Thứ Năm, 30 tháng 6, 2016

Mơ về Bến xuân

Mơ về Bến xuân
Một chiều Xuân bên sông Hương. Mặt trời suốt ngày ẩn sau lớp mây xám nhạt nay đã khuất hẳn dưới dãy Kim Phụng xanh thẫm nhấp nhô đằng xa ở bên kia bờ. Một chiếc thuyền từ phía Ngã Ba Tuần hối hả xuôi dòng, tiếng máy nổ khuấy động giây lát mặt sông phẳng lặng trong màn sương chiều mờ ảo bắt đầu buông xuống.
Vào lúc ấy, bên phía bờ Bắc, giữa khu đất gần như hoang vắng quãng trên chùa Thiên Mụ và dưới Văn Thánh, trên con đường lát gạch bát tràng cạnh lầu “Nghinh Phong” vừa dựng mà trông cổ kính hơn cả Thương Bạc (Huế), những tà áo dài tha thướt bên cánh veston - càvạt - giầy đen khoan thai nối tiếp nhau tiến ra “Bến Xuân”. Các cựu nữ sinh “Đồng Khánh” Huế là bạn với nữ chủ nhân Cẩm Hồng và rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức quen biết, trong đó có hoạ sĩ Vĩnh Phối, dịch giả Bửu Ý, nhà văn Trần Thùy Mai, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ… và đặc biệt có cả nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nói là “đặc biệt” vì mấy năm nay, anh phải ngồi trên xe lăn, lại ở trên lầu hai, mỗi khi muốn “xuất quân” là phu nhân Mỹ Dạ phải nhờ anh Nguyễn Văn Dũng “một tay” đưa anh Tường xuống mới yên tâm. Gọi là “một tay” vì chỉ nhờ sức lực của “Dũng - võ sư Karaté nổi tiếng”; anh Dũng còn là “một tay” viết bút ký có hạng, tác giả tập du ký “Linh Sơn mây trắng” có nhiều bài rất hay, nếu có thua chỉ thua Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường!
Có gì lạ, gì hay ở nơi hoang vắng này mà Hoàng Phủ phải “hạ sơn”, mang cả xe lăn theo tắc-xi, vượt sông Hương tìm lên tận Văn Thánh? Phải “tìm”, vì “Bến Xuân” chưa mấy ai biết, đang lặng lẽ hình thành. Nhưng ý tưởng thú vị, muốn làm đẹp cho Huế, cho đôi bờ sông Hương của chủ nhân đã cuốn hút tác giả “Dòng sông ai đã đặt tên”và nhiều người khác. 
Chủ nhân “Bến Xuân” là đôi vợ chồng Việt kiều rất gắn bó với các hoạt động văn hoá của Việt ở Thuỵ Sĩ: Trương Đình Ngộ và Cẩm Hồng (còn gọi là Camille Huyền Tôn Nữ). Khách đến sớm, thấy một người đàn ông cao lớn, khoẻ mạnh, nước da bánh mật, quần áo giản dị - nếu không nói là lùi xùi, xăng xái và tươi cười sắp đặt, bưng bê cái này cái kia, cứ tưởng người giúp việc; hoá ra đó là ông chủ - giám đốc và chuyên viên hàng đầu bộ phận chứng khoán derivative ngân hàng lớn nhất ở đất nước có mức sống vào loại cao nhất thế giới! Ngày trời đẹp, ông chủ còn ra cuốc cỏ vườn rồi bơi qua sông Hương mấy vòng để giải lao. Anh Ngộ quê Quảng Trị, du học tại Đức từ 35 năm trước, nên duyên với cô cựu nữ sinh Đồng Khánh bên trời Tây, không biết “bị” cô gái Huế xinh tươi, hát hay, vẽ đẹp hay cảnh sông Hương núi Ngự bỏ “bùa mê” mà quyết định bỏ tiền nhờ gia đình vợ mua miếng đất hai ngàn mét vuông để… chơi! Phải! Để chơi với cái ĐẸP, với nghệ thuật. Một kiểu “nghề chơi cũng lắm công phu!”.
Khởi đầu mới chỉ có một lối đi, nhà “Nghinh Phong” và bờ tường xây dọc theo mép nước. Công trình tiếp theo trình đồ án lên cấp có thẩm quyền thì bị “vấp” một quy chế có thể còn to hơn… núi Kim Phụng; Mảnh đất dự định tạo nên “Bến Xuân” có một rẻo khoảng 3 mét nằm ở phía trước Võ Miếu. Cho dù Võ Miếu nay hoang tàn hầu như không còn vết tích, nhưng như thế là vi phạm “Khu vực I khoanh vùng bảo vệ” di tích, mà theo Luật Di sản văn hoá “phải được bảo vệ nguyên trạng”! Mảnh đất có “sổ đỏ” hẳn hoi, chủ nhân “Bến Xuân” thì vẫn kiên trì ý tưởng, nhưng đã hết hạn nghỉ phép, phải trở lại Thuỵ Sĩ. Thôi, hãy tạm gác những phiền toái của thủ tục và quy chế này nọ, “chơi” đã! Mời bạn bè đến, coi như làm “nháp” lễ “khánh thành” lầu “Nghinh Phong”. Công trình để “chơi” thôi, nên quan chức dự lễ “khánh thành” duy nhất chỉ có Giám đốc Sở Văn hoá - thông tin Nguyễn Xuân Hoa - mà hình như ông đến với tư cách là người bạn yêu nghệ thuật và với tình thầy trò: thầy dạy Cẩm Hồng môn Triết ở Đồng Khánh, người thầy được nhiều học trò yêu thương mãi cho đến bây giờ.
Nhanh nhẹn lách qua những người bạn quen và chưa quen giữa những bàn và ghế mà bộ phận “hậu cần” sẽ bày lên những món chay đặc sản Huế, anh Ngộ bước sát tới bờ tường, chỉ xuống mép nước, giới thiệu với tôi và mấy bạn đứng quanh: “Chúng mình dự tính xây một bến thuyền ở đây. Những cuộc vui như thế này sẽ đón khách đến bằng thuyền, từ cầu Trường Tiền lên…”.

Chà! Mới là “tiểu tiết” đã thấy một kiểu “chơi đẹp”. Anh Ngộ từng tâm sự với tôi: “Mình thấy hàng ngày xe cộ chở hàng ngàn người thăm chùa Thiên Mụ - đến một nơi có ý nghĩa tâm linh như thế, nhưng hầu như ai cũng vội vã xem cho xong, chưa nói đến cảnh khách mặc quần cộc rồi trẻ bán hàng lưu niệm chéo kéo… Mình thấy ở nhà thờ Đức Bà Paris, hay các nhà thờ Hồi Giáo, Ấn Độ giáo không thế. Cần phải tạo một nếp sống văn hoá, một không gian văn hoá quanh di tích…”.
Mở đầu cuộc “chơi”, Cẩm Hồng trong trang phục áo dài đúng điệu nữ sinh Đồng Khánh, tiết lộ một sự trùng hợp ngẫu nhiên lý thú: “Hôm nay, cũng là kỷ niệm ngày cưới anh Ngộ và em…”. Bài “diễn văn” nghiêm túc viết sẵn không làm mất nét dịu dàng của giọng Huế vẫn 100% là Huế, dù cô cho biết quãng thời gian hai vợ chồng sống xa quê hương cộng lại lên đến hơn 60 năm. Và cô nói tiếp:
“…60 năm mà không một ngày nào không hướng về Việt Nam, về cha mẹ, đặc biệt về xứ Huế, nơi thiên nhiên và con người hài hoà với nhau. Nơi đây mình hiểu được cái đơn giản nhất là cái làm ta rung động nhất. Rất nhiều nơi ta đến để học hỏi, để xem, để nuôi phần xác. Huế là nơi ta đến để ngồi yên dưới trăng sao, để gửi  hồn cho gió, để thả thơ trôi theo dòng sông, để sáng sớm thức dậy rù rì trò chuyện với cỏ cây trong vườn, để cảm nhận một điều rất lạ, nhè nhẹ thanh thoát mà phải có duyên may mới cảm nhận được.
