Thứ Hai, 31 tháng 1, 2022
Hồn người trong ly rượu
Trong gian phòng hơi tối, hùng chăm chú nhìn mấy con số thâu
xuất trong quyển số “công nho” làng Tây Yên:
Hoa bất tử có thật
Hoa bất tử có thật
Gia đình tôi ở trong số những gia đình phải tha hương, lìa bỏ
làng mạc tổ tiên, họ hàng xóm giềng và nếp sống quen thuộc nhiều năm mà đi xa.
Riêng cha tôi thì trước khi gặp lại mẹ tôi, đã có một số năm phải bôn ba khắp xứ
Đông Dương cũ, rồi lưu lạc qua Trung Quốc, rồi trôi dạt vào đất Nam Bộ, sống chết,
no đói trông cậy vào bàn tay và số phần. Mãi tới khi tôi lên sáu, gia đình tôi
mới có một mái nhà riêng, cha mẹ tôi mới có một nghề nghiệp ổn định. Đó cũng là
năm tôi bắt đầu đi học.
Cha mẹ tôi thường kể cho anh em tôi nghe những câu chuyện về
làng quê cũ của ông bà. Đó là những câu chuyện rời rạc về đất, về người, về
sinh hoạt của một vùng quê xa xôi được kể đi kể lại nhiều lần. Kể trong bữa
cơm, Kể vào một đêm trăng, vào một ngày giỗ, Tết hoặc vào một lúc nào đó bất kỳ
mà một việc gì, một chuyện gì đột nhiên gợi nhớ. Lâu ngày, những mẩu rời rạc ấy
in vào trí nhớ tôi, vừa tự chắp nối lại và không biết tự bao giờ đã hình thành
trong tôi một cái làng quê quen thuộc mà tôi chưa từng trông thấy.
Đó là một cái làng nhỏ nằm ven sông Luộc, một dòng sông nhánh
của sông Hồng, ẩn sau hai con đê trong, ngoài chắn lụt. Ở đó, người ta làm ruộng,
trồng cây ăn trái, trỉa bắp, đậu, trồng khoai, nuôi cá trong ao nhà và đặc biệt
là trồng đay, mua cói từ một huyện biển cùng tỉnh về dệt chiếu. Khu nhà ở của
ông bà nội tôi vốn là một khu ruộng được các bậc tiền bối vượt đất lên thành thổ
cư, chung quanh có ao cá và vài chục gốc nhãn lấy giống từ xứ nhãn Hưng Yên nổi
tiếng bên kia sông về trồng. Đất đai nhà cửa của ông bà ngoại tôi thì ở sâu hơn
tận cuối làng.
Giống như bao người làng khác, những người đàn ông, đàn bà,
trẻ con có hiểu biết và sức lực đến mức nào đó, đều phải tham gia vào một công
đoạn của nghề dệt chiếu truyền thống. Làng tôi nổi tiếng là một làng chiếu từ
bao đời, nghe nói ngày xưa đã từng được làm chiếu cho vua chúa. Ngày nay, khắp
một vùng châu thổ sông Hồng, chiếu đơn, chiếu đậu của làng tôi vẫn có mặt, tung
hoành ngang dọc trên thị trường. Tuy nhiên, chính cái nghề truyền thống này lại
đã làm cho nhiều người đàn ông không thể nào đạt tới chiều cao trung bình vì từ
nhỏ đã phải cực khổ vác cói, vác đay oằn nặng đôi vai. Ở đó cũng có nhiều người,
cả đàn ông lẫn đàn bà, tuổi mới ngoài năm mươi mà lưng đã còng, tưởng chừng
thân hình có thể gập đôi lại, vì trải qua mấy mươi năm ngồi bên go chiếu. Cả
làng thờ ông quan trạng đã truyền dạy nghề chiếu trong một ngôi đình cổ kính.
Người ta kể truyền khẩu nhiều chuyện về ông trạng ấy. Chẳng hạn chuyện khi ông
đi sứ Trung Quốc lần đầu, đã quan sát được dụng cụ dệt chiếu nhưng còn quên một
bộ phận nào đó. Tới lần đi sứ thứ nhì, ông bèn ngỏ ý thèm ăn rau muống, rồi khi
gắp, ông cố ý gắp một cọng rau dài để có thể ngửa cổ, bề ngoài là ăn rau một
cách dung tục, kỳ thực là để có thể nhìn cái bộ phận dệt chiếu mà chủ nhà treo
trên sà nhà để giấu nghề. Những chuyện truyền khẩu khác cũng chẳng thiếu. Như
chuyện người đàn bà nọ ở làng bên, mấy lần sinh con trai đều không nuôi được
bèn lấy đất sét gắn vào mí mắt xác đứa trẻ sau cùng trước khi chôn, ít lâu sau ở
làng này có người sinh được đứa con trai nơi mí mắt có một vết chàm đỏ như đất
sét. Người ta gọi đó là chuyện lộn con...
Có lần tôi hỏi cha tôi:
- Làng quê mình chắc phải đẹp lắm phải không cha? Chắc phải
vui lắm phải không cha?
Cha tôi đang vui chợt buồn. Giọng ông trầm hẳn đi và cũng chậm
rãi hẳn đi như đang cố nén một tình cảm không bình thường:
- Không đâu con ạ. Làng quê mình chẳng có gì đẹp đẽ như con
tưởng, mà lại có nhiều chuyện buồn hơn chuyện vui nữa kìa...
- Thế tại sao mỗi khi kể chuyện làng quê, con thấy cả cha lẫn
mẹ đều hào hứng, vui vẻ hẳn lên?
Cha tôi mỉm cười, giọng ông vẫn trầm và chậm:
- Đó là vì cha mẹ phải sống xa làng quê nên lòng canh cánh nhớ.
Sự nhớ nhung làm cho người ta thấy mọi kỷ niệm cũ đều trở thành đẹp đẽ cả.
Ngày ấy, tôi chưa hiểu hết ý nghĩa câu trả lời của cha tôi,
chưa thể hiểu thế nào là mãnh lực kỳ diệu của tình yêu quê hương, làng xóm...
Nhưng từ ngày ấy, tôi bắt đầu để ý hơn đến nơi mình đang sống,
một xóm ngoại ô tỉnh lỵ miền Đông. Những hình ảnh nơi đây dần khắc đậm nét
trong tâm trí tôi. Đó là con đường xuyên qua xóm tuy là quốc lộ nhưng bề ngang
chỉ có tám mét, dài không quá hai cây số mà có đến những hai khúc quanh, cứ như
là một con người hiếu động phải cựa mình qua lại mới thỏa lòng. Đó là những
ngôi nhà lợp tôn, lợp ngói xây dựng trên nền đất của một khu rừng cao su cũ hoặc
trên ruộng lúa được đổ đất núi lên cao bằng mặt đường. Những năm chưa có điện,
đêm đêm những ngọn đèn dầu mờ tỏ cùng ánh trăng, ánh sao, tiếng máy thu thanh
chạy pin hay bình ắc quy lẫn với tiếng trẻ con nô đùa, tiếng cãi vã; đôi khi là
tiếng ếch nhái, tiếng dế rích đêm mưa. Đó là những gánh hàng rong nào bún riêu
cua, tàu hũ... mà người bán là những phụ nữ nghèo có tiếng rao lanh lảnh lại đượm
buồn. Sáng sáng, người đưa báo dừng xe đạp trước cửa nhà khách mua báo
tháng, trao tận tay một hai tờ nhật báo hoặc ném vào sân nhà vắng chủ. Còn ông
bán bánh mì thì cong lưng đạp chiếc xe đạp nơi yên sau khoác cái thùng tôn gò
hình chữ U ngược đựng bánh mì nóng, xíu mại, giò chả, đồ chua, xì dầu, muối
tiêu cùng những mẩu giấy báo rọc nhỏ xíu bằng lòng bàn tay...
