Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2025

"Hai mươi năm thơ đổi mới" suy tưởng về thơ ca và sự vận hành của thư pháp

"Hai mươi năm thơ đổi mới" suy tưởng về
thơ ca và sự vận hành của thư pháp

Bản chất của sáng tạo là luôn luôn đổi khác. Dù là sáng tạo khoa học – kỹ thuật hay văn học – nghệ thuật, hoặc các sáng tạo khác trong đời sống và xã hội. Nếu là sáng tạo thì phải tạo ra, mang đến một cái gì đổi thay, khác biệt so với cái trước đó. Đương nhiên, sản phẩm của sáng tạo chỉ có thể phát huy khi sản phẩm đó đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của con người và xã hội của thời đại đó. Mặc nhiên, có nhiều sáng tạo thuộc lĩnh vực tinh thần và một số ngành khoa học lý thuyết khi ra đời vấp phải khá nhiều sự chống cự quyết liệt của thời đại đó. Do lớp vỏ thói quen của nhận thức của thời đại đó được bao bọc nhiều lớp quá dày và cứng, nên không thể tiếp nhận được cái ánh sáng quá mới mẻ mạnh mẽ của sáng tạo làm choáng ngợp. Trở ngược theo tiến trình của lịch sử nhân loại, ta thấy có nhiều sáng tạo đã bị ruồng bỏ chà đạp và trầm luân trong thời đại của nó, nhưng những sáng tạo đó không bị triệt tiêu, và nó tiếp tục được đón nhận trong ánh sáng rực rỡ ở chân trời của một thời đại khác.
Bản chất của sáng tạo là luôn luôn có sứ mệnh làm mới nhận thức và cảm xúc của con người trong hiệu quả và trong vẻ đẹp.
Thi ca là một lĩnh vực của hoạt động tinh thần, một hoạt động mang tính sáng tạo và thuộc về sáng tạo. Có người đã mạnh dạn định nghĩa thi ca là sáng tạo, định nghĩa này về thực chất không có gì thái quá. Thi ca là sáng tạo, và sáng tạo là làm mới. Vì vậy, tôi hướng cái nhìn của tôi với những suy tưởng mang tính gợi ý về thi ca và sự vận hành của thi pháp.
Có những thời đại ở vào những khu vực khác nhau trên thế giới, thi ca đã được thăng hoa và kết tinh sáng tạo với những hình thức kết cấu thơ mẫu mực. Bằng sự kết thành của những hình thức thơ mới này, nó đã tạo ra vẻ đẹp đặc biệt cho sự chiêm ngưỡng không ngừng của những thời đại tiếp theo nó. Chẳng hạn như Trung Hoa sáng tạo ra thể thơ Đường luật, Nhật Bản với Hai-Kư, và một số thể thơ của châu Âu,…
Rõ ràng là chỉ những thời đại đó, với những con người sinh ra trong thời đại đó, mới sáng tạo ra được những hình thức thơ mẫu mực và kỳ diệu này. Và, ngẫu nhiên hình thức thơ đó đã tạo ra những quy tắc vàng có tính hướng dẫn thực tiễn đối với sáng tạo thơ ca. Những thế hệ tiếp nối trong sự ngưỡng mộ đã không ngừng sáng tác những bài thơ theo những quy tắc vàng mà các bậc tiền bối đã để lại. Nhưng, các sáng tác sau đó dù có xuất sắc đến đâu thì ánh sáng từ vẻ đẹp của các tác phẩm thơ của họ cũng yếu dần đi và mờ nhạt so với những sáng tác thơ của những thời đại trước. Điều này, không hẳn là do các nhà thơ các thời đại sau suy giảm về tài năng hoặc nỗ lực thi ca, mà theo đó hạn chế bất khả giải của các nhà thơ thời đại sau phạm vào, nó nằm ở điều cốt yếu đó là sự đòi hỏi của thể chất thơ ca là phải luôn đổi khác, mới mẻ, thoát khỏi quán tính thói quen về cảm xúc và cách tiếp cận thế giới.
Về bản chất, thể chất của nghệ thuật là tự do. Tự do có thể được coi là yếu tính của nghệ thuật. Thi ca là một lĩnh vực của nghệ thuật đòi hỏi cái yếu tính tự do cấp thiết và gắt gao hơn nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác. Bởi công cụ của nó chính là ngôn từ, mà ngôn từ nguyên uỷ của nó luôn luôn phải mang chứa tính xã hội. Sự áp đặt mang tính xã hội đã được cài sẵn trong mã gen của  ngôn từ ngay từ khi nó mới ra đời.
Một nhà thơ lừng lẫy của thời đại nhà Đường (Trung Hoa) là thi hào Lý Bạch, trong cuộc đời thế tục của mình ông đã dời khỏi vị trí ở hoàng cung để đổi lấy tự do. Những bài thơ hay nhất của Lý Bạch được dịch ra ở nước ta, có nhiều bài thơ kiệt xuất không viết theo thể thơ luật Đường, trong đó có những bài thơ mà ai đã từng đọc thơ Lý Bạch đều không thể bỏ qua, như bài “Tương tiến tửu” và bài “Thục đạo nan”. Những bài thơ này không được thực hiện bởi quy tắc vàng của hình thức thơ mẫu mực do chính thời đại đó đã tạo tác. Những bài htơ không viết theo thể thơ luật của Lý Bạch được  vận hành theo dòng xả trôi tự do của cảm xúc, và nhịp điệu kết cấu của bài thơ được sinh ra trong sự hoà điệu đủ để chứa tải cái hứng khởi tràn đầy của nhà thơ trong khối tâm sự đan bện chằng chịt được dâng đặt giữa thiên nhiên trời đất và giữa lòng thiên hạ bao la. Nếu theo cách nhìn của ngày nay, thì đó là những bài thơ viết theo thể thơ mới không bị ràng buộc bởi những quy tắc quá chặt chẽ. Trong thời đại thi ca rực rỡ của Đường thi, nhiều kiệt tác còn lại đến nay được viết theo thể thơ cổ phong, một thể thơ khá tự do từ thời cổ của Trung Hoa. Như vậy cái mà người ta gọi thời đại Đường thi với cái ý chỉ về thơ Luật Đường, chỉ là rất tương đối mà thôi. Rõ ràng những kiệt tác còn đến nay của thời đại Đường thi không chỉ là thơ Luật Đường. Do vậy, cho thấy các hình thức thơ được tạo tác dù mẫu mực và sáng rỡ đến bao nhiêu cũng chỉ đủ làm nên cái rạng rỡ của sáng tạo thi ca thời đại đó và có thể toả rạng đến các thế kỷ sau – nhưng, đối với tiến trình vận hành của thi ca thì các hình thức có trước đều trở thành vật cản trong công cuộc vận hành không ngừng nghỉ của sáng tạo thế hệ tiếp theo.
Ở Việt Nam, thơ lục bát có thể trở thành hình thức thơ mẫu mực của những thời đại trước đây được không? Câu hỏi này đã có người đặt ra, và cũng đã có một số ý kiến từng khẳng định thơ lục bát không chỉ xuất hiện ở Việt Nam, mà nó có nguồn gốc từ một số nền văn hoá trong khu vực. Thực ra, điều này tôi không tường tận nên không dám lạm bàn. Cứ cho rằng thơ lục bát là chỉ có Việt Nam mới có thể thơ này, và rằng thể thơ này đã trở thành mẫu mực với những quy tắc vàng mà nó đã tạo ra trong những yêu cầu về vần, nhịp và kiến trúc câu thơ.
Có một điều chắc không phải tranh cãi nhiều lắm, là thơ lục bát – trong những thế kỷ trước chỉ xuất hiện dưới dạng chữ Nôm, thật khó tìm được một câu lục bát ở nước ta là một câu thơ dưới dạng chữ Hán. Đối với nhà nước phong kiến của Việt Nam, ít nhất là từ thế kỷ XIX trở về trước, ngôn ngữ được dùng trong các văn bản chính thức của nhà nước là chữ Hán (ngoại trừ một ít văn bản trong thời gian ngắn ngủi của triều đại hoàng đế Quang Trung).
Ta nhận thấy những trước tác và thi ca của các danh nhân các thời đại trước của nước ta để lại hầu hết là bằng chữ Hán, một số bài thơ chữ Nôm đều được viết chỉ coi như một cái thú chơi của riêng mình. Trong các đấng bậc văn chương thời trước, mấy ai ngang tàng hơn Cao Bá Quát, ông đã công khai coi thường cái triều đình lúc ông còn nhận miếng cơm manh áo từ nó, rồi ông đã cả gan tập hợp lực lượng tổ chức cả một cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình đó. Thế mà đối với chữ Nôm, trong bài tựa Truyện Hoa Tiên, Cao Bá Quát đã phải thốt lên: “Than ôi! Lấy Quốc ngữ làm văn chương, thì ta chưa dám, nhưng lấy văn chương mà coi Quốc ngữ thì ta có phần tán thành”. Như vậy, từ thế kỷ XIX trở về trước, thực tế chữ Nôm chỉ tồn tại trong dân gian. “Lấy Quốc ngữ làm văn chương”, đến Cao Bá Quát một con người dám lấy cuộc đời mình làm cột chống trời như vậy còn “chưa dám”, thì hỏi ai còn dám đây? Cho nên, dù các bậc danh gia về phê bình văn chương có bình phẩm siêu quần thế nào đi chăng nữa về Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, thì cá nhân tôi vẫn cho rằng hai câu thơ kết của Truyện Kiều mà Nguyễn Du đã viết, là ông viết thực lòng, thực tâm, chứ không có ý khiêm nhường và ngụ ý sâu sa gì cả. Đã đành, cốt truyện của Truyện Kiều là của Trung Quốc, căn cứ vào các văn bản chú giải “Truyện Kiều” của các học giả, các nhà nghiên cứu nước ta, thì tôi nhận thấy và nhiều người nhận thấy, có nhiều câu thơ lục bát vào bậc hay nhất của Truyện Kiều là dịch từ thơ Đường, Tống. Thiên tài của Nguyễn Du chính là sử dụng nhuần nhuyễn tài tình và biến hoá chữ Nôm trong câu thơ lục bát. Và, tại Truyện Kiều Nguyễn Du đã gửi gắm được tâm sự về thế cuộc rất khó nói của mình, khi trong thời đại đó không thể tìm được nơi và người để ông có thể bộc bạch giãi bày nỗi lòng và cảnh ngộ của mình. Giáo sư Phạm Thiều đã gọi ra một cái tên rất độc đáo để chỉ ra tâm trạng đặc trưng của thi hào Nguyễn Du, đó là “Tâm sự di thần”. Sự nghiệp sáng tác thơ trong suốt cuộc đời Nguyễn Du đã để lại trên 300 bài thơ viết bằng chữ Hán, đã thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan và những rung động cùng hứng khởi của ông về những gì tâm huyết nhất mà ông đã tiếp nhận được, đã suy tư trăn trở lúc đương thời. Với Truyện Kiều, và chữ Nôm, Nguyễn Du đã thực hiện được một công việc nằm ngoài ý chí của ông, như ông nói chỉ là “mua vui”. Đó chính là thế giới tự do của tâm tưởng, của tinh thần, ông đã bước vào mà không hay biết. Với chữ Nôm cùng với thể lục bát và tích truyện của Trung Hoa, ông hoàn toàn tự do thoát khỏi mọi giàng buộc, mọi quy ước và sự kiểm soát kiềm toả mà thời đại đã áp đặt lên nhận thức và tình cảm mọi cá nhân trong xã hội đó.
