Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2025
"Hai mươi năm thơ đổi mới" suy tưởng về thơ ca và sự vận hành của thư pháp
"Hai mươi năm thơ đổi mới" suy tưởng về
Bản chất của sáng tạo là luôn luôn đổi khác. Dù là sáng tạo khoa học – kỹ thuật hay văn học – nghệ thuật, hoặc các sáng tạo khác trong đời sống và xã hội. Nếu là sáng tạo thì phải tạo ra, mang đến một cái gì đổi thay, khác biệt so với cái trước đó. Đương nhiên, sản phẩm của sáng tạo chỉ có thể phát huy khi sản phẩm đó đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của con người và xã hội của thời đại đó. Mặc nhiên, có nhiều sáng tạo thuộc lĩnh vực tinh thần và một số ngành khoa học lý thuyết khi ra đời vấp phải khá nhiều sự chống cự quyết liệt của thời đại đó. Do lớp vỏ thói quen của nhận thức của thời đại đó được bao bọc nhiều lớp quá dày và cứng, nên không thể tiếp nhận được cái ánh sáng quá mới mẻ mạnh mẽ của sáng tạo làm choáng ngợp. Trở ngược theo tiến trình của lịch sử nhân loại, ta thấy có nhiều sáng tạo đã bị ruồng bỏ chà đạp và trầm luân trong thời đại của nó, nhưng những sáng tạo đó không bị triệt tiêu, và nó tiếp tục được đón nhận trong ánh sáng rực rỡ ở chân trời của một thời đại khác.
Đọc thơ Lê Huy Quang, tìm "Cỡ Quang - Cỡ một con người"
Đọc thơ Lê Huy Quang, tìm
"Cỡ Quang - Cỡ một con người"
Trong cõi vụt hiện của nhà cách tân thơ Hoàng Hưng
vút lên hai cột sáng, là bài thơ cặp đôi: Quang I, Quang II. Bài thơ
cặp đôi này được viết trong thời kỳ sung mãn nhất cuộc cách tân bền bỉ của nhà
thơ Hoàng Hưng.
Bạn ơi
Ai biết có anh trên đời?
Anh tự biết mình
Quang.
Cỡ thế giới – cỡ một con người
Thế đủ rồi
Cỡ Quang.
(Quang I – Hoàng Hưng)
Trong một không gian thơ thật hiện đại “xô-lếch dài/ Đêm tóc/
Môi lang thang”, hiện lên chân dung Lê Huy Quang “cỡ Quang”, “cỡ một con người”.
Bài thơ cặp đôi: Quang I, Quang II của nhà thơ Hoàng Hưng, được in
trong tập Ngựa biển năm 1988. Có những đoạn thơ trong hai bài thơ này
đã tiêu tốn không ít giấy mực và thời gian đàm luận xung quanh nó vào lúc tập
thơ Nghe biển ra đời. Câu chuyện về cuộc cách tân thơ vẫn còn vang
vang đâu đó, thế mà đã hai mươi năm vắt qua hai thế kỷ.
Tập thơ Phải khác của nhà thơ Lê Huy Quang, gồm 108
bài trong một hành trình thơ 40 năm: 1968-2008. Theo nhà thơ Lê Huy Quang cho
biết, đây mới chỉ là phần I, còn phần II của Phải khác sẽ tiếp tục được
ra mắt bạn đọc.
Bài thơ Giêng Xuân được nhà thơ Lê Huy Quang viết
và hoàn thành vào thời gian: 1966-1968. Sau 25 năm, nhà thơ Trúc Thông, một trụ
cột của thơ cách tân, đã chép lại bài thơ này từ một cuốn sổ, và đã bình bài
thơ trong sự trang nghiêm sâu sắc đầy xúc cảm. Lời bình của nhà thơ Trúc Thông
và bài thơ Giêng Xuân đã được in trên tuần báo Văn nghệ từ năm 1994.
Phải mường tượng cái không khí và diện mạo của sáng tác thơ Việt Nam những
năm 60-70 của thế kỷ trước, mới thấy hết sức mới của bài thơ Giêng
Xuân. Lúc này, tôi thấy bài thơ vẫn cần được chép lại nguyên văn bằng bút mực,
viết nắn nót theo kiểu chữ bút thiếp:
mương nước sáng bờ cây chiều
dẫy dẫy
cột đèn
chim rũ cánh mưa
em đi làm rửa chân gầu giếng ấm
ao xóm
cầu về
gái xóm
Giêng rồi
thấp thoáng
áo em giêng
Về cấu trúc các câu thơ và cấu trúc toàn bài thơ Giêng
Xuân của nhà thơ Lê Huy Quang, nhà cách tân thơ Trúc Thông đã có lời bình
thật chí lý và thấu suốt: “Hình khói từ ngữ bố trí như thế nào trên không gian
mặt giấy trắng là rất quan trọng. Về cả thẩm mỹ nhìn lẫn thẩm mỹ cảm. Ở bài thơ
này cần rất thoáng, sáng. Để gọi thêm lên màu sáng trong bút pháp. Gọi thêm lên
cảm giác trong, ẩm và tươi”.
Giờ đọc,vẫn thấy nguyên cái tươi mới của cảm xúc, tràn ngập
phong vị và vẻ đẹp trong trẻo đến trong ngần của đồng nội vào tiết giêng hai,
trước tình yêu trong sự nâng niu trân trọng thật cảm động của nhà thơ.
Nhà thơ Trúc Thông đã nói rất hay và hàm súc về hiệu quả của
cấu trúc những câu thơ trên không gian mặt giấy. Nhà thơ Lê Huy Quang tiếp tục
sự cách tân này trong các sáng tác thơ của anh.
Mưa
Mưa nối những chiều
Một
nét
buồn
thẳng
đứng
Nghe nong tằm ăn dâu
(Phong cảnh)
Những cơn mưa với “những sợi tơ mưa nối đất lên trời”, và những
cơn mưa nối những buổi chiều bằng “một nét buồn thẳng đứng” trong sự trong suốt
tĩnh lặng của một không gian nơi miền ven bãi, chợt vang lên tiếng tằm ăn dâu “nghe
nong tằm ăn dâu”. Một cấu trúc thơ thật hoàn hảo, hiện đại và gợi cảm, những
không gian cứ tiếp tục được mở ra từ những câu thơ.
Phơi trần mình
gió trưa
cát trưa
nắng trưa
muối biển nhuộm màu mây trắng
em – xuôi – một – dải – chân trời…
(Biển động)
Viết về biển trưa như vậy thì thật tinh diệu. Giữa gió,
cát, nắng của buổi trưa “muối biển nhuộm màu mây trắng”, trước cái không
gian khoáng rộng bao la ngút ngát cao vút và tĩnh lặng một buổi trưa của biển,
thì hình ảnh người thiếu nữ nằm “phơi trần mình” ấy giống như một dải chân
trời “em – xuôi – một – dải – chân trời”.
Chỗ anh đứng lâu ngày
lõm
xuống
thụ thai người gác cổng
thức
canh em!!!
(Thanh âm)
Viết về tình yêu và sự chờ đợi trong tình yêu như vậy, thật
quá mãnh liệt, mạnh bạo và thật sự mới mẻ. Nó mạnh mẽ và ở cấp độ cao hơn nhiều
việc trồng cây si trước cửa nhà người yêu mà ta từng nghe. Cái chỗ “lõm
xuống” do “đứng lâu ngày” trong cuộc tình đó, giờ chỗ lõm ấy đã thụ
thai thành người gác cổng thức muôn đời, để canh em, canh cuộc
tình.
Lại vẫn là tình yêu, nhưng trong một bài thơ khác, nhà thơ Lê
Huy Quang biến ảo thành những sắc thái khác, trong một sự chuyển động khác.
Em
Là vòng tròn khép kín những vòng tròn
Từ cái trung gian
em biến những bắt đầu ra sự cuối
Anh lại quẩn quanh những vòng tròn nối,
gấp
khúc
đường
em.
(Người con gái ấy)
Dưới đây là một đoạn thơ trong bài thơ “Bài hát mở mùa 1988”
của nhà thơ Lê Huy Quang. Tôi tự nghĩ, nếu giả định đây là bài thơ đứng riêng
biệt, thì đoạn thơ này đã là một bài thơ hoàn chỉnh và rất mới của nhà thơ Lê
Huy Quang.
Riêng ta và em vẫn lầm lỳ
Ngồi trên chiếc xe chở than tổ ong chậm rãi
Con bò lặng lẽ kéo đi
Trườn lên đầu dốc nắng
Và mảnh khăn che mặt em đen thẳm
Cũng… bay… đi.
Đó chính là vẻ đẹp chân thực nhất song tồn, ẩn tồn trong cuộc
sống lam lũ tất bật hàng ngày của con người. Cái đẹp trong bài thơ hiển lộ thật
đột xuất trên nền của một không gian một khung cảnh của sự lam lũ, một đôi nhân
tình ngồi trên chiếc xe chở than tổ ong chậm rãi, con bò lặng lẽ kéo đi,
chiếc xe trườn lên đầu dốc nắng.
Và mảnh khăn che mặt em đen thẳm.
Cũng… bay… đi.
Đọc thơ Lê Huy Quang mới thấy “ngoài trời lại có trời”. Trên
thi đàn rộng lớn, trong cuộc cách tân tìm tòi muôn hình muôn vẻ ta ngỡ đã gặp một
cái mới, lại gặp tiếp một cái mới, rồi cái mới tiếp nữa. Như tôi đã nêu, phải
mường tượng trở lại với cái không khí và sáng tác thơ của nước ta từng chiếm
lĩnh thập kỷ 60-70 của thế kỷ trước, mới thấy hết sự cách tân tìm tòi của nhà
thơ Lê Huy Quang mới mẻ đến mức nào. Cái sức mới sự cách tân tìm tòi
của nhà thơ Lê Huy Quang, nay đọc ta vẫn cảm nhận được đầy đủ cái tinh khôi
trong trẻo và mới lạ thuở đó.