Và cứ thế, ngày qua ngày, tháng tiếp tháng, năm nối năm, những
hình ảnh của cái xóm nhỏ tôi sống và lớn lên dần dần in đậm nét vào trí nhớ
tôi. Dẫu sau này tôi từng có dịp đi nhiều nơi khác trên đất nước, thấy mỗi nơi
đều có nét đẹp quyến rũ, nhưng cái xóm nhỏ của mình vẫn rất riêng không gì thay
thế được. Nó đã trở thành một phần đời tôi.
Tuổi già dần chồng chất lên cuộc đời gian khổ của cha mẹ tôi.
Nhưng mỗi khi nhắc đến cái làng quê bên dòng sông Luộc với những người dệt chiếu,
nhắc đến những đổi thay của cái xóm nhỏ gia đình tôi đã ở mấy mươi năm, tôi vẫn
thấy ông bà đầy hào hứng và quyến luyến. Cha tôi không nói với tôi như ngày tôi
còn nhỏ mà ông nói cô đọng hơn:
- Đó là quê hương!
Gia phả:
Viễn An Phủ quân là cháu của Lại Phong hầu ở kinh thành Thăng
Long, một hôm gặp Từ Hạnh, cô gái làng chiếu lên kinh thành bán chiếu. Nhan sắc
và sự đoan trang của Từ Hạnh làm lòng Viễn An xao xuyến. Chàng nhờ người thư
tín mai mối. Từ Hạnh nhắn đáp: "Tôi còn song thân tại quê nhà, lại tha thiết
yêu quê cha đất tổ. Nếu chàng có lòng thương, xin mới về bổn quán cùng chung sống,
tôi mới dám nhận lời". Viễn An nghe theo tiếng gọi trái tim, trình thưa với
Lại Phong hầu và được phép đem lễ vật về làng chiếu cầu hôn.
Từ đó, Viễn An trở thành người làng chiếu, giã biệt chốn kinh
thành hoa lệ, chẳng màng công danh chức tước, xe ngựa xênh xang. Viễn An sống đạm
bạc, làm việc như bao người làng chiếu, lại đem chữ thánh hiền giảng dạy cho lũ
trẻ.
Bài "Gia huấn" của Viễn An được truyền lại mười mấy
đời sau mà những người đàn ông nối dòng đều tiếp nhận như một hành trang cơ bản
trước khi vào đời:
Trung hiếu một lòng
Thanh liêm phải giữ
Kinh sử làu thông
Phụng thờ tiên tổ
Chân thành đôi chữ
Chung thủy nhất tâm...
Cha tôi, một trong những người đàn ông đời thứ mười hai,
ngoài bài "Gia huấn" hành trang ấy, còn được học hết bậc sơ học thời
Pháp thuộc làm lưng vốn vào đời. Cái lưng vốn ấy trong hoàn cảnh một làng quê
nghèo nàn xa vắng đã là một gia tài bảo đảm vị trí trên trước so với nhiều người,
nhưng nó lại chẳng thấm vào đâu khi chìm trong xã hội đô thị đã tiếp nhận văn
minh phương Tây, chỉ vài năm lại có những đổi thay kỳ diệu về khoa học kỹ thuật.
Con chim mang chí lớn rời bỏ cái tổ nhỏ của mình, mong ngang dọc đất trời, đã
không lường được sức mạnh đôi cánh mình lại quá nhỏ bé, mỏng manh trước khoảng
trời nhiều mưa bão. Bi kịch ấy là cuộc đời của cha tôi, dẫu đôi khi ông không
giấu sự tự hào là mình vẫn tồn tại hiên ngang, nhưng làm sao chẳng ngậm ngùi và
nung nấu ngày phục chí. Ông ngầm rèn luyện cho tôi những gì ông tự thấy một
loài chim cần phải có để được gọi là đại bàng.
Cha tôi không thể trợ lực cho tôi trong việc học chữ. Biết thế
nên ông quan tâm nhiều đến việc giáo dục đạo đức cho tôi. Ở trong trường, tôi
cũng như bao đứa học trò nhỏ khác từng thuộc vanh vách, hiểu cặn kẽ từng chữ, từng
ý của những câu cách ngôn dạy điều hay lẽ phải. Cha tôi chỉ làm sao cho mớ lý
thuyết ấy không còn khô cứng nữa. Ông lấy những diễn biến trong cuộc sống làm
cho chúng sống động hẳn như con bướm từ trong trang sách chấp chới cánh bay ra
khoảng không, như cánh hoa từ tấm ảnh thoát ra lay động và tỏa hương...
Một ngày gần tết năm ấy, tôi xin phép cha mẹ vào rừng chặt
mai vàng cùng mấy đứa bạn. Khu rừng không xa nhà tôi lắm, chỉ chừng ba cây số,
nên cha tôi không phải lo lắng. Ông chỉ hỏi:
- Chừng nào thì con về?
Tôi đáp chắc mịch:
- Tụi con chỉ đi chừng hai tiếng đồng hồ thôi. Thế nào khoảng
mười giờ, mười rưỡi con cũng về tới nhà thôi.
Chúng tôi đi. Đường không xa lắm, cũng không đến nỗi khó đi.
Bạn bè tôi nhiều đứa đã biết khu vực có mai, cả bọn cứ đạp xe một mạch tới nơi.
Thật là cả một rừng mai! Những gốc mai rừng to bằng bắp chân tôi, nhiều gốc bị
chặt gần sát đất mà vẫn đâm lên những nhánh mới mập mạnh, tươi xanh. Tất cả đều
chi chít những búp nụ. Những cái búp nụ nhòn nhọn, nhỏ như hạt đậu xanh ấy chẳng
bao lâu sẽ bung ra mỗi búp dăm nụ mai xanh mởn. Có lẽ vì còn quá sớm nên khu rừng
chưa có mặt những người lớn chuyên nghề chặt mai rừng đem về phố bán. Tuy
nhiên, nơi một đôi gốc cũng đã có dấu vết của dao rựa hay cưa sắt. Chúng tôi
phân vân mãi mới quyết định cứ chặt mỗi đứa ít nhánh, nếu không giữ được tới Tết
thì chơi bông mai nở sớm vậy!
Sau khi chặt mai xong, cột vào yên sau mấy chiếc xe đạp đàng
hoàng rồi, cả bọn đi sâu vào trong rừng chơi. Chúng tôi gặp một con gà rừng lẻ
bầy. Cả bọn bảo nhau vây bắt con vật, quyết đem về nấu cháo ăn liên hoan. Con
gà trừng bị thương một chân nhưng đôi cánh vẫn giúp nó bay xa, nó làm cho chúng
tôi đến mệt nhoài mới vồ bắt được. Nó dãy dụa, kêu quang quác. Người nó nóng
như có lửa, da nó đỏ như màu ớt, mắt nó long lanh như có nước mắt.
Thời gian qua nhanh khi người ta vui vẻ. Tôi quên hẳn lời hẹn
với cha tôi, cứ theo chân bạn bè quanh quẩn trong rừng mãi tới khi mặt trời lên
tận đỉnh đầu, đứa nào cũng đói bụng và mệt nhoài mới chịu kéo nhau về.
Vừa ra khỏi bìa rừng một quãng, chưa kịp đến quốc lộ, chúng
tôi đã trông thấy mấy người lớn với vẻ mặt đầy lo lắng đạp xe trờ tới. Có người
kêu lên mừng rỡ. Có người giận dữ la lối con. Có người nóng nảy xông tới và một
đứa trong bọn tôi bị ăn bạt tai. Phần tôi, cha tôi chỉ đứng im lặng nhìn tôi, mắt
ông như là đang ứa lệ và ông nuốt nước bọt như để tự nén tình cảm không hiểu là
mừng vui, trách giận hay bực tức...
