Anh em nhà Caramazov 2
Xmerdiakov
Đúng là lúc anh đến bố vẫn ngồi ở bàn ăn. Như lệ thường, bữa
ăn dọn trong phòng khách, tuy nhà có phòng ăn hẳn hoi. Đây là căn phòng lớn nhất,
đồ đạc bày biện với tham vọng tạo nên phong cách cổ. Đồ gỗ rất cổ, màu trắng, lớp
bọc rất cũ kỹ, màu đỏ, bằng thứ vải pha lụa. Ở các khoảng tường giữa các cửa sổ
có đặt nhưng tấm gương với những bộ khung cầu kỳ chạm khắc theo lối cổ, cũng
màu trắng thếp vàng. Trên các bức tường bọc giấy bồi trong nhiều chỗ đã nứt rạn,
có treo hai bức chân dung lớn: chân dung của một công tước nào không rõ ba mươi
năm trước đã từng là tổng đốc tỉnh nhà, và chân dung một giáo chủ cũng đã qua đời
từ lâu. Ở góc phía trước có mấy bức ảnh thánh, ban đêm trước ảnh thắp ngọn đèn
thờ… cốt để sáng phòng hơn là để thờ phụng. Fedor Pavlovich thường đi ngủ rất
muộn, quãng ba, bốn giờ sáng, trước giờ đó ông ta thường đi lại trong phòng hay
ngồi suy nghĩ trong ghế bành. Điều đó đã thành thói quen. Ông ta thường ngủ một
mình trong nhà, cho gia nhân xuống nhà ngang, nhưng nhiều khi vẫn để tên hầu
Xmerdiakov ở lại với mình, hắn ngủ ở phòng ngoài trên một chiếc hòm dài. Lúc
Alecxei đến, bữa ăn đã xong, nhưng người nhà đang đưa mứt và cà phê lên. Sau bữa
ăn Fedor Pavlovich thích dùng đồ ngọt với cognac, Ivan Fedorovich cũng ngồi ở
bàn và uống cognac. Gia nhân Grigori và Xmerdiakov đứng bên bàn. Rõ ràng là cả
chú lẫn tớ đều hào hứng vui vẻ lạ thường.
Fedor Pavlovich cười hô hố; ngay từ phòng ngoài Alecxei đã
nghe thấy tiếng cười chói tai rất quen thuộc của bố và nghe tiếng cười, anh kết
luận rằng bố chưa say chút nào và lúc này là lúc ông dễ tính nhất.
- Nó đây rồi, nó về đây rồi! - Fedor Pavlovich gào lên, đột
nhiên hết sức vui mừng khi thấy Aliosa. - Vào đây với chúng ta, ngồi xuống đi,
dùng cà phê nhé, cà phê là món chay anh mà, cà phê nóng, tuyệt lắm nhé! Ta
không thết con cognac, con ăn chay mà, nhưng con muốn uống, con muốn phải
không? Không, ta cho con uống rượu mùi thì hơn, rượu mùi trứ danh! Xmerdiakov,
ra tủ lấy đi. Ở ngăn thứ hai bên phải, chìa khoá đây, nhanh lên!
Aliosa từ chối.
- Thì cũng cứ mang ra, con không uống thì chúng ta uống, -
Fedor Pavlovich mặt mày hớn hở. - Nhưng này, con đã ăn chưa?
- Con ăn rồi ạ. - Aliosa nói, thực ra anh mới chỉ ăn một miếng
bánh mì và uống một cốc nước kvaz ở bếp nhà Cha viện trưởng.
- Con yêu quý! Cừ lắm! Nó sẽ uống cà phê. Có phải hâm lại
không? Ồ không, vẫn nóng sôi. Cà phê trứ danh, Xmerdiakov pha đấy Xmerdiakov của
ta là một nghệ sĩ về món cà phê, bánh nướng kulêbik(1) và cả món cháo cá nữa,
chỉ cần cho biết trước. A mà khoan, ta đã báo con hôm nay mang hết nệm gối về hẳn
nhà phải không? Con mang chăn nệm về rồi chứ? Hê - hê hê!…
- Không, con không mang về. - Aliosa cũng nhếch mép cười.
- Thế nhưng con sợ, lúc ấy con sợ, con sợ phải không? Ồ, con
yêu quý của ta, ta nỡ lòng nào làm con phiền lòng. Này, Ivan ạ, khi nó nhìn vào
mắt ta và cười như thế này này thì ta chịu không nổi, chịu không nổi. Nhìn thấy
nó là ta nở cả ruột gan, ta yêu nó! Aliosa, đến đây ba ban phước cho con trai của
ba nào.
Aliosa đứng lên, nhưng Fedor Pavlovich đã đổi ý.
- Không, không, bây giờ ta chỉ làm dấu thánh cho con thôi,
nào, ngồi xuống. Này nhé, bây giờ con sẽ thích thú, mà chính là về một đề tài
con ưa thích. Con sẽ tha hồ mà cười. Con lừa cái Balaam(2) của chúng ta đã bắt
đầu nói, mà nói ra nói kia chứ! Con lừa Balaam là thằng hầu Xmerdiakov. Nó còn
trẻ, mới hai mươi tư, tính tình rất khó gần và lầm lì. Không phải là nó thô lậu
hay có điều gì hổ thẹn, không, trái lại nó ngạo mạn và dường như khinh miệt cả
thiên hạ. Nhưng không thể không nói đôi lời về nó, mà chính là lúc này. Nó được
Marfa Ignachievna và Grigori Vaxilievich nuôi dạy, nhưng lớn lên nó là đứa trẻ
"hết sức vô ơn", nói như Grigori, nó thích lánh riêng một mình, ẩn
trong xó tối nhìn đời. Thuở bé nó rất thích treo cổ mèo, rồi làm lễ chôn cất hẳn
hoi. Nó choàng tấm khăn trải giường lên người làm áo thụng thầy tu, vừa hát vừa
đưa đi đưa lại cái gì đó trên xác con mèo như chao bình hương. Việc đó nó làm
lén lút giấu rất kín. Có lần Grigori bắt được nó đang làm cái trò ấy và quật nó
một trận rất đau. Suốt tuần nó chúi vào một xó nhà và gườm gườm nhìn ra.
"Nó không yêu chúng ta, con quái vật này, - Grigori nói với Marfa
Ignatievna - mà nó cũng chẳng yêu ai. Mày mà là người ư, - đột nhiên lão nói thẳng
với Xmerdiakov, - mày không phải là người, mày từ hơi ẩm nhà tắm mà nảy nòi ra,
thế đấy…".
Sau này mới rõ ràng Xmerdiakov không bao giờ tha thứ cho lão
nhưng lời đó. Grigori đã dạy cho nó biết đọc và đến năm nó mười hai tuổi, lão bắt
đầu dạy nó sự tích Kinh Thánh. Nhưng đấy là việc thành công cốc. Có lần, mà mới
chỉ trong buổi học thứ hai hay thứ ba, thằng bé bỗng nhếch mép cười mỉa mai.
- Mày cười cái gì? - Grigori hỏi, hầm hè nhìn nó qua cặp
kính.
- Không ạ. Chúa Trời tạo ra thế giới trong ngày đầu, còn mặt
trời, mặt trăng và sao thì đến ngày thứ tư mới tạo ra. Vậy ngày đầu tiên lấy đâu
ra ánh sáng?
Grigori ngây người. Thằng bé nhìn thấy với vẻ giễu cợt. Ngay
trong ánh mắt của nó đã có cái gì cao ngạo. Grigori không nén nổi. "Ánh
sáng ở đây ra này!" - lão quát lên và cho nó cái tát trời giáng. Tháng bé
chịu đựng, không thốt lên lấy một lời. Nhưng lại chúi vào xó nhà mấy ngày. Chẳng
hiểu sao sau đó một tuần, nó bỗng phát bệnh động kinh lần đầu tiên trong đời,
và chứng bệnh ấy suốt đời không buông tha nó. Biết việc này, Fedor Pavlovich bỗng
có cái nhìn khác đối với thằng bé. Trước kia ông ta thờ ơ với nó, tuy không bao
giờ mắng chửi, và mỗi khi gặp bao giờ ông ta cũng cho nó một xu. Lúc hứng chí,
đôi khi ông ta bảo đem cho nó món đồ ngọt gì đó trên bàn ăn của mình.
Nhưng khi biết nó mắc bệnh, ông ta bắt đầu chăm nom nó, ông mời
bác sĩ, muốn chạy chữa cho nó, nhưng hoá ra bệnh nó không thể chữa được. Trung
bình nó lên cơn mỗi tháng một lần, kỳ hạn không nhất định. Cơn cũng mạnh yếu
khác nhau: có những cơn nhẹ, có những cơn rất nặng. Fedor Pavlovich nghiêm cấm
Grigori đánh đập thằng bé và cho nó lui tới nhà trên với mình. Tạm thời ông ta
cũng cấm không được bắt nó học hành gì cả những có lần hồi nó đã mười lăm,
Fedor Pavlovich thấy nó vơ vẩn cạnh tủ sách và đọc tên sách qua ô kính. Fedor
Pavlovich có khá nhiều sách, khoảng hơn một trăm cuốn, nhưng chưa ai thấy ông
ta đọc sách bao giờ. Ông ta lập tức trao chìa khoá tủ cho Xmerdiakov: "Thế
thì đọc đi, mày làm thủ thư cho tao còn hơn là đi tha thẩn ngoài sân, ngồi mà đọc
sách đi. Đọc cuốn này này" - và Fedor Pavlovich lấy cho nó cuốn
"Nhưng buổi chiều ở một ấp gần Dikanki"(3).
Thằng bé đọc hết, nhưng không thích, không lần nào mỉm cười
trái lại đọc xong nó cau có.
- Sao? Không buồn cười à? - Fedor Pavlovich hỏi. Xmerdiakov
im lặng.
- Trả lời đi, thằng ngốc.
- Toàn những chuyện bịa đặt. - Nó cười khẩy, nói lí nhí.
- Cút xéo đi, cái thứ tôi đòi có khác. Khoan đã, đây là cuốn
"Lịch sử thế giới" của Xmaragdov, viết toàn sự thật thôi, đọc đi.
Nhưng Xmerdiakov không đọc được nổi mười trang của Xmaragdov,
vì cảm thấy chán quá. Thế là tủ sách lại khoá kín. Ít lâu sau Marfa và Grigori
kể với Fedor Pavlovich rằng thằng này bỗng dưng trở nên rất lạ, tự dưng có tính
hay kinh tởm: ngồi trước đĩa súp, nó cảm thìa khuấy tìm mãi, cúi xuống nhìn kỹ,
múc một thìa giơ ra ánh sáng.
- Có con gián ư? - Có lần Grigori hỏi.
- Hay con ruồi - Marfa nói.
Gã trai ưa sạch sẽ không lần nào trả lời, nhưng với bánh mì,
và mọi món ăn khác cũng đều như thế: nó dùng đĩa giơ miếng ăn ra chỗ sáng, xem
xét kỹ như soi kính hiển vi, cân nhắc chán rồi mới đưa vào mồm. "Gớm chưa,
rõ ra tuồng cậu ấm con nhà"
Grigori lầu bầu nhìn nó. Nghe nói về đức tính mới nảy sinh của
nó, Fedor Pavlovich lập tức quyết định dùng nó làm đầu bếp và gửi nó đi học ở
Moskva. Sau mấy năm học ở đấy, nó trở về, mặt nom khác hẳn đi. Nó già đi nhanh
lắm, mặt nhăn nheo quá so với tuổi nước da vàng bủng, nom nó như một kẻ bị hoạn.
Về tính tính thì cũng vẫn gần như trước khi đi Moskva, vẫn ưa cô độc, không mảy
may cảm thấy cần giao du với ai cả. Ở Moskva, theo lời người ta kể lại, nó cũng
lầm lầm lì lì như trước; bản thân Moskva không rõ vì sao rất ít làm nó hứng
thú, thành thử nó chỉ biết được một đôi điều, còn mọi cái khác nó không hề để ý
đến, nhậm chí nó có đi nhà hát một lần, nhưng lúc về nó không nói chẳng rằng,
coi bộ không ưng ý. Nhưng khi ở Moskva trở về, nó ăn vận tươm tất, áo đuôi tôm
và đồ lót sạch sẽ, ngày nào nó cũng hai lần tự tay chải quần áo cẩn thận, còn ủng
của nó là đôi ủng sang trọng bằng da bê, nó rất thích đánh ủng bằng một loại xi
đặc biệt của Anh, thành thử đôi ủng lúc nào cũng bóng loáng như gương. Nó trở
thành một tay nấu bếp thượng thặng, Fedor Pavlovich ẩn định đền công cho nó, hầu
như toàn bộ số tiền đó Xmerdiakov tiêu hết vào việc sắm quần áo, kem mặt, nước
hoa, v.v.… Nhưng với phụ nữ, hình như nó cũng coi khinh chẳng kém gì coi khinh
giới đàn ông, nó làm bộ đạo mạo, gần như không thể đến gần được. Fedor
Pavlovich bắt đầu nhìn nó bằng con mắt khác. Độ này cơn động kinh của nó xảy ra
thường xuyên hơn và nặng hơn, những ngày ấy Marfa Ignatievna thay nó nấu ăn và
Fedor Pavlovich không vừa ý chút nào.
- Vì sao mày lên cơn nhiều hơn trước? - Đôi khi ông nhìn
chòng chọc vào mặc gã đầu bếp mới, hỏi. - Mày nên lấy vợ đi thì hơn, mày có muốn
lấy vợ không?
Nghe những lời đó, Xmerdiakov chỉ tái mặt đi vì bực tức,
nhưng không trả lời gì hết. Fedor Pavlovich phẩy tay bỏ đi. Có lần Fedor
Pavlovich say rượu để rơi xuống vũng bùn sân nhà ba tờ một trăm rúp vừa nhận được,
mãi đến hôm sau ông ta mới nhớ đến. Ông ta vừa đâm bổ đi lục tìm các túi áo thì
những tờ giấy bạc ấy đã nằm trên bàn của ông ta, đủ cả ba tờ. Ở đâu ra?
Xmerdiakov nhặt được và để lên đấy từ hôm qua. "Này chú
mày ạ ta chưa từng thấy ai như chú mày". - Khi ấy Fedor Pavlovich chỉ nói
gọn lỏn như vậy và thưởng cho nó mười rúp. Cần nói thêm rằng chẳng những ông ta
tin nó ngay thẳng, mà chẳng rõ vì sao còn yêu nó, tuy với ông ta nó cũng gườm
gườm như với người khác, và lúc nào cũng im lặng. Hoạ hoằn lắm nó mới mở miệng.
Lúc ấy nếu có người nào nhìn nó mà nảy ra câu hỏi: thằng cha này quan tâm đến
chuyện gì và nó hay nghĩ đến điều gì nhiều hơn cả thì quả tình là không thể tìm
ra câu giải đáp. Thế nhưng nhiều khi ở trong nhà hay ở sân, hay ở ngoài đường
nó bỗng dừng lại, trầm ngâm và đứng như thế có đến mười phút. Nhà tướng sổ nhìn
kỹ nó hắn sẽ nói rằng ở đây chẳng có suy tư nghĩ ngợi gì hết, mà chỉ là một trạng
thái chiêm nghiệm. Hoạ sĩ Kramxkoi có một bức tranh đặc sắc nhan đề "Người
chiêm nghiệm" một cánh rừng mùa đông, trên con đường chạy qua rừng một người
nông dân mặc chiếc áo kaftan rách rưới, đi dép bện bằng cỏ cây, đứng trơ trọi một
mình giữa nơi cô tịch, nom như đang suy tưởng, nhưng anh ta chẳng hề nghĩ ngợi
gì, mà đang "chiêm nghiệm". Nếu như đụng vào anh ta, anh ta sẽ giật
mình nhìn ta, như chợt tỉnh giấc, nhưng chẳng hiểu gì cả. Sự thực thì anh ta tỉnh
hẳn ngay, nhưng nếu hỏi anh ta nghĩ ngợi gì mà đứng như thế thì chắc hẳn anh ta
sẽ chẳng nhớ được gì, nhưng hẳn là anh ta vẫn giữ trong lòng cái cảm tưởng đã
có trong lúc chiêm nghiệm. Nhưng cảm tưởng ấy rất quý báu đối với anh ta, chắc
là anh ta tích luỹ chúng mà không để ý đến mà không hề có ý thức gì - cố nhiên
cũng không biết là vì sao và đề làm gì. Có thể sau khi tích luỹ cảm tưởng trong
nhiều năm, đột nhiên anh ta sẽ vứt bỏ hết và đi Jeruzalem, lang thang đi tìm sự
cứu rỗi, có thể anh ta đột nhiên sẽ đốt làng quê mình, mà cũng có thể hai việc
cùng xảy ra đồng thời. Trong dân gian có khá nhiều kẻ chiêm nghiệm. Có lẽ
Xmerdiakov là một trong những kẻ chiêm nghiệm như vậy, có lẽ hắn cũng háo hức
tích luỹ cảm tưởng mà gần như không biết để làm gì.
Chú thích:
(1) bánh nướng nhân thịt, cá, v.v… (N.D).
(2) Theo huyền thoại thánh, con lừa cái của nhà tiên tri
Ballaam bỗng cất tiếng nói (Thành ngữ này tương tự như "Cóc mở miệng"
của ta (N.D)
(3) Tập truyện ngắn của nhà văn Nga nổi tiếng N. Gogol (N.D)
Chương 7
Nhưng con lừa Balaam bỗng lên tiếng. Về một đề tài kỳ dị: buổi
sáng, nhân đến lấy hàng ở tiệm buôn của Lukianov, Grigori được ông ta kể cho
nghe câu chuyện về một người lính Nga bị những người châu Á bắt làm tù binh tại
một vùng biên giới xa xôi chúng buộc anh ta phải từ bỏ đạo Kito và theo đạo Hồi,
doạ nếu không nghe chúng sẽ hành hạ khổ sở cho chết một cách chậm chạp, anh
lính không chịu bỏ đạo và nhận khổ hình, chịu cho chúng lột da mình, chết mà vẫn
ngợi ca Chúa Kito. Công tích đó được đăng trên tờ báo nhận được hôm ấy. Grigori
kể câu chuyện ấy trong bữa ăn. Xưa nay cứ sau bữa ăn, lúc dùng món tráng miệng,
Fedor Pavlovich vẫn thích vui cười và tán gẫu, dù là chỉ với Grigori. Lúc này
ông ta đang thoải mái và thích thú. Ông ta vừa nhắp cognag vừa nghe, nghe xong
ông ta báo rằng nên phong thánh cho người lính đó và đưa bộ da bị lột của anh
ta về một tu viện nào đó: "Thiên hạ sẽ đổ xô đến và sẽ cũng khối tiền".
Grigori nhăn nhó vì thấy Fedor Pavlovich đã không cảm động chút nào, mà còn nhạo
báng theo thói quen xưa nay của mình. Lúc ấy Xmerdiakov đứng cạnh bỗng nhếch
mép cười.
Trước đây Xmerdiakov cũng vẫn hay được phép đến đứng gần bàn
ăn, đúng hơn là vào cuối bữa ăn. Từ khi Ivan Fedorovich về nhà thì gần như bữa
nào Xmerdiakov cũng đến.
- Mày cười gì vậy? - Fedor Pavlovich hỏi, ông ta nhận thấy
ngay nụ cười và cố nhiên ông ta hiểu đây là cười Grigori.
- Con nghĩ đến anh chàng nọ. - Xmerdiakov đột nhiên nói to. -
Nếu như công tích của người lính đáng khen ấy thực hết sức lớn lao thì theo
con, anh ta cùng chẳng có tội lỗi gì nếu anh ta chối bỏ tên đấng Kito và phép rửa
tội của mình để cứu lấy tính mạng mình. Sống để làm những việc thiện mà nhiều
năm sau sẽ chuộc được sự yếu hèn chốc lát.
- Sao lại không có tội là thế nào? Mày nói nhảm, vì thế mày
đáng phải xuống địa ngục và sẽ bị nướng trong lửa như miếng thịt cừu. - Fedor
Pavlovich nói.
Vừa hay Aliosa vào, Fedor Pavlovich, như chúng ta đã biết, rất
đỗi vui mừng khi thấy Aliosa.
- Đang nói về đề tài quen thuộc của con đây, về đề tài quen
thuộc của con đây! - ông ta cười hì hì, kéo Aliosa ngồi nghe.
- Về chuyện nướng trong lửa địa ngục thì không có đâu, sẽ
không có chuyện gì đâu, theo đúng lẽ công bằng thì không thể có chuyện như thế
được. - Xmerdiakov nói một cách đĩnh đạc.
- Theo đúng lẽ cỏng bằng là thế nào? - Fedor Pavlovich la lên
càng vui vẻ hơn, huých đầu gối vào Aliosa.
- Nó là thằng đê tiện, thế thôi! - Grigori buột thốt lên. Lão
hằm hằm nhìn thẳng vào mắt Xmerdiakov.
- Chớ vội gọi con là kẻ đê tiện, bác Grigori Vaxilievich ạ. -
Xmerdiakov cãi lại một cách bình tĩnh và từ tốn. - Bác nên suy xét một chút thì
hơn: một khi con đã rơi vào tay những kẻ hành hạ người Kito giáo và chúng bắt
con phải nguyền rủa tên Đức Chúa Trời và chối bỏ lễ rửa tội của con thì con
hoàn toàn có quyền tuân theo trí xét đoán của mình, bởi vì như thế không có tội
gì hết.
- Điều đó thì mày nói rồi, đừng tô vẽ thêm nữa, mà chứng minh
đi! - Fedor Pavlovich quát lên.
- Thằng bếp mạt hạng! - Grigori lầu bầu với vẻ khinh miệt.
- Xin chớ vội quá lời, bác đừng chửi mắng mà hãy suy xét xem,
bác Grigori Vaxilievich ạ, chỉ vì hễ con nói với bọn hành hạ rằng: "Không,
tôi không phải là người Kito giáo và tôi nguyền rủa Chúa Trời đích thực của
tôi" là lập tức con sẽ bị toà phán xét tối cao của Chúa Trời nguyền rủa,
con sẽ bị giáo hội rút phép thông công như một kẻ tà đạo, thậm chí ngay giây
lát đó, - không cần con nói ra câu đó, mà hễ con vừa có ý định nói ra là chưa đầy
một phần tư giây đồng hồ con đã bị rút phép thông công có phải thế không, bác
Grigori Vaxilievich.
Nó nói với Grigori với vẻ thích thú ra mặt, tuy thực ra nó chỉ
trả lời những câu hỏi của Fedor Pavlovich và nó hiểu rất rõ điều đó nhưng cố ý
làm ra vẻ như những câu hỏi ấy là do Grigori đặt ra cho nó.
- Ivan! - Fedor Pavlovich bỗng lớn tiếng gọi. - Hãy cúi xuống
sát tai ba. Nó biện luận dông dài như thế cốt để con nghe đấy, nó muốn con khen
nó đấy. Khen nó một chút đi.
Ivan Fedorovich nghe câu nói hoan hỉ đó của bố với thái độ hết
sức nghiêm trang:
- Khoan, Xmerdiakov, hãy im đi một lát. - Fedor Pavlovich lại
lớn tiếng nói. - Ivan, lại cúi sát gần nữa đi, Ivan Fedorovich lại cúi xuống với
vẻ hết sức nghiêm trang.
- Ba yêu con cũng ngang với Aliosa. Đừng nghĩ rằng ta không
yêu con. Con uống cognac chứ?
- Vâng. - "Nhưng ba say lắm rồi". - Ivan Fedorovich
nhìn bố chằm chằm.
Chàng nhìn Xmerdiakov bằng con mắt hết sức tò mò.
- Ngay lúc này mày cũng bị nguyền rủa rối. - Grigori bỗng nổi
khùng. - Thằng khốn kiếp, vậy thì làm sao mày còn dám luận bàn nếu như…
- Đừng thoá mạ, Grigori, đừng thoá mạ! - Fedor Pavlovich ngắt
lời.
- Hãy cố kiên nhẫn một chút xíu, bác Grigori Vaxilievich và
xin hãy nghe nốt, vì con chưa nói hết mà. Này nhé, đúng vào lúc con bị Thượng đế
nguyền rủa, đúng vào thời khác cực trọng ấy, con tuồng như đã trở thành một kẻ
tà đạo, lễ rửa tội của con bị xoá bỏ và không còn ràng buộc gì nữa, phải thế
không ạ?
- Kết luận đi, chú mày, kết luận đi. - Fedor Pavlovich giục,
khoái trá nháp cognac.
- Nếu con không còn là người Kito giáo thì tức là con không
nói dối quân dữ khi chúng hỏi: "Mi có phải là tín đồ Kito giáo không?
" bởi vì chính Chúa Trời đã cởi bỏ đạo Kito cho con rồi, chỉ vì con đã có
ý định chối đạo và ngay trước khi con kịp mớ miệng nói với quân dữ. Một khi con
đã mất đạo thì bằng cách nào và vì lẽ gì mà ở thế giới bên kia người ta có quyền
xét hỏi con như một người Kito giáo về tội chối bỏ Chúa Kito, khi con chỉ mới
có ý định chứ chưa kịp chối bỏ thì đã mất phép rửa tội rồi! Một khi con không
còn là người Kito giáo, tức là con không thể chối bỏ đấng Kito, bởi vì lúc ấy
con chẳng có gì để mà chối bỏ nữa. Bác Grigori Vaxilievich ạ, sẽ chẳng có ai hỏi
tội một tên Tarta theo tà đạo, dù là chất vấn ở trên trời đi nữa, về việc tại
sao hắn không sinh ra là người Kito giáo, chẳng ai lại đi trừng phạt hắn về tội
ấy, bởi vì không thể lột da con bò hai lần được.
Và chính Thượng đế toàn năng nếu có hỏi tội tên Tarta khi hắn
chết đi thì con cho rằng Ngài chỉ phạt rất nhẹ thôi (vì không thể hoàn toàn
không trừng phạt được) bởi Ngài nghĩ rằng hẳn chẳng có tội gì khi bố mẹ hắn
theo tà đạo lại sinh ra hắn là kẻ tà đạo. Chúa Trời liệu có thể dùng quyền phép
bắt đi một tên Tarta rồi bảo rằng hẳn là tín đồ Kito giáo không? Nếu vậy thì đấng
Toàn năng hoàn toàn nói trái sự thật. Đấng Tối cao cai quản bầu trời và trái đất
có thể dối trá như vậy được không, dù chỉ là một lời dối trá thôi?
Grigori ngây người trố mắt nhìn kẻ hùng biện. Lão không hiểu
rõ lắm, nhưng đột nhiên lão cũng hiểu đôi chút những lời rối rắm ấy và lão như
người bỗng nhiên vập trán vào tường.
Fedor Pavlovich uống nốt ly rượu và cười ré lên:
- Aliosa. Aliosa, kỳ chưa! A, nhà quỷ biện! Chắc là nó đã từng
gặp gỡ các thầy tu dòng Tên ở đâu đó, Ivan ạ. Chà - chà, mày sặc mùi dòng Tên,
ai dạy mày thể hả? Nhưng chẳng qua là mày nói dối, thằng quỷ biện ạ, mày nói dối,
nói dối và nói dối. Đừng buồn phiền, Grigori chúng ta sẽ đập nó tan tành ngay
bây giờ. Này, mày nói đi, con lừa kia: ừ thì trước mắt quân dữ mày có lý, nhưng
tự trong tâm tưởng mày đã chối bỏ đạo của mày và mày nói rằng ngay lúc đó mày
đã bị nguyền rủa, mà một khi mày đã bị nguyền rủa thì xuống địa ngục người ta sẽ
không xoa đầu mày đâu. Về việc này mày nghĩ sao, gã tu sĩ dòng Tên tuyệt diệu của
ta?
Ivan Fedorovich nghe câu nói hoan hỉ đó của bố với thái độ hết
sức nghiêm trang:
- Đương nhiên là tự trong tâm tưởng con đã bỏ đạo; nhưng như
vậy cũng chẳng có tội lỗi gì lắm, nếu có tội thì tội cũng rất thường thôi.
- Sao lại rất thường là thế nào? Mày nói lão, thằng trời
đánh! - Grigori rú lên.
- Bác hãy tự suy xét xem, bác Grigori Vaxilievich, -
Xmerdiakov nói tiếp bằng giọng đều đều đĩnh đạc, nó biết mình thắng, nhưng dường
như khoan hồng với kẻ bại. - Bác hãy tự mình suy xét xem, bác Grigori
Vaxilievich: Kinh Thánh nói rằng nếu có đức tin dù chỉ bằng hạt thóc thôi thì bảo
trái núi lăn xuống biển, núi cũng lăn xuống tức thì, chỉ cần ta ra lệnh. Này
bác Grigori Vaxilievich ạ, con là kẻ không tin đạo, còn bác là người giầu đức
tin đến độ luôn luôn mắng mỏ con, vậy bác hãy thử bảo trái núi kia lăn đi,
không phải là lăn xuống biển (vì biển xa đây quá), mà chỉ cần lăn xuống con
sông nhỏ hôi hám chảy qua sau vườn nhà ta thôi, và bác sẽ thấy ngay rằng chẳng
có cái gì nhúc nhích, tất cả vẫn y nguyên như trước, dù bác có quát thét thế
nào đi nữa. Như vậy tức là cả bác cũng không tin đạo một cách thích đáng, mà chỉ
vin vào cớ đó để mắng người khác thôi. Lại còn thế này nữa, trong thời đại
chúng ta, không riêng gì bác, mà dứt khoát là không một ai, kể từ những đấng bậc
cao cả nhất cho đến người mugich hèn kém nhất, không một ai có thể làm cho núi
lăn xuống biển, may ra thì trên cả trái đất này có được một người, nhiều lắm là
hai, có thể làm được việc đó, nhưng có lẽ họ giấu mình tu hành ở một chỗ nào
trong sa mạc Ai Cập, vì vậy không thể tin được họ. Nhưng nếu vậy, nếu tất cả mọi
người còn lại đều không tin đạo, tức là cả bàn dân thiên hạ, trừ có vài người ẩn
tu trong sa mạc, thì lẽ nào hết thảy đều bị Chúa Trời nguyền rủa, mặc dù ai
cũng biết rằng Ngài lòng lành vô cùng, lẽ nào Ngài không tha thứ cho ai hết. Vì
thế con hy vọng rằng dù con có nghi ngờ đi nữa, con cũng sẽ được tha thứ khi
con nhỏ nước mắt ăn năn.
- Hãy khoan! - Fedor Pavlovich la ré lên khoái chí tột độ. -
Vậy là có hai người có thể bắt núi phải chuyển chỗ, mày vẫn thừa nhận là có những
người như thế chứ gì? Ivan, nhớ kỹ lấy điểm ấy, ghi vào: toàn bộ bản chất người
Nga thể hiện ở đấy.
- Ba nhận xét hoàn toàn đúng: đấy là một nét đặc biệt của tín
ngưỡng dân gian, - Ivan Fedorovich mỉm cười tán thành nói.
- Con đồng ý! Con mà đồng ý thì đúng là như thế rồi! Aliosa,
có phải đúng như thế không? Tín ngưỡng Nga hoàn toàn là như thế phải không?
- Không, Xmerdiakov hoàn toàn không có tín ngưỡng của người
Nga. - Aliosa nói một cách nghiêm chỉnh và cả quyết.
- Ba không nói về tín ngưỡng của hắn, mà về cái nét ấy, về
hai người tu trong sa mạc, chỉ về nét ấy thôi: đấy là theo lối Nga phải không?
- Vâng, đấy là một đặc điểm hoàn toàn Nga. - Aliosa mỉm cười.
- Câu ấy của mày đáng giá một đồng tiền vàng, con lừa ạ, tao
sẽ giao cho mày đồng tiền ấy ngay hôm nay, nhưng còn về mọi cái khác dù mày nói
lão khoét, lão khoét. Này thằng ngốc ạ, mày nên biết rằng tất cả chúng tao ở
đây mà không tin đạo thì chỉ vì tính lông bông, vì không có thời giờ: thứ nhất
là công việc bù đầu thứ hai là Trời cho ít thời gian quá, một ngày chỉ có hai
mươi tư tiếng đồng hô, thành thử không đủ thời giờ ngủ cho no giấc chứ đừng nói
gì đến chuyện ăn năn. Còn mày chối đạo nước quân dữ khi mày chỉ còn có việc
nghĩ đến đạo và chính là lúc cần chứng tỏ đức tin! Như vậy là có tội, chú mày ạ,
tao nghĩ vậy đúng không?
- Có tội thì có tội nhưng bác hãy xét xem, bác Grigori
Vaxilievich ạ, dẫu sao thì tội cũng nhẹ thôi. Vì là con có tội nếu không vì đạo
của mình mà chịu khổ nhục, mà lại theo tà đạo của Mohamet. Nhưng lẽ ra cũng
không đến nỗi phải chịu khổ hình, bởi vì lúc đó chỉ cần bảo trái núi: hãy đè bẹp
con gián, và con sẽ ung dung bỏ đi, miệng ngợi ca uy danh Chúa Trời. Nhưng nếu
chính lúc ấy con đã thử thách mọi cách, thét lên với trái núi: đè chết những
quân dữ kia đi, mà núi vẫn trơ ra thì bác bảo làm sao con không nghi ngờ cho được,
nhất là vào cái giờ ghê rợn sợ đến chết người như thế? Vả chăng con vẫn biết rằng
con không thể được hưởng trọn vẹn nước thiên đàng (bởi vì núi không chuyển dịch
theo lời con bảo thì nghĩa là Trời chẳng tin gì lắm đức tin của con, bởi thế phần
thưởng dành cho con ở thế giới bên kia chẳng to tát gì lắm), đã thế thì cớ gì
con phải chịu cho người ta lột da con khi sự hy sinh đó chẳng có lợi gì cả? Bởi
vì cho dù con có bị lột da đến ngang lưng đi nữa thì núi vẫn không hề nhúc
nhích khi con bảo nó hay gào thét lên.
Lúc ấy chẳng những có thể nghi ngờ, mà còn có thể mất trí vì khiếp sợ nữa kia, thành thử không thể phán đoán gì được nữa. Vậy thì con có tội lỗi gì ghê gớm nếu như không thầy mình có lợi lộc gì, phần thưởng gì cả ở đấy cũng như ở đây, con tìm cách ít ra cùng cứu lấy cái mạng mình? Và bởi vì con rất tin vào lòng nhân từ của Chúa Trời, nên con hy vọng rằng con sẽ được tha thứ hoàn toàn…
Lúc ấy chẳng những có thể nghi ngờ, mà còn có thể mất trí vì khiếp sợ nữa kia, thành thử không thể phán đoán gì được nữa. Vậy thì con có tội lỗi gì ghê gớm nếu như không thầy mình có lợi lộc gì, phần thưởng gì cả ở đấy cũng như ở đây, con tìm cách ít ra cùng cứu lấy cái mạng mình? Và bởi vì con rất tin vào lòng nhân từ của Chúa Trời, nên con hy vọng rằng con sẽ được tha thứ hoàn toàn…
Chương 8
Cuộc tranh luận đã chấm dứt, nhưng thật lạ lùng, Fedor
Pavlovich trước đó vui vẻ như thế mà về cuối bỗng đâm ra càu cạu ông ta cau có
tợp một ly, như vậy đã là quá lắm rồi.
- Các người xéo đi, những thầy tu dòng Tên kia, xéo. - ông ta
quát gia nhân. - Xuống nhà đi, Xmerdiakov. Hôm nay tao sẽ cho mày đồng tiền
vàng đã hứa, nhưng mày xuống nhà đi. Đừng buồn, Grigori, về với Marfa đi, mụ sẽ
an ủi lão, sẽ thu xếp cho lão nghỉ ngơi. Bọn vô lại, chúng không để cho người
ta yên tĩnh một chút sau bữa ăn. - ông ta bỗng thốt lên một cách bực bội sau
khi gia nhân đã lui hết theo lệnh ông ta. - Thằng Xmerdiakov bây giờ bữa nào
cũng mò lên, ấy là vì nó tò mò về con, con mơn trớn nó bằng cách nào vậy? - ông
ta nói thêm với Ivan Fedorovich.
- Chẳng có gì hết. - Ivan đáp. - Tự dưng nó tỏ ra kính trọng
con: nó là thằng nịnh bợ và đểu cáng. Thế nhưng nó sẽ là cái bia thịt đi tiên
phong khi thời cơ đến.
- Đi tiên phong à?
- Sẽ có cả những đứa khác khá hơn, nhưng cũng có cả những đứa
như thế. Thoạt tiên là những đứa như thể, rồi tiếp sau đó là những đứa khá hơn.
- Thế bao giờ thì đến lúc ấy?
- Hoả tiễn sẽ phụt lửa, nhưng không cháy hết, có lẽ thế. Hiện
thời dân chúng không ưa chuộng gì lắm những tên nấu bếp mạt hạng như thế.
- Phải đấy, con ạ, con lừa Balaam ấy cứ nghĩ ngợi hoài, có mà
quỷ biết được nó sẽ nghĩ ra cái gì.
- Nó tích luỹ tư tưởng - Ivan cười mỉa.
- Này con ạ, ta biết là nó không chịu đựng được ta, nó cũng
chẳng chịu đựng được ai, kể cả con nữa, tuy con có cảm tưởng rằng "tự dưng
nó tỏ ra kính trọng con", với Aliosa cũng thế, nó khinh cả Aliosa. Nhưng
nó không ăn cắp, không ngồi lê đôi mách, nó lên tiếng, không đem chuyện nhà đi
rêu rao, nó nướng bánh kulebiac tuyệt khá, nhưng mà thôi kệ xác nó, thực ra có
đáng nói gì về nó không nhỉ?
- Tất nhiên là không.
- Còn về nhưng điều nó ngấm ngầm nghĩ trong đầu thì nói chung
cần phải đánh đòn, gã mugich Nga thì cần phải cho ăn đòn. Trước nay ta vẫn chủ
trương như vậy. Gã mugich của chúng ta vốn hay bịp bợm, không nên thương nó,
may mà bây giờ đôi khi người ta vẫn nện nó. Đất Nga vững chắc là nhờ có bạch
dương. Huỷ diệt rừng thì đất Nga sẽ diệt vong. Ba đứng về phía những người
thông minh. Vì ngu ngốc mà chúng ta đã thôi không đánh bọn mugich nữa, nhưng
chúng nó vẫn tiếp tục tự đánh đòn chúng nó. Chúng nó làm thế là tốt. Hiện giờ
đo bằng cái thước ấy thì trong tương lai cũng sẽ đo bằng cái thước ây, hay là
nói thế nào nhỉ… Tóm lại là vẫn sẽ đo bằng cái thước ấy. Còn nước Nga thì thật
là nhơ nhớp. Con ơi, nếu con biết ta căm ghét nước Nga như thế nào… nghĩa là
không phải thù ghét nước Nga, mà là thù ghét tất cả những thói xấu ấy… mà có lẽ
là cả nước Nga nữa cũng nên. Tout cela c'est de la cochonnerie(1). Con có
biết ta yêu thích cái gì không? Ta yêu thích sự sắc sảo.
- Ba lại uống ly nữa rồi. Nên thôi đi thì hơn.
- Khoan, ba uống ly nữa, rồi lại một ly nữa, rồi sẽ thôi hẳn.
Không, đừng, con ngắt lời ba rồi. Mới đây nhân đi qua Mokroe ba có hỏi một ông
già, ông ấy nói: "Chúng tôi thích nhất là xử phạt đánh đòn bọn con gái,
chúng tôi giao cho bọn trai trẻ làm việc đó. Hôm sau gã trai đến hỏi cô gái đã
bị gã đánh đòn làm vợ, thành thử đối với bọn con gái điều đó đã thành tục lệ".
Theo kiểu hầu tước de Sade, phải không(2)? Muốn gì thì gì, tài tình đấy chứ.
Chúng ta cũng nên đến xem cho biết, sao? Aliosa, con đỏ mặt ư? Đừng xấu hổ, con
ạ. Tiếc rằng vừa rồi ba không ở lại dự bữa ăn ở nhà Cha viện trưởng và kể cho
các thầy tu nghe về con gái Mokroe. Aliosa đừng giận vì mới rồi ba đã trêu chọc
Cha viện trưởng. Con ạ, đấy là vì ta điên tiết lên. Nếu như có Trời thật thì ba
có lỗi và phải chịu tội, nếu như không có Trời thì cần gì đến họ nữa, các cha đạo
của con ấy mà? Nếu như thế thì chặt đầu họ đi cũng chưa đủ, vì họ kìm hãm sự
phát triển. Ivan ạ, con tin rằng điều đó khiến ba bị dằn vặt trong tình cảm ư?
Không, con không tin, nhìn mắt con, ta biết. Con tin lời người ta cho rằng ba
chỉ là thằng hề. Aliosa, con có tin rằng ba không phải chỉ là thằng hề không?
- Con tin như thế.
- Ba tin là con nói thành thật. Con nhìn một cách thành thật
và nói thành thật. Còn Ivan thì không. Ivan tự cao tự đại… Nhưng dẫu sao ba muốn
loại bỏ cái tu viện của con. Cần tức khắc trừ bỏ tất cả sự thần bí đó trên toàn
đất Nga, để làm cho tất cả những kẻ ngu muội tỉnh ngộ hẳn. Sẽ có biết bao nhiêu
bạc vàng chảy về Nhà đúc tiền!
- Tại sao phải trừ bỏ kia chứ? - Ivan nói.
- Để chân lý chóng ngời sáng, thế đấy.
- Nhưng nếu chân lý ngời sáng thì ba sẽ là người trước bên bị
tước đoạt rồi sẽ bị… trừ khử.
- Chu cha! Có lẽ con nói đúng. Chà, ta là con lừa, - Fedor
Pavlovich bỗng kêu lên, vỗ nhẹ tay vào trán. - Thôi, nếu vậy thì cứ để nguyên
cái tu viện của con đấy, Aliosa ạ. Những người thông minh chúng ta sẽ được yên ấm
và uống cognac. Này Ivan, con có biết tại sao Thượng đế lại chủ tâm an bài
như thế không? Ivan, con nói đi: có Thượng đế hay không? Khoan: nói dứt khoát
nghiêm chỉnh đấy nhé. Sao con lại cười?
- Con cười vì ban nãy ba đã nhận xét rất tinh về niềm tin của
Xmerdiakov: về việc hắn tin rằng có hai trưởng lão có thể khiến núi phải di
chuyển.
- Thật thế ư?
- Đúng thế.
- Nếu vậy thì ba cũng là người Nga, ba cũng có nét riêng của
người Nga, còn con tuy là một triết gia, nhưng cũng có thể bắt chộp được ở con
có cái nét loại ấy. Nếu con muốn, ba sẽ chộp được cho mà xem. Đánh cuộc là chỉ
ngày mai thôi là ba sẽ chộp được Nhưng con nói đi: có Thượng đế hay không? Nhưng
phải nghiêm chỉnh đấy! Bây giờ ba cần lời nói nghiêm chỉnh.
- Không, không có Thượng đế.
- Aliosa, có Thượng đế không?
- Có Thượng đế.
- Ivan, thế có sự bất diệt không; bằng một cách nào đó, dù là
rất nhỏ thôi, xoàng xĩnh thôi?
- Không có sự bất diệt.
- Tịnh không?
- Tịnh không.
- Tức là một con số không tròn trĩnh hay một cái gì đó? Có thể
có một cái gì đó chăng? Dẫu sao cũng không thể không có cái gì!
- Số không tuyệt đối.
- Aliosa, có sự bất diệt không?
- Có.
- Thế còn Thượng đế và sự bất diệt?
- Cả Thượng đế, cả sự bất diệt đều có. Sự bất diệt là Thượng
đế.
- Hừm. Có lẽ Ivan có lý. Trời ơi, thứ nghĩ mà xem, con người
đã phí hoài bao nhiêu niềm tin, bao nhiêu sức lực cho niềm mơ ước đó và hàng
bao nhiêu nghìn năm nay rồi. Ai là kẻ nhạo báng con người như thế. Ivan, trả lời
dứt khoát lần cuối cùng đi: có Thượng đế hay không? Ta hỏi lần cuối cùng đấy.
- Xin trả lời lần cuối cùng: không!
- Vậy thì kẻ nào nhạo báng con người như vậy?
- Quỷ, hẳn là vậy, - Ivan Fedorovich cười mỉa.
- Thế có quỷ không?
- Không, không có quỷ.
- Tiếc thật. Bố khỉ, như vậy thì ba chưa biết ba sẽ làm gì
cái kẻ đầu tiên đã bày đặt ra Thượng đế. Treo cổ nó lên còn là nhẹ.
- Nếu không bịa đặt ra Thượng đế thì sẽ không có văn minh.
- Vậy ư? Không thể không có Thượng đế ư?
- Đúng thế. Mà sẽ không có cả cognac nữa. Nhưng dù
sao cũng phải cất hai chai cognac của ba đi thôi.
- Khoan, khoan, con ơi, thêm một ly nữa đã. Ba đã làm Aliosa
buồn phiền. Con không giận chứ, Alecxei? Alecxei yêu dấu của ba, Alecxei bé bỏng!
- Không, con không giận. Con biết những ý nghĩ của ba. Trái
tim ba cao thượng hơn cái đầu ba!
Ta có trái tim cao thượng hơn cái đầu ư? Trời ơi, mà ai nói
ra điều đó kia chứ? Ivan, con có yêu Aliosa không?
- Có chứ ạ.
- Hãy yêu nó (Fedor Pavlovich đã say lắm rồi). Này, Aliosa, vừa
rối ba đã vô lễ với trưởng lão của con. Nhưng đấy là vì ba bị kích động. Còn vị
trưởng lão ấy thật là hóm hỉnh, con nghĩ thế nào, Ivan?
- Có lẽ vậy - Đúng thế đấy, il y a du Piron là - dedans(3).
Đấy là một thầy tu dòng Tên người Nga. Là một người cao quý, trong ông già có sự
phẫn nộ ngấm ngầm sục sôi vì cứ phải đóng kịch… phải mang cái lốt thánh thiện.
- Nhưng trưởng lão tin ở Thượng đế.
- Không mảy may. Thế con không biết ư? Chính Cha đã nói điều
đó với tất cả mọi người, đúng ra dù không phải là với tất cả, mà với những người
thông minh đến thăm Cha. Với ông tổng Sunxơ, Cha nói thẳng: cređo(4), nhưng
không biết là tin cái gì.
- Thật ư?
- Đúng vậy. Nhưng ba quý trọng trưởng lão. Ở ông già ấy có
cái gì của Meflxtofen, hay đúng hơn, của "một anh hùng thời đại"…
Arbenin hay gì ấy nhỉ…(5) nghĩa là, con ạ, ông ấy là một người ham nhục dục;
ông ấy ham nhục dục đến độ ngay bây giờ, nếu con gái hay vợ ta đến xưng tội với
ông ấy thì ta cũng vẫn sợ. Con có biết không, hễ ông ấy bắt đầu kể chuyện… Năm
kia ông ấy mời chúng ta đến uống trà, có cả rượu mùi nữa (các bà gửi biếu ông ấy
rượu mùi), ông ấy kể cho nghe những chuyện cũ, làm chúng ta cười đến vỡ bụng. Đặc
biệt là chuyện ông ấy chữa khỏi bệnh cho một bà mắc bệnh suy nhược. "Chân
tôi mà không đau, - ông ấy nói, - thì tôi sẽ nhảy với bà một điệu vũ".
"Gớm lắm đấy chứ, hả? "Trong đời tôi, tôi đã chơi bời khá nhiều".
Ông ấy đã phỗng của thương gia Demidov sáu chục ngàn.
- Sao, ăn cắp à?
- Vì tin Cha là người tử tế, tay thương gia đem tiền đến gần:
"Nhờ ông giữ hộ, ngày mai họ khám nhà tôi". Thế rồi Cha giữ luôn
không trả. "ông cũng cho nhà thờ rồi kia mà" - Cha bảo người thương
gia. Ta bảo Cha: ông thật là đểu giả. Không, ông ấy trả lời, tôi không phải là
kẻ đểu giả, mà tôi có đầu óc phóng khoáng… Ờ, nhưng đấy không phải là ông ấy… Đấy
là một người khác. Ta lẫn lộn với một người khác… mà không biết. Nào, thêm một
ly nữa rồi thôi; cất cái chai đi, Ivan. Ta nói nhảm đấy, sao con không ngăn ta
lại, Ivan… và không nói rõ là ta nói nhảm?
- Con biết là tự ba sẽ dừng lại.
- Nói dối, ấy là bởi mày thù ghét tao, chỉ vì thù ghét thôi.
Mày khinh tao. Mày đến với tao, và ở trong nhà tao mà lại khinh tao.
- Con đi nghỉ đây. Ba say rồi đấy.
- Tao hết lời cầu xin mày đi Tresniasnia hộ tao… một hai ngày
mà mày không đi.
- Ngày mai con sẽ đi, nếu ba cứ muốn như thế.
- Mày sẽ không đi. Mày muốn ở đây để rình mò tao, ý định của
mày là thế đấy, thằng độc ác ạ, vì thế mày sẽ không đi phải không?
Ông già không chịu thôi. Ông ta đã quá say. say đến độ ấy thì
nhiều người trước nay vốn hiền lành đột nhiên bỗng trở nên hung hăng, muốn tỏ
ra ta đây chẳng phải tay vừa.
- Sao mày cứ nhìn tao như thế? Mặt mày sao lạ vậy? Cắp mắt
mày nói với tao: "Lão già say bỉ ổi". Mắt mày đầy vẻ ngờ vực, đấy
khinh miệt… Mày về đây là đã có sẵn rắp tâm. Còn Aliosa thì khác mắt nó ngời
sáng. Aliosa không khinh tao. Alecxei, đừng yêu Ivan.
- Ba đừng giận anh con! Đừng xúc phạm anh ấy nữa. - Aliosa bỗng
thốt lên bằng giọng khẩn khoản.
- Ừ thôi được. Ôi, nhức đầu quá. Cất cognac đi,
Ivan, ta bảo lần thứ ba rồi mà. - ông ta nghĩ ngợi, rồi bỗng mỉm cười anh quái
Ivan đừng giận lão già hom hem. Ta biết con không yêu ta, nhưng dẫu sao cũng đừng
giận. Mà ta có gì đáng yêu đâu nữa. Mai con đi Tresniasnia, ta sẽ đến với con,
đem quà cáp đến. Ta sẽ chỉ cho con một con bé mà ta nhắm từ lâu. Hiện thời nó vẫn
còn đi chân đất. Đừng sợ những con bé đi chân đất, đừng có khinh thường - những
hòn ngọc đấy!
Ông ta bỗng hôn tay mình đánh chụp một tiếng.
- Đối với ta. - ông ta bỗng linh hoạt hẳn lên, dường như phút
chốc tỉnh rượu khi vừa vớ được đề tài ưa thích, - đối với ta… ơ này, chúng mày!
Các con ơi, chúng mày là những chú lợn nhóc, đối với ta… suốt đời ta không coi
người đàn bà nào là xấu xí, đấy là phương châm của ta! Tụi bay hiểu được không?
