «chủ nghĩa xã hội hiện thực», chứng kiến những tội ác mà nhiều chế độ cộng sản gây cho con người cùng sự suy sụp của những nền kinh tế phi tư hữu, đại đa số nhân loại đã thất vọng về chủ nghĩa cộng sản. Nhưng hôm nay, trước cuộc khủng hoàng tài chình toàn cầu do chủ nghĩa tư bản gây nên, dường như nhiều người lại quay về mong tìm thuốc chữa ở chủ nghĩa cộng sản. Nhưng đấy không phải sáng suốt mà phản ánh sự lúng túng, bất lực, cho thấy trí tuệ nhân loại đã tới chỗ khốn cùng !
Muốn giải quyết vấn nạn này, thiết tưởng phải có tầm nhìn bao quát và căn để hơn.
Thực tế cho thấy, chủ nghĩa cộng sản với chủ trương xóa bỏ tư hữu, chuyên chính vô sản, «tước đoạt lại của kẻ tước đoạt»… Nghĩa và vẫn áp đặt chuyên chính của giai cấp này lên giai cấp khác, cho phép sự tuớc đoạt bằng vũ lực của người này với người khác. Hơn nữa, khi tư hữu bị xóa bỏ, con người bị tha hóa… Vì vậy, nó chỉ là cực đối nghịch của chủ nghĩa tư bản và cùng nằm trong quỹ đạo của văn minh du mục. Thực tế lịch sử tho thấy, văn minh du mục đang hủy diệt thế giới!
Vậy liệu có không con đường thoát khỏi ngõ cụt này?
Đó là con đường trở lại với minh triết phương Đông.
Khi nhìn thấu lịch sử 160.000 năm của Người Hiện đại, ta thấy rằng, 70.000 năm trước, nhóm người tới Việt Nam và Đông Nam Á đã may mắn gặp được địa đàng, tức gặp được điều kiện sống thuận lợi nhất. Trong điều kiện khí hậu ấm áp, thức ăn dồi dào, người Đông Nam Á sinh sản nhanh, sống tập trung mà mau chóng sáng tạo những công cụ chinh phục tự nhiên. Khoảng 20.000 năm trước, trong khi toàn châu Âu còn phủ băng tuyết, người Eurapian sống vất vả trong những hang băng để săn bắt hái lượm thì người Đông Nam Á bắt đầu thuần hóa cây kê làm thức ăn, chế tác đá mài và suy ngẫm về vũ trụ với Âm Dương, Ngũ hành và phát minh những ý tưởng đầu tiên về Dịch lý. Rồi khoảng 15.000 năm trước, băng hà bắt đầu tan, nước biển dâng, vùng đất Việt Nam và Đông Nam Á trở nên nóng và ẩm : cây lúa nước ra đời. Một hiền giả nói chí lý rằng: “Không có nền văn minh nào xứng đáng với tên gọi đó cho tới khi phát hiện ra nông nghiệp trồng ngũ cốc.” Sự định cư, sự đòi hỏi kỷ luật cấy trồng nghiêm nhặt về thời vụ, tưới tiêu, về hạt giống, chăm bón… trong sự khôn ngoan thích ứng với thiên nhiên, buộc con người không chỉ tôn trong tự nhiên mà còn phải tôn trọng năng lực cộng đồng: “Khôn độc không bằng ngốc đàn”, “Một cây làm chẳng nên non”. Tuy vậy cũng đánh giá cao vai trò cá nhân: “Một người lo bằng kho người làm”, “Nó lú nhú có chú nó không”… Đấy chính là những hạt minh triết nảy sinh từ văn hóa nông nghiệp Việt tộc, tạo nên cái khôn ngoan phương Đông. Và điều khôn ngoan nhất mà người Việt tích lũy được đó là dịch lý, là sự tương sinh, tương khắc của Ngũ hành, là sự làm ra sách Dịch phản ánh bản thể và sự vận hành cúa vũ trụ cùng nhân sinh. Đó là sự đúc kết Nhân chủ, Thái hòa, Tâm linh, là đạo Việt An vi, là “tham thiên lưỡng địa” là cơ chế bình sản!
Nói ra những điều này hôm nay dường như là sự lạc điệu bởi chủ nghĩa tư bản đang tăng tốc đi theo con đường tự hủy điệt của mình. Hãy nghe ông Barack Obama, Tổng thống Hoa Kỳ trong lễ nhậm chức:
“Chúng ta vẫn là quốc gia thịnh vượng nhất, mạnh nhất trên trái đất.” Đấy là sức mạnh của chúa sơn lâm. Nhưng trong kinh Đại Niết bàn, Đức Phật dạy: “Sư tử trùng thực sư tử nhục” -  ăn thịt chúa sơn lâm lại chính là loài sán, loài giun trong bụng nó! Làm sụp đổ nước Mỹ chính là những bệnh hoạn nảy sinh trong lòng nước Mỹ!
