Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2025
Nguyễn Tất Nhiên - Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá
Nguyễn Tất Nhiên - Thà như
Tài hoa một cách kỳ diệu trên sáng tác, một cách ngông nghênh của thi sĩ, và cái nhìn tình yêu bằng đôi mắt châm chọc, đập vỡ cả não cân xé tung cả thân xác… để so sánh bản thể si mê ngập ngụa điêu tàn. Trong khối tình mà Nguyễn Tất Nhiên bắt phải dại khờ vì ngày ta buồn thần thánh cũng thôi linh…
Người đương thời Thơ mới bàn về thơ Huy Cận
Người đương thời Thơ mới
bàn về thơ Huy Cận
Từ bốn năm trước khi in tập thơ Lửa
thiêng (NXB Đời nay, Hà Nội, 1940), Huy Cận đã có thơ trên các
báo Tràng An, Sông Hương (bút danh Hán Quỳ) và báo Đời nay… Ngay
đương thời, thơ Huy Cận đã
sớm được chào đón, ghi nhận, đánh giá cao.
Các bài tựa, giới thiệu chân dung, phê bình, đọc sách, tổng kết
của Xuân Diệu, Hội Thống Vũ Văn Lợi, Lương An, Lương Đức Thiệp, Hoài Thanh –
Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan, Kiều Thanh Quế… đã đi sâu phân tích những phương diện
cơ bản nhất về hồn thơ, nguồn cảm xúc vũ trụ, giọng điệu, nội dung và hình thức
nghệ thuật thơ Huy Cận.
Trước một năm, người bạn thơ đàn
anh Xuân Diệu (hơn Huy Cận 3 tuổi) đang nổi tiếng trên thi đàn với tập Thơ
thơ (1938) và nhiều bài luận sắc sảo về thi ca trên báo Ngày
nay (Thơ ngắn, Thơ ái tình, Đôi lời tự thuật về tập Thơ thơ, Thơ của
người) và đến năm sau (1939) lại nồng nhiệt giới thiệu Huy Cận với công chúng
yêu thơ. Thi nhân 23 tuổi Xuân Diệu trân trọng vinh danh chàng thơ 20 tuổi qua
bài viết Thơ Huy Cận:
“Đã giáp một năm nay, Huy Cận đi
tới giữa chúng ta với những bài thơ đặc biệt, với một tâm hồn có nhiều hương vị,
một kho tàng tuy đương hỗn tạp nhưng thực là giàu. Bổn phận của chúng ta đối với
văn chương Nam Việt, chẳng phải là ráng thấu hiểu để yêu mến những văn tài mới
lên hay sao?
Thơ Huy Cận cũng thuộc về hạng
thơ vừa xem qua thì dường như khó khăn, nhưng kỳ thực không có gì bí hiểm. Huy
Cận cũng là “một người của đời, một người ở giữa loài người”, ông không đi với
lối thơ phù phiếm, mộng mơ. Ông chỉ nói lòng người của ông, hồn người của ông,
và thơ ông càng đẹp, càng xinh, khi chứa đầy hương vị của đời, của sự sống” (Ngày
nay, số 166, ra ngày 17-6-1939)…
Xuân Diệu tinh tế cảm nhận và đặc
biệt đề cao các đặc tính hương vị – màu sắc – cảm giác của hồn thơ Huy Cận:
“Hương vị, đó là một đặc tính của
thơ Huy Cận. Thơ ông không lộng lẫy, không kiều diễm, không chú nơi thanh sắc,
không nở ra như những đoá hoa rực rỡ; thơ ông không khoe tươi. Thơ ông như nụ
mùa xuân, như trái mùa hè, gói gắm lại, nhưng đầy căng nhựa thơm và mật ngọt.
Ông không làm mê ta bằng màu sắc và âm điệu; ông có một sức quyến rũ lạ lùng
hơn, khó hiểu hơn: là mùi thơm. Thơ ông phô bày một cái gì thầm kín, rạo rực;
thơ ông không phải là rượu đã rót vào chén, thơ ông là men đương lên; thơ ông
không phải hoa sẵn trên cành, thơ ông là dòng nhựa đương chuyển. Ông cảm nghe sức
sống, cái nao nức của cảnh vật, cái tình ý của thiên nhiên. Ông thấy đời tựa hồ
như một thân thể đẹp đẽ tươi tốt, và máu đời chảy trong các mạch:
Nghe mạch đời đang thao thức âm
thanh,
Và nhạc sống vẫn âm thầm tiến tới…
Ông cũng là một phần của tạo vật
mạnh mẽ ấy, nên ông biết đời trong lúc đời còn chuyển, còn nao, còn sắp sửa, chứ
không chỉ trong khi đời đã thành sắc, thành hình. Tả lá đẹp, ông nói một cách
riêng, để ta thấy công của nhựa:
Rừng hân hoan muôn vạn nỗi dày
bày,
Của nhựa mạnh thành tơ trong lá mới.
Tả buổi chiều xuân, Huy Cận không
tả bằng màu sắc, mà tả bằng những cảm giác đã lắng nghe rất kỹ lưỡng trong tâm
hồn ông và trong thân hình của tạo vật; buổi chiều của ông rất mạnh mẽ trẻ
trung:
Hai hàng cây xanh
Đâm chồi hy vọng;
Ôi duyên tốt lành!
Én ngàn đưa võng,
Hương đồng lên hanh…
… Nhạc vươn lên trời;
Đời măng đang dậy
Tưng bừng muôn nơi;
Mái rừng gió hẩy
Chiều xuân đầy lời.
Thơ Huy Cận hay tả cái đương dậy,
cái đương lên, nên có một sức mạnh đặc biệt: không phải cái mạnh ồ ạt của biển
lớn, không phải cái mạnh nặng nề của núi to, không phải cái hùng dũng rầm rộ;
cái mạnh của Huy Cận là thứ mạnh hóa học, sức mạnh thầm của men, của rượu, của
lửa ngầm ngấm, của nắng, của mặt trời. Huy Cận yêu những sự chuyển nao thầm
kín, nên ông hay nói đến rừng, ông thích “đời măng hoa cỏ dại”, thiên nhiên,
tươi mạnh, xanh tốt như những người trẻ trai. Cái thiên chân kỳ lạ của ông thấy
cây liên lạc với người; hai bên cùng vươn lên để kiếm gió xa, gió lạ, và “họa điệu” với nhau.
Cũng như một buổi chiều kia, nằm trông lên, ông thấy trời là biển, gió là triều,
lá là thuyền, và ông cho ra những câu thơ rào rào đầy gió, hai lần bát ngát, vì
cái bát ngát của biển đã gồm trong cái bát ngát của trời:
Giữa trời hình lá con con,
Trời xa sắc biển, lá thon mình
thuyền.
Gió qua là ngọn triều lên,
Hiu hiu gió đẩy thuyền trên biển
trời.
Cái mạnh mẽ của Huy Cận là cái mạnh
của sự sống, chứ không phải cái mạnh của sức lực. Ông hay nhắc đến những chàng
trai:
Đời trẻ mạnh thơm như trang sách
mới,
Hồn mở rộng và giác quan phơi phới.
Còn gì dương tráng cho bằng một
chàng thiếu niên mười chín tuổi! Cho đến mùa xuân của ông vẫn là một xuân mạnh
hơn là một xuân đẹp, có những chàng trai:
Luống đất thơm hương mùa mới dậy
Bên đường chân rộn bước trai tơ…
Và người học sinh nào đã đọc bài
“tựu trường” mà không nghe trong lòng nao chuyển cái tuổi mười lăm “mắt tin cậy
và tóc vừa dưỡng rẽ” mang một cái rương nho nhỏ và một linh hồn bằng ngọc,
và làm lưu – học – sinh! Huy Cận rất thích những mùi thơm, nên ông nhắc và gọi:
Người bạn nhỏ! Cho lòng tôi theo
ghé!
Không nỗi gì có thể vuốt ve hơn.
Đêm tựu trường mùi cửa sổ mới
sơn,
Tủ mới đánh và lòng trai thơm
ngát…
Với những ý sống hiền hòa như vậy,
Huy Cận yêu đời một cách đầy sức khỏe, cái gì cũng “thơm như thể da người”,
cũng lành, cũng tốt; hễ cái gì theo sự sống, theo tự nhiên, là ngon ngọt như
cơm chín, nước trong. Và Huy Cận yêu người, và ông muốn tình yêu là sự thẳng
ngay, không “mặc cả thiệt hơn”, không trốn tránh, không suy tính. Ông hơi lạ rằng
sao người ta lại có thể không yêu nhau, không tìm cách gần nhau để “trốn bơ
vơ”. Ông than: “Chân theo lòng, mà người chẳng theo tôi” và cầu khẩn:
Đường không dài: người tránh để
thêm xa;
Gặp ngay đi! Đời may rủi lắm mà!