Ở nhà làm sao chúng mày hiểu được: chảy trong người chúng mày không phải là
máu, mà là sữa, chúng mày là gà con chưa ra hẳn khỏi vỏ trứng! Theo phương châm
của ta, ở mỗi người phụ nữ đều có thể tìm được một cái gì hết sức thú vị mà ta
không thể tìm thấy ở người phụ nữ khác, quái quỷ thế, chỉ cần biết tìm cho ra,
mấu chốt là ở đấy! Đấy là một loại tài năng! Đối với ta, không có đàn bà nào là
xấu, chỉ riêng việc người ấy là đàn bà cũng đã đáng giá lắm rồi… nhưng bọn bay
hiểu sao nổi! Ngay cả ở các ả gái già, đôi khi cũng có thể tìm thấy những cái mặn
mà đến nỗi ta đâm ra ngạc nhiên không hiểu tại sao lại có những thằng ngốc để mặc
cho họ già đi và mãi đến giờ không để ý đến họ! Với một ả đi chân đất xấu xí
thì trước hết phải làm cho nó choáng ngợp, có thể mới chiếm được nó. Mày có biết
thế nào không? Cần phải làm cho nó choáng ngợp đến độ bàng hoàng, thẹn thùng vì
cái thứ dân đen quê kệch như nó mà lại được một người đàn ông cao sang say mê.
May mắn thay, trên đời xưa nay vẫn có và vẫn sẽ có những ông chủ đểu giả, thế
thì mãi mãi vẫn sẽ có thứ con sen để thoả lòng ông chủ của nó, chỉ cần như thế
là đủ cho đời đáng sống! Khoan… nghe đây, Aliosa, với mẹ con cũng thế, ta luôn
luôn làm cho bà ấy ngạc nhiên; có điều là kiểu cách hơi khác. Không bao giờ tao
âu yếm bà ấy, nhưng đột nhiên, đến lúc cần thiết, tao bỗng xun xoe quy luỵ bà ấy
hết mức, tao quỳ gối lết tới, hôn chân bà ấy và lần nào cũng thế - bây giờ tao
vẫn còn nhớ như in - tao làm cho bà ấy cười khúc khích, tiếng cười rời rạc,
lanh lảnh, không to, khác thường do thần kinh kích động. Bà ấy chỉ có lối cười
như thế thôi. Ta biết rằng như thế là bà ấy bắt đầu phát bệnh, ngày mai bà ấy sẽ
la hét vì lên cơn, còn tiếng cười nhỏ lúc này không có nghĩa là một sự hân hoan
nào cả, nhưng mặc dù đó là cái bề ngoài lừa dối thì cũng vẫn là vẻ hân hoan. Ấy
thế đấy mọi cái đều có nét đặc sắc của nó, phải biết tìm cho ra. Có lần
Beliavxh - một thằng cha đẹp trai giàu có vẫn tán tỉnh bà ấy đến nhà ta, đột
nhiên y bỗng tát ta một cái ngay trước mặt bà ấy sà ấy vốn hiền lành như con cừu,
ta vẫn tưởng thế, vậy mà bà ấy dám đánh ta về cái tát ấy, bà ấy quát: "Anh
chịu để cho người ta đánh, chịu thoi, anh đề nó tát anh! Anh đã bán tôi cho
nó…Sao nó dám đánh anh trước mặt tôi! Anh đừng bao giờ cả gan vác mặt đến với
tôi nữa, không bao giờ! Anh hãy chạy ngay đi thách đấu súng với nó…". Thế
rồi tao đưa bà ấy đến tu viện để làm cho bà ấy nguôi đi, các Cha đã răn bảo bà ấy.
Nhưng thề có Trời, Aliosa ạ, tao chưa bao giờ xúc phạm người vợ bệnh tật của
tao! Chỉ có một lần trong năm đấu chung sống: bà ấy cầu nguyện rất thành kính,
đặc biệt những ngày lễ Đức Mẹ đồng minh thì bà ấy giữ gìn cẩn thận lắm và không
cho tao vào phòng. Ừ được, tao nghĩ, ta sẽ trừ khừ cho bà ấy cái bệnh thần bí
này. Tao bảo: "Mình thấy đấy nhé, đây là bức ảnh thánh của mình, đây này,
tôi sẽ tháo bỏ nó đi cho mà xem. Hãy nhìn xem, mình cho là nó có phép lạ, vậy
mà bây giờ tôi sẽ nhổ nước bọt vào nó ngay trước mắt mình, thế rồi tôi cũng chẳng
việc gì đâu!…". Trời ơi, ta nghĩ, bây giờ bà ấy sẽ giết ta cho mà xem,
nhưng bà ấy chỉ nhảy chồm lên, đập hai tay vào nhau, rồi bỗng đưa hai tay lên
bưng mặt, toàn thân run bần bật và ngã xuống sàn… cứ thế đổ dụi xuống…
- Aliosa, Aliosa! Con làm sao thế, con làm sao thế!
Ông già sợ hãi chồm dậy. Ngay từ lúc ông ta bắt đầu nói về mẹ
anh, mặt Aliosa dần dần biến sắc, đỏ bừng lên, mắt nảy lửa, môi run run… Lão già
say rượu mải nói phun cả nước bọt ra, không nhận thấy gì mãi cho đến lúc với
Aliosa bỗng xảy ra một điều hết sức lạ lùng, lặp lại đúng hệt sự việc mà ông ta
vừa kể về người vợ "ngộ dại", Aliosa ngồi bên bàn bỗng đứng bật dậy hệt
như mẹ anh trong câu chuyện bố kể, đập hai tay vào nhau, rồi đưa hai tay bưng mặt,
đổ dụi xuống ghế, toàn thân run bần bật trong cơn than kinh, nước mắt đau khổ cứ
lặng lẽ trào ra. Ông già hết sức sửng sốt: sao mà giống mẹ quá.
- Ivan Ivan! Mau lấy nước cho nó. ý như bà ấy, y hệt như bà ấy
như mẹ nó hồi ấy! Ngậm nước phun vào mặt nó, tao cũng vẫn làm như thế với bà ấy.
Ấy là nó bệnh mẹ nó, bệnh mẹ nó… - Lão nói lý nhí với Ivan.
- Con thiết tưởng mẹ nó cũng là mẹ con, ba nghĩ thế nào? -
Ivan buột thốt lên với giọng khinh miệt và giận dữ không sao kìm nén nổi. Luống
mắt quắc lên của chàng khiến ông già giật mình. Nhưng lúc đó bỗng xảy ra một điều
hết sức lạ lùng, thực ra chỉ trong giây lát thôi. Lão quả thật dường như chợt
quên hẳn rằng mẹ Aliosa cũng là mẹ Ivan…
- Sao lại mẹ con? - ông ta ấp úng, không hiểu. - Con nói thế
là thế nào? Con nói bà mẹ nào?… Chàng lẽ bà ấy… A, quỷ thật. Ở mà bà ấy cũng là
mẹ con! A. quái quỷ. Ôi chao, lú lấp quá đi mất, xin lỗi, vậy mà ta cứ ngờ rằng…
Ivan… Hề-hề-hề. Lão dừng lại. Nụ cười toác miệng, ngây ngô của kẻ say làm cho mặt
lão dán ra. Đột nhiên, đúng lúc ấy ở phòng ngoài có tiếng ầm ầm và va động ghê
gớm, có tiếng la hét cuồng loạn. Cửa mở và Dmitri Fedorovich chạy ào vào. Lão
già sợ hãi đâm bổ đến với Ivan:
- Nó giết, nó giết tao mất. Đừng để tao rơi vào tay nó, đừng!
- lão gào toáng lên bấu chặt lấy tà áo Ivan Fedorovich.
Chú thích:
(1) Tiếng Pháp trong nguyên bản: tất cả những cái đó thật là
bỉ ổi.
(2) Hầu tước de Sade bút danh của nhà văn Pháp Donaxieng
Anfonxơ Franxoa (1740-1814) người viết những tác phẩm miêu tả thói bạo dâm
(3) Ở ông ấy có cái gì của Piron (tiếng Pháp trong nguyên bản).
Piron Alesis (1689-1773) là nhà thơ và nhà soạn kịch Pháp, viết nhiều tác phẩm
tục tĩu.
(4) Tiếng latin: tôi tin.
(5) Đúng ra là Petrorin. Arbenin là nhân vật trong vở kịch
"Vũ hội hoá trang" của Lermontov (N.D).
Chương 9
Những kẻ ham nhục dục
Liền đó, cả Grigori và Xmerdiakov cũng chạy vào theo sau
Dmitri Fedorovich. Hai người đã vật lộn với Dmitri ở phòng ngoài, không cho
chàng vào (mấy ngày trước chính Fedor Pavlovich đã dặn như vậy). Nhân lúc
Dmitri Fedorovich dừng lại trong phòng để xem xét, Grigori chạy vòng quanh bàn,
đóng cả hai cánh cửa cái đối diện với cửa ra vào, cửa này dẫn vào phòng trong
và lão đứng chắn trước cái cửa đã đóng, hai tay bắt chéo chữ thập sẵn sàng chắn
lối vào, cho dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, nếu có thể nói như vậy. Thấy
thế, Dmitri không quát tháo, mà dường như rú lên và xông vào Grigori.
- Vậy là cô ta ở đây! Người ta giấu cô ta ở đây! Lui ra, thằng
khốn kiếp!
Chàng toan kéo lão ra, nhưng lão xô chàng một cái. Điên tiết,
Dmitri vung tay thẳng cánh giáng cho lão một đòn. Lão già đổ dụi xuống, Dmitri
nhảy qua lão lao vào cửa.
Xmerdiakov vẫn ở đầu kia phòng, tái mét và run như cầy sấy,
nép sát vào Fedor Pavlovich.
- Cô nàng ở đây. - Dmitri quát lên. - Chính mắt ta vừa tròng
thấy cô ta rẽ về nhà này, nhưng ta không đuổi kịp. Cô ta ở đâu? Cô ta ở đâu?
Tiếng quát đó gây nên một ấn tượng không thể hiểu được đối với
Fedor Pavlovich: "Cô ta ở đây!". Ông ta hết hẳn sợ.
- Bắt lấy nó, bắt lấy nó! - ông ta tru tréo lên và lao theo
Dmitri. Trong lúc đó Grigori đã đứng dậy được, nhưng vẫn còn choáng váng, Ivan
Fedorovich và Aliosa chạy theo bố. Ở căn phòng thứ ba bỗng có tiếng một vật gì
rơi xuống sàn vỡ loảng xoảng: đấy là cái bình hoa lớn bằng thuỷ tinh (không thuộc
loại đắt tiền) đặt trên cái đôn bằng đá hoa cương bị Dmitri Fedorovich quật đổ.
- Bắt lấy nó? - ông già gào lên. - Cứu tôi với!
Ivan Fedorovich và Aliosa đuổi kịp ông ta và dùng sức mạnh
lôi ông trở về phòng lớn.
- Đuổi theo làm gì! Anh ấy có thể giết ba thực sự! - Ivan
Fedorovich giận dữ quát bố.
- Vanesla, Leseska(1), vậy là cô ấy ở đây. Grusenka ở đây, nó
nói là chính nó nhìn thấy cô ấy chạy vào…
Ông ta nghẹn thở. Lần này ông ta không chờ đợi Grusenka, cái
tin bất ngờ Grusenka hiện nay có ở đây tức thì làm ông mất trí ông ta run lên,
ông ta dường như hoá điên.
- Nhưng chính mắt ba thấy cô ta không đến kia mà! - Ivan kêu
lên.
- Có thể cô ấy vào lối kia thì sao?
- Cửa ấy đóng, mà chìa khoá ba giữ…
Dmitri bỗng xuất hiện trong phòng. Cố nhiên chàng đã thấy cửa
vào lối ấy đóng, mà chìa khoá đúng là ở trong túi Fedor Pavlovich. Cửa sổ tất cả
các phòng cũng đóng: như vậy Grusenka không vào lối nào được và cũng không ra
được.
- Giữ lấy nó! - Fedor Pavlovich rít lên khi lại thấy Dmitri.
- Nó ăn cắp tiền trong buồng ngủ của tao! - Và ông ta vùng ra khỏi tay Ivan lại
nhảy xổ vào Dmitri. Nhưng Dmitri bỗng vung hai tay lên, bất thần tóm lấy hai mảng
tóc mai cuối cùng còn lại của lão già, giật mạnh, quật lão đổ huỵch xuống sàn. Chàng
còn kịp nện hai ba gót giày vào mặt kẻ nằm dưới sàn. Lão già rên lên đến chói
tai. Ivan Fedorovich tuy không khỏe bằng anh mình, nhưng cũng ôm lấy anh và gắng
sức giằng ra khỏi ông già, Aliosa cũng gắng sức giúp Ivan, ôm cứng lấy Dmitri ở
phía trước.
- Đồ điên, anh giết ba rồi! - Ivan hét.
- Đáng đời ông ta! - Dmitri hổn hển kêu lên. - Nếu lần này
chưa giết chết thì lần khác ta sẽ đến giết cho bằng được. Các chú không bảo vệ
được đâu.
- Dmitri! Anh ra khỏi đây ngay! - Aliosa thét lên băng giọng
oai nghiêm.
- Alecxei! Hãy cho tôi biết một điều, tôi chỉ xin chú thôi! Vừa
rồi cô ấy có đây hay không? Chính mắt tôi nhìn thấy cô ấy men theo hàng rào, từ
ngõ hẻm lẻn về phía này. Tôi gọi thì cô ấy bỏ chạy…
- Thề với anh là chị ấy không có ở đây và ở đây chẳng ai chờ
đợi chị ấy đến.
- Nhưng tôi nhìn thấy cô ấy… Như vậy là cô ấy… Lát nữa tôi sẽ
dò ra cô ấy ở đâu… Tạm biệt, Alecxei! Bây giờ đừng nói gì với Ezov về chuyện tiền
nong, và nhất định phải đến Ekaterina Ivanovna ngay: "Anh ấy bảo tôi đến
chuyển lời chào chị, anh ấy bảo tôi đến chuyển lời chào chị, chuyển lời chào chị!".
Hãy kể cho cô ấy nghe việc diễn ra ở đây.
Trong lúc đó Ivan và Grigori nâng ông già dậy và dìu ngồi vào
ghế bành. Mặt ông ta đẫm máu, nhưng ông ta tỉnh táo và háo hức lắng nghe tiếng
quát tháo của Dmitri. Ông ta vẫn có cảm giác rằng Grusenka quả thật ở đâu đó
trong nhà.
Lúc đi ra, Dmitri Fioaorovich nhìn ông ta bằng con mắt căm
thù.
- Tôi không hối hận vì đã làm ông đổ máu đâu! - Chàng la lên.
- Hãy coi chừng, ông già, hãy gìn giữ ước mơ của ông, vì tôi cũng có mơ ước của
tôi! Tôi nguyền rủa ông và tôi từ ông đấy…
- Nàng ở đây, đúng là nàng ở đây! Xmerdiakov, Xmerdiakov! -
Lão già nói lý nhí bằng giọng khò khè, vẫy ngón tay gọi Xmerdiakov.
- Không có cô ta ở đây, không có đâu, ông già điên rồ. - Ivan
hằn học quát lên. - Kìa, ông ấy ngất đi rồi. Lấy nước, khăn mặt! Mau lên,
Xmerdiakov.
Xmerdiakov đâm bổ đi lấy nước. Cuối cùng người ta cởi áo
ngoài cho ông già, khiêng vào buồng ngủ, đặt lên giường. Người ta lấy khăn ướt
quấn quanh đầu ông ta. Nhược lử vì cognac, vì những xúc động mạnh và bị
đánh đau, vừa đặt đầu xuống gối là ông ta nhắm mắt thiếp đi ngay, Ivan
Fedorovich và Aliosa trở lại phòng lớn. Xmerdiakov dọn những mảnh bình vỡ, còn
Grigori đứng bên bàn, ảo não gằm mặt xuống.
- Lão cũng nên đắp khăn ướt lên đầu và đi nằm đi. - Aliosa
nói với Grigori. - Chúng tôi sẽ ở đây trông nom ông: anh ấy đánh ông đau quá…
vào đầu.
- Cậu ấy dám đánh tôi kia chứ! - Grigori nói dằn từng tiếng bằng
giọng rầu rĩ.
- Đến cả bố mình anh ấy còn "dám" đánh nữa là lão!
- Ivan Fedorovich bịu miệng nói.
- Tôi đã tắm cho cậu ấy trong chậu hồi cậu ấy còn bé… Vậy mà
cậu ấy dám thế! - Grigori nhắc lại.
- Khỉ thật, tôi mà không giằng anh ấy ra thì có lẽ anh ấy giết
thật đấy. Giết chết Ezov có khó gì đâu? - Ivan Fedorovich thì thầm với Aliosa.
- Cầu trời đừng để xảy ra chuyện ấy! - Aliosa kêu lên.
- "Cầu trời" làm gì kia chứ? - Ivan nói tiếp vẫn bằng
giọng thì thầm như thế, mặt dúm lại một cách dữ tợn. - Rắn nuốt rắn, thế là đi
đời cả hai!
Aliosa giật mình.
- Tất nhiên tôi sẽ không để xảy ra án mạng, cũng như ban nãy
tôi đã ngăn chặn. Chú ở lại đây, Aliosa, tôi ra sân đi dạo một lát; tôi thấy nhức
đầu.
Aliosa vào buồng ngủ thăm bố, ngồi ở đầu giường sau tấm bình
phong chừng một giờ. Ông già bỗng mở mắt và im lặng nhìn Aliosa hồi lâu, rõ
ràng là cố nhớ lại đầu đuôi sự tình, bỗng nhiên mặt ông ta lộ vẻ xúc động lạ
thường.
- Aliosa, - ông ta thì thầm một cách sợ sệt - Ivan đâu?
- Ở ngoài sân, anh ấy đau đầu. Anh ấy canh cho ba con ta.
- Đưa cho ba chiếc gương kia, kia kìa, đưa đây!
Aliosa đưa cho ông già chiếc gương tròn bé nhỏ gấp xếp được đặt
trên tủ ngăn. Ông già soi gương mũi sưng vù, trên trán một vết bầm đỏ úa phía
trên lông mày trái.
- Ivan nói gì? Aliosa yêu dấu, con trai duy nhất của ta, ta sợ
Ivan: ta sợ Ivan hơn sợ thằng kia: chỉ có con là ta không sợ thôi…
- Ba đừng sợ anh Ivan, anh ấy giận dữ thế nhưng anh ấy sẽ bảo
vệ ba.
- Aliosa, thế còn thằng kia? Nó chạy đến với Grusenka rồi!
Thiên thần yêu dấu ơi, nói thật đi, ban nãy Grusenka có đây không?
- Chẳng ai nhìn thấy cô ta. Tưởng lầm vậy thôi, cô ta không
có đây.
- Mitka muốn lấy nó, muốn lấy nó làm vợ!
- Cô ta sẽ không lấy anh ấy.
- Không lấy đâu, không lấy đâu, không đời nào!… - ông già sướng
run lên, như thể lúc này không thể có câu gì làm ông ta vui sướng hơn. Quá hoan
hỉ, ông ta chộp lấy tay Aliosa áp chặt vào ngực chỗ tim đập. Thậm chí mắt ông
ta long lanh giọt lệ. - Bức ảnh Đức Mẹ mà ban nãy ta vừa kể đây này, con cầm lấy
mà mang theo. Ta cho phép con trở lại tu viện, vừa rồi ba đùa đấy, đừng giận.
Ba đang nhức đầu, Aliosa ạ… Aliosa, hãy làm cho ba đỡ thắc thỏm, thiên thần của
ba ơi, nói thật đi!
- Ba lại vẫn lấn bấn về chuyện ấy: cô ta có đây hay không. -
Aliosa cay đắng thốt lên.
- Không, không, không, ba tin con, nhưng thế này nhé: con hãy
đến Grusenka hay làm cách nào gặp cô ấy, hỏi rõ cô ấy, mà càng sớm càng tốt, và
con hãy tự xét đoán xem cô ấy muốn về với ai, với ba hay với nó? Sao? Thế nào?
Con có làm được không?
- Nếu gặp thì con sẽ hỏi. - Aliosa nói lý nhí, coi bộ lúng túng.
- Không, nó sẽ không nói với con đâu, - ông già ngắt lời, -
nó là ranh ma lắm. Nó sẽ hôn con và nói rằng nó muốn lấy con. Nó là đứa lừa dối,
nó trơ trẽn lắm, con không thể đến gặp nó được đâu không thể được!
- Mà cũng không tiện, ba ạ, rất không tiện.
- Vừa rồi thằng kia bảo con đi đâu, lúc chạy đi nó hét:
"hãy đến đấy" mà?
- Bảo con đến Ekaterina Ivanovna.
- Đến hỏi tiền hả?
- Không, không phải để hỏi tiền.
N-ó không có tiền, không có một xu. Này, Aliosa, đêm nay ba sẽ
suy nghĩ kỹ, còn con cứ đi đi. Có thể con sẽ gặp cô ta… Nhưng sáng mai nhất định
con phải lại đây với ba đấy nhé, nhất định nhé. Ngày mai ba sẽ nói với con một
điều quan trọng, con đến chứ?
- Con sẽ đến.
- Khi đến thì hãy làm ra vẻ tự con đến thăm ba. Đừng nói với
ai rằng ba bảo con đến. Chớ hở ra với Ivan.
- Vâng, được ạ.
- Tạm biệt, thiên thần của tôi, ban nãy con che chở cho ba,
suốt đời ba sẽ không quên. Ngày mai ba sẽ nói với con một điều nhưng phải suy
nghĩ đã…
- Bây giờ ba cảm thấy trong người thế nào?
- Ngày mai, ngày mai ba sẽ dậy và đi lại được, sẽ hoàn toàn
khỏe mạnh, hoàn toàn khỏe mạnh, hoàn toàn khỏe mạnh!…
Khi đi qua sân, Aliosa gặp anh Ivan ngồi trên chiếc ghế dài cạnh
cồng và đang dùng bút ghi ghi cái gì vào quyển sổ tay.
Aliosa nói với anh rằng ông già đã thức giấc và tỉnh táo, ông
cho phép anh về ngủ đêm ở tu viện.
- Aliosa, sáng mai tôi sẽ rất vui lòng gặp lại chú. - Ivan nhổm
dậy, nói một cách niềm nở, sự niềm nở đó hoàn toàn bất ngờ đối với Aliosa.
- Ngày mai tôi sẽ đến nhà bà Khokhlakova. - Aliosa trả lời. -
Ngày mai có lẽ tôi cũng sẽ đến Ekaterina Ivanovna, nếu như bây giờ tôi không gặp
được…
- Bây giờ chú vẫn còn đến Ekaterina Ivanovna à? Để "gửi
lời chào, gửi lời chào" chứ gì? - Ivan bỗng mỉm cười. Aliosa bối rối.
- Hình như tôi đã hiểu được qua những lời buột thốt lên ban
nãy và qua một số điều trước đây. Chắc hẳn anh Dmitri nhờ chú đến cô ấy và nói
lại rằng anh… ờ, tóm lại là "chào chia ly" chứ gì?
- Anh ơi! Câu chuyện khứng khiếp ấy giữa ba và anh Dmitri rồi
sẽ kết thúc thế nào?
- Không thể đoán chắc được. Có lẽ chẳng sao cả: sẽ xẹp đi
thôi. Ả ấy là con yêu tinh. Dù sao cần giữ ông già trong nhà và không cho
Dmitri vào nhà.
- Anh ơi, cho tôi hỏi điều này: chẳng lẽ mỗi người có quyền
phán xét người khác để quyết định kẻ nào đáng sống, kẻ nào không đáng sống ư?
- Chuyện đáng hay không đáng có liên can gì đến đây? Vấn đề
này thường là được giải quyết trong trái tim của người ta hoàn toàn không dựa
trên cơ sở đáng hay không đáng, mà vì những nguyên nhân khác tự nhiên hơn nhiều.
Còn về quyền thì ai không có quyền mong muốn?
- Nhưng không phải là mong muốn cái chết đó cho người khác chứ?
- Tại sao không nhỉ? Tự dối mình làm gì, khi mọi người đều sống
như thế và không thể sống khác được. Đấy là chú nói về câu ban nãy của tôi:
"Rắn nuốt rắn" chứ gì? Nếu vậy tôi hỏi chú nhé: chú có cho rằng tôi
cũng như Dmitri, có khả năng làm đổ máu Ezov, nghĩa là giết Ezov không? Sao hả?
- Ơ kìa anh Ivan! Chưa khi nào tôi có ý nghĩ như vậy. Ngay cả
về anh Dmitri, tôi cũng không cho rằng…
- Như vậy thì dù sao cũng cảm ơn chú. - Ivan nhếch mép cười -
Chú nên biết rằng bao giờ tôi cũng bảo vệ ông già. Nhưng về mong ước của tôi
thì trong trường hợp này tôi giành cho mình sự tự do hoàn toàn. Thôi đến mai
nhé. Đừng lên án tôi và coi tôi là kẻ bất lương… - Ivan mỉm cười nói thêm.
Hai người xiết chặt tay nhau, trước kia chưa bao giờ như thế.
Aliosa cảm thấy rằng ông anh đi bước trước đến với anh như vậy
là có mục đích gì đó, nhất định có chủ ý.
Chú thích:
(1) Tên gọi âu yếm của Ivan và Aliosa (N.D).
Chương 10
Hai người với nhau
Ở nhà bố ra, Aliosa bơ phờ chán nán hơn lúc đến. Ý nghĩ của
anh cứ vụn ra, tản mạn, đồng thời anh sợ không dám liên kết chúng lại và rút ra
một ý niệm chung từ những mâu thuẫn khổ ải mà anh đã trải qua trong ngày hôm
đó. Anh đã đứng sát bên bờ tuyệt vọng, trước kia chưa bao giờ Aliosa cảm thấy
như thế. Trùm lấp lên tất cả, lù lù như trái núi, là câu hỏi chủ yếu, ác nghiệt,
không thể giải đáp được: câu chuyện giữa bố và anh Dmitri sẽ kết thúc ra sao
khi có mặt người phụ nữ đáng sợ ấy?
Bây giờ chính anh đã chứng kiến. Anh đã có mặt lúc ấy và nhìn
thấy hai người đối đầu với nhau. Những người bất hạnh, bất hạnh hoàn toàn và
ghê gớm, chỉ có thể là anh Dmitri: chắc chắn là tai hoạ đang rình anh. Cũng còn
nhiều người khác liên can đến những chuyện ấy, có lẽ nhiều gấp bội so với điều
Aliosa tưởng trước kia. Thậm chí có cái gì bí ẩn. Anh Ivan đã đi một bước đến với
anh, Aliosa từ lâu vẫn mong muốn điều đó, thế mà giờ đây không hiểu sao anh cảm
thấy bước làm thân ấy khiến anh hoảng sợ Còn hai người phụ nữ kia? Kỳ lạ thật
ban nãy, trên đường đến nhà Ekaterina Ivanovna, anh bối rối lạ thường, vậy mà
lúc này anh không cảm thấy gì hết, trái lại anh đi gấp đến gặp nàng, như mong
chờ nàng sẽ chỉ bảo cho anh điều gì. Tuy nhiên, bây giờ nói lại với nàng những
điều nhắn gửi rõ ràng là khó khăn hơn trước: vấn đề ba ngàn đồng đã được giải
quyết dứt khoát, còn anh Dmitri bây giờ cảm thấy mình là kẻ bất lương và không
còn chút hy vọng nào, tất nhiên sẽ không dừng bước trước bất cứ sự sa ngã nào.
Thêm nữa anh còn bảo phải kể lại với Ekaterina Ivanovna tấn kịch vừa xảy ra ở
nhà bố.
Đã bảy giờ và trời đã sẩm tối khi Aliosa đến nhà Ekaterina
Ivanovna, nàng ở một ngôi nhà rất rộng và thuận tiện ở Phố Lớn.
Aliosa biết rằng nàng ở với hai bà cô. Một trong hai bà chỉ
là cô của Agafia Ivanovna, chị nàng: đấy là bà cô trầm lặng ở nhà bố, nàng, đã
cùng với chị nàng chăm sóc nàng hồi nàng từ trường đại học về thăm bố. Bà cô
kia là một bà quý phái ở Moskva, đài các và trang nghiêm, nhưng không có của cải.
Nghe nói cả hai bà đều nhất nhất phục tùng Ekaterina Ivanovna và ở với nàng chỉ
để cho có nghi thức, Ekaterina Ivanovna chỉ phục tùng ân nhân của mình, bà quan
ở lại Moskva vì ốm đau và nàng có bổn phận mỗi tuần gửi cho bà hai lá thư cho
biết tỉ mỉ vẻ bản thân nàng.
Khi Aliosa vào phòng ngoài và bảo người hầu phòng ra mở cửa
cho anh vào trình chủ thì rõ ràng ở phòng khách người ta đã biết có anh đến (có
lẽ người ta đã nhìn thấy anh từ cửa sổ).
Aliosa đột nhiên nghe thấy tiếng ồn ào, tiếng bước chân phụ nữ,
sống áo sột soạt: có lẽ có hai hoặc ba phụ nữ lánh đi. Aliosa lấy làm lạ rằng
anh đến gây nên sự xáo động như thế. Nhưng anh được mời vào phòng khách ngay. Đấy
là một phòng lớn, bày biện nhiều đồ đạc trang nhã, không quê kệch chút nào. Có
nhiều đi văng và trường kỷ, bàn lớn bàn nhỏ, trên tường có những bức tranh,
nhưng lọ hoa và đèn để trên bàn, nhiều hoa, có cả một bể cá cạnh cửa sổ. Quãng
giờ này trong phòng hơi tối. Trên chiếc đi văng rõ ràng là ban nãy vừa có người
ngồi, Aliosa nhìn thấy một tấm khăn choàng dài bằng lụa còn vương lại, còn trên
bàn trước đi văng có hai chén sôcôla uống dở, bích quy, một đĩa pha lê đựng nho
khô, màu xanh, và một cái đĩa khác đựng kẹo. Nhưng thứ đem ra mời khách. Aliosa
đoán ra là mình đến giữa lúc đang có khách và anh nhăn mặt. Nhưng vừa hay màn cửa
vén lên và Ekaterina Ivanovna vội vã bước nhanh vào, hai tay giơ về phía
Aliosa, miệng mỉm cười vui sướng. Lúc đó người hầu gái vào và đặt lên bàn hai
cây nến sáng.
Sắc đẹp của Ekaterina Ivanovna đã từng làm Aliosa ngạc nhiên
khi cách đây ba tuần, anh Dmitri đưa anh đến nhà nàng lần đầu tiên để giới thiệu
hai người với nhau, vì Ekaterina Ivanovna rất muốn như vậy. Tuy nhiên, trong buổi
gặp ấy, cuộc chuyện trò giữa hai người không được mặn mà. Thấy Aliosa quá bẽn lẽn,
Ekaterina Ivanovna muốn để cho anh thoải mái và suốt thời gian ấy nàng chỉ nói
chuyện Dmitri Fedorovich, Aliosa im lặng, nhưng thấy rất rõ nhiều điều. Anh sửng
sốt về dáng vẻ oai quyền, cử chỉ thoải mái mà vẫn kiêu hãnh, thái độ tự tin của
cô gái kiêu kỳ này. Tất cả những đặc điểm đó đều hiển nhiên. Aliosa cảm thấy
anh không cường điệu. Anh thấy rằng đôi mắt to, đen, sáng rực của nàng tuyệt đẹp
và rất mực hài hoà với khuôn mặt trái xoan tái nhợt, thậm chí hơi bủng của
nàng. Nhưng đôi mắt ấy cũng như đường nét của đôi môi thanh tú tuy có cái gì cố
nhiên có thể làm cho anh trai anh say mê ghê gớm, nhưng có lẽ không thể khiến
tình yêu lâu bền được. Sau cuộc gặp gỡ, anh gần như nói thẳng tuột ý nghĩ của
mình với Dmitri, khi anh Dmitri cử hỏi riết, vật nài anh đừng giấu giếm cảm tưởng
của mình sau khi gặp vợ chưa cưới của anh ấy.
- Anh sẽ sống hạnh phúc với chị ấy, nhưng có lẽ là… hạnh phúc
không êm đềm.
- Chính thế, chú ạ, những người như thế trước sau vẫn cử thế,
họ không chịu khuất phục số phận. Thế chú cho rằng tôi sẽ không yêu nàng mãi
mãi à?
- Không, có thể anh sẽ yêu chị ấy mãi mãi, nhưng có lẽ sống với
chị ấy không phải bao giờ anh cũng có hạnh phúc…
Lần ấy, khi bày tỏ ý kiến của mình, Aliosa đỏ mặt và tự giận
mình đã nể anh mà nói ra những ý nghĩ "dớ dẩn". Bởi vì vừa nói xong
anh lập tức cảm thấy ý kiến của mình thật dớ dẩn. Thêm nữa anh hổ thẹn vì đã
nói quyết như thế về một người phụ nữ.
Bây giờ mới thoạt nhìn Ekaterina Ivanovna chạy ra đón anh,
anh càng ngạc nhiên hơn vì cảm thấy lần ấy mình đã lầm to. Lần này gương mặt
nàng ngời lên vẻ đôn hậu hồn nhiên bất chợt, sự chân thành thật thà và nồng nhiệt.
Thay cho "cái tự hào và kiêu kỳ" trước kia đã làm cho Aliosa rất đỗi
ngạc nhiên, bây giờ chỉ là nghị lực can trường cao quý và một niềm tự tin tươi
sáng, mãnh liệt. Thoạt nhìn nàng, thoạt nghe nàng nói, Aliosa đã hiểu ngay rằng
tình cảnh bi kịch của nàng trong quan hệ với người nàng yêu không còn là điều
bí mật đối với nàng nữa, có lẽ nàng đã biết hết, không còn sót điều gì. Tuy
nhiên, mặc dù gương mặt nàng rạng rỡ, đầy niềm tin vào tương lai, Aliosa cảm thấy
mình có lỗi với nàng lắm lắm. Anh đã bị đánh bại và đồng thời bị quyến rũ.
Ngoài ra, thoạt nghe nàng nói anh đã nhận thấy nàng đang xúc động ghê gớm, có lẽ
là sự xúc động khác thường ở nàng, thậm chí gần giống như sự cuồng nhiệt.
- Tôi nóng lòng mong chú, vì chỉ có chú mới cho tôi biết được
toàn bộ sự thật, không còn ai khác nữa!
- Tôi đến… - Aliosa ấp úng, rồi trí. - Tôi… anh ấy bảo tôi đến…
- A, anh ấy bảo chú đến, tôi cũng linh cảm thấy thế mà. Bây
giờ tôi biết cả rồi, biết cả rồi! - Ekaterina Ivanovna kêu lên, mắt long lanh.
- Khoan đã, Alecxei Fedorovich, tôi sẽ nói trước cho chú biết vì sao tôi mong
chú đến thế. Chú ạ, có lẽ tôi biết hơn chú nhiều; tôi không cần chú đem lại tin
tức cho tôi. Tôi cần chú cho biết điều này kia: tôi cần biết cảm tưởng riêng cuối
cùng của chú về anh ấy, tôi cần chú kể cho tôi biết - thật thẳng thừng không tô
điểm, thậm chí thô lỗ cũng được tôi, thô lỗ thế nào cũng được. Chú thấy thế nào
về anh ấy và tình cảm của anh ấy sau khi gặp anh ấy hôm nay? Như vậy có lẽ còn
hơn tôi trực tiếp nói chuyện với anh ấy, mà anh ấy có muốn đến gặp tôi nữa đâu.
Chú hiểu tôi muốn gì ở chú chứ? Nào, anh ấy bảo chú đến gặp tôi có việc gì tôi
cũng thừa biết là anh ấy bảo chú đến, hãy nói một cách giản dị, nói tiếng nói tối
hậu đi!
- Anh ấy bảo tôi… gửi lời chào chị, nhắn rằng anh ấy sẽ chẳng
bao giờ đến nữa… và gửi lời chào chị.
- Chào à? Anh ấy nói như thế, nói đúng như thế à?
- Vâng. Có lẽ là trong lúc vội vàng, tình cờ thốt ra, anh ấy
đã dùng lời không đúng, không chọn đúng tiếng cản thiết chăng?
- Không, anh ấy dặn tôi nói lại đúng như thế: "Chào chị".
Sợ tôi quên, anh ấy dận lại ba lần.
Ekaterina Ivanovna đỏ bừng mặt.
- Bây giờ chú phải giúp tôi, Alecxei Pavlovich, bây giờ tôi
can sự giúp đỡ của chú: tôi sẽ nói với chú tôi nghĩ thế nào, còn chú chỉ việc
cho tôi biết tôi nghĩ thế có đúng hay không. Chú ạ, nếu anh ấy chỉ nói qua loa
bảo chú gửi lời chào tôi, không khẩn khoản chờ chú nói lại, không nhấn mạnh đừng
lời thì thế là không còn gì nữa… Thế là chấm dứt! Nhưng nếu anh ấy đặc biệt nhấn
mạnh đến tiếng ấy, nếu anh ấy dặn kỹ chú đừng quên nói lại với tôi tiếng
"chào" ấy thì như thế có lẽ là anh ấy đang bị kích động, mất bình
tĩnh chăng? Anh ấy đã quyết định mà lại sợ hãi về quyết định của mình! Anh ấy
không vững bước rời bỏ tôi, mà lăn xuống dốc. Nhấn mạnh tiếng đó có thể chỉ có
nghĩa là nói mạnh cho ra vẻ can đảm…
- Chính thế, chính thế! - Aliosa sôi nổi xác nhận. - Bây giờ
chính tôi cũng có cảm giác như thế.
- Nếu vậy thì anh ấy chưa đến nỗi hỏng hẳn! Anh ấy mới chỉ
tuyệt vọng, nhưng tôi vẫn còn có thể cứu anh ấy. Khoan, anh ấy có nói gì với
chú về chuyện tiền nong, về ba ngàn rúp không?
- Chẳng những có nói, mà có lẽ đấy là điều làm anh ấy phiền
muộn nhất. Anh ấy nói rằng bây giờ anh ấy mất hết danh dự và anh ấy bất cần gì
nữa. - Aliosa hăm hở trả lời, anh cảm thấy bằng tất cả tấm lòng rằng hy vọng
đang ngập tràn tim anh và có lẽ có lối thoát cho anh Dmitri của anh. - Nhưng chị…
chị biết về số tiền ấy ư? - Anh bỗng nói thêm và ngừng bặt.
- Tôi biết từ lâu, và biết đích xác! Tôi đã đánh điện hỏi ở
Moskva và biết từ lâu rằng người ta không nhận được tiền. Anh ấy không gửi tiền
đi nhưng tôi làm lơ. Tuần trước tôi được biết, anh ấy lại bí tiền… Trong việc ấy
tôi chỉ có một mục đích: làm cho anh ấy biết anh ấy nên trở lại với ai và ai là
người bạn trung thành nhất của anh ấy. Không, anh ấy không muốn tin rằng tôi là
người bạn trung thành nhất của anh ấy, anh ấy không muốn hiểu tôi anh ấy chỉ
coi tôi là một người phụ nữ. Suốt tuần một mối lo ghê gớm giày vò tôi: làm thế
nào để anh ấy không xấu hổ với tôi về việc đã tiêu phí ba ngàn rúp? Nghĩa là
anh ấy cứ việc xấu hổ với mọi người và với bản thân, nhưng dừng xấu hổ với tôi.
Thì anh ấy vẫn nói hết với Chúa mà không xấu hổ kia mà. Làm sao cho đến giờ anh
ấy vẫn không biết tôi có thể chịu đựng biết bao nhiêu vì anh ấy? Vì sao, vì sao
anh ấy vẫn không biết tôi, vì lẽ gì anh ấy có thể không biết tôi sau tất cả những
gì đã xảy ra? Tôi muốn cứu anh ấy mãi mãi. Cho dù anh ấy quên tôi là vợ chưa cưới
của anh ấy! Vậy mà anh ấy sợ mất danh dự với tôi! Nhưng anh ấy có sợ bộc lộ với
chú đâu, Alecxei Fedorovich? Vì sao cho đến giờ tôi vẫn không xứng đáng được như
thế.
Câu sau cùng nàng nói qua hàng nước mắt: lệ trào ra trên mắt
nàng.
- Tôi phải nói cho chị biết, - Aliosa nói, giọng cũng run
run, - về việc vừa xảy ra giữa anh ấy và ba tôi. - Và anh kể lại tất cả màn kịch,
kể lại rằng anh được sai đi xin tiền, Dmitri đã xông vào nhà đánh bố và sau đó
khẩn khoản nhắc lại với anh về việc nhờ anh đến đây "gửi lời chào"… -
Aliosa khẽ nói thêm.
- Thế chú tưởng tôi không chịu đựng nổi người phụ nữ ấy sao?
Anh ấy tưởng tôi không chịu đựng nổi sao? Nhưng anh ấy không lấy cô ta đâu. -
Nàng bỗng cất tiếng cười ngặt nghẽo. - Một người dòng họ Karamazov có thể giữ
suốt đời ngọn lửa đam mê như thế chăng? Đấy là sự đam mê chứ không phải là tình
yêu. Anh ấy không lấy cô ta, vì cô ta sẽ không lấy anh ấy… - Ekaterina Ivanovna
lại cười một cách kỳ lạ.
- Có lẽ anh ấy lấy đấy. - Aliosa thốt lên một cách buồn rầu,
mắt nhìn xuống.
- Anh ấy không lấy, tôi bảo với chú mà! Cô gái ấy là một
thiên thần, chú có biết điều đó không? Chú biết! - Ekaterina Ivanovna kêu lên một
cách hăm hở lạ thường. - Đấy là một hiện tượng quái dị nhất trong những cái
quái dị! Tôi biết cô ấy thích quyến rũ, nhưng tôi biết cô ấy nhân hậu, cương
quyết, cao quý. Sao chú nhìn tôi thế Alecxei Fedorovich. Có lẽ chú ngạc nhiên về
lời tôi nói, hay chú không tin tôi chăng? Agrafena Alecxandrovna, thiên thần của
tôi ơi. - Nàng bỗng lớn tiếng gọi một người nào, đồng thời nhìn sang một phòng
khác. - Sang đây với chúng tôi, có Aliosa đây này, chàng trai dễ thương này biết
hết mọi việc của chúng ta đấy, chị ra đi!
- Em vẫn dừng sau rèm chờ chị gọi đây. - Một giọng phụ nữ dịu
dàng, thậm chí hơi quá ngọt ngào cất lên.
Màn cửa vén lên và… chính Grusenka tươi cười hớn hở đến gần
bàn. Trong Aliosa như có cái gì giật bắn lên. Anh dán mắt vào cô ta, không dứt
ra được. Cô ta đây, người phụ nữ khủng khiếp ấy đây - "con yêu tinh"
theo lời anh Ivan cách đây nửa giờ đã buột miệng nói về cô ta. Tuy nhiên, đứng
trước mặt anh là một người nom dường như hoàn toàn bình thường và giản dị - một
phụ nữ phúc hậu, dễ thương, có thể gọi là đẹp, nhưng rất giống tất cả những phụ
nữ đẹp "bình thường" khác! Thực ra, cô ta rất xinh, rất rất xinh là đằng
khác - một vẻ đẹp Nga mà nhiều người say mê. Đấy là một phụ nữ tầm vóc khá cao,
nhưng hơi thấp hơn Ekaterina Ivanovna (Ekaterina Ivanovna thuộc loại rất cao),
đẫy đà, cử động mềm mại và êm nhẹ, cũng lả lướt ngọt lịm như giọng nói của
nàng. Nàng đến gần, bước đi êm ru chứ không mạnh mẽ lanh lẹn như Ekaterina
Ivanovna. Nàng nhẹ nhàng ngồi vào ghế bành, chiếc áo dài sang trọng bằng lụa
đen khẽ sột soạt, và nàng uể oải choàng chiếc khăn len đắt tiền lên cái cổ tròn
trĩnh trắng muốt và đôi vai rộng. Nàng hai mươi hai tuổi, khuôn mặt biểu hiện
đúng cái tuổi ấy. Nước da rất trắng, ánh lên sự hồng nhạt cao quý. Khuôn mặt dường
như hơi bè, hàm dưới hơi nhô ra một chút. Môi trên thanh mảnh, môi dưới hơi thưỡn
ra, lớn gấp đôi và mòng mọng. Mái tóc màu vàng sẫm dày rậm tuyệt đẹp, lông mày
màu lông chồn nâu và cặp mắt xanh xám tình tứ với hàng mi dài khiến cho người
đàn ông thản nhiên và đãng trí nhất, cho dù gặp nàng trong đám đông, trong cuộc
hội hè chen lấn, cũng nhất định phải dừng lại ngắm khuôn mặt ấy và rồi sẽ còn
nhớ mãi. Trên khuôn mặt ấy, điều làm Aliosa ngạc nhiên nhất là cái vẻ trẻ thơ,
hồn nhiên của nó. Nàng có cái nhìn như trẻ thơ, nàng biểu lộ niềm vui sướng như
trẻ thơ, nàng đến gần bàn với thái độ chính như thế, "vui sướng" như
thể đang mong đợi cái gì với sự tò mò nôn nóng và cả tin của trẻ thơ. Ánh mắt của
nàng gieo niềm vui vào lòng người, Aliosa cảm thấy thế. Ở nàng còn có một cái
gì mà Aliosa không thể hay không dám diễn giải cho rỏ rằng, nhưng có lẽ anh vẫn
cảm thấy nó một cách vô thức, đấy là sự mềm mại, sự dịu dàng ấy của cử động
thân thể, dáng uyển chuyển êm nhẹ như mèo của những cử động ấy. Tuy nhiên đấy
là một thân hình mạnh mẽ và phốp pháp. Dưới tấm khăn choàng lồ lộ đôi vai rộng
đầy đàn, bộ ngực cao vẫn còn thanh xuân lắm. Tấm thân này có lẽ hứa hẹn dáng
hình của tượng thần vệ nữ ở Mi lo tuy nhất định là tỷ lệ hơi thái quá, ta linh
cảm như vậy. Nhìn Grusenka, những người am hiểu vẻ đẹp của phụ nữ Nga có thể
nói trước không chút sai lầm rộng chỉ đến ba mươi tuổi là vẻ dẹp thanh xuân mơn
mởn này sẽ mất sự hài hoà, sẽ mờ nhạt đi, mặt sẽ phị ra. quanh mắt và trên trán
sẽ xuất hiện rất nhanh những nếp nhăn nhó, da mặt sẽ thô đi, có lẽ sẽ trở nên đỏ
lựng - tóm lại, đây là một nhan sắc nhất thời, chóng tàn thường gặp chính ở phụ
nữ Nga. Aliosa tất nhiên không nghĩ đến điều đó, nhưng mặc dù mê hồn trước vẻ đẹp
ấy, anh vẫn có phẫn bực bội và dường như tiếc rẻ tự hỏi: tại sao nàng cứ kéo
dài từng tiếng ra, không thể nói năng cho tự nhiên? Rõ ràng nàng cho rằng việc
kéo dài các vần và âm thanh như vậy, đồng thời cố lấy giọng ngọt xớt tạo nên
cho lời nói của nàng một vẻ đẹp. Cố nhiên đó là một thói quen xấu biểu hiện sự
thô lậu, nó chứng tỏ sự giáo dục thấp kém, quan niệm sai lệch đã ăn sâu từ bé về
sự thanh lịch. Tuy nhiên, Aliosa cho rằng lối nói õng ẹo ấy mâu thuẫn gần như
không thể chấp nhận được với vẻ mặt hồn nhiên hớn hớ như trẻ thơ ấy với ánh mắt
long lanh hạnh phúc, hiền hoà của hài nhi ấy! Ekaterina Ivanovna tức khắc mời
nàng ngồi xuống chiếc ghế bành đối diện với Aliosa và hân hoan hôn mấy lần vào
đôi môi tươi cười của nàng, tuồng như si mê nàng.
- Chúng tôi gặp nhau lần đầu đấy, chú Alecxei Fedorovich ạ. -
Nàng nói một cách say sưa. - Tôi muốn hiểu rõ chị ấy, muốn nhìn thấy chị ấy, muốn
đến nhà chị ấy, nhưng tôi vừa ngỏ ý thì chị ấy thân hành đến đây. Tôi vẫn biết
rằng tôi và chị ấy sẽ giải quyết được hết mà, sẽ ổn thoả hết! Trái tim tôi linh
cảm thấy thế… Người ta can ngăn tôi dừng làm như thế này, nhưng tôi cảm thấy là
có kết quả và tôi đã không lầm. Grusenka đã nói rõ hết với tôi, cho biết mọi dự
định, chị ấy là một thiên thần nhân hậu, chị ấy đã bay đến đây, đem đến sự yên ổn
và niềm vui…
- Tiểu thư đã không khinh tôi, thưa tiểu thư kính mến. -
Grusenka dài giọng nói như hát, miệng vẫn nở nụ cười vui sướng đáng yêu.
- Chớ có nói với tôi những lời như chế, hỡi con người duyên
dáng có phép phù thuỷ kia ơi! Khinh chị ư. Tôi sẽ hôn làn môi dưới của chị lần
nữa đây này. Nó hình như hơi mọng lên, vậy thì bây giờ nó sẽ càng mọng hơn nữa,
mọng lên hơn nữa… Chú nhìn xem chị ấy cười đấy kia, Alecxei Fedorovich, nhìn
thiên thần này lòng ta vui như mở hội… - Aliosa đỏ mắt và một cơn run rất nhẹ
không ai nhận thấy truyền khắp cơ thể anh.
- Tiểu thư cưng chiều tôi, thưa tiểu thư quý hoá, nhưng có lẽ
tôi hoàn toàn không xứng đáng với sự trìu mến của tiểu thư.
- Không xứng đáng! - Ekaterina Ivanovna lại kêu lên, vẫn hăm
hở như thế. - Này, Alecxei Fedorovich, chú nên biết rằng chị em chúng tôi tuy
ngông cuồng, thích thế nào làm thế, nhưng chúng tôi có trái tim kiêu hãnh, rất
kiêu hãnh! Chúng tôi cao quý, Alecxei Fedorovich ạ, chúng tôi hào hiệp, chú có
biết thế không? Có điều là chúng tôi bất hạnh. Chúng tôi quá sẵn sàng hy sinh tất
thảy cho một người đàn ông có lẽ là không xứng đáng, hoặc nông nổi. Chúng tôi
yêu một người cũng là sĩ quan, chúng tôi đã hiến dâng tất cả cho người đó, chuyện
xảy ra đã lâu rồi, năm năm trước, vậy mà anh ta đã quên chúng tôi, đã lấy vợ.