Nếu theo góc nhìn của thời hiện kim, thì Nguyễn Du viết Truyện Kiều hoàn toàn là một sự vượt rào khỏi những quy ước, những thói quen đang ngự trị của thời đại ông sống. Đó là một sự đổi mới, là bước ngoặt trong thi pháp thơ của ông. Điều này là hoàn toàn sáng rõ khi ta chú tâm nhìn ngắm lại toàn bộ những sáng tác thơ mà thi hào Nguyễn Du đã để lại đến hôm nay. Thực tình, sự đổi mới thi pháp thơ Nguyễn Du là một sự tình cờ vượt ra ngoài sự kiểm soát của nhà thơ. Sự tình cờ này đã để lại một kiệt tác thơ, một kỳ công về ngôn ngữ có một không hai của thơ ca Việt Nam.
Đổi mới là cách tân, tức là phải đổi thay đi, phải khác đi. Đổi đến đâu và đổi như thế nào, lại là câu chuyện dài dài không thể dăm câu ba điều mà tỏ rõ được. Điều tiên quyết của đổi mới là phải khác trước - đến với việc đổi mới không có cách gì có thể biện hộ để bỏ qua tiên đề này. Cải sang cái mới là đổi sang cái gì đó tốt đẹp hơn, hiệu quả hơn và phù hợp hơn với hiện tại. Đó thường là ao ước và nguyện vọng của những người đổi mới và công chúng hưởng ứng cái mới. Dù cái mới nhiều khi chưa hẳn đã tốt đẹp hơn cái trước nó, nhưng việc cải đổi sang cái mới luôn là nhu cầu tự thân của mọi sự vận hành trên thế gian. Nó được tiến diễn như một quy luật, tức là không có gì có thể ngăn trở được sự cải đổi này. Thế giới luôn đổi thay, đất nước hàng ngày thay đổi, nhận thức của con người trong xã hội luôn được nâng cao theo sự thăng tiến không ngừng của nền văn minh, không hà cớ gì mà thi ca lại không thay đổi.
Tôi không có ham muốn sẽ đề ra được những quy tắc nào đó của đổi mới thi ca, nhưng bằng trải nghiệm và suy ngẫm của cá nhân cho tôi những gợi ý rằng việc đổi mới thi ca ít nhất phải thực hiện được 3 điều sau:
1. Cảm xúc của sáng tác thơ phải cách biệt được cái nền cảm xúc của những sáng tác thơ trước đó. Phải tạo dựng được một nền cảm xúc, trường độ cảm xúc riêng biệt và mới mẻ.
2. Cách nghĩ, cách tư duy, các mối quan tâm, nói chung là điểm nhìn của nhà thơ phải khác biệt với điểm nhìn trước đó về con người, về nghệ thuật và về thế giới.
3. Cách thức tiến hành bài thơ, hệ thống ngôn từ được huy động cũng phải khác biệt và mang cảm quan của thời đại, dù có thể là rất gián tiếp.
Còn một điều kiện nghe chừng có vẻ ngoại lệ, nhưng không thể bỏ qua, rằng để kết thành được 3 yếu tố trên trong một sáng tạo thơ mới, nhà thơ cần phải đạt đến sự tự do cao nhất về tâm thức và sự thuần khiết của hứng khởi thi ca. Nếu không, 3 yếu tố trên cũng chỉ tạo ra một cái vỏ của sự mới mà không mang theo một thể chất chứa đầy cường lực và năng lượng mới. Mang đến một thể chất mới của thi ca, thực sự là mục tiêu mà công cuộc cách tân nỗ lực tìm kiếm và cần phải đạt đến.
Trong một vài bài viết về thơ bạn bè gần đây, tôi có đề cập đến mối quan tâm về việc mới – cũ trong sáng tác thơ, cùng với sức hút đầy trường lực mang quán tính của thói quen dường như đã được định vị từ sáng tácthơ của các nhà thơ thế hệ trước. Đó là sức hút được tạo ra bởi những thói quen được hướng dẫn từ những cách cảm, cách nghĩ, điểm nhìn và phương pháp huy động vốn từ ngữ cùng việc kiến thiết của các sáng tác thơ của các nhà thơ thế hệ trước.
Quán tính của thói quen luôn tồn tại như là một sự mặc định trong suốt tiến trình vận động của sáng tạo thi ca. Để tách rời khỏi cái quán tính thói quen dường như đã được định vị là một công cuộc không bao giờ dễ dàng. Dù vô thức hay hữu thức thì hầu hết đều bị gục ngã quy phục trước quán tính thói quen. Về sức mạnh quán tính của thói quen, làm tôi sực nhớ đến ý kiến của một nhà tộc người học người Anh thế kỷ XIX, ông nói rằng “khi có một tập quán, một thói quen, hay một ý kiến nào đó lan ra khá rộng, dù tác động của những ảnh hưởng khác nhau đối với chúng có thể yếu đi, nhưng chúng vẫn tiếp tục truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chúng giống như một dòng chảy, một khi đã tạo ra được luồng lạch của nó thì tiếp tục chảy trong nhiều thế kỷ liền”.
Sự bền vững và loang rộng quán tính của thói quen từ các sáng tác thơ, có lẽ không kém phần bền bỉ và dai dẳng đối với các thế hệ tiếp nối, nhưng quả là tách rời nó thì luôn luôn là một thách thức đối với sáng tạo thi ca đối với những thế hệ kề cận.
Có một điểm có lẽ chỉ là dị biệt, chỉ xuất hiện trong môi trường sáng tác thơ của ta, đó là một dạng của yếu tố tâm lý không muốn người khác khác mình, từ việc nghĩ khác, cảm khác và đặc biệt là viết khác. Tâm lý này nhiều lúc đã tạo ra một bầu không khí chưa mấy thân thiện trong giao tiếp, trong trò chuyện, trong trao đổi và nhận xét đánh giá về văn chương. Ở một mức độ nào đó, nó có thể làm hạn chế, tiêu mòn và có khi thui chột sự nảy mầm của những cảm hứng sáng tạo thi ca mới. Yếu tố tâm lý này nếu cứ tiếp tục duy trì, nó sẽ giống như một thứ sương muối gió tây làm tê liệt những hạt giống mới nơi cánh rừng thi ca.
Bởi thi ca là sự kết tinh và nâng cao không ngừng của các nền văn hoá tiếp biến qua các thời đại, nó được sinh ra cùng với khát vọng của con người. Cảm hứng thi ca rất cần đến bầu không khí cởi mở thân thiện bên công việc khó khăn nhọc nhằn của việc tách vỏ bay vút lên trời cao của cảm hứng thi ca.
Sáng tạo thi ca mãi mãi là cuộc vận hành không ngừng nghỉ mang theo sự biến đổi thi pháp, với mục tiêu bù đắp những khiếm khuyết thiếu hụt về đời sống tinh thần trong tâm thức, tiềm thức và tâm hồn của con người giữa lòng thời đại chuyển động gấp gáp theo tiến trình phát triển của nền văn minh xã hội loài người. 
Hà Nội, 5/5/2010
Dương Kiều Minh
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Đọc thơ Lê Huy Quang, tìm "Cỡ Quang - Cỡ một con người"

Đọc thơ Lê Huy Quang, tìm
"Cỡ Quang - Cỡ một con người"

Trong cõi vụt hiện của nhà cách tân thơ Hoàng Hưng vút lên hai cột sáng, là bài thơ cặp đôi: Quang I, Quang II. Bài thơ cặp đôi này được viết trong thời kỳ sung mãn nhất cuộc cách tân bền bỉ của nhà thơ Hoàng Hưng.
Bạn ơi
Ai biết có anh trên đời?
Anh tự biết mình
Quang.
Cỡ thế giới – cỡ một con người
Thế đủ rồi
Cỡ Quang.
(Quang I – Hoàng Hưng)
Trong một không gian thơ thật hiện đại “xô-lếch dài/ Đêm tóc/ Môi lang thang”, hiện lên chân dung Lê Huy Quang “cỡ Quang”, “cỡ một con người”. Bài thơ cặp đôi: Quang I, Quang II của nhà thơ Hoàng Hưng, được in trong tập Ngựa biển năm 1988. Có những đoạn thơ trong hai bài thơ này đã tiêu tốn không ít giấy mực và thời gian đàm luận xung quanh nó vào lúc tập thơ Nghe biển ra đời. Câu chuyện về cuộc cách tân thơ vẫn còn vang vang đâu đó, thế mà đã hai mươi năm vắt qua hai thế kỷ.
Tập thơ Phải khác của nhà thơ Lê Huy Quang, gồm 108 bài trong một hành trình thơ 40 năm: 1968-2008. Theo nhà thơ Lê Huy Quang cho biết, đây mới chỉ là phần I, còn phần II của Phải khác sẽ tiếp tục được ra mắt bạn đọc.
Bài thơ Giêng Xuân được nhà thơ Lê Huy Quang viết và hoàn thành vào thời gian: 1966-1968. Sau 25 năm, nhà thơ Trúc Thông, một trụ cột của thơ cách tân, đã chép lại bài thơ này từ một cuốn sổ, và đã bình bài thơ trong sự trang nghiêm sâu sắc đầy xúc cảm. Lời bình của nhà thơ Trúc Thông và bài thơ Giêng Xuân đã được in trên tuần báo Văn nghệ từ năm 1994. Phải mường tượng cái không khí và diện mạo của sáng tác thơ Việt Nam những năm 60-70 của thế kỷ trước, mới thấy hết sức mới của bài thơ Giêng Xuân. Lúc này, tôi thấy bài thơ vẫn cần được chép lại nguyên văn bằng bút mực, viết nắn nót theo kiểu chữ bút thiếp:
mương nước sáng bờ cây chiều
dẫy dẫy
cột đèn
chim rũ cánh mưa
em đi làm rửa chân gầu giếng ấm
ao xóm
cầu về
gái xóm
Giêng rồi
thấp thoáng
áo em giêng
Về cấu trúc các câu thơ và cấu trúc toàn bài thơ Giêng Xuân của nhà thơ Lê Huy Quang, nhà cách tân thơ Trúc Thông đã có lời bình thật chí lý và thấu suốt: “Hình khói từ ngữ bố trí như thế nào trên không gian mặt giấy trắng là rất quan trọng. Về cả thẩm mỹ nhìn lẫn thẩm mỹ cảm. Ở bài thơ này cần rất thoáng, sáng. Để gọi thêm lên màu sáng trong bút pháp. Gọi thêm lên cảm giác trong, ẩm và tươi”.