Tôi lọc sạch mùa đông qua đế giày cao cổ
tất những viễn cận liên quan nhau
vòng hút đất sinh sôi
ngoài lề trang vở học sinh tôi nằm dài thừa thãi (…)
mùa đông này
tôi đi trắng những phố chợ mưa phùn
tôi đồng loã
mọi gánh hàng em mọi ngả
nhưng tự tôi lọc sạch mình qua đế giày cao cổ.
(Tự khúc đông)
Nhà thơ đã lãng du cùng mùa đông đi trắng những phố chợ
đêm mưa phùn, rồi lọc sạch mùa đông và tự lọc sạch mình
qua đế giày cao cổ. Để rồi “ngoài lề trang vở học sinh tôi nằm dài thừa
thãi”. Từ lề trang vở học sinh ấy, câu thơ đã vút một tấm thảm lớn
bay cùng mây trắng trời xanh, mang theo những gì vô tư lự, trong trẻo và lãng mạn.
Thơ Lê Huy Quang cách tân tìm tòi là thế, có nhiều câu thơ của
nhà thơ Lê Huy Quang lạ đến quá mức. Nhưng ta cũng bắt gặp rất nhiều
câu thơ khác của nhà thơ Lê Huy Quang thật dung dị, sâu sắc và tinh tế viết về
mẹ, về quê về mùa và về tình yêu. Những câu thơ của Lê Huy Quang khi viết về mẹ
bao giờ cũng gan ruột, sâu đằm và thấu tỏ:
Khói chiều sém hoàng hôn mẹ chợ muộn về
lẫn trong màu tím của đường ngói đầu tiên (…)
và giờ đây
con trai mẹ đi từ lúc nào không nhớ nữa
là nước mắt
là lửa
là nắng mưa sương gió
đã chín dần trong sức lớn bàn chân
(Những bài hát ru là mẹ)
Con không nói tròn lời về mẹ
Bài thơ cuộc đời
Mẹ viết bằng máu và nước mắt cho con (…)
Mỗi bước mẹ đi hằn trên đắng cay vất vả
tóc bạc
mắt sâu
lưng còng
vội vàng
tất tả (…)
Mẹ ơi
mãi mãi đến bao giờ?
Con vô vọng trước nỗi buồn mắt mẹ
Nếu buông vào cõi hư vô yên nghỉ
mẹ hãy cho cùng con đi…
(Mẹ)
Mẹ ơi. Bảy mươi sáu rồi. Bao giờ mẹ mới có được niềm vui? Mở
Giáp Tý 1984. Con vẫn chờ và tin rằng hết Ba mươi sẽ phải là Mùng Một. Phải
khác đi!
(Giáp Tý 1984)
Mẹ ơi
Sang canh về
mẹ mở cửa
Khác ba mươi.
(Giao thừa)
Người mẹ luôn hiện ra trong thơ của nhà thơ Lê Huy Quang như
là một chỗ dựa duy nhất của cuộc đời. Những dòng thơ về mẹ là nỗi niềm thầm kín
nhất trong cõi lòng sâu thẳm của nhà thơ. Những dòng thơ về mẹ là những dòng
thơ ký thác của nhà thơ Lê Huy Quang. Đối với nhà thơ mẹ là một cõi cứu rỗi.
thơ Lê Huy Quang đã có những câu thơ thật tinh tế và ấn tượng
xao động, xao xác trước sự chuyển động của thời tiết, của mùa trong một ngày,
trong một mùa, trong một năm và trong cả đời người. “Chao ơi lá mùa mùa đi qua.
Mùa mùa lãng quên. Và mùa mùa mất mát”(Tháng ba Quy Nhơn); “Đã lâu rồi im mưa/
Thu khẽ dấu một mùa lá đỏ” (Mùa thu); “Ngước lên trời cao. May còn
mùa thu rực cháy” (Mốt và em); “Hàng cây cơm nguội vô tư thay áo vào
đông/ Ta cúi nhặt chiếc lá vàng hờ hững chờ ôtô buýt” (Bài hát mở mùa
1988); “Bốn mùa lá gội bốn mùa quen quen” (Những khúc hát em)
Thơ về mùa xuân, về nước giếng xuân và thôn nữ, thật trong trẻo
và ấm sáng đến vô gần. Có thể nói, đó là tuyệt bút trong những tuyệt bút của
thơ Lê Huy Quang vậy.
nước giếng mùa xuân
ấm
và bốc hơi
và đầy vơi con gái”
(Sáng đầu năm 1973)
Ở một biến thái nào đó, ta bất chợt bắt ngặp một thoáng thơ mộng
lãng mạn thật hiếm trong thơ Lê Huy Quang về tình yêu và về thôn quê. Tôi cảm
nhận được cái màu mực tím rất tươi nguyên của nhà thơ tràn ra những dòng thơ
này.
Tháng sáu
em về lá thư tay mùa hạ
mưa rào giăng giăng đan phố cổ
tôi thầm tên em
nét chữ nghiêng viết hoa giữa dòng vô cớ
(Tháng sáu)
Ngơ ngác người em nơi nào về?
Làm âm vang Ga Hàng cỏ
Se se
một gió
còi tàu…
(Hành hương)
Hễ trở trời
Muỗi bay vào từ bùn ao cỏ dại
Trăng trắng liềm cao
Xóm ngủ rồi
Xóm trắng sương đông
Em ngủ rồi
Em thay lần lót trắng
(Xóm ca)
Bài thơ hiện lên trước mắt ta một bức tranh thuỷ mặc thật
hoàn mỹ và tinh diệu về thôn quê đêm mùa đông của nhà thơ Lê Huy Quang. Tôi như
thấy mùi khói của rơm và trấu ủ, mùi bùn và vị ngai ngái của cỏ trong tiếng côn
trùng âm i thoảng lên theo làn gió phất nhẹ xa tít xa tít trên những cánh đồng
mênh mông sau gặt.
Trong “cái đói dồn về phía ga” (Sóng ga), “Liêu
xiêu nhịn đói/ thức ròng đi bộ” (Cảm tác nỗi niềm sân khấu), “và đói/
không phải đói riêng mình” (Bài hát mở mùa 1988) mang trên vai hành trình
thơ bốn mươi năm kiếm tìm trăn trở vắt qua hai thế kỷ, tôi chợt nhận ra chân
dung thật của nhà thơ Lê Huy Quang hé lộ.
Bệnh già đến với anh sớm lắm em ơi
Kết quả bốn mùa rong chơi phố
Anh không đội mũ
Phơi tóc khét màu mưa dông nắng hè
(chân dung)
Tôi lúc nào cũng đầy sương đêm (…)
Tôi tự nuôi sống mình
Đơm hoa kết trái
Rồi trở về chôn chặt
Với đất sương
(Sương)
Những quán rượu suông hoàng hôn chạng vạng
quét giọt men trầm lên tay…(…)
Tôi riêng tôi những định kiến nổi chìm
Những đêm trắng lang thang những mắt nhìn thông cảm
Không nói về mình không in thơ mình dấu diếm
Chôn chặt mình cuối thế kỷ hai mươi
(Ấn tượng Hà Nội 1985)
Cách mạng và cách tân là những việc khó đứng đầu trong các việc
khó của loài người qua các thời đại. Khó đến mức, chưa tính đến sự thành bại,
chỉ cần con người đủ sức và đủ kiên nhẫn theo nó, đã là thử thách vô cùng gian
nan rồi. Chưa kể tới việc cách mạng và cách tân, đâu phải ai cũng muốn làm, và
đâu phải ai cũng dám làm. Cách tân là một hành trình dấn thânốtáng tạo thi ca
luôn luôn nằm trong sự thường trực trăn trở dằn vặt của nhà thơ Lê Huy Quang.
Những con chữ cứ xô đẩy lôi kéo với một sức hút vô hình của cuộc tìm kiếm cũng
vô hình như chính lực đẩy của nó vậy. Không có cách gì cưỡng lại. Và, nhà thơ
cũng không bao giờ cưỡng lại, nhà thơ tự nguyện cuốn theo luồng sáng chói gắt
đam mê và nghiệt ngã ấy, với một sự dâng hiến trọn vẹn.
Đó là những cuộc đi những cuộc kiếm tìm
tổng cộng những lang thang những được thua mất mát
Không có máu bởi máu đã hoà trong nước mắt
Không còn buồn khi buồn mãn tính lên ngôi
(Bài hát mở mùa 1988)
Tôi tự xếp đặt, vừa là ông chủ vừa là đầy tớ
đầy quyền hành trong tay
cắt xén
chối bỏ
đốt cháy
(Sáng đầu năm 1973)
Trong sự dâng hiến cho cuộc kiếm tìm thi ca nhà thơ Lê Huy
Quang đã “lang thang vô nghĩa tận cùng” (Mùa thu), “nghĩ mình là không tưởng/
(…) Ta đi. Lơ đễnh giữa đời” (ở giữa bình yên). Nhà thơ Lê Huy Quang
nhiều lúc chợt tỉnh và nhìn lại, “vu vơ nghĩ, con người liệu có hiểu nhau không?”
(Tháng ba Quy Nhơn), và “vẫn biết sinh ra trên đời là vô lý” (Bài thơ thị xã);
nhưng “Songle. Ta vẫn đi. Đi hoài cô đơn và không tưởng” (Giáp Tý 1984), chỉ bởi
“Ai thèm danh lợi ta thèm hư vô” (Cầu vồng). Nhà thơ Lê Huy Quang, trong sự tự
thức tỉnh đã chạm đến những câu hỏi lớn về ý nghĩa nhân sinh của con người, và
đã có câu đáp thoả đáng về cái nghiệp lực mà người nghệ sĩ phải mang vác trong
vòng xoáy vô tận của kiếm tìm thi ca và của kiếp người.