Căn bệnh đó là gì?
Tưởng như có lúc ông Obama tỉnh táo nhận ra: “Càng ngày càng có thêm bằng chứng cho thấy cách chúng ta sử dụng năng lượng càng khiến kẻ thù của chúng ta mạnh thêm trong lúc trái đất càng bị đe dọa thêm.” Nhưng không phải vậy, người đứng đầu nước Mỹ khẳng định: “Chúng ta sẽ không xin lỗi vì cách sống của chúng ta và không do dự khi bảo vệ lối sống này.” Thật đáng sợ là căn bệnh ngạo mạn nhiễm vào lục phủ ngũ tạng Mỹ. Theo một thành ngữ Phương Tây, đấy là sự ngạo mạn của con chuột chui sừng bò!
Căn bệnh nan y tàn phá nước Mỹ không gì khác hơn chính là lối sống Mỹ. Tám mươi năm trước, văn hào Nga Marxim Gorky gọi New York là “Thành Phố Con Quỷ Vàng”. Một cỗ máy khổng lồ với vòng xoáy đến chóng mặt, biến tất cả những gì rơi vào đó thành vàng. Nay thì không vậy nữa. Cả nước Mỹ là một Thành Phố Con Quỷ Rác: vòng xoáy ma quái biến tất cả những gì rơi vào nó thành rác! Một người Mỹ tiêu hao năng lượng gấp 50 lần công dân bình thường của thế giới. Nước Mỹ thải ra 1/4  khí nhà kính! Sự tiêu xài quá trớn biến nước Mỹ thành lò lửa ma quỷ đốt vật chất của hành tinh. Như con quỷ đầy quyền năng, chủ nghĩa tiêu thụ Mỹ kéo cả thế giới vào vòng xoáy của mình. Trung Quốc, Ấn Độ, Brazinlia, Mehico và nhiều nước khác trở thành những “công xưởng thế giới” chỉ nhằm phục vụ sự tiêu xài Mỹ. Nhưng như mọi người đều biết, tài nguyên hành tinh là có hạn, ngay cả bầu khí quyển bao la kia cũng vô cùng chật hẹp, làm sao có thể  thỏa mãn lòng tham không đáy bị chủ nghĩa tư bản nâng lên thành thần tượng của lối sống Mỹ? Và nghịch lý thay, trong khi người Mỹ hoang phí nhất thế giới thì nước Mỹ lại là con nợ lớn nhất hoàn cầu! Ông Obama cố tình quên hay không biết rằng, sự thịnh vượng của thế giới cũng như nước Mỹ thập kỷ qua là giả tạo? Từ sản lượng có thực khoảng 50 ngàn tỷ đô, trò lừa đảo Mỹ đã gian dối tố lên thành con số 500 ngàn để kích động nhân loại vào cuộc đua tiêu phí. Khi tiêu đến đồng đô la thực cuối cùng, sự sụp đổ phải đến!
Do không bắt được căn bệnh Mỹ, thày lang Obama kê toa thuốc cũ mẻm: “Chúng ta sẽ hành động – không chỉ để tạo ra những việc làm mới, mà còn để đặt một nền móng mới cho sự tăng trưởng. Chúng ta sẽ xây dựng cầu, đường, các lưới điện và đường dây kỹ thuật số để cung cấp cho thương mại và kết nối chúng ta lại với nhau. Chúng ta sẽ khôi phục khoa học ở vị trí đúng đắn của nó, sẽ sử dụng các điều kỳ diệu của công nghệ để nâng cao chất lượng chăm sóc y tế và hạ giá thành của nó. Chúng ta sẽ khai thác năng lượng từ mặt trời, từ gió và đất để cung cấp nhiên liệu cho xe hơi và vận hành các nhà máy của chúng ta. Và chúng ta sẽ chuyển các trường học, trường học phổ thông và đại học để đáp ứng các nhu cầu của một thời đại mới.” Cách chữa trị như thế được người Việt gọi là đau nơi giác nẻo! Nước Mỹ đâu có khốn khổ vì thiếu cầu cống, đường sá, vì giáo dục tồi, khoa học kém?!
Nước Mỹ có thể làm những điều này nhưng không bao giờ lấy lại được niềm tin cũng như sự thịnh vượng xưa! Bảy trăm hay bảy ngàn tỷ kích cầu cũng vô nghĩa như muối bỏ bể, chỉ làm nặng thêm gánh nợ Mỹ. Nước Mỹ có thể phát động vòng xoáy tiêu phí mới! Nhưng thử hỏi, điều gì đang chờ ở cuối cái vòng xoáy oan nghiệt ấy? Phải chăng lại một cuộc khủng hoảng mới?!