Về đến nhà, tôi mới biết là không chỉ cha tôi mà cả gia đình
tôi đều lo lắng, mong đợi. Mẹ tôi la tôi một chặp. Cha tôi, mãi tới trước khi
đi ngủ tối hôm ấy mới nói riêng với tôi:
- Từ lần sau, con đã hẹn thì phải nhớ đúng hẹn.
Tối hôm ấy tôi đã khóc trên giường ngủ của mình.
Sau này, có một chuyện đã xảy ra mà tôi nhớ mãi. Cha tôi cũng
chẳng bao giờ quên, mỗi khi có dịp ông lại nhắc. Đó là một buổi chiều tan học,
trên đường về, tôi đạp xe ngang sân vận động và thấy trong đó có đá banh. Lúc
đó vừa khi người ta "xả cổng" cho những người không mua vé vào xem tự
do. Mấy đứa bạn rủ tôi vào xem, nghe nói đây là trận đấu giữa hai đội banh nổi
tiếng. Tôi đã rẽ xe vào tới cổng sân vận động thì dừng lại. Tôi nhớ tới buổi
sáng vào rừng lấy mai dịp Tết trước và biết rằng gia đình sẽ phải bị một phen
lo lắng nữa khi thấy đã quá giờ tan học mà tôi vẫn chưa về. Tôi nói với bạn bè:
- Để tao đạp lẹ về xin phép cha mẹ tao đã.
Không thèm nghe ý kiến của bạn bè, tôi đạp xe về nhà với tốc
độ nhanh nhất. Tôi xin phép và cha tôi cho phép. Tôi lại đạp xe tới sân vận động
với tốc độ nhanh nhất. Nhưng... trận đá banh đã kết thúc rồi! Người ta ùn ùn
kéo nhau ra cổng sân vận động, trong đó có cả đám bạn tôi. Bọn nó tiếc cho tôi
không được xem những phút cuối đầy kịch tính: đội thua đã gỡ hòa vào phút cuối
cùng của trận đấu. Tôi cũng lấy làm tiếc lắm nhưng lòng tôi hoàn toàn thanh thản.
Nhiều năm đã qua đi, mỗi khi nói đến chuyện giờ giấc, cha tôi
thường kể cho những người trong gia đình nghe chuyện tôi không tự tiện đi xem
đá banh khi chưa xin phép, như một chuyện làm gương. Chuyện chẳng có gì, lại
làm cho tôi thấy ngường ngượng, nhưng thú thật là tự đáy lòng, tôi thầm hãnh diện
và sung sướng như thuở được cha mẹ hay thầy cô khen ngợi việc gì đó.
Mẹ tôi còn ít chữ hơn cả cha tôi. Bà chỉ biết đọc, biết viết.
Mẹ tôi đã trải qua thời con gái sau lũy tre làng, lớn lên theo chồng lưu lạc
nhiều nơi nhưng đi đâu cũng chỉ quanh quẩn trong nhà với bao việc vặt vãnh lo
cho chồng con. Dường như cuộc đời bà đã sớm chia ra cho người thân và không giữ
lại cho mình chút riêng tư nào nữa. Cuộc sống còn lại của mẹ tôi là những kỷ niệm
ở cái làng chiếu xa xôi, là chuyện sinh nở anh em tôi, chuyện nuôi nấng hai đứa,
chuyện món ăn trong gia đình, chuyện vải vóc, quần áo và đôi khi, chuyện trên
những chuyến tàu từ tỉnh này qua tỉnh khác mà gia đình tôi đã trải.
Trong việc dạy dỗ con cái, cha tôi thường lấy lời lẽ ôn hòa
khuyên bảo, thỉnh thoảng ông có phạt cũng chỉ là bắt con quỳ trước bàn thờ gia
tiên một lúc. Mẹ tôi tính nóng nảy hơn. Có chuyện gì anh em tôi làm quấy hoặc
không vừa lòng bà, mẹ tôi thường quát mắng giận dữ. Tuy nhiên, sau lúc ấy, mẹ
tôi dịu đi rất nhanh cứ như bà sợ con cái buồn và sợ. Khi nghe bà nói một câu
tương tự như: "Mặc quần áo đi chợ tỉnh với mẹ" là chúng tôi hiểu ngay
rằng mình đã được tha lỗi và chắc chắn trong chuyến đi chợ tỉnh ấy thế nào cũng
được ăn phở tô đặc biệt hoặc ăn mì thêm hoành thánh, ăn sâm bổ lượng chi đó.
Hơn thế, chúng tôi còn có thể được may sắm quần áo mới, mua đồ chơi... Ngày ấy,
trong trí óc non nớt của tôi, có lần lâu quá không được dẫn đi chợ tỉnh, tôi đã
cố tình gây ra một lỗi lầm để mẹ tôi la mắng và sau đó đã đạt dược ý muốn!
Mùa hè ở miền Nam là mùa mưa. Những buổi chiều hè mà mưa dầm
thật đáng chán. Anh em tôi bị cơn mưa cầm chân trong nhà. Em tôi là gái còn có
trò chơi cho khuây khỏa, chứ tôi là trai, rộng chân tay đã quen, cảm thấy bực bội
lắm. Đã thế, mẹ tôi lại thường bảo:
- Nhổ tóc sâu cho mẹ rồi mẹ thưởng tiền!
Ồ! Được thưởng tiền thì tôi rất thích. Nhưng làm cái việc nhổ
tóc sâu thì tôi chẳng khoái chút nào. Dù sao, tôi vẫn không thể cãi lời. Tôi đi
tìm hai hột thóc hoặc hai cái vỏ trấu làm "dụng cụ" nhổ tóc sâu rồi hỏi
mẹ:
- Nhổ bao nhiêu sợi hả mẹ?
Thí dụ mẹ tôi nói:
- Năm mươi!
Tôi liền kỳ kèo:
- Hai mươi đi mẹ!
Cuối cùng hai mẹ con thỏa thuận một con số nào đó, chẳng khác
chuyện trả giá khi đi chợ.
Mẹ tôi ngồi trên ghế dựa, xỏa tóc. Một chân bà co lên ghế, ống
quần đen chỗ đầu gối là nơi tôi đặt từng sợi tóc sâu nhổ được lên để đếm. Tôi
vén tóc mẹ, xăm xoi tìm những sợi tóc bạc và ngắn, nếu là màu hung râu ngô thì
càng tốt, đích thị tóc ngứa. Mỗi lần tìm được một sợi tóc sâu, tôi khẽ lùa một
hột thóc xuống phía dưới, kế đó đặt hột thứ nhì lên, kẹp sợi tóc và "Bựt!",
tôi nhổ sợi tóc sâu khỏi mái tóc của mẹ. Nơi ống quần đen của mẹ tôi, những sợi
tóc sâu nằm ngang dọc trông rõ cả đâu là đầu tóc, đâu là chân tóc chừng một ly,
lớn gấp đôi và như vẫn còn sự sống. Mẹ tôi đếm dần theo lời hô của tôi cho tới
khi đủ số lượng như đã giao hẹn, rồi bà duỗi chân cho thoải mái và lấy tay phủi
số tóc khỏi ống quần. Bà hay nói đùa: "Cho đám sâu bọ xuống đất!". Rồi
bà lần trong túi ra những tờ giấy bạc, dúi vào tay tôi:
- Cầm lấy đi ông tướng!