Bây giờ anh ta đã goá vợ, anh ba đã viết thư cho chúng tôi, bây giờ anh ta đang
về đây, chú nên biết rằng chúng tôi chỉ yêu có người ấy, suốt đời vẫn chỉ yêu
có người ấy! Người ấy sẽ đến và Grusenka sẽ hạnh phúc, còn suốt năm năm qua chị
ấy đã đau khổ. Nhưng ai dám trách chị ấy, ai có thể khoe là đã được hưởng ân huệ
của chị ấy! Chỉ có ông già thương gia liệt chân thôi, nhưng ông ta là người
cha, người bạn, người che chở thì đúng hơn. Ông ta gặp chúng tôi giữa lúc chúng
tôi đang tuyệt vọng, đau khổ, bị người yêu bỏ rơi… hồi đó chị ấy đã toan trẫm
mình, ông già đã cứu chị ấy đã cứu chị ấy!
- Tiểu thư bênh vực tôi nhiều quá, thưa tiểu thư quý hoá, tiểu
thư quá vội vả trong mọi chuyện đấy. - Grusenka lại nói dài giọng.
- Tôi bênh chị ư? Chị mà lại cần tôi bênh ư, mà tôi lại dám
bênh chị ư? Grusenka thiên thần của tôi, hãy đưa tay chị đây, hãy nhìn bàn tay
mũm mĩm, xinh xắn mỹ miều này. Alecxei Fedorovich, chú biết không, chị ấy đã
đem lại hạnh phúc cho tôi và làm tôi sống lại, bây giờ tôi sẽ hôn tay chị ấy,
hôn cả mặt trước và lòng bàn tay, đấy, đấy, đấy! - Như say mê ngất ngây, nàng
hôn ba lần bàn tay quả thực là mỹ miều, có lẽ là hơi quá mũm mĩm của Grusenka.
Grusenka chìa tay ra cho hôn, vừa cười khúc khích một cách bồn chồn vừa nhìn
"tiểu thư quý hoá" và thích thú ra mặt về việc người ta hôn tay nàng
như thế. "Có lẽ là bốc đồng quá đáng đấy" - Aliosa thoáng nghĩ. Anh đỏ
mặt. Suốt thời gian đó, trong lòng anh bồn chồn lạ thường.
- Đừng làm tôi xấu hổ, thưa tiểu thư quý hoá, ai lại hôn tay
tôi trước mắt Alecxei Fedorovich như vậy.
- Tôi mà lại muốn làm chị xấu hổ ư? - Ekaterina Ivanovna nói,
hơi ngạc nhiên. - A, bạn thân mến ơi, chị hiểu tôi sai quá đấy!
- Nhưng tiểu thư có lẽ cũng không hoàn toàn hiểu tôi, thưa tiểu
thư quý hoá, có lẽ tôi xấu hơn tiểu thư tưởng. Tôi tâm tính xấu xa, thích thế
nào làm thế ấy. Tôi quyến rũ Dmitri Fedorovich chỉ để chế nhạo anh ấy thôi, tội
nghiệp anh ấy.
- Nhưng bây giờ chị sẽ cứu anh ấy. Chị đã hứa mà. Chị sẽ làm
cho anh ấy anh ngộ, chị sẽ cho anh ấy biết chị yêu một người khác từ lâu, bày
giờ người ấy xin cưới chị làm vợ…
- Ồ, không, tôi không hứa điều gì như thế cả. Đấy toàn là những
điều chính chị nói ra, chứ tôi không hứa hẹn gì cả.
- Như vậy là tôi hiểu chị chưa đúng. - Ekaterina Ivanovna khẽ
thốt lên, dường như hơi tái mặt. - Chị đã hứa…
- Ồ không, thưa tiểu thư thiên thần, tôi chẳng hứa gì cả. -
Grusenka ngắt lời, nói khẽ và đều đều, vẫn vui vẻ và hồn nhiên như trước. -
Thưa tiểu thư đáng kính, bày giờ thì thấy rõ ràng đối với tiểu thư, tôi là một
đứa xấu xa, lông bông, tôi cứ muốn thế nào là làm thế ấy. Ban nãy có lẽ tôi có
hứa với tiểu thư điều gì đó, nhưng bây giờ tôi lại nghĩ: ngộ nhỡ tôi lại thích
Mitia thì sao, có một lần tôi đã rất thích anh ấy, suốt một giờ tôi gần như
thích anh ấy. Chưa biết chừng bây giờ tôi sẽ đến bảo anh ấy từ hôm nay đến ở với
tôi… ấy tôi hay thay đổi bất thường như thế đó…
- Ban nãy chị nói… khác hẳn… - Ekaterina Ivanovna nói lí nhí.
- A, ban nãy! Tôi vốn mềm yếu, ngốc nghếch mà. Thử nghĩ mà
xem, anh ấy đã phải chịu đựng biết bao nhiêu vì tôi! Biết đâu khi trở về nhà
tôi bỗng động lòng thương anh ấy thì sao?
- Tôi không ngờ rằng…
- Chao ôi, thưa tiểu thư, so với tôi thì tiểu thư thật là
nhân đức cao quý. Nhưng bây giờ có lẽ tiểu thư sẽ chán con ngốc này, vì tính nết
của tôi như thế kia mà. Xin tiểu thư đưa bàn tay đáng yêu của tiểu thư cho tôi,
tôi sẽ hôn tay tiểu thư như tiểu thư đã hôn tay tôi, tiểu thư đã hôn tay tôi ba
lần, vậy thì tôi phải hôn tay tiểu thư ba trăm lần để đền đáp lại, để cho xong
nợ. Cứ phải như thế đã, còn sau thì tuỳ trời; có thể tôi sẽ hoàn toàn là kẻ nô
lệ của tiểu thư và sẽ hết lòng trăm sự chiều theo ý tiểu thư. Thôi thì trời muốn
thế nào sẽ nên thế, không, có bất cứ sự thoả thuận và hứa hẹn nào giữa chúng ta
cả: Bàn tay xinh xắn, bàn tay tiểu thư thật đáng yêu, bàn tay xinh xắn, tiểu
thư mới đáng yêu làm sao, tiểu thư của tôi là trang tuyệt thế giai nhân!
Grusenka nhẹ nhàng đưa bàn tay lên môi mình, thực ra với một
mục đích kỳ lạ: "trả xong nợ" những cái hôn, Ekaterina Ivanovna không
rút tay ra; lòng nàng chớm một niềm hy vọng rụt rè khi nghe lời hứa cuối cùng của
Grusenka, tuy nó được diễn tả đến là kỳ quặc: cô ta sẽ chiều ý nàng như "một
kẻ nô lệ". Nàng nhìn một cách căng thẳng vào mắt Grusenka; nàng thấy trong
đôi mắt ấy vẫn một vẻ hồn nhiên, cả tin ấy, vẫn sự vui vẻ tươi sáng ấy 'Có lẽ
cô ta quá ngây thơ!" - niềm hy vọng thoáng hiện trong trái tim Ekaterina
Ivanovna. Trong lúc đó Grusenka như mê thích bàn tay xinh đẹp, chầm chậm đưa nó
lên môi. Nhưng đến sát môi nàng bỗng giữ nó lại giây lát, như nghĩ ngợi gì.
- Tiểu thư biết không, thiên thần của tôi, - nàng bỗng nói
kéo dài bằng một giọng hết sức dịu dàng và ngọt xót. - Tiểu thư ạ, tôi sẽ không
hôn tay tiểu thư nữa đâu. - Nàng bật cười, tiếng cười nhỏ nhẹ hết sức vui vẻ.
- Tuỳ chị thôi… chị làm sao thế? - Ekaterina Ivanovna bỗng giật
mình, tiểu thư hãy khắc sâu vào ký ức rằng tiểu thư đã hôn tay tôi, còn tôi
không hôn tay tiểu thư. - Mắt nàng đột nhiên lóe lên.
Nàng nhìn chòng chọc vào Ekaterina Ivanovna.
- Láo xược! - Ekaterina Ivanovna thốt lên, dường như chợt hiểu
ra điều gì, nàng đỏ bừng mặt và đứng phát dậy, Grusenka cũng thong thả đứng dậy.
- Rồi đây tôi sẽ kể cho Mitia nghe tiểu thư hôn tay tôi như
thế nào, còn tôi không hôn tay tiểu thư. Anh ấy sẽ cười bằng thích!
- Đồ đểu cút xéo!
- Chết nỗi, thật đáng hổ thẹn, tiểu thư ạ, đáng hổ thẹn biết
bao, một người như tiểu thư mà dùng những lời như thế tiểu thư quý hoá ạ.
- Xéo đi, con đĩ! - Ekaterina Ivanovna gào lên. Mặt nàng biến
dạng hẳn, run lên.
- Ừ thì làm đĩ đấy. Chính bản thân chị trước đây tối tối vẫn
đến ve vãn bọn thanh niên ăn chơi để làm tiền, chị bán nhan sắc của mình, tôi
biết thừa đi rồi.
Ekaterina Ivanovna thét lên, toan nhảy xổ vào Grusenka, nhưng
Aliosa ra sức ghìm lại:
- Đứng yên, đừng nói gì hết! Đừng nói câu nào, đừng trả lời
gì hết, chị ấy sẽ đi, chị ấy sẽ đi ngay bây giờ!
Ngay lúc đó, nghe tiếng kêu, hai bà cô của Ekaterina Ivanovna
cùng với người hau phòng chạy vào, họ đâm bổ đến với nàng.
- Tôi sẽ rời khỏi đây. - Grusenka nói, cầm lấy tấm khăn
choàng trên đi văng. - Aliosa yêu mến, anh tiễn tôi nhé!
- Chị đi đi, đi mau đi! - Aliosa chắp tay van vỉ.
- Aliosa quý mến, anh đưa tiễn tôi về! Trên đường tôi sẽ nói
với anh một điều tuyệt hay! Tôi bày ra màn kịch này để anh xem đấy! Đưa tôi về
đi, bạn yêu quý, anh sẽ thấy thú vị mà.
Aliosa quay đi, hai tay xoay vặn vào nhau. Grusenka cười giòn
giã, chạy ra khỏi nhà.
Ekaterina Ivanovna bị một cơn kích động thần kinh. Nàng nức nở,
nghẹt thở. Mọi người cuống quít quanh nàng.
- Cô đã bảo cháu rồi mà, - bà cô lớn tuổi nói. - Cô đã can
cháu đừng làm như thế… cháu quá hăm hở… sao lại có thể liều lĩnh như vậy được!
Cháu không biết bọn nặc nô ấy đâu, nhất là con này, nó tệ hại nhất… Hừ, cháu chỉ
theo ý cháu thôi.
- Đấy là con hổ cái. - Ekaterina Ivanovna la lên. - Sao chú lại
giữ tôi Alecxei Fedorovich, không thì tôi đã cho nó một trận!
Nàng không đủ sức giữ bình tĩnh trước mặt Aliosa, mà nàng
cũng không muốn giữ bình tĩnh.
- Con ấy đáng đánh đòn, trên đoạn đầu đài, bằng tay đao phủ,
trước công chúng…
Aliosa giật lùi về phía cửa.
- Nhưng Trời ơi! - Ekaterina Ivanovna bỗng kêu lên, đập hai
tay vào nhau, - anh ấy mà lại thế! Anh ấy lại có thể bất nhân bất nghĩa đến như
thế! Anh ấy đi kể với con khốn nạn ấy chuyện đã xảy ra hôm đó, vào cái ngày ác
hại muôn đời đáng nguyền rủa nọ! "Cô đến bán sắc đẹp, tiểu thư quý hoá ạ!".
Nó biết! Anh chú là đồ đểu cáng. Alecxei Fedorovich Aliosa muốn nói điều gì,
nhưng không tìm được lời. Tim anh quặn thắt lại.
- Chú về đi, Alecxei Fedorovich! Tôi xấu hổ, thật là khủng
khiếp! Ngày mai… tôi quỳ gối van xin chú, ngày mai chú đến đây! Đừng lên án
tôi, thứ lỗi cho tôi, tôi chưa biết sẽ làm gì với bản thân mình đây.
Aliosa ra đường, chân bước lảo đảo. Anh cũng muốn khóc như
Ekaterina Ivanovna. Bỗng nhiên có người hầu theo kịp anh.
- Tiểu thư quên không đưa cho cậu lá thư của bà Khokhlakova,
thư nhận được từ bữa ăn trưa.
Như cái máy, Aliosa cầm lấy phong thư nhỏ màu hồng và gần như
vô ý thức nhét vào túi.
Chương 11
Lại một thanh danh nữa tiêu ma
Từ thành phố đến tu viện chỉ hơn một dặm. Aliosa vội vã đi
trên con đường vắng ngắt vào giờ này. Gần như đã về đêm, cách ba mươi bước đã
khó nhận rõ vật gì. Ở quãng nửa đường có một ngã tư ở đó, dưới một cây liễu
trúc đơn độc thoáng thấy một bóng người. Aliosa vừa tới nơi thì bóng đó bật khỏi
chỗ, nhảy xổ vào anh và thét lên bằng giọng cuồng loạn:
- Đưa tiền đây, không thì mất mạng!
- Anh Mitia, hoá ra là anh! - Aliosa giật nảy mình, ngạc
nhiên.
- Ha - ha - ha! Chú không ngờ chứ gì? Tôi nghĩ mãi: chờ chú ở
đâu được nhỉ? Ở nhà cô ấy ư? Từ đấy ra có ba con đường, có thể đón trượt. Cuối
cùng tôi nghĩ ra là nên đón ở đây, vì nhất định chú phải đi qua đây, không còn
con đường nào khác về tu viện. Nào, kể hết sự thật đi, giẫm bẹp tôi như giẫm
con gián đi… Mà chú làm sao thế?
- Không sao, anh ạ… là vì tôi hoảng sợ đấy thôi. Ôi chao, anh
Dmitri! Vừa rồi máu của ba… - Aliosa bật khóc, anh muốn khóc từ lâu và bây giờ
trong tâm hồn anh có cái gì bục ra. - Anh suýt giết chết ba… - Anh suýt giết chết
ba… anh nguyền rủa ba… vậy mà bây giờ… lúc nãy… anh bông đùa… "đưa tiền
đây, không thì mất mạng"!
- Vậy thì sao chứ? Bất nhã phải không? Không hợp với tình thế
ư?
- Không… tôi nói vậy thôi…
- Khoan. Hãy nhìn cảnh đêm kia: tối tăm biết bao, những đám
mây kia, gió thổi ào ào! Tôi đứng nấp dưới cây liễu đợi chú, và bỗng nhiên tôi
nghĩ (thề có trời): sống lay lất nữa làm gì, chờ đợi cái gì? Sẵn đây có cây liễu,
có khăn tay, có sơ mi, có thể bện thành dây thừng, nhúng ướt đi nữa, và giải
thoát cho trái đất khỏi phải nặng mình vì tôi, khỏi phải ô danh vì sự có mặt
hèn hạ của tôi! Thể rồi tôi nghe thấy tiếng bước chân chú. Trời ơi, tuồng như
có luồng ánh sáng rọi xuống người tôi; vậy là trên đời này vẫn còn có một người
mà tôi yêu mến, người đó đây kia, người em dễ thương mà tôi yêu nhất trên đời,
người duy nhất mà tôi yêu! Tôi yêu chú quá chừng, giây phút ấy tôi yêu chú đến
nỗi muốn nhảy bổ đến ôm quàng lấy cổ chú! Nhưng một ý nghĩ ngu ngốc chợt nảy
ra: "Ta doạ chú ấy một tí cho vui". Tôi gào lên như thằng ngốc:
"Đưa tiền đây!". Chú tha thứ cho hành động ngu xuẩn ấy, đây chỉ là
trò vớ vẩn, chứ trong tâm hồn tôi… cũng không đến nỗi nào… Mà thôi, nói đi, ở đấy
ra sao? Nàng nói gì? Đè bẹp tôi đi, hạ thủ tôi đi, đừng tiếc thương! Nàng điên
tiết lên phải không?"
- Không, không phải thế… Hoàn toàn không phải thế, anh Mitia ạ.
Ở đấy… vừa rồi tôi gặp cả hai người.
- Hai người nào?
Grusenka ở nhà Ekaterina Ivanovna.
Dmitri Fedorovich sững người:
- Không có lẽ! - Chàng kêu lên. - Chú mê sảng! Grusenka đến
nhà nàng?
Aliosa kể lại tất cả mọi chuyện xảy ra từ lúc anh vào nhà
Ekaterina Ivanovna. Anh kể chừng mười phút, không thể nói là trơn tru mạch lạc,
nhưng anh tường thuật xem ra là rõ ràng, nắm được những lời cốt yếu nhất, nhưng
cử chỉ chính yếu và tả lại một cách sinh động, thường chỉ bằng một nét, cảm tưởng
của anh. Anh Dmitri im lặng nghe, nhìn chằm chằm với vẻ đờ đẫn đến đáng sợ,
nhưng Aliosa thấy rõ ràng anh mình hiểu hết, nắm được toàn bộ sự việc. Nhưng
càng kể tiếp câu chuyện, mặt chàng chẳng những càng rầu rĩ, mà dường như trở
nên dữ tợn. Chàng chau mày, nghiến răng, cái nhìn đờ dẫn càng đờ đẫn hơn, dai dẳng
hơn, đáng sợ hơn… Rồi thật là bất ngờ, toàn bộ vẻ mặt Dmitri đang giận dữ và
hung tợn bỗng thay đổi nhanh chóng không thể nào hiểu nổi, đôi môi mím chặt dằn
ra, Dmitri Fedorovich bỗng phá lên cười sằng sặc, cười thực bụng. Đúng là cười
sằng sặc, thậm chí mãi chưa nói được.
- Thế là nó không hôn tay! Thế là nó không hôn và bỏ ra về! -
Chàng reo lên trong cơn hoan hỉ trâng tráo, nếu như nó không tự nhiên đến như
thế. - Còn Ekaterina gào lên bảo nó là con hổ cái à! Đúng là con hổ cái! Đáng
đưa nó lên thớt chém mà? Đúng, đúng, đáng phải như thế, chính tôi cũng cho là
như thế, cần phải như thế từ lâu rồi! Này chú ạ, thớt chém thì thớt chém nhưng
phải lấy lại sức khoẻ đã. Tôi hiểu bà chúa của sự trâng tráo ấy, tất cả bản chất
của nó bộc lộ ở bàn tay ấy, con yêu quái đó! Đó là bà chúa của mọi ả yêu quái
có thể tưởng tượng ra trên đời này! Khoái quá đi! Thế là nó bỏ về à? Bây giờ
tôi… chà… tôi sẽ chạy đến nó! Aliosa, đừng kết tội tôi, tôi đồng ý rằng bóp cổ
nó chết còn là nhẹ…
- Nhưng còn Ekaterina Ivanovna! - Aliosa buồn rầu kêu lên.
- Nàng thì tôi cũng hiểu, tôi nhìn thấy tâm can nàng, và nhìn
rõ hơn bao giờ hết. Đây là một khám phá của cả bốn nước trên thế giới. Ồ không,
năm nước chứ!(1) Dám đi một nước cờ như thế! Đấy đích thị là cô Katenka sinh
viên dám đến gặp gá sĩ quan thô lỗ ngông cuồng với mục đích cao quý là cứu cha
mình, bất chấp nguy cơ có thể bị làm nhục ghê gớm! Vẫn là những thói kiêu hãnh ấy,
vẫn là nhu cầu mạo hiểm ấy, vẫn là sự thách thức số phận, sự thách thức đẩy tới
giới hạn tột cùng! Chú bảo là bà cô nàng đã can ngăn phải không? Chú nên biết đấy
là bà cô độc đoán nhất đấy là em ruột của bà quan ở Moskva, bà ta còn kiêu kỳ
hơn cả cháu, nhưng chồng bà ta biển thủ công quỹ bị vỡ lở, mất hết tài sản và mọi
thứ khác, thế là bà vợ kiêu ngạo phải xuống nước, từ đó hết vênh vang. Bà ta đã
can ngăn Katia mà cô nàng không nghe. "Ta có thể không được hết, tất cả đều
tuỳ thuộc ở ta, nếu ta muốn ta sẽ bùa chài được cả Grusenka nữa". - Nàng
tin chắc ở bản thân mình, đánh giá quá cao khả năng của mình, vậy thì lỗi tại
ai? Chú tưởng nàng cố ý hôn tay Grusenka trước là có tính toán ranh mãnh hả?
Không, thực bụng đấy, nàng thực bụng mê say Grusenka, nghĩa là không phải mê
say Grusenka, mà là mê say niềm mơ ước của nàng, cơn mê sảng của nàng, vì mơ ước
ấy, cơn mê sáng ấy chính là nàng! Aliosa yêu quý, chú làm thế nào thoát khỏi
tay nhưng cô nàng như thế? Chú vén áo thụng lên mà chạy phải không? Ha - ha -
ha!
- Anh ơi, hình như anh không để ý đến việc anh đã xúc phạm chị
Ekaterina Ivanovna vì đã kể cho Grusenka câu chuyện xảy ra hôm ấy, Grusenka nói
đốp vào mặt chị ấy: "Cô lén đến bán sắc đẹp của mình cho bọn ăn
chơi". Anh ơi, còn gì xúc phạm hơn thế nữa? - Aliosa khổ tâm nhất vì ý
nghĩ rằng anh mình dường như vui sướng về việc Ekaterina Ivanovna bị sỉ nhục, mặc
dù cố nhiên không thể có chuyện như vậy.
- Chết nỗi! - Dmitri Fedorovich bỗng cau có và đập tay vào
trán. Mãi đến bây giờ chàng mới sực nhớ ra, tuy vừa rồi Aliosa đã kể hết, cả sự
xúc phạm, cả tiếng kêu của Ekaterina Ivanovna: 'Anh chú là thằng đểu
cáng". - Ồ, quá có vậy, có lẽ tôi đã kể với Grusenka về "cái ngày ác
hại ấy", như Katia đã nói. Phải, đúng thế tôi đã kể, tôi nhớ ra rồi! Đấy
là ở Mokroe lần ấy tôi say, bọn gái Zigan hát xướng… Nhưng tôi khóc nức nở, tôi
khóc nức nở, quỳ gối cầu khấn trước ảnh Chúa, và Grusenka hiểu điều đó. Lúc ấy
nó hiểu hết, tôi nhớ, chính nó cũng khóc… A, đồ quỷ! Nhưng bây giờ có thể khác
được không? Lúc ấy nó khóc, mà bây giờ… Bây giờ nó "thọc mũi dao vào
tim!". Đàn bà là thế đấy.
Chàng cúi đầu nghĩ ngợi.
- Đúng tôi là thằng đểu cáng! Hiển nhiên là thằng đểu - Chàng
bỗng thốt lên bằng giọng ảo não. - Đằng nào cũng thế thôi khóc hay không thì vẫn
cứ là thằng đểu! Chú hãy nói lại với nàng rằng tôi xin chịu cái tiếng ấy, nếu
điều đó có thể an ủi nàng. Thôi đủ rồi, vĩnh biệt chú, lắm lời làm gì! Chàng
vui vẻ gì. Chú đi đường chú, tôi đi đường tôi. Tôi không muốn gặp chú nữa trước
phút chót. Vĩnh biệt Alecxei! - Chàng xiết chặt tay Aliosa và vẫn cúi gằm xuống,
không ngẩng đầu lên, tuồng như chạy trốn, rảo bước đi về phía danh phố. Aliosa
nhìn theo anh, không tin rằng anh mình cứ thế đi hẳn.
- Khoan đã. Alecxei, còn một điều này nữa, mà chỉ thú nhận với
chú thôi đấy! - Dmitri Fedorovich đột nhiên quay lại. - Hãy nhìn tôi nhìn cho kỹ
vào: chú thấy đấy, ở đây, chỗ này này, một sự ô nhục ghê gớm đang được chuẩn bị.
(Khi nói mấy tiếng: "chỗ này này". Dmitri Fedorovich đầm vào ngực
mình với bộ dạng kỳ lạ như thể sự ô nhục được giữ chính trong ngực chàng, ở chỗ
nào đó, có lẽ trong túi, hay trong cái túi khâu đeo ở cổ). Chú biết tôi đó: tôi
là thằng đê tiện, thằng đê tiện có hạng! Nhưng chú nên biết rằng cho dù trước
kia, bây giờ hay sau này, tôi có làm gì đi nữa thì cũng không cái gì có thể
sánh với cái điều ô nhục mà giờ đây, lúc này tôi đang mang trên ngực tôi đây,
chỗ này, chỗ này, cái đó nó đang hoạt động, đang diễn ra, tôi hoàn toàn có quyền
chặn nó lại, tôi có thể chặn nó lại hay thực hiện nó, chú nên biết như vậy! Chú
nên biết rằng tôi sẽ làm việc đó, chứ không dẹp nó đi. Ban nãy tôi đã kể hết với
chú, những chuyện này thì tôi không thể, bởi vì ngay cả tôi cũng chưa đủ trơ đến
thế! Tôi vẫn còn có thể dừng lại; nếu dừng lại thì ngày mai tôi còn có thể cứu
vãn được một nửa danh dự, nhưng tôi sẽ không dừng lại, tôi sẽ thực hiện một mưu
đồ đê mạt, chú sẽ là người làm chứng rằng tôi đã nói trước, đã biết trước! Cái
chết và bóng tối! Không cần giải thích, đến lúc ấy chú sẽ biết. Cái ngõ hẻm hôi
hám và ả yêu quái! Vĩnh biệt. Đừng cầu nguyện cho tôi, tôi không xứng đáng, với
lại cũng chẳng cần, hoàn toàn không cần tôi hoàn toàn không cần! Xê ra!…
Dmitri đột nhiên bỏ đi, lần này thì đi hẳn, Aliosa đi về tu
viện. "Sao ta lại không bao giờ thấy mặt anh ấy nữa là thế nào, anh ấy nói
gì vậy nhi? - Aliosa ngơ ngác. - Ngày mai nhất định tìm gặp anh ấy, ta sẽ tìm bằng
được, anh ấy nói cái gì kỳ quặc vậy! ".
Aliosa đi vòng quanh tu viện và qua khoảng rừng thông vào thắng
tu xá. Người ta mở cửa cho anh, tuy vào giờ này người ta không cho ai vào nữa.
Tim anh run rẩy khi anh vào phòng trưởng lão: "Sao ta lại đi, tại sao Cha
lại bảo ta: "hoàn tục"? Ở đây yên tĩnh, thánh thiện, còn ở ngoài thì
rối loạn. Ở đây tối tăm mịt mù làm ta lập tức mất hướng và lạc đường…".
Trong phòng trưởng lão có anh tập tu Porfin và một thầy tu,
Cha Paixi. Cha Paixi cứ mỗi giờ lại vào thăm nom sức khỏe Cha Zoxima. Aliosa lo
sợ khi biết tình trạng của trưởng lão mỗi lúc một nguy kịch. Hôm nay ngay cả cuộc
mạn đàm buổi tôi với giảo hữu tông phải bó. Thông thường ngày nào cũng thế, buổi
tối sau khi làm lễ, trước khi đi ngủ, các giáo hữu trong tu viện kéo đến phòng
trưởng lão, mỗi người xưng tội với trưởng lão, công nhiên nói trước mọi người
những tội lỗi của mình trong ngày hôm ấy, những mơ ước và ý nghĩ tội lỗi, những
sự cám dỗ, cả những chuyện xích mích với nhau nếu có. Một số người quỳ gối xưng
tội. Trưởng lão xá miễn, dàn hoà, răn bảo, bắt sám hối, ban phước rồi cho về.
Những người chống đối chế độ trưởng lão đã kích chính lối "xưng tội"
tập thể như thế, cho rằng nó bôi bác phép xưng tội vốn là một bí tích, nó là sự
nhạo báng, tuy sự thực khác hẳn. Thậm chí người ta trình với đấng bề trên địa
phận rằng lối xưng tội như thế chẳng những không đạt được mục đích tốt lành, mà
thực ra còn cố ý đưa người ta vào tội lỗi và cám dỗ. Nhiều giáo hữu lấy làm khó
chịu khi phải đến họp mặt ở phòng trưởng lão, nhưng buộc lòng phải đến vì mọi
người đều làm như thế, và để khỏi mang tiếng là kiêu căng và rắp tâm nổi loạn.
Nghe nói rằng một số giáo hữu trước khi đến xưng tội buổi tối, đã bàn định trước
với nhau: "Tôi sẽ nói là ban sáng tôi cáu với anh, anh cứ nhận là đúng thế
nhé". - Chỉ cốt để có cái mà nói cho xong chuyện. Aliosa biết rằng đôi khi
có thế thật. Anh cũng biết rằng có những giáo hữu rất bất bình về cái lệ ngay cả
thư từ của bà con gửi đến cho người trong tu viện cũng phải đưa lên trưởng lão
bóc ra đọc trước đã. Tất nhiên với giả định là việc đó phải được thực hiện một
cách tự do và chân tình, thực bụng, do phục tùng tự nguyện cốt để được khuyên bảo
nhằm cứu rỗi linh hồn, nhưng thực ra nhiều khi cũng chẳng thành thật gì cho
cam, mà trái lại còn gượng gạo và giả dối.
Nhưng những người nhiều tuổi và giàu kinh nghiệm nhất trong
các giáo hữu cứ một mực cho rằng "với những người thành tâm vào đây tu
hành thì sự vâng lời và công ích ấy chắc chắn sẽ đem lại sự cứu rối và vô cùng
có lợi cho họ; trái lại người nào lấy thế làm khó chịu và ca thán thì có thể
nói đấy không phải là bậc chân tu và họ vào tu viện chỉ hoài công, cõi tục mới
là chỗ của họ. Chẳng riêng gì trong cõi tục, mà ngay cả trong đền thờ cũng
không tránh được tội lỗi và ma quỷ, vì vậy không nên dung nong tội lỗi".
- Cha yếu lắm rồi, bây giờ lúc nào cũng thiêm thiếp. - Cha
Paixi thì thầm với Aliosa sau khi đã ban phước cho anh. - Đánh thức Cha dậy rất
khó. Nhưng cũng không nên đánh thức. Cha đã thức giấc chừng năm phút. Cha yêu cầu
chuyển sự ban phước của Cha cho giáo hữu và bảo các giáo hữu cầu nguyện ban đêm
cho Cha. Sáng mai Cha có ý định chịu lễ ban thánh thể lần nữa. Cha có nhắc đến
con, Alecxei ạ. Cha hỏi con đã đi chưa, chúng ta trả lời rằng con hiện ở thành
phố. "Ta đã ban phước cho nó, chỗ của nó là ở đấy, chứ hiện thời chưa phải
ở đây". - Cha dạy như vậy đấy. Cha nhắc đến con với tấm lòng yêu thương,
chăm sóc, con có hiểu tại sao con được như thế không? Nhưng tại sao Cha lại định
rằng tạm thời con phải hoàn tục? Như vậy là Cha thấy được điều gì trong số phận
của con! Alecxei, con nên hiểu rằng nếu con có hoàn tục dù là để thực hiện một
nhiệm vụ mà trưởng lão giao phó cho con, chứ không phải là để đấu tranh với cuộc
sống hư phù và thú vui trần thế…
Cha Paixi đi ra. Trưởng lão sắp từ trần. Aliosa không còn hồ
nghi gì nữa. Cha còn có thể sống được một vài ngày nữa. Với tấm lòng nồng nhiệt.
Alecxei quyết định dứt khoát rằng mặc dù anh đã hứa đến gặp bố, gặp mẹ con bà
Khokhlakova, gặp anh Dmitri và Ekaterina Ivanovna, ngày mai anh sẽ không rời khỏi
tu viện và sẽ ở bên trưởng lão cho đến khi Cha mệnh chung. Tim anh bừng lên niềm
yêu thương. anh tự trách mình trong thời gian vào thành phố đã có lúc quên đi
người sắp qua đời ở trong tu viện, người mà anh sùng kính nhất đời. Anh vào
phòng trưởng lão quỳ xuống và rạp đầu sát đất trước người đang ngủ.
Trưởng lão ngủ yên, không động cựa, thở đều và yếu ớt, hầu
như khó nhận thấy. Mặt Cha điềm tĩnh.
Khi đến lại phòng bên kia, căn phòng mà ban sáng trưởng lão
tiếp khách, Aliosa hầu như không thay quần áo, chỉ tháo ủng, nằm lên chiếc đi
văng nhỏ bọc da hẹp và cứng mà lâu nay anh vẫn ngủ đêm tại đó, chỉ mang đến một
chiếc gối. Đã lâu anh quên trải nệm (cái nệm mà bố đã bảo anh mang về nhà). Anh
chỉ cởi áo thụng và đắp thay chăn. Nhưng trước khi ngủ, anh quỳ xuống cầu nguyện
hồi lâu. Trong khi cầu nguyện nhiệt thành, anh không cầu xin Chúa giúp anh hiểu
rõ nguồn cơn sự bối rối của mình, mà chỉ hết lòng cầu mong có được cảm giác thiết
tha vui sướng bao giờ cũng đến với anh sau mỗi lần ngợi khen Chúa, tất cả bài
nguyện của anh trước khi đi ngủ chỉ là ngợi khen Chúa.
Niềm vui sướng đến với anh đưa anh vào giấc ngủ nhẹ nhàng êm ả
Trong lúc cầu nguyện, tình cờ anh sờ thấy trong túi phong thư nhỏ màu hồng mà
cô người hầu của Ekaterina Ivanovna đã đuổi theo anh và trao cho anh. Anh bối rối,
nhung anh đọc hết bài nguyện. Rồi ngần ngừ một lát, anh mở phong thư. Bức thư
ký tên Liza, cô con gái nhỏ tuổi nhất của bà Khokhlakova mà ban sáng đã chế nhạo
anh trước mặt trưởng lão.
"Anh Alecxei Fedorovich, - cô gái viết, - em viết
thư cho anh tuyệt không để ai biết, kể cả mẹ nữa, em biết như thế là không tốt.
Nhưng em không thể sống được nếu không nói với anh nhưng gì đã nảy sinh trong
tim em, điều đó tạm thời không ai được biết ngoài hai chúng ta. Nhưng em làm thế
nào nói được với anh điều em muốn nói? Người ta bảo giấy không biết đỏ mặt, em
cam đoan với anh rằng nói thế là không đúng, giấy cũng biết đỏ mặt tưng bừng
như em lúc này đây. Aliosa yêu dấu, em yêu anh, yêu từ tấm bé, từ hồi ở Moskva,
khi anh hoàn toàn không như bây giờ, và yêu suốt đời. Em đã chọn anh trong trái
tìm em để hoà nhập hẳn với anh, rồi về già thì đôi ta cùng lìa bỏ cõi đời một
lúc. Cố nhiên với điều kiện là anh rời bỏ tu viện. Còn về tuổi chúng ta thì
chúng ta sẽ chờ cho đến tuổi luật định. Đến lúc ấy nhất định em sẽ hạnh phúc,
em sẽ đi lại và khiêu vũ được Điều ấy khỏi nói.
Anh thấy đấy, em đã nghĩ kỹ hết, duy có một điều em nghĩ
không ra: anh sẽ nghĩ thế nào về em khi đọc lá thư này? Em lúc nào cũng cười cợt
và nghịch ngợm, vừa rồi em chọc tức anh, nhưng em cam đoan với anh rằng lúc
này, trước khi cầm bút, em cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ, ngay cả giờ đây em cũng
đang cầu nguyện và gần như khóc, điều bí mật của em ở trong tay anh, ngày mai
khi anh đến, em không biết làm sao em có thể nhìn mặt anh. Ôi chao, anh Alecxei
Fedorovich, nếu như em lại không nén được và như một con ngốc, nhìn anh em lại
phá lên cười như mới đây thì sẽ ra sao? Anh sẽ cho em là một con bé xấu bụng
hay chế nhạo và sẽ không tin lá thư của em. Bởi thế em van anh, anh yêu dấu, nếu
anh thông cảm với em thì ngày mai khi đến đây anh đừng nhìn thẳng vào mắt em,
vì bắt gặp mắt anh có lẽ thế nào em cũng phá lên cười, nhất là anh sẽ mặc chiếc
áo dài ấy… Ngay lúc này em cũng lạnh toát cả người khi nghĩ đến lúc ấy, vậy lúc
vào anh hãy đừng nhìn em vội, mà nhìn mẹ hay nhìn ra cửa sổ…
Thế là em đã viết cho anh một lá thư anh, trời ơi, em đã làm
gì thế này! Anh Aliosa, xin đừng khinh em, còn nếu em đã làm điều gì rất xấu
khiến anh phiền lòng thì hãy thứ lỗi cho em. Bây giờ thanh danh em đã vĩnh viễn
tiêu ma, điều bí mật ấy nằm trong tay anh.
Hôm nay thế nào em cũng sẽ khóc. Tạm biệt, chờ đến cuộc gặp gỡ
khủng khiếp. Liza.
P.S. Anh Aliosa, thế nào anh cũng đến nhé, nhất định đến nhé!
Liza!".
Aliosa đọc thư mà ngạc nhiên, anh đọc hai lần, nghĩ ngợi và bỗng
cười khe khẽ, thích thú. Anh giật mình, cảm thấy cười như thế là tội lỗi.
Nhưng lát sau anh lại cười, tiếng cười vẫn khe khẽ và hạnh
phúc như thế. Anh chậm rãi cho thư vào phong bì, làm dấu thánh và đi nằm. Tâm hồn
anh bỗng trở lại thư thái. "Lạy Chúa, xin Chúa tha thứ cho tất cả bọn họ.
Chúa che chở cho những con người bất hạnh và cuồng loạn, xin Chúa dắt dẫn họ".
Chúa cứu vớt họ đi lên con đường của Chúa. Chúa là tình yêu. Chúa sẽ ban niềm
vui cho mọi người!" - Aliosa lầm bầm, làm dấu thánh và thiếp đi trong giấc
ngủ yên lành.
Quyển 4: Vò xé
Chương 1
Chương 1
Cha Ferapont
Alecxei thức dậy từ tinh mơ, lúc chưa sáng.
Trưởng lão đã thức giấc và cảm thấy mình yếu lắm, tuy vậy,
Cha muốn trở dậy ra ngồi ghế bành. Cha hoàn toàn tỉnh táo; vẻ mặt Cha tuy rất mệt
mỏi, nhưng tươi tỉnh, gần như vui sướng, ánh mắt vui vẻ, niềm nở, mời mọc.
"Có lẽ Cha sẽ không sống qua được ngày hôm nay". - Cha nói với
Aliosa: rồi Cha ngỏ ý muốn xưng tội và chịu phép ban thánh thể ngay. Giáo đạo của
trưởng lão bao giờ cũng là Cha Paixi. Xong hai bí tích đến lễ xức dầu thánh.
Các tu sĩ kéo đến, trai phòng dần dần đầy chật người ở tu xá. Ngày đã sáng rõ.
Rồi người của tu viện cũng kéo đến. Xong lễ, trưởng lão muốn vĩnh biệt và hôn mọi
người. Căn phòng chật chội, người đến trước lui ra nhường chỗ cho người khác.
Trưởng lão đã sang ngồi ghế bành, Aliosa đứng cạnh Cha. Cha
nói và dạy bảo, gắng hết sức còn lại, tiếng nói của Cha tuy yếu, nhưng rắn rỏi.
"Bao nhiêu năm tôi dạy bảo anh em, thành thử dường như đã thành thói quen
hay nói, mà đã nói là khuyên bảo, thành thử đối với tôi im lặng hầu như còn khó
hơn nói, các Cha và giáo đồ yêu quý ạ, dù là lúc yếu đau như bây giờ".
Cha nói đùa, cảm động nhìn những người xúm xít xung quanh.
Sau này Aliosa nhớ lại một số điều Cha đã nói lúc ấy. Nhưng mặc
dù Cha nói rành rẽ, giọng nói khá rắn rỏi, nhưng lời lẽ khá rời rạc. Cha nói
nhiều điều, dường như muốn nói hết, nói hết một lần nữa trước phút chót tất cả
những gì chưa kịp nói, không phải chỉ để răn dạy, mà dường như vì khao khát
chia sẻ niềm vui sướng xuất thần với tất cả mọi người, thổ lộ tâm tình một lần
nữa trong đời…
'Hãy thương yêu lẫn nhau, hỡi các Cha. - Trưởng lão khuyên dạy
(như sau này Aliosa nhớ lại). - Hãy yêu mến con dân của Chúa. Chúng ta không
thánh thiện hơn người thế tục dù rằng chúng ta ẩn mình tu hành trong những bức
tường này, trái lại mỗi người đến đây đều tự biết rằng mình đến đây tức là mình
tồi tệ hơn mọi người thế tục trên trái đất… Người tu hành sống càng lâu ở nơi ẩn
cư thì càng phải nhận thấy điều đó một cách nhậy bén hơn. Bởi vì nếu trái lại
thì chẳng việc gì ta phải đến đây. Chỉ khi nhận rõ được rằng chẳng những ta tồi
hơn mọi người thế tục, mà còn có lỗi với mọi người về mọi tội lỗi của con người,
cả những tội lỗi chung của nhân loại cũng như riêng của từng người, dù khi đó mục
đích thống nhất của chúng ta mới đạt được, bởi vì, hỡi các giáo hữu thân
thương, nên biết rằng mỗi người chúng ta chắc chắn đều phải chịu lỗi về mọi sự
và mọi người trên trái đất, không phải chỉ về lỗi chung của nhân loại, mà mỗi
người riêng biệt phải chịu trách nhiệm về tất cả mọi người và về từng người
trên trái đất này. Ý thức đó là công quả của con đường tu hành và của mỗi người
trên trái đất, bởi vì người tu hành không phải loại người riêng biệt, họ chỉ là
những người mà mọi người trên trái đất cùng phải được như thế. Chỉ khi ấy trái
tim chúng ta mới thấm thía tình yêu vô lượng, phổ quát không biết chán. Khi ấy
mỗi người chúng ta sẽ thu phục, được cả thế giới bằng tình yêu và gột rửa sạch
tội lỗi của thế gian bằng nước mắt… Mỗi người hãy suy ngẫm về bản thân, hãy
không ngừng xưng tội. Đừng sợ tội lỗi của mình, dù đã ý thức được tội lỗi, miễn
là biết ăn năn, nhưng đừng đặt điều kiện với Thượng đế. Tôi nhắc lại, đừng kiêu
ngạo. Đừng kiêu ngạo với người bé mọn, cũng đừng kiêu ngạo với người lớn lao. Đừng
thù ghét nhưng người chối bỏ mình, những người bêu riếu mình, nhưng người lăng
mạ mình hay vu khống mình. Đừng thù ghét những người vô thần, nhưng kẻ truyền
bá điều ác, những người duy vật, kể cả những kẻ độc ác trong bọn họ, chứ đừng
nói gì những người tốt, bởi vì trong số họ có nhiều người tốt, nhất là trong thời
đại chúng ta. Lúc cầu nguyện hãy nhớ đến họ: lạy Chúa, hãy cứu vớt tất cả những
người không có ai cầu nguyện cho, cả những người không muốn cầu nguyện. Tôi xin
thêm: không phải vì kiêu ngạo mà con cầu Chúa như thế, lạy Chúa, mà vì chính
con xấu xa hơn tất thảy… Hãy yêu con dân của Chúa, đừng để những người lạ đoạt
mất bầy chiên, vì nếu ta ngủ thiếp đi trong sự lười nhác và kiêu căng ngạo mạn,
nhất là trong sự vụ lợi thì người cửa tất cả các nước sẽ đến và lấy mất bầy
chiên của ta. Hãy không ngừng giảng Phúc âm cho dân chúng… đừng bắt quyên cúng
nặng nề… Đừng ham vàng bạc, đừng cất giữ. Hãy vững đức tin và giữ lấy ngọn cờ.
Hãy giương cao ngọn cờ".
Trưởng lão nói rời rạc hơn so với sự mình bày ở đây mà
Alecxei đã ghi lại sau này. Đôi khi Cha ngừng hẳn, như để lấy hơi sức, nhưng
Cha dường như ở trạng thái xuất thần. Mọi người cảm kích nghe Cha nói tuy nhiều
người ngạc nhiên về lời lẽ của Cha và thấy nó tối tăm… Sau này họ nhớ lại tất cả
những lời đó.
Khi Aliosa rời khỏi phòng chốc lát, anh sửng sốt vì vẻ hồi hộp
và chờ đợi của tất cả các giáo đồ tụ tập trong phòng và xung quanh phòng. Một số
người gần như lo lắng, số khác thì nghiêm trang. Tất cả đều chờ đợi một cái gì
vĩ đại xảy ra ngay sau khi trưởng lão mệnh một. Xét theo một góc độ nào đó, sự
chờ đợi ấy chỉ là xốc nổi, nhưng ngay cả những thầy tu nghiêm nghị nhất cũng
lây nhiễm tâm trạng đó. Nghiêm nghị nhất là khuôn mặt Cha Paixi. Aliosa rời khỏi
phòng chỉ vì có một tu sĩ nhắn riêng anh rằng Rakitin từ thành phố đến mang
theo một lá thư lạ lùng của bà Khokhlakova gửi cho anh. Bà cho Aliosa biết một
tin kỳ dị, hết sức kịp thời. Số là hôm qua, trong số những người đàn bà bình
dân giàu đức tin đến để tỏ lòng sùng kính trưởng lão và xin ban phước, có một
bà già ở thành phố, tên là Prokhorovna, vợ một hạ sĩ quan. Bà ta hỏi trưởng
lão: liệu bà có thể ghi tên xin cầu nguyện cho con trai bà, coi như người đã chết,
trong lễ cầu siêu ở nhà thờ được không? Con trai bà là Vaxenka, tòng ngũ ở tận
Sibir xa xôi, tỉnh Irkursk, đã một năm nay không có tin tức gì. Trưởng lão trả
lời hết sức nghiêm khắc, cấm làm như vậy và bảo rằng việc làm như vậy chẳng
khác gì thuật phù thuỷ. Nhưng sau đó Cha tha thứ cho bà ta về sự ngu dốt, Cha
nói thêm "như đọc trong cuốn sách hậu vận" (lời bà Khokhlakova viết
trong lá thư) và an ủi bà lão rằng "Vaxia con trai bà chắc chắn còn sống
và chẳng bao lâu nữa sẽ về hay sẽ gửi thư về, bà cứ về nhà chờ sẽ thấy. Thế rồi
thế nào? - Bà Khokhlakova hoan hỉ viết thêm, - lời tiên tri đã thành sự thực,
đúng phăm phắp, thậm chí còn hơn thế nữa". Bà lão vừa về đến nhà thì người
ta đưa ngay cho bà lá thư bà hằng mong đợi từ Sibir gửi về. Nhưng không phải chỉ
có vậy: trong lá thư ấy, viết ở dọc đường, từ Ekaterinburg, Vaxia báo tin cho mẹ
biết anh đang trên đường trở về Nga, cùng đi với một viên chức, ba tuần sau khi
mẹ nhận được thư này, anh ta "hy vọng được ôm hôn mẹ". Bà Khokhlakova
khẩn khoản yêu cầu Aliosa báo ngay cho Cha viện trưởng và toàn thể các giáo đồ
biết 'phép lạ tiên tri" ấy đã thành sự thật: "Tất cả mọi người phải
được biết điều đó!" - bà kết luận bức thư của mình bằng lời cảm thán như
thế.
Thư viết một cách vội vã, sự xúc động của người viết lộ rõ
trong mỗi dòng. Nhưng Aliosa chẳng cần gì phải báo tin, mọi người đã biết cả rồi:
khi nhờ một tu sĩ đi tìm Aliosa, Rakitin còn nhờ ông ta "kính cẩn trình với
Cha Paixi rằng y có việc muốn báo để Cha biết, nhưng việc đó quan trọng đến mức
y không dám trì hoãn lấy một phút, thành thử y khấu đầu cúi xin Cha miễn thứ
cho sự táo tợn của y", với vì theo yêu cầu của Rakitin, tu sĩ đã trình với
Cha Paixi trước rồi, nên sau khi Aliosa đọc thư anh chỉ còn đưa Cha để Cha giữ
làm tài liệu. Ngay cả một người nghiêm nghị và hoài nghi như Cha Paixi mà sau
khi cau mày đọc lá thư báo tin về "phép lạ", Cha cũng không thể hoàn
toàn nén được tình cảm của mình. Mắt Cha lóe lên, miệng mỉm cười nghiêm trang
thấm thía. "Chúng ta sẽ còn thấy nhiều điều nữa, chứ đâu phải chỉ có thế!"
Cha buột thốt lên.
- Chúng ta sẽ còn thấy nhiều điều nữa, sẽ còn thấy nhiều điều
nữa! - Các tu sĩ đứng xung quanh nhắc lại nhưng Cha Paixi lại cau mày, yêu cầu
tất cả mọi người tạm thời đừng nói cho ai biết "cho đến khi có bằng chứng
xác thực hơn, bởi vì trong đời có nhiều chuyện vu vơ lắm, vả chăng trường hợp
này cũng có thể chỉ là việc xảy ra một cách tự nhiên", - Cha nói thêm một
cách thận trọng, như để khỏi áy nãy, tuy Cha gần như không tin lời giáo đầu của
mình, người nghe cũng thấy rõ như vậy. Lúc ấy cả tu viện cũng như nhiêu người
thể tục đến dự lễ trọng cố nhiên cũng biết như vày. Người sửng sốt hơn cả về
phép lạ đã diễn ra có lẽ là thầy tu ở tu viện "Thánh Xilvexer", một
tu viện nhỏ trong tỉnh Obdorsk ở phương Bắc xa xôi. Ông đã đến chào trưởng lão
hôm qua, đứng cạnh bà Khokhlakova và trỏ vào cô con gái "đã được chữa khỏi
bệnh" của bà ta và hỏi trưởng lão bằng một giọng xúc động: "Sao ông
dám làm những việc như thế này?" bây giờ ông đã hơi băn khoăn và gần như
không biết nên tin cái gì. Chiều hôm qua ông ta đã đến thăm Cha Ferapont ở một
phòng tu biệt tích sau khu nuôi ong và ông sửng sốt vì cuộc gặp gỡ ấy nó để lại
cho ông ta một cảm tưởng kinh khủng. Ông già ấy, Cha Ferapont, là tu sĩ cao tuổi
nhất, một người thuộc giáo phái "kiêng nói", ăn uống vô cùng kham khổ
mà chúng tôi đã nói ở trên, ông ta là người chống đối trưởng lão Zoxima, cái
chính là chống đối chế độ trưởng lão mà ông ta coi là sự đổi mới có hại và
khinh suất. Đấy là một đối thủ cực kỳ nguy hiểm, mặc dù ông ta là người
"kiêng nói" và hầu như không nói năng gì với ai. Ông ta nguy hiểm chủ
yếu là vì rất nhiều giáo đồ hoàn toàn đồng tình với ông ta, rất nhiều người thế
tục tôn sùng ông ta là bậc công chính khổ tu vĩ đại, mặc dù chắc chắn họ coi
ông ta là điên gàn. Nhưng sự điên gàn cũng có sức cám dỗ. Cha Ferapont không
bao giờ đến trưởng lão Zoxima. Tuy ông ta ngụ trong tu xá nhưng ông ta không
bao giờ bận tâm đến nội quy của tu xá, bởi vì ông xử sự đúng như một người điên
gàn. Ông ta đã bảy mươi lăm tuổi, nếu không phải là hơn thể, ông ta ở một chỗ
phía sau khu nuôi ong, nơi góc tường, trong một càn nhà gò cũ kỹ đổ nát, cất từ
lâu lắm rồi, đâu từ thế kỷ trước, dành cho một thầy tu phái "giọng nói"
chịu ăn uống kham khổ cũng không ai bì kịp, đấy là Cha Ivan sống đến một trăm
linh năm tuổi và cho đến nay trong tu viện và các vùng lân cận, người ta vẫn đồn
đại những chuyện hết sức kỳ dị về công quả của Cha. Bảy năm trước, Cha Ferapont
rốt cuộc đã buộc người ta phải để ông ta đến ở căn nhà cô tịch nhất ấy, đó chỉ
là căn nhà nhỏ giống nhà nguyện vì có rất nhiều ảnh thánh với vô số đèn thờ
ngày đêm leo lét ở phía trước những thứ này do người đi lễ quyên cũng - và Cha
Fenpont dường như là người trông coi đèn nến. Nghe nới mà cũng đúng như thế thật,
Cha Ferapont chỉ ăn hai funt bánh mì trong ba ngày, không hơn. Cứ ba ngày một lần,
người nuôi ong ở đây đem số bánh mì ấy đến cho Cha, nhưng Cha Ferapont cũng ít
khi thốt lên lấy một lời ngay cả với người phục dịch ông như vậy.