Huy Cận đa tình, tâm hồn ông là một
cô gái xưa rón rén ung dung, trông rất nết na dè dặt, kỳ thực hay liếc trộm và
ưa viết thư tình. Ông thu hợp cái rụt rè của Á Đông và cái tươi đậm của Âu Tây,
để làm nên cái “mạnh thầm” đặc biệt của Huy Cận. Ông yêu biết bao, yêu
mãnh liệt, nhưng hay giấu, rồi khi “tình mất”, ông ngồi trách mình sao đã quá rụt
rè. Huy Cận góp bao nhiêu đẹp tốt của Á Đông, nhất là cái lửa tro nồng ấm ở bên
trong, và cái xa vắng mênh mông của thời cũ”…
Xuân Diệu nhấn mạnh chất thơ với
“nỗi buồn mênh mang của thời gian”, “một cái hay rất mênh mông” và “bao nhiêu
bâng khuâng thương nhớ” trong thơ Huy Cận:
“Với những câu thơ cổ kính, phảng
phất một linh hồn Đường thi, Huy Cận thành thực nhớ và ngơ ngẩn yêu những cái
vu vơ mờ mịt. Ông gợi cảnh cũ, không biết rõ là cảnh Tàu hay Việt Nam, chỉ thấy
xưa, thấy xa, thấy vắng lặng: đó là cả nỗi buồn mênh mang của thời gian:
Buồn gieo theo gió veo hồ,
Đèo cao quán chật, bến đò lau
thưa.
Đồn xa quằn quại bóng cờ,
Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về.
(Chiều xưa)
Dừng cương, nghỉ ngựa non cao,
Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon…
Đi rồi, khuất ngựa sau non;
Nhỏ thưa tràng đạc, tiếng còn tịch
liêu…
(Đẹp xưa)
Một buổi trưa không biết ở thời
nào,
Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca
dao,
Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ,
Mà đôi lứa đứng bên vườn tình tự…
(Đi giữa đường thơm)
Xưa hay là xa, Huy Cận hay nhớ
nhung, nhớ không biết là nhớ cái gì, chủ đích không có, nhưng cảm giác thật rõ ở
bên lòng. Đó chỉ là nỗi “nhớ hờ”,
Ôi! Nắng vàng sao mà nhớ nhung!
Có ai đàn lẻ để tơ chùng,
Có ai tiễn biệt nơi xa ấy,
Xui bước chân đây cũng ngại
ngùng.
Nếu được là nhớ tiên, nhớ Thiên
Thai, thì cái nhớ còn có hình sắc. Huy Cận nhớ lạ lùng hơn, mênh mang hơn.
Cả cái lành lạnh xa xa của không gian, của quá khứ, của cái không – biết –
nơi – đâu và cái không – biết – thời – nào đã đến trong cái Buồn đêm mưa:
Đêm mưa làm nhớ không gian,
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nương nước giọt mái nhà,
Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn
buồn…
Trong mấy câu tuyệt diệu ấy, Huy
Cận cho ta hưởng một cái hay rất mênh mông, một cái hay làm cho ta rợn mình vì
lạnh lẽo. Ông còn gồm lại bao nhiêu ảo não cô đơn, và bao nhiêu bâng khuâng
thương nhớ trong những câu thơ rung động:
Cô hồn vạn thuở buồn đơn chiếc,
Có lẽ đêm nay cũng ngủ nhờ.
(Ngủ chung)
Thổi lạc hương rừng cơn gió đến,
Bâng khuâng trời rộng nhớ sông
dài…
(Nhớ hờ)
Nói sao hết, nói sao rõ được cái
man mác rất thiết thực và rất vẩn vơ trong thơ Huy Cận? Đó chẳng phải là
đáy sâu thẳm của linh hồn ta ư? Ông thương những hồn ma chịu rét mùa đông, ông
tưởng thấy họ đương nương ấp nhau trong đêm giá. Ông nhặt “dấu chân trên đường”,
ý mới ngộ nghĩnh và man mác làm sao! Ông lượm những dấu bụi để xem những bước
chân đã đi qua và đã biến mất”…
Rồi Xuân Diệu đi đến khái quát tầm
thời đại – phẩm chất tinh thần thời đại của thơ Huy Cận trong sợi dây liên lạc
với truyền thống và mối quan hệ Đông – Tây:
“Ông thân mật, ông ái ân, nhưng
bao giờ cũng có cái vụng về, cái thầm kín của ông, cái ngậm ngùi vô cớ.
Huy Cận! Một tâm hồn đặc biệt
quá, nồng cháy bên trong, e lệ bên ngoài, hay nói nhỏ và hay làm thinh, để cho
men lòng càng rạo rực hơn nữa; một tâm hồn hãy lặng yên để nước mắt chảy, không
biết khóc vì cái gì; vừa mạnh, vừa yếu, rất mới và rất xưa, rất Âu – Tây và rất
Á Đông: nghĩa là cả con người, con người phức tạp của muôn thuở.
Thơ Huy Cận không phải là một lời
hứa hẹn nữa. Thơ ông chỉ chờ một ít thời gian để trút hẳn cái vỏ còn sót lại,
và lộ ra bao nhiêu nụ lộc xanh tốt, mạnh cứng, cho ta hưởng một hương sống rất
lạ lùng”…
Vào tháng 6-1940, khi đang làm việc
ở Nha Thương chính tỉnh Mỹ Tho, Xuân Diệu đã kịp viết lời tựa cho tập Lửa
thiêng của Huy Cận và xuất bản ngay trong năm này. Xuân Diệu mở đầu
bài Tựa với những dòng trang trọng:
“Đời xưa có một người thi sĩ lành
như suối nước ngọt, hiền như cái lá xanh; gần chàng, người ta cảm nghe một nỗi hòa vui, như đứng giữa thiên nhiên, tâm hồn thơ thới. Thi sĩ thuở xưa làm những
bài thơ bao la như lòng tạo vật. Xưa kia, chàng thương mến cỏ hoa, yêu dấu ân
tình. Xưa kia… nhưng không! Chàng sống bây giờ đây, ở “nửa thế kỷ hai mươi”,
đang đi giữa đường phố kia, mặt ngước lên, mái tóc sau đầu vồng vồng như túp
lông con cò, con hạc. Ấy là Huy Cận đó; – nhưng một thi sĩ “thiên nhiên” như
ở chàng thì ở thời nào chẳng được, ở thời này cũng như ở thời xưa; chàng như
không ở trong thời gian mà chỉ ở trong không gian; người ta muốn tưởng linh hồn
Huy Cận là đám mây kia, là nỗi hắt hiu trong cõi trời, là hơi gió nhớ thương…
Trong thơ Việt Nam, nghe bay dậy
một tiếng địch buồn. Không phải sáo Thiên Thai, không phải điệu ái tình, không
phải lời ly tao kể chuyện một cái “tôi”; mà ấy là một bản ngậm ngùi dài: có phải
tiếng đìu hiu của khóm trúc, bông lau; có phải niềm than vãn của bờ sông, bãi
cát; có phải mặt trăng một mình đang cảm thương cùng các vì sao? Tiếng rền rĩ dịu
êm sẽ vấn lấy ta như một dải lụa ôm ấp một vết đau; tiếng len thấm thía vào hồn
ta như khí hậu của núi đèo; tiếng làm thành sương, đọng lệ trên mắt ta… Thơ Huy
Cận đó ư? Ai nhắc làm chi những nỗi thê thiết của ngàn đời, ai động đến cái lớp
sầu dưới đáy hồn nhân thế; những lời muôn năm than thầm trong lòng vạn vật, ai
thuật lại mà não nuột lắm sao!”…
Đồng cảm và đọc kỹ, hiểu
sâu Lửa thiêng, Xuân Diệu thấu suốt tâm thế của một “linh hồn trời đất”,
“hồn xưa”, “cái sầu của vũ trụ”, “cái thương vô hạn… cái tủi vô cùng” – những
phương diện mà ngày nay chúng ta định danh là thi pháp thời gian, không gian,
giọng điệu nghệ thuật:
“Thơ Huy Cận không được vui. Âu
cũng là một sự tự nhiên của đất trời: hàng phi lao đứng bên sông xanh kia, gió
xa thổi vào, cứ tự nhiên phát ra những lời rầu rĩ. Tại phi lao buồn hay tại gió
buồn. Tại gió buồn hay chỉ tại gió bay qua biển cả, thấy nhiều không gian quá
mà sinh ra bâng khuâng? Làm nên điệu buồn thương duyên cớ vốn là biển cả
đó thôi; mênh mông bao giờ cũng buồn; biển ra chân trời rồi biển tiếp với
đại dương, biển càng sầu to vì biển quá rộng lớn.
Linh hồn Huy Cận là một linh hồn
trời đất; nói thế không sai đâu! Xem suốt tập Lửa thiêng, cái cảm giác trội
nhất của ta là một cảm giác không gian: tự nghe xa vắng quanh mình; trên thiên
văn đài của linh hồn, nhìn cõi bát ngát; một cái buồn vời vợi dàn ra cho đến hư
vô. Huy Cận quá cảm nghe cái mênh mông, thì giọng thơ của người cũng lây cái sầu
của vũ trụ. Những bài thơ đôi khi vắng vẻ quá: “Đèo cao quán chật, bến đò
lau thưa“, “Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người“, hay là “Sầu thu lên
vút song song“; chỉ có trời đất ngơ ngẩn với nhau.