Cũng nhờ Duyên May, hôm nay chúng ta mới được ngồi gần với nhau dưới cùng một bầu trời, rồi hát cho nhau nghe… Đây là nhà Nghinh Phong để ta đón gió ngắm trăng. Rồi mai đây, cầu xin một Duyên May đưa đẩy để chúng ta có thêm một nơi dành để triển lãm tranh, giới thiệu thơ, nhạc, hoà tấu nhạc cổ điển trong một không gian với âm thanh trung thực không cần máy móc, có kiến trúc hài hoà với tâm hồn của Huế, của dòng sông và chùa Thiên Mụ…”.
Sau “diễn văn” như một bài thơ, nữ chủ nhân bắt đầu cuộc vui với bài hát “Đôi bờ” của Cung Tiến, lời thơ của Quang Dũng: “Thương nhớ ơ hờ… thương nhớ ai/ Sông xa từng lớp lớp mưa dài… Xa lắc rồi em người mỗi ngả/ Bên này đất nước nhớ thương nhau/ Em đi áo mỏng buông hờn tủi/ Là hết, là hết, thôi rồi chuyện trước sau…”.
Thú thật, lớp người ở miền Bắc như tôi và có lẽ lớp trẻ bây giờ thích kiểu nhạc sôi động hầu như chưa biết nhạc sĩ Cung Tiến. Cũng do anh đang ở xa, ít được giới thiệu. Nhưng vừa thoáng nghe “Thương nhớ ơ hờ… thương nhớ ai…”, người đã nổi gai vì xúc động. Một giọng điệu lạ, dịu dàng mà ma mị hút hồn người nghe. Nhạc hoà âm nữa, cũng trình độ bậc thầy… 
Huế đã “trải chiếu hoa”, tặng hai biệt thự sang trọng cho hai nghệ sĩ tài danh là Điềm Phùng Thị và Lê Bá Đảng làm nơi trưng bày tác phẩm của mình. Chàng rể Huế ở Thuỵ Sĩ thì lại “mong” được mang tiền riêng về xây nhà cho văn nghệ sĩ trong và ngoài nước biểu diễn, tạo thêm một địa chỉ văn hoá bên bờ sông Hương. Thời buổi thiên hạ mạo hiểm “chơi chứng khoán” như hàng vạn người vừa bị chiêu lừa “đầu tư tài chính qua mạng Colony Invert, thì cách “chơi” của anh Ngộ kể cũng… ngộ thật! 
Bài hát gợi mở một phong cách nghệ thuật đặc sắc cùng với dự án “Bến Xuân” khá độc đáo và trắc trở, đã lôi cuốn tôi lên phía Văn Thánh làm một cuộc phỏng vấn “bỏ túi” với anh Ngộ, trước khi anh tạm biệt Huế. Trong căn nhà tạm lợp tôn phía sau lầu Nghinh Phong, Cẩm Hồng đang cùng một guitarist trẻ từng tu nghiệp ở Pháp 5 năm vừa trở về Huế, tập dượt những nhạc phẩm của Cung Tiến, chuẩn bị cho việc thu đĩa CD ở Thuỵ Sĩ. Anh Ngộ trò chuyện với tôi bên chiếc bàn nhỏ kê tạm ngoài hiên. Anh lấy từ máy tính xách tay cho tôi hai trang tư liệu về nhạc sĩ Cung Tiến và vui vẻ nói: 
- Tối qua mình vừa lấy trên mạng đây…
Anh dừng giữa câu, đi vào góc nhà để nghe điện thoại di động, sau khi nói nhỏ: “Xin lỗi, có chút công việc từ gọi sang…”. 
Tôi lướt nhanh hai tư liệu anh đưa. Trang giấy tiếng Việt ghi: Nhạc sĩ Cung Tiến, tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh ngày 27/11/1938 tại Hà Nội. Du học tại Úc năm 1957 ngành kinh tế, đồng thời theo học các lớp nhạc tại nhạc viện Sydney . Về nước năm 1963. Năm 1970 du học tiếp tại Anh quốc, tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế song song theo học âm nhạc tại nhạc viện London . Hiện định cư tại Hoa Kỳ, chuyên viên kinh tế tiểu bang Minnesota , từng làm việc trong Ban Giám đốc diễn đàn các nhà soạn nhạc Mỹ (1992-1999). Tác phẩm âm nhạc: Thu vàng - Hương xưa - Hoài cảm - Hoàng hạc lâu - Vang vang trời vào xuân - Lệ đá xanh - Kẻ ở - Mắt biếc - Đôi bờ - Nguyệt cầm – Khói hồ bay - Thuở làm thơ yêu em - Vết chim bay - Tổ khúc Bắc Ninh soạn cho dàn giao hưởng… Ông còn là dịch giả với bút danh Thạch Chương (trước 1975) và Đăng Hoàng (sau 75, tại hải ngoại). Ông đã dịch hai tác phẩm nổi tiếng: “Hồi ký viết dưới hầm” của Dostoievski (1969) và “Một ngày trong đời Ivan Denissovitch” của A. Solzhenisyne (1969). Bản tiếng Anh cho biết thêm: Nhạc Cung Tiến đã được trình diễn và ghi âm ở Việt , Mỹ, Pháp, Đức, Úc. Như vở Ballad of anh Warrior’s Wife đã được nhiều dàn nhạc giao hưởng của nhiều nước trình diễn. Đặc biệt, thị trưởngHouston đã công bố ngày 2/10/1993 là “Ngày Cung Tiến”, như là món quà tặng của thành phố cho người nhạc sĩ đã có những đóng góp vô giá cho nền âm nhạc Việt (nguyên bản tiếng Anh: “…composer’ s invaluable contribution to Vietnamese music.”)
 Một nghệ sĩ lớn như thế mà tôi (và có lẽ nhiều bạn trẻ) hầu như chưa biết, ngoài bài “Hương xưa” thoảng nghe đâu đó một hai lần. Có lẽ không chỉ là thiệt thòi cho riêng tôi… Và tôi chợt nghĩ: một thành phố ở Mỹ còn biết tôn vinh một nhạc sĩ Việt Nam như thế, giá như Hà Nội, Huế, Tp. Hồ Chí Minh chọn ngày để tôn vinh những tên tuổi như Văn Cao, Nguyễn Đình Thi, Trịnh Công Sơn… 
Thời gian không nhiều và với con người của loại công nghiệp hiện đại liên lục địa này, tôi vào chuyện ngay, khi anh Ngộ quay lại bên bàn:
- Được biết anh rất tâm huyết với dự tính đưa nhạc Cung Tiến về dự Festival Huế 2008 và biết Cẩm Hồng đang thực hiện Album Cung Tiến Art songs; một chuyên gia về chứng khoán - tài chính như anh mà bỏ nhiều công sức, chỉ để đem cái ĐẸP của nghệ thuật đến với mọi người, kể cũng là sự lạ…
- Nửa đời mình sống ở châu Âu, nghe nhạc cổ điển nhiều năm, mình thấy trong nhạc anh Cung Tiến đậm chất cổ điển, bác học. Nghe những bài hát của anh, với ngôn từ là tiếng Việt quê hương được chuyên chở một cách tài tình bằng giai điệu Tây phương thật là thú vị. Và một dịp may, thầy Walther Giger dạy Cẩm Hồng guitar cổ điển là người rất yêu âm nhạc phương Đông. Ban nhạc Orches Trio của thầy ởZurich có hai giáo sư người Nhật Bản, sống ở Zurich nhiều năm, mỗi năm đều trở về Nhật biểu diễn và giảng dạy. Để viết hoà âm, thầy đã bỏ gần 1 năm nghiền ngẫm những bài hát của Cung Tiến, sau mỗi buổi dạy, thầy mời Cẩm Hồng đi uống nước để nghe kể chuyện gió trăng mưa nắng ở xứ Huế xa lắc. Và thầy nói: “Tôi sẽ soạn phù hợp với tánh tình của cô học trò”. Nhờ đó mà có một sự kết hợp rất thú vị: Thầy Walther Giger viết hoà âm dựa trên nhạc ngũ cung Đông phương, trong khi anh Cung Tiến viết nhạc lời đông phương theo nhạc thất cung Tây phương…
Anh Ngộ bỗng dừng lời. Ngôn ngữ phải dành không gian yên lặng cho tiếng đàn, tiếng hát từ trong nhà vọng ra: 
“Người ơi, một chiều nắng tơ vàng hiền hoà hồn có mơ xa?/ Người ơi, đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò/ Còn đó tiếng tre êm ru/ Còn đó bóng đa hẹn hò…”. 