Ngay cả khi kịch bản trên được thực hiện thì điều gì sẽ xảy ra, ta có thể thấy trước. Đường sá, cầu cống được xây dựng, nhiều người có việc làm, thu nhập cao và lại thỏa sức tiêu xài. Và những dòng hàng hóa giá rẻ từ khắp nơi trên thế giới chảy vào nước Mỹ. Tại những “công xưởng của thế giới” một số người có việc làm, cuộc sống khá hơn. Nhưng sẽ có hàng triệu người mất ruộng đất, hàng triệu mẫu rừng bị phá hoại, tài nguyên khoáng sản bị khai thác kiệt quệ, môi sinh bị ô nhiễm. Kết quả là hàng triệu người bị bần cùng. Trong thời đại toàn cầu hóa thông tin, những người khốn khổ sẽ nhận ra sự bất công giữa thiên đường Mỹ và sự khốn cùng của họ. Lúc đó không chỉ có một Bin Ladel đánh bom nước Mỹ!
Nước Mỹ chưa có đường ra. Đó là những gì thấy được từ diễn văn nhậm chức của vị tổng thống mới!
Suy cho cùng, sự sụp đổ kinh tế là hậu quả của sụp đổ văn hóa. Ông Obama cũng như bộ sậu của ông chưa nhận ra điều cốt lõi này!
Và nói chung, nhân loại cũng chưa thức tỉnh !
Nhưng chính lúc này đây, con người phải nhận ra đặc điểm của thời đại mình đang sống để cứu hành tinh, cứu con người trước khi quá muộn. Đặc tính của kỷ nguyên này, từ đau khổ, từ máu, nước mắt và sự thất bại của mình, con người nhận ra : đã tới lúc từ bỏ văn minh du mục, dù là tư bản hay cộng sản để trở về với văn minh nông nghiệp cội nguồn. Phải chuyển từ kích cầu trở lại kiệm ước để đưa thế giới trở lại quan hệ « tham thiên lưỡng địa ». Thiên nhiên với rừng núi, sông biển, hầm mỏ được bảo vệ và khai thác sao cho hiệu quả bên vững. Từ tài sản tập trung cao độ cho số ít trở thành bình sản, trong ý nghĩa tốt đẹp của nó: không còn ai quá giàu đếm mức trở thành tai họa với đồng loại và cũng không còn ai trắng tay vô sản…
III. Kết luận
Từ xa xưa người Việt vẫn cảm nhận rằng mình là cháu con của dân tộc minh triết. Những hạt minh triết luôn lấp lánh tỏa sáng trong cuộc sống. Thức giả Việt từng băn khoăn tìm một định nghĩa minh triết và liệt kê nhiều nhiều biểu hiện của minh triết. Nhưng chưa ai biết nguồn cội minh triết là gì. Cho đến nửa thế kỷ trước, bằng quán tưởng, bằng giải mã những huyền thoại, truyền thuyết Việt, triết gia thiên tài Kim Định đã đốn ngộ phát hiện cội nguồn minh triết Việt. Phát kiến lớn về văn hóa Việt của ông được đông đảo sinh viên Sài Gòn một thời hoan hỷ hưởng ứng. Nhưng rồi sau đó học thuyết của ông bị nhiều học giả Sài Gòn phản bác. Tiếp theo là giải phóng miền Nam, sách của ông bị coi là phản động, bị cấm đoán. Hơn 40 năm, những phát hiện mới mẻ, “động trời” khiến có thể khơi dậy hiểu biết cùng lòng tự hào dân tộc bị bỏ quên hoặc phủ nhận một cách oan uổng, trong khi khoa học xã hội nhân văn của chúng ta lạc đường.
Nay, khi khoa học nhân loại cung cấp những chứng cứ xác thực giúp tìm lại cội nguồn sinh học cũng như cội nguồn văn hóa của dân tộc thì cũng là lúc chúng ta xác lập được cơ sở khoa học cho học thuyết Kim Định. Là người mấy năm nay tiếp cận với học thuyết Kim Định, đã đọc qua gần như toàn bộ trước tác của ông, hơn 40 quyển, và viết một số bài phê bình cũng như bảo vệ ông, tôi nhận thấy, tuy có những sai lầm và hạn chế nhưng cống hiến của triết gia thiên tài này cho văn hóa đất nước là rât lớn. Việc nghiên cứu di sản của ông sẽ tạo giai đoạn mới cho sự phát triển của học thuật và văn hóa Việt. Điều quan thiết là nó giúp định hướng cho sự phát triển của dân tộc và nhân loại trong kỷ nguyên mới. 
Sài Gòn,14/9/2009
Hà Văn Thùy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Hạ Vũ có phải là tổ tiên của người Việt

Hạ Vũ có phải là
tổ tiên của người Việt?