Giờ đọc,vẫn thấy nguyên cái tươi mới của cảm xúc, tràn ngập phong vị và vẻ đẹp trong trẻo đến trong ngần của đồng nội vào tiết giêng hai, trước tình yêu trong sự nâng niu trân trọng thật cảm động của nhà thơ.
Nhà thơ Trúc Thông đã nói rất hay và hàm súc về hiệu quả của cấu trúc những câu thơ trên không gian mặt giấy. Nhà thơ Lê Huy Quang tiếp tục sự cách tân này trong các sáng tác thơ của anh.
Mưa
Mưa nối những chiều
Một
nét
buồn
thẳng
đứng
Nghe nong tằm ăn dâu
(Phong cảnh)
Những cơn mưa với “những sợi tơ mưa nối đất lên trời”, và những cơn mưa nối những buổi chiều bằng “một nét buồn thẳng đứng” trong sự trong suốt tĩnh lặng của một không gian nơi miền ven bãi, chợt vang lên tiếng tằm ăn dâu “nghe nong tằm ăn dâu”. Một cấu trúc thơ thật hoàn hảo, hiện đại và gợi cảm, những không gian cứ tiếp tục được mở ra từ những câu thơ.
Phơi trần mình
gió trưa
cát trưa
nắng trưa
muối biển nhuộm màu mây trắng
em – xuôi – một – dải – chân trời…
(Biển động)
Viết về biển trưa như vậy thì thật tinh diệu. Giữa gió, cát, nắng của buổi trưa “muối biển nhuộm màu mây trắng”, trước cái không gian khoáng rộng bao la ngút ngát cao vút và tĩnh lặng một buổi trưa của biển, thì hình ảnh người thiếu nữ nằm “phơi trần mình” ấy giống như một dải chân trời “em – xuôi – một – dải – chân trời”.
Chỗ anh đứng lâu ngày
lõm
xuống
thụ thai người gác cổng
thức
canh em!!!
(Thanh âm)
Viết về tình yêu và sự chờ đợi trong tình yêu như vậy, thật quá mãnh liệt, mạnh bạo và thật sự mới mẻ. Nó mạnh mẽ và ở cấp độ cao hơn nhiều việc trồng cây si trước cửa nhà người yêu mà ta từng nghe. Cái chỗ “lõm xuống” do “đứng lâu ngày” trong cuộc tình đó, giờ chỗ lõm ấy đã thụ thai thành người gác cổng thức muôn đời, để canh em, canh cuộc tình.
Lại vẫn là tình yêu, nhưng trong một bài thơ khác, nhà thơ Lê Huy Quang biến ảo thành những sắc thái khác, trong một sự chuyển động khác.
Em
Là vòng tròn khép kín những vòng tròn
Từ cái trung gian
em biến những bắt đầu ra sự cuối
Anh lại quẩn quanh những vòng tròn nối,
gấp
khúc
đường
em.
(Người con gái ấy)
Dưới đây là một đoạn thơ trong bài thơ “Bài hát mở mùa 1988” của nhà thơ Lê Huy Quang. Tôi tự nghĩ, nếu giả định đây là bài thơ đứng riêng biệt, thì đoạn thơ này đã là một bài thơ hoàn chỉnh và rất mới của nhà thơ Lê Huy Quang.
Riêng ta và em vẫn lầm lỳ
Ngồi trên chiếc xe chở than tổ ong chậm rãi
Con bò lặng lẽ kéo đi
Trườn lên đầu dốc nắng
Và mảnh khăn che mặt em đen thẳm
Cũng… bay… đi.
Đó chính là vẻ đẹp chân thực nhất song tồn, ẩn tồn trong cuộc sống lam lũ tất bật hàng ngày của con người. Cái đẹp trong bài thơ hiển lộ thật đột xuất trên nền của một không gian một khung cảnh của sự lam lũ, một đôi nhân tình ngồi trên chiếc xe chở than tổ ong chậm rãi, con bò lặng lẽ kéo đi,
chiếc xe trườn lên đầu dốc nắng.
Và mảnh khăn che mặt em đen thẳm.
Cũng… bay… đi.
Đọc thơ Lê Huy Quang mới thấy “ngoài trời lại có trời”. Trên thi đàn rộng lớn, trong cuộc cách tân tìm tòi muôn hình muôn vẻ ta ngỡ đã gặp một cái mới, lại gặp tiếp một cái mới, rồi cái mới tiếp nữa. Như tôi đã nêu, phải mường tượng trở lại với cái không khí và sáng tác thơ của nước ta từng chiếm lĩnh thập kỷ 60-70 của thế kỷ trước, mới thấy hết sự cách tân tìm tòi của nhà thơ Lê Huy Quang mới mẻ đến mức nào. Cái sức mới sự cách tân tìm tòi của nhà thơ Lê Huy Quang, nay đọc ta vẫn cảm nhận được đầy đủ cái tinh khôi trong trẻo và mới lạ thuở đó.
Tôi lọc sạch mùa đông qua đế giày cao cổ
tất những viễn cận liên quan nhau
vòng hút đất sinh sôi
ngoài lề trang vở học sinh tôi nằm dài thừa thãi (…)
mùa đông này
tôi đi trắng những phố chợ mưa phùn
tôi đồng loã
mọi gánh hàng em mọi ngả
nhưng tự tôi lọc sạch mình qua đế giày cao cổ.
(Tự khúc đông)
Nhà thơ đã lãng du cùng mùa đông đi trắng những phố chợ đêm mưa phùn, rồi lọc sạch mùa đông và tự lọc sạch  mình qua đế giày cao cổ. Để rồi “ngoài lề trang vở học sinh tôi nằm dài thừa thãi”. Từ lề trang vở học sinh ấy, câu thơ đã vút một tấm thảm lớn bay cùng mây trắng trời xanh, mang theo những gì vô tư lự, trong trẻo và lãng mạn.
Thơ Lê Huy Quang cách tân tìm tòi là thế, có nhiều câu thơ của nhà thơ Lê Huy Quang lạ đến quá mức. Nhưng ta cũng bắt gặp rất nhiều câu thơ khác của nhà thơ Lê Huy Quang thật dung dị, sâu sắc và tinh tế viết về mẹ, về quê về mùa và về tình yêu. Những câu thơ của Lê Huy Quang khi viết về mẹ bao giờ cũng gan ruột, sâu đằm và thấu tỏ:
Khói chiều sém hoàng hôn mẹ chợ muộn về
lẫn trong màu tím của đường ngói đầu tiên (…)
và giờ đây
con trai mẹ đi từ lúc nào không nhớ nữa
là nước mắt
là lửa
là nắng mưa sương gió
đã chín dần trong sức lớn bàn chân
(Những bài hát ru là mẹ)
Con không nói tròn lời về mẹ
Bài thơ cuộc đời
Mẹ viết bằng máu và nước mắt cho con (…)
Mỗi bước mẹ đi hằn trên đắng cay vất vả
tóc bạc
mắt sâu
lưng còng
vội vàng
tất tả (…)
Mẹ ơi
mãi mãi đến bao giờ?
Con vô vọng trước nỗi buồn mắt mẹ
Nếu buông vào cõi hư vô yên nghỉ
mẹ hãy cho cùng con đi…
(Mẹ)
Mẹ ơi. Bảy mươi sáu rồi. Bao giờ mẹ mới có được niềm vui? Mở Giáp Tý 1984. Con vẫn chờ và tin rằng hết Ba mươi sẽ phải là Mùng Một. Phải khác đi!
(Giáp Tý 1984)
Mẹ ơi
Sang canh về
mẹ mở cửa
Khác ba mươi.
(Giao thừa)
Người mẹ luôn hiện ra trong thơ của nhà thơ Lê Huy Quang như là một chỗ dựa duy nhất của cuộc đời. Những dòng thơ về mẹ là nỗi niềm thầm kín nhất trong cõi lòng sâu thẳm của nhà thơ. Những dòng thơ về mẹ là những dòng thơ ký thác của nhà thơ Lê Huy Quang. Đối với nhà thơ mẹ là một cõi cứu rỗi.
thơ Lê Huy Quang đã có những câu thơ thật tinh tế và ấn tượng xao động, xao xác trước sự chuyển động của thời tiết, của mùa trong một ngày, trong một mùa, trong một năm và trong cả đời người. “Chao ơi lá mùa mùa đi qua. Mùa mùa lãng quên. Và mùa mùa mất mát”(Tháng ba Quy Nhơn); “Đã lâu rồi im mưa/ Thu khẽ dấu một mùa lá đỏ” (Mùa thu); “Ngước lên trời cao. May còn mùa thu rực cháy” (Mốt và em); “Hàng cây cơm nguội vô tư thay áo vào đông/ Ta cúi nhặt chiếc lá vàng hờ hững chờ ôtô buýt” (Bài hát mở mùa 1988); “Bốn mùa lá gội bốn mùa quen quen” (Những khúc hát em)
Thơ về mùa xuân, về nước giếng xuân và thôn nữ, thật trong trẻo và ấm sáng đến vô gần. Có thể nói, đó là tuyệt bút trong những tuyệt bút của thơ Lê Huy Quang vậy.
nước giếng mùa xuân
ấm
và bốc hơi
và đầy vơi con gái”
(Sáng đầu năm 1973)
Ở một biến thái nào đó, ta bất chợt bắt ngặp một thoáng thơ mộng lãng mạn thật hiếm trong thơ Lê Huy Quang về tình yêu và về thôn quê. Tôi cảm nhận được cái màu mực tím rất tươi nguyên của nhà thơ tràn ra những dòng thơ này.
Tháng sáu
em về lá thư tay mùa hạ
mưa rào giăng giăng đan phố cổ
tôi thầm tên em
nét chữ nghiêng viết hoa giữa dòng vô cớ
(Tháng  sáu)
Ngơ ngác người em nơi nào về?