Thơ Huy Cận có một hồn xưa là tại
đó. Phong cảnh thường bay hết sắc màu, thường chẳng có xôn xao, chỉ những nét lặng
lẽ như tranh, làm thành những áng mơ tuyệt diệu. Cho đến những tình người của
Huy Cận cũng như không có thời khắc: ta không thấy những chi tiết nhỏ nhặt
của đời hằng ngày, những rạo rực mau chóng trong phút giây; chỉ thấy một tấm
lòng thương yêu không biết có tự đời nào, và đoạn thảm, hồi vui cùng nhuốm một
màu vĩnh viễn.
Chàng than nỗi tháng ngày vùn vụt,
bảo rằng hoa xuân không đậu, đời thoảng mùi ôi, trong khi mình chưa sống hết tuổi
xuân, đang còn ở giữa độ măng trẻ của đời người! Cái tiếc sớm, cái thương ngừa ấy
chẳng qua là sự trá hình của lòng ham đời, là cái tật dĩ nhiên của kẻ yêu sự sống.
Không yêu sự sống hay sao, một người thường có những cái nghiêng tai kỳ diệu:
khi mùa xuân cựa mình, khi những ý tươi lên rún rẩy trong cổ chim, khi “nhạc
vươn lên trời”… lòng ông cũng theo hăng hái; và thơ ông mang ngầm sinh lực như
men ủ nắng, tưởng chừng câu thơ có nhựa, sắp nứt ra như một cái mầm căng.
Nhưng mới sau câu vui, lại có câu
sầu. Ta cũng đừng vì vậy mà trách chàng Huy! Cái buồn Huy Cận là cái thương vô
hạn hoá thành cái tủi vô cùng: ấy là thứ “hận sầu dài dặc lâu bền nó gieo hoạ
trong lòng bọn thi sĩ”. Nỗi buồn đó vốn là nỗi buồn chung của con người; bọn
thi sĩ chúng tôi nhẹ lòng nhẹ dạ, nên lĩnh mang giùm tất cả cho nhân gian! Chuyện
ngày tháng phôi pha, chuyện cuộc đời quanh quẩn, chuyện linh hồn tù hãm, thân
thể bùn lầy, chuyện mùa đông hay buổi chiều quá đỗi thê lương như thế gian sắp
bị tiêu diệt, chắc không phải là chuyện một mình Huy Cận, ai cũng
nghe, mà cứ để trong cõi mù mờ của tình cảm; chúng tôi nghe rõ và nói ra, nên
chúng tôi thành những người hay thở than”…
Từ đây Xuân Diệu đưa ra những
cách hình dung khác nhau về thơ Huy Cận, phác họa những cách đọc, cách tiếp nhận
và mối liên hệ từ người đọc trở lại tác phẩm – tác giả – đời sống tinh thần xã
hội:
“Huy Cận nói hộ cho ta đó; những
giọt nước mắt thường đến quanh mí rồi ngừng, Huy Cận đã vì ta để rơi xuống má;
cái linh hồn ấy bơ vơ không kể hết, kiếp người lang thang, đất trời trôi nổi, lạnh
lắm, nhân gian ôi! Ta thấy người thơ đi trốn cô đơn; trốn ở đâu bây giờ? Hồn bọn
thi nhân thường là một món hàng ế; bán thì người ta không biết giá, mà
cho, họ nhận cũng chẳng ra tuồng. Vũ trụ mênh mang thế, một người đời
làm sao cho ta nguôi được những ám ảnh bao la! Và có say đắm một đôi ngày, cũng
không quên được cái bâng khuâng để lại từ kim cổ.
Trong đời, Huy Cận còn nghe đơn
chiếc, huống chi tưởng tượng lúc sang bờ vô định bên kia! Nghĩ mà xem, cái chết
rét mướt là chừng nào! Nay còn đây, nằm ngủ với gối chăn, khăng khít cùng da thịt,
mà chưa đủ ấm; đến khi một mình nằm dưới đất, thì còn ai vào thăm, còn ai ôm ấp,
còn đâu mặt trời và chim kêu!
Nói về cái chết, Baudelaire, thi
sĩ sở trường môn ấy, tỉ mỉ đếm từng con dòi, vạch từng bộ phận ươn thối rữa
tan; Baudelaire chỉ làm ta gớm ghê như gớm những vật dơ bẩn. Huy Cận không tả
gì hết, mà đem đến những cảm giác tái tê, thấm thía hơn biết bao! Người thi sĩ
Tây phương đứng bên ngoài nhìn những thi thể, người thi sĩ Đông phương nghe cái
chết bằng tình bên trong của mỗi người. Hư vô càng giá căm căm, khi Huy Cận bày
những cảnh sống tội nghiệp của người chết; họ tránh ngọn gió lò cửa mộ, họ ngủ
nhờ với nhau, họ nằm đợi chờ; ta thấy những hồn lạc loài vơ vất trong lạnh buốt,
tối căm; ta quá xót thương, và rợn mình, như gió âm ty đã thổi đến.
Mà Thê lương của sự chết cũng chỉ
là một phần của Thê lương lớn, của Thê lương chung. Sóng gợn tràng giang, trăng
phơi đầu bãi, hay dấu chân gió thốc, gánh xiếc đi qua: cũng vẫn là một nỗi vắng
vẻ ấy; ta thấy xa, xa và rất xa; lòng người rộng rãi quá cho đến nỗi làm một với
đất trời; và trời đất, và lòng người là một cõi mông lung, một khung mơ nó dịu
dàng ru ta, nhưng vừa ru vừa làm cho ta khóc.
Xuống dưới đáy tâm hồn ta, tất
nhiên ta thấy cái sầu cốt tủy. Sự thật ấy, Huy Cận cứ thấy luôn:
Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm.
Chính chàng cũng tự nhận như vậy.
Và nghe thơ Huy Cận, tự nhiên lòng ta lây cái cảm thương không cùng của thi sĩ
và trước nhất, ta cảm thương người thi sĩ rất nhiều cảm thương. Ta muốn nâng
linh hồn bơ vơ kia, ôm lấy an ủi: “Chúng tôi khuây khoả trong chuyện đời, ráng
lấp cho đầy cái khoảng trống trong linh hồn bằng những sự thế linh tinh; chúng
tôi sợ sầu, nên làm ngơ với những nhớ thương dằng dặc. Nay người nói ra, chúng
tôi càng nhớ lại; chúng tôi ngước mắt nhìn lên cõi trời để thấy hình ảnh hồn
chúng tôi. Chúng tôi cũng bơ vơ; mỗi hồn người là một cõi bơ vơ, trong đất trời
là một khung bơ vơ; chúng ta đồng một bơ vơ với nhau, vậy thì người cũng bớt bơ
vơ một chút”…
Tập thơ in ra vừa kịp để Mộc Khuê
Kiều Thanh Quế ghi danh vào cuộc tổng kiểm kê Ba mươi năm văn học (NXB
Tân Việt, H., 1941) dẫu chỉ với một dòng chơi chữ bông lơn: “ - Huy Cận trịnh trọng
đốt Lửa thiêng (1940)”…
Tiếp theo, trong bài giới thiệu Lửa
thiêng trên báo Tràng An (số 12, tháng 3-1941), nhà thơ đồng thời
là nhà phê bình Lương An trước hết đặt tiếng thơ trữ tình Huy Cận trong tương
quan với thời cuộc và cả một thế hệ thi nhân:
“Đọc những bài thơ này, người ta
ngỡ đâu như đọc bài Premières Solitudes của Sully Prudhomme, tả bọn học
trò còn nhỏ phải đưa vào trường, đêm khuya nhớ nhà ôm nhau mà sụt sùi.
Tuy nhiên cái đời học sinh trẻ
thơ ấy có bao giờ lâu dài được đâu, người ta chỉ có thể vô tư vào độ hai mươi
trở xuống; từ tuổi ấy trở lên người ta đã bắt đầu bước vào cuộc đời và nhấm vị
chua cay của nhân tình thế sự. Tâm trí, hoài bão, ý niệm người ta cũng đổi khác
đi. Lúc này là lúc phải lo âu, phải suy nghĩ để tìm lấy một xu hướng.
Thi nhân của ta cũng thế. Tuy sự
thay đổi trong đời chàng chỉ là một sự thay đổi không khí cỏn con nhưng cái tuổi
không cho phép chàng ngây thơ như trước nữa. Bởi lẽ ấy người ta bắt đầu thấy
Huy Cận buồn buồn. Mối buồn của thi nhân bao giờ cũng là một mối buồn vô hạn.