Cho đến nay nhiều sử sách ghi rằng, khi Hạ Vũ được Đế Thuấn truyền ngôi, vì Vũ người Việt, người Hán không chấp nhận đã nổi lên làm loạn phản đối, Đế Thuấn phải đánh dẹp mới yên. Hạ Vũ làm vua, trở thành tổ tiên của người Việt, mà hậu duệ là Việt vương Câu Tiễn. Khoảng năm 333 TCN, người Sở diệt nước Việt, người Việt chạy xuống Việt Nam, trở thành tổ tiên người Việt (Kinh) hiện nay.
Có đúng vậy không? Tôi xin trình bày một số ý kiến.
Sử sách Trung Hoa ghi những vị vua thời tiền sử của họ gồm có: Phục Hy (2852 TCN), Thần Nông (2737 TCN), Hoàng Đế (2697). Tiếp theo là Thiếu Hiệu, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Chí, Đế Nghiêu, Đế Thuấn rồi đến Hạ Vũ (2205 TCN). Học giả La Hương Lâm trong cuốn “Bách Việt nguyên lưu dữ văn hóa,” một khảo cứu công phu về lịch sử và văn hóa các tộc Bách Việt cũng cho rằng, người Việt khởi nguyên từ nhà Hạ rồi lan ra khắp Trung Hoa, không chỉ tại miền Kinh Sở mà còn tới cả các tộc Việt ở Tây Nam Trung Hoa cho tới Lào, Mianmar.
Vì vậy, vấn đề đặt ra với chúng ta là, gốc tích của Hạ Vũ từ đâu?
Trong số các ông vua kể trên, ta biết, Phục Hy, Thần Nông là hai vị vua của người Bách Việt. Khoảng 40.000 năm trước, người Việt cổ gồm bốn chủng là Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid mà nhân chủng học gọi là nhóm loại hình Australoid từ Trung và Bắc Việt Nam đi lên khai phá Trung Quốc. Sống trong những vùng địa lý, thổ nhưỡng, khí hậu khác nhau, người Việt cổ chia ra thành nhiều dòng Việt, được lịch sử gọi là Bách Việt. Truyền thuyết ghi nhận ông vua đầu tiên của người Bách Việt là Toại Hoàng, còn được gọi là Thiên Hoàng. Tiếp đó là Phục Hy, gọi là Địa Hoàng và Thần Nông được gọi là Nhân Hoàng.
Hoàng Đế (黃帝) là ông vua ở đất hoàng thổ (黃土) có lai lịch khác những vị trên. Hoàng Đế họ Hiên Viên, thủ lĩnh các bộ lạc Mông Cổ phương Bắc (Northern Mongoloid) sống ở phía Tây Bắc Trung Quốc. Khoảng 2600 năm TCN, họ Hiên Viên thống lĩnh các bộ lạc du mục Mông Cổ vượt Hoàng Hà xâm lăng đất Bách Việt. Người dẫn đầu họ Hiên Viên được tôn xưng là Hoàng Đế với nghĩa vị đế của vùng hoàng thổ. Do người Mông Cổ ít còn Bách Việt quá đông nên tại phía nam Hoàng Hà diễn ra tình trạng những vùng bị chiếm xen kẽ với khu vực còn độc lập. Những khu vực này luôn tranh chấp nhau để mở rộng ranh giới. Thời gian sau, những khu vực như vậy khép lại, tạo ra ranh giới ở nam Hoàng Hà, không cho những bộ lạc du mục khác xâm nhập. Do lâm vào cuộc chiến du kích dai dẳng (tích nhật Hoàng Đế chiến Si Vưu, Trác Lộc kinh kim vị nhược hưu- Ngày trước Hoàng Đế đánh Si Vưu, cuộc chiến tới nay vẫn chưa dứt), người Mông Cổ không thể diệt chủng cũng như không thể nô lệ hóa người Bách Việt mà dùng chính sách chung sống khôn khéo. Họ từ bỏ lối sống du mục, học nghề nông cùng văn hóa của người Bách Việt. Do sống chung, có sự hòa huyết giữa người Mông Cổ và người Bách Việt, sinh ra chủng người mới là Mongoloid phương Nam (Southern Mongoloid). Với thời gian, khoảng vài ba thế hệ, do vành đai phía bắc vững chắc, người Mông Cổ không xâm nhập được, nên ở nam Hoàng Hà hầu như không còn người Mongoloid thuần chủng. Những người lai Mông Việt trở thành chủ thể xã hội, tự gọi mình là người Hoa Hạ. Lúc này vật tổ của người du mục là con Sói trắng kết hợp với vật tổ Rồng của dân nông nghiệp thành con Rồng với bộ mặt sói. Người Hoa Hạ do mang một phần máu Việt nên lấy các vị Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông làm tổ của mình. Đó là việc làm chính danh. Để duy trì tính chính thống Mông Cổ, các vương triều tiếp sau Hoàng Đế cưỡng ép dân cư nói theo cách nói của người Mông Cổ, tạo ra ngôn ngữ hệ Sino-tibetant của người Trung Hoa ngày nay.