Bốn funt bánh mì ấy cùng với bánh thánh ngày chủ nhật mà Cha viện trưởng gửi đều đặn đến cho ông sau buổi lễ muộn là toàn bộ thực phẩm ông dùng trong một tuần. Nước uống trong chiếc ca thì người ta thay cho ông hàng ngày. Ít khi ông dự các buổi lễ. Những người sùng mộ đến thăm có khi thấy ông quỳ gối cầu nguyện suốt ngày, chẳng hề đứng lên và không nhìn ngó xung quanh. Nếu có nói chuyện với họ dù ông nói gọn lỏn, nhát gừng kỳ lạ và bao giờ cũng thô lỗ. Nhưng rất ít khi ông nói chuyện với khách đến thăm. Phần lớn trường hợp ông chỉ thốt lên một tiếng kỳ dị bao giờ cũng hết sức bí ẩn đối với khách, rồi sau đó, bất kể người ta nài ai thế nào, ông cũng không giải thích gì hết. Ông không có chức sắc, chỉ là một tu sĩ mà thôi. Có tin đồn lạ lùng, thực ra giữa những người ngu tối nhất, rằng Cha Ferapont tiếp xúc với thần linh và chỉ đàm luận với thần linh, vì thế Cha không chuyện trò với người trần. Ông thầy tu ở Obdorsk lần mò đến chỗ đõ ong theo chỉ dẫn của người nuôi ong cũng là một thầy tu rất ít lời và cau có, rồi ông đến phòng tu của Cha Ferapont. "Có thể Cha sẽ nói với ông vì ông là khách mới đến, mà cũng có thể ông chẳng moi được lời nào ở Cha đâu". - Người nuôi ong đã báo trước cho ông biết. Lúc đến gần, như lời ông thầy tu thuật lại sau này, trong lòng ông hết sức sợ hãi. Bấy giờ là cuối chiều Cha Ferapont đang ngồi lên một chiếc ghế băng thấp bên cửa. Trên đầu Cha, cây du cổ thụ khổng lồ rì rào cành lá. Khí lạnh chiều hôm lùa tới. Thầy tu Obdorsk phủ phục trước vị thánh hài và xin ban phước.
Bốn funt bánh mì ấy cùng với bánh thánh ngày chủ nhật mà Cha viện trưởng gửi đều đặn đến cho ông sau buổi lễ muộn là toàn bộ thực phẩm ông dùng trong một tuần. Nước uống trong chiếc ca thì người ta thay cho ông hàng ngày. Ít khi ông dự các buổi lễ. Những người sùng mộ đến thăm có khi thấy ông quỳ gối cầu nguyện suốt ngày, chẳng hề đứng lên và không nhìn ngó xung quanh. Nếu có nói chuyện với họ dù ông nói gọn lỏn, nhát gừng kỳ lạ và bao giờ cũng thô lỗ. Nhưng rất ít khi ông nói chuyện với khách đến thăm. Phần lớn trường hợp ông chỉ thốt lên một tiếng kỳ dị bao giờ cũng hết sức bí ẩn đối với khách, rồi sau đó, bất kể người ta nài ai thế nào, ông cũng không giải thích gì hết. Ông không có chức sắc, chỉ là một tu sĩ mà thôi. Có tin đồn lạ lùng, thực ra giữa những người ngu tối nhất, rằng Cha Ferapont tiếp xúc với thần linh và chỉ đàm luận với thần linh, vì thế Cha không chuyện trò với người trần. Ông thầy tu ở Obdorsk lần mò đến chỗ đõ ong theo chỉ dẫn của người nuôi ong cũng là một thầy tu rất ít lời và cau có, rồi ông đến phòng tu của Cha Ferapont. "Có thể Cha sẽ nói với ông vì ông là khách mới đến, mà cũng có thể ông chẳng moi được lời nào ở Cha đâu". - Người nuôi ong đã báo trước cho ông biết. Lúc đến gần, như lời ông thầy tu thuật lại sau này, trong lòng ông hết sức sợ hãi. Bấy giờ là cuối chiều Cha Ferapont đang ngồi lên một chiếc ghế băng thấp bên cửa. Trên đầu Cha, cây du cổ thụ khổng lồ rì rào cành lá. Khí lạnh chiều hôm lùa tới. Thầy tu Obdorsk phủ phục trước vị thánh hài và xin ban phước.
- Ông muốn tôi phủ phục trước ông sao, thầy tu kia? - Cha
Ferapont thốt lên. - Đứng dậy đi!
Thầy tu đứng dậy.
- Hỡi người ban phước và nhận phước, ngồi xuống đây! Thầy từ
đâu tới?
Điều làm cho ông thầy tu tội nghiệp kia ngạc nhiên nhất là
Cha Ferapont, mặc dù hiển nhiên là ăn uống cực kỳ kham khổ và tuổi đã rất cao,
nhưng nom vẫn quắc thước, thân hình cao lớn, không còng chút nào, mặt tươi tỉnh,
tuy gầy nhưng khóe mạnh. Chắc chắn là vẫn sung sức lắm. Vóc dáng như lực sĩ. Mặc
dù tuổi cao như thế, râu tóc chưa bạc hẳn, dày rậm, vẫn còn đen. Mắt màu xám,
to, ngời sáng, nhưng, lồi hẳn ra, thậm chí khiến người ta ngạc nhiên. Khi nói
thì nhấn mạnh âm "ô". Cha mặc chiếc áo armiac(1) bằng dạ thô của
tù (loại dạ này trước kia có tên gọi như thế), một sợi thừng to thay dây lưng.
Cổ và ngực lộ trần ra. Dưới tấm áo armiac là chiếc sơ mi bằng vải thô
cực dày, gần như đen nhẻm, hàng tháng không thay. Nghe nói Cha mang trên mình,
dưới tấm áo armiac những vật nặng tới ba mươi funt. Chân không bít tất
đi đôi giày cũ nát bươm.
- Tôi ở một nhà tu nhỏ "Thánh Xilvextr" tỉnh
Obdorsk 'tới đây. - Thầy tu mới tới nói bằng giọng khiêm nhường, cặp mát tò mò,
nhưng hơi sợ hãi liếc nhanh nhìn nhà ẩn tu.
- Tôi đã đến nhà tu Xilvexer của ông. Tôi đã từng ở đấy.
Xilvexer có khỏe mạnh không?
Thầy tu ngập ngừng.
- Các người ngớ ngẩn quá! Các người ăn kham như thế nào?
- Cứ theo lệ có quy định cho người khổ tu: trong tuần chay,
thứ hai, thứ tư và thứ sáu nhịn ăn hẳn. Thứ ba, thứ năm thì các giáo đồ dùng
bánh mì trắng, nước quả với mật ong, quả ngấy móc hay bắp cải muối trộn bột yến
mạch. Thứ bảy thì canh bắp cải, miến đậu hột, cháo bột nấu bằng nước quả, món
nào cũng trộn dầu cây. Chủ nhật, thêm vào canh bắp cải còn cá khô và cháo Tuần
lễ thánh, từ thứ hai cho đến chiều thứ bảy, sáu ngày chỉ có bánh mì với muối,
và rau thì ăn sống, lượng thức ăn cũng hạn chế thôi: không phải ngày nào cũng
được ăn, mà đúng theo lệ luật về tuần đau tiên. Ngày thứ sáu trước lễ Phục sinh
không ăn gì, ngày thứ bảy cũng nhịn cho đến ba giờ, sau đó ăn ít bánh mì với nước
và mỗi người uống một chén rượu nho. Ngày thứ năm trước lễ Phục sinh thì chúng
tôi ăn món ăn nấu chín không có bơ, uống rượu nho và dùng món ăn khô, bởi vì
Giáo nghị hội ở Laodixe(2) cũng đã nói rõ như sau về ngày thứ năm trước lễ Phục
sinh: "Không được bỏ nhịn ăn ngày thứ năm tuần cuối cùng mà làm hỏng cả tuần
ăn chay". Ở chỗ chúng tôi tình hình là như thế. Nhưng có thấm thía gì so với
Cha, thưa đức Cha vĩ đại, đã mạnh dạn lên, thầy tu nói thêm, - bởi vì suốt cả
năm, ngay cả ngày lễ Phục sinh, Cha chỉ dùng bánh mì với nước lã, mà bánh mì
chúng tôi ăn trong hai ngày thì Cha dùng đủ cả tuần. Sự ăn kham ghê gớm như thế
của Cha thật là kỳ diệu.
- Thế còn nấm mồ trắng? - Cha Ferapont hỏi một cách đột ngột.
- Nấm mồ trắng ư? - Thầy tu ngạc nhiên hỏi lại.
- Chính thế. Tôi có thể bỏ hẳn bánh mì của họ, hoàn toàn
không cần đến nó, khi ấy tôi sẽ vào rừng, sống bằng nấm mồ trắng hay trái cây,
còn bọn họ ở đây không thể bỏ bánh mì được, vì vậy họ bị ràng buộc với quỷ. Hiện
giờ vẫn có những kẻ tà đạo nói rằng chẳng cần gì phải ăn chay kham khổ như thế.
Lời bàn của họ thật kiêu dũng và nhơ nhớp.
- Ôi đúng thế ạ. - Thầy tu thở dài.
- Thế ông đã thấy quỷ ở nhà bọn họ chưa? - Cha Ferapont hỏi.
- Ở nhà ai kia?
- Năm ngoái tôi đến nhà Cha viện trưởng vào dịp lễ Thánh linh
từ đấy tôi không đến nữa. Tôi thấy ở một người thì quỷ ngồi trên ngực, nấp dưới
tấm áo thụng, chỉ thò sừng ra, ở một người khác thì con quỷ từ trong túi nhìn
ra, mắt láo liên, nó sợ tôi; một người khác thì quỷ náu ngay trong bụng, chỗ ô
uế nhất; còn một người nữa thì quỷ bám lủng liệng ở cổ mà anh ta, không nhìn thấy
nó.
- Cha… Cha nhìn thấy ư? - Thầy tu hỏi.
- Tôi nói là tôi nhìn thấy, nhìn thấu suốt. Lúc rời khỏi nhà
Cha viện trưởng, tôi thấy một con quỷ nấp sau cửa trốn tôi, mà nó to ghê gớm,
cao khoảng một arsin rưỡi hay hơn nữa, cái đuôi kếch sù, mầu nâu, dài, đầu đuôi
lọt vào khe cửa, tôi đâu có ngu đần gì tôi sập cửa kẹp lấy đuôi nó. Nó rú rít,
lồng lộn, tôi làm dấu thánh ếm nó, làm dấu ba lần. Thế là nó chết ngỏm như con
nhện bị giẫm bẹp. Bây giờ hẳn là nó rữa nát ra trong góc nhà, thối inh lên, vậy
mà họ không nhìn thấy, không ngửi thấy. Một năm nay tôi không đến đấy. Vì ông
là người xứ lạ đến, tôi mới tiết lộ cho biết đấy.
- Lời Cha nói đến ghê rợn! Nhưng thưa Cha cao cả - thầy tu mỗi
lúc một mạnh bạo hơn, - thiên hạ đồn dậy lên, thậm chí cả ở những vùng xa xôi,
rằng Cha luôn luôn giao tiếp với Thánh linh phải không ạ?
- Đôi khi Thánh linh xuống đây.
- Xuống đây là thế nào ạ? Dưới hình dạng nào?
- Một con chim.
- Dưới dạng con chim bồ câu ư?
- Đấy là ông nói Thánh linh, còn đây là Đức Thánh thần. Đức
Thánh thần thì khác. Ngài có thể biến thành thứ chim khác: khi thì là chim én,
khi thì là chim hoàng anh, khi thì là chim sơn tước.
- Làm thế nào Cha nhận ra Đức Thánh thần ở con chim sơn tước?
- Ngài nói.
- Nói bằng tiếng gì?
- Tiếng người.
- Thế ngài nói gì với Cha?
- Hôm nay Ngài báo cho biết sẽ có một thằng ngu đến hỏi những
điều nhăng nhít. Này thầy ạ, thầy muốn biết nhiều quá đấy.
- Lời Cha nói thật khủng khiếp, thưa Đức Cha cực ơn phúc và
thánh thiện. - Thầy tu lắc đầu nói. Trong đôi mắt hoảng hốt của ông ta cũng lộ
rõ cả vẻ ngờ vực nữa.
- Thấy có thấy cái cây kia không? - Cha Ferapont hỏi, sau một
lúc im lặng.
- Ồ có thưa Đức Cha cực ơn phúc.
Đối với thầy thì đó là cây du, nhưng đối với tôi thì là hình ảnh
khác Hình ảnh gì kia ạ? - Thầy tu im lặng, chờ đợi.
- Đôi khi vào ban đêm. Thầy có thấy hai cái cành kia không?
Ban đêm đấy là hai cánh tay Chúa Kito giơ về phía tôi và tìm kiếm tôi. Tôi thấy
rõ rành rành và run lên. Ghê sợ. Ôi ghê sợ!
- Có gì đáng sợ nếu như đấy chính là Chúa Kito?
- Chúa sẽ bắt tôi đem đi.
- Ngay lúc còn sống ư?
- Thầy không nghe nói gì về linh hồn và sự vinh hiển của đấng
tiên tri Ilya à? Chúa sẽ ôm lấy và đem đi…
Tuy sau cuộc nói chuyện đó, thầy tu ở Obdorsk trở về căn phòng
dành riêng cho ông ta mà trong lòng khá băn khoăn, nhưng trái tim ông ta chắc
chắn ngả về Cha Ferapon hơn là Cha Zoxima: Thầy tu Obdorsk trước hết quý trọng
việc ân chay, cho nên không lấy gì làm lạ rằng người ăn chay vĩ đại như Cha
Ferapont "thấy những điều kỳ diệu". Lời Cha nói cố nhiên có vẻ phi
lý, nhưng Chúa Trời biết những lời đó có ý nghĩa gì, mà vì đấng Kito, những
thánh hài đó có những lời nói và hành động còn kỳ quặc hơn. Ông sẵn lòng thật bụng
và thích thú tin chuyện con quỷ bị kẹp đuôi, chẳng những theo nghĩa bóng, mà
còn theo cả nghĩa đen. Hơn nữa, trước khi đến tu viện, ông đã có thành kiến với
thể chế trưởng lão mà cho đến giờ ông mới chỉ nghe kể và cũng như nhiều người
khác, ông dứt khoát coi là sự đổi mới có hại. Sau một ngày ở tu viện, ông đã kịp
nhận thấy một số giáo đồ xốc nổi, không ưng thể chế trưởng lão, kín đáo bàn tán
với nhau. Vả chăng, bản lĩnh ông là một người hay dò xét và nhanh nhạy, chuyện
gì cũng tò mò muốn biết. Bởi thế, nghe tin vẻ "phép lạ" mới của trưởng
lão Zoxima, ông hết sức băn khoăn.
Sau này Aliosa nhớ lại rằng trong số các tu sĩ xúm xít gần
trưởng lão và quanh phòng trưởng lão, nhiều lần anh thấy bóng dáng ông khách tò
mò ấy lăng xăng, khắp nơi, đến tất cả những chỗ túm năm tụm ba; lắng nghe tất cả,
dò hỏi mọi người. Nhưng lúc đó anh ít để ý đến ông ta và mãi sau này mới nhớ lại
mọi chuyện… Vả chăng anh cũng chẳng bụng dạ đâu nghĩ đến chuyện ấy: trưởng lão
Zoxima lại bị mệt và đã lên giường nằm bỗng mở mắt, nhớ đến anh và cho gọi anh,
Aliosa lật đật đến ngay. Bên trong lão lúc ấy chỉ có Cha Paixi, Cha Ioxifvà anh
tập tu Porfin. Trưởng lão chăm chú nhìn Aliosa với cắp mắt mệt mỏi và đột nhiên
hỏi anh:
- Người ta đang đợi con phải không?
Aliosa ngập ngừng.
- Họ cần con phải không? Hôm qua con có hứa với ai là hôm nay
sẽ đến phải không?
- Con hứa… với ba con… các anh con… những người khác nữa…
- Con thấy đấy. Nhất định con phải đến. Đừng buồn. Con nên biết.
Cha sẽ chưa chết nếu chưa nói với con lời cuối cùng của Cha trên trái đất này.
Cha sẽ nói với con lời đó, con ạ. Cha sẽ nói với con lời giăng dối. Cha sẽ nói
với con, con yêu quý ạ, vì con yêu Cha. Còn bây giờ thì hãy đến với những người
mà con đã hứa sẽ đến.
Aliosa tuân lời ngay, tuy anh đau lòng rời khỏi nơi đây.
Nhưng anh vui sướng đến bằng hoàng vì Cha hứa sẽ nói với anh lời cuối cùng của
Cha trên cõi đời, cái chính là coi như di tàng lại điều đó cho anh. Anh vội vã
để kịp làm xong mọi việc ở thành phố và mau mau trở về. Vừa đúng lúc ấy Cha
Paixi nói với anh mấy lời dặn dò gây cho anh một ấn tượng hết sức mạnh mẽ và bất
ngờ. Ấy là lúc hai người ra khỏi phòng trưởng lão.
Cha Paixi nói luôn, không mào đầu gì hết.
- Anh bạn trẻ ạ, hãy luôn luôn nhớ rằng khoa học của thế
gian, sau khi trở thành một lực lượng vĩ đại, đã đem mổ xẻ, đặc biệt trong thế
kỷ gần đây, tất cả những gì được lưu lại cho chúng ta trong các sách thánh, và
sau cuộc phân tích tàn bạo của các nhà bác học trên thế gian này thì tất cả những
gì thiêng liêng trước kia không còn lại chi nữa hết. Nhưng họ gỡ tung ra từng
phần mà không nhìn thấy toàn bộ, thậm chí thật đáng ngạc nhiên về sự mù quáng đến
như thế. Thế mà cái toàn vẹn vẫn sừng sững trước mặt họ như trước, không gì lay
chuyển nổi, và cổng địa ngục không thắng nổi nó. Chẳng phải nó đã từng sống qua
mười chín thế kỷ đó sao, chẳng phải bây giờ nó vẫn sống trong sự vận động linh
hồn của từng cá nhân và trong sự vận động của quan chúng nhân dân sao? Nó vẫn sống
ngay cả trong sự vận động linh hồn của chính những người vô thần đã phá huỷ tất
cả, nó vẫn sống như trước kia, không gì lay chuyển nổi! Bởi vì ngay cả những
người chối bỏ đạo Kito và chống đạo thực ra bản thân họ vẫn cứ theo hình ảnh của
Chúa, họ vẫn cứ là những người như thế, bởi vì cho đến giờ, sự tinh khôn cũng
như nhiệt tâm của họ không tạo nên được cho con người và phẩm giá con người một
hình ảnh nào khác cao cả hơn hình ảnh mà Chúa Kito đã vạch ra tự xưa. Mọi mưu
toan thử nghiệm đều chỉ dẫn đến những cái quái gở. Con hãy nhớ kỹ điều đó, bởi
vì vị trưởng lão sắp tạ thế của con sai con hoàn tục. Có thể khi nhớ tới ngày
trọng đại này, con sẽ không quên cả những lời dặn dò chân tình của ta, bởi vì
con còn non trẻ, mà những cám dỗ trong đời thật là ghê gớm và con chưa đủ sức
chịu đựng đâu. Thôi đi đi, hỡi đứa con côi cút.
Nói đoạn. Cha Paixi ban phước cho Aliosa. Khi đã rời khỏi tu
viện và ngẫm kỹ tất cả những lời bất ngờ ấy. Aliosa chợt hiểu rằng ông thầy tu
nghiêm nghị và mới nay vẫn khe khắt với anh bây giờ đột nhiên trở thành người bạn
mới của anh và là người hướng đạo mới yêu mến anh nồng nhiệt: hình như trưởng
lão biết mình sắp mất đã gửi gắm lại anh cho Cha Paixi, "Có lẽ đúng như thế
thật - Aliosa chợt nghĩ. Lời chuyển giáng bất ngờ và thâm thuý mà anh vừa được
nghe, chính cái đó chứ không phải cái gì khác, chứng tỏ tấm lòng nồng nhiệt của
Cha Paixi: Cha vội vã vũ trang càng sớm càng hay cho cái đầu óc non trẻ đấu
tranh với sự cám dỗ và dựng nên bức thành kiên cố nhất mà Cha có thể hình dung
ra được để bảo vệ cái tâm hồn non trẻ được trao lại cho Cha,
Chú thích:
(1) Một loại áo ngoài vạt dài của nông dân thời trước (N.D)
(2) Ở Laodixe, một thành phố Tiểu Á (năm 300 hay 370) có cuộc
Hội nghị Giáo hội đã đề ra những quy tắc khuôn phép của Giáo hội
Chương 2
Trước hết Aliosa đến nhà bố, đến gần nhà, anh nhớ ra rằng hôm
trước bố khẩn khoản dặn anh vào nhà sao cho thật kín đáo, chớ để anh Ivan biết:
"Tại sao thế nhỉ? - Bây giờ Aliosa chợt nghĩ, nếu chỉ là ba muốn nói riêng
với mình điều gì kín đáo thì việc gì mình phải lén lút vào không để ai biết nhỉ?
Đúng là hôm qua ông muốn nói điều gì khác mà không kịp nói. - anh quyết định.
Tuy vậy khi Marfa Ignatievna ra mở cửa vườn cho anh (Grigori ốm
nằm nhà dưới) và trả lời anh rằng Ivan Fedorovich đã đi cách đây hai giờ thì
anh rất hài lòng.
- Còn ông nhà?
- Ông đã dậy rồi, đang uống cà phê. - Marfa Ignatievna trả lời
hơi lạnh nhạt.
Aliosa thấy ông già ngồi một mình bên bàn, chân đi giầy
păngtup, mặc chiếc áo bành tô ngắn cũ kỹ và đang xem sổ sách gì đó để giải
khuây, nhưng cũng không chăm chú lắm. Ông ta chỉ có một mình trong nhà
(Xmerdiakov đi mua thực phẩm cho bữa trưa). Sổ sách không lôi cuốn ông.
Tuy buổi sáng ông trở dậy sớm và cảm thấy sáng khoái, nhưng
nom ông vẫn mệt mỏi và suy yếu. Trán ông buộc tấm khăn đỏ để che đi những vết bầm
tím đã sưng vù lên qua một đêm. Sau một đêm mũi cũng sưng tướng lên, trên mũi
cũng nổi rõ mấy vết bầm tuy không quan trọng lắm, nhưng làm cho khuôn mặt ông
có một vẻ dữ tợn và cáu kỉnh đặc biệt. Ông già tự biết như vậy và hằm hằm nhìn
Aliosa vừa vào.
- Cà phê nguội rồi, - ông ta nói như quát bằng giọng gay gắt,
ta sẽ không mời con đâu. Hôm nay ta chỉ ăn cháo cá chay thôi, không mời ai cả.
Con đến có việc gì vậy?
- Thăm sức khoẻ của ba. - Aliosa nói.
- Ờ! Mà hôm qua chính ta bảo con đến. Nhảm nhí hết. Con lo lắng
vô ích. Nhưng ta vẫn biết rằng thế nào con cũng đến…
Ông nói câu đó bằng một giọng thể hiện tâm trạng hết sức hằn
học. Đồng thời ông đứng lên và lo lắng soi gương (có lẽ là lần thứ bốn mươi từ
sáng đến giờ) xem cái môi của mình. Ông cũng sửa lại tấm khăn đó trên trán cho
đẹp đẽ hơn.
- Màu đỏ hơn, màu trắng thì nom như ở bệnh viện. - ông ta nói
với vẻ trịnh trọng. - Tình hình ở đấy thế nào? Trưởng lão của con ra sao?
- Cha yếu lắm rồi, có lẽ nội trong ngày hôm nay thôi. -
Aliosa đáp nhưng ông bố đã không nghe rõ, mà ông ta cũng đã quên ngay câu hỏi của
mình.
- Ivan đi rồi. - ông bỗng nói. - Nó vẫn tìm mọi cách phỗng lấy
vợ chưa cưới của Mitia, nó ở đây là vì thế. - ông ta nói thêm một cách dữ tợn
và nhếch miệng nhìn Aliosa.
- Chính anh ấy nói với ba như thế ư? - Aliosa hỏi.
- Phải, mà nó nói từ lâu rồi. Cách đây chừng ba tuần. Có phải
nó về đây để bí mật cắt cổ tao phải không? Nó phải có mục đích gì chứ?
- Kìa ba! Sao ba lại nói thế? - Aliosa hết sức bối rối.
- Nó không xin tiền, quả có thế, vả lại nó cũng không hòng ta
cho gì, Alecxei Fedorovich yêu quý nhất đời của ta ơi, ta có ý định sống trên đời
thật lâu, con nên biết như vậy, vì thế ta cần từng kopek, mà ta sống càng lâu
thì càng cần tiền. - ông ta vừa nói vừa đi lại từ góc phòng bên này sang góc
phòng bên kia, hai tay thọc trong túi chiếc bành tô rộng lem luốc bằng vải lanh
mỏng màu vàng. - Giờ đây ta vẫn còn là một gã đàn ông sung sức, ta mới có năm
mươi nhăm, nhưng ta muốn về phương diện đàn ông ta vẫn cứ sung sức như thế hai
mươi năm nữa, vì nếu ta già đi thì đàn bà sẽ coi ta là đồ bỏ đi, sẽ không tự
nguyện đến với ta nữa, chính vì thế ta lại càng cần tiền, bởi thế bây giờ ta vẫn
tích cóp sao cho thật nhiều, cho một mình ta thôi. Alecxei Fedorovich con trai
yêu quý của ta ạ, con nên biết điều đó, vì ta muốn sống phóng đãng cho đến chót
đời, con nên biết như thế. Sống phóng đãng thật là khoái: ai cũng chửi nó,
nhưng tất cả đều sống như thế, có điều họ làm lén lút, còn ta thì công nhiên.
Vì ta bộc trực như thế nên bọn phóng đáng sinh sự với ta. Ta không muốn lên cái
thiên đường của con đâu, Alecxei Fedorovich ạ, con nên biết như thế, với lại người
tử tế mà vào cái thiên đường của con thì cũng khiếm nhã kia, cho dù là có thiên
đường thật đi nữa. Theo ý ta, ta sẽ ngủ một giấc không bao giờ dậy nữa, chứ thế
thôi còn các người hãy cầu nguyện cho ta, nếu muốn, còn nếu không thì quỷ xé
xác các người đi. Triết lý của ta là như thế. Hòm qua ở đây Ivan đã nói rất
hay, tuy cả ta lẫn nó đều say. Ivan là thằng khoác lác, mà nó chẳng uyên bác gì
đâu… cũng chẳng có học vấn đặc biệt gì hết, nó cứ lặng thinh và cười nhạo người
khác chỉ bằng cách ấy mà kiếm lợi.
Aliosa nghe và lặng im.
- Tại sao nó không nói chuyện với ta? Mà hễ nói là làm điệu
làm bộ, thằng Ivan của con là thằng xỏ lá! Ta sẽ lấy Grusenka ngay bảy giờ nếu
ta muốn. Bởi vì hễ có tiền thì muốn là được.
Alexei Fedorovich ạ. Thằng Ivan sợ nhất cái đó, nó canh chừng
ta để ta đừng lấy vợ, đồng thời nó xúi giục thằng Mitia lấy con Grusenka: như
thế là nó muốn ngăn cách ta với Grusenka (làm như ta sẽ để lại tiền cho nó nếu
ta không lấy Grusenka!), mặt khác nếu thằng Mitia lấy Grusenka thì Ivan sẽ liếm
được cô vợ chưa cưới giàu có, nó tính toán như vậy đấy! Thằng anh Ivan của con
là tháng xỏ lá ba que!
- Ba cáu kỉnh quá đấy. Chỉ tại sự việc xảy ra hôm qua thôi:
ba nên nằm nghỉ đi. - Aliosa nói.
- Con nói thế mà ba có giận con đâu, - ông già bỗng đưa ra nhận
xét, như thế lần đầu tiên chợt nảy ra ý nghĩ này, - còn nếu Ivan cũng nói đúng
như thế thì ta lại giận điên lên. Chỉ có với con thì ta mới có những phút giây
yên lành, còn thì ta là kẻ độc ác.
- Ba không phải là người độc ác, mà chỉ là bị méo mó đi thôi.
- Aliosa mỉm cười.
- Con này, hôm nay ta định cho thằng tướng cướp Mitia vào tù
nhưng bây giờ ta chưa biết nên quyết định thế nào. Cố nhiên thời buổi bây giờ
có cái mốt coi việc con kính cha mẹ là một thành kiến, nhưng theo luật lệ thì
dù là thời buổi nào cũng không có phép đâu nắm tóc bố mà lôi, lại còn dùng gót
giày đạp vào mặt bố ngã nằm trên sàn, hơn nữa lại ngay trong nhà của bố, lại
còn huênh hoang rằng sẽ đến giết bố chết hẳn; tất cả những việc đó đều có người
làm chứng. Nếu ta muốn, ta có thể triệt nó, tống cổ nó vào tù về chuyện xảy ra
hôm qua.
- Ba không định thưa kiện chứ ạ?
- Ivan can ngăn ta. Ta có thể không thèm đếm xỉa gì đến Ivan,
nhung có điều này…
Ông ta cúi xuống gần Aliosa, thì thầm nói một cách kín đáo.
- Nếu ta tống thằng đểu ấy vào tù, con kia biết nó bị tống
giam bởi tay ta thì sẽ đâm bổ đến với nó. Còn nếu hôm nay ả nghe nói nó đánh ta
gần chết, đánh đập tàn nhẫn một ông già yếu đuối thì có lẽ ả sẽ bỏ nó, và sẽ đến
thăm ta… ấy cái tính ả thế đấy bao giờ cũng làm trái lại. Ta thừa biết ả đi rồi!
Thế nào, con không uống cognac à? Uống cà phê nguội đi vậy, ta sẽ pha
thêm vào đó cho con một phần tư ly, tuyệt lắm, con ạ, ngon phải biết.
- Không, không cần, cảm ơn ba. Con xin cái bánh mì này đem về,
nếu ba cho phép. - Aliosa nói và cầm lấy cái bánh mì trắng ba kopek cho vào túi
áo thụng. - Mà ba cũng đừng uống cognac nữa thì hơn. - Anh nhìn chằm
chằm vào mặt ông già, nói một cách e dè.
- Con nói đúng, nó chỉ kích thích thần kinh, không để cho ta
được thanh thản. Nhưng chỉ một ly thôi… Ta lấy trong tủ này…
Ông ta lấy chìa khoá mở tủ buypphê, rót một ly uống, rồi khoá
tủ và lại cất chìa khoá vào túi.
- Thôi đủ rồi, một ly cũng chẳng chết ai.
- Bây giờ ba hiền từ hơn rồi. - Aliosa mỉm cười.
- Hừm! Chẳng cần có cognac ta cũng vẫn yêu con, còn
với những thằng đểu thì ta cũng là thằng đểu. Thằng Vanka không đi Trermasma, tại
sao? Nó cần do thám ta: nếu Grusenka đến thì ta có cho ả nhiều tiền không? Toàn
là quân đểu giả. Thằng Ivan thì ta từ hắn đấy. Do đâu nảy nòi ra một thằng như
thế nhi? Tâm hồn nó khác hẳn chúng ta. Nó tưởng ta sẽ để lại cái gì cho nó chắc?
Ta sẽ không để lại chúc thư đâu, chúng mày nên biết như vậy. Còn thằng Mitia
thì ta giẫm bẹp như giẫm con gián. Ban đêm ta dùng dép giẫm chết bốn con gián
đen: bép! Thằng Mitia của con cũng sẽ nổ bép như thế. Ta nói là Mitia của con
vì con yêu nó. Con yêu nó, nhưng con yêu nó thì ta không sợ.
Nhưng nếu Ivan yêu nó thì ta sợ cho bản thân ta. Nhưng Ivan
chẳng yêu ai. Ivan không phải là dòng giống chúng ta, những kẻ như Ivan không
phải là dòng giống nhà ta, con ạ, đấy là bụi bốc lên… Gió thổi là bụi tan… Hôm
qua ta đã nảy ra một ý nghĩ ngu ngốc bảo con về đây: ta muốn qua con dò biết về
Mitia, liệu nếu ta cho nó một ngàn đống, hay hai ngàn thì cái thằng kiết xác khốn
kiếp ấy có chịu cuốn xéo khỏi nơi này độ năm năm, tốt hơn là ba mươi nhăm năm,
mà không dính dấp gì đến con Grusenka, bỏ hẳn nó không?
- Con… con sẽ hỏi anh ấy… - Aliosa nói lí nhí. - Nếu ba ngàn
đồng thì có lẽ anh ấy…
- Nói nhảm! Thôi, không cần hỏi, không cần hỏi gì hết! Ta
nghĩ lại rồi. Ấy là vì hôm qua ta bỗng đâm quẫn thế thôi. Ta sẽ không cho gì hết,
không một tí gì hết, tiền của ta cần cho chính bản thân ta. - ông già vung tay.
- Chẳng cần thế ta cũng sẽ giẫm bẹp nó như giẫm con gián. Đừng nói gì với nó cả
không thì nó sẽ còn hy vọng. Bây giờ con chẳng còn việc gì làm ở đây, đi đi. Thế
còn Ekaterina Ivanovna, con vợ chưa cưới của nó mà nó vẫn luôn luôn giấu kỹ
không cho ta thấy mặt, liệu con ấy có lấy nó không? Hôm qua hình như con đến
nhà cô ta phải không?
- Chị ấy một mực không bỏ anh Mitia.
Nhưng tiểu thư dịu hiền ấy lại càng yêu những kẻ trác táng và
đê tiện như thế. Họ là thứ đồ bỏ đi, những cô nương xanh xao ấy ta nói với con
thế đấy; thế nhưng mà… Hừ! Giá ta trẻ như nó và mặt mũi ta như hồi ấy (năm hai
mươi tám tuổi ta đẹp trai hơn nó kia) thì hẳn là ta cũng sẽ thắng cuộc như nó.
Nó là thằng súc sinh. Dù thế nào nó cũng không chiếm được Grusenka đâu, không
chiếm được đâu… Ta sẽ ngltiền nó thành bụi đất
Ông ta lại nổi điên lên khi nói mấy lời cuối cùng.
- Thôi, con cưng đi đi, hôm nay con không có việc gì ở đây hết!
- ông ta nói gay gắt.
Aliosa đến để từ biệt, hôn vào vai ông già.
- Con làm cái gì thế? - ông già hơi ngạc nhiên. - Cha con ta
sẽ còn gặp nhau nữa kia mà. Hay con nghĩ rằng ta sẽ không gặp lại nhau nữa?
- Mà ba cũng chẳng nghĩ gì đâu, ba nói thế thôi… - ông già
nhìn Aliosa. - Này con, này con. Ông ta hét với theo, - lúc nào đến đây nhé,
chong chóng lên, đến ăn cháo cá, ta sẽ nấu món cháo cá đặc biệt không phải như
cháo cá hôm nay đâu, đến nhé! Ngày mai, nghe không, ngày mai đến nhé!
Aliosa vừa ra khỏi cửa, ông ta lại đến chỗ tủ, làm nửa ly nữa.
- Thôi đủ rồi! - ông ta khà một tiếng, lầu bầu, khóa tủ lại,
cho chìa khóa vào nói, rồi vào buồng ngủ, nằm ườn lên giường và ngủ liền.
Chương 3
Bắt quen với bọn học trò
- Ơn Chúa, ông già không hỏi mình về Grusenka. - Aliosa nghĩ
sau khi ra khỏi nhà bố và đi đến nhà bà Khokhlakova. - không thì có lẽ sẽ phải
kể lại cuộc gặp gỡ liên quan tới Grusenka". Aliosa đau lòng cảm thấy rằng
qua một đêm, các địch thủ đã lấy lại được sức và bây giờ trái tìm họ lại rắn
như đá: "Ba tức giận và hung tợn, ba đã nghĩ ra một cách gì và nhất quyết
như thế; còn anh Dmitri? Qua một đêm anh ấy cũng đã vững tâm thêm, hẳn là anh ấy
cũng tức giận và hung tợn, và tất nhiên cũng đã nghĩ ra điều gì… Ôi, hôm nay dù
thế nào ta cũng phải tìm bằng được anh ấy…
Nhưng Aliosa chẳng có thời giờ nghĩ ngợi lâu: dọc đường đã xảy
ra một việc bất ngờ. xem ra chẳng quan trọng gì lắm, nhưng khiến anh rất đỗi
kinh ngạc: Anh vừa vượt qua quảng trrờng, rẽ vào một ngõ hẻm để ra phố Thánh
Mikhail song song với Phố Lớn, cách Phố Lớn chỉ một con kênh (thành phố chúng
tôi chằng chịt những con kênh chạy xuyên suốt) thì bỗng nhìn thấy ở phía dưới,
trước cây cầu con có một tốp mấy đứa học trò, toàn trẻ nhỏ từ chín đến mười hai
tuổi là cùng. Chúng tan học về nhà, túi sách học trò đeo bên vai hoặc cặp da có
quai đeo chéo qua vai, có đứa mặc áo vét, có đứa mặc măng tô, có mấy đứa còn đi
ủng cao xếp nếp, loại ủng mà bọn trẻ nhỏ có bố phong lưu và chiều con rất thích
trưng diện. Cả bọn hăm hở chuyện trò gì đó, chắc là bàn bạc với nhau. Aliosa
không bao giờ có thể dửng dưng khi gặp trẻ em, ở Moskva cũng vậy, và tuy anh
thích nhất trẻ lên ba hay xấp xỉ tuổi ấy, nhưng anh cũng thích bọn học trò mười,
mười một tuổi. Vì thế mặc dù lúc này anh hết sức lo lắng, anh bỗng muốn ghé đến
chỗ bọn trẻ và bắt chuyện với chúng. Đến nơi. anh chăm chú nhìn những gương mặt
nhỏ nhắn, hồng hào, tươi hơn hớn của chúng và chợt nhận ra rằng thằng bé nào
cũng cầm một hòn đá, có đứa hai hòn. Bên kia kênh, cách tốp này chừng ba chục
bước, còn một thằng bé nữa đứng bên hàng rào, bên sườn cũng đeo cặp, nó chừng độ
mười tuổi là cùng, có khi ít hơn, nom xanh xao, ốm yếu, mắt đen quắc lên. Nó
chăm chú và tò mò quan sát bọn sáu đứa học trò, rõ ràng là bạn học của nó, vừa
cùng nó tan học về, nhưng có lẽ giữa nó và bọn này có sự thù địch. Aliosa tới gần,
nói với một thằng bé tóc vàng loăn xoăn, mặt hồng hào, mặc áo vét đen, vừa nói
vừa ngắm nhìn nó:
- Hồi anh cũng đeo cắp đi học như các em thì anh đeo ở phía
bên trái, để dễ lấy bằng tay phải; còn em lại đeo ở bên phải thì lấy đồ dùng
không tiện.
Aliosa mở đầu bằng nhận xét thiết thực đó, không hề có ẩn ý
ranh mãnh gì, mà người lớn cũng không thể mở đầu câu chuyện bằng cách nào khác,
nếu muốn giành ngay được sự tin cậy của đứa trẻ, đặc biệt là một nhóm trẻ.
Chính là phải nhập cuộc một cách nghiêm chỉnh và thiết thực. phải đặt mình
ngang bằng với trẻ. Bản năng khiến Aliosa hiểu điều đó.
- Nhưng nó thuận tay trái mà. - Một thằng bé khác trảlời liền,
thằng này nom ngang tàng và khỏe mạnh, trạc mười một tuổi. Cả năm thằng còn lại
nhìn Aliosa chằm chằm.
- Nó ném đã cũng dùng tay trái đấy. - Thằng thứ ba nói. Giữa
lúc đó một hòn đá bay vào đám trẻ, sượt qua thằng bé thuận tay trái tuy được
ném đi một cách khéo léo và cương quyết. Thằng ở bên kia kênh đã ném hòn đá ấy.
- Cho nó một trận, ném bỏ mẹ nó đi Xmurov! - Cả bọn gào thét.
Nhưng Xmurov (đứa thuận tay trái) chằng cần để bọn kia khích nó trả đũa ngay,
ném hòn đá vào thằng đứng bên kia con kênh: nhưng ném trượt, hòn đá rơi xuống đất.
Thằng bé bên kia kênh lập tức lại ném vào tốp trẻ, lần này nhằm thẳng vào
Aliosa, viên đã trúng vào vai anh, khá đau. Túi thằng bên kia kênh trữ đầy đá.
Cách ba mươi bước cũng nhìn thấy hai túi áo mâng tô nó phồng lên.
- Nó ném anh đấy, cố ý nhằm vào anh đấy. Vì anh là anh em nhà
Karamazov mà, anh là Kamazov phải không? - bọn trẻ cười hô hố, reo lên. - Nào tất
cả cùng ném vào nó, hấp!
Sáu viên đã từ tốp trẻ ném ra nhất loạt văng đi. Một viên
trúng vào đầu thằng bé, nó ngã xuống, nhưng chồm dậy ngay và điên cuồng ném trả.
Hai bên bắt đầu ném nhau tơi bời, nhiều đứa trong bọn trẻ tàng trữ sẵn đá trong
túi.
- Sao lại thế! Không biết xấu hổ ư, các vị! Sáu đánh một, các
em giết chết nó mất. - Aliosa quát lên.
Anh nhảy ra đứng chắn những viên đá bay vun vút để che cho đứa
bé bên kia kênh. Hai hay ba đứa ngừng lại một phút.
- Chính nó gây sự trước! - Thằng bé mặc sơ mi đỏ hét lên bằng
giọng tức giận của trẻ con. - Nó là thằng đê tiện, vừa rồi ở trong lớp nó đã
rút dao nhíp đâm Kraxotkina cháy máu. Thằng Kraxotkina không muốn đánh nó,
nhưng chúng em phải cho nó một trận nhừ tử…
- Nhưng vì cớ gì kia chứ? Chắc là chính các em trêu chọc em ấy
chứ gì?
- Thì nó lại ném đã vào lưng anh đấy. Nó biết anh mà. - Bọn
trẻ la lên. - Bây giờ là nó ném anh, chứ không phải ném chúng em. Nào, tất cả lại
ra tay đi, đừng ném trượt đấy, Xmurov!
Lại bắt đầu ném nhau, lần này rất kịch liệt. Thằng bé bên kia
kênh bị trúng một viên vào ngực: nó thét lên, oà khóc và chạy lên dốc, lao về
phố Thánh Mikhail. Bọn trẻ reo ầm lên: "A-ha, sợ rồi, bỏ chạy, búi xơ mướp!".
Anh chưa biết thằng này đê hèn thế nào đâu, anh Karamazov ạ, giết nó còn là nhẹ.
- Thằng mặc áo vét nhắc lại, mắt nó nảy lửa nó là đứa nhiều tuổi nhất bọn.
- Thế nó làm sao? - Aliosa hỏi. - Nó mách lẻo ư?
Mấy đứa nhìn nhau, như thế mỉm cười giễu cợt.
- Anh đến phổ Thánh Mikhail à? - Vẫn thằng bé ấy nói. - Thế
thì anh hãy đuổi cho kịp nó… Đấy kìa, nó dừng lại, đang nhìn anh chờ đợi đấy.
- Nó nhìn anh, nó nhìn anh đấy! - Mấy đứa hùa theo.
- Anh cứ hỏi nó có thích búi xơ mướp kỳ lưng chừng: búi xơ mướp
tơi tả. Anh cứ hỏi như thế nhé.
Tiếng cười rộ lên. Aliosa nhìn chúng, chúng nhìn anh.
- Đừng đến chỗ nó, nó sẽ làm anh bị thương đấy. - Xmurov lớn
tiếng báo trước.
- Các em ơi, anh sẽ không hỏi em ấy về búi xơ mướp đâu, vì chắc
hẳn đấy là cách các em trêu tức em ấy, nhưng anh sẽ hỏi em ấy xem tại sao các
em căm ghét em ấy đến thế…
- Anh cứ hỏi đi, cứ hỏi đi. - bọn trẻ phá lên cười.
- Cẩn thận đấy, - bọn trẻ hét lên với theo, báo trước, - nó
không sợ anh đâu, nó sẽ bất ngờ đánh trộm… như với Kraxotkina.
Bọn trẻ đứng nguyên tại chỗ chờ anh. Đến nơi, Aliosa thấy trước
mặt mình một thằng bé không quá chín tuổi, khuôn mặt trái xoan gầy guộc xanh
xao, cặp mắt to sầm tối hằn học nhìn anh. Nó mặc chiếc măng tô cũ đã quá tàng,
trở nên quá cộc đối với nó. Tay áo cũn cỡn để thòi ra đôi tay trần. ống quần
bên phải vá một miếng lớn ở đầu gối, mũi giầy thúng một lỗ lớn. Ở chỗ ngón cái,
chỗ ấy rõ ràng bôi đậm mực. Cả hai túi áo măng tô của nó chứa đầy đá, phồng
lên, Aliosa dừng lại cách thằng bé hai bước, nhìn nó với vẻ dò hỏi. Nom mắt
Aliosa thằng bé đoán ra ngay rằng anh sẽ không đánh nó, nó lập tức trở nên can
đảm, thậm chí nói trước:
- Tôi có một mình, chúng nó sáu đứa. Một mình tôi chấp tuốt -
Nó bỗng nói, mắt long lên.
- Em bị trúng một hòn đá, chắc là đau lắm. - Aliosa hỏi.
- Nhưng tôi ném trúng đầu Xmurov! - Thằng bé kêu lên.
- Các em ấy bảo rằng em biết anh, vì sao em ném đá vào anh? -
Aliosa hỏi.
Thằng bé cau có nhìn anh.
- Anh không biết em. Em biết anh à? - Aliosa gặng hỏi.
- Đừng có rầy rà! - Thằng bé bỗng hét lên một cách tức giận,
nhưng nó vẫn đứng nguyên tại chỗ, như chờ đợi cái gì, mắt nó lại long lên sòng
sọc.
- Thôi được anh đi đây, nhưng anh không biết em và không trêu
chọc em. Các em kia bày cho anh cách trêu chọc em, nhưng anh không muốn làm thế,
tạm biệt nhé.
- Gã thầy tu "truổng cời!" - Thằng bé hét lên, nhìn
theo Aliosa bằng ánh mắt vẫn hằn học và khiêu khích như vậy, đồng thời nó thủ
thế vì cho rằng bây giờ nhất định Aliosa sẽ xông tới đánh nó, nhưng Aliosa quay
lại nhìn nó, rồi bỏ đi. Anh đi chưa được ba bước thì một hòn đá giáng rất đau
vào lưng anh: thằng bé đã ném vào anh hòn đá to nhất trong túi nó.
- Em ném sau lưng à? Vậy ra các em kia bảo em hay đánh lén à,
đúng à? - Aliosa quay người lại, nhưng lần này cậu bé lại ném đá vào anh, ném
thẳng vào mặt, nhưng Aliosa đã kịp che mặt, hòn đá trúng vào khuỷu tay.
- Em không biết xấu hổ ư? Anh làm gì em nào? - Anh kêu lên.
Chẳng nói chẳng rằng, với thái độ thách thức, nó chỉ chờ
Aliosa nhảy xổ vào nó. Thấy rằng ngay cả bày giờ Aliosa cũng không xông tới, nó
trở nên hung dữ như con thú con: nó nhảy chồm vào Aliosa, anh chưa kịp trở mình
thì thằng bé độc ác đã dùng cả hai tay chộp lấy tay trái anh, cúi đầu cắn ngập
răng vào ngón tay giữa của anh đến mười giây không buông. Aliosa đau quá thét
lên, gắng giằng tay ra. Rút cục cậu bé buông tha anh và nhảy lùi về chỗ trước
đây. Vết cắn ở sát móng, sâu đến tận xương, máu chảy ròng ròng. Aliosa lấy mùi
xoa bọc chặt lấy bàn tay bị thương. Mất gần một phút mới bọc xong. Suốt thời
gian đó, cậu bé vẫn đứng đợi. Cuối cùng Aliosa ngước mắt hiền từ nhìn nó.
- Thôi được, - anh nói, - em thấy em cắn anh đau như thế nào
rồi đấy, đủ rồi chứ? Bày giờ thì nói đi, anh đã làm gì em nào?
Thằng bé ngạc nhiên nhìn anh.
- Tuy anh hoàn toàn không biết em và đây là lần đầu tiên gặp
em. - Aliosa nói tiếp, vẫn bình tĩnh như trước, - nhưng không thể nào tự dưng
vô cớ em lại gây đau đớn cho anh. Vậy anh đã làm gì em, anh có lỗi gì với em,
nói đi.
Thay cho câu trả lời thằng bé bỗng oà khóc, khóc gào lên, và
bỏ chạy. Aliosa thong thả đi theo nó về phố Thánh Mikhail, anh còn nhìn thấy nó
hồi lâu: nó chạy ở đằng xa, không lúc nào chậm bước, không nhìn lại phía sau,
và chắc chắn là vẫn khóc ầm lên. Aliosa tự nhủ là hễ có thời gian thì nhất định
anh sẽ tìm bằng được tiếng bé để giải đáp câu đố khiến anh rất đỗi ngạc nhiên
này.
Lúc này anh không có thời giờ.
Chương 4
Ở nhà bà Khokhlakova
Lát sau anh đã đến gần nhà bà Khokhlakova, một ngôi nhà riêng
bằng đá, hai tầng, thuộc loại những ngôi nhà đẹp nhất trong thị trấn chúng tôi.