Tôi đã nhận ra bài “Hương xưa” mà nhiều người sống ở miền trước 75 đã thuộc. Chờ bài hát kết thúc, anh Ngộ mỉm cười và nói: 
- Xin lỗi, mình là người “ngoại đạo”, nói theo thầy W. Giger và anh Cung Tiến thôi. - Anh cúi tìm một tư liệu và tiếp - Đây, anh Cung Tiến đã nhận xét khi nghe hoà âm bài “Vết chim bay” của thầy W. Giger như thế này: “…Cảm ơn ông đã đã bỏ công ra “tô điểm”, khoác cho melody Cung Tiến một vòng hoa Đông phương khá original…” Anh thấy không, Cung Tiến từ phương Đông đi đến phương Tây và thầy W. Giger từ phương Tây tìm về phương đông. Một sự giao lưu rất thú vị. Mình thích Cung Tiến còn vì anh đã chọn những bài thơ theo ý mình là hay nhất thế kỷ để phổ nhạc - Anh Ngộ lại cười nhỏ rồi nói - Mấy hôm nay mình xem cuốn “100 bài thơ hay nhất thế kỷ”, rất lạ là không có những bài đó! Nhưng những bài như “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu (bản dịch của Vũ Hoàng Chương), “Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu, “Đôi bờ” của Quang Dũng, “Lệ đá xanh” của Thanh Tâm Tuyền… đã được bao thế hệ truyền tụng và được anh Cung Tiến dùng làm ca từ một cách tuyệt vời…
“Đêm mùa trăng úa làm vỡ hồn ta… Ngập ngừng xa… suối thu dồn lá úa trôi qua…”.
Tiếng đàn và tiếng hát trong phòng lại vọng ra. “Bài “Nguỵêt cầm” dựa ý thơ Xuân Diệu đó!” Anh Ngộ nói nhỏ và chúng tôi lặng yên thả hồn theo dòng âm thanh kỳ diệu…  
Thì ra ở miền trước 75 không chỉ có Trịnh Công Sơn và Phạm Duy. Quả là “ngoài Trời còn có Trời!” Cung Tiến đã tạo cho những thi phẩm vốn đã là tuyệt tác một “cuộc sống” mới giàu âm hưởng và gợi những ý tưởng sâu xa. Trên nền nhạc hoà âm và tiếng đàn guitar điêu luyện, giọng hát mượt mà của Cẩm Hồng đã chắp cánh cho đôi “uyên ương” thơ - nhạc bay lượn tới tận chốn cao xanh mà cũng thấu đến chốn sâu thẳm của lòng người… 
Trước lúc rời “Bến Xuân”, anh Ngộ lại dẫn tôi ra lầu Nghinh Phong, đưa tay chỉ đám đất, say sưa trình bày dự án xây ngôi nhà để chơi nhạc cổ điển, triển lãm tranh, trình bày thơ ca… - một công trình mới mà vẫn hợp với cảnh quan sông Hương, Thiên Mụ như lầu Nghinh Phong. Anh hy vọng nơi đây, khi sang tham dự Festival Huế 2008, ban nhạc Orches Trio có thể biểu diễn và dạy một lớp Master Chamber Music theo lời mời của Nhạc viện Huế. Anh hình dung các bạn bè của mình trong giới tài chính ngân hàng Thuỵ Sĩ sẽ đến đây để thấy một nếp sống văn hoá Huế trong ngôi nhà vườn và được thưởng thức nghệ thuật Huế… 
Dự án “Bến Xuân” đang bị “vấp”, nhưng chủ nhân vẫn tin ở lý lẽ của mình (có luật nào lại cấm thay bãi cây cỏ hoang tàn bằng một công trình văn hoá phù hợp với cảnh quan, mà Nhà nước không tốn đồng xu nào?). Khi tôi viết những dòng này, từ Zurich, Cẩm Hồng “meo” về cho biết album “Cung Tiến Art Songs” vừa hoàn thành và chính nhạc sĩ đã nhận xét: “…một dự án đầy công phu và suy nghĩ, cũng như sự diễn đạt rất thành công…”; lúc này, nước lũ đang dâng tràn đôi bờ sông Hương nhưng mùa đông qua, mùa Xuân sẽ tới. Hy vọng một ngày không xa, “Bến Xuân” sẽ trở thành một địa chỉ văn hoá mới trên đoạn đường đậm chất văn hoá - tâm linh từ chùa Thiên Mụ lên Văn Thánh Huế…
NGUYỄN KHẮC PHÊ
Nguồn: TCSH số 228 - 02 - 2008
Theo http://tapchisonghuong.com.vn/

Những cơn mưa trên phố núi Đà Lạt

Những cơn mưa trên phố núi Đà Lạt
Chưa có dịp đi nhiều, nhưng thật lạ là mỗi lần được đi du lịch tới những vùng đất mới, tôi lại được chứng kiến cảnh mưa rơi của nơi ấy, đừng nói mưa nơi nào cũng giống nhau.
Xa thành phố cao nguyên bé nhỏ mang tên Đà Lạt, tôi cố tìm cho mình một lý do trong hàng vạn lý do để níu bước chân lại, bởi nơi đây có quá nhiều điều để vấn vương, lưu luyến. Nhưng có lẽ, tôi nhớ nhất là những cơn mưa Đà Lạt. Không đến đột ngột rồi trôi tuột đi trong cái ướt át dầm dề, cuồn cuộn sình lầy như Sài Gòn, mưa Đà Lạt cứ lặng lẽ, nhỏ bé hóa thành những đóa hoa thủy tinh nhỏ xíu, vương trên tóc, trên tà áo cô thiếu nữ hai má hồng đào, như muốn gửi chút tâm tình của Đà lạt cho mỗi du khách thập phương. Đó là mưa phùn.
Một Đà Lạt buồn khi những cơn mưa tới
Để ý cứ đến khoảng tháng sáu trở đi, người ta rỉ tai nhau:” Muốn tìm cảm giác lãng mạn không? Lên Đà Lạt nhé, mùa này đang mưa”. Thiệt lạ phải không? Vâng, Đà lạt là nơi thỏa mãn những nhu cầu lãng tử dù dị thường nhất của mỗi người. Bởi dẫu nắng hay mưa, Đà lạt vẫn đẹp, vẫn nên thơ hơn tranh vẽ.
Mưa phùn thường xuất hiện vào buổi chiều trở đi, vừa lúc ấy hoàng hôn phủ xuống màu huyết dụ buồn bã. Mưa giăng. Trắng xóa những tàn cây ngọn cỏ. Những giọt mưa nhỏ như hạt pha lê vụn cứ âm thầm rơi nghiêng theo hơi thở của gió, lất phất vào mặt. Tôi co lại, không bởi cái lạnh, mà dường như muốn ôm trọn vào lòng mình thứ gì đó quá đỗi mong manh. Người ta ví mưa trắng đất trời, với tôi thì mưa Đà Lạt không có màu trắng, nó có màu của cuộc sống. Cơn mưa phùn buổi sáng trong trẻo, mát lành hơn trong hơi sương, một chút lành lạnh áp vào da thịt tạo nên sự thích thú kì lạ.Trong cái mờ ảo của thành phố Đà Lạt vào buổi sáng sớm, làn sương trắng như bông trôi bồng bềnh trên mái nhà, cuộn lại như chiếc vương miện dành cho nàng công chúa e thẹn, khép nép. Mây hay sương đó, mà gần gũi như những đôi tay đan vào nhau quyến luyến. Tôi mở toang cửa sổ, mặc cho cái lạnh buổi sớm mang hương thông ngan ngát ùa vào khắp phòng, mặc cho những tấm chăn kéo lên vội vàng, tôi đưa tay hứng vội những giọt long lanh của đất trời chớm nở. Lấp xấp những mái nhà thấp, cao, chìm cả vào trong mây và những hạt mưa bụi thoảng nhẹ trong hơi gió, nhìn xa xa như những mũ nấm màu rơm đang nấp vội đùa nghịch với mây. Đà Lạt buổi sớm đẹp tựa như cô bé vừa giã từ thời thơ ấu, cởi bỏ chiếc vòng hoa đội đầu, em chạm vào tất cả, bừng dậy một sức sống khỏe khoắn, gọi về những ước mơ đẹp đẽ. Em mang nhựa sống dạt dào cho từng ngọn cây, từng bông hoa không tên, em mang cho tâm hồn con người cái náo nức lạ lùng. Có cái gì đó rất mong manh và tinh nghịch của buổi sớm mưa Đà Lạt. Dù sao Em cũng vẫn chỉ là một cô gái nhỏ, chưa hề vương bụi trần.