Nhà thơ, nghệ sĩ nhân dân Lê Huy Quang là một người thành đạt.
Đó là một điều chắc chắn. Nhưng, với cảm nhận của tôi, tôi chưa bao giờ nhận thấy
cái hài lòng viên mãn nơi con người nhà thơ Lê Huy Quang. Cả những lần gặp gần
đây nhất, tôi vẫn thấy anh mải miết đăm đắm hướng đến một chân trời nào đó, có
lẽ đó là chân trời của thi ca chăng?
Tôi gặp gỡ nhà thơ Lê Huy Quang vào những năm đầu của thập kỷ
80 thế kỷ trước. Vào thời gian đó, nhà thơ Lê Huy Quang thường viết những bài
thơ của mình lên giấy cuốn thư, một hình thức văn bản gần giống với các
văn nbản của các xã hội xưa, tức là viết xong cuộn lại, khi cần mở từ từ ra ửê
đọc, và đọc xong lại cuộn lại như cũ. Thơ được nhà thơ Lê Huy Quang trân trọng
đến cẩn mật như vậy đấy. Tôi cứ nghĩ, nếu nhà thơ Lê Huy Quang còn giữ được những
bài thơ viết trên giấy cuốn thư ngày ấy, thì thật quý. Đã gần ba mươi năm, lần
nào gặp, tôi vẫn thấy anh trẻ trung, thân mật, gần gũi và đằm thắm như xưa.
Trong cảm nhận của tôi về nhà thơ Lê Huy Quang, thì bạn bè văn chương tựa như bầu
không khí, nếu thiếu nó, nhà thơ Lê Huy Quang không thể sống nổi. Bởi cái nhất
quán ấn định cuộc đời nhà thơ Lê Huy Quang, là thế giới bạn bè và hoài
bão văn chương. Chỉ có thế giới bạn bè và hoài bão văn chương là lực đẩy duy nhất
tạo hứng khởi sống – một sự sống chìm ngập trong niềm đam mê thi ca.
Trong niềm đam mê này nhà thơ Lê Huy Quang đã tìm ra được chân trời của riêng
mình.
Anh tự biết mình
Quang.
Cỡ thế giới – Cỡ một con ngưòi
Thế đủ rồi
Cỡ Quang.
(Hoàng Hưng)
Hà Đông, 11/11/2009
Dương Kiều Minh
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Trăn trở cùng Dấu xưa xứ Quảng - Ký ức thành phố tiếng còi tàu
Trăn trở cùng Dấu xưa xứ Quảng
Ký ức thành phố tiếng còi tàu
Dấu xưa xứ Quảng - Ký ức thành phố tiếng còi tàu, Tản
văn của Trần Trung Sáng, do Nxb Hội nhà văn vừa ấn hành. Sách khổ 14,5x20,5cm,
250 trang. Kèm theo nhiều hình ảnh tư liệu quý hiếm, giá trị. Dấu xưa xứ
Quảng là chủ đề chung của bộ sách nhiều tập và Ký ức thành phố tiếng còi tàu có
thể được xem là phần 1, nội dung bao gồm các tùy bút, tản văn, ghi chép về Quảng
Nam, Đà Nẵng, nhằm phản ánh đời sống văn hóa, truyền thống lịch sử, những nhân
tố, con người… làm nên tính cách và sự độc đáo của đất và người xứ Quảng.
Trả lời về câu hỏi, tại sao tựa đề tác phẩm
có nội dung mang dáng dấp “hai trong một” và động cơ nào để tác giả xây dựng
thành bộ sách nhiều tập? nhà văn Trần Trung Sáng cho biết : “ Đây là tập sách
viết về Quảng Nam và Đà Nẵng, do đó dù hiện nay có sự chia tách về hành chính,
thì nói chung Đà Nẵng và Quảng Nam vẫn được xem có chung một nền văn hóa xứ Quảng
(hai trong một). Tập này được xem là phần 1 với tên gọi Ký ức thành phố tiếng
còi tàu, có chú trọng nhiều hơn về thành phố Đà Nẵng. Các tập sau sẽ đi sâu về
các địa phương và những vấn đề khác thuộc Quảng Nam. Sở dĩ, tôi hướng đến một bộ
sách dài hơi về xứ Quảng, là vì ngay từ khi thực hiện tập sách Hạt bụi bay xa
(Nxb Đà Nẵng, Giải thưởng văn học đất Quảng lần thứ III 2014-2018), viết về những
chân dung văn nghệ sĩ xứ Quảng đã mất, tôi nhận ra còn rất nhiều vấn đề của xứ
Quảng bị bỏ sót, nếu thiếu người quan tâm tìm hiểu, thâu thập, ghi chép thì dần
dần sẽ bị mai một, lãng quên…”
Ngay ở những trang sách đầu tiên, ở
bài viết Quà chợ, tác giả đã dẫn dắt bạn đọc gặp gỡ lại hình ảnh xưa cũ của chợ
Hội An hồi thập niên 50 - 60 thế kỷ trước : “Ấn tượng đầu tiên của tôi về con
đường báo hiệu nơi dẫn đến chợ, là phải ngang qua một Nhà máy đèn liên tục rống
vang một thứ âm thanh nhức óc. Kế đến, là những ngôi chùa cổ kính, cổng khép
kín mà chị tôi rất sợ sệt, buộc tôi phải cúi đầu khi bước ngang. Và cuối cùng,
kề cận phía sau chiếc Giếng mái công cộng: Chợ - một ngôi nhà to lớn, cổng rộng
mở, nơi toàn người là người, chen chúc dày nghịt xen lẫn trong tiếng gà, tiếng
vịt, tiếng chào hỏi, tiếng cười đùa, tiếng chửi mắng...” . Rồi đến ngôi trường
thời thơ ấu: “Ngay cả hồi còn mới tập tểnh đánh vần, với tôi, trường Nam tiểu học
Hội An *(nay là trường trung học cơ sở Kim Đồng) đã là một thế giới thần tiên,
kỳ diệu của tuổi thơ, bởi đơn giản, nó ở ngay ngã tư đầu xóm nhà tôi (nằm trên
đoạn đầu tiên của đường Cửa Đại – con đường nối dài phố thị ra cửa biển Hội
An).Nơi đó, vào sau những giờ trường tan học, nhất là những ngày chủ nhật, ngày
nghỉ lễ, bọn trẻ con chúng tôi thường rủ nhau trèo vào bờ tường khá thấp của
ngôi trường để hái phượng, đánh bi, bắn chim, chơi trốn tìm, chia phe chơi đá
bóng… Đặc biệt, ở một khoảng sân của ngôi trường này có một bản đồ Việt Nam rất
lớn (khoảng chừng 100 m2), được xây bằng xi măng trải dài trên đất, có khắc họa
đầy đủ các tỉnh, thành, sông núi, biển đảo… của đất nước. Tôi mê nhất là sau những
ngày mưa, nước đọng lại ngập kín trên phần biển của bản đồ, chúng tôi có thể lội
bì bỏm vào đó, hoặc xếp những con thuyền giấy thả trôi bềnh bồng mà tưởng tượng
ra mình đang phiêu dạt giữa đại dương mênh mông…”. Bên cạnh những hoài niệm, lo
toan về vết tích văn hóa cổ xưa ngày một mai một, chìm dần vào quá khứ… thể hiện
qua các bìa viết như: Dấu xưa xứ Quảng, Ký ức thành phố tiếng còi tàu, Một
thoáng phù hoa, Câu chuyện xóm Dinh…, tác giả vẫn có cái nhìn khá lạc quan về sự
phát triển, hướng đến tương lai của quê hương: “Bây giờ Đà Nẵng đã thay đổi rất
nhiều. Những con đường rộng mở thênh thang, nhiều xóm nhỏ nghèo nàn ở những khu
dân cư lầy lội được thay thế bởi những khu phố mới khang trang. Ngang qua qua
sông Hàn nối liền mạch sống thành phố với Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn, nay có những
nhịp cầu hiện đại, được xem là điểm nhấn độc đáo của du lịch miền Trung. Cái từ
"Cu Ba" không gọi cho Q3 nữa. Cầu vồng cũng biến mất để nhường chỗ
cho những chuyến xe sầm uất hướng về tương lai, vẫy chào tuổi thơ và cái rạp
xi-nê với những người hùng không có thực. Giã biệt tuổi trẻ cùng những đường phố,
những quán xá, những câu chuyện phiếm miên man... Phải chăng trong chút luyến
nhớ ngậm ngùi, người ta lại thêm thấm thía, tin yêu hơn về những đổi thay rộn
ràng tất yếu của cuộc sống hôm nay” (Đà Nẵng vẫy nhìn).