Một hôm, trong lúc nhổ một sợi tóc sâu hơi dài, tôi làm sợi
tóc bị đứt ngang. Tôi đã định bỏ đoạn tóc đứt đi không đếm nhưng rồi lại thử đặt
nó lên ống quần mẹ tôi, rụt rè đếm một con số. Mẹ tôi lơ đãng đếm theo. Tôi nhổ
nốt phần còn lại của sợi tóc. Lần này, tôi hết sức hồi hộp khi đếm tiếp. Tôi tưởng
tượng sau tiếng đếm của tôi, mẹ tôi sẽ quay nhìn tôi, giận dữ quát mắng tôi về
cái tội gian dối. Nhưng may quá, mẹ tôi vẫn hờ hững đếm theo.
Sau lần ấy, cái lần mà một sự tình cờ đã đưa tôi đến hành động
gian lận trót lọt, tôi nảy ra một sự tính toán có lợi cho mình. Tôi tìm những sợi
tóc sâu dài, cố ý nhổ đứt làm hai để mau đạt đến số lượng sợi tóc phải nhổ. Tôi
yên trí là mẹ tôi không phát hiện. Nào ngờ lần gian lận thứ ba, tôi vừa đếm đến
con số cuối cùng thì mẹ tôi thay vì đếm theo, đã đếm lùi đi hai số. Tôi đỏ mặt
khi nghe mẹ tôi nói:
- Con bắt đầu gian dối từ bao giờ vậy?
Cũng may là mẹ tôi không quát mắng ầm ĩ.
Nhưng chỉ cần như thế, từ đó trở đi, tôi luôn nhủ lòng mình
phải sống chân thật, căm ghét thói gian dối...
Năm tháng qua đi, qua đi... Tuổi thơ tôi lùi vào dĩ vãng,
ngày một xa hơn. Dòng đời cuốn tôi theo nó với nhịp điệu hối hả, lạnh lùng,
không hề nhân nhượng, đôi khi còn là tàn nhẫn.
Tôi đã có dịp về quê hương để tận mắt nhìn ngắm nơi đã chôn
nhau cắt rốn của cha mẹ mình. Cái làng chiếu theo lời kể quả là nhỏ bé trong thực
tế. Con đò ngang đưa tôi từ bến Xuôi qua bờ sông bên kia, đặt chân lên mảnh đất
phù sa ruột thịt mà xa lạ, bơ vơ. Lúc ấy trời về chiều và con đường làng mà người
lái đò cho tôi biết sẽ dẫn về nơi tôi muốn đến dài và xa tít tắp, len giữa hai
bên là ruộng ngô. Tôi nhìn lên bầu trời, bắt gặp một cánh chim nhỏ lẻ loi mà thấy
lòng được an ủi. Và tôi nghĩ đến ước mơ của cha tôi, muốn tôi trở thành con đại
bàng xoải cánh che bầu trời quê mình một cách hãnh diện. Ước mơ ấy vô cùng đẹp
đẽ. Có lẽ tôi mới chỉ là một cánh chim bình thường như cánh chim đang chao lượn
kia, nhưng sự hãnh diện của "chim đại bàng" trong lòng tôi thì không
thiếu. Tôi biết cha tôi cũng nghĩ thế. Ông cũng tự hào vì dù sao thì tôi cũng
đã tự cất mình lên được khỏi mặt đất và bay bằng đôi cánh thật của mình.
Người anh họ và tôi lần đầu tiên biết mặt nhau. Anh nhìn sững
tôi hồi lâu như muốn tìm từ nơi tôi những hình ảnh nào đó của dĩ vãng. Rồi anh
vỗ vai tôi nói:
- Cuối cùng, chú đã thay mặt ông trở về quê cũ.
Anh đã đưa tôi vào ngôi nhà ngói ba gian cũ kỹ, thấp lè tè của
cha ông để lại. Trong ngôi nhà đó, nơi bàn thờ gia tiên có treo bài "Gia huấn"
viết bằng chữ quốc ngữ trên giấy điều lồng khung kính. Cũng vẫn là những gì tôi
đã học thuộc lòng từ nhỏ:
Trung hiếu một lòng
Thanh liêm phải giữ
Kinh sử làu thông
Phụng thờ tiên tổ...
Ngôi nhà đó còn có mấy cây cột tròn bằng gỗ lim bị băm nhiều
vết dao chằng chịt. Người anh họ lặng đi một lúc mới kể cho tôi nghe chuyện về
những vết thương trên gỗ ấy. Thời đấu tố địa chủ, anh họ tôi vốn là một cán bộ
Việt Minh có nhiều thành tích cũng bị khép tội. Ông nội tôi không đủ "điểm"
để quy là địa chủ nên một người trong họ đã đứng ra vu khống một điều gì đó để
người ta có thể cộng thêm số "điểm"cần thiết. Gia đình anh họ tôi bị
đuổi ra khỏi nhà mình, giao chỗ ở của mình cho ba gia đình khác, trong đó có
gia đình người bà con đã tố gian. Tới thời sửa sai, anh họ tôi được phục hồi đảng
tịch, ba gia đình kia phải trả lại nhà đã tức giận dùng dao chém nát mặt ngoài
những cây cột lim tròn trước khi ra đi.
Những ngày ở quê, tôi được dẫn đi tất cả những nơi tôi từng
nghe cha mẹ tôi kể. Tôi tới đình thờ Quan Trạng, ông tổ nghề dệt chiếu làng tôi
và cảm nhận trong cái không khí trang nghiêm tuy hơi u uất và thiêng liêng ấy,
có chút gì gần gũi thân thiết. Nhưng sau đó tôi đã lại hoàn toàn nghĩ khác đi,
một sự xa lạ lạ lùng cứ chờn vờn quanh quất, khi tôi ngồi dưới gốc nhãn cổ thụ
nhớ chuyện ngày xưa. Cha tôi thường kể thời thiếu niên của ông, khi những người
anh chia nhau tất cả các gốc nhãn trong số gia tài ông nội tôi để lại, cha tôi
là con út không được gì nên đã trả thù bằng cách đợi tới mùa nhãn, ông leo lên
hết cây này đến cây khác hái nhãn ăn, mặc kệ những lời nhiếc mắng của các anh.
Tôi cứ nghĩ, hành động của cha tôi ngày ấy đúng là một sự trả thù của trẻ con,
nhưng việc khi ông lớn lên đã bỏ làng ra đi thì lẽ nào lại có thể bảo là ông
nông nổi?
Anh họ tôi còn chỉ cho tôi xem một ngôi nhà đúc mái bằng có
thể nói là khang trang nhất làng. Rồi anh cho tôi biết đó là cơ ngơi của gia
đình người bà con đã tố gian ông nội tôi ngày trước. Anh hỏi tôi:
- Chú có tin thuyết ác giả ác báo không?
Tôi nuốt nước bọt, nghèn nghẹn nơi cổ. Tôi nhớ chuyện mình
gian dối khi nhổ tóc sâu cho mẹ tôi thuở nhỏ và bài học chân thật mình ghi lòng
từ ngày ấy. Người lớn rất khác trẻ con. Cuộc đời rất khác với những điều dạy dỗ.
Tôi thấy khó mà trả lời nổi câu hỏi của người anh họ. Nhưng anh đã tự trả lời,
gịong anh thật thản nhiên như của một ông tiên vừa đắc đạo dửng dưng trước mọi
chuyện trần gian:
- Anh chẳng tin chút nào cái thuyết an ủi người lành ấy.
Cuộc đời chẳng hề nuông chiều cha mẹ tôi, cũng chẳng dành cho
tôi chút nào ưu ái. Cha tôi tiếc mình chỉ có đôi cánh chuồn chuồn của tuổi nhỏ
lắm ước mơ nên không thể tung mình lên tận trời cao cho thỏa chí. Nhưng dẫu sao
đôi cánh chuồn chuồn ấy cũng giúp ông nhìn thấy một khoảng không gian tương đối
rộng và cuối đời ông không hề phải ân hận là mình đã bỏ phí những việc có thể
làm vì người khác mà sức mình có thể.