Tuy bà Khokhlakova thường ở tỉnh khác nhiều hơn, vì ở đó bà có điền trang, hay ở
Moskva nơi bà có nhà riêng nhưng ở thị trấn này bà cũng có ngôi nhà riêng thừa
hưởng của cha ông. Vả chăng điền trang của bà ở hạt chúng tôi cũng là điền
trang lớn nhất trong ba điền trang thuộc quyền sở hữu của bà, nhưng cho đến nay
cũng ít khi bà về tỉnh nhà. Aliosa vào đến phòng ngoài, bà đã chạy ra đón.
- Anh đã nhận được là thư của tôi báo về phép lạ rồi chứ? -
Bà nói nhanh một cách nôn nóng.
- Dạ, nhận được rồi.
- Anh đã loan tin, đã cho mọi người xem thư rồi chứ! Cha đã
trả lại cho bà mẹ một người con tôi.
- Tôi có nghe nói, tôi biết, tôi mong gặp anh để nói chuyện
quá! Nói chung với anh hay với một người nào khác về tất cả những điều đó.
Không, với anh, với anh kia! Rất tiếc là tôi không thể nào đến thăm Cha được! Cả
tỉnh xúc động, mọi người đều chờ đợi. Nhưng lúc này đây… anh có biết Ekaterina
Ivanovna hiện đang ở nhà này không?:
- A, thế thì may quá! - Aliosa kêu lên. - Hôm nay tôi phải gặp
chị ấy, hôm qua chị ấy dặn tôi hôm nay thế nào cũng đến.
- Tôi biết, tôi biết hết. Tôi đã nghe kể tỉ mỉ mọi chi tiết về
câu chuyện xảy ra hôm qua ở nhà chị ấy… tất cả những chuyện khủng khiếp do con…
con súc sinh ấy gây ra! C'est tragique(1), ở địa vị chị ấy thì chưa biết
tôi sẽ làm gì! Nhưng anh Dmitri Fedorovich của anh quá đáng lắm, trời ơi!
Alecxei Fedorovich, tôi lầm lẫn, anh tưởng tượng xem: anh của anh hiện ở đây,
không phải người anh khủng khiếp hôm qua đâu, mà là người khác, Ivan
Fedorovich, anh ấy đang nói chuyện với Ekaterina Ivanovna, cuộc nói chuyện
nghiêm trang… Giá như anh biết giữa họ với nhau đang xảy ra chuyện gì, thật là
kinh khủng, tôi xin nói với anh là tan lòng nát ruột, đấy là chuyện hoang đường
khủng khiếp không thể tin được: cả hai đều tự giết mình không biết để làm gì, họ
tự biết như thế mà lại lấy thế làm khoái trá. Tôi chờ đợi anh! Tôi khao khát chờ
anh đến! Nhất là tôi không thể chịu nổi cái đó. Tôi sẽ kể hết cho anh ngay,
nhưng bây giờ có một điều quan trọng nhất, chà chà, thậm chí tôi quên đấy là điều
quan trọng nhất: tại sao Liza lên cơn thần kinh? Vừa hay tin anh tới là nó lên
cơn thần kinh ngay.
- Maman, lúc này mẹ đang lên cơn thần kinh thì có, chứ đâu phải
con. - tiếng Liza ở căn phòng lớn bên cạnh nói líu ríu qua khe cửa hé mở. Cái
khe rất nhỏ, còn tiếng nói tắc lại như khi người ta buồn cười nôn ruột mà cố
nén. Aliosa nhận thấy ngay cái khe ấy, chắc là Liza ngồi trên ghế của mình đang
nhìn qua khe cửa, nhưng anh không nhìn rõ được.
- Chẳng có gì lạ, Liza ạ, chẳng có gì lạ… cái tính nhõng nhẽo
của con làm mẹ loạn thần kinh thật đấy, nhưng mà này, con bé ốm quá, Alecxei
Fedorovich ạ, sốt cao suốt đêm, rên rỉ! Tôi nóng lòng chờ đến sáng để mời bác
sĩ Gherxenstube. Ông ấy vẫn hay nói rằng ông ấy không thể hiểu gì hết và phải
chờ thôi. Cái ông Gherxenstube ấy hễ cứ đến là bao giờ cũng nói rằng ông ta chẳng
hiểu gì hết. Anh vừa đến gần nhà là con bé lại la lên và lên cơn thần kinh, đòi
đưa nó trở lại căn buồng trước kia của nó…
- Mẹ ơi, con không hề biết rằng anh ấy đến, hoàn toàn không
phải để tránh mặt anh ấy mà con muốn sang buồng này.
- Con nói không đúng, Liza, Iulia chạy vào báo với con là
Aliosa đang đến, con sai chị ấy đứng chực sẵn để vào báo cho con.
- Mẹ yêu quý của con ơi, mẹ nói thế lật chàng khôn khéo tí
nào. Nếu mẹ muốn chữa lời và nói một điều gì rất tinh khôn vào lúc này thì mẹ
hãy báo cho tiên sinh Alecxei Fedorovich vừa vào đây biết rằng chỉ riêng việc
ông ấy đến nhà ta hôm nay sau khi đã xảy ra câu chuyện ngày hôm qua và mặc dù bị
chế nhạo như thế cũng đủ chứng tỏ rằng ông ấy không tinh ý.
- Liza, con nói bừa quá đấy, mẹ cam đoan với con rằng thế này
thì mẹ sẽ phải có cách nghiêm khác với con thôi. Có ai chế nhạo anh ấy đâu, mẹ
lấy làm vui sướng vì anh ấy đã tới, mẹ cần có anh ấy, cần lắm lăm. Ôi Alecxei
Fedorovich, tôi bất hạnh vô cùng!
- Mẹ làm sao thế, mẹ yêu quý?
- Chao ôi, cái thói nhõng nhẽo ấy của con Liza, cái tính khí
thất thường ấy, cái bệnh ấy của con, cái đêm khủng khiếp ấy mà con lên cơn sốt,
cái ông Gherxensnlbe khủng khiếp ấy mà cả đời ta cứ phải luôn luôn nhớ đến, cả
đời cứ phải luôn luôn nhờ đến! Cuối cùng là mọi chuyện, mọi chuyện… Kể cả cái
phép lạ ấy! Ôi phép lạ ấy làm tôi kinh ngạc, bằng hoàng xiết bao, Alecxei
Fedorovich thân mến! Lại tấn bi kịch hiện đang diễn ra trong phòng khách nữa, tấn
bi kịch mà tôi không thể chịu đựng nổi, tôi tuyên bố trước với anh như vậy đấy.
Có lẽ là hài kịch, chứ không phải là bi kịch. Này anh, trưởng lão Zoxima còn sống
được đến mai chứ, còn sống được chứ? Trời ơi, tôi làm sao thế này. Cứ chốc chốc
tôi lại nhắm mắt và thấy rằng tất cả những cái đó là vô lý vô lý hết.
- Tôi khấn khoản xin bà. Aliosa bỗng ngắt lời. - Cho tôi một
miếng vải sạch để tôi băng ngón tay. Ngón tay tôi bị một vết thương nặng và bây
giờ đau ghê lắm.
- Aliosa tháo băng ngón tay bị cắn. Tấm khăn đẫm máu. Bà
Khokhlakova kêu lên, nhắm mắt lại.
- Trời ơi, vết thương ghê quá, khủng khiếp!
Vừa nhìn thấy ngón tay Aliosa qua khe cửa, Liza lập tức đẩy
tung cửa ra.
- Vào đây, vào đây với em. - Cô kêu lên bằng giọng khẩn nài gần
như ra lệnh. - Bây giờ chấm dứt mọi chuyện ngu ngốc đi! Trời ơi, vậy mà anh cứ
đứng mọi chẳng nói gì là làm sao? Khéo anh ấy mất hết máu đấy, mẹ ạ! Vừa rồi
anh ở đâu, làm sao đến nỗi này? Nước, lấy nước đi đã! Cần rửa vết thương, ngâm
tay vào nước lạnh cho hết đau, và cứ để thế. Cứ để như thế… Lấy nước ngay mau
mau lên, đựng vào cái chậu rửa cốc chén. Mà làm nhanh lên. - Cô gái dứt lời một
cách nóng nảy. Cô sợ hãi, vết thương của Aliosa làm cô kinh ngạc.
- Cho mời bác sĩ Gherxenstube chăng? - Bà Khokhlakova kêu
lên.
- Mẹ ơi, mẹ làm con đến chết mất thôi. Ông Gherxenstube có đến
thì sẽ lại nói rằng ông ta không thể thiếu gì cả. Nước, nước! Mẹ ơi, vì Chúa,
xin mẹ đi lấy hộ ít nước, mẹ giục Iulia đi, chị ấy sa đã ở đâu đó và không bao
giờ đến nhanh được! Mau mau lên, mẹ, không thì con chết mất…
- Ơ kìa, việc đó đáng gì đâu kia chứ. - Aliosa đâm hoảng vì sự
sợ hãi của họ.
Iulia vội vã mang nước đến, Aliosa cho ngón tay vào nước.
- Mẹ ơi, cho con xin ít sợi vải cũ để buộc vết thương. Sợi vải
cũ và cái chất nước đục lờ để rửa vết đứt da, nó tên là gì ấy nhỉ. Nhà ta có đấy,
có đấy… mẹ ơi, mẹ biết cái lọ thuỷ tinh ở đâu rồi, ở buồng ngủ trong cái tủ con
bên phải, ở đấy có cái lọ thuỷ tinh lớn và sợi vải cũ…
- Mẹ sẽ mang đến đủ hết. Liza, nhưng đừng có la gào và cuống
cuồng lên.
- Mẹ thấy Alecxei Fedorovich chịu đựng gan góc chưa. Nhưng
anh đi đâu mà bị thương khiếp thế, Alecxei Fedorovich?
Bà Khokhlakova vội vã ra ngoài. Liza chỉ chờ có thế.
- Trước hết anh hãy trả lời một câu hỏi. - cỏ nói nhanh với
Aliosa. - anh đi đâu mà bị thương như vậy? Rồi sau đó em sẽ nói với anh câu
chuyện khác. Nào?
Bằng bản năng. Aliosa cảm thấy rằng quãng thời gian cho đến
lúc bà mẹ quay lại là rất quý đối với cô, anh kể một cách vội vàng bỏ qua nhiều
điều và tóm lược, nhưng vẫn chính xác và rõ ràng về cuộc gặp gỡ bí ẩn với bọn học
trò. Nghe xong, Liza đập hai tay vào nhau:
- Người như anh, nhất là đang mặc bộ áo này mà lại đi dây vào
mấy đứa học trò ấy ư! - Cô giận dữ kêu lên, như thể cô có quyền gì với anh. -
Như vậy thì anh là đứa con nít. Đứa con nít ít tuổi nhất trên đời! Nhưng nhất định
anh phải làm cách nào đó biết về thằng bé mất dạy đó, rồi kể hết cho em nghe,
vì ở đây hẳn có điều gì bí mật. Bây giờ đến việc thứ hai, nhưng trước hết là một
câu hỏi: Alecxei Fedorovich, anh đang đau đớn đến như thế thì liệu anh có thể
nói về những chuyện nhỏ mọn, mà nói một cách chín chắn được không?
- Được chứ, vả lại bây giờ anh cũng không đau lắm nữa.
- Ấy là vì anh ngâm ngón tay vào nước. Phải thay nước đi
thôi, nó nóng lên ngay đấy mà, Iulia, lấy ngay một miếng nước đá dưới hầm nhà
và chậu nước đem đến đây. Thôi chị ấy ra rồi, em nói luôn vào việc: Alecxei
Fedorovich, trả lại ngay cho em bức thư em gửi cho anh hôm qua, trả ngay đi, vì
mẹ em có thể đến bây giờ đấy, mà em không muốn…
- Anh không mang theo đây.
- Không đúng, anh có mang theo. Em cũng biết rằng anh sẽ trả
lời như thế mà. Nó ở trong túi anh đây này. Suốt đêm em hối tiếc về cái trò đùa
ngu xuẩn ấy. Anh trả lại cho em lá thư ngay đi, cho xin nào!
- Thư để nhà mà!
- Nhưng sau lá thư bông đùa ngu xuẩn ấy, anh không được coi
em là Con bé nhóc cơ! Em xin lỗi anh về trò đùa ngu xuẩn ấy, nhưng nhất định
anh phải mang lá thư đến trả em, nếu hôm nay anh thực không mang theo, nhất định
đấy, dứt khoát đấy!
- Hôm nay thì không thể được, hôm nay anh sẽ về tu viện và
hai, ba, có khi là bốn ngày nữa anh không đến đây được, vì trưởng lão Zoxima…
- Bốn ngày, vô lý quá! Này anh, anh cười em ghê lắm phải
không?
- Anh không cười tí nào.
- Tại sao vậy?
- Bởi vì anh hoàn toàn tin tất cả mọi điều.
- Đừng nhục mạ em!
- Tuyệt không. Đọc thư em, anh tức khắc nghĩ rằng mọi việc sẽ
như thế, vì rằng hễ trưởng lão Zoxima qua đời là anh phải rời khỏi tu viện. Rồi
anh sẽ tiếp tục đi học và thi tốt nghiệp, rồi đến tuổi luật định thì chúng ta sẽ
cưới nhau. Anh sẽ yêu em. Tuy anh chưa có thời giờ nghĩ thêm nữa, nhưng anh cho
rằng anh sẽ không thể tìm được người nào hơn em làm vợ anh, mà trưởng lão bảo
anh phải lấy vợ…
- Nhưng em tàn phế, người ta phải để em ngồi xe mà đẩy đi?
Liza bật cười, hai má ửng hồng.
- Chính anh sẽ đẩy xe cho em, nhưng anh tin chắc rằng đến lúc
ấy em sẽ khỏi hẳn.
- Anh thật là điên. - Liza nói một cách nóng nảy. - Chỉ là
đùa bỡn thôi mà anh nghĩ ra chuyện vớ vẩn như thế! A, mẹ em kia rồi, có lẽ là rất
đúng lúc. Mẹ ơi, bao giờ mẹ cũng đến muốn, sao lại lâu thế kia chú! Kìa, chị
Iulia đã mang nước đã đến rồi đấy!
Chao ôi, Liza, đừng có hét lên, cần nhất là đừng có hét lên.
- Con cứ hét lên như thế làm cho mẹ… Làm thế nào được chính con đi nhét bó sợi
vải cũ vào chỗ khác… làm mẹ tìm mãi… Mẹ ngờ rằng con cố ý làm như thế.
- Con làm sao biết được anh ấy đến đây với ngón tay bệnh, ở
mà có lẽ con cố ý thực đấy. Mẹ là thiên thần, mẹ bắt đầu nói những điệu ý nhị lạ
thường.
- Ý nhị thì ý nhị. Liza ạ, nhưng lòng dạ rối bời vì ngón tay
của Alecxei Fedorovich và tất cả những cái đó! Ôi, Alecxei Fedorovich thân mến,
tôi hết sức phiền muộn không phải vì những chuyện riêng lẻ, không phải vì cái
ông Gherxenstube nọ, mà vì mọi việc gộp chung lại, thật hết chịu nổi.
- Thôi, mẹ ơi, xin đủ ông Gherxenstube đi cho rồi, - Liza cười
vui vẻ - Mẹ mau mau cho xin sợi vải cũ và nước đây. Đấy chỉ là thứ thuốc rửa
màu chì, Alecxei Fedorovich ạ, em nhớ ra tên nó rồi, thứ thuốc rửa tốt lắm đấy.
Mẹ ơi, mẹ thử tưởng tượng xem, dọc đường anh ấy đã đánh nhau với bọn trẻ con, một
thằng bé đã cắn anh ấy, thế thì anh ấy có con nít không chứ. thế thì anh ấy có
thể lấy vợ được không, hả mẹ, bởi vì mẹ thử tưởng tượng xem, anh ấy muốn lấy vợ,
mẹ ạ. Mẹ có bình dung được anh ấy là người có vợ không, có chết cười không chứ
có khiếp không chứ?
Liza cứ khúc khích cười một cách nóng nảy, đồng thời nhìn
Aliosa một cách ranh ma.
- Lấy vợ là thế nào. Liza, cớ gì con lại nói như thế, con nói
năng như thế không phải lẽ đau… nhưng có thể là thằng bé ấy lên cơn dại.
- Ôi mẹ! Lại có những đứa trẻ lên cơn dại ư?
- Sao lại không, Liza, cứ làm như mẹ đã nói một điều gì ngu
ngốc. Cậu bé nọ đã bị chó dại cắn, nó lên cơn dại và cắn bất cứ ai ở gần nó.
Con bé băng cho anh khéo quá. Alecxei Fedorovich ạ, tôi không bao giờ băng được
như thế. Bây giờ anh có đau không?
- Bây giờ chỉ hơi hơi thôi.
- Anh không sợ nước chứ? - Liza hỏi.
- Này, thôi đi. Liza, có lẽ mẹ buột miệng nói về việc thằng
bé lên cơn dại quá là quá hấp tấp, vì thế con suy đoán lung tung.
- Ekaterina Ivanovna vừa hay tin anh đến, Alecxei Fedorovich ạ,
thế là chị ấy bổ đến hỏi tôi, chị ấy đang nóng lòng chờ gặp anh.
- Kìa, mẹ! Mẹ cứ đi một mình đi, anh ấy chưa thể đi ngay bây
giờ đâu, anh ấy còn đang đau lắm mà.
- Không đau chút nào cả, tôi đi được… - Aliosa nói.
- Sao! Anh đi à! Anh mà lại như thế ư? Lại như thế kia ư?
- Có sao đâu? Xong việc ở đấy là anh lại tới đây và chúng ta
lại tha hồ nói chuyện. Anh rất muốn mau mau gặp Ekaterina Ivanovna, bởi vì dù
sao thì hôm nay anh rất muốn sơm sớm về tu viện.
- Mẹ ơi, mẹ đưa anh ấy đi ngay đi. Alecxei Feodorovich gặp
Ekaterina Ivanovna xong anh khỏi nhọc công quay lại đây, cứ về thắng tu viện
đi, đấy mới là con đường của anh! Tôi buồn ngủ rồi, suốt đêm qua không chợp mắt.
- Ồ kìa, Liza, con chỉ đùa giờn thôi, nhưng nếu con buồn ngủ
thật thì còn gì bằng? - Bà Khokhlakova kêu lên.
- Anh không biết làm sao mà… Anh sẽ lại đây ba phút nữa, thậm
chí năm phút, nếu em muốn. - Aliosa nói ấp úng.
- Thậm chí năm phút! Mẹ đưa anh ấy đi luôn mẹ, thật là con
quái vật!
- Liza, con điên rồi. Ta đi thôi. Alecxei Fedorovich, hôm nay
nó đóng bóng quá, tôi sợ làm nó bực tức. Ôi, phụ nữ mà bẳn tình thì thật là khốn
khó, Alecxei Fedorovich! Nhưng có lẽ quả thật nhờ có anh đến mà nó dễ ngủ. Anh
làm thế nào khiến nó dễ ngủ thế kia chứ, may mắn biết bao!
- Ôi, mẹ, mẹ nói dễ thương quá đi, con hôn mẹ cái nào, cảm ơn
mẹ.
- Mẹ cũng hôn con, Liza. Này, anh Alecxei Fedorovich, - lúc
đi ra bà Khokhlakova thì thầm nói nhanh, giọng bí mật và trang nghiêm. - Tôi
không muốn gợi ý gì cho anh, cũng không muốn vén tấm màn bí mật ấy, anh cứ vào
rồi tự anh sẽ thấy những gì diễn ra, thật là khủng khiếp, đấy là tấn hài kịch
quái dị nhất: cô ấy yêu anh Ivan Fedorovich của anh mà lại cứ ra sức tự đoan
quyết với mình rằng cô ấy yêu anh Dmitri Fedorovich của anh. Thật là kinh khủng!
Tôi sẽ vào cùng với anh và nếu họ không đuổi tôi ra thì tôi sẽ chờ đến khi xong
việc.
Chú thích:
(1) Tiếng Pháp trong nguyên bản: thật là bi thảm (N.D)
Chương 5
Nỗi vò xé trong phòng khách
Những cuộc nói chuyện trong phòng khách đã xong: Ekaterina
Ivanovna hết sức xúc động, tuy có vẻ kiên quyết. Lúc Aliosa và bà Khokhlakova
vào, Ivan Fedorovich đứng dậy định đi. Mặt chàng hơi tái, và Aliosa lo ngại
nhìn anh. Số là bây giờ đến đây, Aliosa đã giải đáp được một trong những mối hồ
nghi của mình, một điều bí ẩn ít lâu nay vẫn giày vò anh. Chừng một tháng nay,
những lời bóng gió từ nhiều phía dội đến cho anh hiểu rằng anh Ivan yêu
Ekaterina Ivanovna và điều quan trọng nhất là anh thực sự có ý định "phỗng
tay trên" của Dmitri. Cho đến mãi gần đây, Aliosa vẫn coi đó là chuyện
quái gở, tuy nó làm anh rất lo. Anh yêu cả hai anh, chỉ sợ hai anh trở thành
tình địch của nhau. Thế nhưng hôm qua chính Dmitri Fedorovich bỗng bảo thắng với
Aliosa rằng chàng lấy làm mừng nếu Ivan là tình địch của chàng, như thế tốt cho
chàng lắm. Tốt cái gì? Để anh lấy Grusenka ư? Nhưng Aliosa coi đó là việc vô hy
vọng và đốn đời. Ngoài ra, cho đến tận tối hôm qua, Aliosa vẫn tin chắc như
đinh đóng cột rằng Ekaterina Ivanovna yêu anh Dmitri, say đắm và bền chặt,
nhưng chỉ tin đến tối hôm qua thôi. Hơn nữa, không hiểu sao anh vẫn cứ có cảm
giác rằng nàng không thể yêu được một người như Ivan mà nàng yêu anh Dmitri, với
con người như anh hiện nay, mặc dù tình yêu ấy thật là quái gở. Hôm qua, lúc diễn
ra màn kịch có Grusenka, đột nhiên anh có cảm tưởng khác. Tiếng "vò
xé" mà bà Khokhlakova vừa nói ra khiến anh gần như giật mình, vì chính đêm
hôm ấy, lúc tảng sáng nửa thức nửa ngủ, có lẽ là để đáp lại giấc chiêm bao của
mình, anh bỗng thốt lên: "vò xé, vò xé!" Suốt đêm anh mơ thấy cảnh tượng
diễn ra ở nhà Ekaterina Ivanovna. Bây giờ Aliosa sửng sốt về lời bà Khokhlakova
nói thẳng thừng và nhất quyết rằng Ekaterina Ivanovna yêu anh Ivan và nàng cố ý
tự dối mình, tự làm khổ mình, ép lòng nói rằng nàng yêu Dmitri, như vậy chẳng
qua là nàng đóng kịch, là tự "vò xé mình" do một sự biết ơn nào đó.
"Phải, có lẽ thế, những lời đó hoàn toàn đúng sự thật! ". Nhưng như vậy
thì tình cảm của anh Ivan như thế nào? Một bản năng nào đó khiến Aliosa cảm thấy
rằng một tính cách như Ekaterina Oxipovna cần thống trị, mà nàng chỉ có thể thống
trị người như Dmitri, chứ không thể nào thống trị được người như Ivan, bởi vì
chỉ có Dmitri là rốt cuộc (dù là sau một thời gian dài) có thể quy phục nàng
"vì hạnh phúc của mình" (thậm chí Aliosa mong muốn như thế), nhưng
Ivan thì không. Ivan không thể quy phục nàng, và sự quy phục sẽ không đem lại hạnh
phúc cho anh. Không rõ vì sao tự dưng Aliosa có quan niệm như thế về anh Ivan.
Tất cả những phân vân suy nghĩ ấy thoáng qua trong óc anh lúc anh vào phòng
khách.
Một ý nghĩ nữa cũng chợt đến, bất thần và mãnh liệt: "Nếu
như nàng không yêu người nào trong cả hai người thì sao?". Tôi xin lưu ý rằng
Aliosa dường như xấu hổ về những ý nghĩ ấy và tự trách mình vì tháng gần đây những
ý nghĩ ấy đôi khi vẫn đến với anh. "Ta có hiểu quái gì về tình yêu và về
phụ nữ đâu, làm sao ta có thể quyết đoán như thế được?" - anh tự trách
mình sau mỗi lần có ý nghĩ hay phỏng đoán như vậy. Thế nhưng không thể không
suy nghĩ. Chẳng hạn, bằng bản năng anh hiểu rằng bây giờ sự kình địch đó trong
tình yêu là một vấn đề hết sức quan trọng trong số phận của hai anh mình và có
quá nhiều điều phụ thuộc vào đó. "Rắn nuốt rắn" - hôm qua trong lúc
cáu kỉnh anh Ivan đã nói về bố và anh Dmitri như vậy. Vậy là dưới con mắt Ivan,
Dmitri là con rắn độc và có lẽ là con rắn độc đã từ lâu rồi. Phải chăng từ ngày
Ivan biết Ekaterina Ivanovna? Cố nhiên hôm qua Ivan vô tình buột ra những lời
đó, nhưng vì là vô tình nên càng quan trọng hơn. Nếu vậy thì làm sao hoà thuận
được? Phải chăng trái lại, đây là những duyên cớ mới gây nên sự thù địch nhau
trong gia đình? Nhưng cái chính là anh, Aliosa, anh nên thương ai? Anh mong muốn
gì cho mỗi người? Anh yêu cả hai, nhưng anh mong muốn gì cho mỗi người giữa lúc
có những mâu thuẫn ghê gớm như vậy? Rất dễ lạc trong cái mê lộ như vậy, mà tim
anh Aliosa không thể chịu đựng nổi tình trạng không biết chắc, bởi vì tình yêu
của anh bao giờ cũng là tình yêu bằng hành động. Anh không thể yêu một cách thụ
động được, đã yêu là phải giúp đỡ người mình yêu. Muốn vậy phải có mục đích, Phải
biết chắc người đó thích và cần gì, và khi đã tin rằng mục đích đã chọn là đúng
thì tất nhiên là phải giúp đỡ từng người trong hai người. Nhưng Aliosa không có
mục đích chắc chắn, tất cả chỉ là mơ hồ, rắc rối "vò xé", người ta bảo
thể. Nhưng anh có hiểu thế nào là vò xé kia chú? Anh chẳng hiểu tí gì trong cái
mớ bòng bong ấy!
Thấy Aliosa, Ekaterina Ivanovna vui sướng nói nhanh với Ivan
Fedorovich lúc ấy đã đứng lên định đi:
- Khoan, khoan đã! Hãy nán lại một chút. Tôi muốn nghe ý kiến
của người này, con người mà tôi hết lòng tin cậy. Chị Ekaterina Oxipovna, xin
chị cũng đừng đi. - Nàng nói thêm với bà Khokhlakova. Nàng kéo Aliosa ngồi xuống
cạnh mình, còn bà Khokhlakova ngồi ở phía đối diện bên cạnh Ivan Fedorovich.
- Đây toàn là những người bạn của tôi, tất cả những người bạn
tôi có trên đời, các bạn thân mến ạ. - Nàng nói một cách nồng nhiệt bằng một giọng
đầy nước mắt, run run vì đau khổ thành thực, khiến Aliosa lập tức lại có thiện
cảm với nàng, - Alecxei Fedorovich, hôm qua chú đã chứng kiến sự việc… khủng
khiếp ấy và chú thấy tôi như thế nào. Anh không thấy cảnh đó, Ivan Fedorovich ạ,
nhưng chú ấy thấy. Chú ấy nghĩ gì về tối hôm qua, tôi không biết, tôi chỉ biết
có một điều: nếu sự việc lặp lại y nguyên như thế vào hôm nay, lúc này thì tôi
sẽ bộc lộ vẫn những tình cảm tư lự hôm qua, vẫn những tình cảm như thế, những lời
như thế và những cử chỉ như thế. Chú còn nhớ những cử chỉ của tôi đấy Alecxei
Fedorovich ạ, chính chú kìm giữ tôi khi tôi… (Nói đến đây nàng đó mặt, mắt quắc
lên). Alecxei Fedorovich, tôi tuyên bố với chú rằng tôi không thể cam chịu như
thế được. Này Alecxei Fedorovich, thậm chí tôi không biết bây giờ tôi có còn
yêu anh ấy không. Bây giờ tôi nhìn thấy anh ấy đáng thương, đấy là một dấu hiệu
chẳng lành về tình yêu. Nếu như tôi yêu anh ấy, vẫn còn yêu thì bày giờ có lẽ
tôi không thương hại anh ấy, mà phải căm thù kia…
Giọng nàng run lên, hai hàng mi long lanh giọt lệ. Aliosa
rung động cõi lòng: "Cô gái này thẳng thắn và thành thật, - anh nghĩ, - và
nàng không còn yêu Dmitri nữa!".
- Đúng thế! Phải! - Bà Khokhlakova kêu lên.
- Khoan đã, chỉ Ekaterina Ivanovna thân mến, tôi chưa nói cái
chính, tôi chưa nói quyết định dứt khoát của tôi hồi đêm. Tôi cảm thấy quyết định
ấy của tôi có lẽ là khủng khiếp cho tôi, nhưng tôi cảm thấy trước rằng dù thế
nào chăng nữa tôi cũng sẽ không đổi ý, sẽ cứ như thế suốt đời tôi. Anh Ivan
Fedorovich bao giờ cũng là người cố vấn thân thiết, tốt bụng, đại lượng của
tôi, người thấu hiểu sâu sắc lòng người, người bạn duy nhất tôi có trên đời,
anh ấy hoàn toàn tán thành và khen ngợi quyết định của tôi. Anh ấy biết quyết định
ấy.
- Vâng, tôi tán thành, - Ivan Fedorovich nói khẽ nhưng cương
quyết.
- Nhưng tôi muốn rằng Aliosa (ôi, Alecxei Fedorovich, chú thứ
lối cho tôi đã gọi chú chỉ là Aliosa) tôi muốn rằng Aliosa nói cho tôi biết
ngay bây giờ, trước các bạn của tôi: tôi đúng hay sai. Tôi có linh cảm rằng
chú, người em thân mến của tôi (vì chú đúng là người em thân mến của tôi). -
Nàng lại hoan hỉ thốt lên, nắm lấy bàn tay lạnh giá của Aliosa trong bàn tay
nóng hổi của mình. - Tôi linh cảm thấy rằng quyết định của chú. sự tán thành của
chú sẽ làm tôi yên tâm, mặc dù tôi hết sức đau khổ, bởi vì sau khi nghe chú
nói, tôi sẽ nguội đi và chịu nhẫn nhục, tôi linh cảm thấy thế!
- Tôi không biết chị sẽ hỏi gì tôi. - Aliosa đỏ mặt nói, -
tôi chỉ biết rằng tôi yêu mến chị và lúc này tôi mong muốn hạnh phúc cho chị
hơn là cho tôi… Nhưng mà tôi có hiểu quái gì nhưng việc ấy đâu kia chứ… - Bỗng
nhiên, chẳng hiểu vì sao anh nói thêm.
- Trong những việc này. Alecxei Fedorovich ạ, trong những việc
này, bây giờ cái chính là danh dự và bổn phận, và còn cái gì nữa có lẽ cao cả
hơn cả bổn phận, tôi cũng chẳng biết rõ. Nhưng trái tim nhắc nhủ tôi cái tình cảm
không thể cưỡng lại được ấy, và nó lôi cuốn tôi không sao cưỡng lại được. Nhưng
tóm lại là tôi đã quyết: cho dù anh ấy có lấy… cái đồ súc sinh ấy, - nàng nói một
cách trịnh trọng, - mặc dù không bao giờ tôi có thể tha thứ cho nó, không bao
giờ, nhưng tôi vẫn không bỏ anh ấy. Từ nay trở đi không bao giờ tôi bỏ anh ấy
được nữa! - Nàng thốt lên bằng giọng run run, biểu lộ một niềm hoan hỉ gượng gạo
vô vị. - Không phải là tôi sẽ bám theo anh ấy, luôn luôn quấn mắt anh ấy đâu.
Không, tôi sẽ sang thành phố khác, bất cứ đâu, nhưng suốt đời tôi sẽ không ngừng
để ý đến anh ấy. Khi nào ả kia làm anh ấy khốn khổ, mà chuyện đó sẽ xảy ra ngay
bây giờ cho mà xem, thì anh ấy cứ đến với tôi, anh ấy sẽ có một người bạn, một
người em gái… Chỉ là một người em gái thôi, cố nhiên và sẽ suốt đời như thế,
nhưng cuối cùng anh ấy sẽ thấy rõ ràng đấy thực sự là người em gái yêu thương
anh và suốt đời hy sinh cho anh. Tôi sẽ đạt được ý định đó, tôi sẽ làm cho anh ấy
cuối cùng hiểu tôi và thổ lộ hết với tôi mà không hổ thẹn! - Nàng kêu lên như
trong cơn thác loạn. - Tôi sẽ là Thượng đế của anh ấy để anh ấy cầu nguyện, thì
ít ra anh ấy cũng mắc nợ tôi vì đã phản bội tôi, vì những gì anh ấy gây ra mà
hôm qua tôi đã phải chịu đựng. Hãy để cho anh ấy suốt đời thấy rằng tôi sẽ suốt
đời trung thành với anh ấy và với lời đã hứa, mặc dù anh ấy không chung thuỷ và
bội bạc. Tôi sẽ… tôi sẽ chỉ là phương tiện gây dựng hạnh phúc cho anh ấy (hay
nên nói thế nào tôi cũng chẳng biết nữa) là công cụ, là cầu may, để mưu hạnh
phúc cho anh ấy, cứ như thế suốt đời, suốt đời, để cho từ nay trở đi suốt đời
anh ấy nhìn thấy điều đó! Tôi quyết định như vậy đó! Ivan Fedorovich nhiệt liệt
tán thành tôi.
Nàng ngạt thở. Có lẽ nàng muốn diễn đạt ý nghĩ của mình một
cách đích đáng hơn, khéo léo hơn và tự nhiên hơn, nhưng hoá ra lại quá hấp tấp
và quá trần trụi. Có nhiều phần bồng bột trẻ trung nhiều phần chỉ là dư âm của
cơn tức giận hôm qua, là nhu cầu bộc lộ sự lên nhẫn, tự nàng cũng cảm thấy thế.
Mặt nàng bỗng tối sầm lại, ánh mắt trở nên khó chịu. Aliosa nhận thấy ngay tất
cả những cái đó, trái tim anh rộn lên niềm thương cảm. Ngay lúc đó Ivan nối lời:
- Tôi chỉ nói lên ý nghĩ của tôi thôi, - chàng nói. - ở bất cứ
người phụ nữ nào khác thì tất cả những cái đỏ đen là do uất ức, bày đặt, nhưng ở
cô thì không. Người khác mà như thế thì không đúng, nhưng cô thì lại là phải.
Tôi không biết luận giải ra sao, nhưng tôi thấy rằng cô hết sức thành thực, vì
vậy cô có lý.
- Đấy chỉ là lúc này thôi… Nhưng lúc này là thế nào? Chỉ là sự
lăng nhục hôm qua, lúc này là như thế đấy! - Bà Khokhlakova thốt nhiên không chịu
nổi, rô rằng bà không muốn can thiệp vào, nhưng không nén nổi và bỗng nói ra một
ý nghĩ rất xác đáng.
- Đúng thế, đúng thế, - Ivan bỗng nói một cách hăm hở và rõ
ràng là bực tức vì người ta ngắt lời mình, - đúng thế, nhưng đối với người khác
thì phút ấy chỉ là cảm tưởng ngày hôm qua, và chỉ là thoáng chốc, nhưng với
tính tình của Ekaterina Ivanovna thì phút ấy sẽ dài suốt cả cuộc đời. Cái gì đối
với người khác chỉ là lời hứa thì đối với nàng là bổn phận vĩnh viễn, có thế là
một bổn phận nặng nề, khó ưa, nhưng không được sao lãng. Và nàng sẽ sống bằng ý
thức đã làm tròn được bổn phận ấy! Cuộc đời của cô Ekaterina Ivanovna ạ, bây giờ
sẽ trôi đi trong sự chiêm ngưỡng với nỗi lòng đau khổ những tình cảm riêng của
cô, chiêm ngưỡng kỳ công của cô và cuộc đời cô sẽ biến thành sự chiêm ngưỡng dịu
ngọt cái ý định kiên quyết và bêu hãnh đã được thực hiện một lần dứt khoát, thực
quả là một loại ý định kiêu hãnh, dù sao cũng là tuyệt vọng, nhưng cô đều thực
hiện được, và ý thức rõ điều đó; cuối cùng cô sẽ hoàn toàn thoá mãn và hoà giải
được với một điều còn lại…
Ivan nói một cách kiên quyết, có phần nào hằn học, rõ ràng là
có chủ ý, thậm chí có lẽ không muốn che giấu ý định của mình, nghĩa là cố ý giễu
cợt.
- Trời ơi, tất cả những cái đó đều không thật! - Bà
Khokhlakova lại kêu lên.
- Alecxei Fedorovich, chú nói đi! Tôi rất cần biết chú sẽ nói
gì với tôi! - Ekaterina Ivanovna kêu lên và bỗng ứa nước mắt. Aliosa đứng dậy
khỏi đi văng.
- Không sao, không sao! - Nàng vừa khóc vừa nói, - ấy là vì
tâm thần rối loạn, vì đêm qua mất ngủ thôi mà, nhưng ở bên cạnh hai người bạn
như chú và anh chú, tôi cảm thấy vững vàng… vì tôi biết… hai người không bao giờ
bỏ rơi tôi…
- Khốn nỗi ngày mai có lẽ tôi phải đi Moskva và sẽ phải xa cô
lâu Và thật không may, việc đó không thể thay đổi được… - Ivan Fedorovich bỗng
nói.
- Ngày mai, đi Moskva! - Khuôn mặt Ekaterina Ivanovna bỗng
méo đi. - nhưng… nhưng… Trời ơi, thế thì may mắn biết bao! - Nàng kêu lên bằng
giọng phút chốc đổi khác hẳn và mắt ráohoảnh như chưa từng có nước mắt. Chính
lúc ấy nàng bỗng đổi khác kỳ lạ khiến Aliosa sửng sốt: không còn cô gái đáng
thương bị lăng nhục, vừa khóc vì nỗi đau xé lòng nữa, mà đày là người phụ nữ
hoàn toàn tự chủ, thậm chí rất hể hả, dường như chợt có điều gì vui mừng.
- Ồ không phải tôi vui sướng vì anh xa tôi đâu, tất nhiên là
không. - dường như nàng nói chữa, miệng mỉm cười lịch thiệp đến dễ thương, - một
người bạn như anh không thể nghĩ như vậy được Trái lại tôi rất khổ tâm vì thiếu
vắng anh (nàng chạy vội đến nắm lấy hai tay Ivan Fedorovich, xiết chặt tay
chàng với tình cảm nồng nhiệt); nhưng thật là may mắn quá, bây giờ về Moskva,
anh có thể trực tiếp thuật lại với các cô tôi và chị Agafia tất cả tình cảm của
tôi, tất cả nỗi khủng khiếp hiện nay của tôi, hoàn toàn thành thật với Agafia
và không nương nhẹ bà cô đáng mến của tôi, anh biết cách nói. Anh không thể tưởng
tượng nổi hôm qua và sáng hôm nay tôi khổ sở biết bao vì không biết làm cách
nào viết nổi lá thư ghê gớm ấy… bởi vì trong thư tôi không sao thuật lại nổi điều
đó… Bây giờ tôi viết thư dễ dàng rồi, vì anh sẽ đến nhà bà cô tôi và sẽ nói rõ
cho họ hiểu mọi chuyện. Ôi, tôi vui mừng biết bao! Nhưng tôi vui mừng chỉ vì lẽ
ấy thôi, anh hãy tin tôi. Đối với tôi, cố nhiên anh là người không ai thay thế
được… Tôi đi viết thư ngay đây. - Nàng kết luận và thậm chí đã cất bước toan rời
khỏi phòng.
- Nhưng còn Aliosa? Cô rất muốn nghe ý kiến của Alecxei
Fedorovich kia mà? - Bà Khokhlakova kêu lên, giọng có vẻ cay độc và giận dữ.
- Tôi không quên đâu. - Ekaterina Ivanovna bỗng dừng lại. -
Nhưng tại sao lúc này chị có vẻ ghét tôi thế, chị Ekaterina Oxipovna? - Nàng
nói với giọng trách móc cay đắng và sôi nổi.
- Tôi đã nói gì thì tôi xác nhận. Tôi cần nghe ý kiến của chú
ấy, hơn nữa tôi cần chú ấy quyết định! Chú ấy bảo thế nào thì sẽ nên thế. Tôi
khao khát nghe lời chú nói. Alecxei Fedorovich ạ. Nhưng chú làm sao thế?
- Tôi không ngờ, tôi không thể tưởng tượng nổi! - Aliosa bỗng
kêu lên một cách chua xót.
- Cái gì, cái gì?
Anh ấy đi Moskva mà chị lại reo lên rằng chị vui mừng, chính
chị cố ý reo lên như thế! Rồi chị lại giải thích rằng chị vui mừng không phải
vì anh ấy ra đi, trái lại chị lấy làm tiếc rằng… chị mất một người bạn, nhưng đấy
là chị cố tình đóng kịch… như thể chị diễn tấn hài kịch trên sân khấu!…
- Như trên sân khấu ư? Sao?… Thế là thế nào? - Ekaterina
Ivanovna kêu lên, rất đỗi ngạc nhiên, đỏ bừng mặt và cau mày.
- Mặc dù chị đoan quyết với anh ấy rằng vắng anh ấy chị thiếu
mất một người bạn, nhưng chị lại nói độp vào mặt anh ấy rằng chị vui sướng vì
anh ấy ra đi… - Aliosa nói mà gần như nghẹn thở. Anh đứng bên bàn, không ngồi.
- Chú nói gì tôi không hiểu.
- Thì chính tôi cũng không hiểu… Bất thần như có thần cảm…Tôi
biết rằng nói ra thật không tiện, nhưng tôi vẫn cứ nói. - Aliosa nói tiếp, giọng
vẫn run run và ngắc ngứ như thế. - Linh cảm bảo tôi rằng có lẽ chị không hề yêu
anh Dmitri… ngay từ đầu. Và anh Dmitri có lẽ cũng chẳng yêu chị… ngay từ đầu…
mà chỉ kính trọng chị thôi… Thực tình tôi không biết tại sao lúc này tôi dám
nói ra như thế, nhưng cũng phải có người nào nói sự thật chứ… bởi vì ở đây
không ai muốn nói sự thật…
- Sự thật nào? - Ekaterina Ivanovna kêu lên, giọng nàng như
trong cơn thác loạn.
- Thế này này - Aliosa nói ấp úng, như thể anh nhảy từ mái
nhà xuống, - chị hãy mời anh Dmitri đến đây, tôi sẽ tìm được anh ấy, hãy để anh
ấy đến đây cầm lấy tay chị, rồi cầm lấy tay anh Ivan và đặt tay hai người vào
nhau. Chị làm khổ anh Ivan, chỉ vì chị yêu anh ấy… Chị làm khổ Ivan vì tình yêu
của chị đối với Dmitri chỉ là nỗi vò xé đau đớn… chị yêu không thật lòng… bởi
vì chị cố làm cho mình tin như thế…
Aliosa ngừng bặt.
- Chú… chú là đứa con nít điên dại, thế đấy! - Mặt tái nhợt,
môi méo xệch đi vì tức giận, Ekaterina Ivanovna nói xẵng giọng.
Ivan Fedorovich bỗng bật cười đứng lên, hai tay cầm mũ.
- Chú lầm, Aliosa tốt bụng của tôi ạ. - Chàng nói, chưa bao
giờ Aliosa thấy anh mình có vẻ mặt như thế, nó biểu lộ sự chân thành của tuổi
trẻ và một tình cảm mãnh liệt bộc trực. - Chưa bao giờ Ekaterina Ivanovna yêu
tôi! Nàng vẫn biết tôi yêu nàng, tuy tôi chưa hề nói với nàng một lời nào về
tình yêu của tôi, nàng biết, nhưng nàng không yêu tôi. Tôi cũng chưa bao giờ là
bạn của nàng, không một ngày nào; một người phụ nữ kiêu hãnh không cần tình bạn
của tôi. Nàng giữ tôi ở bên cạnh để không ngừng trả thù. Nàng bắt tôi hứng chịu
sự trả thù về tất cả sự xúc phạm của Mitia mà nàng thường xuyên phải chịu đựng
suốt thời gian ấy, không phút nào nguôi, kể từ lần gặp gỡ đầu tiên… Bởi vì bản
thân cuộc gặp gỡ lần đầu giữa hai người in lại trong tim nàng như một sự xúc phạm.
Trái tim nàng như thế đẩy! Tôi luôn luôn chỉ có một việc là nghe nàng nói về
tình yêu của nàng với Dmitri. Bây giờ tôi đi đây, nhưng Ekaterina Ivanovna ạ,
cô nên biết bằng thực ra cô chỉ yêu có Dmitri. Anh ấy càng xúc phạm cô thì cô
càng yêu anh ấy hơn. Vì thế cô bị vò xé. Cô yêu anh ấy trong tình trạng anh ấy
như hiện nay, yêu khi anh ấy xúc phạm cô. Nếu như anh ấy sửa chữa, cô sẽ bỏ anh
ấy và cũng chẳng yêu nữa. Nhưng cô cần anh ấy để không ngừng chiêm ngưỡng kỳ cỏng
về lòng chung thuỷ của cô và trách móc anh ấy không chung thuỷ. Tất cả là do
tính kiêu hãnh của cô. Ôi, cô bị hạ thấp và bị lăng nhục nhiều, nhưng tất cả là
do lòng kiêu hãnh… Tôi quá trẻ và quá yêu cỏ. Tôi biết, lẽ ra tôi không nên nói
với cô điều đó, tôi chỉ nên từ biệt cô mà đi thì phải hơn: như vậy sẽ ít tổn
thương đến cô hơn. Nhưng lần này tôi đi xa và sẽ không bao giờ trở lại nữa. Giã
từ mãi mãi… Tôi không muốn cứ ngồi bên sự đau đớn vò xé… Ờ mà tôi không biết diễn
đạt đâu, tôi nói hết rồi đấy… vĩnh biệt, Ekaterina Ivanovna, cô không được giận
tôi, bởi vì tôi đã bị trừng phạt gấp một trăm lần cô: chỉ riêng việc không bao
giờ còn thấy mặt cò nữa đã là hình phạt đối với tôi rồi. Vĩnh biệt. Vĩnh biệt.
Tôi không cần cô đưa tay cho tôi. Cô hành hạ tôi một cách hoàn toàn có ý thức,
nên lúc này tôi không thể tha thứ cho cô được. Sau này thì có thể, chứ bây giờ
thì tôi không cần cô trao tay cho tôi.
Den Danh, Dame, begehr ich nicht(1), chàng nói thêm với một nụ
cười méo xệch đi, nhưng như vậy thật là bất ngờ, chàng đã chứng tỏ là chàng có
thể đọc thuộc lòng thơ Sille, điều mà trước đây, Aliosa hẳn không tin. Chàng ra
khỏi phòng, thậm chí không chào chủ nhà, bà Khokhlakova, Aliosa ngạc nhiên chắp
hai tay vào nhau.
- Anh Ivan, - Aliosa luống cuống hét với theo, - trở lại đi,
anh Ivan! Không, không, bây giờ không đời nào anh ấy quay trở lại! - Anh kêu
lên, một ý nghĩ mới mẻ chua xót lại lóe sáng. - Nhưng đấy là tại tôi, chính tôi
đã khơi chuyện! Anh Ivan nói năng giận dữ, hằn học. Bất công và giận dữ… -
Aliosa kêu lên như điên dại.
Ekaterina Ivanovna đột nhiên bỏ sang phòng bên.
- Anh không làm gì sai trái cả, anh xử sự như một thiên thần.
Bà Khokhlakova thì thầm nói nhanh bằng giọng hoan hỉ với
Aliosa đang đau xót. - Tôi sẽ gắng hết sức ngăn Ivan Fedorovich đừng đi…
Gương mặt bà lộ vẻ vui mừng hớn hở khiến Aliosa hết sức rầu
lòng, nhưng Ekaterina Ivanovna bỗng quay trở lại. Tay nàng cam hai tờ giấy bạc
một trăm.
- Tôi có một việc rất cần nhờ đến chú, Alecxei Fedorovich ạ.
- Nàng nói thẳng với Aliosa bằng giọng đều đều và rõ ràng là bình tĩnh như
không có gì xảy ra. - Cách đây một tuần, đúng, đâu như một tuần trước, Dmitri
Fedorovich đã có hành động nóng nảy và bất công, hết sức bậy bạ. Ở đây có một địa
điểm tệ hại, một quán rượu. Ở đấy anh ấy đã gặp một sĩ quan về vườn, chính ông
đại uý mà ba anh đã sai khiến làm việc này việc nọ cho ông. Không hiểu vì sao
Dmitri Fedorovich tức giận viên đại uý ấy, anh túm râu ông ta lôi ra phố trước
tất cả mọi người và cứ lôi đi như thế ở ngoài phố một lúc lâu, nghe nói đứa con
trai ông ta còn nhỏ tuổi, hiện đang học ở trường địa phường nhà, chạy theo bên
cạnh, khóc nức nở và xin tha cho bố, van xin mọi người can thiệp giúp, nhưng
người ta chỉ cười. Xin lỗi chú Alecxei Fedorovich, nhưng tôi không thể không phẫn
nộ khi nhớ lại việc làm đáng xấu hổ như thế của anh ấy… một việc mà chỉ có
Dmitri Fedorovich dám làm khi tức giận… hay đam mê! Tôi không thể kể lại được,
không đủ can đảm… Tôi nói lộn xộn quá. Tôi đã dò hỏi về người bị xúc phạm và được
biết ông ta rất nghèo. Họ ông ta là Xneghirev. Do phạm lỗi gì đó trong công vụ,
ông ta bị thải hồi, tôi không thể kể rõ với chú được, bây giờ ông ta sống với
gia đình, một gia đình khổ sở gồm những đứa con ốm và bà vợ đâu như bị điên,
ông ta rơi vào cảnh nghèo nàn ghê gớm. Ông ta ở thành phố này đã lâu, làm gì
không rõ, đâu như làm nghề chép thuê, nhưng bây giờ bỗng dưng mất việc. Chợt
nhìn chú, tôi nghĩ… tôi không biết nói thế nào… chú ạ tôi muốn nhờ chú, chú
Alecxei Fedorovich rất mực nhân hậu của tôi, tôi nhờ chú đến nhà ông ta, tìm cớ
gì đến nhà ông ta, cái ông đại uý ấy mà. Trời ơi, tôi nói lộn xộn quá, chú làm
cách nào tể nhi. dè dặt, chỉ có chú mới biết cách làm như thế (Aliosa bỗng đỏ mặt)
đưa cho ông ta hai trăm rúp để giúp ông ta. Chắc là ông ấy sẽ nhận… nghĩa là
nói khéo thế nào để ông ta nhận. Hay là không, thế nào nhỉ? Chú ạ, đây không phải
là tiền lo lót cho ông ta chịu thôi đi, đừng thưa kiện (bởi vì hình như ông ta
định thưa kiện), đây chỉ là để bày tỏ sự đồng tình, là ý muốn giúp đỡ của tôi,
vợ chưa cưới của Dmitri Fedorovich, chứ không phải của chính anh ấy… Tóm lại,
chú làm được… lẽ ra tôi tự đến, nhưng chú làm việc đó khéo hơn tôi nhiều. Ông
ta ở phố Ozero, trong ngôi nhà của bà Kanmykova… Vì Chúa. Alecxei Fedorovich,
hãy giúp tôi việc ấy, còn bây giờ… bây giờ… bây giờ tôi hơi mệt. Tạm biệt…
Nàng bỗng quay ngoắt đi và lại biến sau tấm rèm cửa, không để
Aliosa kịp nói một lời nào, mà anh thì muốn lên tiếng. Anh muốn xin tha thứ, muốn
xin tha thứ, muốn quy lỗi cho mình, muốn nói một điều gì vì trái tim anh tràn ứ,
anh không muốn cứ thế mà ra về. Nhưng bà Khokhlakova cầm lấy tay anh và dẫn anh
ra. Ở phòng ngoài, bà lại giữ anh lại như ban nãy.