Ở hai bài viết Đến làng sông tìm một dòng sông và Đặt
bia tri ân Alexandre de Rhodes ở Ba Tư, tác giả khẳng định vai trò của xư Quảng
trong sự ra đời và phát triển chữ Quốc ngữ. Ở bài Chuyện kể từ những tấm bản đồ, tác giả nêu cao công sức của những tâm lòng dành nhiều công sức góp phần tìm hiểu
nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa
như nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương, nhà nghiên cứu Trần Thắng, Chủ tịch Viện
văn hóa và giáo dục Viêt Nam tại New York. Đáng chú ý, trong tập sách, để nhấn
mạnh sự phát triển hình thành của Quảng Nam, Đà Nẵng, tác giả đã có cái nhìn
khá tinh tế, khi nhắc đến quá trình khởi nghiệp đóng góp của những gia đình cụ
thể như: gia đình ông bà Phi Anh ở bài viết Một gia đình độc đáo ở phố cổ Hội
An, gia đình vợ chồng Phì Lũ ở bài viết Cổ tích một gia đình “đầu bếp”, hoặc
dòng tộc Trần Trung của chính tác giả ở bài viết “100 năm lưu lạc và tiếng gọi
cội nguồn”. Đồng thời, một số bài viết nhắc lại nhiều dấu ấn của những
văn nghệ sĩ từng có thời gắn bó hoặc chỉ là khách vãng lai trong câu chuyện, những
cuộc gặp gỡ với Chế Lan Viên, Phạm Duy, Du Tử Lê, Phạm văn Hạng, Đinh Cường, Trịnh
Công Sơn, Lê Nuôi, Thu Vàng, Mai Chửng, Phan Ngọc Minh, Lưu Công Nhân, GS Nguyễn
Đăng Hưng…
Theo nhà báo Cung Văn: “Tác giả Trần Trung Sáng chọn
tiêu đề Dấu xưa xứ Quảng và để mở đầu cuộc tìm về, bằng Ký ức thành phố
tiếng còi tàu như là một vén màn thăm dò. Thời điểm cuốn sách này đến với người
đọc cũng góp phần nhạy cảm: năm thứ 20 của thế kỷ 21, một năm mà đất nước thường
có những cuộc lễ lạc, hội hè đình đám kỷ niệm những sự kiện can qua. Đây cũng
là cái cột mốc đánh dấu ký ức thời niên thiếu của tác giả với âm thanh phát ra
từ con gà kéo (tò he trong Quà chợ) tại vùng ngoại ô Hội An…bước những bước chập
chững ra chốn phồn hoa đô hội. Đà Nẵng sẽ phải “đánh thức tiềm lực” đặng các thế
hệ mai sau kịp nhận thức ra rằng, thế hệ cha ông chúng từng rêu rao và cũng từng
miệt thị “thành phố đáng sống hay không đáng sống?” Đúng hay không đúng? Rất
mong các bạn đọc có gốc gác QN-ĐN, trẻ lẫn già, trong cũng như ngoài nước, tìm
thấy thấp thoáng hình bóng của mình trong DẤU XƯA XỨ QUẢNG…, sẽ không bao giờ quá muộn, qua tác phẩm của Trần Trung Sáng”.
31/5/2020
Dương Khánh Linh
Theo https://www.vanchuongviet.org/
x
Ký ức thành phố tiếng còi tàu
Trả lời về câu hỏi, tại sao tựa đề tác phẩm có nội dung mang dáng dấp “hai trong một” và động cơ nào để tác giả xây dựng thành bộ sách nhiều tập? nhà văn Trần Trung Sáng cho biết : “ Đây là tập sách viết về Quảng Nam và Đà Nẵng, do đó dù hiện nay có sự chia tách về hành chính, thì nói chung Đà Nẵng và Quảng Nam vẫn được xem có chung một nền văn hóa xứ Quảng (hai trong một). Tập này được xem là phần 1 với tên gọi Ký ức thành phố tiếng còi tàu, có chú trọng nhiều hơn về thành phố Đà Nẵng. Các tập sau sẽ đi sâu về các địa phương và những vấn đề khác thuộc Quảng Nam. Sở dĩ, tôi hướng đến một bộ sách dài hơi về xứ Quảng, là vì ngay từ khi thực hiện tập sách Hạt bụi bay xa (Nxb Đà Nẵng, Giải thưởng văn học đất Quảng lần thứ III 2014-2018), viết về những chân dung văn nghệ sĩ xứ Quảng đã mất, tôi nhận ra còn rất nhiều vấn đề của xứ Quảng bị bỏ sót, nếu thiếu người quan tâm tìm hiểu, thâu thập, ghi chép thì dần dần sẽ bị mai một, lãng quên…”
Ngay ở những trang sách đầu tiên, ở bài viết Quà chợ, tác giả đã dẫn dắt bạn đọc gặp gỡ lại hình ảnh xưa cũ của chợ Hội An hồi thập niên 50 - 60 thế kỷ trước : “Ấn tượng đầu tiên của tôi về con đường báo hiệu nơi dẫn đến chợ, là phải ngang qua một Nhà máy đèn liên tục rống vang một thứ âm thanh nhức óc. Kế đến, là những ngôi chùa cổ kính, cổng khép kín mà chị tôi rất sợ sệt, buộc tôi phải cúi đầu khi bước ngang. Và cuối cùng, kề cận phía sau chiếc Giếng mái công cộng: Chợ - một ngôi nhà to lớn, cổng rộng mở, nơi toàn người là người, chen chúc dày nghịt xen lẫn trong tiếng gà, tiếng vịt, tiếng chào hỏi, tiếng cười đùa, tiếng chửi mắng...” . Rồi đến ngôi trường thời thơ ấu: “Ngay cả hồi còn mới tập tểnh đánh vần, với tôi, trường Nam tiểu học Hội An *(nay là trường trung học cơ sở Kim Đồng) đã là một thế giới thần tiên, kỳ diệu của tuổi thơ, bởi đơn giản, nó ở ngay ngã tư đầu xóm nhà tôi (nằm trên đoạn đầu tiên của đường Cửa Đại – con đường nối dài phố thị ra cửa biển Hội An).Nơi đó, vào sau những giờ trường tan học, nhất là những ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ, bọn trẻ con chúng tôi thường rủ nhau trèo vào bờ tường khá thấp của ngôi trường để hái phượng, đánh bi, bắn chim, chơi trốn tìm, chia phe chơi đá bóng… Đặc biệt, ở một khoảng sân của ngôi trường này có một bản đồ Việt Nam rất lớn (khoảng chừng 100 m2), được xây bằng xi măng trải dài trên đất, có khắc họa đầy đủ các tỉnh, thành, sông núi, biển đảo… của đất nước. Tôi mê nhất là sau những ngày mưa, nước đọng lại ngập kín trên phần biển của bản đồ, chúng tôi có thể lội bì bỏm vào đó, hoặc xếp những con thuyền giấy thả trôi bềnh bồng mà tưởng tượng ra mình đang phiêu dạt giữa đại dương mênh mông…”. Bên cạnh những hoài niệm, lo toan về vết tích văn hóa cổ xưa ngày một mai một, chìm dần vào quá khứ… thể hiện qua các bìa viết như: Dấu xưa xứ Quảng, Ký ức thành phố tiếng còi tàu, Một thoáng phù hoa, Câu chuyện xóm Dinh…, tác giả vẫn có cái nhìn khá lạc quan về sự phát triển, hướng đến tương lai của quê hương: “Bây giờ Đà Nẵng đã thay đổi rất nhiều. Những con đường rộng mở thênh thang, nhiều xóm nhỏ nghèo nàn ở những khu dân cư lầy lội được thay thế bởi những khu phố mới khang trang. Ngang qua qua sông Hàn nối liền mạch sống thành phố với Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn, nay có những nhịp cầu hiện đại, được xem là điểm nhấn độc đáo của du lịch miền Trung. Cái từ "Cu Ba" không gọi cho Q3 nữa. Cầu vồng cũng biến mất để nhường chỗ cho những chuyến xe sầm uất hướng về tương lai, vẫy chào tuổi thơ và cái rạp xi-nê với những người hùng không có thực. Giã biệt tuổi trẻ cùng những đường phố, những quán xá, những câu chuyện phiếm miên man... Phải chăng trong chút luyến nhớ ngậm ngùi, người ta lại thêm thấm thía, tin yêu hơn về những đổi thay rộn ràng tất yếu của cuộc sống hôm nay” (Đà Nẵng vẫy nhìn).
Ở hai bài viết Đến làng sông tìm một dòng sông và Đặt bia tri ân Alexandre de Rhodes ở Ba Tư, tác giả khẳng định vai trò của xư Quảng trong sự ra đời và phát triển chữ Quốc ngữ. Ở bài Chuyện kể từ những tấm bản đồ, tác giả nêu cao công sức của những tâm lòng dành nhiều công sức góp phần tìm hiểu nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa như nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương, nhà nghiên cứu Trần Thắng, Chủ tịch Viện văn hóa và giáo dục Viêt Nam tại New York. Đáng chú ý, trong tập sách, để nhấn mạnh sự phát triển hình thành của Quảng Nam, Đà Nẵng, tác giả đã có cái nhìn khá tinh tế, khi nhắc đến quá trình khởi nghiệp đóng góp của những gia đình cụ thể như: gia đình ông bà Phi Anh ở bài viết Một gia đình độc đáo ở phố cổ Hội An, gia đình vợ chồng Phì Lũ ở bài viết Cổ tích một gia đình “đầu bếp”, hoặc dòng tộc Trần Trung của chính tác giả ở bài viết “100 năm lưu lạc và tiếng gọi cội nguồn”. Đồng thời, một số bài viết nhắc lại nhiều dấu ấn của những văn nghệ sĩ từng có thời gắn bó hoặc chỉ là khách vãng lai trong câu chuyện, những cuộc gặp gỡ với Chế Lan Viên, Phạm Duy, Du Tử Lê, Phạm văn Hạng, Đinh Cường, Trịnh Công Sơn, Lê Nuôi, Thu Vàng, Mai Chửng, Phan Ngọc Minh, Lưu Công Nhân, GS Nguyễn Đăng Hưng…
Theo nhà báo Cung Văn: “Tác giả Trần Trung Sáng chọn tiêu đề Dấu xưa xứ Quảng và để mở đầu cuộc tìm về, bằng Ký ức thành phố tiếng còi tàu như là một vén màn thăm dò. Thời điểm cuốn sách này đến với người đọc cũng góp phần nhạy cảm: năm thứ 20 của thế kỷ 21, một năm mà đất nước thường có những cuộc lễ lạc, hội hè đình đám kỷ niệm những sự kiện can qua. Đây cũng là cái cột mốc đánh dấu ký ức thời niên thiếu của tác giả với âm thanh phát ra từ con gà kéo (tò he trong Quà chợ) tại vùng ngoại ô Hội An…bước những bước chập chững ra chốn phồn hoa đô hội. Đà Nẵng sẽ phải “đánh thức tiềm lực” đặng các thế hệ mai sau kịp nhận thức ra rằng, thế hệ cha ông chúng từng rêu rao và cũng từng miệt thị “thành phố đáng sống hay không đáng sống?” Đúng hay không đúng? Rất mong các bạn đọc có gốc gác QN-ĐN, trẻ lẫn già, trong cũng như ngoài nước, tìm thấy thấp thoáng hình bóng của mình trong DẤU XƯA XỨ QUẢNG…, sẽ không bao giờ quá muộn, qua tác phẩm của Trần Trung Sáng”.