Tôi bay bằng đôi cánh của mình, bằng hành trang là những kỷ
niệm về quê hương, nơi cha mẹ mình đã sinh ra và nơi mình đã sống, đã lớn lên;
là bài "Gia huấn" truyền từ đời Viễn An Phủ quân, ông tổ của dòng họ;
và bằng hai bài học không thể nào quên từ cha mẹ là luôn cố giữ chữ tín và quý
trọng sự thật. Những cơn dông gió bão tố trong đời đã lắm phen làm điêu đứng
đôi cánh nhỏ, nhiều lần quăng cánh chim ấy từ trên cao xuống đất toan hủy hoại
đi một cuộc sống còn nhiều khát vọng. Nhưng "con đại bàng" trong ước
mơ của cha tôi đã gượng lại được, lại vỗ cánh bay lên khoảng trời quê hương
mình.
Cha mẹ tôi đã lần lượt qua đời. Tôi chọn tấm ảnh chụp hai ông
bà đang cười phóng lớn để thờ. Cuộc đời không làm nên những nụ cười thường
xuyên trên môi cha mẹ tôi. Nhưng những lúc nào đóa hoa đời ấy nở thì tôi luôn
nhìn thấy nơi chúng sự thanh thản hài lòng.
Tôi luôn tin rằng nụ cười của người nào sống và đứng vững bằng
chính sức mình, bằng những đức tính bất chấp thua thiệt; sống như con chuồn chuồn,
con bướm, loài chim bay bằng chính đôi cánh của mình; thì tất cả đều là những
đóa hoa đời bất tử.
7/9/2009Khôi VũNguồn: Văn học và nghệ thuật
Hương hoa cà phê
Hương hoa cà phê
Tôi đến thăm vườn cà phê của Lập, cô cháu gái gọi bằng chú, lần
thứ ba kể từ khi gia đình tôi nhượng lại khu đất đồi ấy. Bây giờ quang cảnh nơi
đây đã hoàn toàn thay đổi so với những ngày tôi dựng căn chòi bên suối và phủ
kín những nơi không trồng chuối của khu đồi bằng những hom mì chỉ sau một tháng
đã lên xanh mát mắt. Cả những khu trồng chuối nay cũng không còn. Tất cả diện
tích đất, Lập đều trồng cà phê. Có cả thảy ba đợt cây cà phê cao thấp khác
nhau. Đợt lớn nhất đã bắt đầu thu hoạch mùa thứ hai. Đợt thứ nhì vừa bói và đợt
thứ ba mới xuống bầu, cây nọ cách cây kia một khoảng khá xa so với độ cao của
chúng. Tựa như những đứa trẻ đứng ngơ ngác nhìn đám đông người lớn vạm vỡ sung
sức đang đứng sát vai nhau.
Khi tôi lội bì bõm qua con suối nhỏ dưới chân đồi và đặt bước
lên khoảng sân có căn nhà lợp tôn, một con chó từ trong nhà xộc ra sủa vang. Bầy
gà gần chục con bới tìm mồi gần đó hoảng hốt cục cục, cục tác rủ nhau chạy tán
loạn. Tiếng một người đàn ông trong nhà vọng ra:
- Mực! Sủa chi vậy bây?
Chủ nhân của câu hỏi xuất hiện liền sau đó. Anh ta nhìn tôi
soi mói. Tôi cũng nhìn anh ta ngỡ ngàng. Tôi cố moi trong trí nhớ hình ảnh còn
lưu giữ được về Thoan, người chồng của Lập. Tôi nghĩ là mình không dễ quên.
Thoan có gương mặt chữ điền, đôi lông mày rất rậm có một nốt ruồi lớn và mấy sợi
lông lăn quăn. Anh thanh niên kia không giống như thế. Gương mặt anh ta khắc khổ,
bên má có một vết sẹo dài.
- Ông hỏi ai?
Tôi chưa thể đoán anh ta có mặt trong nhà cháu gái mình với
tư cách gì. Tôi đáp:
- Tôi là chú ruột cô Lập. Tôi tới thăm cô ấy.
- Ồ!
Người kia thốt lên rồi chạy vội về phía tôi, anh ta mau mắn nắm
lấy tay tôi dẫn vào nhà và tự giới thiệu:
- Xin lỗi chú, bởi tôi chưa được biết mặt chú. Tôi là chồng của
Lập. Vậy là Lập nó dẫn con ra bến xe đón hụt chú rồi...
Tôi bị bất ngờ. Tôi có nghe lầm hay không? Anh ta vừa tự giới
thiệu là chồng của Lập. Thế còn Thoan? Ôi! Chẳng lẽ...
Không! Điều tôi nghi ngờ và không thể tin là sự thật lại
chính là sự thật. Quảng - tên người chồng hiện nay của Lập - kể cho tôi nghe một
lần, sau đó, Lập lại kể cho tôi nghe lần nữa khi nó trở về.
Mùi hoa cà phê thoạt tiên nhang nhác mùi hoa lài, lâu dần thấy
gắt mũi hơn khiến tôi khó chịu. Những trái cà phê non của đợt hoa đầu vừa bằng
hột mồng tơi xanh đã lõm rõ ba đường rãnh. Đất mặt vườn âm ẩm như là gốc cây vừa
được tưới không lâu. Chiếc máy bơm nằm bên hông nhà phía giáp suối bám đầy bụi
đỏ.
Trong lấn đầu tiên trở lại, tôi thấy khu đồi còn lỗ chỗ nơi đất
trống, nơi mới hạ cà phê, nơi còn um tùm chuối. Lập ở một mình trong căn chòi
lá tôi để lại, mắt bật ra ánh nhìn uất hận mà rắn rỏi của một người đàn ông. Nó
không khóc trước bi kịch đời mình. Nó quyết định vẫn ở lại khu đồi để lập vườn
dù chỉ có một mình thân gái trong khu vực hàng chục ngọn đồi lô nhô nối tiếp
nhau, người ở thưa thớt buồn tẻ và mấy năm qua thỉnh thoảng lại có một vụ cướp
của vào đêm khuya. Chị tôi, một người đàn bà góa hết lòng vì con đã khóc hết nước
mắt để khuyên can Lập không nên quyết liệt với Ẩm, chồng mới cưới của nó. Chị
tôi có lý, dù sao, phận gái vẫn phải gành chịu thiệt thòi hơn. Nhưng Lập không
đổi ý. Nó tâm sự với tôi:
- Ảnh lấy việc bài bạc làm lẽ sống thì cháu để cho ảnh được tự
do. Ở đây một mình đúng là có những đêm khuya giật mình thức giấc lo lắng vu
vơ, lưng ướt đẫm mồ hôi, cháu phải lấy con dao để sẵn ở đầu giường. Cũng mày, cả
khu vực này người ta đồn đãi là cháu dữ dằn lắm, dám đánh cả chồng rồi đuổi đi.
Có lẽ vì thế mà bọn xấy chừa mặt cháu ra.
Lập cười, nước da bánh mật làm cho hàm răng nó thấy trắng
hơn, nụ cười trở nên tươi tắn hơn. Nó mới mười chín tuổi và mới lấy chồng chưa
được sáu tháng.
Lần thứ hai tôi trở lại khu đồi, đã có nhiều thay đổi đáng ngạc
nhiên. Căn chòi được thay thế bởi một căn nhà đàng hoàng hơn, tuy chỉ là một
căn nhà lợp lá. Lập tiếp tôi với cái bụng bầu lúp xúp và anh chồng mới mà cô giới
thiệu tên là Thoan. Thoan có cái vẻ hiền lành của một nông dân ít có dịp tiếp
xúc với cảnh và người thành thị. Anh ta làm bếp để Lập tiếp chuyện tôi. Mới
nghe tiếng gà "oác" một cái, đã thấy anh ta bắc ấm nước sôi đem con
gà ra làm lông rồi một chút xíu sau là tiếng da xả thịt. Thoan ít nói, nói nhát
gừng. Suốt bữa cơm, tôi chỉ nghe được ba câu ngắn:
- Ăn đi chú, thịt gà tơ đó.