Làm âm vang Ga Hàng cỏ
Se se
một gió
còi tàu…
(Hành hương)
Hễ trở trời
Muỗi bay vào từ bùn ao cỏ dại
Trăng trắng liềm cao
Xóm ngủ rồi
Xóm trắng sương đông
Em ngủ rồi
Em thay lần lót trắng
(Xóm ca)
Bài thơ hiện lên trước mắt ta một bức tranh thuỷ mặc thật hoàn mỹ và tinh diệu về thôn quê đêm mùa đông của nhà thơ Lê Huy Quang. Tôi như thấy mùi khói của rơm và trấu ủ, mùi bùn và vị ngai ngái của cỏ trong tiếng côn trùng âm i thoảng lên theo làn gió phất nhẹ xa tít xa tít trên những cánh đồng mênh mông sau gặt.
Trong “cái đói dồn về phía ga” (Sóng ga), “Liêu xiêu nhịn đói/ thức ròng đi bộ” (Cảm tác nỗi niềm sân khấu), “và đói/ không phải đói riêng mình” (Bài hát mở mùa 1988) mang trên vai hành trình thơ bốn mươi năm kiếm tìm trăn trở vắt qua hai thế kỷ, tôi chợt nhận ra chân dung thật của nhà thơ Lê Huy Quang hé lộ.
Bệnh già đến với anh sớm lắm em ơi
Kết quả bốn mùa rong chơi phố
Anh không đội mũ
Phơi tóc khét màu mưa dông nắng hè
(chân dung)
Tôi lúc nào cũng đầy sương đêm (…)
Tôi tự nuôi sống mình
Đơm hoa kết trái
Rồi trở về chôn chặt
Với đất sương
(Sương)
Những quán rượu suông hoàng hôn chạng vạng
quét giọt men trầm lên tay…(…)
Tôi riêng tôi những định kiến nổi chìm
Những đêm trắng lang thang những mắt nhìn thông cảm
Không nói về mình không in thơ mình dấu diếm
Chôn chặt mình cuối thế kỷ hai mươi
(Ấn tượng Hà Nội 1985)
Cách mạng và cách tân là những việc khó đứng đầu trong các việc khó của loài người qua các thời đại. Khó đến mức, chưa tính đến sự thành bại, chỉ cần con người đủ sức và đủ kiên nhẫn theo nó, đã là thử thách vô cùng gian nan rồi. Chưa kể tới việc cách mạng và cách tân, đâu phải ai cũng muốn làm, và đâu phải ai cũng dám làm. Cách tân là một hành trình dấn thânốtáng tạo thi ca luôn luôn nằm trong sự thường trực trăn trở dằn vặt của nhà thơ Lê Huy Quang. Những con chữ cứ xô đẩy lôi kéo với một sức hút vô hình của cuộc tìm kiếm cũng vô hình như chính lực đẩy của nó vậy. Không có cách gì cưỡng lại. Và, nhà thơ cũng không bao giờ cưỡng lại, nhà thơ tự nguyện cuốn theo luồng sáng chói gắt đam mê và nghiệt ngã ấy, với một sự dâng hiến trọn vẹn.
Đó là những cuộc đi những cuộc kiếm tìm
tổng cộng những lang thang những được thua mất mát
Không có máu bởi máu đã hoà trong nước mắt
Không còn buồn khi buồn mãn tính lên ngôi
(Bài hát mở mùa 1988)
Tôi tự xếp đặt, vừa là ông chủ vừa là đầy tớ
đầy quyền hành trong tay
cắt xén
chối bỏ
đốt cháy
(Sáng đầu năm 1973)
Trong sự dâng hiến cho cuộc kiếm tìm thi ca nhà thơ Lê Huy Quang đã “lang thang vô nghĩa tận cùng” (Mùa thu), “nghĩ mình là không tưởng/ (…) Ta đi. Lơ đễnh giữa đời” (ở giữa bình yên). Nhà thơ Lê Huy Quang nhiều lúc chợt tỉnh và nhìn lại, “vu vơ nghĩ, con người liệu có hiểu nhau không?” (Tháng ba Quy Nhơn), và “vẫn biết sinh ra trên đời là vô lý” (Bài thơ thị xã); nhưng “Songle. Ta vẫn đi. Đi hoài cô đơn và không tưởng” (Giáp Tý 1984), chỉ bởi “Ai thèm danh lợi ta thèm hư vô” (Cầu vồng). Nhà thơ Lê Huy Quang, trong sự tự thức tỉnh đã chạm đến những câu hỏi lớn về ý nghĩa nhân sinh của con người, và đã có câu đáp thoả đáng về cái nghiệp lực mà người nghệ sĩ phải mang vác trong vòng xoáy vô tận của kiếm tìm thi ca và của kiếp người.
Nhà thơ, nghệ sĩ nhân dân Lê Huy Quang là một người thành đạt. Đó là một điều chắc chắn. Nhưng, với cảm nhận của tôi, tôi chưa bao giờ nhận thấy cái hài lòng viên mãn nơi con người nhà thơ Lê Huy Quang. Cả những lần gặp gần đây nhất, tôi vẫn thấy anh mải miết đăm đắm hướng đến một chân trời nào đó, có lẽ đó là chân trời của thi ca chăng?
Tôi gặp gỡ nhà thơ Lê Huy Quang vào những năm đầu của thập kỷ 80 thế kỷ trước. Vào thời gian đó, nhà thơ Lê Huy Quang thường viết những bài thơ của mình lên giấy cuốn thư, một hình thức văn bản gần giống với các văn nbản của các xã hội xưa, tức là viết xong cuộn lại, khi cần mở từ từ ra ửê đọc, và đọc xong lại cuộn lại như cũ. Thơ được nhà thơ Lê Huy Quang trân trọng đến cẩn mật như vậy đấy. Tôi cứ nghĩ, nếu nhà thơ Lê Huy Quang còn giữ được những bài thơ viết trên giấy cuốn thư ngày ấy, thì thật quý. Đã gần ba mươi năm, lần nào gặp, tôi vẫn thấy anh trẻ trung, thân mật, gần gũi và đằm thắm như xưa. Trong cảm nhận của tôi về nhà thơ Lê Huy Quang, thì bạn bè văn chương tựa như bầu không khí, nếu thiếu nó, nhà thơ Lê Huy Quang không thể sống nổi. Bởi cái nhất quán ấn định cuộc đời nhà thơ Lê Huy Quang, là thế giới bạn bè và hoài bão văn chương. Chỉ có thế giới bạn bè và hoài bão văn chương là lực đẩy duy nhất tạo hứng khởi sống – một sự sống chìm ngập trong niềm đam mê  thi ca. Trong niềm đam mê này nhà thơ Lê Huy Quang đã tìm ra được chân trời của riêng mình.
Anh tự biết mình
Quang.
Cỡ thế giới – Cỡ một con ngưòi
Thế đủ rồi
Cỡ Quang.
(Hoàng Hưng)
Hà Đông, 11/11/2009
Dương Kiều Minh
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Trăn trở cùng Dấu xưa xứ Quảng - Ký ức thành phố tiếng còi tàu

Trăn trở cùng Dấu xưa xứ Quảng
Ký ức thành phố tiếng còi tàu

Dấu xưa xứ Quảng - Ký ức thành phố tiếng còi tàu, Tản văn của Trần Trung Sáng, do Nxb Hội nhà văn vừa ấn hành. Sách khổ 14,5x20,5cm, 250 trang. Kèm theo nhiều hình ảnh tư liệu quý hiếm, giá trị. Dấu xưa xứ Quảng là chủ đề chung của bộ sách nhiều tập và Ký ức thành phố tiếng còi tàu có thể được xem là phần 1, nội dung bao gồm các tùy bút, tản văn, ghi chép về Quảng Nam, Đà Nẵng, nhằm phản ánh đời sống văn hóa, truyền thống lịch sử, những nhân tố, con người… làm nên tính cách và sự độc đáo của đất và người xứ Quảng.
Trả lời về câu hỏi, tại sao tựa đề tác phẩm có nội dung mang dáng dấp “hai trong một” và động cơ nào để tác giả xây dựng thành bộ sách nhiều tập? nhà văn Trần Trung Sáng cho biết : “ Đây là tập sách viết về Quảng Nam và Đà Nẵng, do đó dù hiện nay có sự chia tách về hành chính, thì nói chung Đà Nẵng và Quảng Nam vẫn được xem có chung một nền văn hóa xứ Quảng (hai trong một). Tập này được xem là phần 1 với tên gọi Ký ức thành phố tiếng còi tàu, có chú trọng nhiều hơn về thành phố Đà Nẵng. Các tập sau sẽ đi sâu về các địa phương và những vấn đề khác thuộc Quảng Nam. Sở dĩ, tôi hướng đến một bộ sách dài hơi về xứ Quảng, là vì ngay từ khi thực hiện tập sách Hạt bụi bay xa (Nxb Đà Nẵng, Giải thưởng văn học đất Quảng lần thứ III 2014-2018), viết về những chân dung văn nghệ sĩ xứ Quảng đã mất, tôi nhận ra còn rất nhiều vấn đề của xứ Quảng bị bỏ sót, nếu thiếu người quan tâm tìm hiểu, thâu thập, ghi chép thì dần dần sẽ bị mai một, lãng quên…”
Ngay ở những trang sách đầu tiên, ở bài viết Quà chợ, tác giả đã dẫn dắt bạn đọc gặp gỡ lại hình ảnh xưa cũ của chợ Hội An hồi thập niên 50 - 60 thế kỷ trước : “Ấn tượng đầu tiên của tôi về con đường báo hiệu nơi dẫn đến chợ, là phải ngang qua một Nhà máy đèn liên tục rống vang một thứ âm thanh nhức óc. Kế đến, là những ngôi chùa cổ kính, cổng khép kín mà chị tôi rất sợ sệt, buộc tôi phải cúi đầu khi bước ngang. Và cuối cùng, kề cận phía sau chiếc Giếng mái công cộng: Chợ - một ngôi nhà to lớn, cổng rộng mở, nơi toàn người là người, chen chúc dày nghịt xen lẫn trong tiếng gà, tiếng vịt, tiếng chào hỏi, tiếng cười đùa, tiếng chửi mắng...” . Rồi đến ngôi trường thời thơ ấu: “Ngay cả hồi còn mới tập tểnh đánh vần, với tôi, trường Nam tiểu học Hội An *(nay là trường trung học cơ sở Kim Đồng) đã là một thế giới thần tiên, kỳ diệu của tuổi thơ, bởi đơn giản, nó ở ngay ngã tư đầu xóm nhà tôi (nằm trên đoạn đầu tiên của đường  Cửa Đại – con đường nối dài phố thị ra cửa biển Hội An).Nơi đó, vào sau những giờ trường tan học, nhất là những ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ, bọn trẻ con chúng tôi thường rủ nhau trèo vào bờ tường khá thấp của ngôi trường để hái phượng, đánh bi, bắn chim, chơi trốn tìm, chia phe chơi đá bóng… Đặc biệt, ở một khoảng sân của ngôi trường này có một bản đồ Việt Nam rất lớn (khoảng chừng 100 m2), được xây bằng xi măng trải dài trên đất, có khắc họa đầy đủ các tỉnh, thành, sông núi, biển đảo… của đất nước. Tôi mê nhất là sau những ngày mưa, nước đọng lại ngập kín trên phần biển của bản đồ, chúng tôi có thể lội bì bỏm vào đó, hoặc xếp những con thuyền giấy thả trôi bềnh bồng mà tưởng tượng ra mình đang phiêu dạt giữa đại dương mênh mông…”. Bên cạnh những hoài niệm, lo toan về vết tích văn hóa cổ xưa ngày một mai một, chìm dần vào quá khứ… thể hiện qua các bìa viết như: Dấu xưa xứ Quảng, Ký ức thành phố tiếng còi tàu, Một thoáng phù hoa, Câu chuyện xóm Dinh…, tác giả vẫn có cái nhìn khá lạc quan về sự phát triển, hướng đến tương lai của quê hương: “Bây giờ Đà Nẵng đã thay đổi rất nhiều. Những con đường rộng mở thênh thang, nhiều xóm nhỏ nghèo nàn ở những khu dân cư lầy lội được thay thế bởi những khu phố mới khang trang. Ngang qua qua sông Hàn nối liền mạch sống thành phố với Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn, nay có những nhịp cầu hiện đại, được xem là điểm nhấn độc đáo của du lịch miền Trung. Cái từ "Cu Ba" không gọi cho Q3 nữa. Cầu vồng cũng biến mất để nhường chỗ cho những chuyến xe sầm uất hướng về tương lai, vẫy chào tuổi thơ và cái rạp xi-nê với những người hùng không có thực. Giã biệt tuổi trẻ cùng những đường phố, những quán xá, những câu chuyện phiếm miên man... Phải chăng trong chút luyến nhớ ngậm ngùi, người ta lại thêm thấm thía, tin yêu hơn về những đổi thay rộn ràng tất yếu của cuộc sống hôm nay” (Đà Nẵng vẫy nhìn).