31/5/2020
Dương Khánh Linh
Theo https://www.vanchuongviet.org/
x
Tuổi thơ gọi về
Tuổi thơ gọi về
Chiều, một buổi chiều êm ru của ngày đầu hạ khi cơn mưa
rào vừa trút nước, tinh khôi một góc trời. Bên căn phòng của cô bé xóm trọ bỗng
vang lên câu hát âm ấm mà xiết lòng: “Ngày ấy đâu rồi, ngày ấy đâu rồi, cho tôi
tìm lại, một ngày ấu thơ...” Tôi đã là thiếu nữ mười tám, đã đi qua mùa tuổi
thơ chẳng bao giờ trở lại, chợt thấy rưng rưng, tiêng tiếc cái “ngày ấy” đã
thành dĩ vãng xa xăm.
Tuổi thơ tôi là những tháng ngày vất vả, lấm láp. Tôi sinh ra
ở miền quê với những dòng sông êm trôi, với nương dâu mươn mướt, với cánh đồng
lúa vàng ươm nắng hạ. Ký ức tuổi thơ góp nhặt từ những buổi sáng tinh mơ
theo mẹ đi cày, hay những ngày nắng cháy, hai mẹ con vẫn khom lưng cấy lúa. Nhớ
những ngày cuốc từng nhát đất, gieo từng hạt mầm bé nhỏ, đất đai ấp ủ. Nhớ những
ngày háo hức đuổi bắt chú cào cào, châu chấu bỏ vào chiếc bao tay của mẹ. Ruộng
đồng đã bao bọc, chở che tôi. Cái hồn hậu của từng gốc lúa, bờ tre đã nuôi tuổi
thơ lớn từng ngày.
Bỗng thèm biết mấy những “ngày ấy” có trái trứng gà
vàng ươm ngọt lịm, có trái nhót chín mọng giấu trong mũ vải, có trái ổi thơm
thơm nồng đượm bàn tay bà trồng, có chùm hoa dẻ thơm một cầu ao. Thèm biết mấy
ngày lội đồng bắt ốc, bắt cua, lấm tấm bùn nhem mà vẫn cười tươi rạng rỡ. Nhớ
biết mấy bạn tuổi thơ với những trò nghịch ngợm, những buổi trưa trốn mẹ thả diều,
bắt bướm, …
Tuổi Mười tám, cái ranh giới của tuổi thơ hồn nhiên, trong trẻo
và sự khôn lớn từ cả những suy nghĩ non nớt của cô bé mới lớn chập chững bước
vào đời. Cánh cửa tuổi thơ vừa khép lại giữa mênh mang tuổi mười tám, giữa bao
nhiêu dùng dằng, luyến tiếc. Xa quê, xa miền kí ức ăm ắp, ngọt lành, tuổi mười
tám hòa lẫn vào nhịp ồn ào, náo nhiệt của phố xá, thị thành. Tôi dần quên đi một
thời lấm láp, cái lấm láp đã nuôi lớn thành người. Có vô ý, cũng có cố ý. Tôi
quen hơn với hương vị đăng đắng của một ly cafe thay vì cốc chanh leo ngọt ngào
của mẹ, quen đi một mùi hương của xả thơm thơm mái tóc, một bát dưa cà bố muối,
một bát cơm rang hai anh em tranh nhau ăn… Vậy là tôi đã quên. Bỗng nghe câu
hát mà đắng đót, nhoi nhói biết chừng nào.
Người ta chẳng bao giờ lớn nếu không có một tuổi thơ. Giữa bộn
bề, tấp nập của cuộc sống, giữa vô vàn những bận bịu, lo toan, ta cũng dễ quên
đi ngày tháng êm đềm của tuổi thơ. Tôi cho rằng tuổi thơ là điểm tựa tinh thần
vững chãi, là những gì rất đơn sơ, bình dị thôi, nhưng thiêng liêng, nhưng cao
cả và ấm áp lạ thường. Nếu đời người là những chuyến đi thì miền ký ức tuổi thơ
là nẻo đi về bình yên nhất.
21/5/2012
Dương Hằng
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Mùa đón nắng
Mùa đón nắng
Mỗi lần đi dưới cơn mưa bụi mùa đông, lòng tôi lại nao nao buồn.
Mưa bụi giăng mắc một màu ảo vọng hiu xám. Hạ về, tôi thích thú đón những cơn
mưa để bao lần ngẩn ngơ tự hỏi rằng, những giọt nắng tinh khôi sao cứ đổ về sau
những cơn mưa ấy?
Màu nắng hạ vàng tươi là màu của tuổi trẻ, sức sống, của khát khao hoài bão
cháy bỏng. Hạ sang chở bao vòm nắng khiến ta giật mình thảng thốt gọi tuổithơ
ơi. Nhớ những buổi trưa hè nắng gắt, trốn mẹ đi bắt chuồn chuồn, bắt ve sầu
cùng lũ bạn. Nhớ những ngày rủ nhau đi bắt cá tắm ao… và đi hái cả một mùa sung
chát. Nhớ chiều hạ đầy gió, ta chạy nhảy thênh thang trên con đường thả cánh diều
của tuổi thần tiên đầy mơ ước. Hạ đánh thức dậy cả một miền đầy nắng của tuổi
thơ lấm láp.
Ngày xưa ơi… giờ tìm đâu một cánh chuồn chuồn bé nhỏ đậu cầu ao.
Ngày xưa ơi… tìm đâu một chùm hoa dẻ vội vàng thơm ngát.
Ngày xưa ơi… và giờ tìm đâu trái trứng gà vàng ươm ngọt lịm. Mỗi lần nắng hạ,
kí ức tuổi thơ cứ dội về bao niềm luyến tiếc.
Hạ về. Ngỡ ngàng thương nhớ bóng dáng mẹ chốn quê nhà. Giữa những ngày gay gắt,
chói chang, bỗng thương biết mấy những giọt mồ hôi rớt xuống đường cày, thương
tấm lưng trần phơi nắng, thương đôi bàn tay gầy chai sạm. Nắng gợi ra sự nhọc
nhằn, lam lũ. Nắng trải dài trên con đường mưu sinh vất vả.
Ngày nắng, mẹ ta gánh cả một mùa hy vọng đi về từ trên cánh đồng lúa chín.
Nắng khi ấy là nụ cười rạng rỡ của mẹ. Yêu lắm nắng ơi!
Tôi gọi những ngày mưa là những ngày buồn dài. Mưa dễ khiến người ta buồn và cô
đơn, xúc cảm. Những thất bại, hay nỗi buồn trong cuộc sống tựa như những cơn
mưa mùa hạ. Và người ta không thể nào sống mãi trong những cơn mưa. Dũng cảm để
vượt qua những khó khăn và thử thách, ta sẽ kéo những cơn mưa đi qua và đón nắng
trở về. Mãi đắm chìm trong tuyệt vọng, buồn đau thì những cơn mưa sẽ dội lạnh
lòng người. Nắng về sau những cơn mưa gợi cho ta
nghĩ về một tương lai tươi sáng. Nắng là khởi đầu cho niềm vui, thành công.
Nắng xua tan những cơn mưa buồn rả rích. Nắng thắp lửa cho niềm tin và sưởi ấm
lòng người. Nhưng cuộc sống cũng cần lắm những cơn mưa để biết cảm nhận,chiêm
nghiệm và chín chắn. “Người ta cần những niềm vui để sống lạc quan hơn, và cần
những nỗi buồn để sống sâu sắc hơn”.
Nắng là khung trời đẹp đẽ của tuổi học trò, của cánh phượng ép khô trang giấy
nhỏ. Sáng nay, khi cánh cổng trường từ từ kéo mở, tôi có cảm giác lạ lam. Mùa
hoa phượng đã về. Thời gian thấm thoắt trôi qua, ba năm ngỡ sao mà ngắn
ngủi. Mùa hạ này là mùa chia tay.
Rồi phải xa ban be thân yêu, xa thầy cô, xa mái trường đã đi
qua tám mươi mùa mưa nắng. Chưa xa mà sao nhớ thương quá đỗi. Nắng về, trang
lưu bút đượm màu buồn... Bên ngoài cánh cổng trường kia là khung trời ngập nắng
– nắng gió của cuộc đời bộn bề, phức tạp. Thứ nắng sân trường mới trong trẻo và
hồn nhiên biết mấy!
Cuộc sống có bao nhiêu là thứ nắng – mỗi thứ nắng tựa như một con đường đi và
buộc ta phải lựa chọn. Có những thứ nắng sẽ dễ cuốn ta đi và đánh mất chính
mình. Giữ mình trong dòng đời xô bồ đầy nắng ấy không phải là điều dễ dàng. Mỗi
chúng ta hãy luôn tìm về với nắng trong trẻo của tuổi thơ và tuổi học trò để
thanh lọc tâm hồn mình!.