Những cơn mưa  tẩy đi bụi trần
Tôi ngóng mặt trời lên cao bằng những bước chân rảo quanh chợ Đà Lạt. Dù ở buổi nào trong ngày cũng mang vẻ tĩnh tại rất duyên, rất đằm. Đà Lạt hầu như ít mưa vào buổi trưa. Cách đây mười năm, người ta còn phải run mình vì cái lạnh buổi trưa của Đà lạt, vì buổi trưa nơi cao nguyên này không hề có nắng. Không khí vẫn mang hơi ẩm dịu dàng, dễ chịu, trời cứ âm âm, không chút nào gay gắt khiến những thiếu nữ Đà lạt luôn tự hào khoe đôi má hồng đào và làn da trắng như sữa là vậy. Còn giờ đây, vào buổi trưa Đà lạt không còn lạnh, đủ để người ta diện một chiếc áo tay ngắn mà phông phênh xuống phố hay đi tham quan. Nhưng dẫu sao, nắng Đà lạt vẫn ngọt, cứ chậm rãi nhỏ từng giọt mật ong vàng óng, một lát thôi là cả thành phố phủ đầy mật nắng, cây cối, nhà cửa, mặt người cùng ánh lên như thủy tinh dưới nắng. Vì có cây cối bao phủ, nên dẫu nắng cỡ nào, tôi vẫn không cảm thấy nóng nực và bực bội. Nắng ư? Hãy cứ dạo bước, rồi khi mệt, kiếm một gốc thông nào đó trú chân. Ngồi dưới những tán thông xanh ươm, reo rì rào trong gió, bạn sẽ thấy tinh thần dịu mát và sảng khoái lạ lùng. Còn gì thích thú hơn là bắc võng giữa hai gốc thông nghỉ ngơi trong một buổi trưa yên ả, nghe tiếng thông hát khúc trầm ca? Vốn không đợi mưa vào buổi trưa, tôi dựa vào gốc cây, ngước lên nhìn mặt trời lấp lánh sau vòm lá. Cái chói chang thường ngày của vị thần sức mạnh ấy đâu, mà giờ đây tôi thấy như một hạt kim cương khổng lộ đang vắt chênh vênh trên những ngon cây vun vút cao kia? Thế đó, buổi trưa Đà Lạt-cô bé của chúng ta ngày nào bước chân vào tuổi mới lớn, một chút dỗi hờn, ương bướng, nhưng nét đáng yêu và bình yên nào dễ dàng chối bỏ.
Đường đèo Đà lạt lặng tắt nắng, bàn tay hoàng hôn đan vào những đám mây, bờ môi màu huyết dụ chạm khẽ tầng trời, mải lang thang ở đồi Mộng Mơ,chiều xuống lúc nào tôi không hay. Thảng thốt như em bé lạc mẹ giữa chốn rừng núi mênh mông, đồi Mộng Mơ tuy chẳng còn hoang sơ lắm, thế mà cơn mưa chiều bất chợt đổ xuống không báo trước, không còn là mưa phùn mỏng như tơ, đây là cơn mưa của núi, của rừng, cơn mưa của khao khát và tự do, tôi bỗng thấy mình cô đơn lạc lõng đến vô cùng… Mưa chiều Đà Lạt. Khoảng đồi thông chìm vào một màu tím u buồn, sầu thảm. Không phải mưa nơi xứ Huế, vậy mà sao tôi vẫn thấy cả một khoảng trời màu tím ngắt, tím tê tái tâm hồn, những giọt nước mắt cũng hòa vào màu tím, những tâm hồn yêu thương và lạc lõng được tấm áo nhung lụa ướt át choàng lấy, ôm vào mình bao nỗi đơn côi. Bạt ngàn những cánh tay thông xanh trĩu xuống như đôi mắt người thiếu phụ mênh mang buồn. Lá đổ muôn chiều, trong tiếng mưa rào rạt nghe vọng về một dư âm xa vắng, phảng phất khoái cảm của tâm hồn đang ướt mềm trong mưa.
Sẽ có một lúc nào đó giữa muôn trùng đồi núi, ta thấy mình nhỏ bé và đáng thương như lúc này. Ai đang vui sẽ trở nên buồn, ai đã buồn xin hãy để nỗi buồn cứ theo mưa mà thấm vào khoảng hồn trống vắng, để cảm xúc theo cung bậc cứ nhẹ nhàng lên ngôi. Để ta thấy cuộc đời này, mọi thứ rồi cũng sẽ dần phôi pha. Nhưng “…làm sao em biết bia đá không đau…” (Diễm xưa). Muốn chạm được vào tâm hồn của cả đá sỏi vô tư, đừng ngồi ngóng mưa qua trong một quán cà phê nào đó nơi Đà lạt, hãy đi đi, sải bước chân tự do lãng tử, tìm đến chốn núi đồi mông mênh. Và hãy đứng đó, trên những triền dốc vắng, hãy lặng người đi nghe tiếng mưa hát, nghe tiếng khóc âm i của gió và thông, để đi trọn cùng nỗi buồn. Để cúi xuống bên những hàng cát sỏi, nhặt lên và hôn vào ấy, gửi lại Đà Lạt một nửa hồn thương đau…
Chiều mưa Đà Lạt. Cô thiếu nữ ngày nào giờ lỡ làng mối tình đầu, đôi mắt cô cứ âm thầm nhòe nước, mái tóc màu huyết dụ của cô lất phất bay trong chiều gió lạnh, mây quyện trong vạt váy tím đưa cô lặng lẽ về cuối trời…"Chiều nay còn mưa sao em không lại? Nhỡ mai trong cơn đau vùi..."
"Mưa vẫn hay mưa cho đời biến động..." .Người ta yêu Đà lạt vì những cơn mưa, nhưng cũng sợ Đà lạt vì Đà Lạt hay mưa. Ta sợ cái buồn của thành phố hoa mỗi khi mưa xuống, đã buồn nay càng thêm da diết, tê tái. Cái buồn rưng rức lê thê, dù Đà Lạt không hay mưa dầm. Nhưng cũng thật lạ, tôi thấy Đà Lạt càng buồn thì càng đẹp. Cảnh vắng người thưa, phố đêm chìm vào cơn mưa trong buốt giá… Đứng trên triền dốc vắng, như đứng bên lề cuộc đời tấp nập, tôi tưởng tượng đến một ngày Đà Lạt không còn nét hoang sơ trữ tình níu chân lữ khách, mềm lòng hồn ai, tôi không biết mình có đủ can đảm trở lại Đà Lạt chăng?
Một quán Cà phê mang tên "Mưa" (Rainy)
Nến, hoa hồng, ly sữa tươi nóng, tiếng hát, và sự lặng im. Dương Tùng quán đáp ứng cho mọi khoái cảm lãng mạn của con người khi đặt chân đến thành phố sương mù. Tối nay, giọng hát mênh mang của người ca sĩ phòng trà chốn sương rơi quyện vào tiếng guitar ấm áp, mọi cảm xúc lên ngôi. Ngoài trời mưa rất nhiều. Quán nằm khuất trong ngõ vắng, khiến cái lạnh Đà Lạt dễ dàng len vào qua khung cửa. Tôi quay mặt ra ngoài trời. Nước mắt tôi, sao lại rơi khẽ khàng mà vô vọng như thế?