Ở hai bài viết Đến làng sông tìm một dòng sông và Đặt bia tri ân Alexandre de Rhodes ở Ba Tư, tác giả khẳng định vai trò của xư Quảng trong sự ra đời và phát triển chữ Quốc ngữ. Ở bài Chuyện kể từ những tấm bản đồ, tác giả nêu cao công sức của những tâm lòng dành nhiều công sức góp phần tìm hiểu nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa như nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương, nhà nghiên cứu Trần Thắng, Chủ tịch Viện văn hóa và giáo dục Viêt Nam tại New York. Đáng chú ý, trong tập sách, để nhấn mạnh sự phát triển hình thành của Quảng Nam, Đà Nẵng, tác giả đã có cái nhìn khá tinh tế, khi nhắc đến quá trình khởi nghiệp đóng góp của những gia đình cụ thể như: gia đình ông bà Phi Anh ở bài viết Một gia đình độc đáo ở phố cổ Hội An, gia đình vợ chồng Phì Lũ ở bài viết Cổ tích một gia đình “đầu bếp”, hoặc dòng tộc Trần Trung của chính tác giả ở bài viết “100 năm lưu lạc và tiếng gọi cội nguồn”. Đồng thời, một số bài viết  nhắc lại nhiều dấu ấn của những văn nghệ sĩ từng có thời gắn bó hoặc chỉ là khách vãng lai trong câu chuyện, những cuộc gặp gỡ với Chế Lan Viên, Phạm Duy, Du Tử Lê, Phạm văn Hạng, Đinh Cường, Trịnh Công Sơn, Lê Nuôi, Thu Vàng, Mai Chửng, Phan Ngọc Minh, Lưu Công Nhân, GS Nguyễn  Đăng Hưng…
Theo nhà báo Cung Văn:  “Tác giả Trần Trung Sáng chọn tiêu đề Dấu xưa xứ  Quảng và để mở đầu cuộc tìm về, bằng Ký ức thành phố tiếng còi tàu như là một vén màn thăm dò. Thời điểm cuốn sách này đến với người đọc cũng góp phần nhạy cảm: năm thứ 20 của thế kỷ 21, một năm mà đất nước thường có những cuộc lễ lạc, hội hè đình đám kỷ niệm những sự kiện can qua. Đây cũng là cái cột mốc đánh dấu ký ức thời niên thiếu của tác giả với âm thanh phát ra từ con gà kéo (tò he trong Quà chợ) tại vùng ngoại ô Hội An…bước những bước chập chững ra chốn phồn hoa đô hội. Đà Nẵng sẽ phải “đánh thức tiềm lực” đặng các thế hệ mai sau kịp nhận thức ra rằng, thế hệ cha ông chúng từng rêu rao và cũng từng miệt thị “thành phố đáng sống hay không đáng sống?” Đúng hay không đúng? Rất mong các bạn đọc có gốc gác QN-ĐN, trẻ lẫn già, trong cũng như ngoài nước, tìm thấy thấp thoáng hình bóng của mình trong DẤU XƯA XỨ QUẢNG…, sẽ không bao giờ quá muộn, qua tác phẩm của Trần Trung Sáng”.
31/5/2020
Dương Khánh Linh
Theo https://www.vanchuongviet.org/
x

Tuổi thơ gọi về

Tuổi thơ gọi về

Chiều, một  buổi chiều êm ru của ngày đầu hạ khi cơn mưa rào vừa trút nước, tinh khôi một góc trời. Bên căn phòng của cô bé xóm trọ bỗng vang lên câu hát âm ấm mà xiết lòng: “Ngày ấy đâu rồi, ngày ấy đâu rồi, cho tôi tìm lại, một ngày ấu thơ...” Tôi đã là thiếu nữ mười tám, đã đi qua mùa tuổi thơ chẳng bao giờ trở lại, chợt thấy rưng rưng, tiêng tiếc cái “ngày ấy” đã thành dĩ vãng xa xăm.            
Tuổi thơ tôi là những tháng ngày vất vả, lấm láp. Tôi sinh ra ở miền quê với những dòng sông êm trôi, với nương dâu mươn mướt, với cánh đồng lúa vàng ươm nắng hạ. Ký ức tuổi thơ góp nhặt từ những buổi sáng tinh mơ theo mẹ đi cày, hay những ngày nắng cháy, hai mẹ con vẫn khom lưng cấy lúa. Nhớ những ngày cuốc từng nhát đất, gieo từng hạt mầm bé nhỏ, đất đai ấp ủ. Nhớ những ngày háo hức đuổi bắt chú cào cào, châu chấu bỏ vào chiếc bao tay của mẹ. Ruộng đồng đã bao bọc, chở che tôi. Cái hồn hậu của từng gốc lúa, bờ tre đã nuôi tuổi thơ lớn từng ngày.
Bỗng thèm biết mấy những “ngày ấy” có trái trứng gà vàng ươm ngọt lịm, có trái nhót chín mọng giấu trong mũ vải, có trái ổi thơm thơm nồng đượm bàn tay bà trồng, có chùm hoa dẻ thơm một cầu ao. Thèm biết mấy ngày lội đồng bắt ốc, bắt cua, lấm tấm bùn nhem mà vẫn cười tươi rạng rỡ. Nhớ biết mấy bạn tuổi thơ với những trò nghịch ngợm, những buổi trưa trốn mẹ thả diều, bắt bướm, …
Tuổi Mười tám, cái ranh giới của tuổi thơ hồn nhiên, trong trẻo và sự khôn lớn từ cả những suy nghĩ non nớt của cô bé mới lớn chập chững bước vào đời. Cánh cửa tuổi thơ vừa khép lại giữa mênh mang tuổi mười tám, giữa bao nhiêu dùng dằng, luyến tiếc. Xa quê, xa miền kí ức ăm ắp, ngọt lành, tuổi mười tám hòa lẫn vào nhịp ồn ào, náo nhiệt của phố xá, thị thành. Tôi dần quên đi một thời lấm láp, cái lấm láp đã nuôi lớn thành người. Có vô ý, cũng có cố ý. Tôi quen hơn với hương vị đăng đắng của một ly cafe thay vì cốc chanh leo ngọt ngào của mẹ, quen đi một mùi hương của xả thơm thơm mái tóc, một bát dưa cà bố muối, một bát cơm rang hai anh em tranh nhau ăn… Vậy là tôi đã quên. Bỗng nghe câu hát mà đắng đót, nhoi nhói biết chừng nào.
Người ta chẳng bao giờ lớn nếu không có một tuổi thơ. Giữa bộn bề, tấp nập của cuộc sống, giữa vô vàn những bận bịu, lo toan, ta cũng dễ quên đi ngày tháng êm đềm của tuổi thơ. Tôi cho rằng tuổi thơ là điểm tựa tinh thần vững chãi, là những gì rất đơn sơ, bình dị thôi, nhưng thiêng liêng, nhưng cao cả và ấm áp lạ thường. Nếu đời người là những chuyến đi thì miền ký ức tuổi thơ là nẻo đi về bình yên nhất.
21/5/2012
Dương Hằng
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Mùa đón nắng

Mùa đón nắng

Mỗi lần đi dưới cơn mưa bụi mùa đông, lòng tôi lại nao nao buồn. Mưa bụi giăng mắc một màu ảo vọng hiu xám. Hạ về, tôi thích thú đón những cơn mưa để bao lần ngẩn ngơ tự hỏi rằng, những giọt nắng tinh khôi sao cứ đổ về sau những cơn mưa ấy?
Màu nắng hạ vàng tươi là màu của tuổi trẻ, sức sống, của khát khao hoài bão cháy bỏng. Hạ sang chở bao vòm nắng khiến ta giật mình thảng thốt gọi tuổithơ ơi. Nhớ những buổi trưa hè nắng gắt, trốn mẹ đi bắt chuồn chuồn, bắt ve sầu cùng lũ bạn. Nhớ những ngày rủ nhau đi bắt cá tắm ao… và đi hái cả một mùa sung chát. Nhớ chiều hạ đầy gió, ta chạy nhảy thênh thang trên con đường thả cánh diều của tuổi thần tiên đầy mơ ước. Hạ đánh thức dậy cả một miền đầy nắng của tuổi thơ lấm láp.
Ngày xưa ơi… giờ tìm đâu một cánh chuồn chuồn bé nhỏ đậu cầu ao.
Ngày xưa ơi… tìm đâu một chùm hoa dẻ vội vàng thơm ngát.
Ngày xưa ơi… và giờ tìm đâu trái trứng gà vàng ươm ngọt lịm. Mỗi lần nắng hạ, kí ức tuổi thơ cứ dội về bao niềm luyến tiếc.