24/5/2012
Dương Hằng
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Đọc "Mekong, dòng sông nghẽn mạch"
Đọc "Mekong, dòng
sông nghẽn mạch"
“Mekong, dòng sông nghẽn mạch”
của nhà văn, Bs Ngô Thế Vinh là cuốn tiểu thuyết ký sự khá kỳ công, ly kỳ và hấp
dẫn mà tác giả đã tận mắt đến chứng kiến. Chẳng hạn như chuyến du khảo bắt đầu
từ cuộc thâm nhập con đập Mạn Loan (Manwan) thuộc Vân Nam, Trung Quốc cho đến kỳ
cùng của con sông Hậu, Việt Nam, cũng như vùng Tràm chim, Tam Nông thuộc Đồng
Tháp Mười khu sinh thái của các loài dã hạc quý còn lại của miền Nam, sự gặp gỡ
giáo sư Võ Tòng Xuân ở đại học An Giang, đến về Bến Tre và thay lời kết Cho một
dòng sông, cùng với nhiều suy nghĩ của các bậc thức giả viết về nó.
Với sự trang trải nổi lòng mình từ sự yêu mến con sông Mê
Kong nói riêng và tổ quốc Việt Nam nói chung nhằm cảnh tĩnh và khuyến cáo với
dân tộc và quốc gia Việt Nam hãy làm điều gì có thể trước khi sự cuồng nộ của
thiên nhiên nhận chìm cả đồng bằng phì nhiêu châu thổ sông Cửu Long, với tham vọng
quá dữ dội của chính quyền Bắc Kinh, chắn dòng chính Mekong làm các con đập bậc
thềm trên thượng nguồn, họ chỉ muốn làm lợi cho chính quốc gia Trung Cọng bất
chấp các dân tộc khác tan hoang và điêu linh, nhất là những dân tộc cuối nguồn
như Cam Bốt và Việt Nam chúng ta.
Câu chuyện ông kể lại suốt hành trình khá mạch lạc và lý thú
bởi nhiều chúng cứ và dữ liệu trung thực từ thực tế chuyến đi, rất may là ông
cũng là nhà nhiếp ảnh nên đến đâu là có hình ảnh minh họa đến đó làm cuốn hút
hơn cho người đọc, rất may là tôi đọc vài lần thấy rằng đây là quyển sách quý
và dữ liệu rất đáng để độc giả Việt Nam biết càng nhiều càng tốt hầu sau nầy nếu
may mắn được góp sức vào sự cải thiện dòng sông Mêkong to lớn đã đi qua 6 quốc
gia: Trung Hoa, Miến Điện, Thái, Lào, Cambodia và Việt Nam. Nó nuôi sống cho
hơn 60 triệu dân của các nước của dòng Mekong đi qua, đặc biệt hơn là hệ sinh
thái cùng hàng ngàn loài cá nước ngọt khá phong phú.
Ví dụ như cá quậy (Bow fish) thường sống ở phụ lưu Mêkong là
sông Xi‘er gần Hồ Nhĩ Hãi thuộc Đại Lý, có đặc tính ngậm đuôi vào miệng và bung
nhảy, vì vậy dân làng đặt là cá quậy. Những ngư dân ở gần hồ Nhĩ Hải, cũng như
dọc dông Xi’er có nuôi loài chim Cốc (Coromorants) rồi huấn luyện bắt các chú
cá Bow fish, ông kể lại với giọng văn điềm tĩnh khá lý thú, tôi nghĩ ai đọc
cũng thấy thích thú.
Hay là loài cá Pla Beuk, tương truyền hàng năm và khoảng
tháng 4, đoàn cá Pla Beuk ngược dòng từ thung lũng Luang Prabang phía bắc Vạn
Tượng, Lào về hồ Nhĩ Hải, Đại Lý hơn 2000 km để đẻ trứng, sinh sản. Nếu như ở Đại
Tây dương có loài cá Hồi rất đặc biệt ngược dòng hơn 20.000 cây số rất khổ sở
nhiều hiểm nguy tìm về cội nguồn nơi sinh ra để đẻ trứng duy trì nòi giống và kết
thúc vòng đời, thì loài cá Pla Beuk ở MêKong cũng vậy. Thế giới sinh vật trong
thiên nhiên biết bao điều kỳ thú.
Dĩ nhiên trong cuộc di chuyển trở về của loài cá Pla Beuk,
ngư dân hai bên bờ sông bội thu về thực phẩm, “ngư dân Lào, Thái cho rằng cá
Pla Beuk là linh ngư, đem đến vận may cho ngư dân, nó có thể dài 3m nặng đến
300kg là loài cá nước ngọt đặc biệt chỉ có ở sông Mêkong”. (Trang 64)
Từ mười năm nay, khi con đập Mạn loan(Manwan) chắn dòng 1993,
người ta không còn thấy loài cá đặc biệt Pla Beuk/ Pangas Sianodon nầy lên hồ
Nhĩ Hải sinh sản!!!
“Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây một sự kiện đáng ghi nhớ và
gây nhiều tranh cãi là vào giữa Năm 1993 xảy ra một hiện tượng được coi là bất
thường: Mực nước con Sông Mê-Kông phía hạ lưu đột ngột hạ thấp xuống mà không
vào mùa khô, chỉ lúc đó người ta mới được biết lfa Trung Quốc đã xây xong con đập
Mạn Loan (Manwan) và đó là thời điểm bắt đầu lấy nước từ con Sông Mê-Kông vào hồ
chứa. Và họ cũng chẳng thèm thông báo gì cho các quốc gia dưới nguồn. Chỉ riêng
với con đập Mạn Loan mà đã giữ tới 20% nguồn nước trên dòng chính, khúc Sông
Mê-Kông chảy qua Vân Nam. Sau biến cố đó, phải nói là càng ngày càng có mối lo
âu về ảnh hưởng của chuỗi đập bậc thềm Vân Nam. Mối quan tâm đó càng ngày càng
gia tăng do nguyên nhân thiếu hẳn nguồn thông tin cung cấp bởi Trung Quốc.”
*(Ct.Ly)
Cũng trong chuyến đi thực tế ấy, tình cờ nhưng may mắn ông gặp
Giáo sư tiến sĩ Mika, người Nhật đang làm việc ở đại học Anh tại trung tâm
nghiên cứu Đông Nam Á (Centerfor South East Asian studies) dù không phải là
chuyên môn của tác giả Ngô Thế Vinh nhưng ông cũng trao đổi về các sắc dân thiểu
số, đặc biệt là các sắc dân thiểu số người Thượng ở Tây nguyên, Việt Nam. Hy vọng
sau nầy ông cùng Ts Mika ấy mở rộng đề tài này.
Trong chuyến hành trình bằng thuyền xuôi dòng từ cảng Tư Mao
(Simao) xuống tận bắc Thái Lan và Lào, ông mới thấy hết sự tàn phá dòng chảy của
dòng sông MêKong mà Trung Hoa là thủ phạm:
“Vào tháng 4/2001, Trung Quốc đã ký một thỏa ước về thủy vận
trên sông Mekong nhưng chỉ với 3 quốc gia Miến, Thái và Lào với kế hoạch vét
lòng sông cả dùng cốt mìn, chất nổ phá tung những khối đá trên các đoạn ghềnh
thác, các đảo nhỏ trên sông để khai thông mở rộng dòng sông cho tàu lớn với trọng
tải 500 đến 700 tấn để có thể di chuyển từ cảng Tư Mao, Vân Nam xuống Chiang
Khong, Chiang Sean Thái Lan tận đến thủ đô Vạn Tượng, Lào. Trong khi Cam bốt và
Việt Nam là 2 quốc gia trực tiếp chịu ảnh hưởng của kế hoạch ấy lại gạt ra
ngoài. Hậu quả ra sao chẳng ai lượng giá được, nhưng chắc chắn nhịp độ thiên
nhiên điều hòa của dòng chảy sẽ rối loạn, ảnh hưởng dây chuyền lên hệ sinh thái
sông Mê kong”.
Đọc đến đây tôi mới hiểu rằng chính quyền Trung Quốc họ thích
đàm phán song phương, bởi họ dễ bề khuynh đảo được những “ông chủ” quốc gia nhỏ
bé đó để làm lợi cho chính họ bất chấp những ràng buộc của quốc tế, và tàn hại
mội trường sinh thái thiên nhiên khi chuyện đã rồi thì chỉ có trời mới cứu vãn
được mà thôi.
Đường lên Tư Mao (Simao), cách thị trấn Cảnh Hồng 165 Km về
hướng đông bắc được coi là cửa ngõ xuống phương nam ta, cũng có con đập Cảnh Hồng
khởi công nắm 1998.
Hồ Điền Trì/ Dian Côn Minh và Con sông Hồng thì thế nào?
Chính phủ Việt Nam có lẽ chưa biết được những gì về kế hoạch “Giải quyết môi
sinh” của họ theo lối “Ném bùn sang ao” của Côn Minh nói riêng và Trung Quốc
nói chung. Tác giả viết:
“Những chuỗi hồ lớn nhỏ chạy dài đến tận Hà Khẩu (Hekou) biên
giới phía bắc Việt Nam, một địa hình đặc biệt của cao nguyên Vân Nam. Hồ Điền
Trì/ Dian là biển hồ lớn nhất Vân Nam… Hồ có diện tích 300 Km2, phía tây là núi
đồi, phía đông hồ địa hình bằng phẳng, nguyên là khu chài lưới thịnh vượng,
nhưng vì ô nhiễm từ các khu kỹ nghệ bờ đông nam nên không còn nhiều cá và thực
sự không còn một nền ngư nghiệp, không sao xử lý được khối nước quá ô nhiễm
trong Hồ lớn Điền Trì” (nghĩa là khu công nghiệp xả nước vô tội vạ xuống hồ) và
“một kế hoạch táo bạo của chính quyền Vân Nam: dự trù chi phí 2 tỷ Yuan để khai
thông một đường dẫn ra sông Hồng chảy qua Việt Nam rồi đỗ ra biển Đông, sau đó
thay thế bằng nước sông Dương Tử dẫn vào hồ”. Tuy chưa có kiểm chứng được bao
nhiêu phần trăm kế hoạch đầy sáng tạo và độc ác của các “công trình sư Đại Hán”
ấy. Làm sao ta có thể kiểm chứng khi các kế hoạch luôn bị bưng bít, dấu nhẹm” bởi
chính quyền Trung Quốc.