Đêm Đà Lạt - cô gái trẻ ngày nào ôm mối tình thầm bước qua tuổi hoàng hôn. Ai vẽ mà tài hoa thế, bầu trời Đà lạt dát đầy bụi cam tím, mây vằn vệt như những giọt mưa ngắn dài chảy theo khung cửa sổ đêm nay.
Theo http://www.hidalat.com/



Những kỷ niệm Giáng sinh khó quên

Những kỷ niệm Giáng sinh khó quên
Những năm tháng chúng tôi theo học trường Phan Thanh Giản Đà Nẵng, môn Việt Văn của nhà văn, Giáo sư Nguyễn Văn Xuân là môn học chúng tôi yêu thích nhất. Ai cũng biết thầy Xuân là một nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm Bão Rừng, Kỳ Nữ Họ Tống, Hương Máu, Chinh Phụ Ngâm Diễn Âm, Dịch Cát,... Chúng tôi còn nhớ khi thầy giảng về tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Tiên Điền Nguyễn Du, với cuộc chia ly não nùng bi thảm của đôi trai tài gái sắc Kim Trọng – Vương Thúy Kiều. Thân phận hồng nhan bạc mệnh trôi nổi từ địa ngục này đến các tầng địa ngục khổ đau khác, chúng tôi ngậm ngùi xót xa thương cảm đến người con gái xinh đẹp tài hoa đó, và thầm nghĩ mười lăm năm chia cách nhau sao mà lâu dài thăm thẳm đến như thế? Rồi đến những bài giảng về triết lý nhân sinh quan nào là “Đời người như bóng câu qua cửa sổ”, nào là “Lợi danh như giọt sương trên đầu ngọn cỏ”... những ẩn dụ mơ hồ chúng tôi không thấu triệt nổi... Mãi cho đến bây giờ, khi chúng tôi lưu lạc nơi viễn xứ, tình cờ gặp lại những khuôn mặt cùng lớp thân thương ngày xưa ở Đà Nẵng, không ngờ chúng tôi đã xa nhau gần bốn mươi năm. Thời gian hơn gấp đôi thời gian chia ly của cuộc tình Kim Trọng – Vương Thúy Kiều. Đoạn kết của cuộc tình còn có hậu là hưởng được giây phút đoàn viên hạnh ngộ, còn trong bằng hữu chúng tôi có những mối tình vĩnh viễn lìa xa “đôi bờ ngăn cách”... dù sao thì những kỷ niệm êm đẹp nhất giữa thầy trò bằng hữu một thời Phan Thanh Giản vẫn sống mãi trong tiềm thức thân thương. Riêng với tôi, Đà Nẵng quê hương yêu dấu, tôi đã sống với Đà Nẵng hơn nửa cuộc đời. Mỗi mùa Giáng Sinh là những gợi động nhớ thương vô bờ. Nhiều khi tôi muốn đẩy lùi tất cả kỷ niệm vào vực thẳm dĩ vãng, cố gắng sống với thực tại – cho dù đôi khi không hẳn là niềm vui ước nguyện – tôi bắt gặp ý nghĩ của một nhà văn phương Tây nào đó đã nói: Chúng ta không bao giờ tắm hai lần trên một dòng sông. Ý tưởng này tôi đã lặp đi lặp lại nhiều lần để khẳng định: quá khứ đã qua và ngày mai chưa đến nên hãy an nhiên tự tại sống với hiện hữu. Đúng như thế, dòng sông vẫn còn đó, vẫn trầm mặc lững lờ... nhưng thực chất trong mỗi lưu lượng sát na dòng nước đã khác, đã tuôn tràn ra đại dương. Tâm trong mỗi sát na cũng đã vọng động. Những vọng động làm cho chúng ta đau khổ hay hạnh phúc là tùy nơi mỗi nhân duyên tạo thành.
Nhưng làm sao hơn tâm như sóng biển nghìn năm dạt dào vào bãi hoang cuộc đời. Nếu tìm thấy được phút giây tịnh an đó mới là thực sự hạnh phúc. Thôi thì cứ mãi vọng động như thế nhất là thời gian bắt đầu trở lạnh, khi chung quanh trong đời sống đã vang lên giai điệu rộn rã, u buồn, thanh thoát, êm diệu của nhạc khúc Noel như Silent Night, Jingle Bells, Carol of the Bells, Joy to the World, Happy Holidays, We Three Kings of Orenet Are, The First Noel... là y như lòng tôi chùng xuống, sống lại thuở ấu thơ khi Má tôi đưa tôi vào học trường mẫu giáo Thánh Tâm Đà Nẵng. Tôi được Soeurs chọn làm Thiên Thần cùng với các bạn đứng trên xe rước kiệu Chúa Hài Đồng Giáng Sinh đi vòng quanh ngôi nhà thờ Chánh Tòa trên đường Độc Lập. Các bà Soeurs rất hiền thường cho tôi kẹo bánh sau khi rước lễ nửa đêm xong. Mặc dù các Soeurs đều thân quen với Má tôi và đều biết gia đình chúng tôi theo đạo Phật và Má tôi là một trong những Phật tử thuần thành có công xây dựng Chùa Tam Bảo Tự trên đường Phan Chu Trinh Đà Nẵng nhưng Má tôi vẫn khuyến khích tôi tham gia vào toán Thiên Thần khi Soeurs dạy mẫu giáo đề nghị chọn tôi. Vừa tung hoa vừa ca hát bài “Đêm đông Chúa sinh ra đời...” vừa đọc lớn theo Soeurs hướng dẫn “... Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm.” Thật sự lúc đó, tôi làm sao hiểu nổi... Bình an dưới thế cho người thiện tâm... Hơn bốn mươi năm đi vào con đường giáo pháp của Đức Như Lai tôi mới thẩm thấu sâu sắc hơn về câu nguyện“Bình an dưới thế cho người thiện tâm.” Tại sao người thiện tâm mới đạt được sự an bình? Vì Tâm ảnh hưởng sâu đậm đến cuộc sống của chúng ta. Tâm là nguyên nhân khởi động cho mọi sự khổ đau và hạnh phúc. Tâm có phát triển Tình Thương và Lòng Từ Bi nhân ái, Tâm mới thực sự Bình an (Tâm bình, thế giới bình). Khi chúng ta chia sẻ sự lo âu khổ đau đến hạnh phúc của nhiều người khác thì cảm giác bình an của chúng ta trong nội tâm càng lớn mạnh, một trạng thái ấm áp gần gũi an vui sẽ tự động làm cho Tâm chúng ta an bình. Nếu tất cả loài người dưới thế hiểu được lời răn dạy của Thiên Chúa hay của Đức Như Lai thì thế giới này sẽ gặt hái được sự bình an hạnh phúc và sức mạnh tâm linh của nhân loại cũng sẽ được tăng trưởng như ý.
Cho đến nay thực sự tôi mới tìm được câu trả lời trong ý niệm Tình Thương phá chấp giữa các đức tin tôn giáo. Trong thời đại hiện hữu, chúng ta cũng đã đón nhận nơi những lời thuyết giảng sâu xa và đầy ý nghĩa vi diệu cao quý của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ngài là biểu tượng hình ảnh Tình Thương và Hòa Bình, và Trái tim kỳ quan vĩ đại tuyệt vời của Mẹ Teresa không có ai sánh kịp, Mẹ cao cả như một Thánh nhân giữa ta bà.
Cũng từ những kỷ niệm vực dậy từ tiềm thức rêu phong của thời thanh xuân, hồn nhiên mơ mộng...
“... Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...”
(Hàn Mặc Tử)
Khi chúng tôi chia tay trường Phan Thanh Giản, mỗi đứa như cánh chim bay đi khắp phương trời. Riêng tôi thì quyết định... “Em Phan Thanh Giản bỏ trường theo anh...”Thời gian chúng tôi có với nhau đứa con đầu lòng thì chính là thời gian anh đi công tác ở miền Hỏa Tuyến. Càng ngày cuộc chiến tại Quảng Trị Khe Sanh càng trở nên khốc liệt.