- Cô ấy kiêu hãnh, đang cố vượt thắng bản thân mình, nhưng cô
ấy nhân hậu, đáng yêu, rộng lượng! - Bà Khokhlakova thì thầm thốt lên. - Ôi,
tôi yêu cô ấy biết chừng nào, đôi lúc như thế, và bây giờ tôi vui mừng xiết bao
về mọi sự! Anh Alecxei Fedorovich thân mến, điều này anh không biết đâu, anh ạ,
tất cả chúng tôi, - tôi, hai bà cô của cô ấy, ngay cả Liza, - suốt một tháng
nay chúng tôi chỉ mong muốn điều ấy và cầu cho cô ấy đoạn tuyệt với Dmitri
Fedorovich của anh, vì anh ta, không đếm xỉa đến cô ấy và không yêu cô ấy, cầu
mong cho cô ấy lấy Ivan Fedorovich, chàng trai có học và rất tốt, yêu cô ấy hơn
hết thảy mọi thứ trên đời. Chúng tôi đã sắp đặt một âm mưu, có lẽ chỉ vì thế mà
tôi chưa đi khỏi đây…
- Nhưng chị ấy khóc, chị ấy lại bị xúc phạm kia mà! - Aliosa
kêu lên.
- Đừng tin nước mắt đàn bà, Alecxei Fedorovich! Tôi luôn luôn
chống lại đàn bà trong trường hợp này, tôi về phe đàn ông.
- Mẹ ơi, mẹ làm hư anh ấy đấy. - tiếng Liza lanh lánh sau cửa.
- Không, tất cả là tại tôi, tôi có lỗi nhiều lắm! - Aliosa vẫn
không nguôi, anh nhắc lại, đau đớn hổ thẹn vì sự thất thố của mình, thậm chí
hai tay bưng mặt vì xấu hổ.
- Trái lại anh xử sự như một thiên thần, như một thiên thần,
tôi sẵn sàng nhắc lại điều đó nghìn vạn lần.
- Mẹ ơi, anh ấy làm gì mà lại như một thiên thần? - Lại tiếng
Liza.
- Không hiểu sao khi nhìn tất cả những sự việc ấy, tôi bỗng
tưởng tượng rằng chị ấy yêu anh Ivan, - Aliosa nói tiếp, dường như không nghe
thấy tiếng Liza, - thế là tôi nói ra ý nghĩ ngu ngốc ấy… bây giờ rồi sẽ ra sao!
- Nhưng với ai, với ai ha! - Liza la lên. - Mẹ ơi, mẹ làm con
chết mất thôi. Con hỏi mà mẹ không trả lời.
Lúc đó hầu phòng chạy vào.
- Tiêu the Ekaterina Ivanovna khó ở… Tiểu thư khóc… lên cơn
thần kinh, vật vã.
- Thế là thế nào. - Liza kêu lên, giọng đầy lo lắng. - Mẹ ơi,
có mà con sẽ lên cơn thần kinh thì có, chứ không phải cô ấy!
- Liza, vì Chúa, đừng có la hét, con làm mẹ chết mất thôi. Ở
tuổi con không thể biết hết những chuyện mà người lớn được biết, rồi mẹ sẽ đến
với con và kể cho con nghe tất cả những gì có thể cho con biết được. Trời ơi!
Tôi chạy đi đây.… Lên cơn thần kinh, đấy là dấu hiệu tốt lành. Alecxei
Fedorovich ạ, cô ấy phát cơn thần kinh thì tuyệt quá. Chính là phải như thế.
Trong trường hợp này bao giờ tôi cũng chống lại đàn bà, tôi chống lại tất cả những
cơn thần kinh ấy và nước mắt đàn bà, Iulia, chạy đến bảo với tiểu thư rằng tôi
sẽ lại ngay. Còn về việc Ivan ra đi như thế là lỗi tại cô ấy. Nhưng anh ấy sẽ
không đi đâu. Liza, hãy, vì Chúa, đừng có la hét!
- Ơ mà con có la, hét đâu, chính mẹ lá hét đấy chứ?
- Thứ lỗi cho mẹ của con, nhưng mà mẹ mừng quá, mừng quá đỗi!
Alecxei Fedorovich, anh có để ý thấy ban nãy Ivan Fedorovich đi ra nom trẻ
trung thế nào không, nói tất cả những điều đó và ra về! Tôi thiết nghĩ, một người
uyên bác như thế, một viện sĩ, vậy mà bỗng nhiên bộc lộ tình cảm một cách nòng
nhiệt, bộc trực và trẻ trung như thế, non nớt và trẻ trung, thật là tuyệt diệu,
tuyệt diệu, hệt như anh… Lại còn đọc thơ tiếng Đức nữa chứ, hệt như anh! Thôi,
tôi đi đây, tôi đi đây, Alecxei Fedorovich, anh hãy mau mau đi lo giúp cho cái
việc cô ấy nhờ cậy anh và trở lại ngay nhé. Liza, con có cần gì không? Vì Chúa,
đừng giữ Alecxei Fedorovich một chút nào nữa, anh ấy sẽ trở lại với con ngay
thôi mà…
Rút cục bà Khokhlakova cũng rời khỏi nơi này. Trước khi ra đi
Aliosa toan mở cửa vào gặp Liza.
- Không được! - Liza kêu lên. - Bây giờ thì nhất quyết không
được! Cứ đứng đấy mà nói, qua khe cửa. Vì lẽ gì anh được tôn lên hàng thiên thần
vậy? Tôi chỉ muốn biết điều ấy thỏi.
- Anh đã làm một việc ngu xuẩn kinh khủng. Liza ạ! Chào em
nhé.
- Trả lời quấy quá như thế rồi bỏ đi là không được đâu! -
Liza toan thét lên.
- Liza: anh đang có một nỗi đau buồn nghiêm trọng! Anh sẽ
quay lại, nhưng anh đang có một nỗi đau buồn lớn lao, một nỗi đau buồn lớn lao!
Và anh chạy ra khỏi phòng.
Chú thích:
(1) Tiếng Đức: tôi không cần được ban thưởng, thưa bà.
Chương 6
Nỗi vò xé trong gian nhà lụp xụp
Quả thực anh có một nỗi đau buồn nghiêm trọng hiếm khi anh gặp
phải. Anh đã lanh chanh "làm điều dại dột", mà trong việc gì kia chứ:
trong tình yêu! "Ta có hiểu gì về chuyện ấy đâu, ta hiểu quái gì về những
việc loại này?" - Anh đỏ mặt tự nhắc lại với mình lần thứ một trăm. - Ôi,
xấu hổ cũng không hề gì, xấu hổ chỉ là sự trừng phạt đích đáng đối với ta. Khốn
nỗi bây giờ chắc chắn ta là nguyên nhân gây ra những nỗi bất hạnh mới… Vậy mà
trưởng lão sai ta đi để giải hoà và làm cho mọi người đoàn kết lại. Làm cho người
ta đoàn kết như thế ư? Đến đây anh bỗng nhớ lại mình đã "tác thành cuộc
hôn nhân" như thế nào và anh hổ thẹn ghê gớm. Tuy ta làm tất cả những việc
đó một cách thành tâm, nhưng lần sau cần khôn ngoan hơn". - Anh bỗng kết
luận mà thậm chí không mỉm cười về kết luận của mình.
Ekaterina Ivanovna nhờ anh đến phố Ozero, anh Dmitri lại ở một
ngõ ngay gần phố Ozero, trên đường đi của anh. Aliosa quyết định dù thế nào
cũng lại đến nhà anh trước khi đến ông đại uý tuy anh linh cảm rằng sẽ không gặp
anh ở nhà. Anh ngờ rằng anh Dmitri lúc này có lẽ cố ý lẩn tránh anh, nhưng phải
tìm bằng được anh ấy. Thời gian trôi qua, ý nghĩ về trưởng lão sắp từ trần
không phút giây nào rời bỏ anh, kể từ lúc anh từ tu viện ra đi.
Trong sự việc Ekaterina Ivanovna nhờ cậy anh, có một tình tiết
làm anh hết sức quan tâm: khi Ekaterina Ivanovna nhắc tới thằng con trai nhỏ tuổi
đang đi học của viên đại uý, thằng bé chạy theo bên cạnh bờ, khóc lóc thì
Aliosa chợt nghĩ rằng đấy hẳn là đứa học trò vừa rồi đã cắn ngón tay anh khi
anh gặng hỏi nó xem anh đã làm gì xúc phạm đến nó. Bây giờ Aliosa hầu như tin
chắc như thế, tuy chính anh cũng chưa biết tại sao. Như vậy, bận tâm về những
chuyện khác, anh nguôi nguôi phần nào và quyết định không "nghĩ" tới "tai
hoạ" anh vừa gây ra, không giày vò mình vì hối hận nữa, mà giải quyết công
việc, rồi sau muốn ra sao thì ra.
Nghĩ như thế, anh phấn chấn hẳn lên. Khi rẽ vào ngõ nhà
Dmitri, anh cảm thấy đói, anh lấy trong túi ra chiếc bánh mì xin của bố và vừa
đi vừa ăn. Ăn vào anh thấy khỏe hẳn lên.
Dmitri không có nhà. Chủ nhà - người thợ mộc già, bà vợ già của
ông ta và đứa con trai - nhìn Aliosa với vẻ nghi ngờ. "Ba ngày nay cậu ấy
không ngủ ở nhà, có lẽ cậu ấy đi đâu xa" - đáp lại những câu hỏi nằn nì của
Aliosa, ông già trả lời. Aliosa hiểu rằng ông làm theo đúng lời dặn của anh
mình. Khi anh hỏi: "Anh ấy có ở nhà Grusenka không hay lại trốn tránh ở
nhà Foma?" (Aliosa có ý nói tuột ra như vậy), mọi người trong nhà sợ hãi
nhìn anh. "Như vậy là họ yêu mến anh ấy, đứng về phía anh ấy, - Aliosa
nghĩ, - thế là tốt".
Cuối cùng, ở phố Ozero anh tìm được nhà của bà tiểu thị dân
Kanmykova, một ngôi nhà nhỏ cũ kỹ, xiêu vẹo, chỗ có ba cửa sổ trông ra đường với
một cái sân bẩn thỉu, giữa sân một con bò cái đứng trơ trọi. Cửa quay ra sân, dẫn
vào phòng ngoài; bà già ở phía bên trái với người con gái cũng đã già, hình như
cả hai đều điếc: Aliosa hỏi về ông đại uý, hỏi đi hỏi lại mấy lần, cuối cùng một
trong hai người hiểu rằng anh hỏi những người thuê nhà, bèn giơ tay trỏ qua
phòng ngoài: ở đấy có cửa vào một gian nhà sạch sẽ. ông đại uý quả thực chỉ ở
gian ấy thôi. Aliosa toan nắm lấy cái tay sát mở cửa thì bỗng ngạc nhiên về sự
im ắng lạ thường ở bên trong. Theo lời Ekaterina Ivanovna, anh biết ông đại uý
về vườn ở với gia đình. "Hoặc là họ ngủ cả, hay có lẽ họ nghe tin mình đến,
nên đợi mình mở cửa; tốt hơn hết là ta gõ cửa", - và anh gõ cửa. Có tiếng
trả lời, nhưng không phải là ngay tức thời, mà có lẽ đến mười giây sau.
- Ai đấy? - Có tiếng quát to, đặc biệt cáu kỉnh.
Aliosa mở của bước vào. Gian nhà khá rộng nhưng đầy người và
bộn bề đủ thứ đỗ dùng trong nhà. Phía bên trái là một bếp lò Nga khá lớn. Một sợi
dây thừng từ bếp lò đến cửa sổ bên trái, xuyên qua cả gian phòng, treo các thứ
quần áo linh tinh rách rưới. Tường bên trái và tường bên phải, mỗi bên kê một
chiếc giường trái tấm chăn đan lấy. Giường bên trái lù lù một chồng bốn chiếc gối
vải hoa xếp theo thứ tự từ lớn đến nhỏ. Giường bên phải chỉ có một chiếc gối rất
nhỏ. Xa chút nữa, ở góc phía trước, một tấm rèm hay tấm khăn trải giường cùng
treo trên sợi dây căng chéo, ngăn ra một khoảng nhỏ. Sau tấm rèm là chiếc giường
ghép bởi một chiếc ghế dài và chiếc ghế dựa kề liền vào nhau. Một chiếc bàn
vuông đơn sơ kiểu nông dân kê gần cửa sổ giữa. Cả ba cửa sổ, mỗi cửa có bốn ô cửa
bánh nhỏ màu lá mạ mốc meo, đều rất mờ và đóng bên, thành thử trong phòng khá
ngột ngạt và không sáng lắm. Trên bàn có cái chảo với ít trứng tráng còn lại, một
ổ bánh mì đã cắt phần phía trên, ngoài ra còn có một chai rượu chỉ còn dính đáy
chai. Cạnh giường bên trái có một người đàn bà ngồi trên ghế, nom bà ta như một
phu nhân, mặc áo dài váy hoa. Mặt bà ta rất gầy, vàng vọt; đôi má hõm sâu cho
thấy ngay rằng, bà ta đau ốm. Nhưng điều làm Aliosa ngạc nhiên nhất là cái nhìn
của người đàn bà tội nghiệp: vừa rất đỗi băn khoăn lại vừa hết sức kiêu kỳ. Trong
lúc Aliosa nói chuyện với ông chủ, bà ta không nói gì, chỉ đưa cặp mắt to màu
cánh gián nhìn hết người này đến người kia, vẫn với vẻ dò hỏi và kiêu kỳ như thế.
Đứng ở cửa sổ bên trái, gần người đàn bà ấy, là một cô gái khuôn mặt khá xấu
xí, tóc màu hung thưa thớt, y phục xoàng xĩnh, nhưng rất tề chỉnh. Cô ta nhìn
Aliosa vừa vào với vẻ khinh miệt. Ngồi ở mé bên phải, cùng bên cạnh giường, còn
có một phụ nữ nữa. Đấy là một con người rất tội nghiệp, cũng là một cô gái trẻ,
tuổi trạc đôi mươi, gù, không đi lại được, bị teo chân, như người ta nói với
Aliosa sau này. Đôi nạng của cô ta dựng gần đấy, trong góc nhà, giữa chiếc giường
và tường. Cặp mắt tuyệt đẹp và nhân hậu của cô gái tội nghiệp nhìn Aliosa với một
vẻ nhu mì điềm tĩnh. Ông chủ nhà ngồi ở bàn, đang ăn nốt món trứng tráng, ông
khoảng bốn mươi lăm tuổi, không lấy gì làm cao, gầy yếu, tóc hung, râu màu hung
thưa thớt, rất giống búi xơ mướp tơi tả, (sự so sánh đó và đặc biệt là tiếng
"búi xơ mướp" không hiểu sao chợt lóe lên trong trí Aliosa ngay lúc mới
thoạt nhìn, sau này anh nhớ lại như vậy). Rõ ràng đấy chính là người đã quát
lên "Ai đấy!" ở sau cửa, vì trong nhà không còn người đàn ông nào
khác. Nhưng khi Aliosa vào. Ông ta dường như bật dậy khỏi chiếc ghế băng mà ông
ta đang ngồi, đưa tấm khăn ăn rách lau miệng qua quít, rồi đâm bổ đến chỗ
Aliosa.
- Thầy tu đi quyên tiền cho tu viện, rõ khéo tìm người hằng
tâm! - Cô gái đứng ở góc nhà bên trái nói to. Nhưng người đàn ông chạy đến gặp
Aliosa tức khắc xoay mình bằng gót giày, quay vẻ phía cô gái, trả lời cô ta bằng
giọng xúc động, đứt quãng.
- Không, Varvara Nikolaevna, không phải thế đâu, con đoán
không đúng rồi! Xin cho phép hỏi, - đột nhiên ông ta lại quay về phía Aliosa. -
Có việc gì khiến ông đến… cái hang hốc này?
Alecxei chăm chú nhìn ông ta, lần đầu tiên anh gặp con người
này. Ở ông ta có cái gì đó góc cạnh, vội vã và cáu kỉnh. Tuy rõ rằng ông ta vừa
uống rượu, nhưng không say. Mặt ông ta nom cực kỳ trâng tráo, đồng thời kỳ lạ
thay, lại tính tình là nhát gan. Ông ta giống như một người bao lâu nay vẫn phục
tùng và chịu đựng, nhưng đột nhiên vùng lên và muốn tỏ rõ mình cũng như ai. Hay
đúng hơn nữa, ông ta giống một người rất muốn đánh kẻ khác nhưng rất sợ bị đánh
lại. Lời nói và âm sắc giọng nói khá chói tai của ông ta có một vẻ hài hước
điên khùng, khi thì độc ác, khi thì rụt rè, khi thì hổn hển và đứt quãng. Khi
nói đến "cái hang hốc", toàn thân ông ta run lên, mắt trợn ngược và
ông ta sấn sổ xông tới trước Aliosa đến nỗi tự dưng anh lùi lại một bước. Ông
ta mặc chiếc áo bành tô sẫm màu, rất tồi tàn, bằng vải Nam Kinh, vá víu và đầy
vết bẩn. Quần của ông ta màu rất sáng, loại quần đã lâu năm không ai mặc bằng
loại vải gì rất mỏng kẻ ô vuông, hai ống nhàu nát và ngắn cũn cỡn, khiến ông ta
như một gã thiếu niên lớn quá nhanh mà vẫn phải dùng quần cũ.
- Tôi là… Alecxei Karamazov.
- Tôi rất hiểu, - ông ta xẵng giọng đáp, như để cho Aliosa hiểu
rằng chỉ cân nói ông ta cũng đã biết anh là ai. - Còn về tôi, tôi là đại uý
Xneghiriov. Nhưng tôi chỉ muốn biết lý do gì xui khiến ông…
- Tôi tiện đường ghé vào thôi. Thực ra, riêng tôi thì tôi muốn
nói với ông một lời… Nếu như ông cho phép…
- Nếu vậy thì ghế đây, mời ông ngồi. Trong các hài kịch thời
xưa người ta nói: "Thỉnh tiên sinh an toạ"… - bằng một cử chỉ nhanh
nhẹn, ông đại uý vơ lấy chiếc ghế gỗ kiểu nhà quê đơn sơ, không bọc gì hết, đặt
ghế gần như ở giữa phòng, rồi vơ lấy chiếc ghế nữa cũng như thể cho mình, ngồi
xuống trước mặt Aliosa, gần cận đến nỗi đầu gối hai người hầu như chạm vào
nhau.
- Tôi là Nikolai Ilych Xneghiriov, cựu đại uý bộ binh Nga,
tuy có bị ô danh vì nhưng thói xấu của mình, nhưng vẫn là đại uý. Nhưng tôi có
gì đáng cho ông để ý đến thế, vì tôi sống trong một hoàn cảnh không thể bày tỏ
lòng mến khách được.
- Tôi đến… chính về việc ấy…
- Chính về việc ấy ư? - ông đại uý nóng nảy ngắt lời.
- Về cuộc gặp gỡ giữa ông và anh Dmitri tôi. - Aliosa nói một
cách ra ngượng ngập.
- Cuộc gặp gỡ nào? Có phải là chính cuộc gặp gỡ ấy không? Vậy
là về búi xơ mướp, búi xơ mướp kỳ lưng phải không? - ông ta bỗng xích tới gần đến
nỗi lần này đầu gối đụng hẳn vào Aliosa, môi ông ta mím lại thành một đường mảnh
như sợi chỉ.
- Búi xơ mướp nào kia? - Aliosa nói lý nhí.
- Ông ta đến mách ba về con đấy, ba ạ. - có tiếng nói to sau
tấm màn ở góc nhà, Aliosa nhận ra tiếng nói của thằng bé đã gặp ban nãy. - Vừa
rồi con cắn ngón tay ông ấy đấy!
Tấm màn vén lên, Aliosa nhìn thấy kẻ thù hồi nãy của mình
trong góc nhà, dưới những bức ảnh thánh, nằm trên tấm nệm giường trải trên chiếc
ghế băng và chiếc ghế dựa ghép lại. Thằng bé đắp chiếc măng tô của nó và tấm mền
bông cũ kỹ.
Rõ ràng nó ốm, và cứ nom đôi mắt rừng rực của nó thì biết nó
đang lên cơn sốt. Bây giờ nó nhìn Aliosa một cách gan dạ, khác trước, ra ý:
"Tôi đang ở nhà, anh không động được đến tôi"
- Con cắn ngón tay nào kia? - ông đại uý nhổm dậy trên ghế.
- Thế ra nó cắn ngón tay ông ư?
- Vâng, vừa rồi em nó và một bọn trẻ dùng đá ném nhau ở ngoài
phố, chúng nó sáu đứa, mà em ấy chỉ có một mình. Tôi đến chỗ em ấy. Em ấy ném
đã vào tôi, một viên văng vào đầu. Tôi hỏi: Anh làm gì em nào? Em ấy bỗng nhảy
bổ tới và cắn vào ngón tay tôi rất đau, tôi không biết vì sao.
- Tôi cho nó một trận ngay bây giờ. Cho luôn một trận - ông đại
uý chồm dậy khỏi ghế.
- Không phải tôi than phiền đâu, tôi chỉ thuật lại chuyện đã
xảy ra thôi… tôi hoàn toàn không muốn đánh em ấy. Vả lại hình như em ấy ốm…
- Thế ông tưởng tôi sẽ đánh nó chắc! Ông tưởng tôi sẽ đánh
Iliuxa trước mặt ông để ông hả dạ chắc? Ông cần thấy tôi đánh ngay phải không?
- ông đại uý nói, đột nhiên quay về phía Aliosa, coi bộ như chực nhảy xổ vào
anh. - Thưa tiên sinh, tôi lấy làm tiếc về ngón tay của ngài, nhưng ngài có muốn
trước khi đánh Iliusetrka, tôi sẽ chặt bốn ngón tay tôi ngay bây giờ, trước mắt
ngài để cho ngài được hả dạ một cách chính đáng không, nếu vậy tôi sẽ dùng con
dao này chặt ngay bây giờ. Tôi thiết tưởng bốn ngón tay cũng đủ để làm đã cơn
khát khao trả thù của ngài chứ ạ, ngài sẽ không đòi ngón thứ năm chứ?… - ông ta
bỗng dừng lại và dường như ngạt thở. Mỗi đường nét trên mặt ông đều rung động
và co giật, mắt đầy vẻ thách thức. Ông ta như điên dại.
- Bây giờ hình như tôi đã hiểu hết. - Aliosa nói khẽ, giọng
buồn bã và vẫn ngồi. - Vậy thì con trai ông là đứa con tốt, nó yêu bố và trừng
trị tôi vì tôi là em của kẻ đã xúc phạm ông… Bây giờ thì tôi hiểu. - Anh trầm
ngâm nhắc lại. - Nhưng anh Dmitri tôi hối hận về hành động của mình, tôi biết,
và hễ có dịp đến ông được hay tốt hơn hết là gặp ông vẫn chỗ ấy dù anh ấy sẽ
xin lỗi cho ông trước tất cả mọi người… nếu ông muốn.
- Nghĩa là vặt râu người ta xong rồi xin lỗi… Ta đã cho hắn
lãnh đủ và ta thoả mãn rồi, thế chứ gì?
- Ồ không, trái lại, anh ấy sẽ làm tất cả những gì ông muốn
theo cách ông muốn!
- Vậy nếu tôi đòi vị đại nhân ấy quỳ trước mặt tôi trong
chính quán rượu ấy nó tên là quán "Thủ đô" - hay trên quảng trường
thì ông ta có chịu không?
- Vâng, anh ấy sẽ làm như thế.
- Ông làm tôi cảm động quá. Ông làm tôi cảm động quá đến rơi
nước mắt. Tôi đến là hay mủi lòng. Cho phép tôi giới thiệu: đây là cả gia đình
tôi, hai con gái và con trai tôi, dòng dõi của tôi. Tôi mà chết đi thì ai sẽ
yêu thương chúng? Trong lúc tôi còn sống thì ai yêu thương một kẻ hèn hạ như
tôi, ngoài chúng ra? Đấy là một điều vĩ đại mà Thượng đế đã sắp đặt nên cho mỗi
người thuộc loại như tôi. Bởi vì cũng cần làm sao cho mỗi người thuộc loại tôi
được một người nào yêu mến chứ…
- Chao ôi, hoàn toàn đúng như vậy! - Aliosa kêu lên.
- Thôi đi diễn trò hề như thế đủ lắm rồi đấy: bất cứ thằng ngốc
nào đến là ba cũng bêu riếu cả nhà! - Cô gái ở gần cửa sổ bất chợt kêu lên với
ông bố, vẻ mặt kinh tởm và miệt thị.
- Khoan khoan đã, Varvara Nikolaevna, hay để ba tiếp tục luồng
ý nghĩ của ba. - ông bố quát cô ta bằng giọng quyền uy, nhưng lại nhìn cô ta với
vẻ hoàn toàn tán thành, - ấy tính nết nó thế đấy. - ông ta lại quay về phía
Aliosa:
Trong khắp cả thiên nhiên
Nó không muốn ban phép lành gì hết(1)
Nghĩa là nên đổi sang giống cái: cô ả không muốn ban phép
lành gì hết. Nhưng cho phép tôi giới thiệu ông với vợ tôi: đây là Anna Peerovna,
một phu nhân bại liệt, bốn mươi ba tuổi, đi lại được, nhưng một chút thôi. Con
nhà thường dân, Anna Petrovna, hãy, tươi nét mặt lên chút nào: đây là ông
Alecxei Fedorovich Karamazov. Đứng dậy. Alecxei Fedorovich, - ông ta nắm lấy
tay anh và đột nhiên kéo anh đứng lên với một sức mạnh mà anh không thể nào ngờ
tới. - ông được giới thiệu với một phu nhân, phải đứng dậy chứ. Không phải
Karamazov kia đâu, mẹ nó ạ… hừm, mà đây là em trai gã kia, người này đức độ hiền
lành. Anna Petrovna, cho phép tôi hôn tay bà đã nhé.
Và ông ta kính cẩn, thậm chí là âu yếm hôn tay vợ. Cô gái đứng
ở cửa sổ bực bội quay mặt đi tránh nhìn cảnh tượng ấy, gương mặt băn khoăn kiêu
kỳ của bà vợ bỗng trở nên trìu mến lạ thường.
- Chào ông, xin mời ngồi, ông Tremomazov - Bà ta nói.
- Karamazov, bà nó ạ. Karamazov (Chúng tôi là người bình dân
mà). - ông đại uý thì thầm nhắc.
- Ừ thì Karamazov hay gì cũng được, nhưng bao giờ tôi cũng cứ
gọi là Tremomazov… ông ngồi xuống đi, ông ấy kéo ông đứng dậy làm gì kia chứ? Bại
chân, ông ấy nói thế, nghĩa là có chân nhưng chân sưng tướng lên bằng cái xô,
còn thân hình tôi thì héo quắt đi. Trước kia tôi béo khiếp lên được, còn bây giờ
thì như nuốt phải cái kim…
- Chúng tôi là người bình dân, người bình dân mà. - ông đại
uý nhắc lại lần nữa.
- Ba ơi, ba ơi! - Cô gái gù bỗng thốt lên và lấy khăn tay che
mắt, nãy giờ cô vẫn ngồi im trên ghế của mình.
- Rõ là hề! - Cô gái đứng bên cửa sổ buột miệng kêu lên.
- Ông thấy ở nhà chúng tôi thế nào rồi đấy, - bà mẹ giang hai
tay ra, trỏ hai người con gái, - như có những đám mây lướt qua, mây trôi qua
thì âm nhạc của chúng tôi lại nổi lên. Trước kia, khi chúng tôi còn là quân
nhân, thì có nhiều vị khác cũng như ông đến thăm chúng tôi. Ông ạ, tôi không so
bì đâu. Ai yêu ai thì tuỳ chứ. Vợ viên trợ tế hồi ấy thường hay đến và nói:
"Alecxandr Alecxandrovich là con người có tâm hồn tuyệt vời, còn Nataxia
Petrovna là con quỷ cái". - "Ờ, - tôi trả lời, - cái đó còn tuỳ theo
ta yêu ai, còn mày chỉ là một đống cỏn con, lại hôi thối nữa". - "Cái
thứ như mày, - chị ta nói, - là cứ phải trị thẳng tay mới xong". -
"A, mày là con quỷ đen tối hiểm độc, - tôi bảo ả, mày đến dạy ai đấy?"
- "Tao hít thở không khí trong sạch, - ả nói, - còn mày hít thở không khí
ô uế" - "Mày hay hỏi tất cả các ngài sĩ quan xem, - tôi đáp, - không khí
trong người tao là không khí trong sạch hay thế nào?" Từ đó, điều ấy cứ đè
ép mải trong tâm tư tôi đến nỗi mới vừa rồi, tôi ngồi ở đây như lúc này, tôi thấy
chính vị tướng quân ấy đi vào, ngài đến đây nhân tuần lễ thánh. "Thưa tướng
quân, - tôi nói với ngài, - phu nhân cao quý của ngài có được hít thở không khí
tự do không ạ?" - "Có chứ, - ngài trả lời, - nhà này cần mở cửa thông
gió hay cửa lớn ra, bởi vì không khí ở đây tù hãm quá". Đúng là mọi cái đều
như thế. Can gì họ bận tâm đến không khí của tôi? Mùi tử thi cũng không khó chịu
hơn. "Tôi sẽ không làm hỏng không khỉ của các người, - tôi nói, - tôi sẽ
thứ đôi giày và sẽ đi nơi khác.
- Ôi các con thân yêu, đừng trách móc mẹ của các con! Nikolai
Ilych mình ơi, phải chúng tôi không còn vừa ý mình nữa, bây giờ tôi chỉ còn có
thằng Iliusetrka, chỉ có nó yêu mến tôi khi nó đi học về. Hôm qua nó mang về một
quả táo. Thứ lỗi cho tôi, hỡi những người thân yêu của tôi, thứ lỗi cho mẹ, các
con yêu quý, mẹ hoàn toàn cô độc, tại sao các con lại ghê tởm không khí của mẹ!
Người đàn bà tội nghiệp bỗng oà khóc nức nở, nước mắt tuôn
như suối ông đại uý đâm bổ đến với vợ.
- Bà nó ơi, bà nó ơi, mình ơi, thôi, thôi mà! Minh không cô
đơn đâu Cả nhà yêu mình cả nhà tôn sùng mình! - ông ta lại hôn cả hai tay vợ và
dùng hai tay âu yếm vuốt ve mặt bà ta: ông ta vơ lấy chiếc khăn ăn lau nước mắt
cho bà ta. Aliosa có cảm giác như chính anh cũng ứa lệ. - Nào, ông nhìn thấy chứ?
Nghe thấy chứ? - ông ta đột nhiên hung hãng quay về phía anh, giơ tay chỉ người
vợ mất trí tội nghiệp.
- Tôi nhìn thấy và nghe thấy, - Aliosa nói lí nhí.
- Ba ơi, ba! Chẳng lẽ có ông ta, ba lại… Mặc xác ông ta, ba!
- Thằng bé bỗng hét lên, nhỏm dậy trên chiếc giường của nó và nhìn bố bằng tia
mắt nảy lửa.
- Này thôi, làm trò hề đủ rồi đấy, đừng giở trò ngu ngốc nữa,
không đi đến đâu đâu! - Varvara Nikolaevna bỗng gào lên vẫn từ cái góc buồng ấy,
cô ta đã điên tiết lắm rồi, thậm chí giậm chân xuống sàn.
- Lần này con nổi nóng thật bất công quá đấy. Varvara
Nikolaevna ạ, ba sẽ làm con vừa lòng ngay đây. Xin mời ông đội mũ vào, chúng ta
sẽ đi chỗ khác. Cần phải nói với ông một điều nghiêm chỉnh, nhưng không phải ở
đây. Cô gái đang ngồi kia là con gái tôi. Nina Nikolaevna, tôi quên không giới
thiệu với ông, đấy là một thiên thần bằng da bằng thịt… từ trên trời xuống với
người trần… nếu như ông có thể hiểu được điều đó - Kìa, ông già run bắn cả người
lên như cơn linh giật. - Varvara Nikolaevna vẫn phẫn uất. Còn cô gái vừa giẫm
chân với tôi và gọi tôi là hề cũng là một thiên thần bằng xương bằng thịt đấy,
và gọi tôi như thế cũng là phải. Chúng ta đi đi, ông Alecxei Fedorovich, cần giải
quyết cho xong…
Ông ta năm lấy tay Aliosa, kéo anh ra khỏi phòng, đưa thẳng
ra đường.
Chú thích:
Câu trong bài "Con quỷ" của Lermontov (N.D).
Chương 7
Ngoài trời thoáng đãng
- Không khí ở đây trong sạch, chứ ở cung điện của chúng tôi
thì thật là tù hãm, hiểu theo mọi nghĩa. Chúng ta đi thủng thẳng thôi thưa ông.
Tôi rất muốn thu hút sự quan tâm của ông.
- Tôi cũng có một việc rất quan trọng muốn nói với ông… -
Aliosa nói. - Có điều tôi không biết bắt đầu từ đâu.
- Làm gì mà không biết được rằng ông đến tôi là có việc.
Không có việc thì hẳn là chẳng bao giờ ông quá bộ đến nhà tôi. Chẳng lẽ ông đến
chỉ để mách tội thằng bé nhà tôi thôi à? Không có nhẽ? Nhân tiện xin nói về thằng
bé: tôi không thể nói rõ mọi ngọn ngành với ông được, nhưng bây giờ tôi sẽ miêu
tả cho ông thấy cảnh tượng ấy. Ông ạ, mới một tuần trước thôi, búi xơ mướp dày
rậm hơn - tôi nói về bộ râu của tôi đấy; người ta gọi bộ râu của tôi là búi xơ
mướp mà, chủ yếu là bọn học trò. Thế này nhé, hôm ấy anh Dmitri Fedorovich của
ông túm râu tôi lôi từ quán rượu ra quảng trường, đúng vào lúc tan học, thằng
Iliusa cùng ra về với chúng bạn. Thấy tôi như thế, nó chạy bổ đến với tôi: Ba
ơi", nó la lên, "ba ơi!". Nó níu lấy tôi. Ôm tôi, muốn giằng tôi
ra, gào lên với kẻ làm nhục tôi: "Buông ra, buông ra, đây là ba tôi, ba
tôi, tha thứ cho Người" - nó gào lên như thế: "Xin hãy tha thứ".
Nó cũng níu lấy ông ta bằng đôi tay nhỏ bé, và hôn tay ông ta, hôn chính bàn
tay ấy… Tôi nhớ giây phút ấy, khuôn mặt lúc ấy, tôi không quên và không bao giờ
quên được!
- Tôi thề với ông, - Aliosa kêu lên, - anh tôi sẽ bày tỏ với
ông sự hối hận thành thực nhất, đầy đủ nhất, thậm chí là quỳ gối ngay trên quảng
trường ấy…
- A ha, đấy mới là dự định, không phải trực tiếp từ ông ta,
mà chỉ là do sự cao quý của cái tim nồng nhiệt của ông mà có. Đáng ra ông nên
nói luôn như thế thì hơn. Không, nếu vậy hãy cho phép tôi nói nốt về tinh thần
nghĩa hiệp và thượng võ của anh ông, bởi vì hôm ấy ông ta đã bộc lộ rõ. Sau một
chập túm râu tôi lôi đi, ông ta buông tôi ra: "Mi là sĩ quan, - ông ta
nói, - ta cũng là sĩ quan nếu mi tìm được một người đứng đắn ra làm chứng thì bảo
người đó đến tìm ta, ta sẽ cho mi được toại ý, mặc dù mi là kẻ vô lại!"
ông ta nói thế đấy. Đích thị là tinh thần hiệp sĩ! Sau đó tôi ra về với thằng
Iliusa, nhưng cái cảnh tượng gia đình truyền kiếp ấy mãi mãi hằn lại trong tâm
hồn nó. Không, như vậy thì chúng tôi còn là quý tộc đâu nữa. Thì ông cứ suy xét
xem, ông vừa ở nhà tôi ra, ông thấy gì? Ba phụ nữ, một người bại liệt và lẩn thẩn,
một người bại liệt và gù, người thứ ba đi lại được, nhưng quá thông minh, sinh
viên, đang háo hức trở lại Peterburg để đi tìm quyền lợi cho phụ nữ trên bờ
sông Neva. Về Iliusa thì tôi không nói, nó mới có chín tuổi, đơn thương độc mã,
bởi vì nếu tôi chết đi thì cả nhà tôi sẽ ra sao, tôi chỉ hỏi ông câu ấy thôi? Bởi
vậy nếu tôi thách đấu với ông ta mà chẳng may ông ta giết chết tôi thì cơ sự sẽ
ra sao? Cả nhà tôi sẽ ra sao? Tệ hại hơn nữa, nếu không bị giết chết, mà chỉ
tàn tật: không làm gì được nữa, mà vẫn cần ăn, khi ấy ai nuôi tôi, ai sẽ nuôi cả
nhà? Hay Iliusa sẽ phải thôi học để ngày ngày đi ăn xin? Đối với tôi, thách đấu
ông ta là như thế đấy, chỉ là chuyện dớ dẩn, có vậy thôi.
- Anh ấy sẽ xin lỗi ông, sẽ khấu đầu dưới chân ông giữa chốn
đông người. - Aliosa lại kêu lên, ánh mắt rực lửa.
- Tôi muốn kiện ông ta, - đại uý nói tiếp, - nhưng ông hãy giở
bộ luật của chúng ta ra mà xem, dù tôi có được kiện thì kẻ làm nhục tôi có phải
bồi thường cho tôi nhiều lắm không? Đã thế Agrafena Alecxandovna còn gọi tôi đến
và quát mắng: "Đừng có mà dại! Người mà kiện anh ấy thì ta sẽ làm tóe loe
ra cho cả bàn dân thiên hạ biết rằng anh ấy đánh ngươi là vì ngươi lừa bịp, như
vậy thì chính ngươi sẽ bị lôi ra toà". Chỉ có Trời biết ai sai khiến tôi lừa
bịp và cái thứ tôm tép như tôi hành động như thể là theo lệnh của ai - chẳng phải
là do chính cô ta và cụ Fedor Pavlovich sai bảo hay sao? Cô ta còn nói thêm:
"Ta sẽ đuổi cổ nhà ngươi đi, nhà người sẽ không kiếm được đồng nào của ta
nữa. Ta sẽ nói với ông thương gia của ta, (cô ta gọi ông già ấy là: ông thương
gia của ta) ông ấy cũng sẽ đuổi cổ nhà ngươi đi". Tôi nghĩ: nếu như cả ông
thương gia cũng đuổi tôi nữa thì tôi kiếm sống bằng cách nào? Tôi chỉ có hai
người thôi, bởi vì cụ Fedor Pavlovich nhà ông chẳng những không tin cậy tôi nữa
vì một nguyên nhân khác, mà dựa vào những giấy biên nhận của tôi hiện đang ở
trong tay cụ, cụ còn muốn đưa tôi ra toà. Vì thế tôi đành ngậm miệng, ông đã thấy
cái hang chuột của tôi rồi đấy. Bây giờ xin hỏi: thằng Iliusa nó cắn ngón tay
ông có đau không? Ở nhà tôi không dám hỏi kỹ trước mặt nó.
- Đau lắm. Em ấy rất tức tối. Em ấy trả thù tôi vì tôi là người
của gia đình Karamazov, bây giờ thì tôi hiểu rõ rồi. Nhưng giá như ông thấy em
nó ném đã với bọn bạn học như thế nào. Nguy hiểm lắm, trẻ con nó dại dột, một
hòn đá có thể choang vỡ đầu.
- Nó cũng bị trúng một hòn rồi đấy chứ, không vào đầu, nhưng
vào ngực, phía trên tim một chút, tím bầm, về đến nhà nó khóc rên rỉ, rồi nó ốm.
- Ông nên biết là chính em ấy đánh trước, vì căm uất thay cho
ông mà em ấy phát khùng lên, chúng nó bảo em đã rút dao díp đâm vào mạng sườn một
thằng bé tên là Kraxotkina…
- Tôi có nghe nói, nguy hiểm thật. Kraxotkina là một viên
chúc ở đây, có thể rầy rà đấy…
- Tôi khuyên ông, - Aliosa hăm hở nói tiếp, - nên cho em ấy
nghỉ học ở nhà một thời gian, để cho em nó nguôi nguôi… cho cơn tức giận đó qua
đi.
- Giận dữ! - Viên đại uý tiếp lời. - Đúng là giận dữ. Một đứa
bé mang trong lòng cơn giận dữ vĩ đại. Ông không biết những điều đó đâu. Hãy để
tôi kể lại thật rõ câu chuyện ấy. Số là sau khi xảy ra việc ấy, tất cả bạn học
trò ở trường đều trêu chọc nó, gọi nó là búi xơ mướp. Bọn học trò là ác lắm
kia: để riêng từng đứa thì chúng là thiên thần, tụ tập với nhau, đặc biệt là ở
trường, thì chúng thường rất ác. Chúng bắt đầu trêu chọc Iliusa, khơi dậy trong
nó đức tính cao quý. Một đứa con trai bình thường, yếu đuối sẽ cam chịu, xấu hổ
về bố mình, còn thằng này một mình chống lại tất cả để bênh vực bố. Bênh vực bố
và bảo vệ chân lý, bảo vệ sự thật. Bởi vì khi nó hôn tay anh ông và la lên với
ông ta: 'Thứ lỗi cho ba tôi, thứ lỗi cho ba tôi", nó phải dằn lòng biết chừng
nào, điều đó chỉ có Chúa Trời biết, tôi biết. Thế đấy, con cái chúng tôi -
không phải con cái các ông, mà con cái chúng tôi, con của những kẻ nghèo khổ, bị
khinh miệt, nhưng cao quý, - con cái chúng tôi biết rõ sự thật trên trái đất
ngay từ khi mới có chín tuổi đầu. Những người giàu làm sao mà biết được: suốt đời
họ không tìm hiểu sâu sắc như thế, còn thằng Iliusa nhà tôi thì ngay lúc nó hôn
tay ông ta trên quảng trường nó đã thấu hiểu toàn bộ chân lý, ngay lúc ấy. Chân
lý ấy đã nhập vào nó và làm nó mang thương tích suốt đời, - ông đại uý nói một
cách hăng say và như điên cuồng, nắm tay phải đấm vào lòng bàn tay trái như muốn
diễn tả cụ thể "chân lý" gây thương tích cho Iliusa của ông như thế
nào. - Ngay hôm ấy nó lên cơn sốt, mê sảng suốt đêm. Suốt ngày hôm ấy nó ít nói
với tôi, thậm chí hoàn toàn im lặng, tôi để ý thấy nó cứ nhìn tôi hoài từ trong
cái xó của nó, nó luôn luôn xán đến gần cửa sổ, làm như học bài, nhưng tôi thấy
nó chẳng màng gì đến bài vở đâu. Hôm sau tôi uống rượu, tôi chẳng còn nhớ gì mấy,
tôi thật là tội lỗi, là vì đau xót mà. Mẹ nó khóc. - Tôi yêu mẹ nó lắm, - chỉ
vì đau khổ mà tôi phung phí những đồng tiền cuối cùng. Thưa ông, xin chớ khinh
tôi; ở nước Nga chúng ta những người say rượu là người tốt bụng nhất. Những người
tốt bụng nhất ở nước ta là người say rượu. Hôm ấy tôi nằm bẹp và chẳng nhớ đến
Iliusa nữa, nhưng chính hôm ấy, ở trường từ sáng chúng bạn đã chế giễu nó; hét
vào mặt nó: "Búi xơ mướp, người ta túm búi xơ mướp của bố mày lôi ra khỏi
quán rượu còn mày chạy bên cạnh và xin tha thứ". Hôm sau nữa, nó đi học về,
tôi thấy mặt nó thất thần, tái xanh tái xám. Tôi hỏi: con làm sao thế? Nó lặng
thinh. Ở nhà thì không thể chuyện trò gì được, mẹ và các chị nó sẽ xen vào
ngay, các chị nó đã biết ngay từ hôm đầu tiên. Varvara Nikolaevna đã cằn nhằn
tôi: "Ba là thằng hề, ba mà có làm được việc gì cho ra hồn ư?" -
"Đúng thế, tôi nói, Varvara Nikolaevna ạ, chúng ta thì làm sao có được cái
gì cho ra hồn kia chứ?". Lần ấy tôi lảng tránh bằng cách như thế. Đến chiều
tôi đưa thằng bé đi dạo chơi. Ông nên biết rằng ngay từ trước đấy, chiều nào tôi
với nó cũng đi dạo chơi, trên chính con đường mà tôi với ông đang đi đây này, từ
cổng rào nhà chúng tôi đến tận tảng đã lớn nằm mơ trọi trên đường bên hàng rào
kia kìa, bắt đầu từ đó là bãi chăn thả của thành phố: một nơi rất hoang vắng và
tuyệt đẹp. Hai bố con tôi đi với nhau, tay nắm tay, như thường lệ; tay nó nhỏ
nhắn, ngón tay thanh mảnh, lạnh giá, nó vẫn bị đau ngực mà. "Ba ơi, nó
nói, ba!" - "Gì kia?" - tôi nói: tôi thấy mắt nó quắc lên.
"Ba ơi, nó làm nhục ba quá, ba ơi" - "Làm thế nào được, Iliusa"
- tôi nói. "Đừng chịu nhịn nó ba ạ, đừng chịu. Bọn ở trường con bảo rằng
nó cho ba mười rúp để ba chịu cho nó làm như vậy" - "Không, tôi nói,
Iliusa ạ, bây giờ ba không đời nào lấy tiền của nó". Thế là nó run cả người
lên, vồ lấy tay tôi mà hôn. "Ba ơi, nó nói, ba thách nó quyết đấu đi, ở
trường chúng nó chọc tức con, bảo ba là hèn nhát, không dám thách đấu, mà sẽ nhận
mười rúp của nó" - "Ba không thể thách đấu với nó, Iliusa ạ",
tôi đáp và trình bày vắn tắt với nó tất cả những gì mà tôi vừa nói với ông.
Nghe xong nó nói: "Ba ơi, ba, dù sao ba cũng đừng chịu dàn hoà; khi nào lớn
lên con sẽ thách đấu và con sẽ giết nó!". Mắt nó quắc lên, nảy lửa. Dẫu
sao tôi cũng là người bố, phải nói cho nó biết sự thật. Tôi bảo nó: "Giết
người là phải tội, dù là trong trận thách đấu đi nữa" - "Ba ơi, nó
nói, ba, khi nào lớn lên con sẽ quật ngã nó, con sẽ dùng liếm đánh bật kiếm của
nó đi, con xông tới quật ngã nó, vung kiếm lên vào bảo nó: bây giờ tao có thể
giết mày, nhưng tao tha cho mày, cứ giờ hồn!". Ông thấy đấy, thưa ông, ông
nên biết trong hai ngày ấy những gì đã diễn ra trong đầu nó, ngày đêm nó chỉ
nghĩ đến cuộc báo thù ấy, ban đêm hẳn là nó nói mê về chuyện ấy Mãi đến khi nó
đi học về bị đánh đau, ấy là ngày hôm kia, tôi mới biết hết, và ông nói phải,
tôi sẽ không cho nó đến trường ấy nữa. Tôi được biết là một mình nó chống lại cả
lớp và nó thách thức tất cả mọi người, nó điên tiết lên, tim nó bừng bừng lửa hận,
tôi sợ cho nó. Bố con tôi lại đi dạo. "Ba ơi, nó hỏi, ba ơi, có phải những
người giàu là người mạnh nhất trên đời phải không?" - "Đúng, tôi nói,
Iliusa ạ, trên đời không có ai mạnh hơn người giàu" "Ba ơi, nó nói, rồi
con sẽ giàu có, con sẽ trở thành sĩ quan: và sẽ đánh bại mọi địch thủ. Nga
hoàng sẽ ban thưởng cho con, khi ấy con về với ba và không kẻ nào dám… ".
Nó im lặng một lát rồi nói, môi nó vẫn run run như trước:
"Ba ơi nó nói, cái thành phố của chúng ta sao mà tồi quá đi thôi, ba ạ!"
"Đúng, tôi nói, Iliusetrka, thành phố của chúng ta chẳng lấy gì làm tử tế
lắm" - "Ba ơi, chúng ta chuyển sang thành phố khác đi nó nói, đến một
thành phố tử tế, ở đó không ai biết chúng ta" "Chúng ta sẽ đi, tôi
nói, sẽ đi, Iliusa ạ, bao giờ ba dành dụm đủ tiền thì đi". Tôi vui mừng vì
có dịp làm cho nó quên đi những ý nghĩ đen tối và tôi cùng với nó mơ ước dọn
nhà sang tỉnh khác, chúng tôi sẽ mua một con ngựa và một cỗ xe. "Chúng ta
sẽ để mẹ và các chị ngồi xe, che nắng che gió cho họ, còn bố con ta sẽ đi bên cạnh,
thỉnh thoảng ba sẽ cho con lên xe, còn ba sẽ đi bên cạnh, vì cần giữ sức ngựa,
không thể cả nhà ngồi xe được, chúng ta sẽ lên đường". Nó thích quá, cái
chính là sẽ có ngựa nhà và tự mình điều khiển ngựa. Ai chẳng biết trẻ con Nga
sinh ra đã mê ngựa. Bố con tôi huyên thuyên hồi lâu. Tạ ơn Chúa, tôi nghĩ, ta
đã làm cho nó khuây khoả, đã an ủi được nó. Đấy là chiều hôm kia, chiều hôm qua
thì khác hẳn. Buổi sáng nó lại đến trường, lúc về nó rầu rĩ, rất đỗi rầu rĩ. Buổi
chiều tôi cầm tay nó, dẫn đi dạo, nó im lặng không nói gì. Gió hây hây thổi, mặt
trời đã khuất, đã cảm thấy không khi mùa thu, trời đã tối, bố con tôi đi, cả
hai đau buồn rầu. "Này, con ơi, tôi nói, chúng ta sửa soạn lên đường như
thế nào đây?" - tôi định trở lại câu chuyện hôm qua. Nó lặng thinh. Tôi cảm
thấy những ngón tay nhỏ bé của nó run lên trong tay tôi. Bố con tôi đến tận chỗ
tảng đá này, như bây giờ đây, tôi ngồi xuồng tảng đá này, còn trên trời người
ta thả diều, tiếng diều u-u, vi vút, khoảng ba mươi chiếc. Bây giờ là mùa thả
diều mà. "Này, Iliusa ạ, tôi nói, bố con ta cũng nên đem chiếc diều năm
ngoái ra thả đi thôi. Ba sẽ chữa lại, con cất nó ở đâu rồi?" Thằng con tôi
im lặng, nhìn đi nơi khác, nó đứng bên cạnh tôi.