Và điều gì sẽ xãy ra, phải chăng cả dòng sông Hồng sẽ ô nhiễm
trầm trọng và cư dân Việt Nam lãnh đủ cả, nguy hiểm và tàn độc như thế nhưng biết
làm sao hơn?!
Một nổi uất nghẹn tràn dâng trong cả cộng đồng dân tộc Việt
chứ nào phải chỉ có người dân dọc sông Hồng, con sông lớn nhất phía Bắc tưới
tiêu cho cả đồng bằng sông Hồng trù phú nuôi sống cả hang triệu người dân miền
Bắc. Trung Quốc muốn xẻ vụn, xâm thực từng mảnh với dân ta, liệu rằng điều nầy
chính phủ và dân tộc Việt có thấy?
Lào và giấc mơ Kuwait
Có lẽ ở Đông Nam Á, Lào là đất nước hiền lành, con sông
Mekong ngang qua quốc gia này tạo nên sự trù phú cho cư dân và nuôi sống hàng
triệu ngư dân dọc con sông, nhưng bây giờ ra sao?
Thực ra từ năm 1975 Lào đã có 3 đập thủy điện với quy mô nhỏ,
nhằm phục vụ cho các thành phố. “Nam Ngum 30MW, thuộc tỉnh Vạn Tượng. Nam Dong
1MW thuộc tỉnh Luang Prabang và Sélabam 2 MW thuộc Champassak.
Chính phủ Lào đã vay thêm ngoại tệ để tăng công suất cho các
nhà máy có sẵn đồng thời xây thêm 2 con đập. Cho tới năm 2000, điện lực công cộng
Lào lên tổng sản lượng 270 MW”.
Như vậy là sản lượng điện của Lào ngoài cho nội quốc còn xuất
khẩu sang các quốc gia lân cận như Việt, Thái, giấc mơ Kuwait đã thực hiện,
nhưng dòng sông Mẹ (Mae Nam Khong) kiệt sức và hầu như phía dưới các con đập
làm ra điện kia tan hoang, nước cạn dòng, cá tôm cũng cạn kiệt, bờ bãi trống
huơ, ngư dân thưa thớt thỉnh thoảng cả ngày chỉ lưới được tí cá độ nhật, bởi
trên họ cả một số con đập bậc thềm của Trung Quốc đã chặn dòng chính.
Hãy nghe tác giả viết về hồ chứa đập Nam Ngum của Lào:
“Hồ chứa đập Nam Ngum trải rộng trên một diện tích 250km2 (lớn
hơn 1/3 đảo quốc Singapore) như một thắng cảnh thiên nhiên có vẻ đẹp hung vĩ với
cảnh trí núi non và hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ, tuy không còn thú lớn vẫn là nơi
trú ngụ của khỉ, chút, các loài chim và rắn”
Có điều thú vị là chuyến đi ấy ông tìm đến ngôi mộ của nhà
thám hiểm người Pháp là Henri Mouhot (1826-1861) với các thông tin còn rất rõ
ràng qua 3 lần trùng tu với cảm xúc “khó mà tưởng tượng nổi cách đây 140 năm
trong cảnh hoang sơ của rừng rậm, cùng dòng sông chảy xiết, nổi hiu quạnh và
can trường của H. Mouhot lớn đến dường nào”
Và điều đặc biệt nhất của xứ sở hiền hòa nầy có cánh đồng
chum còn khá nhiều bí ẩn thách thức các nhà khảo cổ Lào và thế giới. “Cánh đồng
Chum (Tiếng Lào: ທົ່ງໄຫຫິນ [tʰōŋ hǎj hǐn]) là một cảnh quan khảo cổ cự thạch ở Lào. Nó bao gồm hàng ngàn chum đá nằm rải
rác dọc theo thung lũng và cánh đồng thấp của đồng bằng trung tâm thuộc Cao
nguyên Xiengkhuang. Hầu hết chúng nằm thành từng cụm với số lượng từ một cho đến
vài trăm cái chum
Cánh đồng chum là một khu vực văn hóa lịch sử gần thi xã
Phonsavan, thuộc tỉnh Xiengkhuang của Lào”(2)
Một thoáng Thailand
Cũng trong ký sự này, ông ghé thăm Thái Lan, đã cho chúng ta
nhiều thông tin rất thú vị nếu không đọc chắc gì biết, ví dụ trong thời chiến
tranh qua các thời kỳ một số người Việt ta sang ấy tỵ nạn rồi định cư, những
thăng trầm của họ đến nay đã qua 3, 4 thế hệ là dân Thái chính thức nhưng vẫn
còn nhiều vấn đề với dân Thái bản xứ và những sinh hoạt của dân Việt trên đất
Thái. Cũng nhân lưu lại đất Thái ít ngày ông biết khá rõ việc nhà thám hiểm
Pháp Henri Mouhot từ Thái sang Lào và được vua Lào trân trọng tiếp đón, ông viết:
“Phải hơn 7 tháng trời lặn lội từ kinh đô Bangkok đến kinh dô
Luang Prabang là một thị trấn quyến rũ như Genève và tại đây Mouhot được vua
Tiantha đón tiếp trọng hậu”… “và chỉ hơn 3 tháng sau ông bị cơn sốt rét rừng/forest
fever – có lẽ cơn sốt rét ác tính và chết ở cái tuổi 35, mộ ông đuộc chon bên bờ
song Nam Khan, một phụ lưu của con sông Mekong, con chó Tin Tin của ông hằng
ngày bên mộ chủ tru lên” những tiếng thống thiết.
Dịp nầy ông cũng đến được hang Phật bản Pak Ou, nằm êm đềm ở
tả ngạn sông Mekong, Pak Ou caves là tên chỉ chung 2 hang Phật Tam Ting (Hang
dưới) và Tam Phum (Hang trên), ông cũng chẳng ngờ được rằng nơi đây dung chứa đến
4000 tượng Phật cổ từ hơn 300 năm trước, được biết nơi đây cũng nổi tiếng linh
thiêng người dân thường đến dâng lời cầu nguyện.
Hay là cũng từ nơi đây ông được thấy tận mắt và trao đổi với
ngư dân cũng như chụp được con cá Pla Beuk, tuy con cá chỉ 45kg và cá Irrawady.
Cả 2 loại cá nầy đứng trước sự tuyệt chủng vì môi trường ô nhiễm trầm trong và
khai thác cạn kiệt.
Có một điều kinh ngạc nữa mà rất ít người biết, nhân chuyến
đi của nhà văn Ngô Thế Vinh đã tiếp xúc “Làng tiền sử Ban Chiang”.
Ban Chiang (tiếng Thái: บ้านเชียง, phát âm tiếng Thái: [bâːn tɕʰīa̯ŋ]) là một địa điểm khảo cổ học nổi tiếng nằm ở huyện Nong Han, tỉnh Udon
Thani, Thái Lan. Nó được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 1992(1) mà
theo tác giả có lẽ văn minh cổ xưa nhất là thời kỳ đồ đồng của con sông Mekong
bị vùi lấp, được coi là sự phát hiện quan trọng của vùng Đông Nam Á từ sau thế
chiến II, tác giả viết :
“Như một giai thoại cách đây 44 năm, năm 1966 một sinh viên
khảo cổ học người Mỹ khi đi vào cánh đồng của khu làng Ban Chiang anh đã bị vấp
ngã trên một gốc cây bông gạo kapok và chẳng thể ngờ rằng anh đã ngã vào một
kho tàng cổ sử.
Quanh anh là vô số mảnh sành nhô ra từ mặt đất. Anh thu thập
những mảnh vỡ ấy.
Gửi về Bankok, sau đó đại học Pannsylvania để nghiên cứu ”…”
khá trễ sau 4 năm, các nhà khoa học khảo cổ Mỹ + Thái mới khai quật có hệ thống.
Chỉ trong 2 năm họ đã đào được 18 tấn di chỉ gồm các dụng cụ bằng đồng, bình chậu
sứ, cả đồ dệt và hài cốt trong ngôi mộ cổ. Nghiên cứu cho biết đây là ngôi mộ cổ
hơn 5000 năm, và có lẽ thú vị nhất là các vật dụng bằng đồng được đúc cách đây
hơn 3600 năm TCN- nghĩa là sớm hơn các đồ đồng cổ xưa nhất của Trung Đông 500
năm. Phát hiện nầy đã phủ nhận luận cứ cho rằng kỹ thuật luyện đồng khởi đầu từ
lưu vực song Tigris và Euphrates năm 3000 TCN, cũng phủ nhận luôn rằng giả thiết
đồ đồng từ Trung Quốc du nhập về phương Nam (Đồ đồng cổ nhất của Trung Hoa chỉ
2000 năm TCN)
Như vậy có thể nói rằng kỹ thuật luyện đồng từ Đông Nam Á du
nhập sang Trung Hoa thay vì ngược lại. Đó chưa kể với những trang sức bằng đồng
rất mỹ thuật phản ảnh một xã hội thái hòa có văn hóa cao chứ không man di như
Trung Hoa nhận định”.
Như vậy, trên dòng sông Mekong có 2 quốc gia: Lào, Thái Lan
nhỏ hẹp nhưng có hai điều bí ẩn là: Cánh đồng Chum và làng Ban Chiang, không hiểu
thế nào lại đồng loạt biến mất và nhân loại hầu như quên lãng.