- Rau ở đây trồng hổng lên.
- Chú ăn ít quá. Người ở thành hén!
Lần ấy cà phê đã được trồng hơn nửa diện tích khu đồi. Lập
chưa sắm được máy bơm, ngày hai lần vợ chồng nó, mà chủ yếu là Thoan, gánh nước
suối lên tưới khắp vườn. Cây cà phê khó tính, chỉ xanh mướt đẹp lòng người khi
có đủ phân và nước. Đúng vào lúc Lập lúng túng chưa có cách giải quyết việc tưới
cây ở mùa trước đó thì Thoan xuất hiện xin làm thuê. Anh ta cho biết mình ở huyện
kế bên tới, không còn ai thân thuộc nên thân làm thân ăn có một mình. Lập nhận
lời thuê Thoan tưới cây hàng ngày, trả lương tuần vời điều kiện anh ta phải tìm
chỗ trọ đêm ngoài khu đồi của nó. Thoan làm suốt một mùa nắng, đến mùa mưa, anh
ta từ giã ra đi chỉ để lại một lời hứa: "Mùa sau cô Lập có mướn, tui trở lại
mần cho. Nhờ đừng kêu người khác nghen cô Lập". Mùa nắng năm sau, Thoang
trở lại trong sự chờ mong của Lập. Hơn thế nữa, trong lòng nhung nhớ của nó. Giữa
mùa nắng năm ấy, Lập thông báo với chị tôi: nó đã chọn Thoan làm chồng!
Lập dừng lại bên một gốc cây cà phê trổ bông sớm nhất vườn
nhưng không phải để giới thiệu với tôi cái cây đặc biệt ấy, cũng chẳng phải đễ
thưởng thức cái mùi hoa lài hắc. Nó cứ nhìn đăm đắm vào chùm hoa trắng
chi chít cánh thon nhỏ một lúc. Rồi nó ngẩng lên nhìn tôi và nói:
- Cháu lấy anh Thoan, má cháu la dữ lắm. Bà còn trong vùng
cũng lắm người dè bỉu. Họ nói là cháu lấy chồng để có người làm mướn khỏi trả
công. Họ tàn nhẫn quá. Một đứa con gái lỡ làng như cháu, bộ không được quyền
yêu thương ai nữa sao chớ? Dù sao thì cháu cũng cứ làm theo ý mình. Vài tháng nữa
cháu có đứa con để vui rồi...
Hôm nay lại có dịp đi với Lập trong vườn cà phê. Những cây cà
phê trồng đợt một đã cao trùm đầu tôi, cành chi chít trái xanh. Mùa thu hoạch tới,
Lập sẽ nộp cho huyện một số lớn cà phê hột để thự chiện hợp đồng trao đổi vật
tư. Số còn dư, nó nói chắc như vậy, nó tính bán ngoài nhưng chưa được sự đồng ý
của Quảng. "Ảnh gàn lắm chú ơi. Chuyện gì cũng thích làm khác người
ta". Ngừng một chút, nó mỉm cười một mình như tự thện rồi tiếp: "Mà
nghĩ cho cùng, chính cháu cũng là một đứa gàn, phải không chú?".
Tôi biết phải trả lời như thế nào với Lập. Lần thứ nhất, nó đã
đuổi người chồng bê tha cờ bạc ra khỏi nhà. Lần thứ hai, nó lại không khoan nhượng
với Thoan khi phát hiện chồng mình vừa là gã ăn cắp vặt, vừa là người lừa dối.
Hai người đã cãi nhau một trận kịch liệt. Đó là lần đầu tiên cũng là lần cuối
cùng Thoan nói nhiều nhất kể từ khi chung sống với Lập. Anh ta cãi: "Lấy
chút đỉnh gởi về cho gia đình cũng cấm sao? Tiền bạc, cà phê trong nhà này cũng
có công của tui chớ". Lập vặn lại: "Tôi tiếc chi tiền bạc với cà phê.
Nhưng sao anh không nói thiệt với tôi là anh vẫn còn gia đình?" - "Ờ...
tui có giấu, nhưng chuyện nhỏ đò..." - "Đó mà là chuyện nhỏ à? Vợ chồng
với nhau anh còn giấu diểm. Vậy ai biết anh thương yêu tôi hay anh thương yêu
cái vườn cà phê này?".
- Thật ra, Thoan vẫn có thể được tha thứ... -Tôi nói hơi nhỏ,
không dứt khoát.
- Có đôi lúc cháu cũng nghĩ như chú vậy. Nhưng sao kỳ quá chú
ơi! Lúc nào cháu cũng đòi hỏi cái gì đó cao hơn, tốt hơn, đẹp hơn. Cháu không đủ
sức chịu đựng người chồng mình không còn yêu kính nữa. Má cháu lại la cháu dữ dội,
rồi hăm he từ bỏ cháu...
- Còn bây giờ với Quảng, cháu thấy sao?
Lập im lặng một chút, không hiểu nghĩ gì nó bỗng phì cười:
- Cháu có nói rồi mà, ảnh gàn lắm chú ơi!
Buổi chiều, Quảng ngồi tâm sự với tôi:
- Lập nó gan góc, bản lĩnh lắm chú à. Hơn nửa đời người cầm
súng chiến đấu còn có lý do, nhưng cả chục năm hòa bình rồi mà tôi mới chấm được
một người làm vợ thì chắc là tôi khó tính lắm phải không chú. Nói tôi thương Lập
là chưa đủ. Phải thêm là tôi phục nó nữa. Có người xầm xì, nói tôi là thằng đào
mỏ. Họ làm như qua mặt được Lập dễ lắm vậy.
Lập dẫn con Lan, đứa con của nó với Thoan từ khu đồi nhà hàng
xóm về, khoe:
- Có cà phê nanh chồn đặc biệt đây, chú với anh Quảng chờ một
lát.
Cà phê thật ngon. Lập và Quảng cãi nhau về loại cà phê này
trước mặt tôi. Lập nói đây là những hột cà phê có một đầu nhọn như nanh chồn được
chọn riêng nên rất ngon. Quảng lắc đầu trề môi: "Bậy nà!" và giải
thích rằng có những con chồn hương lẻn vào vườn ăn trái cà phê chín, hột cà phê
vào bụng nó không tiêu hóa được phải thải ra, những cái hộ đó tình cờ được tẩm
dịch thơm trong bụng chồn nên làm tăng hương vị của cà phê. "Đúng ra phải
gọi là cà phê cứt chồn". Anh ta kết luận. Lập hất mặt lên:
- Xí! Anh là thằng cha gàn!
Quảng cười hắc hắc vẻ như rất thích được gọi như thế. Tôi nhấp
thêm một ngụm cà phê. Dù là Lập hay là Quảng đúng cũng chẳng hề gì, cái chính
là cà phê ngon, rất ngon. Tôi không khỏi nghĩ đến sự kỳ diệu của thịên nhiên. Từ
đâu trong lòng đất, mùi hương tụ lại những cánh hoa cà phê? Từ đâu trong những
tế bào lá, tế bào thân, vị đắng dịu dàng tập trung vào những hột cà phê nhỏ
xíu? Để bây giờ tôi có cái cảm giác lâng lâng, sảng khoái và quá yêu đời. Tôi
nghĩ đến cuộc đời của Lập. Nó không chịu chỉ là cây cà phê có hương, mà phải là
cây có trái, có loại hột nanh chồn cho ra những giọt cà phê sánh đặc ngon lành
nhất.