Hạ về. Ngỡ ngàng thương nhớ bóng dáng mẹ chốn quê nhà. Giữa những ngày gay gắt, chói chang, bỗng thương biết mấy những giọt mồ hôi rớt xuống đường cày, thương tấm lưng trần phơi nắng, thương đôi bàn tay gầy chai sạm. Nắng gợi ra sự nhọc nhằn, lam lũ. Nắng trải dài trên con đường mưu sinh vất vả.
Ngày nắng, mẹ ta gánh cả một mùa hy vọng đi về từ trên cánh đồng lúa chín.
Nắng khi ấy là nụ cười rạng rỡ của mẹ. Yêu lắm nắng ơi!
Tôi gọi những ngày mưa là những ngày buồn dài. Mưa dễ khiến người ta buồn và cô đơn, xúc cảm. Những thất bại, hay nỗi buồn trong cuộc sống tựa như những cơn mưa mùa hạ. Và người ta không thể nào sống mãi trong những cơn mưa. Dũng cảm để vượt qua những khó khăn và thử thách, ta sẽ kéo những cơn mưa đi qua và đón nắng trở về. Mãi đắm chìm trong tuyệt vọng, buồn đau thì những cơn mưa sẽ dội lạnh lòng người. Nắng về sau những cơn mưa gợi cho ta
nghĩ về một tương lai tươi sáng. Nắng là khởi đầu cho niềm vui, thành công.
Nắng xua tan những cơn mưa buồn rả rích. Nắng thắp lửa cho niềm tin và sưởi ấm lòng người. Nhưng cuộc sống cũng cần lắm những cơn mưa để biết cảm nhận,chiêm nghiệm và chín chắn. “Người ta cần những niềm vui để sống lạc quan hơn, và cần những nỗi buồn để sống sâu sắc hơn”.
Nắng là khung trời đẹp đẽ của tuổi học trò, của cánh phượng ép khô trang giấy nhỏ. Sáng nay, khi cánh cổng trường từ từ kéo mở, tôi có cảm giác lạ lam. Mùa hoa phượng  đã về. Thời gian thấm thoắt trôi qua, ba năm ngỡ sao mà ngắn ngủi. Mùa hạ này là mùa chia tay.
Rồi phải xa ban be thân yêu, xa thầy cô, xa mái trường đã đi qua tám mươi mùa mưa nắng. Chưa xa mà sao nhớ thương quá đỗi. Nắng về, trang lưu bút đượm màu buồn... Bên ngoài cánh cổng trường kia là khung trời ngập nắng – nắng gió của cuộc đời bộn bề, phức tạp. Thứ nắng sân trường mới trong trẻo và hồn nhiên biết mấy!
Cuộc sống có bao nhiêu là thứ nắng – mỗi thứ nắng tựa như một con đường đi và buộc ta phải lựa chọn. Có những thứ nắng sẽ dễ cuốn ta đi và đánh mất chính mình. Giữ mình trong dòng đời xô bồ đầy nắng ấy không phải là điều dễ dàng. Mỗi chúng ta hãy luôn tìm về với nắng trong trẻo của tuổi thơ và tuổi học trò để thanh lọc tâm hồn mình!.
24/5/2012
Dương Hằng
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Đọc "Mekong, dòng sông nghẽn mạch"

Đọc "Mekong, dòng
sông nghẽn mạch"

“Mekong, dòng sông nghẽn mạch” của nhà văn, Bs Ngô Thế Vinh là cuốn tiểu thuyết ký sự khá kỳ công, ly kỳ và hấp dẫn mà tác giả đã tận mắt đến chứng kiến. Chẳng hạn như chuyến du khảo bắt đầu từ cuộc thâm nhập con đập Mạn Loan (Manwan) thuộc Vân Nam, Trung Quốc cho đến kỳ cùng của con sông Hậu, Việt Nam, cũng như vùng Tràm chim, Tam Nông thuộc Đồng Tháp Mười khu sinh thái của các loài dã hạc quý còn lại của miền Nam, sự gặp gỡ giáo sư Võ Tòng Xuân ở đại học An Giang, đến về Bến Tre và thay lời kết Cho một dòng sông, cùng với nhiều suy nghĩ của các bậc thức giả viết về nó.
Với sự trang trải nổi lòng mình từ sự yêu mến con sông Mê Kong nói riêng và tổ quốc Việt Nam nói chung nhằm cảnh tĩnh và khuyến cáo với dân tộc và quốc gia Việt Nam hãy làm điều gì có thể trước khi sự cuồng nộ của thiên nhiên nhận chìm cả đồng bằng phì nhiêu châu thổ sông Cửu Long, với tham vọng quá dữ dội của chính quyền Bắc Kinh, chắn dòng chính Mekong làm các con đập bậc thềm trên thượng nguồn, họ chỉ muốn làm lợi cho chính quốc gia Trung Cọng bất chấp các dân tộc khác tan hoang và điêu linh, nhất là những dân tộc cuối nguồn như Cam Bốt và Việt Nam chúng ta.
Câu chuyện ông kể lại suốt hành trình khá mạch lạc và lý thú bởi nhiều chúng cứ và dữ liệu trung thực từ thực tế chuyến đi, rất may là ông cũng là nhà nhiếp ảnh nên đến đâu là có hình ảnh minh họa đến đó làm cuốn hút hơn cho người đọc, rất may là tôi đọc vài lần thấy rằng đây là quyển sách quý và dữ liệu rất đáng để độc giả Việt Nam biết càng nhiều càng tốt hầu sau nầy nếu may mắn được góp sức vào sự cải thiện dòng sông Mêkong to lớn đã đi qua 6 quốc gia: Trung Hoa, Miến Điện, Thái, Lào, Cambodia và Việt Nam. Nó nuôi sống cho hơn 60 triệu dân của các nước của dòng Mekong đi qua, đặc biệt hơn là hệ sinh thái cùng hàng ngàn loài cá nước ngọt khá phong phú.
Ví dụ như cá quậy (Bow fish) thường sống ở phụ lưu Mêkong là sông Xi‘er gần Hồ Nhĩ Hãi thuộc Đại Lý, có đặc tính ngậm đuôi vào miệng và bung nhảy, vì vậy dân làng đặt là cá quậy. Những ngư dân ở gần hồ Nhĩ Hải, cũng như dọc dông Xi’er có nuôi loài chim Cốc (Coromorants) rồi huấn luyện bắt các chú cá Bow fish, ông kể lại với giọng văn điềm tĩnh khá lý thú, tôi nghĩ ai đọc cũng thấy thích thú.
Hay là loài cá Pla Beuk, tương truyền hàng năm và khoảng tháng 4, đoàn cá Pla Beuk ngược dòng từ thung lũng Luang Prabang phía bắc Vạn Tượng, Lào về hồ Nhĩ Hải, Đại Lý hơn 2000 km để đẻ trứng, sinh sản. Nếu như ở Đại Tây dương có loài cá Hồi rất đặc biệt ngược dòng hơn 20.000 cây số rất khổ sở nhiều hiểm nguy tìm về cội nguồn nơi sinh ra để đẻ trứng duy trì nòi giống và kết thúc vòng đời, thì loài cá Pla Beuk ở MêKong cũng vậy. Thế giới sinh vật trong thiên nhiên biết bao điều kỳ thú.
Dĩ nhiên trong cuộc di chuyển trở về của loài cá Pla Beuk, ngư dân hai bên bờ sông bội thu về thực phẩm, “ngư dân Lào, Thái cho rằng cá Pla Beuk là linh ngư, đem đến vận may cho ngư dân, nó có thể dài 3m nặng đến 300kg là loài cá nước ngọt đặc biệt chỉ có ở sông Mêkong”. (Trang 64)
Từ mười năm nay, khi con đập Mạn loan(Manwan) chắn dòng 1993, người ta không còn thấy loài cá đặc biệt Pla Beuk/ Pangas Sianodon nầy lên hồ Nhĩ Hải sinh sản!!!
“Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây một sự kiện đáng ghi nhớ và gây nhiều tranh cãi là vào giữa Năm 1993 xảy ra một hiện tượng được coi là bất thường: Mực nước con Sông Mê-Kông phía hạ lưu đột ngột hạ thấp xuống mà không vào mùa khô, chỉ lúc đó người ta mới được biết lfa Trung Quốc đã xây xong con đập Mạn Loan (Manwan) và đó là thời điểm bắt đầu lấy nước từ con Sông Mê-Kông vào hồ chứa. Và họ cũng chẳng thèm thông báo gì cho các quốc gia dưới nguồn. Chỉ riêng với con đập Mạn Loan mà đã giữ tới 20% nguồn nước trên dòng chính, khúc Sông Mê-Kông chảy qua Vân Nam. Sau biến cố đó, phải nói là càng ngày càng có mối lo âu về ảnh hưởng của chuỗi đập bậc thềm Vân Nam. Mối quan tâm đó càng ngày càng gia tăng do nguyên nhân thiếu hẳn nguồn thông tin cung cấp bởi Trung Quốc.” *(Ct.Ly)
Cũng trong chuyến đi thực tế ấy, tình cờ nhưng may mắn ông gặp Giáo sư tiến sĩ Mika, người Nhật đang làm việc ở đại học Anh tại trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á (Centerfor South East Asian studies) dù không phải là chuyên môn của tác giả Ngô Thế Vinh nhưng ông cũng trao đổi về các sắc dân thiểu số, đặc biệt là các sắc dân thiểu số người Thượng ở Tây nguyên, Việt Nam. Hy vọng sau nầy ông cùng Ts Mika ấy mở rộng đề tài này.
Trong chuyến hành trình bằng thuyền xuôi dòng từ cảng Tư Mao (Simao) xuống tận bắc Thái Lan và Lào, ông mới thấy hết sự tàn phá dòng chảy của dòng sông MêKong mà Trung Hoa là thủ phạm:
“Vào tháng 4/2001, Trung Quốc đã ký một thỏa ước về thủy vận trên sông Mekong nhưng chỉ với 3 quốc gia Miến, Thái và Lào với kế hoạch vét lòng sông cả dùng cốt mìn, chất nổ phá tung những khối đá trên các đoạn ghềnh thác, các đảo nhỏ trên sông để khai thông mở rộng dòng sông cho tàu lớn với trọng tải 500 đến 700 tấn để có thể di chuyển từ cảng Tư Mao, Vân Nam xuống Chiang Khong, Chiang Sean Thái Lan tận đến thủ đô Vạn Tượng, Lào. Trong khi Cam bốt và Việt Nam là 2 quốc gia trực tiếp chịu ảnh hưởng của kế hoạch ấy lại gạt ra ngoài. Hậu quả ra sao chẳng ai lượng giá được, nhưng chắc chắn nhịp độ thiên nhiên điều hòa của dòng chảy sẽ rối loạn, ảnh hưởng dây chuyền lên hệ sinh thái sông Mê kong”.