Huy Cận cũng trở nên thi sĩ của tình cảm thống thiết, cũng tham lam đòi hỏi
tình yêu, nhưng chàng thực chưa nặng tình cùng yêu mến như “Bạn chàng Xuân Diệu”.
Chàng cũng yêu tất cả, nhớ tất cả.
Tâm hồn chàng là một khu vườn cũng theo mùa mà nở hoa hoặc hiu quạnh. Tâm hồn
chàng bây giờ là đối tượng của những hiện tượng của thời tiết. Một điều đáng
chú ý là cái nhớ của chàng rất đỗi mênh mông và ôm trùm cả vũ trụ.
Nuôi một mối tình muôn dặm, yêu vẩn
vơ một nàng cỡi ngựa trong rạp xiếc, nằm trông lên thả mộng ra khắp phương trời,
nếu không phải chàng Huy Cận đang độ vô tư lự thì là ai nữa! Những hành động
thơ ngây, những mối tình trẻ trung ấy phải là của một chàng thi nhân sống ngoài
nhân tình thế sự; chàng thi nhân ấy nếu không phải Huy Cận thì là ai nữa! Nhưng
ngày thơ ấu ấy bây giờ không còn nữa. Bây giờ là độ thanh xuân chạm trán với cuộc
đời, bây giờ là lo âu, là nghĩ ngợi. Bắt gặp cảnh biệt ly mà sầu, đi giữa đường
thơm mà lo tình mất, thấy dấu chân trên đường mà thẫn thờ, nghe mưa rơi lác đác
mà buồn buồn, chao ôi, sao lòng chàng thi nhân của ta thiết tha và dễ cảm xúc đến
thế”…
Từ đây Lương An đi sâu cắt nghĩa,
lý giải chất thơ “sầu vạn cổ” và theo đó là vẻ đẹp hình thức, câu chữ làm nên
chất lượng thơ Huy Cận:
“Sở dĩ Huy Cận buồn thương như vậy
là vì chàng lo sợ một ngày rất gần hạnh phúc sẽ không cười duyên với chàng nữa,
mà chàng thì ham sống và tin vào cuộc đời quá. Chàng sầu vì tâm can chàng bắt
chàng phải thế. Đó là một trong những lý do đã đưa chàng lên lầu thơ bất tuyệt.
Mối sầu của chàng có thể cho là một mối sầu vạn cổ.
Từ đây Huy Cận là một con người nặng
tình sông núi, cảm gió sầu trăng. Bây giờ chàng đã thấy những sự mâu thuẫn của
đời nên thơ chàng cũng rẽ vào lối “đoạn tràng”. Chàng chạy theo dõi một mối
tình mất mà thương tiếc; chàng ngậm ngùi khi nắng chiều xế vàng trên bãi; chàng
nhớ nhà vì một cảnh tràng giang; chàng ngơ ngẩn khi bắt gặp một cảnh thu trên
núi rừng; chàng thẫn thờ sau một cái xe tang; chàng đau khổ khi nghĩ đến một
ngày sắp tới người sẽ mất hết linh hoạt để “bước vào mồ nhỏ tí”. Chàng đã bị những
sự mắt thấy tai nghe hàng ngày cảm hoá và làm cho xúc cảm nhiều quá. Ý nghĩ của
chàng chỉ quanh quẩn trong cõi sầu thương; chàng là thế đó, trọn một đời thương
nhớ và hồn bị thiên hạ bỏ đìu hiu; chàng than thở với Thượng đế, đã làm ra thân
thể con người để đau khổ và để làm nên tội lỗi.
Huy Cận sinh ra với một tấm linh
hồn đơn chiếc, đa sầu đa cảm. Chàng than van không có bạn bè tri kỷ, chàng đi
bơ vơ trên đường đời âm thầm và đau đớn. Tình yêu không lưu luyến chàng, mọi việc
gợi ra trước mắt chàng sự ê chề, sự chán ghét. Tất cả những nguồn sống ở đời đối
với chàng đơn sơ quá nên không thể làm cho cái tinh thần sinh hoạt của chàng
(vie intellectuelle) đầy đủ được.
Tả một phong cảnh tráng lệ biết
bao. Mây đùn núi bạc, chim nghiêng cánh nhỏ, nhẹ nhẹ ánh chiều sa, tưởng ngần ấy
cũng đã đầy đủ như một bức tranh của một họa sĩ tài hoa. Chính thi nhân cũng nhận
rằng cái cảnh tràng giang ấy đã làm cho mình ca tụng và mê mẩn. Ta hãy nghe thi
nhân nói cảm giác của mình:
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Ngày xưa, Thôi Hiệu đứng trước cảnh
lầu Hoàng Hạc mà ngậm ngùi và thấy khói sóng trên sông mà nhớ nhà:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
Nhưng ở đây, Huy Cận thấy trời nước
mông mênh quá, tráng lệ quá mà nhớ nhà. Vì lẽ ấy mà cảnh không tang thương,
lòng không hoài cổ, sông không đùn sóng mà cũng ngậm ngùi mối tình lữ thứ:
Tả một buổi chiều xuân, Huy Cận
viết:
Hai hàng cây xanh
Đâm chồi hy vọng…
Nhạc vươn lên trời
Đời măng đang dậy.
Thật là nói đủ tất cả hy vọng, trẻ
trung, êm dịu của một mùa xuân.
Tả một cảnh thu ở núi rừng:
Non xanh ngây cả buồn chiều,
Nhân gian nghe cũng tiêu điều dưới
kia.
Xem chữ “ngây” nó nhẹ nhàng, thấm
thía biết bao. Không, mùa thu đến non xanh có buồn gì đâu; non xanh chỉ thấy trời
buồn mà buồn lây mà thẫn thờ lây đấy thôi.
Đại để chỉ đơn cử ngần ấy tỉ dụ,
kể cho hết thì quá dài. Những chữ vừa trích ra đây trong tập Lửa
thiêng không phải ít. Đọc nó lên là thu được một cảm giác, thấy được một cử
động, nghe được một dư thanh. Thực là những chữ “thần tình”.
Thơ Huy Cận nhờ thế mà trong như thủy tinh và đẹp như ngọc thạch. Đọc Xuân Diệu thấy trong người sôi nổi ngọn
trào lòng rào rạt; đọc Huy Cận thấy trong người lâng lâng, tâm hồn khoan khoái.
Trí phán đoán sáng suốt, mắt nhận xét tinh vi, cách dùng chữ thần tình. Đó là
ba đặc điểm của Huy Cận.
Văn Huy Cận là một thứ văn chải
chuốt; tình Huy Cận là một tấm tình đơn giản mà thắm thiết.
Đừng thấy chàng buồn buồn mà cho
chàng là người lạnh nhạt hững hờ; đừng thấy văn chàng chạm trổ quá mà cho là mất
vẻ tự nhiên. Huy Cận viết văn rất điêu luyện; song không bao giờ để rơi những ý
niệm của mình. Bởi vậy khi đọc thơ Huy Cận ta thấy trong người nhẹ nhàng nhu
khoái. Đã lâu lắm từ ngày Thơ thơ ra đời đến nay mới lại có một tập
thơ đã khiến người phải đọc đến mà sinh vô hạn cảm tình với tác giả.
Tập thơ Lửa thiêng là một
tập thơ rất đáng chú ý về tình cảm cũng như về văn pháp. Không cần so sánh cũng
đủ nhận thấy đó là một tập thơ hay và tác giả là một thi nhân có đặc tài. Trong
công cuộc xây đắp thi giới nước nhà, một tập thơ như thế là tất cả một sự gắng
công, và có lẽ là một công trình văn nghệ rất đáng chú ý nữa.
Huy Cận hiện đang đi tới giữa
chúng ta với một tài hoa đương thời nảy nở. Tương lai của chàng chắc hẳn càng tốt
đẹp và sáng lạn hơn nữa.
Lửa thiêng ra đời, được hoan
nghênh nhiệt liệt, cái đó không phải nghi ngờ gì nữa. Nhưng phần thưởng đích
đáng nhất cho Huy Cận là tác phẩm của chàng sẽ được sống lâu”…
Một năm sau, Huy Cận cho in tập
văn xuôi Kinh cầu tự (Lê Văn Dự xuất bản, H., 1942) với cảm hứng được
đẩy cao từ Lửa thiêng, hướng đến cực tả con người cá nhân siêu thoát,
tan hòa trong thế giới tự nhiên, vũ trụ, tâm linh. Trong bài đọc sách Phê
bình Kinh cầu tự của Huy Cận trên Tạp chí Tri tân (số 55, tháng
7-1942), Hội Thống Vũ Văn Lợi đặc biệt chú trọng đặt tác phẩm văn xuôi này
trong tương quan với thi tập Lửa thiêng:
“Năm xưa nhà văn hào Pháp Paul
Bourget xuất bản cuốn tiểu thuyết Le Sens de la mort (Nghĩa cái chết),
mượn một thiên tình sử cao thượng, bi đát, để diễn đạt tư tưởng của tiên sinh về
lẽ sinh tử ở đời. Edouard Rod cũng đã băn khoăn đi tìm nghĩa cái sống, trong cuốn Le
Sens de la vie. Sinh, tử, tồn, vong, quả là một cái đề thiên cổ đã làm cho bao
thi nhân, mặc khách, cổ kim, Đông, Tây, tốn công suy nghĩ, mà vẫn chưa khám phá
được lẽ huyền bí của Tạo vật.