Gió bỗng nổi lên vù vù, cuốn tung cái bụi… Nó bỗng nhảy bổ
lên, hai tay ôm chầm lấy cổ tôi ghì thật chặt. Ông biết đấy, trẻ con mà trầm lặng
và kiêu hãnh, cố nén khóc thật lâu thì khi gặp nỗi đau xót lớn, không nén nổi nữa,
nước mắt sẽ tuôn ra như suối, chứ không phải là bình thường. Nó bỗng khóc như
mưa, nước mắt âm ấm tưới đẫm cả mặt tôi. Nó khóc rưng rức, run bần bật, như lên
cơn kinh giật, nép mình vào tôi, tôi ngồi trên tảng đá "Ba ơi, nó gào lên,
ba ơi, ba thân yêu, nó làm nhục ba!" Tôi cũng nức nở cùng với nó, hai bố
con tôi ngồi ôm lấy nhau mà run lên. "Ba ơi, nó nói, ba ơi!" -
"Iliusa, - tôi nói với nó - Iliusetrka!". Chẳng ai nhìn thấy chúng
tôi lúc ấy, chỉ có trời nhìn thấy có lẽ trời sẽ ghi nhận cho tôi. Ông hãy cảm
ơn ông anh ông, Alecxei Fedorovich ạ. Không, tôi sẽ không đánh con trai tôi để
làm vừa lòng ông đâu.
Ông ta chấm dứt vẫn bằng những lời lẽ độc ác và điên khùng
như ban nãy. Nhưng Aliosa cảm thấy ông ta đã tin cậy mình và nếu không phải là
anh, mà là một người khác thì ông ta sẽ không "nói chuyện" và không
cho biết những điều ông ta vừa nói ra. Điều đó làm Aliosa phấn chấn, anh cảm động
đến ứa nước mắt.
- Ôi tôi muốn hoà giải với con trai ông quá! - Anh kêu lên. -
Giá như ông dàn xếp được việc đó…
- Chắc chắn là như thế. - Đại uý nói lí nhí.
- Nhưng thôi gác chuyện ấy lại, có một việc khác hẳn, ông
nghe đây nhé, - Aliosa nói tiếp, - ông nghe đây nhé. Người ta nhờ tôi nói với
ông việc này: chính anh Dmitri tôi đã lăng nhục cả người vợ chưa cưới của mình,
một cô gái rất mực cao quý mà chắc là ông cũng có nghe nói đến. Tôi có quyền tiết
lộ với ông sự lâng nhục ấy, thậm chí tôi có bổn phận làm như thế, bởi vì, sau
khi việc ông bị xúc phạm và biết hoàn cảnh khó khăn của ông, chị ấy nhờ tôi… mới
vừa rồi thôi… mang đến cho ông một món tiền trợ giúp ông, đấy là tiền của chị ấy…
của riêng chị ấy, không phải của Dmitri, anh tôi đã bỏ chị ấy, hoàn toàn không
phải của anh, cũng không phải của tôi, em anh ấy, không phải của ai hết, mà là
tiền của chị ấy, chỉ của chị ấy thôi! Chị ấy khấn khoán mong ông nhận sự giúp đớ
của chị… cả ông và chị ấy cùng bị xúc phạm bởi con người đó… Chị ấy nhớ đến ông
chỉ sau khi đã bị anh Dmitri xúc phạm cũng đau như ông! Đây coi như người em gái
giúp đỡ ông anh… Chị ấy nhờ tôi nói với ông nhận cho hai trăm rúp này, xin coi
chị ấy như người em gái. Không ai biết chuyện này, không thể có những lời đơm đặt
nhảm nhí được… hai trăm rúp ấy đây, tôi thề với ông là ông phải nhận, nếu
không… nếu không thì mọi người trên đời đều là thù địch lẫn nhau! Nhưng trên đời
vẫn có những người anh em.: ông có tấm lòng cao thượng… ông phải hiểu điều đó,
ông phải hiểu…
Aliosa chìa ra cho ông ta hai tờ giấy bạc một trăm rúp ngũ sắc
mới toanh. Lúc ấy hai người đứng ngay bên tảng đá lớn cạnh hàng rào, xung quanh
không có ai. Hình như hai tờ giấy bạc gây cho ông đại uý một ấn tượng ghê gớm:
ông ta giật mình, nhưng lúc đầu dường như chỉ vì ngạc nhiên: ông ta không hề tưởng
tượng đến chuyện như thế, không hề chờ đợi một kết cục như thế. Dù sao trong
chiêm bao ông ta cũng không mơ ước được ai giúp đỡ, mà lại với số tiền lớn như
thế. Ông ta cầm lấy hai tờ giấy bạc và khoảng một phút gần như không thể trả lời
được, mặt ông thoáng có một vẻ gì mới mẻ.
- Đấy là tiền đưa tôi, đưa tôi, ngần ấy tiền, hai trăm rúp!
Chu cha! Bốn năm trời tôi chưa từng trông lấy số tiền lớn như thế, trời ơi! Và
cô ấy bảo coi như cô ấy là em gái… thật thế chứ, thật thế chứ?
- Tôi thề với ông rằng tất cả những điều tôi nói với ông đều
là sự thật! - Aliosa kêu lên. Ông đại uý đỏ mặt.
- Này, ông bạn thân mến ơi, hãy nghe đây, nếu tôi nhận thì
tôi có phải là kẻ đê hèn không? Ông không coi tôi là kẻ đê hèn chứ, hả ông
Alecxei Fedorovich? Không, ông Alecxei Fedorovich, ông hãy nghe đây, hãy nghe
cho hết nhé. - ông ta vội vã, chốc chốc lại chạm cả hai tày vào Aliosa, - ngoài
miệng ông khuyên tôi nhận, coi như tiền của "em gái" gửi cho, nhưng
trong lòng, trong thâm tâm, ông không khinh tôi nếu như tôi nhận chứ?
- Ồ không, không! Tôi xin viện sự cứu rỗi ra mà thề với ông
là không có như vậy đâu! Không bao giờ có ai biết được, chỉ có chúng ta thôi:
tôi, ông, chị ấy và một phu nhân, bạn thân của chị ấy. Bà bạn cũng chẳng sao.
- Ông nghe đây, ông Alecxei Fedorovich, nghe cho đầy đủ nhé,
bây giờ đã đến lúc cần phải nghe cho trọn bởi vì ông không thể hiểu được hai
trăm rúp ấy có ý nghĩa thế nào đối với tôi đâu, - con người tội nghiệp nói tiếp,
dần dần chuyển sang một trạng thái hân hoan cuồng loạn và gần như man rợ. Ông
ta như rối trí, nói năng cực kỳ vội vã hấp tấp như sợ người ta không để ông nói
hết. - Ngoài ra đây là tiền có được một cách chính đáng, do cô "em
gái" đáng kính và thánh thiện gửi cho, ông có biết rằng bây giờ tôi có thể
chữa bệnh cho vợ tôi và Ninotrka, con bé thiên thần gù lưng của lôi không? Bác
sĩ Gherxenstube đã có lòng tốt đến nhà tôi thăm bệnh cho cả hai mẹ con suốt một
giờ. "Tôi không hiểu gì cả, ông nói", nhưng nước khoáng có bán tại hiệu
thuốc ở đây (ông đã kê, đơn cho dùng thứ này) chắc chắn sẽ có lợi cho bà ấy, và
bác sĩ cũng cho đơn thuốc ngâm chân. Nước khoáng giá ba mươi kopek một chai, có
lẽ cần uống bốn chục chai. Tôi đã cầm đơn để lên xichđông dưới bức ảnh thánh và
cho đến giờ nó vẫn nằm ở đấy.
Còn Ninotrka thì theo đơn bác sĩ cho, phải tắm nước nóng pha
một dung dịch gì đó, hàng ngày sáng và tối, nhưng nhà cửa chúng tôi như thế,
không có người giúp việc, không ai giúp đỡ, không có chum vại, không có nước
thì chữa theo cách ấy sao được? Ninotrka bị tê thấp toàn thân, tôi chưa nói ông
biết điều đó, ban đêm nó đau nhức cả nửa người bên phải, đau đớn khổ sở, vậy mà
ông có tin được không, thiên thần của tôi gắng chịu để khỏi làm phiền chúng
tôi, không rên để khỏi làm chúng tôi thức giấc. Chúng tôi ăn uống gặp chăng hay
chớ, kiếm được gì ăn nấy, còn Nina chọn miếng tồi nhất, chỉ dáng vứt cho chó
ăn, nó nói: "Tôi không đáng ăn miếng ấy, tôi ăn báo cô mọi người, tôi là
gánh nặng cho cả nhà". Ấy là tôi muốn miêu tả cái quan điểm thiên thần ấy.
Chúng tôi phục dịch nó, nó lấy thế làm đau lòng: "Tôi không đáng được như
thế, không đáng được chăm sóc tôi là một kẻ tàn phế vô ích sự" - nhưng nó
mà lại không đáng là thế nào, tính dịu dàng thiên thần của nó là phước lành Thượng
đế ban cho tất cả chúng tôi, không có nó, không có lối ăn nói dịu dàng của nó
thì nhà chúng tôi sẽ là cái địa ngục, nó làm cho cả Varia cũng dịu tính dịu nết
đi. Còn Varvara Nikolaevna thì ông cũng dừng chê trách, nó cũng là một thiên thần
cũng bất hạnh. Nó về nhà từ mùa hè, vốn liếng có mười sáu rúp đấy là tiền công
nó dạy học và dành dụm để làm tiền tàu xe, để đến tháng chín, tức là bây giờ
đây thì có tiền trở lại Peterburg. Vậy mà chúng tôi tiêu lẹm hết vào tiền của
nó và bây giờ nó không có tiền để trở về đấy nữa, thế đó. Mà nó cũng không thể
trở lại nơi ấy, bởi vì nó phải làm lụng như con tù khổ sai để giúp nhà, nó phải
làm quần quật như trâu ngựa vì chúng tôi đi mua cái gì cũng nó, rồi nào là sữa
chua mọi đồ dùng, giặt giũ, cọ sàn, đỡ mẹ lên giường nằm, mà mẹ thì khó tính
khó nết, động một tí là khóc, bà ấy điên mà!… Bây giờ với hai trăm rúp ấy tôi
có thể thuê người làm, ông có hiểu không, Alecxei Fedorovich, tôi có thể chữa bệnh
cho những người thân thương, tôi sẽ cho cô sinh viên trở lại Peterburg, tôi sẽ
mua thịt bò, lập chế độ ăn mới. Trời ơi, đấy là mơ ước.
Aliosa hết sức vui sướng vì mình đã đem lại cho người khác biết
bao hạnh phúc, vì con người đáng thương này ưng thuận để người ta đem lại hạnh
phúc cho mình.
- Khoan đã, ông Alecxei Fedorovich, khoan. - ông đại uý lại vồ
lấy một ước mơ mới chợt hiện ra với ông và lại nói liến thoắng như phát rồ phát
dại, - ông có biết không, bây giờ có lẽ tôi với Iliusa quả thật sẽ thực hiện được
ước mơ của mình, bố con tôi sẽ mua một con ngựa, một cỗ xe có mui, mà là ngựa
ô, nó nhất quyết muốn có ngựa ô kia và chúng tôi sẽ lên đường như hôm kia tôi
đã miêu tả. Ở tỉnh K, tôi có quen một luật sư, bạn từ thuở nhỏ, ông có nhắn tôi
qua một người tin cậy rằng nếu tôi đến chỗ ông thì ông sẽ thu xếp cho tôi một
chân thư ký văn phòng, chưa biết đâu ông ấy có thể tìm việc cho tôi thật sự… Thế
thì sẽ để nhà tôi và Ninotrka lên xe, Iliusetrka thì cho điều khiển ngựa, còn
tôi sẽ đi bộ, sẽ đưa cả nhà đến nơi. Trời ơi, nếu tôi thu hồi được món nợ không
hy vọng gì đòi lại thì có lẽ cũng sẽ đủ cho chuyến đi ấy.
- Đủ chứ, đủ chứ! - Aliosa kêu lên. - Ekaterina Ivanovna sẽ
còn gửi thêm tiền cho ông, muốn bao nhiêu cũng có, mà ông ạ, tôi cũng có tiền,
ông cần bao nhiêu cứ lấy, cứ coi tôi như người con, người bạn, sau này ông sẽ
hoàn lại tôi… (Rồi ông sẽ giàu có rồi ông sẽ giàu có!). Ông có biết không,
không bao giờ ông có thể nghĩ ra điều gì đắc sách hơn là chuyển sang tỉnh khác
đâu! Đấy là sự cứu thoát cho ông, cái chính là cho con trai ông và ông ạ, nên
mau mau lên, trước mùa đông, khi trời chưa lạnh, rồi ông sẽ viết thư cho chúng
tôi, chúng ta sẽ vẫn cứ là anh em… Không, đấy không phải là mơ ước!
Aliosa muốn ôm lấy ông ta, anh đắc ý quá. Nhưng nhìn ông ta,
anh bỗng dừng lại: ông ta đứng đấy, cổ vươn dài, môi trề ra, mặt tái mét cuồng
nộ, môi mấp máy như muốn nói gì; không phát ra âm thanh, vậy mà môi bỗng mấp
máy, thật kỳ lạ.
- Ông làm sao thế! - Không hiểu sao Aliosa bỗng giật mình.
- Alecxei Fedorovich… tôi… ông. - ông ta nói lắp bắp, nhìn thẳng
vào Aliosa một cách hung hãn và lạ lùng với vẻ kiên quyết của một người ngã
nhào từ trên cao xuống, thế nhưng môi dường như vẫn mỉm cười. - Tôi… ông… ông
có muốn tôi làm cho ông xem một trò ảo thuật ngay bây giờ không! - ông ta thì
thầm nói nhanh và kiên quyết, giọng càng hổn hển hơn.
- Trò ảo thuật gì?
- Rồi ông sẽ thấy, - Viên đại uý vẫn nói thì thầm, miệng ông
ta méo lệch về bên tôi, mắt trái nheo nheo, ông ta vẫn nhìn chằm chằm vào
Aliosa, như bị hút vào anh.
- Ông làm sao thể, trò quỷ thuật nào kia? - Anh la lên, sợ
hãi thật sự.
- Thế này này, xem đây! - Viên đại uý bỗng rít lên.
Ông ta chìa ra trước mặt anh hai tờ giấy bạc ngũ sắc mà suốt
thời gian nói chuyện ông ta vẫn nắm chắc ở góc giữa ngón cái và ngón trỏ của
bàn tay phải, rồi ông ta hung hăng cầm lấy chúng, vò nát và xiết chặt trong bàn
tay phải.
- Ông thấy rồi đấy, thấy rồi đấy! - ông ta rít lên với
Aliosa, mặt tái mét, điên cuồng rồ dại, giơ cao nắm tay thẳng cánh ném cả hai tờ
giấy bạc nhàu nát xuống cát. - ông thấy rồi chứ? - ông ta lại rú lên, trỏ ngón
tay vào chúng, - như thế đấy!… bỗng nhiên, ông ta nhấc cao chân phải hung hãn
nhảy tới dùng gót giầy chà đạp lên hai tờ giấy bạc cứ mỗi lần nện gót lại nghẹn
ngào kêu lên: Tiền của ông đấy! tiền của ông đấy! Tiền của ông đấy! - Đột nhiên
ông ta nhảy lùi lại và vươn thẳng người trước Aliosa. Tất cả bộ dạng của ông biểu
lộ một vẻ kiêu hành khôn tả.
- Ông hãy về nói lại cho những người sai ông đến đây biết rằng
búi xơ mướp không bán danh dự của mình. - ông ta quát lên, một tay giang ra. Rồi
ông ta quay ngoắt đi và bỏ chạy, nhưng chưa được năm bước ông ta bỗng quay cả
toàn thân lại, vẫy chào Aliosa. Rồi chạy chưa được năm bước nữa, ông ta quay lại
lần cuối cùng, lần này thì không còn nụ cười mếu máo nữa, trái lại khuôn mặt
run rẩy chan hoà nước mắt. Ông ta gào lên bằng một giọng thảm thiết, nghẹn
ngào, đứt quãng:
- Tôi sẽ nói gì với chúng con tôi nếu như tôi nhận món tiền của
các người đền bù cho sự nhục nhã của tôi?
Nói xong ông ta bỏ chạy và lần này không quay lại nữa. Aliosa
nhìn theo ông ta, lòng buồn khôn xiết. Ôi, anh hiểu rằng cho đến phút chót ông
ta vẫn không biết rằng ông ta vò nát và vút đi những tờ giấy bạc. Ông già không
quay lại lần nào nữa, Aliosa không muốn chạy theo và cũng không muốn gọi ông
ta, anh biết tại sao. Khi ông ta đã khuất dạng, Aliosa nhặt hai tờ giấy bạc
lên. Hai tờ giấy nát nhàu, bẹp gí, bị nhấn sâu vào cát, nhưng vẫn nguyên lành,
thậm chí còn sột soạt như mới khi Aliosa trải chúng ta, vuốt cho phẳng. Vuốt phẳng
rồi, anh gấp chúng lại, cho vào túi và về báo cho Ekaterina Ivanovna biết kết
quả việc anh làm theo sự nhờ cậy của nàng.
Quyển 5: Pro và Contra(1)
Chương 1
Chương 1
Đính ước
Bà Khokhlakova lại là người trước lên gặp Aliosa. Bà đang cuống
lên: đã xảy ra một việc quan trọng: sau cơn thần kinh Ekaterina Ivanovna ngất
đi, tiếp đó là sự suy yếu khủng khiếp, đáng sợ, nàng nằm, mắt trợn ngược và bắt
đầu mê sảng. Bây giờ thì sốt nóng, đã cho đi mời bác sĩ Gherxenstube, cho đi mời
các bà cô. Các bà cô hiện đã ở đây. Còn Gherxenstube vẫn chưa đến.
- Mọi người đang ở trong buồng của nàng, chờ đợi. Có thể có
chuyện không hay, vậy mà nàng vẫn mê man. Nếu chỉ sốt cao thôi thì còn được!
Khi thốt lên như vậy, bà Khokhlakova có vẻ sợ hãi thực sự:
"Lần này thì nghiêm trọng, nghiêm trọng đấy!" - cứ mỗi câu bà lại đệm
thêm vào, như thể mọi chuyện xảy ra với nàng trước đó đều không đáng kể. Aliosa
nghe bà nói mà lòng đau buồn; anh toan kể với bà cuộc sóng gió vừa xảy ra với
mình, nhưng anh vừa mở miệng đã bị ngắt lời: bà không có thời giờ, bà bảo anh
ngồi chơi với Liza và đợi bà ở đấy.
- Anh Alecxei Fedorovich quý mến ơi, - bà thì thầm gần như
ghé sát vào tai anh, - vừa rồi con Liza làm tôi hết sức ngạc nhiên, nhưng nó
cũng làm tôi cảm động, vì thế trái tim tôi tha thứ hết cho nó. Anh cứ tưởng tượng
xem, anh vừa đi khỏi là nó bỗng hối hận thành thực vì đã chế nhạo anh hôm qua
và hôm nay. Nhưng thực ra nó không chế nhạo, mà chỉ đùa thôi. Thế mà nó hối hận
thực sự, gần như ứa nước mắt, đến nỗi tôi ngạc nhiên. Trước đây chưa bao giờ nó
thực bụng hối hận khi nó chế nhạo tôi, mà biến tất cả thành trò đùa. Anh biết đấy,
nó cứ chế nhạo tôi luôn ấy mà. Nhưng bây giờ thì nó nghiêm chỉnh, bây giờ thì tất
cả đều là nghiêm chỉnh. Nó hết sức coi trọng ý kiến của anh. Alecxei Fedorovich
ạ, nếu có thể thì anh đừng giận nó, đừng để bụng. Tôi bao giờ cũng gượng nhẹ với
nó, vì nó hết sức thông minh, anh có tin không? Ban nãy nó nói anh là bạn nó từ
thuở bé, "người bạn đứng đắn nhất thuở bé", anh hãy tưởng tượng xem,
người bạn đứng đắn nhất, thế còn tôi thì sao? Về việc này, nó có những tình cảm
cực kỳ nghiêm chỉnh và thậm chí cả những kỷ niệm, nhất là những câu và những lời
âu yếm không thể ngờ tới được, vậy mà đột nhiên lại buột ra. Như mới đây nó nói
về cây thông chẳng hạn: ở vườn nhà chúng tôi có một cây thông từ hồi nó còn bé
lắm, có lẽ hiện giờ vẫn còn đấy, cho nên chẳng phải là nói về thời quá khứ.
Thông không như người, rất lâu chẳng hề thay đổi gì, Alecxei Fedorovich ạ. Nó
nói: "Mẹ ơi, con nhớ đến cây thông ấy như trong giấc mơ "xoxna kak
xoxna"(1), hình như nó diễn tả hơi khác, ở đây có sự lẫn lộn gì đó
"xoxna" là một tiếng dớ dẩn, nhưng chẳng qua là nó nhân chuyện ấy để nói
với tôi một điều gì rất đặc sắc mà dứt khoát tôi không đủ sức truyền đạt lại. Vả
lại tôi quên hết rồi. Thôi, tạm biệt, tôi bàng hoàng quá, hẳn là tôi phát điên
lên đây. Ôi chao, Alecxei Fedorovich - trong đời tôi đã hai lần hóa điên và đã
được chữa khỏi. Anh đến với Liza đi. Hãy khích lệ nó, việc này anh vốn khéo lắm
mà. Liza, - bà gọi to khi đến gần cửa buồng cô con gái. - mẹ đưa Alecxei
Fedorovich đến với con đây, anh ấy đã bị con xúc phạm nặng nề, nhưng anh ấy
không giận con chút nào, mẹ cam đoan với con đấy, trái lại anh ấy lấy làm lạ rằng
con lại có thể nghĩ như thế!
- Merci maman(2); mời vào, anh Alecxei Fedorovich.
Aliosa vào. Liza nhìn anh hơi có vẻ ngượng ngùng và bỗng
nhiên mặt đỏ đến tận mang tai. Rõ ràng cô có điều gì hổ thẹn, và như thường thấy
trong những trường hợp như thế này, cô liến thoắng nói chuyện đâu đâu, dường
như lúc này cô chỉ quan tâm đến cái chuyện đâu đâu ấy.
- Anh Alecxei Fedorovich, ban nãy mẹ vừa kể với em tất cả câu
chuyện về hai trăm rúp ấy và về việc anh được giao nhiệm vụ đến gặp ông sĩ quan
tội nghiệp nọ… mẹ cũng đã kể tất cả câu chuyện khủng khiếp về việc ông ta bị
xúc phạm như thế nào, và anh ạ, tuy mẹ kể rất lộn xộn… cứ toàn nhảy cóc… nhưng
em nghe mà phát khóc. Thế nào, anh, anh đưa số tiền ấy rồi chứ, và con người khốn
khổ ấy bây giờ thế nào?…
- Dở một nỗi là tôi không đưa được tiền, đây là cả một câu
chuyện. - Aliosa đáp, bề ngoài như thể anh bận tâm nhất về việc không trao được
tiền, thế nhưng Liza rất tinh nhận thấy rằng anh nhìn đi nơi khác và rõ ràng
cũng cố nói chuyện đâu đâu. Aliosa ngồi vào bàn và bắt đầu kể chuyện, ngay từ
những lời đầu tiên anh đã hết ngượng ngập và lôi cuốn được Liza. Trong lúc nói,
tình cảm mãnh liệt và cảm tưởng phi thường về việc vừa xảy ra vẫn còn ảnh hưởng
đến anh, anh kể hấp dẫn và cặn kẽ. Ngay cả trước kia, hồi ở Moskva, khi Liza
còn thơ bé, anh vẫn thích đến với cô và kể cho cô nghe những chuyện vừa xảy ra
với anh, hoặc những điều anh đọc được hoặc nhớ lại kỷ niệm thời thơ ấu. Có khi
thậm chí cả hai cùng nhau mơ ước và cùng nhau sáng tác cả từng thiên truyện, phần
lớn là truyện vui và ngộ nghĩnh.
Bây giờ cả hai dường như trở lại cái thời ở Moskva, hai năm
trước Liza hết sức cảm động về câu chuyện anh kể. Với tình cảm nồng nhiệt.
Aliosa vẽ ra trước mắt cô hình ảnh của "Aliosenka", anh kể hết sức tỉ
mỉ cảnh con người bất hạnh kia đạp lên tiền, nghe kể xong, Liza đập hai tay vào
nhau và kêu lên với tình cảm bồng bột:
- Thế là anh không đưa được tiền cho ông ấy, thế là anh để
cho ông ấy chạy đi! Trời ơi, lẽ ra ít nhất anh cũng nên đuổi theo giữ ông ta lại
chứ…
- Không, Liza ạ, tôi không chạy theo là hơn. - Aliosa nói, rời
ghế đứng dậy và đi lại trong phòng với vẻ lo ngại.
- Sao lại hơn, hơn là thế nào kia chứ? Bây giờ họ sẽ chết đói
thôi!
- Họ không chết đâu, bởi vì hai trăm rúp ấy rồi vẫn sẽ vào
tay họ. Đằng nào thì ngày mai ông ấy cũng sẽ lấy số tiền đó.
- Ngày mai chắc chắn ông ấy sẽ lấy. - Aliosa vừa nói vừa trầm
ngâm bước đi. - Này Liza ạ, - anh nói tiếp, đột nhiên dừng lại trước mặt cô, - ở
đây tôi đã phạm một sai lầm, nhưng vậy mà lại hoá hay.
- Này nhé, ông ấy là người nhát gan và nhu nhược. Ông ấy bị
giày vò khổ sở và quá tốt bụng. Cho đến giờ tôi vẫn nghĩ ngợi: cớ gì ông ấy bỗng
nổi giận và chà đạp lên mấy tờ giấy bạc, tôi cam đoan với cô rằng cho đến phút
chót ông ấy cũng không biết mình giày đạp lên tiền. Tôi cho rằng ông ấy bực tức
vì nhiều lẽ… với lại ở địa vị ông ấy không thể khác thế được. Thứ nhất, ông ấy đã
quá mừng rỡ trước mặt tôi khi nhìn thấy tiền, và không giấu giếm điều đó. Nếu
như ông ấy không quá mừng rỡ, không bộc lộ điều đó mà làm bộ làm tịch như những
người khác vờ làm cao khi nhận tiền, như vậy thì còn có thể dằn lòng cầm tiền vậy,
đằng này ông ấy lại mừng rỡ quả thực mình, thế thì đáng bực thật đấy chứ? À
Liza ạ, ông ấy là người thật thà và tốt bụng, đây chính là điều tai hại trong
những trường hợp như thế này! Suốt thời gian ông ấy nói, tiếng ông ấy rất yếu,
tự dưng yếu hẳn đi, ông ấy nói liến láu, luôn luôn xen lẫn tiếng cười khúc
khích, hay thậm chí còn khóc… đúng, ông ấy khóc, ông hoan hỉ quá… và ông nói vẻ
hai người con gái của mình… về chỗ làm mà người ta hứa dành cho ông ở một thành
phố khác… Vừa thổ lộ tâm mình xong, ông đột nhiên xấu hổ vì đã dốc hết nỗi lòng
với tôi. Bây giờ thì ông ấy căm ghét tôi. Ông ấy thuộc loại người nghèo rất hay
hổ thẹn. Cái chính là ông tự giận mình đã quá mau chóng coi tôi là bạn và mau
chóng nhượng bộ tôi; lúc đầu ông ấy xông vào tôi làm tôi phát hoảng, rồi vừa
trông thấy tiền lại đột nhiên ôm chầm lấy tôi. Ông ôm chầm lấy tôi, hai tay về
vuốt suốt. Chính trong tư thế như vậy, ông hẳn phải cảm thấy tất cả sự quỵ luỵ,
đúng lúc ấy tôi đã phạm một sai lầm rất nghiêm trọng: bỗng nhiên tôi nói với
ông ấy rằng nếu ông không có tiền để rời sang thành phố khác thì người ta sẽ
cho tiền ông, thậm chí tôi sẽ lấy tiền riêng của tôi cho ông, cần bao nhiêu có
bấy nhiêu. Chính điều đó làm ông ấy sửng sốt: vì lẽ gì tôi hăm hở giúp ông ấy?
Liza ạ, một người bị xúc phạm bao giờ cũng hết sức đau lòng khi tất cả mọi người
đều tự xem mình là ân nhân của người đó… điều này là trưởng lão nói với tôi.
Tôi không biết diễn tả thế nào, nhưng chính mắt tôi thường vẫn nhìn thấy. Và tự
tôi cũng cảm thấy đúng là như thế. Điều quan trọng nhất là tuy cho đến giây lát
cuối cùng, ông ấy không biết mình chà đạp lên giấy bạc, nhưng dù sao ông đã
linh cảm lấy điều đó, nhất định thế. Ông ấy hoan hỉ đến như thế là vì đã linh cảm
thấy trước" Bởi vậy mặc dù mọi việc hỏng cả, nhưng hoá ra lại hay hơn. Thậm
chí tôi cho là hay nhất, không thể nào hay hơn được…
- Tại sao, tại sao lại không thể nào hay hơn được? - Liza kêu
lên, hết sức ngạc nhiên nhìn Aliosa.
- Bởi vì rằng, Liza ạ, nếu như ông ấy không giày xéo lên tiền,
mà cầm ngay thì về đến nhà, chỉ một giờ sau là ông ấy sẽ khóc và có lẽ sáng sớm
hôm sau sẽ đến gặp tôi và ném mấy tờ giấy bạc trả lại tôi và xéo đạp lên như vừa
rồi: Còn bây giờ thì ông ấy bỏ đi mà rất đỗi tự hào và đắc chí, tuy ông biết rằng
thế là "tự giết mình". Như vậy, bây giờ không có gì dễ hơn là bắt ông
ấy nhận hai trăm rúp ấy, mai là chậm nhất, bởi vì ông ấy đã tỏ ra biết giữ danh
dự, đã ném tiền đi, giày đạp lên… Khi đạp lên tiền, ông ấy không thể không biết
rằng ngày mai tôi sẽ lại đem số tiền ấy đến cho ông. Mà ông cần số tiền ấy lắm
lắm. Mặc dù bây giờ ông ấy kiêu hãnh, nhưng ngay hôm nay thôi, ông cũng sẽ nghĩ
về việc mình đã bỏ mất một sự cứu giúp như thế nào. Ban đêm ông ấy sẽ càng nghĩ
ngợi nhiều hơn, sẽ nằm mơ thấy tiền, sáng mai có lẽ ông ấy sẵn sàng chạy đến gặp
tôi xin lỗi. Thế mà đúng lúc đó tôi chợt xuất hiện: "Ông quả là con người
có lòng tự hào, ông đã chứng tỏ điều đó, bây giờ xin ông nhận cho và thứ lỗi
cho chúng tôi" Bấy giờ ông ấy sẽ nhận.
Aliosa say sưa nói câu "bấy giờ ông ấy sẽ nhận!".
Liza vỗ tay.
- Chà, đúng vậy, ôi chà, đột nhiên em bỗng hiểu ra! Chà,
Aliosa, làm sao anh biết tất cả những điều ấy? Anh còn trẻ như thế mà biết rõ
lòng người… Em thì có lẽ chẳng bao giờ nghĩ ra được như thế.
- Bây giờ cần nhất là phải làm cho ông ấy tin rằng ông ngang
hàng với tất cả chúng ta, mặc dù ông nhận tiền của chúng ta, - Aliosa nói tiếp,
vẫn với giọng say sưa, - chẳng những là ngang, hàng, mà còn cao hơn…
- "Còn cao hơn", hay lắm, Alecxei Fedorovich, nhưng
anh nói đi nói đi!
- Vậy là tôi diễn tả không đúng lắm… về việc ta ở thế cao
hơn… nhưng chẳng sao, bởi vì…
- Ờ chẳng sao, chẳng sao, cố nhiên là chẳng sao. Xin lỗi, anh
Aliosa yêu quý… Anh ạ, cho đến nay em hầu như không kính trọng anh… nghĩa là có
kính trọng không như người ngang hàng, còn bây giờ em sẽ kính trọng anh là bậc
trên… Anh yêu quý, đừng giận em "pha trò hóm hỉnh". - Cô nói tiếp
luôn, giọng chứa chan tình cảm. - Em kỳ cục và bé bỏng, nhưng anh, anh… Này anh
Alecxei Fedorovich ạ, phải chăng trong toàn bộ lập luận ấy của chúng ta, tức là
của anh… không, của chúng ta thì đúng hơn… có sự miệt thị con người bất hạnh ấy…
thì chúng ta vừa mổ xẻ tâm hồn ông ấy đấy thôi, mà dường như tự cho mình là cao
hơn, phải không nào? Chúng ta cả quyết rằng ông ấy sẽ nhận tiền, phải không?
- Không, Liza ạ, không hề khinh miệt. - Aliosa trả lời dứt
khoát, dường như anh đã có chuẩn bị sẵn cho câu hỏi ấy. - Chính tôi đã nghĩ đến
điều đó khi đến đây. Hãy suy xét xem, khinh cái quái gì khi bản thân chúng ta
cũng như ông ấy, khi mọi người cũng đều như ông ấy cả. Bởi vì chúng ta cũng chỉ
thế thôi, không hơn. Mà cho dù có hơn đi nữa thì ở cảnh ngộ của ông ấy, ta cũng
thế thôi. Tôi không biết cô thế nào. Liza ạ, nhưng trong thâm tâm, tôi cho rằng
tôi có một tâm hồn nhỏ mọn về nhiều mặt. Còn tâm hồn ông ấy không nhỏ mọn, trái
lại rất tinh tế… không, Liza ạ, không hề có chút khinh thị nào đối với ông ấy cả!
Cô Liza ạ, trưởng lão của tôi có lần đã nói: phải chăm sóc người ta như chăm
sóc con trẻ, với một số người thì phải chăm nom như thể họ là người bệnh đang nằm
viện…
- Ôi chao, Alecxei Fedorovich, anh thân thương, vậy thì ta
hãy chăm nom mọi người như chăm người bệnh!
- Ta hãy làm như thế, Liza ạ, tôi sẵn sàng, khốn nhưng tôi
cũng chưa hoàn toàn sẵn sàng; đôi khi tôi lại thiếu kiên nhẫn, có khi tôi chẳng
nhận thấy gì hết. Còn cô thì khác.
- Ồ, em không tin! Anh Alecxei Fedorovich, em hạnh phúc biết
bao!
- Rất đáng mừng khi có nói như vậy, Liza ạ.
- Alecxei Fedorovich, anh tốt tuyệt vời, nhưng đôi khi anh cứ
như một thầy đồ gàn… Ờ mà không, anh không gàn chút nào. Anh hãy ra kia, nhẹ
nhàng mở cửa xem mẹ em có rình nghe ở đấy không - Liza bỗng thì thầm, giọng hối
hả, nóng nảy.
Aliosa ra hé mở cửa và cho biết không có ai rình nghe cả.
- Anh đến đây, Alecxei Fedorovich, - Liza nói tiếp, mặt càng
đỏ lựng. - Anh đưa tay đây, thế. Anh ạ, em phải thú nhận với anh một điều quan
trọng: lá thư hôm qua em viết cho anh không phải là để đùa bỡn đâu, nghiêm chỉnh
đấy…
Và cô đưa một tay che mặt. Rõ ràng là cô rất hổ thẹn khi thú
nhận điều đó. Đột nhiên cô chộp lấy tay anh và hăm hở hôn ba lần.
- Kìa Liza, thật tuyệt quá. - Aliosa vui sướng kêu lên. - Tôi
cũng tin chắc rằng cô viết nghiêm chỉnh.
- Anh ấy tin chắc, khó mà tưởng tượng nổi! - Cô đẩy tay anh
ra, nhưng vẫn không buông, mặt đỏ bừng và khúc khích cười vui sướng. - Tôi hôn
tay anh ấy, vậy mà anh ấy nói: "Tuyệt quá".
- Nhưng cô trách oan, - Aliosa cũng hết sức bối rối. -Tôi
luôn luôn mong muốn cô thích tôi, nhưng không biết làm thế nào. - Anh nói lúng
búng và cũng đó mặt.
- Aliosa thân mến, anh lạnh lùng và táo tợn. Ấy đấy. Anh ấy hạ
cố chọn tôi làm vợ và thế là anh ấy yên tâm! Anh ấy đã tin chắc rằng tôi viết
nghiêm chỉnh, lạ chưa! Táo tợn thật, thế đấy!
- Vậy là dở hay sao, một khi tôi tin chắc như thế? - Aliosa bỗng
bật cười.
- Ồ, Aliosa, trái lại, rất tốt là đằng khác. - Liza nhìn anh
với vẻ trìu mến và hạnh phúc. Aliosa vẫn để tay mình trong tay Liza. Bỗng anh
cúi xuống và hôn ngay vào môi cô.
- Lại còn thế nữa ư? Anh làm sao vậy? - Liza kêu lên. Aliosa
hoàn toàn bối rối.
- Thứ lỗi cho tôi… nếu có gì không phải… Tôi làm như vậy có lẽ
là dớ dẩn quá… Cô bảo tôi lạnh lùng, vì thế tôi tự dưng hôn cô. Nhưng tôi thấy
như vậy là dớ dẩn…
Liza bật cười và đưa hai tay bưng mặt.
- Mặc bộ áo này mà làm như vậy! - Cô buột miệng nói trong tiếng
cười và đột nhiên trở nên hết sức nghiêm chính, gần như nghiêm khắc. - Anh
Aliosa ạ, chúng ta khoan hãy hôn nhau vì cả hai ta đều chưa biết làm việc đó,
chúng ta còn phải chờ đợi lâu. - Cô bỗng kết luận. - Tốt hơn hết là anh hãy cho
biết vì sao anh chọn một con bé ngốc nghếch ốm yếu như em, anh là người thông
minh, hay suy nghĩ và tinh ý như thế kia mà? Ôi chao, Aliosa, em hạnh phúc vô
cùng, vì em hoàn toàn không xứng với anh!
- Xứng quá đi chứ, Liza ạ. Nay mai tôi sẽ rời bỏ hắn tu viện.
Đã hoàn tục thì phải lấy vợ, tôi biết như vậy. Đấng ấy đã căn dặn tôi như vậy.
Tôi còn lấy ai hơn em được… mà ngoài em ra thì còn ai ưng lấy tôi? Tôi đã nghĩ
kỹ rồi. Thứ nhất, em biết tôi từ thời thơ ấu, hai nữa em rất có nhiều khả năng
mà tôi không có. Tính tình em vui vẻ hơn tôi, cái chính là em hồn nhiên hơn
tôi, còn tôi đã đụng chạm nhiều, dính nhớp nhiều… ôi, em không biết chứ, tôi là
con nhà Karamazov kia mà! Em hay cười và bông đùa thì có sao đâu, kể cả trêu cợt
tôi nữa. Trái lại, em cứ cười đùa đi tôi lấy thế làm vui mừng… Nhưng em cười
vui như trẻ thơ, mà bên trong thì em nghĩ ngợi như người tự giày vò mình.
- Tự giày vò mình? Thế là thế nào?
- Phải, Liza ạ, vừa nãy em hỏi: chúng tôi có khinh rẻ con người
khốn khổ ấy không khi chúng ta mổ xẻ tâm hồn ông ta, đấy là một câu hỏi tự giày
vò… ờ, tôi không biết diễn tả cách nào, những người nào nảy ra những câu hỏi
như thế thì người ấy có khả năng đau khổ. Cứ ngồi miết trong ghế, hẳn là em phải
nghĩ ngợi nhiều.
- Anh Aliosa, đưa tay đây cho em, sao anh lại rút tay ra. -
Liza thốt lên giọng nghẹn ngào, yếu hẳn đi vì chứa chan hạnh phúc. - Này anh
Aliosa ạ, anh sẽ mặc thế nào sau khi ra khỏi tu viện, mặc bộ đồ thế nào? Anh đừng
cười, đừng giận nhé, đấy là điều vô cùng quan trọng đối với em.
- Liza ạ, về áo quần thì tôi vẫn chưa nghĩ tới, nhưng tôi sẽ
mặc theo ý muốn.
Em muốn anh mặc vét tông bằng nhung màu xanh sẫm, gilê bằng vải
pi kê(3) trắng và mũ mềm màu trắng có lông tơ… Này anh, vừa rồi thế là anh tin
rằng em không yêu anh khi em chối bỏ lá thư hôm qua chứ gì?
- Không, không tin.
- Ôi, thật là một con người hết chịu nổi, vô phương cứu chữa!
- Em ạ, tôi biết… hình như em yêu tôi, nhưng tôi làm ra vẻ
tin rằng em không yêu tôi, để… tiện cho em hơn…
- Thế thì càng tệ! Vừa tệ hơn mà lại hay hơn. Anh Aliosa ạ,
em yêu anh lắm lắm. Ban nãy khi anh đến, em định bụng: mình sẽ hỏi anh ấy lá
thư hôm qua, nếu anh ấy thản nhiên lấy ra trả lại (điều này bao giờ cũng có thể
chờ đợi ở anh ấy) thì tức là anh ấy hoàn toàn không yêu mình, không cảm thấy
gì, như vậy anh ấy chỉ là một chú bé ngốc nghếch, không xứng đáng, đời mình thế
là bỏ đi. Nhưng anh để lá thư ở phòng tu, thế là em yên lòng: có phải vì cảm thấy
trước rằng em sẽ đòi lá thư nên anh để ở nhà để khỏi phải trả không? Phải thế
không? Đúng vậy chứ?
- Ôi chao Liza, hoàn toàn không phải thế, lá thư tôi mang
trong người, hiện giờ cũng như ban nãy, ở trong túi này này, đây! - Aliosa vừa
cười vừa lấy lá thư ra và giơ cho cô bé xem ở khoảng xa. - Nhưng tôi không đưa
cho em đâu, cầm cho xem thôi.
- Vậy ư? Nghĩa là ban nãy anh nói dối, thầy tu mà nói dối ư?
- Ừ thì nói dối, - Aliosa cũng cười. - nói dối để khỏi phải
trả lại bức thư. Nó rất quý đối với tôi. - Anh bỗng nói thêm, lòng dạt dào tình
cảm và lại đỏ mặt. Tôi sẽ giữ suốt đời và không trao cho ai hết.
Liza nhìn anh, mê thích.
- Anh Aliosa, - cô lại thỏ thẻ, - anh ra cửa xem mẹ em có
rình nghe ở đấy không.
- Được Liza ạ, tôi sẽ xem, nhưng có lẽ không xem thì hơn, phải
không? Sao lại nghi ngờ mẹ em làm một việc thấp hèn như vậy?
- Thấp hèn thế nào? Thấp hèn quái gì? Mẹ rình nghe chuyện con
gái của mẹ, thế không phải là thấp hèn. - Liza đỏ mặt tía tai. - Anh Alecxei
Fedorovich, anh hãy tin rằng khi chính em sẽ làm mẹ và có một đứa con gái như
em bây giờ thì nhất định em cũng sẽ lén nghe chuyện của nó.
- Thật thế ư, Liza? Vậy thì không tốt.
- Ôi lạy chúa tôi, thấp hèn quái gì? Nếu như lén nghe một cuộc
nói chuyện giao tế thông thường thì hèn hạ thật, nhưng đây là con gái mình đóng
cửa ở trong buồng và một chàng trẻ tuổi… Này, anh Aliosa ạ, anh nên biết rằng
bao giờ chúng ta thành hôn thì em cũng sẽ rình mò anh đấy, và anh cũng nên biết
rằng thư từ của anh, em sẽ bóc ra đọc bằng hết đấy… Anh được báo trước rồi đấy
nhé…
- Ờ cố nhiên, nếu là như vậy… - Aliosa nói lúng búng. - Nhưng
như vậy là không tốt.
- A, khinh nhau chưa! Anh Aliosa yêu quý, ta đừng cãi cọ nhau
ngay từ lần đầu, nhưng em cứ nói thật hết với anh thì hơn: nghe trộm tất nhiên
là rất xấu, và tất nhiên là em sai trái, anh nói phải, nhưng em vẫn cử sẽ rình
nghe.
- Thì cứ việc. Nhưng em sẽ không bắt chộp được tôi điều gì
đâu Aliosa cất tiếng cười.
- Anh Aliosa, thế anh sẽ phục tùng em chứ? Điều đó cũng phải
quyết định trước.
- Rất sẵn lòng, Liza ạ, nhất định là như thế, trừ trường hợp
quan trọng nhất. Trong trường hợp quan trọng nhất, dù em không đồng ý với tôi,
tôi vẫn cứ làm theo bổn phận.
- Thế là phải. Anh nên biết rằng về phần em thì trái lại, chẳng
những em sẵn sàng tuân theo anh trong trường hợp quan trọng nhất, mà em sẽ nhường
nhịn anh trong mọi việc, bây giờ em xin thề với anh: nhường nhịn anh tất cả mọi
điều và suốt đời. - Liza kêu lên bằng giọng cuồng nhiệt, - và em coi đó là hạnh
phúc, hạnh phúc! Hơn thế nữa, em thề với anh là sẽ không bao giờ nghe trộm anh,
không một lần nào và anh có lý, chứ không phải là em. Mặc dù em rất muốn nghe
trộm, em biết thế, nhưng em sẽ không nghe, vì anh cho là hèn hạ. Bây giờ anh là
Thượng đế của em… Anh Alecxei Fedorovich ơi, tại sao mấy ngày qua anh buồn như
thế, cả hôm qua và hôm nay; em biết anh có những việc phải lo toan, những chuyện
đau lòng, nhưng em còn thấy anh có một nỗi buồn đặc biệt gì đó, có lẽ chuyện
riêng kia, Phải không?
- Đúng Liza ạ, có một chuyện buồn phải giữ kín. - Aliosa nói.
- Tôi thấy là em yêu tôi, vì em đã đoán được điều đó.
- Nỗi buồn gì? Về việc gì? Có thể nói ra được không? - Liza
nói với giọng van vỉ rụt rè.
- Sau này tôi sẽ nói. Liza ạ… sau này… - Aliosa bối rối. -
Bây giờ nói ra em sẽ không hiểu được. Mà có lẽ chính tôi cũng không biết nói thế
nào.
- Em còn biết là anh khổ tâm vì mấy người anh và ông bố, phải
không?
- Ừ, vì hai người anh, - Aliosa nói, như ngẫm nghĩ.
- Em không ưa anh Ivan Fedorovich của anh, anh Aliosa ạ. -
Liza đột nhiên đưa ra nhận xét.
Aliosa hơi ngạc nhiên về nhận xét ấy, nhưng không hỏi lại.
- Các anh tôi tự giết mình, - anh nói tiếp, - ba tôi cũng thế.
Và đồng thời giết cả những người khác. Đây là "sức mạnh bắt nguồn từ đất sức
mạnh của dòng họ Karamazov", như Cha Paixi mới nói hôm nào, sức mạnh bắt
nguồn từ đất, cuồng bạo và thô thiển… Thậm chí thánh linh Đức Chúa Trời có chế
ngự được sức mạnh ấy không, tôi cũng không biết nữa. Tôi chỉ biết bản thân tôi
cũng là một Karamazov… Tôi là thầy tu ư, thầy tu ư? Tôi là thầy tu ư, Liza? Vừa
nãy em bảo rằng tôi là thầy tu phải không?
- Vâng, em có nói.
- Vậy mà có lẽ tôi không tin có Chúa Trời.
- Anh mà lại không tin, anh làm sao vậy?
Liza khẽ nói một cách thận trọng. Nhưng Aliosa không đáp.
Trong những lời quá bất ngờ ấy của anh có một cái gì quá bí ẩn và quá chủ quan.
Có lẽ ngay cả anh cũng không hiểu rỏ, nhưng chắc chắn nó làm anh khổ tâm.
- Còn điều này nữa, bây giờ một người bạn của tôi sắp mất,
người đáng kính nhất trên đời sắp từ giã cõi trần. Giá như em biết, Liza ạ, giá
như em biết giữa tôi và con người đó có sự gắn bó tinh thần như thế nào! Vậy mà
bây giờ tôi sẽ chỉ còn lại một mình… Tôi sẽ đến với em, Liza ạ… Từ nay chúng ta
sẽ ở bên nhau.
- Vâng, ở bên nhau, ở bên nhau! Từ nay ta sẽ ở bên nhau suốt
đời Anh ơi, hôn em đi, em cho phép đấy.
Aliosa lại hôn cô gái.
- Bây giờ thì anh về đi, Chúa Kito ở cùng anh! (Và cô làm dấu
thánh cho anh). Hãy mau mau về với Người, trong lúc Người còn sống. Em thấy rằng
em giữ anh ở đây thật là tàn nhẫn. Hôm nay em sẽ cầu nguyện cả cho Người và cho
anh. Anh Aliosa, chúng ta sẽ hạnh phúc! Chúng ta sẽ hạnh phúc, phải không?
- Tôi cho rằng sẽ như thế, Liza ạ.
Rời khỏi chỗ Liza, Aliosa không có ý định đến gặp bà
Khokhlakova, anh toan ra về mà không từ biệt bà. Nhưng anh vừa mở cửa và ra cầu
thang thì bà Khokhlakova đột ngột xuất hiện trước mắt anh. Thoạt nghe bà nói,
Aliosa đã đoán ra rằng bà chủ tâm chờ anh ở đây.
- Alecxei Fedorovich, thật là khủng khiếp. Đấy là trò trẻ con
và chỉ là tầm bậy. Tôi hy vọng rằng anh không mơ tưởng… Ngu xuẩn, ngu xuẩn và
ngu xuẩn! - Bà sừng sộ với anh.
- Chỉ xin bà đừng nói điều đó với cô ấy, - Aliosa đáp lại, -
không thì cô ấy sẽ xúc động, mà bây giờ như thế có hại cho cô ấy.
- Tôi nghe được lời nói phải lẽ của một người trẻ tuổi biết lẽ
phải. Theo tôi hiểu, có phải anh thuận theo ý nó chỉ vì thương nó tật bệnh,
không muốn trái ý nó làm nó tức giận chứ gì?