Tôi ở Đà Nẵng thường theo dõi tin tức và thường hay hồi hộp lo âu. Vài ba ngày tôi lại nhận được thư anh tường thuật những chuyến công tác tâm lý chiến tại các chiến trường Ái Tử, La vang Quảng Trị. Noel năm 1972, anh cùng với các chiến hữu dừng quân tại Thánh đường Đức Mẹ La Vang đổ nát trong khói lửa chiến chinh, và anh gởi về cho tôi một bài thơ đầy xúc động của thi sĩ Kiên Giang – Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím, qua trí nhớ của anh:
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương nóc giáo đường
Mười năm trước, em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh,
Quen biết nhau qua tình lối xóm
Cổng trường đối diện ngó lầu chuông
Mỗi lần chúa nhật em xem lễ
Anh học bài ôn trước cổng trường
Thuở ấy anh hiền và nhát quá
Nép mình bên gác thánh lầu chuông
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường.
Mỗi lần tan lễ chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng anh đứng lại không đi.
Sau mười năm lẻ anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi, chuông xóm đạo
Khi nàng áo tím bước vu qui!
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm kín khối sầu!
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Giữ làm chi kỷ vật ban đầu.
Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng.
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím cành hoa trắng
Giữ cả trường xưa, nóc giáo đường.
Giặc chiếm lầu chuông xây ổ súng
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ,
Anh gom gạch nát, xây tường lủng
Chiếm lại lầu chuông giết kẻ thù.
Nhưng rồi người bạn đồng song ấy
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều, hồi vĩnh biệt
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên nắp áo quan tài
Điểm tô công trận bằng hoa trắng
Hoa tuổi học trò, mờ thắm tươi.
Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc tiễn người ngàn thu
Từ đây tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng trên mồ người xưa.
Không biết bài thơ bi thương này nhà thơ Kiên Giang sáng tác bằng cảm xúc qua hiện cảnh xảy ra sự thật hay mang tính cách tưởng tượng đầy hư cấu!!? Nhưng với thực tế về những tín hữu Thiên Chúa Giáo ngoan đạo đã từng chiến đấu để bảo vệ Thánh địa La Vang trở thành lịch sử lưu truyền...
“Sở dĩ anh đã yêu bài thơ này vì anh đã thực sự xúc động với những hiện tượng đau buồn thường trực xảy ra trong cuộc sống của anh. Những người bạn đã cùng chia sẻ điếu thuốc, ngụm nước “bi đông” với anh sớm mai, buổi chiều đã vĩnh viễn ra đi, bỏ lại mẹ già và người vợ trẻ...” Chiến tranh thật quá tàn nhẫn... anh chỉ thở dài và cầu nguyện Trời Phật gia hộ cho anh và cho bạn bè anh được an toàn về sum họp với gia đình. Ở hậu phương này tôi cũng đã hằng đêm cầu nguyện cho anh gặp nhiều sự may mắn...
Ba mươi năm qua đã chấm dứt những giấc mộng kinh hoàng trong chiến tranh. Nhưng những cơn địa chấn tâm lý bùng vỡ khắp nơi tiếp diễn đày đọa những kẻ hiền lương... Nhiều khi tôi thầm nghĩ cuộc đời là những cơn giông bão đầy nhiễu nhương và đau khổ triền miên, nên hãy cố gắng vượt qua và giữ cho Tâm như mặt hồ tĩnh lặng. Nhưng gió không-thời-gian đã thổi qua hàng liễu ven đôi bờ, làm rơi vài cánh hoa mong manh đủ làm dao động mặt hồ. Mặt hồ vô tình làm nhàu đi khuôn mặt thật hiền hậu như bản chất của con người. Và từ đó, chính tôi cũng ngỡ mình đang diễn xuất một vai trò trên sân khấu đời đầy hỉ nộ ái ố mà tôi không hay. Chung quanh tôi trong đời sống cuộc trình diễn vẫn không ngừng thay đổi, đang kéo dài từ thế hệ này đến thế hệ khác. Mỗi ngày theo đà tiến triển văn minh chạy đuổi theo hư huyễn đầy tham sân si càng độc hiểm hơn, làm cho con người mỗi ngày mỗi xa cách, hoài nghi nhau hơn... Nhưng cho dù ở trên quê hương hay nơi dặm ngàn viễn xứ xa cách, chúng tôi vẫn ước nguyện tiếng chuông Đêm Giáng Sinh của ngày xưa đầy kỷ niệm vẫn còn vọng lên từ tiềm thức một cách thiêng liêng và nhiệm mầu trọn vẹn:
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm...”
Ái Cầm
Theo http://www.luanhoan.net/

Những nẻo đường xuân

Những nẻo đường xuân
Mùa xuân đã tràn ngập các miền quê Yên Bái. Lòng người rạo rực, tiết xuân ấm áp. Từ bản làng vùng cao đến các góc phố, đường quê đang phơi phới đón xuân mới. Mỗi nhành hoa, ngọn cỏ; từng công việc bình dị, những cảm nhận đầu năm... dường như đang gom góp, chở đầy xuân đến khắp nẻo đường và mỗi căn nhà dạt dào hạnh phúc.
Thân thương tiếng chổi tre
Đã quen lắm tiếng chổi tre. Sáng ra, chiều về, những con đường trong thành phố phong quang, sạch sẽ. Đêm 30 tết. Chỉ còn hơn tiếng nữa thôi là đến giao thừa, phố đã rất sạch đẹp nhưng điều khác lạ hơn mọi ngày đó là những bóng áo xanh - vàng vẫn tất bật, gấp gáp cho ngày làm việc cuối cùng của năm khi trong mọi ngôi nhà, các thành viên đã quây quần bên nhau. Những chiếc xẻng nặng trĩu, những cánh tay dang rộng, hất mạnh dứt khoát, cả những giọt mồ hôi loang loáng, ướt nhẹp như mưa xuân...
Chị trở về khi chỉ còn vài phút nữa là giao thừa. Tháo đôi giày, rồi vội vàng thay bộ quần áo ở nhà, chị quay vào bếp; xắn tay áo qua khuỷu, vặn bếp nhỏ để xôi lại mẻ xôi lần 2, vớt con gà cánh tiên trong nồi nước rồi đặt ngay ngắn trên mâm, tranh thủ xếp lại những chiếc bánh chưng mới ép, trang trí lại mâm ngũ quả bày ngoài trời... tất tả và hoàn thành đúng 12 giờ.
Chị hạnh phúc vô cùng, ánh mắt dịu dàng, lấp lánh. Đêm nay, trong phút giao thừa này, chị thảnh thơi ngắm nhìn từng thành viên trong ngôi nhà thân yêu, kiểm tra từng đôi giày cho chồng con; trang trí thêm cành đào chúm chím nụ... Một năm, chỉ có 3 đêm và 3 tối chị ở nhà trọn vẹn, được nấu những món ăn mà chồng con yêu thích, cả nhà sẽ quây quần bên mâm cơm chiều. Một năm rồi còn gì. Cảm giác được buông thả mái tóc mềm mại, diện bộ cánh mà chị đã ướm mua từ đầu mùa để cùng chồng, con ngày mai đi chơi tết, thật hạnh phúc!
Hạnh phúc giản dị nhưng tràn đầy niềm tin và ước nguyện. Chị và các đồng nghiệp là những người góp phần dệt lên mùa xuân mới. Trước ngưỡng cửa mùa xuân, xin chúc các anh, chị - những “chủ nhân” của tiếng chổi tre sức khoẻ và hạnh phúc, bình an!.

Những công nhân vệ sinh môi trường 
tất bật công việc ngày cuối năm. (Ảnh: Hoàng Đô)
Mang hương xuống phố
Xuân! Dừng chân ghé thăm làng hoa Tuy Lộc trong tiết trời xuân tươi mới dễ dàng cảm nhận được nét đẹp thanh bình mà vùng ngoại ô thành phố đem lại. Các “nàng hoa” mang tên hồng, cúc, đồng tiền... đua nhau nở rộ, khoe sắc trong không khí xuân.
Dường như ta đã hưởng trọn không khí trong lành khi tiết trời sang xuân, thả hồn vào những cánh hoa còn long lanh giọt sương đọng lại bên thành phố trẻ.