May thay, ông Huy Cận, đầy một
lòng tin tưởng và tín nhiệm vào cuộc đời, đã cho ta biết “Nghĩa sự sống” một
cách gọn gàng, minh bạch, trong tập Kinh cầu tự, “Ôm sự sống, hôn cuộc đời”,
tác giả sau khi ca tụng không ngớt “sự sống bao la và vô lượng”, “cái chằng chịt
muôn hình của sự sống”, “cái vui của Vũ Trụ” (thì “mỗi người sinh ra” chả là “một
cục vui của Tạo hóa” là gì?) đã cho ta biết một cách chắc chắn rằng: “Nghĩa
sự sống? Chỉ là lòng yêu sự sống mà thôi”.
Tác giả Lửa thiêng đã đứng về
phương diện tình cảm để giải quyết một vấn đề thuộc về siêu hình học. Có “cái mạch
sống mênh mang ồ ạt”, ông “tin tưởng ở sự sống, ở sức sống của con người”, ông
“đã yêu sự sống” quá chừng nên… phải nhập cuộc (cuộc sống). Ông “xin
Thượng Đế tha cho chúng sinh cái nhục héo hon, cằn cỗi”, và cầu nguyện để mong
Thượng Đế thương lấy “muôn loài cằn cỗi” và cho chúng sinh “lây cái vui chuyển
trời của cuộc sống”.
Nhưng Vũ Trụ không vui, cũng
không buồn, vẫn thản nhiên, lãnh đạm, trước những cuộc phế hưng, dâu bể. Cũng
như đóa hoa sớm nở, chiều tàn, sống, chết, là những sự tự nhiên trong trời đất.
“Cục vui của Tạo Hóa” là cái quái gì? Chẳng qua “đã mang tiếng khóc bưng đầu mà
ra” thì phải làm tròn phận sự, gánh vác với đời, góp mặt với giang sơn, chứ có
phải đâu vì “yêu sự sống quá chừng” mà nhập cuộc sống đâu?
“Vai vút mạnh, ngực dô ra”, ông
Huy Cận hăng hái “đi chinh phục cuộc đời” với một tin tưởng mãnh liệt vào sự sống;
nên ông cầu cho muôn loài “lây cái vui chuyển trời của sự sống”, ông tưởng rằng
dưới gầm trời ai cũng “vui như cây lên, như nước chảy”, ai cũng là “giòng sông
chảy ào về biển” cả.
Khi “ta vui thì ta gần Tạo vật”,
lòng ta vui thì ta thấy cả Tạo vật “như tự lòng ta mà ra”; trái lại, khi
“lòng yêu” của ta hầu cạn, thì sự sống cũng xa ta. Lòng ta buồn, thì “nhịp đàn
của Vũ trụ” cũng lỗi. Kết luận: nếu nghĩa sự sống chỉ là lòng yêu sự sống
mà thôi, thì một khi lòng yêu không còn tha thiết nữa, sự sống sẽ trở nên
vô nghĩa.
Phân tách tình thương hại, tác giả
cho là “một điều bịa của con người… không tự nhiên, và không mỹ thuật chút
nào”. Tuy vậy, ông cũng công nhận rằng “xã hội cần đến (tình thương hại) ở dưới
đồng bằng”. Nhưng, “ở trên đỉnh ta cần chi đến”; và “nếu không có lòng thương”…
thì “biết đâu” ông “đã không vút lên trời từ mấy thuở”! Phải, biết đâu đấy! Ông
vút lên trời, chắc là để “trông xuống thế gian cười”! Thật là “những ý nghiêng
trời chuyển đất”, và “ghê gớm”. Nhưng theo Anatole France, thì tình thương hại
lại là cần. Ta hãy nghe tiên sinh: “Tôi càng nghĩ đến sự đời, lại càng tưởng
nên lấy sự trào phúng và bi thương làm chủ và làm chứng cho đời người. Sự trào
phúng và sự bi thương là hai bạn tốt lắm; một bên cười làm cho đời người đáng
yêu; một bên khóc làm cho đời người đáng kính” (Plus je songe à la vie humaine,
plus je crois qu’il lui faut donner pour témoines et pour juges l’Ironie et la
Pitié. L’Ironie et la Pitie sont deux bonnes conseillères; l’unne en souriant,
nous la rend aimable; l’autre qui pleure nous la rend sacrée… Phạm Quỳnh dịch).
– Có lẽ theo thuyết sau này đúng hơn. – Chính ông Huy Cận cũng khuyên ta: “Lá
vàng có đáng thương chi, hãy dành lòng mà thương lá héo” (Kinh cầu tự, tr.42)
tuy ở mấy trang trên (28) ông đã bảo rằng “lòng thương hại không đẹp đâu… không
tự nhiên”. – Dẫu sao, cuộc đời là một tấn bi hài kịch, nên khi cười, lúc khóc,
có điểm thêm ít trào phúng và bi thương, tưởng cũng không phải là thừa vậy. Vả
lại, nếu người xưa “Thương con quốc rũ kêu mùa hạ/ Thương cánh bèo trôi rạt bể
đông”, thì ngày nay, chúng ta có “thương vợ chồng Ngâu, duyên chểnh mảng;
thương cha mẹ rện, phận long đong” cũng không có hại chi cơ mà!
Ông Huy Cận lại khuyên ta “nhổ hận
trong lòng… mà vứt đi! Hối hận không phải là cây tự nhiên trên đất này…”. Thiển
nghĩ, hối hận cũng như lòng thương hại, cần cho thế nhân lắm. Nhiều khi hình phạt
của xã hội, hay “búa rìu của dư luận” cũng không làm cho người ta đau đớn bằng
sự hối hận, có khi triền miên suốt đời không hết. – Một người đã phạm một điều
đại gian ác, chung quanh không ai biết. Nhưng những lúc đêm khuya thanh vắng,
“Một mình mình biết, một mình mình hay”, lương tâm dày vò, hối hận cắn rứt,… ví
dụ kẻ kia còn nhất điểm lương tâm…, thì cái sự hình phạt thiên nhiên đó làm cho
đau đớn e chề, dẫu sống đến trăm năm cũng không chắc đã nhổ được gốc trong lòng
mà vứt đi một cách ung dung giản dị! Cho nên bàn tay của Macbeth đã vấy máu tội
lỗi, thì tất cả những hương thơm của xứ Arabie cũng không sao gội sạch được.
Có lẽ tác giả Kinh cầu tự quên
rằng hai năm trước, trong tập Lửa thiêng đã viết bài Thân thế (…
Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán. Vì đã nâng bình lửa ấp lên môi; thì hẳn Chúa
cũng thẹn thùng hối hận. Đã sinh ra thân thế của con người…). – Thượng Đế, Chúa
Đời còn biết hối hận thay, huống chi người!…
… Tác giả Kinh cầu tự có
kiêu hãnh không? Ta cứ xem đoạn văn này sẽ rõ: “… Kẻ đọc ta ơi! Ta đang may áo
trừ hao cho người đây. Ít lúc nữa tâm hồn anh mới bận tư tưởng của ta đó… Ta
mong cho tâm hồn anh chóng nhớn?… ta mong anh chóng vất áo ta đi…”. Và: “Những
chiều thơ dại, đã có khi ta muốn cầm trái đất trong tay mà vắt như một quả
cam…”. Chắc là vắt lấy nước ngọt và bổ để uống cho đỡ khát! Vì tác giả khát
khao chân lý, đang “đi tìm nguồn”. Ông Huy Cận quả đã hơn M. Barrès và André
Gide”…
Tại Phần II - Thơ Việt Nam hiện
đại trong chuyên khảo Việt Nam thi ca luận (Khuê Văn xuất bản cục,
H., 1942), Lương Đức Thiệp đi sâu phân tích thơ Huy Cận và chú trọng đặt trong
tương quan với nhiều thi nhân khác:
“Với ông Huy Cận, trường “Thơ mới”
tiến vượt lên một bực nữa.
Qua những bài thơ, những bài “lục
bát” đặc sắc:
… Tai nương nước giọt mái nhà,
Nghe trời nặng nặng nghe ta buồn
buồn.
Nghe đi rời rạc trong hồn,
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi…
… Ngập ngừng mép núi quanh co,
Lưng đèo quán dựng mưa lò mái ngang.
Vi vu gió hút nẻo vàng,
Một trời thu rộng mấy hàng mây nao…
… Trơ vơ buồn lọt quán chiều,
Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người…
… Đồn xa quằn quại bóng cờ,
Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về…
… Bờ tre rung động trống chầu,
Tưởng chừng còn vọng trên lầu ải quan…
… Khuya nay mùa động đầu cành,
Đồng trăng lục nhạt, vàng thanh lối gần…
… Đêm nay không khí say nồng,
Nghìn cây mở ngọn muôn lòng hé phơi.