Cambodia, Tonlé Sap và Biển Hồ
Xứ sở chùa Tháp với quần thể kiến trúc Ankor khá đồ sộ nhưng
đã suy tàn từ rất xưa xa thế kỷ XIII, tác giả đến xứ sở này chỉ là ghé tham
quan đúng nghĩa, chứ không có mục đích lớn hơn, cái quan tâm của ông là con
sông Mekong, biển Hồ. Tuy vậy đứng trước Ankor Wat buổi bình minh ông cũng cảm
nhận được điều mình nhận ra từ kiến trúc nầy. Ông viết:
“Bước lên những bậc thang, đi vào khu đền đài với hàng ngàn
thước đá chạm trổ như pho sử đá cảnh trần gian,vươn lên là các tượng đá hùng vĩ
gây cảm giác choáng ngợp để tưởng như thời gian ngưng lại cho phút trầm tư phù
du về một triều đại, kiếp người”
Từ Siem Reap bằng thuyền máy về hướng nam ra đến khu Chong
Khnea còn gọi khu làng nổi của người Việt, lòng chùng xuống với biết bao nổi thống
khổ của người Việt nghèo, cuộc sống quanh quẩn với Biển Hồ làm sao cho thế hệ
phía sau khá hơn, không thể khá được bởi hoàn cảnh con đông kiếm cái ăn đã rã rời
và họ sống như công dân hạng hai ở xứ sở ấy.
Ông viết:
“Nguồn tài nguyên phong phú của Biển Hồ đã thu hút các sắc
dân từ các nơi đỗ tới, và hình thành khu làng nổi trên Biển Hồ, nếp sống ấy hầu
như không thay đổi hàng trăm năm nay”… ”Tới khu làng nổi là tới với vẻ đẹp của
một sinh cảnh thiên nhiên đồng lầy còn hoang dã, những khu làng nổi cũng di
chuyển theo mùa tùy theo nước lên xuống. Bình minh hay hoàng hôn trên khu làng
nổi là một trong những cảnh quan tuyệt đẹp của Biển Hồ”.
Tới Tràm chim vùng sinh thái Prek Toal:
Thuyền máy băng băng qua Biển Hồ hướng về nam để tới Prek
Toal, thuộc tỉnh Battambang lại là khu làng nổi khác của người Khmer, nơi có
văn phòng Sở Bảo tồn Biển Hồ (Environmental Reseach Station for Tonlé Sap
Biosphere Resever), diện tích Biển Hồ tùy theo mùa nước, khi hồ cạn có thể
2500km2, nhưng mùa mưa nước dâng, nước chảy ngược từ Tonlé Sap vào Biển Hồ, có
thể nước dâng cao từ 8-10 met, diện tích có thể lên 12.500km2 tức gấp 5 lần so
với mùa khô, thực phẩm và cá ở đây rất phong phú quyến rũ nhiều loài chim về
sinh sống, vì vậy sắc lệnh Hoàng gia tháng 11/1993 qui định Biển Hồ Tonlé Sap
là khu Đa dạng bảo tồn (Multiple Use Protected Areas), tới tháng 10/1997 Biển Hồ
mới được Unesco công nhận là Khu bảo tồn sinh thái (Biosphere Reserve).
“Để quản lý, Khu bảo tồn sinh thái được chia làm 3 khu: Khu
trung tâm (Core), Khu Đệm (Buffer zones). Mục đích lâu dài là bảo vệ các khu
trung tâm để tương lai trở thành công viên Quốc gia.
Ba khu trung tâm bảo tồn là:
1. Prek Toal rộng 31.282 ha
2. Boeng Tole Chhmar hay Moat Kla rồng.969 ha
3. Stung Sen 6.586 ha.
Khu sinh thái nầy hơn 190 chủng loại sống dưới nước, riêng
loài cá có hơn 200 loài, khảo sát sơ khởi còn cho biết hàng trăm loài chim,
trong đó có 12 loài được cho là quý hiếm đối với thế giới.
Rừng lũ Biển Hồ còn là sinh cảnh các loài bò sát, loài có vú,
23 loài rắn, 13 loại rùa, 1 loài cá sấu, vượn, khỉ, mèo, báo, rái cá v.v”…
Cũng may tác giả điện thoại trước cho người quản lý khu bảo tồn
tên là Meas nên anh hổ trợ phương tiện trong công việc quan sát, ghi lại hình ảnh
cũng như trao đổi khá trôi chảy, nhà văn còn biết thêm “thời gian lý tưởng để
thăm Tràm chim từ tháng giêng đến tháng ba, cũng là mùa nước cạn (cùng thời
gian với Tràm chim Tam Nông, Đồng Tháp Mười). Được biết những loài chim cần được
bảo vệ như: Spot Billed Pelican/ Chim Bồ nông mỏ đốm, Oriental Darter/ Bồ nông
cổ rằn Đông Phương, Lesser Adjutant, Black Necked Stork/ Sếu cổ đen, Painted
Stork/ Sếu vằn, Milky Stork/ Sếu sữa, Glossy Ibis/ Cò quăm, Grey-headed Fish
Eagle/ Chim ưng đầu xám”…
Khi lưu lại ở Cam Bốt nhà văn có dịp thăm vài bệnh viện và có
gặp bác sĩ Beat Richner gốc Thụy Sĩ là giám đốc 3 bệnh viện: – Bệnh viện
Jayavaman, bệnh viện Katha Bopha 1 và 2. Beat Richner cũng là nhạc sĩ cello, một
khuôn mặt huyền thoại của Cambodia dù bận rộn về công việc chuyên môn ông cũng
không quên mỗi tối thứ bảy bao giờ cũng có buổi hòa nhạc Back ở bệnh viện để
gây quỹ nhưng vào cửa tự do khá thú vị, người nghe nhạc phần đông là du khách
ngoại quốc tới thăm khu đền Ankor.
Về Miền tây Nam bộ và Đại học An Giang
Khi trở về Tây nam bộ ông phải gặp bằng được giáo sư Võ Tòng
Xuân đang là “viện trưởng viện đại học An Giang”, một đại học non trẻ mới “thôi
nôi” bởi đã trao đổi với nhau nhiều lần (kỳ thinh) nhưng chưa tận mặt mày bởi
ông biết rõ vị giáo sư nầy có cả tấm lòng “khai dân trí, chấn dân khí” cho sinh
viên trường và “hậu dân sinh” với người dân đồng bằng miền tây nầy khi ông theo
dõi dòng chảy của con sông Mekong từ khi Trung Quốc bắt đầu chắn dòng cho con đập
Mạn Loan cho đến nay, nhà văn Ngô Thế Vinh viết:
“Phải nói rằng số lượng giảng viên của nhà trường còn rất hạn
chế, với sĩ số 600 chỉ 50% có bằng thạc sĩ (Master) và tiến sĩ (Ph.D). Qua các
em tôi được biết các giảng viên trẻ của Đại học An Giang đi ngoại quốc học thêm
để tăng cường chất và lượng cho ban giảng huấn.
Ngoài ra “Gs Xuân còn còn những dự án dỡ dang khác:
1. Tìm gène giống lúa mới chịu được nước lợ do Cửu Long cạn
dòng và thêm nhiễm mặn
2. Vận động nông dân ĐBSCL áp dụng kế hoạch “3 giảm, 3 tăng”
trong đó giảm thuốc trừ sâu nhiễm độc tới mức độ nguy hiểm cho môi trường sống
3. Lập khu bảo tàng cây lúa ĐBSCL với sưu tập các nông cụ mà
tiền nhân sử dụng từ thưở khai hoang”
Ngoài ra nhà văn, Bs Ngô Thế Vinh cũng quay về thăm nhiều
vùng nữa trên miền tây Nam bộ thân yêu chịu ảnh hưởng trực tiếp với sự nghẽn mạch
của dòng sông Mekong bởi các con đập bậc thềm của dòng chính mà thủ phạm là
Trung Quốc cộng với những đập thủy điện khác của Thái, Lào…, hầu như họ chỉ thấy
cái lợi trước mắt cho quốc gia họ và bất biết những quốc gia phía hạ nguồn thế
nào và hệ lụy đến nay các độc giả đã rõ.
Tiếng thở dài ngao ngán của ông với nỗ lực cá nhân thâm nhập
có thể nguy hiểm cả tính mạng, để có dữ liệu đầy đủ hầu đóng góp cho đất nước,
cũng có thể là tiếng thở dài của toàn dân tộc, không biết rồi đây chính phủ
đương thời có giải pháp nào khả dĩ giải quyết yên bình đời sống để thần dân của
miền tây Nam bộ nói riêng và cả đồng bằng Cửu Long – vựa lúa châu thổ ấy còn tiếp
tục cung cấp lương thực nuôi sống cả toàn dân tộc Việt Nam, chứ đùng nói đến xuất
cảng.
Để kết thúc bài này tôi trích một đoạn của Long Ân-Người Việt
(12/2001)
“Con người phương Đông đang gặp đại nạn khoa học kỹ thuật mà
con người phương Tây đã từng thọ nạn ở đầu thế kỷ 18. Ô nhiễm chính trị, ô nhiễm
nhân văn và thê thảm nhất là ô nhiễm môi sinh…chỉ mới hôm qua, Enstein đã hốt
hoảng tìm một lương tri cho khoa học qua con đường của đạo học. Ông cho rằng
“Khoa học không tôn giáo thì què quặt, tôn giáo không khoa học thì mù lòa”
Còn nhiều điều nữa rất bổ ích và thú vị, hy vọng các độc giả
sẽ đọc được để thấy sự thật trong chừng mực đã có trong 320 trang sách: Mekong
Dòng sông nghẽn mạch của bác sĩ, nhà văn Ngô Thế Vinh đã dày công cũng từ lòng
yêu mến con sông và trên hết là tổ quốc và dân tộc.
20/5/2022
Ngã Du Tử
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Cái Tôi của Phạm Duy trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...
.jpg)