Gió xuân hanh hanh, dìu dịu như trêu đùa, vuốt ve từng cánh hoa. Đâu đó quanh đây, những chú ong mật đang dạo chơi, chắt chiu từng giọt mật, tô thêm điểm nhấn trong bức tranh xuân thanh bình.
Không chỉ có làng hoa ven sông Hồng khoe sắc trong tiết xuân, những khóm ly, Tulip hay Lan hồ điệp... của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và Công nghệ Yên Bái ở ven thành phố cũng đua nhau vươn mình đón nắng xuân. Đôi bàn tay gầy hao của các bác nông dân nhẹ nhàng nâng niu từng cành hoa, đong đầy tình cảm dành cho những “đứa con” của mình. Những giọt mồ hôi của họ còn đọng lại trên từng cánh hoa, mang hương sắc gửi cho đời.
Xuân đến, các “nàng hoa” theo quang gánh của các bà, các mẹ ra chợ ngắm phố phường đông vui, tấp nập. Rồi lại theo chân những người “xa lạ” về nhà, đem đến không khí xuân ấm áp cho các gia đình. Các bà, các mẹ thường nói: “Hoa là thứ không thể thiếu trong những ngày tết cổ truyền của dân tộc. Hoa đem lại cho con người ta sức sống và niềm tin mới vào mùa xuân”. Mỗi loài hoa có một ý nghĩa, thông điệp khác nhau, khiến cho ngày tết không chỉ ngập trong sắc màu mà còn mang nhiều ý nghĩa sâu sắc chào đón một năm mới.
Mùa xuân đến thật rồi! Xuân đến trong từng hơi thở, trong từng giọt mồ hôi còn đọng lại trên những cánh hoa khoe sắc. Giữa những ồn ào, tập nập của thành phố trẻ đang từng bước thay da đổi thịt, đâu đó vẫn có những vùng quê bình dị với khung cảnh thơ mộng, bình yên. Chính nơi đây sẽ góp phần tô điểm và gìn giữ hương sắc riêng của Yên Bái.
Sắc xuân.
Đua với tết đang gần
Đêm cuối Đông lạnh, cộng với những đợt gió thổi dọc sông rét thấu da thịt. Dòng sông Hồng lúc lững lờ, lúc lăn tăn làm vỡ tan ánh đèn công trường xây dựng cầu Tuần Quán lung linh trên mặt nước. Những chiếc máy thu hình trong mỗi nhà dân đâu đấy tắt dần, tắt dần, đẩy lại ca ba của những người thợ cầu vào thời khắc ngày mới, mải miết nhưng hối hả, khẩn trương! Phía xa, thành phố Yên Bái - vầng sáng mờ mờ trong sương khuya huyền ảo.
Khung cảnh ấy quen thuộc với mỗi công nhân trên công trường này. Giờ đây, họ chỉ quan tâm rằng, những mũi khoan nhồi xuống lòng sông đúng vị trí? Ván thép ghép khuôn bê tông chính xác? Từng mối hàn có bảo đảm “độ chín”?... Họ chạy đua với thời gian, đua với mức nước sông mùa khô, đua với tết đang gần.
Trong đêm Đông, những người thợ cầu vẫn giữ nhịp sôi động, giữa cái giá lạnh, có những giọt mồ hôi rơi xuống dòng sông. Lửa hàn bừng lên, những cây thép tạo thành giàn tia sáng chĩa lên từ lòng sông, rực rỡ. Máy khoan sàn sạt, máy cẩu gầm gừ kéo những ván thép lớn đặt vào cánh tay rắn chắc của thợ cầu. Tất cả nhịp nhàng, chính xác ghép khuôn để đến ca làm việc sáng mai có thể đổ bê tông thân trụ cầu cho kịp tiến độ.
Tết. Vừa đúng 7 tháng 10 ngày đã thi công xong mố cầu M7, trụ T6, khoan và nhồi cột sắp xong trụ T5, T4, T3. Những trụ cầu sẽ lần lượt sừng sững mọc ra trên lòng sông Hồng vốn chẳng mấy hài hòa khi mùa nước về. Thợ cầu, cán bộ Ban quản lý Dự án không phí thời giờ "vàng ngọc", Bám trụ ở công trường để rút ngắn tiến độ thi công.
Cuối năm 2016, cầu Tuần Quán - cây cầu thứ ba ở thành phố có thể hợp long. Và cũng năm Bính Thân này, cầu Bách Lẫm sẽ khởi công. Bốn cây cầu - đôi bờ dường như thu hẹp để thành phố Yên Bái mở rộng không gian sang hữu ngạn sông Hồng.
Trong đêm giá, cây đào bên sông như nhận hơi ấm từ lửa hàn, từ ánh đèn và hơi thở người thợ mà nảy chồi, đơm lộc, chờ ngày bung cánh nở vẫy gọi xuân sang.
Công trình cầu Tuần Quán bên thềm xuân.
Thú vị tết Việt trong mắt người nước ngoài
Tết rất thiêng liêng, lại vừa gần gũi với tình cảm quê hương và gia đình. Tết đến, xuân về là dịp để mọi người, mọi nhà sum họp, quây quần bên gia đình và người thân. Đó chính là điều làm cho những người nước ngoài thấy thích thú khi sống trong không khí đón tết tại Việt Nam. Những nét truyền thống văn hóa ngàn đời của dân tộc Việt Nam chỉ cảm nhận được khi hòa với không khí đón xuân, ăn tết và chia sẻ niềm vui với người dân.
Thế nên, Lal Singh, Ashish Kothari, Ravi Chandak - những chuyên gia người Ấn Độ của Công ty TNHH Đá cẩm thạch R.K Việt Nam tại huyện Lục Yên hết sức hào hứng khi nói về tết Nguyên đán của người Việt Nam. Lal Singh cho biết: “Tôi sang đây làm việc 6 năm và cũng từng ấy năm tôi đều ăn tết ở đây.
Điều thú vị nhất tôi cảm nhận ở Việt Nam đó chính là một cái tết sum họp với gia đình, mọi người đi đến nhà người thân trong gia đình thăm hỏi, chúc tết. Năm mới, sau khi chúc tết, mọi người đều lì xì cho nhau. Điều đó làm tôi thực sự bất ngờ và thấy thú vị”.
“Vào dịp tết, mọi người dẫn con cái đi chợ sắm rất nhiều thứ, sắm cành đào, mua cây quất… rồi dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ. Họ chuẩn bị tiệc thết đãi khách và mời anh em họ hàng đến uống rượu thật vui vẻ" - chuyên gia Ashish Kothari hào hứng kể.
Chàng trai Ravi Chandak năm nay mới 28 tuổi vui vẻ chia sẻ: “Những món ăn ở đây cũng thật tuyệt! Rất nhiều món độc đáo và hấp dẫn nhưng tôi ấn tượng nhất là hương vị thơm ngon của món bánh chưng của bà con đồng bào người Tày. Tôi sẽ chẳng bao giờ quên dù mai này có xa Việt Nam!”.
Những công nhân Ấn Độ của Công ty 
TNHH Đá cẩm thạch R.K Việt Nam.
Sôi động làng miến bên sông
Phúc Lộc, Giới Phiên - một nửa của thành phố bên kia sông Hồng đâu đâu cũng thấy người người làm miến, nhà nhà làm miến. Những sợi miến trong vắt được tạo nên từ đôi bàn tay khéo léo của những người thợ lành nghề ở Giới Phiên đã trở thành địa chỉ quen thuộc và tin cậy cho nhiều thương lái ở trong và ngoài tỉnh.
Sáng xuân, gió từ sông Hồng thổi lên mang theo cái mùi hăng nồng từ những lò ép miến. Miến trắng trời từ đất Phúc Lộc lên Giới Phiên. Nghề làm miến bắt nguồn từ xã Giới Phiên nhưng nay đã ngập tràn vùng đất bên sông. Miến phơi trên những cái phên nứa thẳng hàng tăm tắp, trên những chiếc giàn tre ngay trong sân, đường làng và chạy tít xuống những thửa ruộng qua mùa gặt.