Khuya nay trông những mạch đời,
Mùa thanh xuân dậy thức người héo hon.
Ngón tay tưởng búp xuân tròn…
… Nai cao gót lẫn trong mù,
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về.
Sắc trời trôi nhạt dưới khe,
Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh lùng…
Ta thấy tâm hồn thi sĩ rung động. Một tâm hồn phiền toái hơn
tâm hồn ông Thế Lữ và Xuân Diệu, một tâm hồn có nhuốm màu thần bí.
Hỡi Thượng đế người công phu biết mấy!
– Nhưng mọt sâu nương náu giữa lâu đài…
… Thân không chán đau, ngực sầu thở chết,
Tay bồng thân và tay nữa ôm mồ…
… Chẳng bao lâu nữa sầu trong đất,
Vĩnh viễn mùa đông lạnh chỗ nằm…
Bởi vậy thơ ông Huy Cận cũng đặc sắc hơn và nguồn cảm cũng
giàu hơn. Song đáng tiếc ông hành văn còn Tây quá:
… Rồi tôi khóc, và đầu tôi ngủ gục,
Mắt tôi mờ, và tay tôi xuôi…
… Ồ những người ta đi hóng xuân.
… Bắt gặp mùa tươi lên run rẩy,
Trong cành hoa trẻ, cổ chim non…
Nhiều bài đáng nhẽ hay hơn được nữa, cũng vì ông còn thiếu
cái mềm dẻo của Việt ngữ mà bị giảm giá trị. Và, qua tác phẩm của ông cũng như
trong thơ Xuân Diệu, ta thấy hình bóng lờ mờ của Baudelaire:
Et dans un baillement avalelerait
le monde.
(Baudelaire)
Thâu trong cái ngáp dài vô hạn
Hình ảnh lung lay vũ trụ tàn
(Huy
Cận)
Tuy hai ông cũng như ông Thế Lữ có xu hướng lãng mạn. Mà cũng
cả trong hai ông, nhất là trong ông Xuân Diệu, ta cũng nhận được đôi dấu vết của
phong trào “Son Trẻ” bột phát (1935-38) qua những bài có cái giọng dí dỏm hay sỗ
sàng:
… Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn,
Tuổi hai mươi đến có ai ngờ!
Một hôm trận gió tình yêu lại:
Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ…
… Ai biết người yêu nhỏ của tôi,
Người yêu nho nhỏ trốn đâu rồi?
Bảo giùm với nhé: em tôi đó,
Tròn trĩnh xinh như một quả đồi.
(Huy
Cận)
… Muốn dập thơ theo kiểu Tây phương, muốn theo hình thức của
thơ Pháp, những hộ tinh xoay quanh ba ngôi định tinh đang lúc chói lòa (Thế Lữ,
Xuân Diệu, Huy Cận) cũng a dua đả phá niêm luật, đả phá âm hưởng. Họ có ngờ đàn
ba ngôi “sao” ấy đã từng hiểu biết, mới có ý định cải cách, có ý định phá bỏ lề
luật của người xưa”…
Đến công trình tổng thành Thi
nhân Việt Nam (Nguyễn Đức Phiên xuất bản, Huế, 1942…), Hoài Thanh – Hoài
Chân chọn in thơ Huy Cận 11 bài (đồng hạng Nhì với kiện tướng Lưu Trọng Lư), chỉ
xếp sau Xuân Diệu (15 bài). Trong phần lời dẫn, hai ông nhấn mạnh chất trữ tình
và những giá trị nhân văn, nhân tính, những buồn vui muôn thuở trong hồn người
cùng một lối nói, một điệu thơ Huy Cận không thể trộn lẫn:
“Đã có hồi người ta tưởng muốn
làm thơ hay phải là người hay khóc và thi nhân mỗi lần cầm bút là một lần phải
“nâng khăn lau mắt lệ”. Nhưng buồn mãi cũng chán. Trên tao đàn Việt Nam bỗng
phe phẩy một ngọn gió yêu đời, tuy không thổi tan những đám mây sầu u ám, song
cũng đã mấy lần ngân lên những tiếng reo vui. Người thính tai sẽ nhận thấy
trong những tiếng kia còn biết bao nhiêu vui gượng, nhưng dầu sao sự cố gắng
đau đớn của cả một lớp người đi tìm vui, cái cảnh ấy ai thấy mà chẳng động
lòng? Than ôi! Ngày vui ngắn ngủi, chưa được mấy năm nỗi buồn đã trở về, thảm đạm
và nặng nề hơn xưa.
Nó đã trở về trong tập Lửa
thiêng. Với những tính cách khác hẳn. Cái buồn Lửa thiêng là cái
buồn tỏa ra từ hồn một người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh. Có người muốn làm
thơ phải tìm những cảnh nên thơ. Huy Cận không thế. Nguồn thơ đã sẵn trong lòng
đời thi nhân không cần có nhiều chuyện. Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất
bình thường, nhưng người luôn luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp
nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong. Ai đã so sánh “Las Mocedades del
Cid” của Guillen de Castro với “Le Cid” của Corneille hay “Kim
Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân với “Đoạn trường tân thanh” của
Nguyễn Du đều nhận thấy trong “Đoạn trường tân thanh” và trong “Le
Cid” nhiều tình mà ít chuyện. Nếu ta so sánh thơ Huy Cận với thơ hồi trước,
ta cũng sẽ thấy như thế.
Huy Cận đi lượm lặt những chút buồn
rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não. Người đời sẽ ngạc nhiên vì
không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thi nhân lại có thể đúc thành bao nhiêu
châu ngọc. Ai có ngờ những bước chân đã tan trên đường kia còn ghi lại trong
văn thơ những dấu tích hẳn không bao giờ tan được:
Thôi đã tan rồi vạn gót hương
Của người đẹp tới tự trăm phương.
Tan rồi những bước không hò hẹn
Đã bước trùng nhau một ngả đường.
Lại có khi suối buồn thương cứ tự
trong thâm tâm chảy ra lai láng không vướng chút bụi trần:
Ôi! Nắng vàng sao mà nhớ nhung!
Có ai đàn lẻ để tơ chùng?
Có ai tiễn biệt nơi xa ấy,
Xui bước chân đây cũng ngại ngùng…
Phải tinh lắm mới thấy rõ lòng
mình như thế giữa cái ồ ạt, cái rộn rịp của cuộc đời hằng ngày.
Đây có lẽ là một điều Huy Cận đã
học được trong thơ Pháp. Nhưng với trí quan sát rèn luyện trong nền học mới,
Huy Cận đã làm một việc táo bạo: tìm về những cảnh xưa, nơi bao nhiêu người đã
sa lầy – tôi muốn nói sa vào khuôn sáo. Người nói cùng
ta nỗi buồn nơi quán chật đèo cao, nỗi buồn của sông dài trời rộng, nỗi buồn của
người lữ thứ dừng ngựa trên non, buồn đêm mưa, buồn nhớ bạn. Và cũng như người
đã làm thơ với những cái hình như không có gì nên thơ, người tìm ra thơ trong
những chốn ta tưởng không còn có thơ nữa. Người đã gọi dậy cái hồn buồn của
Đông Á, người đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất
này. Huy Cận triền miên trong cảnh xưa, trò chuyện với người xưa, luôn luôn đi
về trên con đường thời gian vô tận. Có lúc hình như thi nhân không phân biệt mộng
với thực, ngày trước với ngày nay. Cảnh trước mắt mơ màng như đã thấy ở một kiếp
nào, tình mới nhóm người tưởng chừng đã hẹn đâu “từ vạn kỷ”.
Nhưng con đường về quá khứ đi
càng xa, càng cô tịch; tứ bề càng vắng lặng, mênh mông. Có lẽ thi nhân trong cuộc
viễn du đã có lần nhác thấy cái xa thẳm của thời gian và không gian, có lẽ người
đã nghe trong hồn hơi gió lạnh buốt từ vô cùng đưa đến. Một Pascal hay một Hugo
trong lúc đó sẽ rùng mình, sẽ hốt hoảng. Với cái điềm đạm của người phương Đông
thời trước, Huy Cận chỉ lặng lẽ buồn:
Một chiếc linh hồn nhỏ:
Mang mang thiên cổ sầu.
Tôi nhớ lại cái buồn của một thi
nhân khác, Trần Tử Ngang, ngàn năm trước, cũng đã có một cuộc viễn du tương tự
như thế:
Ai người trước đã qua?
Ai người sau chưa đẻ?
Nghĩ trời đất vô cùng,
Một mình tuôn giọt lệ.
(Theo bản dịch của Ô. Võ Liêm Sơn trong Cô lâu mộng.