Tôi đợi Quảng vắng mặt ra sau nhà mới hỏi Lập:
- Thằng Quảng coi bộ khá. Nhưng cháu có thật tin nó chưa?
- Cho tới lúc này thì cháu vẫn tin rằng ảnh là người chồng tốt.
- Còn tương lai?
- Có phải chú muốn nói nếu mai kia cháu lại phát hiện ra một
cái gì không chấp nhận được ở ảnh chớ gì? - Lập nhìn như soi vào mắt tôi - Chú
có tin là cháu lại dám bỏ chồng một lần nữa hay không?
- trời! Con nhỏ này!
Hương hoa cà phê từ ngoài vườn lại ùa vào vây lấy tôi. Nhưng
cái mùi hương hoa lài hắc ấy không còn khiến tôi thấy khó chịu nữa...
7/9/1987Khôi VũNguồn: Văn học và nghệ thuật
Hôm nay hoa hồng không nở
Hôm nay hoa hồng không nở
Cơn đau đầu kéo dài. Mắt tôi bắt đầu cay xè và màn hình vi
tính trước mắt lòe nhòe. Tôi đứng dậy, vươn vai rồi bước xuống nhà. Vợ chồng
tôi chuyển sang Việt Nam đã được hơn ba tháng. Tôi quản lý văn phòng đại diện một
công ty môi giới kinh doanh bất động sản tại Sài Gòn và họ thuê cho vợ chồng
tôi căn biệt thự này cùng với một người giúp việc, một người bảo vệ và một người
làm vườn. Tôi dắt con Snow lông xù xuống vườn, định ngả lưng ra chiếc ghế băng
gần hàng rào màu trắng. Vợ tôi vẫn chưa về, chắc nàng còn bận bịu nơi Spa hoặc
cà phê sân vườn nào đó.
Con Snow sủa ỏm tỏi. Tôi thấy một bóng người thoáng qua bên
hàng rào. Đó là một cô gái người địa phương dáng nhỏ bé. Hình như cô ta vừa định
bứt cành hoa hồng ven hàng rào. Tôi thấy cành hoa hồng rung rinh trong lúc trời
Sài Gòn oi nồng không gió. Bỗng tôi thấy bực mình. Trước khi đến đất nước này,
tôi từng nghe nói nơi đây ý thức người ta rất kém. Họ thường vứt rác lung tung,
ở bẩn và ăn trộm vặt. Cơn đau đầu khiến tôi phát cáu. Tôi tính kêu cô ta đứng lại
và quát cho một trận. Tôi chợt nhận ra mình không biết tiếng Việt. Tôi bực bội
quay vào nhà.
Bỗng dưng tôi thấy ghét cái xứ sở này, ghét con người ở đây.
Hằng ngày, tôi phải làm việc với một đám nhân viên suốt ngày cãi cọ, so bì và
lười biếng. Ba tháng nay, chẳng khi nào tôi được nghỉ ngơi thật sự, giờ nào
cũng bị nhân viên gọi điện thoại hỏi những điều đáng ra không nên hỏi. Đường sá
ở đây thì tệ hại, dân chúng thì chen lấn, tràn cả ra làn đường ô tô mà đi. Mà
nói tới nói lui thì tôi vẫn không dứt khỏi cơn bực mình vì cô gái ban nãy. Dân ở
khu vực này chẳng bao giờ thèm ngó đến nhà hàng xóm, ai nấy sau khi đánh xe về
sau giờ làm thì đi chơi tennis hoặc uống rượu, xem phim trong nhà. Vậy nên, tôi
chắc chắn, cô ta không phải là người sinh sống trong khu biệt thự này. Tôi uống
một ngụm rượu rồi đi ngả lưng. Điện thoại lại reo. Tôi tắt máy và nằm chìm trong
cơn đau đầu.
Suốt mấy hôm nay, cứ trước bữa ăn tối, tôi lại ngồi ở một góc
vườn, đợi cô gái kia đến. Tôi muốn bắt tận tay cái hành động ăn cắp vặt của cô
ta, và rồi, tôi sẽ báo cho ban quản lý khu biệt thự biết. Như thế, họ sẽ cấm cửa
tất cả những ai không phải cư dân khu biệt thự vào đây và cả khu này sẽ thành
khu vực thượng lưu một trăm phần trăm. Tôi đợi mãi, đợi mãi, nhưng chẳng thấy
cô ta quay lại. Đến ngày thứ năm, tôi gần như quên mất mình ngồi đây làm gì.
Ngày thứ sáu, tôi đi uống rượu với những tay quan chức và đưa tiền qua gầm bàn,
tôi quên khuấy mất khu vườn. Ngày thứ bảy, tôi tính đi mua sắm một ít đồ dùng
cá nhân. Vừa cầm chìa khoá ô tô xuống dưới nhà, tôi nghe tiếng con Snow sủa inh
ỏi. Xen vào đó là giọng phụ nữ bằng tiếng Anh: “Ok, baby!” và tiếng suỵt ra hiệu
yên lặng. Tôi chợt nhớ đến khu vườn…
Bên ngoài hàng rào, cô gái đang nắm cành hồng mới chớm nụ từ
khu vườn nhà tôi. Tôi dừng chân, tôi muốn thấy cô ta tận tay hái cành hoa đó
đi. Tôi chỉ mong có thế. Thế nhưng, cô nâng cành hồng lên, nhẹ nhàng đặt nó tựa
vào thanh sắt tường rào. Tay kia, cô nhặt một sợi nylon cũ vất bên đường, cột
cành hồng vào thanh sắt. Cô ta làm cái quái gì thế? Tôi bước chân ra khỏi góc
khuất của căn nhà. Con Snow ngừng sủa. Cô ta ngước lên nhìn và mỉm cười với tôi.
Tôi không biết gương mặt mình lúc đó như thế nào, tôi chỉ biết rằng sau khi tôi
thấy nụ cười ấy, tôi chợt nhận ra mình mỉm cười đáp lại. Cô ấy cất tiếng chào bằng
một thứ tiếng Anh phát âm khá chuẩn: “Xin chào ông, chúc ông một buổi tối vui vẻ?”
Tôi chợt giật mình, nhớ lại nhiệm vụ của mình trước lúc gặp
cô ấy, giọng tôi hơi nghiêm. “Chào cô. Cô làm gì ở đây?”
Cô ta chỉ vào cành hồng, miệng vẫn mỉm cười. “Ông thấy đó. Nó
dài quá rồi, tôi phải cột lên, không thì nó gãy mất.”
Chẳng lẽ tôi gắt gỏng với cô ta rằng đó chẳng phải là hoa nhà
cô. Nhưng tôi không muốn, mà nói thật lòng tôi không thể nói điều gì gay gắt với
nụ cười đó được. “Cảm ơn cô.”
Tôi ngồi xuống chiếc ghế băng, trong lúc cô ta ngắt một cái
lá hồng bị sâu và trò chuyện tự nhiên.
“Hoa hồng nhà ông thơm thật đó. Ông thật là may mắn.”
Tôi buột miệng, nói bâng quơ. “Tôi không xài hoa này. Nhà tôi
luôn cắm hoa hồng trong nhà. Người giúp việc mua hoa ngoài chợ về…”
Cô ta lắc đầu, mái tóc đen ngắn cũn cỡn rung rung: “Hoa đấy
không thơm. Cành thì cứng ngắc, lại còn không có gai. Tôi không thích.”