Đọc đến đây tôi mới hiểu rằng chính quyền Trung Quốc họ thích đàm phán song phương, bởi họ dễ bề khuynh đảo được những “ông chủ” quốc gia nhỏ bé đó để làm lợi cho chính họ bất chấp những ràng buộc của quốc tế, và tàn hại mội trường sinh thái thiên nhiên khi chuyện đã rồi thì chỉ có trời mới cứu vãn được mà thôi.
Đường lên Tư Mao (Simao), cách thị trấn Cảnh Hồng 165 Km về hướng đông bắc được coi là cửa ngõ xuống phương nam ta, cũng có con đập Cảnh Hồng khởi công nắm 1998.
Hồ Điền Trì/ Dian Côn Minh và Con sông Hồng thì thế nào? Chính phủ Việt Nam có lẽ chưa biết được những gì về kế hoạch “Giải quyết môi sinh” của họ theo lối “Ném bùn sang ao” của Côn Minh nói riêng và Trung Quốc nói chung. Tác giả viết:
“Những chuỗi hồ lớn nhỏ chạy dài đến tận Hà Khẩu (Hekou) biên giới phía bắc Việt Nam, một địa hình đặc biệt của cao nguyên Vân Nam. Hồ Điền Trì/ Dian là biển hồ lớn nhất Vân Nam… Hồ có diện tích 300 Km2, phía tây là núi đồi, phía đông hồ địa hình bằng phẳng, nguyên là khu chài lưới thịnh vượng, nhưng vì ô nhiễm từ các khu kỹ nghệ bờ đông nam nên không còn nhiều cá và thực sự không còn một nền ngư nghiệp, không sao xử lý được khối nước quá ô nhiễm trong Hồ lớn Điền Trì” (nghĩa là khu công nghiệp xả nước vô tội vạ xuống hồ) và “một kế hoạch táo bạo của chính quyền Vân Nam: dự trù chi phí 2 tỷ Yuan để khai thông một đường dẫn ra sông Hồng chảy qua Việt Nam rồi đỗ ra biển Đông, sau đó thay thế bằng nước sông Dương Tử dẫn vào hồ”. Tuy chưa có kiểm chứng được bao nhiêu phần trăm kế hoạch đầy sáng tạo và độc ác của các “công trình sư Đại Hán” ấy. Làm sao ta có thể kiểm chứng khi các kế hoạch luôn bị bưng bít, dấu nhẹm” bởi chính quyền Trung Quốc.
Và điều gì sẽ xãy ra, phải chăng cả dòng sông Hồng sẽ ô nhiễm trầm trọng và cư dân Việt Nam lãnh đủ cả, nguy hiểm và tàn độc như thế nhưng biết làm sao hơn?!
Một nổi uất nghẹn tràn dâng trong cả cộng đồng dân tộc Việt chứ nào phải chỉ có người dân dọc sông Hồng, con sông lớn nhất phía Bắc tưới tiêu cho cả đồng bằng sông Hồng trù phú nuôi sống cả hang triệu người dân miền Bắc. Trung Quốc muốn xẻ vụn, xâm thực từng mảnh với dân ta, liệu rằng điều nầy chính phủ và dân tộc Việt có thấy?
Lào và giấc mơ Kuwait
Có lẽ ở Đông Nam Á, Lào là đất nước hiền lành, con sông Mekong ngang qua quốc gia này tạo nên sự trù phú cho cư dân và nuôi sống hàng triệu ngư dân dọc con sông, nhưng bây giờ ra sao?
Thực ra từ năm 1975 Lào đã có 3 đập thủy điện với quy mô nhỏ, nhằm phục vụ cho các thành phố. “Nam Ngum 30MW, thuộc tỉnh Vạn Tượng. Nam Dong 1MW thuộc tỉnh Luang Prabang và Sélabam 2 MW thuộc Champassak.
Chính phủ Lào đã vay thêm ngoại tệ để tăng công suất cho các nhà máy có sẵn đồng thời xây thêm 2 con đập. Cho tới năm 2000, điện lực công cộng Lào lên tổng sản lượng 270 MW”.
Như vậy là sản lượng điện của Lào ngoài cho nội quốc còn xuất khẩu sang các quốc gia lân cận như Việt, Thái, giấc mơ Kuwait đã thực hiện, nhưng dòng sông Mẹ (Mae Nam Khong) kiệt sức và hầu như phía dưới các con đập làm ra điện kia tan hoang, nước cạn dòng, cá tôm cũng cạn kiệt, bờ bãi trống huơ, ngư dân thưa thớt thỉnh thoảng cả ngày chỉ lưới được tí cá độ nhật, bởi trên họ cả một số con đập bậc thềm của Trung Quốc đã chặn dòng chính.
Hãy nghe tác giả viết về hồ chứa đập Nam Ngum của Lào:
“Hồ chứa đập Nam Ngum trải rộng trên một diện tích 250km2 (lớn hơn 1/3 đảo quốc Singapore) như một thắng cảnh thiên nhiên có vẻ đẹp hung vĩ với cảnh trí núi non và hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ, tuy không còn thú lớn vẫn là nơi trú ngụ của khỉ, chút, các loài chim và rắn”
Có điều thú vị là chuyến đi ấy ông tìm đến ngôi mộ của nhà thám hiểm người Pháp là Henri Mouhot (1826-1861) với các thông tin còn rất rõ ràng qua 3 lần trùng tu với cảm xúc “khó mà tưởng tượng nổi cách đây 140 năm trong cảnh hoang sơ của rừng rậm, cùng dòng sông chảy xiết, nổi hiu quạnh và can trường của H. Mouhot lớn đến dường nào”
Và điều đặc biệt nhất của xứ sở hiền hòa nầy có cánh đồng chum còn khá nhiều bí ẩn thách thức các nhà khảo cổ Lào và thế giới. “Cánh đồng Chum (Tiếng Lào: ທົ່ງໄຫຫິນ [tʰōŋ hǎj hǐn]) là một cảnh quan khảo cổ cự thạch ở Lào. Nó bao gồm hàng ngàn chum đá nằm rải rác dọc theo thung lũng và cánh đồng thấp của đồng bằng trung tâm thuộc Cao nguyên Xiengkhuang. Hầu hết chúng nằm thành từng cụm với số lượng từ một cho đến vài trăm cái chum
Cánh đồng chum là một khu vực văn hóa lịch sử gần thi xã Phonsavan, thuộc tỉnh Xiengkhuang của Lào”(2)
Một thoáng Thailand
Cũng trong ký sự này, ông ghé thăm Thái Lan, đã cho chúng ta nhiều thông tin rất thú vị nếu không đọc chắc gì biết, ví dụ trong thời chiến tranh qua các thời kỳ một số người Việt ta sang ấy tỵ nạn rồi định cư, những thăng trầm của họ đến nay đã qua 3, 4 thế hệ là dân Thái chính thức nhưng vẫn còn nhiều vấn đề với dân Thái bản xứ và những sinh hoạt của dân Việt trên đất Thái. Cũng nhân lưu lại đất Thái ít ngày ông biết khá rõ việc nhà thám hiểm Pháp Henri Mouhot từ Thái sang Lào và được vua Lào trân trọng tiếp đón, ông viết:
“Phải hơn 7 tháng trời lặn lội từ kinh đô Bangkok đến kinh dô Luang Prabang là một thị trấn quyến rũ như Genève và tại đây Mouhot được vua Tiantha đón tiếp trọng hậu”… “và chỉ hơn 3 tháng sau ông bị cơn sốt rét rừng/forest fever – có lẽ cơn sốt rét ác tính và chết ở cái tuổi 35, mộ ông đuộc chon bên bờ song Nam Khan, một phụ lưu của con sông Mekong, con chó Tin Tin của ông hằng ngày bên mộ chủ tru lên” những tiếng thống thiết.
Dịp nầy ông cũng đến được hang Phật bản Pak Ou, nằm êm đềm ở tả ngạn sông Mekong, Pak Ou caves là tên chỉ chung 2 hang Phật Tam Ting (Hang dưới) và Tam Phum (Hang trên), ông cũng chẳng ngờ được rằng nơi đây dung chứa đến 4000 tượng Phật cổ từ hơn 300 năm trước, được biết nơi đây cũng nổi tiếng linh thiêng người dân thường đến dâng lời cầu nguyện.
Hay là cũng từ nơi đây ông được thấy tận mắt và trao đổi với ngư dân cũng như chụp được con cá Pla Beuk, tuy con cá chỉ 45kg và cá Irrawady. Cả 2 loại cá nầy đứng trước sự tuyệt chủng vì môi trường ô nhiễm trầm trong và khai thác cạn kiệt.
Có một điều kinh ngạc nữa mà rất ít người biết, nhân chuyến đi của nhà văn Ngô Thế Vinh đã tiếp xúc “Làng tiền sử Ban Chiang”.
Ban Chiang (tiếng Thái: บ้านเชียง, phát âm tiếng Thái: [bâːn tɕʰīa̯ŋ]) là một địa điểm khảo cổ học nổi tiếng nằm ở huyện Nong Han, tỉnh Udon Thani, Thái Lan. Nó được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 1992(1) mà theo tác giả có lẽ văn minh cổ xưa nhất là thời kỳ đồ đồng của con sông Mekong bị vùi lấp, được coi là sự phát hiện quan trọng của vùng Đông Nam Á từ sau thế chiến II, tác giả viết :
“Như một giai thoại cách đây 44 năm, năm 1966 một sinh viên khảo cổ học người Mỹ khi đi vào cánh đồng của khu làng Ban Chiang anh đã bị vấp ngã trên một gốc cây bông gạo kapok và chẳng thể ngờ rằng anh đã ngã vào một kho tàng cổ sử.
Quanh anh là vô số mảnh sành nhô ra từ mặt đất. Anh thu thập những mảnh vỡ ấy.