Nguyên văn chữ Hán:
Tiền bất kiến cổ nhân,
Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du,
Độc thương nhiên nhi lệ hạ)
Tuy nhiên điềm đạm đến đâu người
ta cũng không thể một mình đứng trước vô cùng. Người ta cần phải nương tựa vào
một cái gì cho đỡ lẻ loi: một lòng tin hay, ít nữa, một tình yêu, theo nghĩa
thông thường và chân chính của chữ yêu. Huy Cận có lẽ đã thiếu tình yêu mà Thượng
đế của người lại chỉ là một cái bóng để gửi ít câu thơ thì được, để an ủi thì
không. Cho nên người thấy mình lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa
vắng của thời gian. Lời thơ vì thế buồn rười rượi. Nhưng thương nhất là những
đoạn thơ vui (chẳng hạn bài “Tình tự”). Ta thấy một người hiền lành lắm
và non dại lắm, vui hấp tấp, vui cuống quýt, vì trong lúc vui người cũng biết
buồn đương chờ mình đâu đó.
Nhưng thương hay mến có làm gì.
Thương mến không đủ làm tan nỗi bơ vơ. Khoảng trống trong lòng thi nhân họa
tình yêu mới lấp được muôn một.
Có người bảo thơ Huy Cận già. Già
vì buồn, già vì hay kể lể những chuyện xưa. Nhưng trong đời người ta còn có tuổi
nào hay buồn hơn tuổi hai mươi (Tuổi hai mươi, không phải hai mươi tuổi).
Còn có tuổi nào hay vẩn vơ hơn. Tôi thấy thơ Huy Cận trẻ lắm. Huy Cận đã đưa
tôi về khoảng đời tôi bảy tám năm trước. Tôi bùi ngùi thương chàng niên thiếu hồi
bấy giờ đã sống luôn mấy năm trong hiu quạnh. Chàng cũng mang một tấm lòng chứa
chan yêu dấu đi tìm tình yêu trong tình bạn. Và vì thế chàng cũng đã đi lầm đường.
Chàng thấy cảnh trời đẹp, chàng gặp những tâm hồn cao quý, chàng được vô số mến
thương. Nhưng đẹp làm gì, cao quý làm gì, thương mến làm gì, nếu lòng chàng
không hề đón được ít hương ân ái. Vũ trụ bao la quá, lòng chàng giá lạnh quá,
chàng muốn quên mình, quên hết thảy trong tình yêu của một người, vô luận người
nào. Chàng gõ cửa hết nơi nọ chốn này song bao nhiêu tâm tư đều đóng kín.
Nỗi lòng xưa, nay sực tỉnh. Đọc
thơ Huy Cận tôi đã gặp lại một người em.
Chỉ một người em? Không. Năm
tháng dầu đi qua, đời tôi dầu có khác, nhưng tuổi hai mươi đã thực chết trong
lòng tôi?”…
Đến mục tác gia Huy Cận trong
sách Nhà văn hiện đại, Quyển ba (NXB Tân dân, H., 1943), Vũ Ngọc Phan nhấn
mạnh những khác biệt những khác biệt giữa thơ Huy Cận với Lưu Trọng Lư và Xuân
Diệu:
“Tác giả Lửa thiêng (Đời
Nay – Hà Nội, 1940) thật đã không giống Xuân Diệu và cũng đã khác
hẳn Lưu Trọng Lư. Ở Huy Cận, ta không thấy những tiếng kêu ầm ỹ, nóng
nẩy như ở tác giả Thơ thơ và ta cũng không thấy cái buồn vơ
vẩn và nhẹ nhàng như ở tác giả Tiếng thu. Huy Cận than thân thì
ít mà góp tiếng khóc với đời thì nhiều. Cái giọng nhớ hờ, thương
hão của ông đôi khi có hơi giống Tản Đà, nhưng ông lại khác Tản Đà ở
chỗ có lòng tin tưởng ở đấng tối cao. Lòng tin tưởng ấy lai láng
trong gần hết các bài thơ trong tập Lửa thiêng và ông đã
diễn ra với cả một tâm hồn nghệ sĩ. Đứng trước thiên nhiên và nhân
loại, ông là một họa sĩ giàu lòng tín ngưỡng và bình tĩnh, cần
cù, ngồi vẽ những nét dịu dàng, không quá bạo, để không phải tả
riêng mình, mà tả tất cả mọi người. Bởi thế sự “trình bày” của ông
không phải riêng ông mới có, nó có thể là sự trình bày của tất cả
những người buồn rầu và biết tin tưởng ở Trời, tin cậy ở Trời.
Hãy nghe:
Hỡi Thượng đế! tôi cúi đầu
trả lại
Linh hồn tôi đà một kiếp đi
hoang.
Sầu đã chín, xin Người thôi
hãy hái!
Nhận tôi đi, dầu địa ngục,
thiên đường.
(Trình bày, tr.19)
Phải tin cậy ở Thượng Đế
lắm, mới có thể thốt ra những lời ấy được. Tin cậy một cách không
ngậm ngùi, thương tiếc và kêu ca. Nhưng vì sao lại có sự tin cậy ấy?
Vì khi mắt đã mờ, tay đã buông xuôi, thì:
Không biết nữa, thiên đường
hay địa ngục;
Quên, quên, quên đã mang trái
tim người.
(Trình
bày, tr.22)
Mắt mờ, tay buông xuôi là lúc
loài người hết cảm giác, nên, tác giả mới phải trách Trời:
Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn
ly tán
Vì đã nâng bình lửa ấp lên
môi;
Thì hẳn Chúa cũng thẹn
thùng hối hận
Đã sinh ra thân thể của con
người.
(Thân
thể, tr.25)
Trời đã tạo người không theo
hình ảnh của Trời! Đó là tiếng than thở của nhân loại từ xưa và bây
giờ là tiếng kêu than của Huy Cận.
Lẽ thường, ở đời, chỉ có
khóc về mình, người ta mới khóc thảm thiết, còn khi khóc cả cho
người và cho mình, người ta vừa gạt nước mắt vừa liếc trông người
bên cạnh. Khi đã không có sự tủi thân – có riêng ai, mà tủi thân! –
cái khóc của người ta không tránh sao được sự lặng lẽ. Bởi vậy, cái
buồn của Huy Cận tôi muốn gọi là cái buồn của người nghệ sĩ hơn là
cái sầu của thi nhân.
Đứng trước cảnh vật, Huy Cận
đã nhìn bằng con mắt khách quan, dầu ông có ngỏ tình ý thì cái
tình ý ấy cũng là tình ý của nhiều người khác.
Đây, một bài thơ đầy nghệ
thuật, một bài thơ tả một nghệ sĩ nằm dưới gốc cây, nhìn lên chiếc
lá in vào nền trời xanh thẳm và tưởng tượng là một con thuyền trước
ngọn triều dào giạt, quanh quất có tiếng nhạc u huyền:
Giữa trời hình lá con con
Trời xa sắc biển, lá thon
mình thuyền.
Gió qua là ngọn triều lên
Hiu hiu gió đẩy thuyền trên
biển trời.
Chở hồn lên tận chơi vơi
Trăm chèo của Nhạc, muôn lời
của Thơ.
Quên thân như đã quên giờ
Tê mê cõi biếc bến bờ là
đâu.
(Trông lên,
tr.29)
Đến những bài Đẹp xưa,
Tràng giang, Thu rừng, thì thật là những bức tranh thủy mạc không
hẳn của một nước nào, hay của một dân tộc nào. Cái tính cách “nhân
loại” ấy có hơi cổ, hơi lặng lẽ, nhưng nó lại được cái đầy đủ,
nghiêm trang, có thể đem treo ở một phòng khách lớn, cái phòng tiếp
cả người thân lẫn người sơ.
Hãy đọc:
Dừng cương nghỉ ngựa non cao
Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo
hon…
Đi rồi, khuất ngựa sau non;
Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn
tịch liêu…
(Đẹp
xưa, tr.43)
Bèo dạt về đâu, hàng nối
hàng:
Mênh mông không một chuyến đò
ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân
mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi
vàng.
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng
chiều sa.
(Tràng giang, tr.52)
và:
Sầu thu lên vút song song,
Với cây hiu quạnh, với lòng
quạnh hiu.
Non xanh ngây cả buồn chiều,
– Nhân gian e cũng tiêu điều
dưới kia.
(Thu rừng, tr.52)
Thật là những câu tuyệt bút,
đặc giọng thơ Đường, để tả những cảnh buồn, và cũng thật là “nhân
loại”. Theo những câu trên này, một họa sĩ Tàu, một họa sĩ Nhật,
một họa sĩ Ấn Độ, hay một họa sĩ Việt Nam, đều có thể vẽ nên một
cảnh ở nước mình. Vì, người lữ thứ, con ngựa bên non, chuyến đò
ngang, sắc trời, mặt nước, chim bay, rừng thu, đều không có những màu
sắc thuộc hẳn xứ nào. Cả đến cái cảm giác ngây ngất trước cảnh
đẹp cũng là cái cảm giác của loài người từ thiên vạn cổ mà thi
nhân đã bao lần ca ngợi. Huy Cận nghệ sĩ ở chỗ đó và cũng thiếu
cái đặc sắc của nhà thơ ở chỗ đó: ông đã không đem cái tâm hồn của
riêng ông để hòa cùng vũ trụ.