Con Snow nằm sát dưới chân tôi, tôi đưa tay vuốt đám lông mềm
của nó. Cô ta lại tiếp tục: “Tôi cũng thích cây quảng đại phía góc vườn nhà ông
nữa. Hoa trắng muốt và thơm. Khi nào lấy chồng, tôi sẽ xin ông một cành hoa quảng
đại làm hoa cưới.”
Tôi bất chợt mỉm cười. “Cô cứ tự nhiên. Nhưng tôi không biết
là hoa đó thơm đâu.”
“Ông thử ngửi đi.” Cô ta nói. “Nhưng đừng hít sâu quá, ông sẽ
bị đau đầu vì nó quá thơm.”
Nghe đến hai từ “đau đầu”, tôi lập tức né tránh. “Ok, khi nào
rảnh, tôi sẽ ngửi.”
“Không mất thời gian nhiều đâu, ông có thể ngửi nó trước bữa
ăn tối. Khi hoàng hôn vừa tắt là lúc những bông hoa bắt đầu toả hương. Ngay cả
khi ông ngồi đó, ông có thể nhắm mắt lại, và ông sẽ ngửi được.” Cô ta nhắm mắt,
hít thở thật sâu.
Tôi nhắm mắt làm theo. Tôi nghe tiếng cô ta. “Đó, ông có ngửi
thấy không? Cả hoa lài tây của vườn nhà hàng xóm nữa.” Tôi mở mắt ra nhìn trong
khi cô ta vẫn say sưa hít thở. Tôi nói: “Ờ, tôi có thấy mùi gì đó, nhưng tôi
không sành mùi hoa như cô.” Kỳ thực, tôi chả ngửi thấy mùi gì cả ngoài mùi nước
hoa của con Snow mà vợ tôi xịt cho nó lúc chiều.
Cô ta mở mắt nhìn tôi. “Ông đừng lo, sau này ông sẽ biết, ông
sẽ nhớ từng loại hoa.”
Rồi không quan tâm tôi có lắng nghe hay không, cô ngồi bệt xuống
đất và nói huyên thuyên. “Ở trong khu vực này, có một nhà trồng sen trắng rất
thơm. Hoa sen trắng thơm dịu hơn hoa sen hồng. Còn bên kia nữa, họ trồng lài ở
cả lối đi. Kế bên có cái xích đu mà tôi chưa bao giờ thấy ai ngồi đó cả.”
Tôi nói cho có: “Chắc họ bận đi làm.”
“À, trên đường chính đi vào khu này, có năm chậu bông giấy rất
đẹp, năm màu khác nhau đấy. Ông thích không?”
“Ờ, không. Tôi không nhớ lắm.” Thật ra là trên cái con đường
đó tôi chỉ nhớ mỗi anh gác cổng luôn cúi chào tôi mỗi buổi sáng. Tôi không có
thói quen nhìn vào nhà người khác hay những thứ hai bên đường, các loại hoa hoè
như cô ta đang huyên thuyên.
“Ồ, ông nên dành năm phút để thăm mấy chậu hoa đó. Lúc con đường
vừa lên đèn, ông sẽ thấy nó đẹp khác với vẻ đẹp ban chiều.”
Tôi bắt đầu tò mò về cô gái này. “Cô học tiếng Anh ở đâu mà
cô nói sành quá vậy?”
“Tôi tự học.” Cô ta hãnh diện đáp.
“Cô làm phiên dịch hay hướng dẫn viên, hay việc gì đại loại
như thế?” Tôi hỏi dò.
“Không. Tôi làm bồi bàn cho một quán cà phê ở Phạm Ngũ Lão.”
“Ồ…” Tôi nhận ra mình vừa “Ồ” một tiếng quá to nên đành lấp lửng.
“Tiếng Anh của cô chuẩn quá nên tôi không nghĩ vậy. Sao cô có thể tự học mà lại
giỏi như thế được nhỉ?”
“Có gì đâu.” Cô ta nhún vai. “Tôi thích nói chuyện với khách
Tây. Mà tôi thấy họ cũng rảnh lắm, ngồi cà phê cả buổi, tôi nghĩ họ cũng buồn
và tôi bắt chuyện. Chữ nào không biết tôi vẽ ra giấy, và tôi học từ họ rất nhiều.”
“Có nghĩa là cô biết rất nhiều thứ, có vậy cô mới có chuyện để
tám chớ, đúng không?”
Cô lại mỉm một nụ cười hiền lành. “Tôi chỉ biết những thứ
xung quanh mình thôi. Họ tò mò về cách người Việt Nam nấu cơm, cắt lúa, cũng
như tôi tò mò về cách người Pháp mở rượu vang, làm pho mát. Và họ đã nói cho
tôi biết khá nhiều thứ.”
Tôi nhớ đến cô tiếp tân trên văn phòng với vốn tiếng Anh bập
bẹ, đột ngột tôi hỏi: “Cô có muốn đổi việc không? Một công việc như tiếp tân chẳng
hạn, sẽ thoải mái và lương cao hơn làm bồi bàn nhiều!”
“Ồ, tôi không biết làm tiếp tân đâu. Và tôi thấy công việc của
mình cũng khá ok. Tôi không nghĩ mình sẽ đổi việc.”
Tôi thấy cô ta thật dở hơi. “Chẳng lẽ cô không có ước mơ hay
khát vọng gì cả sao? Cô nghĩ rằng cô sẽ làm bồi bàn đến cuối đời ư?” Hình như
tôi hơi cao giọng một cách vô lý.
“Tôi không biết nữa.” Cô vẫn rất bình thản. “Bây giờ tôi rất
thích công việc này. Nó cho tôi cảm giác tôi đang đi du lịch, và tôi gặp những
người khách kia ở chính đất nước của họ. Tôi thấy những cánh đồng hoa tulip, những
lâu đài cổ, những nhà thờ, tháp chuông. Tôi thấy điều đó qua nét mặt hoan hỉ của
họ khi họ kể về quê hương mình. Cũng như tôi, khi tôi nói về Việt Nam, tôi cũng
vui như thế.”
Tôi không bắt bẻ được luận điệu của cô ta. “Nếu cô đi du lịch
khắp các nước rồi, cô sẽ làm gì? Cô có ganh tị với một ai đó, một nghề nào đó
không?”
“Điều đó thật khó. Nhưng ví dụ rằng một ngày nào đó, tôi
không thể tiếp tục công việc của mình nữa. Tôi muốn trở thành người làm vườn.”
Lần này thì tôi thật sự bất ngờ, tôi lớn giọng đến mức con
Snow giật mình. “Thật sao?”
“Thật chứ! Lúc đó tôi sẽ được tưới cây, cắt cành, ngắm những
bông hoa mỗi ngày. Còn bây giờ, cứ cách một tuần là tôi phải đổi ca. Một tuần
không được ngắm những bông hoa trong khu vực này, đối với tôi, đó là sự thiệt
thòi mà tôi phải đổi lấy cho những chuyến du lịch của mình.”
Tôi yên lặng đưa mắt nhìn quanh khu vườn của mình. Dường như
đây là lần đầu tiên tôi nhận ra nhà mình có một hàng hoa hồng bên rào, rồi cây
hoàng lan góc kế bên và những khóm hoàng anh leo lên phía gần bụi lài tây nhà
hàng xóm.
Cô gái lặng lẽ đứng dậy. “Tôi phải về đây. Chúc ông một buổi
tối vui vẻ.”
“Ồ, cảm ơn cô. Tôi sẽ đi quanh vườn để ngửi hoa hồng như cô.”
“Rất tiếc thưa ông. Ông phải đợi sau ngày mai.” Tôi nhìn
quanh hàng rào, đúng là không có bông hoa nào nở thật. “Hôm nay hoa hồng không
nở. Dù sao, tôi cũng chúc ông buổi tối tốt lành”.
8/1/2010Phan Thị Lan Phương
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Cái Tôi của Phạm Duy trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...