Gửi về Bankok, sau đó đại học Pannsylvania để nghiên cứu ”…” khá trễ sau 4 năm, các nhà khoa học khảo cổ Mỹ + Thái mới khai quật có hệ thống. Chỉ trong 2 năm họ đã đào được 18 tấn di chỉ gồm các dụng cụ bằng đồng, bình chậu sứ, cả đồ dệt và hài cốt trong ngôi mộ cổ. Nghiên cứu cho biết đây là ngôi mộ cổ hơn 5000 năm, và có lẽ thú vị nhất là các vật dụng bằng đồng được đúc cách đây hơn 3600 năm TCN- nghĩa là sớm hơn các đồ đồng cổ xưa nhất của Trung Đông 500 năm. Phát hiện nầy đã phủ nhận luận cứ cho rằng kỹ thuật luyện đồng khởi đầu từ lưu vực song Tigris và Euphrates năm 3000 TCN, cũng phủ nhận luôn rằng giả thiết đồ đồng từ Trung Quốc du nhập về phương Nam (Đồ đồng cổ nhất của Trung Hoa chỉ 2000 năm TCN)
Như vậy có thể nói rằng kỹ thuật luyện đồng từ Đông Nam Á du nhập sang Trung Hoa thay vì ngược lại. Đó chưa kể với những trang sức bằng đồng rất mỹ thuật phản ảnh một xã hội thái hòa có văn hóa cao chứ không man di như Trung Hoa nhận định”.
Như vậy, trên dòng sông Mekong có 2 quốc gia: Lào, Thái Lan nhỏ hẹp nhưng có hai điều bí ẩn là: Cánh đồng Chum và làng Ban Chiang, không hiểu thế nào lại đồng loạt biến mất và nhân loại hầu như quên lãng.
Cambodia, Tonlé Sap và Biển Hồ
Xứ sở chùa Tháp với quần thể kiến trúc Ankor khá đồ sộ nhưng đã suy tàn từ rất xưa xa thế kỷ XIII, tác giả đến xứ sở này chỉ là ghé tham quan đúng nghĩa, chứ không có mục đích lớn hơn, cái quan tâm của ông là con sông Mekong, biển Hồ. Tuy vậy đứng trước Ankor Wat buổi bình minh ông cũng cảm nhận được điều mình nhận ra từ kiến trúc nầy. Ông viết:
“Bước lên những bậc thang, đi vào khu đền đài với hàng ngàn thước đá chạm trổ như pho sử đá cảnh trần gian,vươn lên là các tượng đá hùng vĩ gây cảm giác choáng ngợp để tưởng như thời gian ngưng lại cho phút trầm tư phù du về một triều đại, kiếp người”
Từ Siem Reap bằng thuyền máy về hướng nam ra đến khu Chong Khnea còn gọi khu làng nổi của người Việt, lòng chùng xuống với biết bao nổi thống khổ của người Việt nghèo, cuộc sống quanh quẩn với Biển Hồ làm sao cho thế hệ phía sau khá hơn, không thể khá được bởi hoàn cảnh con đông kiếm cái ăn đã rã rời và họ sống như công dân hạng hai ở xứ sở ấy.
Ông viết:
“Nguồn tài nguyên phong phú của Biển Hồ đã thu hút các sắc dân từ các nơi đỗ tới, và hình thành khu làng nổi trên Biển Hồ, nếp sống ấy hầu như không thay đổi hàng trăm năm nay”… ”Tới khu làng nổi là tới với vẻ đẹp của một sinh cảnh thiên nhiên đồng lầy còn hoang dã, những khu làng nổi cũng di chuyển theo mùa tùy theo nước lên xuống. Bình minh hay hoàng hôn trên khu làng nổi là một trong những cảnh quan tuyệt đẹp của Biển Hồ”.
Tới Tràm chim vùng sinh thái Prek Toal:
Thuyền máy băng băng qua Biển Hồ hướng về nam để tới Prek Toal, thuộc tỉnh Battambang lại là khu làng nổi khác của người Khmer, nơi có văn phòng Sở Bảo tồn Biển Hồ (Environmental Reseach Station for Tonlé Sap Biosphere Resever), diện tích Biển Hồ tùy theo mùa nước, khi hồ cạn có thể 2500km2, nhưng mùa mưa nước dâng, nước chảy ngược từ Tonlé Sap vào Biển Hồ, có thể nước dâng cao từ 8-10 met, diện tích có thể lên 12.500km2 tức gấp 5 lần so với mùa khô, thực phẩm và cá ở đây rất phong phú quyến rũ nhiều loài chim về sinh sống, vì vậy sắc lệnh Hoàng gia tháng 11/1993 qui định Biển Hồ Tonlé Sap là khu Đa dạng bảo tồn (Multiple Use Protected Areas), tới tháng 10/1997 Biển Hồ mới được Unesco công nhận là Khu bảo tồn sinh thái (Biosphere Reserve).
“Để quản lý, Khu bảo tồn sinh thái được chia làm 3 khu: Khu trung tâm (Core), Khu Đệm (Buffer zones). Mục đích lâu dài là bảo vệ các khu trung tâm để tương lai trở thành công viên Quốc gia.
Ba khu trung tâm bảo tồn là:
1. Prek Toal rộng 31.282 ha
2. Boeng Tole Chhmar hay Moat Kla rồng.969 ha
3. Stung Sen 6.586 ha.
Khu sinh thái nầy hơn 190 chủng loại sống dưới nước, riêng loài cá có hơn 200 loài, khảo sát sơ khởi còn cho biết hàng trăm loài chim, trong đó có 12 loài được cho là quý hiếm đối với thế giới.
Rừng lũ Biển Hồ còn là sinh cảnh các loài bò sát, loài có vú, 23 loài rắn, 13 loại rùa, 1 loài cá sấu, vượn, khỉ, mèo, báo, rái cá v.v”…
Cũng may tác giả điện thoại trước cho người quản lý khu bảo tồn tên là Meas nên anh hổ trợ phương tiện trong công việc quan sát, ghi lại hình ảnh cũng như trao đổi khá trôi chảy, nhà văn còn biết thêm “thời gian lý tưởng để thăm Tràm chim từ tháng giêng đến tháng ba, cũng là mùa nước cạn (cùng thời gian với Tràm chim Tam Nông, Đồng Tháp Mười). Được biết những loài chim cần được bảo vệ như: Spot Billed Pelican/ Chim Bồ nông mỏ đốm, Oriental Darter/ Bồ nông cổ rằn Đông Phương, Lesser Adjutant, Black Necked Stork/ Sếu cổ đen, Painted Stork/ Sếu vằn, Milky Stork/ Sếu sữa, Glossy Ibis/ Cò quăm, Grey-headed Fish Eagle/ Chim ưng đầu xám”…
Khi lưu lại ở Cam Bốt nhà văn có dịp thăm vài bệnh viện và có gặp bác sĩ Beat Richner gốc Thụy Sĩ là giám đốc 3 bệnh viện: – Bệnh viện Jayavaman, bệnh viện Katha Bopha 1 và 2. Beat Richner cũng là nhạc sĩ cello, một khuôn mặt huyền thoại của Cambodia dù bận rộn về công việc chuyên môn ông cũng không quên mỗi tối thứ bảy bao giờ cũng có buổi hòa nhạc Back ở bệnh viện để gây quỹ nhưng vào cửa tự do khá thú vị, người nghe nhạc phần đông là du khách ngoại quốc tới thăm khu đền Ankor.
Về Miền tây Nam bộ và Đại học An Giang
Khi trở về Tây nam bộ ông phải gặp bằng được giáo sư Võ Tòng Xuân đang là “viện trưởng viện đại học An Giang”, một đại học non trẻ mới “thôi nôi” bởi đã trao đổi với nhau nhiều lần (kỳ thinh) nhưng chưa tận mặt mày bởi ông biết rõ vị giáo sư nầy có cả tấm lòng “khai dân trí, chấn dân khí” cho sinh viên trường và “hậu dân sinh” với người dân đồng bằng miền tây nầy khi ông theo dõi dòng chảy của con sông Mekong từ khi Trung Quốc bắt đầu chắn dòng cho con đập Mạn Loan cho đến nay, nhà văn Ngô Thế Vinh viết:
“Phải nói rằng số lượng giảng viên của nhà trường còn rất hạn chế, với sĩ số 600 chỉ 50% có bằng thạc sĩ (Master) và tiến sĩ (Ph.D). Qua các em tôi được biết các giảng viên trẻ của Đại học An Giang đi ngoại quốc học thêm để tăng cường chất và lượng cho ban giảng huấn.
Ngoài ra “Gs Xuân còn còn những dự án dỡ dang khác:
1. Tìm gène giống lúa mới chịu được nước lợ do Cửu Long cạn dòng và thêm nhiễm mặn
2. Vận động nông dân ĐBSCL áp dụng kế hoạch “3 giảm, 3 tăng” trong đó giảm thuốc trừ sâu nhiễm độc tới mức độ nguy hiểm cho môi trường sống
3. Lập khu bảo tàng cây lúa ĐBSCL với sưu tập các nông cụ mà tiền nhân sử dụng từ thưở khai hoang”
Ngoài ra nhà văn, Bs Ngô Thế Vinh cũng quay về thăm nhiều vùng nữa trên miền tây Nam bộ thân yêu chịu ảnh hưởng trực tiếp với sự nghẽn mạch của dòng sông Mekong bởi các con đập bậc thềm của dòng chính mà thủ phạm là Trung Quốc cộng với những đập thủy điện khác của Thái, Lào…, hầu như họ chỉ thấy cái lợi trước mắt cho quốc gia họ và bất biết những quốc gia phía hạ nguồn thế nào và hệ lụy đến nay các độc giả đã rõ.
Tiếng thở dài ngao ngán của ông với nỗ lực cá nhân thâm nhập có thể nguy hiểm cả tính mạng, để có dữ liệu đầy đủ hầu đóng góp cho đất nước, cũng có thể là tiếng thở dài của toàn dân tộc, không biết rồi đây chính phủ đương thời có giải pháp nào khả dĩ giải quyết yên bình đời sống để thần dân của miền tây Nam bộ nói riêng và cả đồng bằng Cửu Long – vựa lúa châu thổ ấy còn tiếp tục cung cấp lương thực nuôi sống cả toàn dân tộc Việt Nam, chứ đùng nói đến xuất cảng.
Để kết thúc bài này tôi trích một đoạn của Long Ân-Người Việt (12/2001)
“Con người phương Đông đang gặp đại nạn khoa học kỹ thuật mà con người phương Tây đã từng thọ nạn ở đầu thế kỷ 18. Ô nhiễm chính trị, ô nhiễm nhân văn và thê thảm nhất là ô nhiễm môi sinh…chỉ mới hôm qua, Enstein đã hốt hoảng tìm một lương tri cho khoa học qua con đường của đạo học. Ông cho rằng “Khoa học không tôn giáo thì què quặt, tôn giáo không khoa học thì mù lòa”
Còn nhiều điều nữa rất bổ ích và thú vị, hy vọng các độc giả sẽ đọc được để thấy sự thật trong chừng mực đã có trong 320 trang sách: Mekong Dòng sông nghẽn mạch của bác sĩ, nhà văn Ngô Thế Vinh đã dày công cũng từ lòng yêu mến con sông và trên hết là tổ quốc và dân tộc.
20/5/2022
Ngã Du Tử
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...