Một câu hỏi được đặt ra: Hoàng Đế, Thiếu Hiệu (2597 TCN), Chuyên Húc (2513 TCN) mang tên Mông Cổ là lẽ bình thường. Nhưng vì sao sau đó lại là những vị mang tên Việt: Đế Cốc (2453 TCN), Đế Chí (2365 TCN)…? Phải chăng, sau gần 250 chung sống, người Việt đã đồng hóa người Mông Cổ cả về huyết thống cả về văn hóa nên trong quốc gia của Hoàng Đế, yếu tố Việt chiếm ưu thế và người Việt được giữ vai trò lãnh đạo? Đó là ý kiến khó phản bác. Ta không biết được công trạng của hai vị này, nhưng với Đế Nghiêu, Đế Thuấn thì thể hiện rõ bản chất của những vị vua mang tinh thần Bách Việt nông nghiệp.
Đến bây giờ ta đi vào vấn đề chính: Hạ Vũ là ai? Theo sử sách thì ông là người đứng đầu bộ lạc Việt, là vị quan thân cận của Đế Thuấn. Do tài năng và đức độ, ông được chọn làm vua. Sinh ra khoảng 2205 TCN, tức sau cuộc xâm lăng của Hoàng Đế gần 500 năm, có thể ông là tổ tiên một số nhánh Việt nào đó nhưng không thể là tổ tiên của toàn bộ người Việt trên đất Trung Hoa. Điều này là dĩ nhiên bởi lẽ, từ trước cuộc xâm lăng của Hoàng Đế, người Việt đã sống khắp Trung Hoa. Có những bộ lạc sống chung với người Mông Cổ như bộ lạc của Hạ Vũ, có những bộ lạc vẫn giữ được độc lập, sau này đứng ngoài ảnh hưởng của nhà Chu như nước Sở, cùng những bộ lạc ở nam Dương Tử hoặc vùng Ba Thục. Cho nên việc một số tác giả cho rằng Hạ Vũ là tổ tiên của người Việt vùng Tứ Xuyên cho tới Lào, Mianmar là chuyện hoang đường. Còn với người Việt ở Lưỡng Quảng, Ba Thục và Việt Nam thì Hạ Vũ chỉ là cháu chắt.
Sự thể như sau: khi cuộc xâm lăng của Hoàng Đế xảy ra, sau trận Trác Lộc, Đế Lai tử trận, Lạc Long Quân dẫn đoàn quân dân Việt theo Hoàng Hà ra biển trở về Việt Nam, xây dựng nhà nước Văn Lang. Trong đoàn thuyền nhân trở về, có người Việt Australoid và cả người Mongoloid phương Nam (được sinh ra do những cuộc tiếp xúc tự nhiên với người Mông Cổ bên Hoàng Hà khoảng 5000 - 6000 năm TCN, và là chủ nhân của văn hóa trồng kê Ngưỡng Thiều.) Người Mongoloid phương Nam hòa huyết với người Việt Australoid tại chỗ sinh ra người Mongoloid phương Nam mới, chính là người Việt hiện đại (Kinh). Điều này được nhiều phát hiện khảo cổ kiểm chứng, đặc biệt là khu mộ táng Mán Bạc, Ninh Bình ở thời Đồ Đồng hơn 2000 năm TCN, trong đó có 30 di cốt của người Australoid và người Mogoloid phương Nam cùng trong một nghĩa địa. Do ưu thế lai, với khả năng sinh sản cao, người Việt hiện đại tăng số lượng và đi lên phía sông Dương Tử trong quốc gia Văn Lang, hòa huyết với người tại chỗ, gây ra phản ứng dây chuyền, Mongoloid hóa dân cư Văn Lang. Khoảng 2000 năm TCN, đại đa số dân cư Văn Lang từ Ngũ Lĩnh về Nam thuộc chủng Mongoloid phương Nam như chúng ta ngày nay.
Sinh sau tổ tiên người Việt hiện đại gần 500 năm, Hạ Vũ có thể là tổ của nước Việt Câu Tiễn mà không thể là tổ tiên của chúng ta. Đấy là điều chắc chắn.