Về tả tình cũng vậy. Huy
Cận bình tĩnh vô cùng, nên dù khi “ngậm ngùi” (tr.82), khi “hối hận”
(tr.38) cho đến lúc “tình tự” (tr.34), lúc “tiễn đưa” (tr.49), ông cũng
giãi tỏ những tính tình bình thản như những lúc ông “nhớ hờ” (tr.63)
thương hão. Thật không làm gì có những câu nồng nàn, tha thiết, nóng
nẩy như mấy câu sau này của Xuân Diệu:
… Và cảnh đời là sa mạc vô
liêu
Và tình ái là sợi giây vấn
vít.
Yêu, là chết ở trong lòng
một ít.
(Thơ Thơ, tr.29)
Trong say sưa, anh sẽ bảo em
rằng:
“Gần thêm nữa! thế vẫn còn
xa lắm”
(Thơ
thơ, tr.31)
Hay những câu nhớ nhung đắm
đuối như mấy câu này của Lưu Trọng Lư:
Bên khóm mai gầy một sớm thu,
Lòng sao thắc mắc mối sầu u.
Vắng chàng quên cả lời chàng
dặn:
Dạ buồn lại thổi tiếng vi
vu…
(Tiếng thu)
Cũng là những tình, những
cảnh buồn, mà ở mỗi nhà thơ, một khác.
Đây hãy nghe lời tình tự của
Huy Cận, những lời rất đẹp, rất êm đềm, nhưng thật không phải những
lời tha thiết tự tâm can:
Thuở chờ đợi, ôi, thời gian rét
lắm,
Đời tàn rơi cùng sao rụng
canh thâu;
Và trăng lu xế nửa mái tình
sầu,
Gió than thở biết mấy lời
van vỉ?
(Tình tự, tr.35)
Đó là mối đau thương giữa
trời đất của con người ta không cứ ở phương nào. Hay thì hay thật,
đẹp thì đẹp thật, nhưng làm sao người đọc được thấy mối tình mới
nẩy nở, để có những cảm giác say sưa thì không.
Huy Cận hơn Lưu Trọng Lư và
Xuân Diệu ở sự chọn chữ, lựa câu, ở sự hiểu cái ma lực của mỗi
chữ, như:
Sóng gợn tràng giang buồn
điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song
song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm
ngả;
Củi một cành khô lạc
mấy giòng.
(Tràng giang, tr.52)
Nai cao gót lẫn trong mù,
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn
thu mới về.
(Thu rừng, tr.101)
nhưng lại thua Lưu Trọng Lư và
Xuân Diệu về thành thực.
Hãy đọc Điệu buồn của
Huy Cận:
Mưa rơi trên sân,
Mái nhà nghiêng dần…
Ôi buồn trời mưa!
Nhìn trăm sao buồn
Của mưa trên sân…
Ôi lòng buồn chưa!
Đêm sa xuống gần.
Biết sao nói năng,
Nhớ chi bâng khuâng.
Cửa the gió rình;
Vườn cau nước dâng.
và một “điệu buồn” của Lưu
Trọng Lư, bài Mưa:
Mưa mãi mưa hoài!
Lòng biết thương ai!
Trăng lạnh về non không trở
lại.
Mưa chi mưa mãi!
Lòng nhớ nhung hoài!
Nào biết nhớ nhung ai!…
Ta thấy, ở đây, riêng về âm điệu, hai bài thật
khác nhau xa.
Nếu ai hỏi tôi: thơ Huy Cận
thế nào? Tôi sẽ đáp: thơ Huy Cận thanh tao, trong sáng, nhưng kém về
thiết tha, thành thật, là những điều cốt yếu trong thơ của Xuân
Diệu”…
Sau tất cả các bài viết và ý kiến
trên, đến lượt Kiều Thanh Quế – nhà phê bình số một của miền Nam đương thời –
đã lên tiếng đánh giá về nền thơ đương đại qua bài đọc sách thực sự công
phu Nhân đọc Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân (Tri
tân, số 134, tháng 3-1944); trong đó có trao đổi, tranh luận, phản biện,
lý giải về hiện tượng thơ Huy Cận:
“Quyển sách dày dặn cố ghi lại một
thời đại thi ca Việt Nam chẵn mười năm 1932-1942…
… Nhận thấy Tản Đà và Quách Tấn, kẻ
đứng đầu kẻ đứng cuối một thời đại thơ ca Việt Nam, chúng tôi sẵn sàng chia cảm
tưởng với tác giả Thi nhân Việt Nam rằng “các thể thơ xưa chỉ biến
thiên chứ không sao tiêu diệt”, và thi nhân xứ ta phải quay về dĩ vãng “để vin
vào những gì bất diệt đủ bảo đảm cho ngày mai”.
Có kẻ lầm tưởng mong ước ấy là muốn
bắt dòng thơ Việt Nam hiện đại phải quay về thể thơ lục bát của ca dao. Không!
quay về dĩ vãng là quay về với tâm hồn của thời xưa, chớ phải đâu quay về các
thể cách của thời xưa. Các nhà thơ hiện đại muốn phô diễn những đầu đề mới nào
cũng được, miễn phải gây lấy cho câu thơ Việt một cái hồn Việt Nam. Đừng viết một
câu thơ Việt để cho người Việt Nam lầm tưởng đó là của một người ngoại quốc mới
tập viết quốc văn ta. Tôi không bảo thơ Xuân Diệu, Huy Cận vô giá trị. Tôi cũng
nhận thấy trong đó một hơi hớm của tuổi hai mươi bồng bột, nhưng tôi cho rằng đó chỉ
là những lời thơ để đọc trong một thời. Rồi thì ta cũng phải yêu mến cái tâm hồn
nghìn xưa của nhân dân Việt Nam ta. Tâm hồn ấy chuộng sự sáng sủa và sự du
dương. Câu thơ du dương là câu thơ đầy nhạc điệu. Tôi không cho thơ Xuân Diệu,
Huy Cận hoàn toàn tối nghĩa, nhưng cũng có lắm câu không được sáng sủa
như: Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh (Xuân Diệu), Đất thêu nắng,
bóng tre rồi bóng phượng (Huy Cận). Hai động từ trong hai câu thơ ấy “mới”
quá, ta chỉ nên dùng trong văn xuôi, đừng nên vội dùng trong văn vần. Vì văn vần
là một thể tổng hợp, đã khó hiểu rồi, ta nỡ nào còn cố làm thêm khó hiểu nữa. Vả
lại, động từ thêu của Huy Cận còn dễ hiểu hơn động từ rũa của
Xuân Diệu, mà người ta có thể hiểu lầm là nguyền rủa, chửi rủa, như ở Nam Kỳ đồng
bào ta thường hiểu lầm. Bởi thế nên có một nhà thơ hài hước ở Nam Kỳ nhại câu
thơ của Xuân Diệu lại là: Trong vườn sắc đỏ chửi màu xanh.
Huy Cận còn hai câu thơ này thật
là khó hiểu:
Ngàn năm sực tỉnh, lê thê,
Trên thành son nhạt – chiều tê
cúi đầu…
Chiều tê là chiều gì? Buổi
chiều ấy ra làm sao? Người ta bảo vốn Huy Cận viết: “Chiều tê tái sầu”. Xuân Diệu
cho viết thế thì rõ ràng quá nên chữa lại “chiều tê cúi đầu” (thuật theo lời
Hoài Thanh).
Tôi cũng không bảo thơ Xuân Diệu,
Huy Cận thiếu hẳn nhạc điệu. Nhưng nhạc điệu của thơ hai ông, tôi thấy nó làm
sao ấy! Ta chỉ thích nghe nhạc điệu ấy trong một thời thôi. Rồi thì sao ta cũng
phải thích nhạc điệu của hơi thơ Đường hơn. Vì lẽ ấy mà tôi trọng cái nhạc điệu
trong thơ Quách Tấn, Thái Can, Leiba, Tchya hơn nhạc điệu trong thơ hai ông”…
So với nhiều tác gia Thơ mới, thơ
Huy Cận được người đương thời chào đón nồng nhiệt và thống nhất trong chiều hướng
đánh giá, khẳng định, vinh danh. Về cơ bản, những điểm đặc sắc trong thế giới
nghệ thuật, lối cảm, lối nghĩ, nội dung và hình thức câu thơ Huy Cận đều đã được
khai thác sâu sắc. Điều này cho thấy sự đồng cảm cũng như khả năng tiếp nhận của
bạn đọc và giới phê bình đương thời Thơ mới thực sự khách quan, đạt tới trình độ
cao trong việc thẩm định các giá trị thơ Huy Cận.
7/8/2018
Nguyễn Hữu Sơn
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Cái Tôi của Phạm Duy trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...