Miến làm quanh năm nhưng những ngày giáp tết, người ta làm nhiều hơn, đáp ứng nhu cầu ngày tết. Tết đến, trong “mâm cao cỗ đầy” của mỗi gia đình làm sao thiếu bát canh măng khô với miến hay bát canh miến nấu lòng gà, đĩa miến xào thịt, miến làm nhân cho đĩa nem rán...
Nghề làm miến cũng vất vả, từ khi trồng cây đao riềng xuống đất đến khi thu hoạch rồi xay xát, lắng lọc bột, công phu lắm mới ra được cân bột. "Vất vả là một chuyện nhưng để miến có chất lượng thơm ngon, sợi miến săn dai, quan trọng nhất là khâu làm bột. Đầu tiên, bột dong phải được phơi thật khô và rửa thật sạch. Lúc cán bánh phải chọn khi thời tiết tốt hoặc có nắng, bánh mới se nhanh, miến mới thơm" - tâm sự ấy cũng như trải lòng và bày tỏ say sưa với nghề của người làm miến.
Chẳng phải quảng bá nhiều nhưng nói đến miến vùng bên sông Hồng Trấn Yên - Yên Bái thì ai cũng phải thừa nhận, đặc biệt chất lượng và cũng bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Chẳng thế mà áp tết, mặc cho cảnh sôi động bên này sông, dân làng miến, cứ mải miết cần mẫn ngày đêm để làm thêm nhiều miến, góp thêm niềm vui của mỗi gia đình trong ẩm thực ngày xuân.  
Người dân làng miến Giới Phiên chuẩn bị hàng bán tết.
Nhóm phóng viên
Theo http://baoyenbai.com.vn/



Một giọt nước một mầm cây

Một giọt nước một mầm cây
Một giọt nước vừa tan
Một mầm cây bật dậy
Tôi chọn hai câu  này trong bài thơ “Nghe Em Qua Điện thoại” của nhà thơ Mai Văn Phấn. Tập thơ "Và đột nhiên gió thổi – NXB Văn học 2009" đã thổi thấu lòng tôi với những gì u lệ nhất của thơ. Không cần quảng cáo vớ vẩn, thơ Mai Văn Phấn mặc nhiên găm vào thời đại chúng ta. Trắc trở và mạnh mẽ. Sâu thẳm và bật thức bao người. Dĩ nhiên là thơ không dễ đọc, nhưng tôi tin trái tim Mai Văn Phấn ở đấy, trong tất cả những gì anh viết. Một trái tim yêu thương và trong sáng!
Bởi được trích ra nên tôi không hiểu theo văn bản thơ. Sẽ là có lỗi chăng? Không, vẫn còn đấy cốt lõi thơ tròn đầy. Vì thế tôi sẽ không làm mất thơ của Mai Văn Phấn. Tôi yêu hai câu thơ tuyệt đẹp này, đơn giản vì nó là nguồn sống của trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta. Vâng, một giọt nước mà thấy cả đại dương, một mầm non mà thấy cả đại ngàn. Hai câu thơ như lời kinh Bát Nhã mở ra nguồn mạch của muôn loài. Biên độ bình yên của Tâm chợt vô lượng đưa ta tiến sâu vào bản chất vũ trụ. Nếu trong Tâm Kinh nói về tính Không, thì đây là tính Hữu. Có giọt nước là có tất cả. Một mầm cây bật dậy, cả quả đất xanh thẳm, sống động bởi cuộc sống sẽ sinh sôi. Đây là tứ thơ duy nhất, dung  chứa trọn vẹn nội dung một cách hoàn mỹ mà lại vô cùng giản dị và trong sáng nhất!
Hiện nay, qua các phương tiện thông tin chúng ta biết quả đất đang bị phá hoại bởi sự vô ý thức của con người, thì một lời cảnh báo là vô cùng quan trọng. Nhưng cảnh báo chỉ là cảnh báo, hằng ngày những cánh rừng bay mất, những loài chim tuyệt chủng. Quả đất như người mẹ hào phóng đã trở nên nghèo đi vì sự vơ vét của lũ con. Chúng ta vô cùng đau xót và lo lắng vì những dự báo quả đất nóng lên, băng tan, nhiều vùng bị ngập lụt, tài nguyên cạn kiệt! Sẽ ra sao nếu con người cứ tiếp tục chìm trong tham dục mà quên để  "đức hậu" lại cho con cháu mai sau!?
Theo tôi, biểu tượng "giọt nước và mầm cây " là biểu tượng đẹp nhất và có ý thức nhất trong thơ Mai Văn Phấn. Bởi sự xuất hiện của nước trên các hành tinh  như sao Hỏa, sao Kim đồng nghĩa với sự sống và niềm hy vọng về một thế giới hòa bình ấm no và hạnh phúc.
Nói về giọt nước thì nhiều, nhưng tôi nhớ nhất là truyền thuyết về cái chén Khổng Tử. Tương truyền khi Khổng Khâu đi ngang qua sa mạc, trong lần khát suýt chết thì có một ông lão hiện ra tặng cho Ngài cái chén múc nước. Nhưng kỳ lạ thay, cái chén được chế tác thế nào mà múc nước đấy quá hoặc ít quá thì tự chảy không còn một giọt mà múc vừa đủ thì còn. Có lẽ từ hàm ý này mà Khổng Tử lập nên đạo trung dung chăng? Có hay không có giọt nước đã lập nên đạo của cuộc sống? Chuyện khác của Đức Phật, Ngài có nói rằng: "Trong một giọt nước có vô số sinh vật". Lúc nhỏ được nhiều người giải thích, Phật vì chứng Thiên nhãn thông nên Ngài nhìn thấy như chiếc kính hiển vi vậy, trong giọt nước có rất nhiều vi khuẩn. Ở thời Ngài tại thế, câu này có vẻ khó tin được. Nhưng câu nói của Đức Phật hàm chứa một nhãn quan về đời sống thực mà nước đem lại.
Những dẫn chứng này  nói lên vị trí quan trọng của giọt nước đối với đời sống con người cả tinh thần lẫn vật chất, cả vật lý và tâm lý v.v... Vì vô minh, tức những tham sân si che lấp chúng ta đã xâm hại nguồn nước. Hiện nay trên thế giới có hơn một nửa số người có nguy cơ không có nước sạch hoặc mất nguồn nước sạch do ô nhiễm môi trường. Thế kỷ 21 được mệnh danh là thế kỷ di trú một phần cũng do ô nhiễm môi trường, nguồn nước cạn kiệt. Ở Việt Nam vấn đề môi trường và ô nhiễm nguồn nước đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Con sông Thị Vải và nhiều con sông khác đã được báo chí cảnh báo và phanh phui là một minh chứng cho điều này. Để được  "một mầm cây bật dậy" chúng ta phải làm gì, trong hành động của mỗi người, một đứa con của đất Mẹ bao dung? Nếu Trung Quốc ngăn dòng Mê-kong chúng ta sẽ ra sao? Trong khi đó vì thiếu hiểu biết chúng ta đã xả nước thải giết chết nhiều con sông vừa thơ mộng vừa đem lại nguồn lợi dồi dào cho bao con người bé nhỏ. Chúng ta tiếp tục khoan vào lòng Mẹ 100, 200 mét một cách "vô tư" để thỏa mãn cuộc sống yếu hèn ích kỷ của chúng ta. Rồi mai sau con cháu chúng ta nghĩ sao, nếu gia tài mà tiền nhân để lại là một gánh nặng về lũ lụt, đói khát?!
Tôi nhớ một cảnh nao lòng khi còn làm phóng viên cho một tờ báo nọ, một người mẹ K'ho đứng trước cánh rừng cháy rụi mà nơi đó, hôm qua bà đã hái nấm, hái rau, và trái cây rừng từ trong ấy. Những giọt nước mắt lăn dài trên hai gò má tàn tro là một viễn cảnh đau buồn mà tôi từng chứng kiến...
Lâm Đồng, ngày tết Canh Dần
Nguyễn Thánh Ngã
 Nguồn Tạp chí Giác Ngộ 
số 535, ra ngày 1/5/2010)
Theo http://maivanphan.net/


  Lại nói về Ba Tàu và Các Chú T rong một bài viết, "Cớ sao gọi người Trung Quốc là "Tàu"!" đăng trên website báo Ngườ...