28/12/2009
Hà Văn Thùy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Hiện tượng thơ Tôn nữ Hỷ Khương

Hiện tượng thơ
Tôn nữ Hỷ Khương

Có thể nói, nhà thơ Tôn nữ Hỷ Khương đã tạo nên một hiện tượng thơ. Nhiều tập thơ của bà được in với số lượng lớn. Nhiều nhà sách in thơ bà rồi trả nhuận bút bằng… thơ. Lời hay lỗ không biết nhưng năm 2004, Nhà xuất bản Trẻ in tập Hãy cho nhau. Năm 2005 in tập Nước vẫn xanh dòng rồi tái bản Hãy cho nhau. Năm 2006 công ty Kỳ thư in Thơ tình và tình thơ. Công ty văn hóa Hương Trang nói: “Tụi tôi vốn dị ứng thơ. Nhưng xin được in thơ chị Hỷ Khương.” Nhờ vậy, tập Thơ dâng cha mẹ ra đời. Từ năm 2004 thơ Hỷ Khương được đưa lên lịch. Năm 2008 này có 4 mẫu lịch in thơ bà, trong đó có lịch block treo, khổ A3 với 31 bài thơ nhỏ viết dưới dạng thư pháp do công ty An Hảo phát hành. Một nhà sách khác làm lịch bàn in 52 câu thơ. Bài Thơ xuân tao ngộ làm lịch 7 tờ và công ty Văn hóa Trí Việt làm lịch tờ với bài Còn gặp nhau…
Và thật bất ngờ, thơ Hỷ Khương được khắc lên đá để chơi, để tặng nhau và để… bán. Vào một ngày xuân, Hỷ Khương cùng chị em du xuân tới Hội hoa Xuân tại vườn Tao Đàn. Đang dạo bước giữa người và hoa muôn hồng ngàn tía, chợt cô bạn reo lên: “Kỷ Khương, coi kìa, thơ mi đó!” Theo tay bạn chỉ, Hỷ Khương bước lại chỗ bày non bộ. Cùng với những hòn núi tự tạo muôn vẻ là một dãy những hòn đá cũng nhiều dạng nhiều hình nhưng có một mặt mài phẳng, trên đó khắc bằng kiểu chữ thư pháp những câu thơ Hỷ Khương, mà nhiều hơn cả là câu Lợi danh như bóng mây chìm nổi/ Chỉ có tình thương để lại đời! Với vẻ làm dữ, người bạn hỏi người bán thơ: “Bà có biết thơ này của ai không?” “Dạ biết!” “Sao bà không đề tên tác giả?” Bà ta còn ấp úng thì bị hỏi dồn: “Làm vầy bà có xin phép tác giả không?” E bạn quá lời, Hỷ Khương khẽ kéo tay bạn: “Thôi, mi!” Hỷ Khương không lạ chuyện này. Bà biết gian hàng này là của một vị kiến trúc sư Sài Gòn cũ. Mấy năm trước, ông ta đã lấy thơ bà viết lên thiếp, lên mành trúc bán. Nay nghe nói ông ta khắc thơ lên đá đem tới hội xuân, bán 200 đô la một bức, bà thử đi coi thực hư ra sao. Thấy thơ mình bị chiếm dụng vô tội vạ, lúc đầu Hỷ Khương cũng bực nhưng trong không khí văn hóa của ngày hội, bà không muốn làm lớn chuyện. “Thôi mà, cho qua đi mi!” Người bạn nhằn: “Mi… thì cứ rứa hoài. Để rồi người ta ngồi lên đầu lên cổ!” Nhận ra tác giả thơ, bà bán thơ tới gần, lễ phép nói: “Thưa, có phải chị là Tôn nữ Hỷ Khương? Vậy thì quả là tôi có lỗi. Thấy thơ hay quá, tôi khắc vô đá chơi. Nhưng sau nhiều người hỏi, tôi bán. Làm vậy mà chưa được phép của chị, tôi cũng áy náy... Chị cho tôi sửa sai bằng cách biếu chị...” Hỷ Khương còn đang phân vân thì người bạn nói: “Vậy thì Hỷ Khương nhận đi, coi như tiền bản quyền!” Chiều bạn, Hỷ Khương nhận phiến đá Chỉ có tình thương đem về để trang trọng trong nhà, nơi bà thường chụp ảnh với bạn thơ và khách quý. Kể với tôi chuyện này, bà Hỷ Khương nói: “Cũng may mà mình không làm dữ. Người khắc thơ lên đá đem bán và cả ông chôm thơ mình làm lịch, người là họa sĩ, người là kiến trúc sư, viết thư pháp có tiếng. Hai ông được mời sang Thụy Sĩ biểu diễn thư pháp. Trong thư pháp mấy ông viết, có cả thơ Hỷ Khương. Có cô gái thấy thơ thì hỏi: “Hỷ Khương người như thế nào?” Hai ông trả lời “Chị Hỷ Khương dễ thương lắm!” “Nhờ vậy Hỷ Khương có thêm bạn. Cũng may mà vậy, chớ mình làm dữ, mấy ông nói đó là bà chằng thì nguy!” Kể tới đây, Hỷ Khương cuời, tiếng cười rổn rảng của bà như xua đi mọi nỗi buồn phiền.
Có thể kể ra 101 chuyện vui đang thành giai thoại về thơ Hỷ Khương.
Năm 2004 thơ Hỷ Khương lên lịch, một người Hòa Lan sang Việt Nam làm từ thiện, thấy lịch đẹp với hình ảnh con đò trên sông cùng những dòng chữ viết bay bướm vui mắt, ông mua. Về nước, gặp người Huế lấy chồng Hòa Lan, giảng giải ý nghĩa bài Còn gặp nhau. Cô là học trò của nhà nghiên cứu về Huế Phan Thuận An. Cô xin thầy sách của Hỷ Khương mang sang. Người bạn học tiếng Việt rồi dịch sang tiếng Hòa Lan.
Năm 2004 bài thơ được ông Thân Trọng Sơn dịch ra tiếng Pháp. Một lần Hỷ Khương, giáo sư nhạc sĩ Hoàng Cương, ca sĩ Bích Hồng cùng hai cháu học đàn từ ngoại quốc về, vào nhà hàng. Bích Hồng vui miệng: “Còn gặp nhau thì hãy cứ vui.” Bàn bên có đôi nam nữ ăn mặc thời trang đang ăn. Bất ngờ, chàng thanh niên đứng dậy đọc tiếp:
 Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,
 Lợi danh như bóng mây chìm nổi,
 Chỉ có tình thương để lại đời…
 Quá ngạc nhiên, Hồng hỏi: “Sao em lại thuộc bài thơ này?” Chàng trai nói:
- Tết rồi em tới viếng chùa, một vị sư cho em bao lì xì, trong đó có bốn câu thơ. Thấy hay, em học thuộc.
Vào ngày Hội thơ Nguyên tiêu năm 2007, Hỷ Khương đi dự Hội thơ của thành phố Hồ Chí Minh, nhưng có việc phải về sớm. Từ Sở thú ra, lên taxi, người lái xe hỏi: “Cô ơi, trong đó làm gì đờn ca vui vậy?” “Nay Hội Nhà văn thành phố họp Hội thơ.” “Thưa cô, em có nhớ mấy câu thơ của người tôn nữ chi đó Còn gặp nhau…” “Anh muốn có bài thơ đó không?” “Muốn quá chớ, nhưng làm sao mà có được?” Người lái xe trả lời. Tới nhà, bà mời người lái xe tên là Lê Quang Trung vô nhà, tặng sách. Biết người khách đi xe mình là tác giả bài thơ đó, anh ta cảm động lắm. Ở Cần Thơ, nhà thơ Linh Chi xuống Ô Môn cứu trợ. Vào gia đình nhà tranh dột nát, cô tặng chủ nhà 300.000 đ. Thấy trên vách treo bài thơ Còn gặp nhau, cô hỏi: “Bài thơ nầy anh lấy từ đâu?” Chủ nhà nói: “Em bán cà-rem, thấy cuốn lịch có thơ đó, em chép về treo!” Cô liền cho anh thêm số tiền nữa. Một người bạn của Hỷ Khương từ Mỹ gọi về, kể chuyện, cựu thủ tướng Việt Nam cộng hòa Trần Thiện Khiêm nói với nghị sĩ Trần Ngọc Châu: “Bây giờ tôi chỉ sống với bốn câu thơ Còn gặp nhau…” “Ông có biết đấy là thơ của ai không?” “Không biết nhưng thấy hay quá nên tôi thuộc!” Trong khi đó ông tướng công an Việt Nam cộng sản Mai Chí Thọ lại dẫn thơ Hỷ Khương đăng báo. Một vị hòa thượng nói: “Phật dạy sắc sắc không không, cao siêu quá, người đời hiểu không thấu. Thơ của Hỷ Khương cụ thể hơn nên đi vào lòng.”
Những chuyện trên, nhà thơ Hỷ Khương kể. Còn chuyện này thì bà chưa biết. Sáng nay, 23.12. 2007, trước khi bắt tay viết bài này, tôi mở máy nhận điện thư thì trong hộp thư hiện lên bài Còn gặp nhau. Bạn tôi, một võ sư từ nửa vòng trái đất gửi về cho tôi thay lời mừng Noel và năm mới!
Hơn 20 năm trước tôi gặp chị Tôn nữ Hỷ Khương tại nhà nữ sĩ Mộng Tuyết, đường Nguyễn Trọng Tuyển Sài Gòn. Trong không khí trầm mặc của Vương giả hương đình còn bâng khuâng hơi thở thi sĩ Đông Hồ, nữ sĩ Mộng Tuyết cho tôi biết câu hò Chiều chiều trên bến Văn Lâu là của cụ Ưng Bình và Hỷ Khương chính là nàng quận chúa, con gái bậc vương tôn thi nhân đó. Được cô Bảy cho đọc thơ xuớng họa của hội thơ Quỳnh Dao mà Hỷ Khương là thành viên trẻ nhất, tôi nhận ra nàng quận chúa của vương triều cuối mùa là người có hồn thơ, có tấm lòng nhân hậu. Không hiểu sao, lòng tôi chợt buồn se thắt. Hai người họ, một già một trẻ yêu thơ này, chỉ là những mầm non cô đơn. Sống làm sao trong những ngày chói chang nắng gió?
Năm tháng qua đi. Rồi một lúc nào đó, tôi nhận ra, Hỷ Khương đã tự làm nên hiện tượng thơ. Dù muốn dù không, đó cũng là một hiện tượng. Thơ Hỷ Khương là chỉ dấu chia thơ Việt thành hai dòng. Một bên là những nhà thơ hàn lâm, bác học với siêu thực, hiện đại, hậu hiện đại, tân hình thức… ngất ngưởng trên đỉnh Thi sơn, chen vai thích cánh bước vào Điện Panthéon Giao Chỉ. Một bên là thơ ca dân dã, tự nhiên nhi nhiên, như con chim thấy lòng vui thì hót. Những nhà thơ vô danh của dân lân, dân ấp tìm được nàng quận chúa làm người phát ngôn cho mình: những vần thơ chân chất, hồn hậu. Tôi không dám cho thơ nào cao hơn, sang hơn thơ nào nhưng hiểu rằng, chính Hỷ Khương tạo nên một định nghĩa của thơ. Hình như điều này kéo thơ ca gần lại hơn với cuộc đời?
Tới đây, những câu hỏi nảy sinh: tại sao những người có chỗ đứng rất khác nhau trong xã hội lại cùng yêu thơ Hỷ Khương? Và bài thơ nào của bà được yêu thích nhất? Câu thứ nhất phải cân nhắc. Câu thứ hai đạt đồng thuận cao: Còn gặp nhau! Bài thơ không hề có đổi mới cách tân gì về ngôn từ, vần điệu. Cả đến ý nghĩa cũng xưa như Trái đất. Bạn và tôi, có lẽ không biết bao lần chúng ta từng nghĩ gần như thế và nói gần như thế, chuyện tưởng xưa cũ không còn gì để bàn. Nhưng rồi Còn gặp nhau xuất hiện, chúng ta như tỉnh ngộ mà nhận ra rằng đó là cách đơn giản nhất, chân thành nhất, nhưng chính xác nhất nói lên niềm sâu thẳm của tâm linh Việt. Và ta bỗng nhớ ra: ta đã từng nghĩ gần như thế, nói gần như thế! Vì vậy, bài thơ là của ta, thuộc về ta. Yêu thơ Hỷ Khương cũng chính là ta yêu ta! Điều này lý giải cho câu hỏi đầu.
Không khỏi có người cho rằng, chỉ là sự ăn may, bài thơ làm quá dễ, không hề dụng công! Ít dụng công thì có thể. Ta có thể chưa bằng lòng về đôi chữ nghĩa. Nhưng ăn may thì không. Hỷ Khương đã dụng cái lớn hơn ngàn lần dụng công: dụng tâm! Có lẽ bà phải tu cả đời hay nhiều đời nên mới có được tâm phật để nói lên lời phật!
Phải chăng đó cũng là cái ý nghĩa của sự tồn tại của bà với tư cách nhà thơ trên cõi đời này? Với những câu thơ đi vào lòng người như vậy, thơ Hỷ Khương đã có hộ khẩu thường trú nơi cõi vĩnh hằng, giống như những câu Chiều chiều trên bến Văn Lâu của thân phụ bà. Âu, đó cũng là lẽ công bằng của tạo hóa huyền vi!
Một sáng chủ nhật, bạn tôi, nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Thị Thanh Xuân, ở tuổi xưa nay hiếm, từ phía Đông thành phố Sài Gòn gọi cho tôi: “Buồn quá. Mình cảm thấy đời quá chừng vô nghĩa. Sống như vậy để làm gì nhỉ?!...” Đã trải qua những cảm giác hư vô về cuộc đời, tôi an ủi bạn. Lát sau bạn tôi nói: “Bà Hỷ Khương tài thật đấy. Làm sao mà bà ấy sống hồn nhiên yêu đời như vậy được? Mà cuộc đời bà ấy có sung suớng gì đâu! Phải hàng chục năm nuôi mẹ già ốm, lại thằng con bệnh hoạn. Vậy mà bà ấy vẫn sống vui. Mỗi khi gặp bà ấy, mình như được xua đi bao phiền muộn!”
Tôi hiểu, trong người phụ nữ nhỏ nhắn mà bạn tôi cảm phục mang chiều sâu của cả một nền văn hóa.
Sài Gòn, 26/1/2007
Hà Văn Thùy
Theo https://www.vanchuongviet.org/

  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...