- Ồ, không, hoàn toàn không, tôi nói chuyện với cô ấy hoàn
toàn nghiêm chỉnh, - Aliosa tuyên bố dứt khoát.
- Không thể nghiêm chỉnh được, nhẽ nào như thế, và thứ nhất
bây giờ tôi sẽ không để cho anh đến đây lần nào nữa, hai là tôi sẽ đi nơi khác
và đưa nó đi, anh nên biết như vậy.
- Cần gì phải thế, - Aliosa nói, - chuyện ấy cũng còn lâu kia
mà, có lẽ phải còn chờ một năm rưỡi nữa ấy chứ.
- À, Alecxei Fedorovich, cố nhiên đúng là như thế, và trong một
năm rưỡi ấy anh với nó sẽ cãi nhau một ngàn lần và sẽ đoạn tuyệt với nhau.
Nhưng khổ thân tôi, khổ thân tôi! Tuy đấy chỉ là chuyện vớ vẩn, nhưng nó làm
tôi tan lòng nát ruột. Bây giờ tôi như Famuxov trong cảnh cuối của vở kịch(4),
anh là Trasky, nó là Xofia, và anh hãy tưởng tượng xem, tôi chạy ra cầu thang
này cốt để gặp anh, mà ở nhà này mọi điều ác hại đều xảy ra ở cầu thang. Tôi đã
nghe thấy hết, tôi phải gắng lắm mới đứng nổi. Thì ra vì thế mà có những điều
khủng khiếp suốt đêm qua và tất cả những cơn thần kinh vừa rồi! Tình yêu cho
con gái, còn cái chết cho bà mẹ. Hãy nằm vào quan tài. Bây giờ đến điểm thứ hai
và là điểm quan trọng nhất: lá thư nó viết cho anh, thư gì vậy, đưa tôi xem
ngay, nào!
- Không, không nên. Bà cho biết sức khỏe Ekaterina Ivanovna
ra sao, tôi rất cần biết.
- Vẫn mê sảng, chưa tỉnh; các bà cô của cô ấy hiện ở đây, chỉ
kêu than và lên mặt với tôi, còn bác sĩ Gherxenstube đã đến và ông ta sợ hãi đến
nỗi tôi không biết tính sao với ông ta, làm cách nào cứu ông ta, thậm chí tôi
muốn cho đi mới bác sĩ khác. Ông ta đã được đưa đi bằng xe của tôi. Đã thế lại
thêm cả anh, với lá thư này. Của đáng tội, chuyện ấy cũng còn một năm rưỡi nữa
mới đến. Vì tất cả những gì vĩ đại và thiêng liêng, vì trưởng lão sắp qua đời của
anh, hãy đưa tôi lá thư ấy. Alecxei Fedorovich, tôi là người mẹ mà. Nếu anh muốn
thì cứ cầm thư trong tay cho tôi đọc thôi cũng được.
- Không, tôi sẽ không cho bà xem, bà Ekaterina Oxipovna ạ,
cho dù cô ấy cho phép đi nữa. Mai tôi sẽ đến, và nếu bà muốn, tôi sẽ nói với bà
nhiều điều, còn bây giờ thì xin từ biệt!
Và Aliosa từ chỗ cầu thang chạy ra đường.
Chú thích:
(1) chơi chữ: xoxna là cây thông, xoxna: trong giấc mơ
(2) Tiếng Pháp trong nguyên bản: cảm ơn mẹ (N.D)
(3) loại vải hai lớp may chần (N.D).
(4) Vở kịch "Khổ vì cái tri tuệ" của Gruboedov
(N.D)
Chương 2
Xmerdiakov với cây đàn ghi ta
Quả là anh không có thời gian. Ngay từ lúc chia tay với Liza,
một ý nghĩ chợt lóe lên trong óc anh: phải bày ra một kế gì hết sức ranh mãnh để
chộp được anh Dmitri ngay bây giờ, rõ ràng là anh ấy lẩn tránh anh. Không còn sớm
sủa gì nữa, đã hơn hai giờ chiều rồi. Aliosa nóng lòng muốn trở lại tu viện với
"đấng vĩ đại" sắp qua đời của mình, nhưng nhu cầu gặp Dmitri lấn át tất
cả: trong óc Aliosa, cứ mỗi giờ qua anh càng tin chắc rằng một đại họa khủng
khiếp không sao tránh khỏi sắp xảy ra. Đại họa gì và lúc này anh muốn nói gì với
anh Dmitri, có lẽ không nói rõ được. "Cho dù ân nhân của ta qua đời mà
không có ta ở đấy cũng không sao, nhưng ta không đến nỗi suốt đời tự trách mình
rằng đáng lẽ ta cỏ thể cứu được anh ấy mà không cứu; ta đã bỏ qua, vội vã về
nhà. Ta làm như thế là tuân theo lời dạy bảo vĩ đại của thầy…".
Kế hoạch của anh là rình chộp Dmitri một cách bất thình lình:
trèo qua hàng rào vào vườn như hôm qua và ẩn trong cái chòi hóng mát ấy.
"Nếu như anh ấy không có ở đấy, - Aliosa nghĩ - thì ta không nói gì với
Foma cũng như với những người trong nhà, ta sẽ náu mình trong chòi và đợi, cho
dù là đến chiều. Nếu như anh ấy vẫn rình Grusenka thì rất có thể là anh ấy sẽ
vào chòi…". Tuy nhiên, Aliosa không suy tính quá nhiều về kế hoạch, mà anh
quyết định thực hiện, cho dù hôm nay anh không về được tu viện…
Mọi việc diễn ra không có trở ngại gì: anh trèo qua hàng rào
gần như ở chỗ hôm qua, và kín đáo lẻn vào chòi. Anh không muốn để ai nhận thấy:
cả bà chủ nhà, cả Foma (nếu anh ta hiện ở đây) có thể hùa với anh Dmitri và
theo lệnh anh ấy, vì vậy sẽ không cho Aliosa vào, hay kịp thời báo trước cho
Dmitri biết có người đang tìm anh và hỏi dò về anh. Trong chòi không có ai.
Aliosa ngồi vào chỗ hôm qua của mình và chờ đợi. Anh nhìn một lượt cái chòi
hóng mát, không hiểu sao anh thấy nó cũ nát hơn hôm qua nhiều, lần này anh cảm
thấy nó thảm hại quá. Tuy nhiên, hôm nay trời cũng sáng sủa như hôm qua. Trên mặt
chiếc bàn màu lục có in một vệt tròn, hẳn là dấu vết của ly rượu cognac sánh ra
ngoài. Nhưng ý nghĩ vẩn vơ len vào óc Aliosa bao giờ mà chẳng thể, khi người ta
phải chờ đợi đến phát chán: chẳng hạn tại sao khi đến đây anh lại ngồi đúng vào
chỗ anh đã ngồi, chứ không phải chỗ nào khác? Cuối cùng anh rất buồn, buồn và
lo vì không biết rõ gì hết. Nhưng anh ngồi chưa được mười lăm phút thì đột
nhiên, ở đâu đây rất gần có tiếng đàn ghi ta. Có ai ngồi đây hay chỉ vừa đến ngồi
ở đấy, cách anh khoảng hai chục bước là cùng, đâu đó trong đám bụi cây. Aliosa
chợt nhớ lại rằng hôm qua, lúc ở trong chòi đi ra, anh thoáng thấy ở trước mặt,
phía bên trái, gần bờ rào một chiếc ghế băng cũ kỹ, màu lục giữa đám bụi cây. Vậy
ra bây giờ có người đến ngồi đấy. Ai vậy?
Bỗng một giọng nam cao ngọt ngào cất tiếng hát, có tiếng đàn
ghi ta đệm theo.
Với nàng hai chữ sắt son
Nguyện đời phù hộ cho con với nàng
với con hai chữ đá vàng
Nguyện trời phù hộ cho nàng với con
Nguyện trời phù hộ cho nàng với con
Nguyện trời phù hộ cho nàng với con
Tiếng hát ngừng lại. Một giọng nam cao của kẻ tôi đòi và lối
hát uốn éo kiểu tôi đòi. Một giọng khác, giọng nữ, bỗng thốt lên âu yếm và dường
như rụt rè, nhưng rất điệu: "Sao lâu lắm anh không đến chơi, anh Pavel
Fedorovich? Anh khinh chúng tôi thế?"
- Đâu có, - tiếng đàn ông trả lời, tuy lễ độ, nhưng trước hết
là với giọng đường bệ đanh thép, kiên gan. Rõ ràng người đàn ông ở thế hơn, còn
người phụ nữ thì cầu cạnh.
- Người đàn ông hình như là Xmerdiakov. - Aliosa nghĩ, - ít
ra nghe tiếng nói thì biết, còn người phụ nữ chắc là con gái bà chủ nhà này,
cái cô ở Moskva về, có bộ áo đuôi dài và vẫn đến xin súp Agafia
Ignatievna…"
- Tôi thích thơ lắm, nếu như vần điệu hay. - tiếng phụ nữ
nói. - Sao anh không hát tiếp đi?
Người kia đáp lại:
Với tôi vương miện huy hoàng
Là đây xuân sắc của nàng bên tôi
Nguyện đời che chở lứa đôi
Rủ ban phước hạnh cho tôi với nàng
Rủ ban phước hạnh cho tôi với nàng
- Lần trước nghe hay hơn. - tiếng phụ nữ nói. - Anh hát về
vương miện: "Là đây xuân sắc người tình bên tôi". Nghe âu yếm hơn, chắc
là hôm nay anh quên mất.
- Thơ với thẩn là cái trò vớ vẩn. - Xmerdiakov xẵng giọng.
- Ồ không, tôi rất thích thơ.
- Thơ thẩn đích thị là trò dớ dẩn. Cô thử nghĩ xem: trên đời
có ai nói có vần được không? Nếu như tất cả chúng ta đều có vần điệu, cho dù là
theo lệnh cấp trên đi nữa, thì liệu có thể nói được gì nhiêu nào? Thơ không thiết
thực, Maria Kondratievna ạ.
- Sao mà anh thông minh thế, sao chuyện gì anh chàng hiểu hết
vậy? - tiếng người phụ nữ càng có chiều tình tứ hơn.
- Tôi còn có thể thành đạt hơn nữa, còn có thể biết nhiều hơn
nữa nếu như số tôi không đen đủi từ tấm bé. Không thế thì tôi đã thích đấu súng
và giết chết cái thằng đã bảo tôi là kẻ hèn mạt vì tôi là đứa con không bố của
Xmerdiasaia, ở Moskva người ta đã đập vào mặt tôi như thế, ấy là do Grigori
Vaxilievich mà người ta kháo nhau như thế về tôi. Grigori Vaxilievich trách tôi
căm ghét việc tôi sinh ra đời, bác ấy bảo: "Mày làm mẹ mày đau xé ruột".
Ừ thì cứ cho là thế đi, nhưng tôi cho rằng thà cứ giết tôi đi trong bụng mẹ để
tôi đừng có mặt trên đời còn hơn. Ở chợ người ta nói đã đành, mà ngay cả mẹ cô
cũng hết sức thiếu tế nhị kể với tôi rằng mẹ tôi tóc rối bù bê bết từng mảnh
trên đầu, cao chỉ hai arsin "có rư". "Có rư" là cái quái
gì, sao không thể nói một cách bình thường là "già hai arsin một
chút", như mọi người vẫn nói? Nghe mà muốn ứa nước mắt, nước mắt mugich ấy
mà, nếu có thể nói như váy, muốn thống thiết nói ra những tình cảm mugich. Liệu
gã mugich Nga có thể có tình căm thù ghét người có học không? Gã mugich vô học,
vì vậy chẳng thể có tình cảm gì cả. Ngay từ tấm bé, cứ nghe thấy tiếng "có
rư", là tôi muốn lao đầu vào tường. Tôi căm thù cả nước Nga, Maria
Kondratievna ạ.
- Nếu anh là học sinh sĩ quan hay một người linh khinh kỵ trẻ
tuổi thì chắc anh sẽ không nói thế, mà sẽ tuốt gươm ra bảo vệ cả nước Nga.
- Nhưng tôi không muốn làm khinh kỵ, Maria Kondratievna ạ,
trái lại tôi muốn giải ngũ hết lính tráng.
- Thế thì kẻ thù đến, ai sẽ bảo vệ chúng ta?
- Chẳng cần bảo vệ gì hết. Năm mười hai đã xảy ra cuộc xâm
lăng lớn vào Nga của hoàng đế Pháp Napoléon đệ nhất, cha của vua Pháp hiện nay,
và giá như hồi ấy người Pháp chinh phục được chúng ta thì thật là hay: một dân
tộc thông minh sẽ chinh phục được một dân tộc rất đần độn và sát nhập nó với
mình. Như vậy thì sẽ có một nền trật tự hoàn toàn khác.
- Thế thì ra họ hơn người của chúng ta à? Tôi thì tôi không đổi
một chàng trai sang trọng của chúng ta lấy ba chàng trai người Anh đâu. - Maria
Kondratievna thốt lên với giọng trìu mến, hắn là lúc này, nói những lời ấy, mắt
cô nàng thẫn thờ.
- Chuyện yêu thích thì mỗi người mỗi khác.
- Anh cứ hệt như người ngoại quốc ấy, như một người ngoại quốc
cao quý nhất, tôi nuốt thẹn mà nói với anh điều đó.
- Nếu cô muốn biết thì xin nói rằng về sự truỵ lạc thì cả bọn
họ và người của chúng ta đều giống nhau. Toàn bọn lừa bịp cả, những người nước
ngoài dù đi ủng bóng loáng, còn tên hèn mạt của ta thì sống trong bần cùng, bốc
mùi hôi hám và không thấy như vậy có gì là xấu. Dân Nga thì phải cho ăn đòn,
hôm qua Fedor Pavlovich nói đúng, tuy lão là thằng điên cùng với con cái lão.
- Nhưng Ivan Fedorovich thì anh kính trọng lắm, chính anh đã
nói thế kia mà.
- Khốn nỗi họ coi tôi là một thằng hầu hôi hám. Họ cho rằng
tôi có thể nổi loạn; họ nhầm. Nếu tôi có một số tiền kha khá, tôi đã biến khỏi
đây từ lâu rồi. Dmitri Fedorovich coi hơn bất cứ thằng hầu nào cả về phẩm hạnh,
cả về trí thệ cũng như sự bần cùng và gã chẳng biết làm gì cả, vậy mà lại được
mọi người trọng vọng. Ừ thì tôi chỉ là một kẻ nấu bếp, nhưng nếu gặp may tôi có
thể mở một tiệm cà phê kiêm tiệm ăn ở Peerovka tại Moskva. Bởi vì tôi làm món
ăn đặt riêng, ở Moskva trừ người ngoại quốc, không đầu bếp nào có thể nấu món
ăn đặt riêng, Dmitri Fedorovich là một thằng khố rách áo ôm, vậy mà nếu gã
thách con một vị bá tước quyền quý đấu súng, người đó sẽ nhận lời, nhưng gã có
gì hơn tôi nào? Gã đần độn hơn tôi nhiều thì có. Gã đã phung phí cơ man nào là
tiền mà chẳng được việc gì cả.
- Đấu súng chắc là hay lắm. - Maria Kondratievna bỗng nói.
- Hay cái quái gì?
- Thật là ghê rợn và đúng cảm, đặc biệt nếu hai sĩ quan trẻ
tuổi cầm súng ngắn chĩa vào nhau vì một cô gái trẻ nào đó. Một cánh tượng hấp dẫn.
A, giá như người ta cho các cô gái vào xem, tôi muốn xem quá đi thôi.
- Hấp dẫn khi ta chĩa súng vào kẻ khác, còn nếu kẻ khác chĩa
súng thắng vào mặt ta thì ớn lắm. Cô sẽ bỏ chạy. Maria Kondratievna ạ.
- Chẳng lẽ anh cũng sẽ bỏ chạy ư?
Nhưng Xmerdiakov không buồn trả lời. Im lặng một lúc rồi tiếng
đàn lại nổi lên và cái giọng kim lại véo von hát nốt khúc cuối:
Ta quyết chí ra đi tìm cuộc sống,
Ồi đô thành xao xuyến mộng phù hoa!
Há để đời tàn tạ mỗi ngày qua?
Liền đó một sự bất ngờ xảy ra: Aliosa bỗng hắt hơi. Ở chỗ chiếc
ghế băng lập tức im bặt. Aliosa đứng lên và đi về phía họ.
Đích thị là Xmerdiakov, diện thật bảnh, tóc chải sắp bóng mượt
và gần như quăn, giầy bóng loáng: Chiếc ghi ta đặt trên ghế băng. Người phụ nữ
là Maria Kondratievna, con gái chủ nhà; cô ta mặc chiếc áo dài màu xanh nhạt,
đuôi áo dài hai arsin; cô gái còn khá trẻ và coi cũng được, nhưng mặt tròn quá
và nhiều tàn nhang đến đáng sợ.
- Anh Dmitri tôi sắp về rồi chứ? - Aliosa hỏi. - cố giữ giọng
thật bình tĩnh.
Xmerdiakov chậm chạp rời ghế đứng lên, Maria Kondratievna
cùng đứng lên.
- Tôi làm sao biết được cậu Dmitri đi về lúc nào, tôi là người
canh giữ cậu ấy chắc? - Xmerdiakov khẽ đáp rành từng tiếng với vẻ khinh miệt.
- Tôi chỉ hỏi anh có biết không. - Aliosa giải thích.
- Tôi chẳng biết cậu ấy ở đâu và cũng không muốn biết.
- Vậy mà anh tôi nói với tôi rằng anh vẫn báo cho anh ấy biết
mọi chuyện xảy ra ở trong nhà và hứa rằng khi nào Agrafena Alecxandrovna lại
đây thì sẽ báo cho anh ấy.
Xmerdiakov chậm rãi ngước mắt nhìn Aliosa một cách điềm
nhiên.
- Nhưng vừa rồi cậu làm thế nào vào được đây, cổng cài then kỹ
lưỡng rồi kia mà? - Gá vừa hỏi vừa nhìn Aliosa chằm chằm.
- Từ ngoài ngõ tôi vượt rào vào thẳng trong chòi. Mong cô thứ
lỗi, anh nói với Maria Kondratievna, - tôi cần tìm anh ấy thật gấp.
- Ôi cha, chúng tôi đâu dám phiền trách cậu, - Maria
Kondratievna thích thú vì lời xin lỗi của Aliosa, nói dài giọng, - bởi vì chính
cậu Dmitri Fedorovich cũng vẫn vào bằng cách ấy, chúng tôi chưa ai biết thì cậu
đã ở trong chòi này rồi.
- Bây giờ tôi đang lùng tìm anh ấy, tôi rất muốn gặp anh ấy
hay muốn cô cho biết anh ấy hiện ở đâu. Cô hãy tin tôi, có một việc cực kỳ quan
trọng đối với anh ấy.
- Cậu ấy thường không nói với chúng tôi cậu ấy đi đâu. -
Maria Kondratievna ấp úng.
- Nhà này với tôi là chỗ quen biết nên tôi mới đến đây, -
Xmerdiakov lại lên tiếng, - thế mà ngay ở đây cậu ấy cũng cứ dồn ép tôi, luôn
luôn vặn hỏi về ông nhà: ở nhà ra sao, ai đến ai đi, tôi có thể báo cho cậu ấy
điều gì khác nữa không. Hai lần thậm chí cậu ấy doạ giết tôi.
- Giết là thế nào? - Aliosa ngạc nhiên.
Với cậu ấy thì chuyện đó có đáng gì, tính nết cậu ấy như thế
kia mà, hôm qua chính cậu cũng thầy đấy. Cậu ấy bảo nếu tôi để cho cô Agrafena
Alecxandrovna vào và ngủ đêm ở đây thì tôi là kẻ mất.mạng nước tiên. Tôi sợ cậu
ấy lắm, chứ nếu không thì hẳn là tôi phải đi trình nhà chức trách. Có mà trời
biết cậu ấy có thể gây ra chuyện gì.
- Mới rồi cậu ấy bảo anh Xmerdiakov: "Tao sẽ cho mày vào
cối giã nát ra" - Maria Kondratievna nói thêm.
, Nếu anh ấy nói là cho vào cổi giã thì có lẽ chỉ là doạ chơi
thế thôi Aliosa đáp. - Nếu tôi gặp được anh ấy bây giờ, tôi sẽ khuyên anh ấy
cho…
- Tôi chỉ có thể cho cậu biết điều này thôi. - Xmerdiakov dường
như chợt quyết định sau một lúc suy nghĩ. - Đôi khi tôi đến đây vì là chỗ hàng
xóm xưa nay mà, sao lại không lui tới kia chứ. Mặt khác, sáng sớm hôm nay, Ivan
Fedorovich sai tôi đến nhà cậu Dmitri ở phố Ozero, nhắn miệng bảo cậu ấy thế
nào cũng đến tiệm ở quảng trường cùng ăn bữa trưa. Tôi đến, nhưng cậu Dmitri
Fedorovich không có nhà, lúc ấy là tám giờ. "Ban nãy cậu ấy có về đây,
nhưng đi rồi" - người cho thuê nhà báo tôi đúng như vậy. Hình như họ dặn
nhau như thế. Bây giờ có lẽ cậu ấy đang ngồi ở tiệm với cậu Ivan Fedorovich bởi
vì cậu Ivan không về nhà ăn trưa, ông Fedor Pavlovich đã ăn một mình cách đây một
giờ và bây giờ đã đi nằm. Nhưng tôi khẩn khoản xin cậu đừng nói gì với cậu ấy về
tôi và về việc tôi tiết lộ với cậu, vì cậu ấy sẽ giết tôi chỉ vì một chuyện
không đâu.
- Anh Ivan hẹn anh Mitia đến tiệm ăn hôm nay à? - Aliosa nói
nhanh, hỏi lại.
- Vâng, đúng thế.
- Ở tiệm "Thủ đô" trên quảng trường phải không?
- Chính đó.
- Rất có thể! - Aliosa kêu lên, hết sức xúc động. - Cảm ơn
anh, Xmerdiakov, tin này rất quan trọng, tôi sẽ đến đấy ngay.
- Cậu đừng lộ ra là tôi nói nhé. - Xmerdiakov nói với theo.
- Ồ không, tôi vô tình tạt vào tiệm thôi, cứ yên tâm.
- Cậu đi đâu thế, để tôi mở cửa rào cho cậu. - Maria
Kondratievna nói to.
- Không, lối này gần hơn, tôi lại vượt qua rào thôi.
Tin ấy làm Aliosa bàng hoàng. Anh đâm bổ đến tiệm ăn. Mặc áo
thầy tu vào tiệm thì bất tiện, nhưng hỏi thăm ở cầu thang và nhờ gọi họ ra thì
được. Nhưng anh vừa đến tiệm thì một cánh cửa sổ bỗng mở ra và chính anh Ivan từ
cửa sổ gọi anh:
- Aliosa, chú lên đây với tôi ngay bây giờ được chứ? Tôi cảm
ơn chú lắm đấy.
- Được chứ ạ, nhưng em không biết mặc như thế này mà vào thì
có tiện không.
- Tôi ngồi phòng riêng mà, chú cứ lên thềm, tôi chạy xuống
đón đây…
Lát sau Alecxei đã ngồi bên anh. Ivan ăn một mình ở đây.
Chương 3
Tuy nhiên Ivan không ngồi phòng riêng. Đấy chỉ là một chỗ bên
cửa sổ, ngăn ra bằng nhưng tấm bình phong, những người bên ngoài vẫn không thể
nhìn thấy người ngồi sau bình phong.
Đây là phòng đầu, qua đó mới vào các phòng khác, có quầy hàng
ở dãy tường bên. Chốc chốc lại có những người hầu bàn chạy đi chạy lại. Khách ở
đây chỉ có một ông già, một quân nhân xuất ngũ, ngồi uống trà trong góc phòng.
Nhưng trong các phòng còn lại thì vẫn là cảnh nhộn nhịp huyên náo thường có
trong quán ăn tiếng thét gọi, tiếng mở chai bia, tiếng bia dọi vào nhau, tiếng
đại phong cam ồm ồm. Aliosa biết rằng Ivan hầu như không bao giờ đến quán này
và nói chung anh không thích đến quán ăn. Như vậy, anh ấy có mặt ở đây, -
Aliosa nghĩ, - chỉ để hẹn gặp anh Dmitri. Thế mà ở đây không có Dmitri.
- Tôi sẽ gọi cháo cá hoặc món gì cho chú, chú không thể chỉ sống
bằng nước trà được. - Ivan nói như thế, hết súc hài lòng vì đã dụ được Aliosa
lên. Bản thân chàng đã ăn xong và đang uống trà.
- Vâng, cho cháo cá, cháo cá xong rối uống trà, tôi cũng đói
ngấu rồi. - Aliosa vui vẻ nói.
- Thế còn mứt anh đào? Ở đây có mứt anh đào. Chú có nhớ thuở
bé ở nhà Polenov chú thích mứt anh đào chứ?
- Vậy ra anh vẫn nhớ chuyện ấy à? Thế thì cả mứt nữa, bây giờ
tôi cũng vẫn thích.
Ivan lắc chuông gọi hầu bàn và bảo đưa cháo cá, trà và mứt.
- Tôi vẫn nhớ, Aliosa ạ, tôi vẫn nhớ hồi ấy chú mười một tuổi,
còn tôi mười lăm. Mười lắm và mười một, chênh nhau tới mức mà ở độ tuổi ấy anh
em không bao giờ chơi với nhau. Thậm chí tôi không biết tôi có yêu chú không.
Khi tôi ra Moskva, mấy năm đầu thậm chí tôi không nhớ đến chú. Rồi khi chú đến
Moskva, hình như chúng ta có gặp nhau một lần ở đâu đó. Bây giờ tôi ở đây đã
hơn ba tháng mà anh em ta chưa hề nói chuyện với nhau. Ngày mai tôi ra đi và
trong lúc ngồi ở đây tôi nghĩ: làm thế nào gặp được chú ấy để chia tay, vừa hay
chú đi ngang qua.
- Anh muốn gặp tôi lắm à?
- Muốn lắm, tôi muốn hiểu rõ chú và để cho chú hiểu rõ tôi.
Hiểu nhau rồi thì chia tay. Theo tôi, tốt nhất là hiểu rõ về nhau trước khi
chia tay. Tôi thấy suốt ba tháng ấy chú nhìn tôi như thế nào, trong mắt chú
luôn luôn có một vẻ chờ đợi gì đó, đấy chính là điều tôi không chịu đựng nổi,
vì thế tôi không làm thân với chú. Nhưng cuối cùng tôi đã biết quý trọng chú: một
con người vững vàng. Chú nên biết rằng bây giờ tôi cười cợt nhưng tôi nói
nghiêm chỉnh đấy. Chú là người vững vàng. phải không? Tôi yêu nhưng con người vững
vàng như vậy, bất kể chỗ đứng của họ như thế nào, cho dù họ còn trẻ măng như
chú. Cuối cùng tôi thấy cái nhìn chờ đợi của chú không đáng ghét nữa. Tôi lại rốt
cuộc tôi yêu cái nhìn chờ đợi của chú… Hình như chú cũng yêu tôi vì lẽ gì đó,
phải không Aliosa?
- Tôi yêu anh, anh Ivan ạ. Anh Dmitri bảo: Ivan là nấm mồ.
Còn tôi thì tôi nói: Ivan là câu đố bí ẩn. Ngay bây giờ anh cũng vẫn là câu đố
bí ẩn, nhưng tôi đã hiểu được chút gì đó về anh, mà mới từ sáng nay thôi!
- Điều gì vậy? - Ivan bật cười.
- Anh không giận chứ? - Cả Aliosa cũng bật cười.
- Sao nào?
- Tôi khám phá ra rằng anh vẫn trẻ trung như tất cả các chàng
trai khác ở tuổi hăm ba, cũng tươi trẻ ngây thơ và dễ thương như thế, hơn nữa lại
thực sự là non dại! Sao, điều đó không làm anh bực bội lắm chứ?
- Trái lại, tôi sửng sốt vì sự trùng hợp! - Ivan reo lên một
cách vui vẻ và hăm hở. - Chẳng biết chú có tin không, sau cuộc gặp gỡ giữa
chúng ta sáng nay ở chỗ cô ấy, tôi chỉ nghĩ về bản thân, về việc tôi hai mươi
ba tuổi đầu rồi mà vẫn còn non nớt, vậy mà bây giờ đột nhiên chú đoán trúng và
mở đầu chính từ đó. Lúc nãy ngồi đây tôi tự nhủ: cho dù tôi không tin ở cuộc sống
nữa, cho dù tôi mất lòng tin vào người phụ nữ mà tôi yêu quý cho dù tôi không
tin vào trật tự của thiên nhiên nữa, thậm chí tin chắc rằng tất cả chỉ là một mớ
hỗn loạn đáng nguyền rủa, thậm chí là quỷ quái, cho dù tôi kinh hoàng về tất cả
nỗi khủng khiếp do sự thất vọng của con người đem lại thì tôi vẫn cứ muốn sống
và áp môi vào chén rượu trần ai, không rời khỏi nó cho đến khi uống cạn mới
thôi! Tuy nhiên đến ba mươi tuổi chắc là tôi sẽ vứt bỏ nó dù chưa uống hết và sẽ
ra đi… cũng chẳng biết là đi đâu. Nhưng cho đến năm ba mươi tuổi, tôi biết chắc
là tuổi trẻ của tôi sẽ không hết - mọi nỗi thất vọng, mọi sự chán đời. Tôi tự hỏi
nhiều lần: trên đời này có sự tuyệt vọng nào đè nén được niềm ham sống cuồng loạn
và có lẽ là bất nhã đó trong tôi được không? Và tôi cả quyết là không có cái gì
cả, tức là cho đến năm ba mươi tuổi, còn sau đó thì chính tôi không thiết nữa,
tôi cho là như thế. Lòng ham sống đó, một số nhà luân lý nhãi ranh ốm lao cho
là ti tiện, đặc biệt là những nhà thơ. Nó phần nào là đặc điểm của dòng họ
Karamazov, đấy là sự thật, ham sống bất kể hoàn cảnh nào, ở chú nhất định cũng
có cái đó, nhưng sao lại là ti tiện kia chứ? Trên hành tinh chúng ta vẫn còn rất
nhiều lực hướng tâm, Aliosa ạ. Tôi muốn sống, và tôi vẫn đang sống, tuy như vậy
là bất chấp logic. Tuy tôi không tin vào trật tự thiên nhiên, nhưng tôi yêu quý
những lộc non mùa xuân đang phơi mớ, còn dính nhựa, tôi yêu quý bầu trời xanh,
tôi yêu quý con người mà đôi khi, tôi yêu quý kỳ công của con người, mặc thì có
lẽ đã từ làu tôi không tin vào kỳ công, nhưng theo thói quen cũ, tôi vẫn kính
trọng trong lòng. Kìa, họ đã mang cháo cá cho chú, chú ăn ngon miệng nhé. Cháo
cá tuyệt lắm, họ nấu rất khéo. Tôi muốn sang châu Âu, Aliosa ạ, từ đây ra đi,
tôi biết rằng đến đấy tôi sẽ chỉ thấy một nghĩa trang, nhưng là một nghĩa trang
thân thiết nhất, thế đấy! Những người quá cố thân thiết yên nghỉ ở đấy, mỗi phiến
đã trên mỗ họ đều nói lên cuộc đời sôi nổi đã qua, nói lên niềm tin say mê vào
kỳ công, vào chân lý, vào cuộc đấu tranh và khoa học của họ, tôi biết trước là
tôi sẽ sụp xuồng đất hôn những phiến đã ấy và khóc trên mồ của họ, mặc dù tôi
thực lòng tin rằng đã từ lâu đấy chỉ là một nghĩa trang, không có gì hơn. Tôi sẽ
khóc không phải vì thất vọng, mà chỉ vì nước mắt nhỏ ra sẽ làm tôi cảm thấy hạnh
phúc. Tôi sẽ say sưa vì sự cảm kích của mình. Tôi yêu những lộc non mùa xuân
đang phơi mở, còn dính nhựa, tôi yêu bầu trời xanh, thế đấy! Trí tuệ, logic
không dính dáng gì đến, yêu bằng tâm can, bằng cõi lòng. Tôi nói lảm nhảm như vậy
chú có hiểu được gì không, Aliosa? - Ivan bỗng cất tiếng cười.
- Hiểu quá đi chứ, anh Ivan: anh muốn yêu bằng tâm can, bằng
cõi lòng, anh nói rất hay, tôi vô cùng vui mừng vì anh muốn sống như thế. -
Aliosa kêu lên. - Tôi cho rằng người ta phải yêu cuộc sống hơn hết mọi thứ trên
đời.
- Yêu cuộc sống hơn ý nghĩa của cuộc sống chứ?
- Hẳn là thế, yêu trước khi suy lý; như anh nói, nhất định là
trước khi suy lý, chỉ khi ấy tôi mới hiểu được ý nghĩa của cuộc sống, đã từ lâu
tôi cảm thấy như thế. Anh đã làm được một nửa công việc, anh đã có một cái vốn:
anh ham sống. Bây giờ cần cố gắng lo nốt nửa kia công việc, như vậy là anh được
cứu rỗi.
- A chú tìm cách cứu tôi nhưng có lẽ tôi chưa chết đâu mà! Nửa
thú hai của chú thế nào?
- Làm sống lại những người đã chết của anh, mà có lẽ họ chưa
hề chết bao giờ cả. Cho tôi chén trà. Tôi rất mừng là chúng ta nói chuyện với
nhau, anh Ivan ạ.
- Tôi thấy chú đang có điều gì hào hứng. Tôi rất thích những
professions de foi (1) của những người… tập tu như chú. Chú là người vững vàng,
Alecxei ạ. Có thật là chú ra khỏi tu viện không?
- Quả có thế. Trưởng lão bảo tôi trở lại cõi tục.
- Như vậy thì ta sẽ còn gặp nhau trong cõi tục này cho đến
năm ba mươi tuổi, khi tôi bắt đầu từ bỏ chén rượu đời. Ông già nhà mình không
muốn rời bỏ chén rượu đời cho đến năm bảy mươi tuổi, thậm chí ông mơ ước đến
năm tám mươi, chính ông nói vậy, ông nói điều đó quá nghiêm chỉnh, tuy ông là một
tay hề, ông đứng vững trên thói ham mê nhục dục của mình như đứng trên tảng đá…
tuy rằng ngoài ba mươi tuổi, thực ra có lẽ không còn chỗ nào đứng chân được nữa,
ngoài cái đó ra… Nhưng cố bám đến bảy mươi tuổi thì thật ti tiện, nên đến ba
mươi thôi thì hơn: như vậy còn giữ được "cái mẽ cao quý" dù là tự lừa
mình. Hôm nay chú không gặp Dmitri à?
- Không, nhưng tôi có gặp Xmerdiakov. - Và Aliosa kẻ vội vàng
nhưng tỉ mỉ với Ivan về cuộc gặp gỡ Xmerdiakov, Ivan đột nhiên có vẻ rất lo ngại
khi nghe anh kể, thậm chí còn hỏi lại một số điều.
- Nhưng nó nài nỉ tôi đừng nói với anh Dmitri rằng nó đã cho
tôi biết về anh ấy. - Aliosa nói thêm.
Ivan cau mày nghĩ ngợi.
- Anh cau có là vì thằng Xmerdiakov ư? - Aliosa hỏi.
- Phải, vì nó. Quỷ tha ma bắt nó đi, quả là tôi muốn gặp
Dmitri thật, nhưng bây giờ thì không cần nữa… - Ivan nói một cách miễn cưỡng.
- Anh sắp ra đi thực ư?
- Ừ!
- Thế chuyện anh Dmitri với ba rồi ra sao? Kết cục sẽ thế
nào? - Aliosa lo lắng thốt lên.
- Chú vẫn cứ luẩn quẩn với chuyện ấy! Mà tôi cần gì đến đấy?
-Tôi là người canh giữ anh Dmitri chắc? - Ivan cáu kỉnh độp lại, nhưng đột
nhiên lại mỉm cười chua chát. - Câu trả lời của Caine(2) với Thượng đế về người
em bị giết, phải không? Có lẽ lúc này chú nghĩ đến điều ấy phải không? Nhưng
quái quỷ thật, quả thật tôi không thể ở lại để canh giữ hai người ư? Tôi đã làm
xong việc của tôi và tôi đi. Chắc chú nghĩ rằng tôi ghen với anh Dmitri và ba
tháng qua tôi cố tìm cách phỗng người đẹp Ekaterina Ivanovna của anh ấy. Ồ, quỷ
ạ, tôi có việc của tôi. Tôi đã xong việc thì tôi đi. Vừa rồi tôi đã giải quyết
xong việc của tôi, chú chứng kiến đấy.
Chuyện vừa rồi ở nhà Ekaterina Ivanovna ấy à?
- Ừ, ở chỗ cô ấy, tôi đã tức thời tự giải thoát. Thế thì đã
sao kia chứ? Tôi bận tâm gì đến Dmitri kia chứ. Dmitri không dính dáng gì đến
đây. Tôi có việc riêng của tôi với Ekaterina Ivanovna. Tự chú biết đấy, anh
Dmitri xử sự như thể anh ấy đồng mưu với tôi. Thực ra tôi tuyệt nhiên không cầu
xin gì anh ấy cả, chính anh ấy trịnh trọng nhường lại nàng cho tôi và cầu chúc
cho chúng tôi. Thật là tức cười. Không, Aliosa, không, giá như chú biết bây giờ
tôi cảm thấy nhẹ nhõm như thế nào! Tôi ngồi ăn ở đây, và chú có tin không, tôi
muốn gọi sâm banh để uống mừng giờ tự do đầu tiên cửa tôi. Hừ, ngót nửa năm, vậy
mà bỗng nhiên trong chốc lát, trong chốc lát rũ bỏ được hết. Thậm chí mới hôm
qua thôi tôi đâu có ngờ rằng nếu muốn thì có thể chấm dứt chuyện đó dễ như bỡn!
- Anh nói về tình yêu của mình như thế ư, anh Ivan?
- Tình yêu, nếu chú muốn gọi như thế thì cũng được, tôi đã mê
một tiểu thư, một cô sinh viên đại học. Tôi đau khổ vì cô ấy, cô ấy hành hạ
tôi. Tôi nát óc vì cô ấy… thế rồi bỗng nhiên tất cả tan biến. Lúc ở đấy tôi nói
một cách hào hứng, thế mà khi ra khỏi nhà tôi phá lên cười, chú nên tin tôi.
Không, tôi nói hoàn toàn thật đấy.
- Bây giờ anh nói chuyện ấy cũng rất mực vui vẻ. - Aliosa nhận
xét, đồng thời chăm chú nhìn khuôn mặt quả thật là đã trở nên vui vẻ của anh.
- Tôi làm sao biết được rằng tôi hoàn toàn không yêu nàng kia
chứ? Hề - hề. Vậy mà té ra là không yêu. Nhưng trước đây tôi thích nàng lắm đấy.
Thậm chí lúc tôi thuyết lý hùng hồn tôi vẫn thích nàng lắm. Và chú biết không,
bây giờ tôi cũng vẫn thích ghê lắm, ấy thế mà tôi bỏ nàng ra đi dễ dàng như vậy.
Chú tưởng tôi nói phách phải không?
- Aliosa, - Ivan bật cười, - đừng có lý sự về tình yêu! Không
đẹp cho chú đâu. Lúc ấy chú đột nhiên nói tuột ra, chà - chà! Tôi còn quên
không hôn chú về việc ấy… Nàng làm tôi khổ tâm biết bao! Tôi ngồi đấy mà đúng
là tan lòng nát ruột. Ôi chao, nàng biết tôi yêu nàng! Nàng yêu tôi chứ không
phải là yêu Dmitri, - Ivan vui vẻ nhấn mạnh. - Dmitri chỉ là nỗi đau vò xé của
nàng. Tất cả những gì tôi nói với nàng lúc ấy hoàn toàn là thật. Nhưng điều
quan trọng nhất là có lẽ phải mười lăm hay hai mươi năm nữa nàng mới hiểu ra rằng
nàng không hề yêu Dmitri, mà chỉ yêu tôi thôi, người mà nàng vẫn làm cho khổ sở.
Mà có lẽ chẳng bao giờ nàng hiểu ra, mặc dù có bài học hôm nay. Như vậy càng tốt:
tôi đã lìa bỏ nàng ra đi mãi mãi. A mà bây giờ nàng thế nào? Có chuyện gì sau
khi tôi ra về?
Aliosa kể với anh về việc Ekaterina Ivanovna lên cơn thắn
kinh và hình như bây giờ vẫn còn bất tỉnh và mê sảng.
- Liệu bà Khokhlakova có nói dối không?
- Hình như không.
- Cần hỏi thăm xem. Tuy nhiên, chưa bao giờ có ai chết vì lên
cơn thần kinh. Vả lại cũng tốt thôi. Chúa ban cho phụ nữ món ấy vì yêu họ. Tôi
sẽ không đến đấy đâu. Lại đâm đầu đến làm gì.
- Nhưng lúc ấy anh đã nói với nàng là nàng chưa bao giờ yêu
anh.
- Tôi cố ý nói thế đấy. Aliosa ạ, tôi sẽ gọi sâm banh, đề uống
mừng tự do của tôi. Không, giá như chú biết tôi vui sướng dường nào.
- Không, anh ạ, chúng ta không nên uống thì hơn. - Aliosa
nói. - Với lại tôi hơi buồn.
- Phải, chú buồn từ lâu rồi, tôi thảy điều đó từ lâu.
- Thế anh nhất quyết sáng mai đi à?
- Sáng ư? Tôi không nói là buổi sáng… Nhưng có lẽ là sáng.
Chú có tin hay không, hôm nay tôi ăn ở đây chỉ là để khỏi phải ăn với ông già,
tôi đã sớm ghét ông già đến thế rồi đấy. Nếu chỉ có ông ấy thôi thì tôi đã bỏ
đi từ lâu rồi. Thế làm sao chú lo lắng đến thế về việc tôi sắp ra đi? Từ giờ đến
lúc tôi đi, anh em ta còn nhiều thời gian vô kể. Nó là vĩnh cửu, thiên thu bất
tận!
- Ngày mai anh đi rồi thì vĩnh cửu cái quái gì?
- Nhưng với anh em ta thì có can gì đâu chứ? - Ivan bật cười.
Ta vẫn còn kịp bàn chuyện của chúng ta, chuyện riêng của chúng ta, chúng ta đến
đây để làm gì nhỉ? Sao chú lại có vẻ ngạc, nhiên vậy? Chú trả lời đi: chúng ta
gặp nhau ở đây để làm gì? Để nói về tình yêu với Ekaterina Ivanovna, về ông già
và Dmitri à? Về nước ngoài à? Về tinh cảnh nguy ngập của nước Nga à? Về hoàng đế
Napoleon à? Phải thế không, có phải vì thế không?
- Không, không phải vì thế.
Thế thì chính chú hiểu là để làm gì. Với người khác thì chẳng
nói, chứ chúng ta là những kẻ còn non dại, chúng ta trước hết phải giải quyết
nhưng vấn đề muôn thuở, đó làm mối bận tám của chúng ta. Cả nước Nga trẻ tuổi
bây giờ chỉ bàn về nhưng vấn đề vĩnh cửu. Chính bây giờ, khi tất cả những người
già bỗng dưng đều chú tâm vào những vấn đề thực tế. Vì lẽ gì suốt ba tháng ấy
chú cứ nhìn tôi chờ đợi? Để hỏi tôi: "Tín ngưỡng của anh là gì "hay
anh hoàn toàn không tín ngưỡng?" - Cái nhìn của chú suốt ba tháng trời
chung quy lại là như vậy, phải không, Alecxei Fedorovich?
- Có lẽ thế - Aliosa mỉm cười. - Nhưng lúc này anh không cười
nhạo tôi đấy chứ?
- Tôi mà cười ấy ư? Tôi không muốn làm rầu lòng người em đã
suốt ba tháng trời nhìn tôi trong tâm trạng chờ đợi như thế, Aliosa, hãy nhìn
thẳng vào tôi, chính tôi cũng đích thực là chú bé con như chú, chỉ khác cái là
tôi không phải là người tập tu. Cho đến giờ những chú bé Nga làm gì? Nghĩa là
nói một số người trong bọn họ? Chẳng hạn hãy xét cái quán ăn hôi hám này, họ
kéo nhau đến đây, chúi vào một góc. Trước đó họ không hề biết nhau, rồi sau đó,
khi rời khỏi nơi này, bốn chục năm nữa họ cũng sẽ không biết nhau, thế thì họ
luận bàn cái gì khi chộp được một phút ngắn ngủi ở quán ăn? Họ bàn về những vấn
đề vũ trụ: có Chúa Trời không, có linh hồn bất diệt không? Những người không
tin có Chúa Trời thì nói về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa vô chính phủ, về việc
cải tạo toàn nhân loại theo một thể chế mới, như vậy thì sẽ vẫn là trò quý mà
thôi, vẫn là những vấn đề ấy, nhưng nhìn từ đầu đằng kia. Thời buổi này ở ta có
biết bao nhiêu chú thiếu niên Nga xuất sắc nhất chỉ làm mỗi cái việc là luận
bàn về những vấn đề vĩnh cửu thôi. Phải thế không?
- Đúng đối với người Nga chân chính thì vấn đề đầu tiên và
trước hết cố nhiên là những vấn đề: có Chúa Trời không và có linh hồn bất diệt
không, hay như anh nói, những vấn đề nhìn từ đầu đằng kia, mà thế là phải thôi.
- Aliosa nói và vẫn với nụ cười hiền lành và dò xét ấy, nhìn Ivan chằm chằm.
- Này, Aliosa ạ, làm người Nga đôi khi không phải là khôn lắm
đâu, nhưng không thể tưởng tượng nổi cái gì ngốc nghếch hơn việc mà lúc này những
gã thiếu niên Nga đang bận tâm. Nhưng có một gã thiếu niên Nga mà tôi rất yêu mến.
- Anh dẫn chuyện đến là khéo. - Aliosa bỗng bật cười.
- Này, nói đi, cần bắt đầu từ đâu, ra lệnh đi, từ Chúa Trời
ư? Có Chúa Trời hay không chứ gì?
- Tuỳ anh, muốn bắt đầu từ đâu cũng được, cho dù là "từ
đầu đằng kia". Hôm qua ở nhà ba, anh tuyên bố rằng không có Chúa Trời kia
mà. - Aliosa nhìn anh với vẻ dò xét.
- Hôm qua trong bữa ăn ở nhà ông già, tôi cố ý nói vậy để
trêu chọc chú mà thôi, và tôi thấy mắt chú nảy lửa. Nhưng bây giờ tôi hoàn toàn
sẵn lòng nói chuyện với chú và nói rất nghiêm chỉnh. Tôi muốn thoả thuận với
chú, Aliosa, vì tôi không có bạn, tôi muốn thử tìm bạn. Này, chú tưởng tượng
xem, có lẽ tôi thừa nhận là có Chúa Trời, - Ivan bật cười, - đấy là điều bất ngờ
đối với chú, phải không?
- Vâng, tất nhiên, miễn là lúc này không phải anh đùa.
- "Đùa". Hôm qua ở chỏ trưởng lão người ta bảo là
tôi đùa. Này, chú em đáng yêu ạ, thế kỷ mười tám có một ông già trần tục nói rằng
nếu như không có Chúa Trời thì phải bịa đặt ra Chúa Trời, s'iln'existaitpas
Dieu il faudra it l'inventer. Quả thật là con người bịa đặt ra Chúa Trời. Và điều
lạ lùng, điều kỳ dị không phải là thực sự có Chúa Trời, điều kỳ dị ấy là ý nghĩ
ấy - ý nghĩ cần phải có Chúa Trời - lại có thể len vào đầu một con vật hoang dã
và hung dữ như con người, một ý nghĩ rất đỗi thiêng liêng, rất mực cảm động,
khôn ngoan đến điều và làm vinh dự cho con người vô cùng. Về phần tôi thì đã từ
lâu tôi quyết định không nghĩ đến chuyện con người sáng tạo ra Chúa Trời hay
Chúa Trời sáng tạo ra con người. Dĩ nhiên tôi sẽ không điểm lại tất cả các nên
đề hiện nay của các chú thiếu niên Nga về vấn đề này, tất cả các tiên đề đó đều
là suy ra từ những giả thuyết châu Âu; bởi vì cái mà ở đấy là giả thuyết thì lập
tức trở thành tiên đề đối với chú thiếu niên Nga, mà chẳng phải chỉ với các chú
thiếu niên thỏi đâu, mà cả với các giáo sư của họ nữa, bởi vì điều rất thường
có ở ta hiện nay là các giáo sư Nga cũng là những chú thiếu niên Nga. Vì thế
tôi bỏ qua tất cả các giả thuyết. Bây giờ nhiệm vụ của tôi với chú là gì? Nhiệm
vụ của tôi phải làm thế nào giải thích thật mau lẹ với chú về bản chất của tôi:
tôi là người thế nào, tôi tin vào cái gì và hy vọng gì, thế chứ gì? Vì vậy tôi
tuyên bố rằng tôi chấp nhận Chúa Trời một cách trực tiếp và giản dị. Tuy nhiên,
cần lưu ý một điều: nếu như có Chúa Trời và quả thực là Chúa Trời sáng tạo ra
trái đất thì chúng ta hoàn toàn biết rằng Ngài tạo ra nó theo hình học Euclit,
còn trí tuệ con người thì chỉ có khái niệm về ba chiều không gian. Thế nhưng
trước kia và ngay cả bây giờ nữa vẫn có những nhà hình học và những nhà triết học,
thậm chí cả những người lỗi lạc nhất trong bọn họ, hoài nghi về việc cả vũ trụ,
hay rộng hơn nữa, mọi tồn tại được tạo nên chỉ theo hình học Euclỉt, thậm chí họ
dám mơ ước rằng hai đường thẳng song song, mà theo Euclit thì không thể gặp
nhau ở vô cực. Chú ạ, tôi đã quyết định rằng nếu như ngay cả điều đó tôi cũng
không hiểu nổi thì sao tôi hiểu được về Chúa Trời. Tôi khiêm nhường thú nhận rằng
tôi không có chút khả năng nào giải quyết được những vấn đề như thế, trí tuệ
tôi là trí tuệ Euclit phàm trần, vì thế làm thế nào mà giải quyết vấn đề không
phải của thế gian này. Mà tôi cũng khuyên chú đừng bao giờ nghĩ đến chuyện ấy,
bạn tôi ạ, nhất là vấn đề có hay không có Chúa Trời. Đấy là những vấn đề vượt hẳn
ra ngoài khả năng của cái trí tuệ chỉ có khái niệm về ba chiều. Vậy là tôi chấp
nhận có Chúa Trời, chẳng những là sẵn lòng chấp nhận, mà còn chấp nhận cả sự
anh minh và mục đích của Ngài mà chúng ta hoàn toàn không biết được, tôi tin
vào trật tự, vào ý nghĩa của cuộc sống, tôi tin vào sự hài hoà vĩnh cửu mà một
ngày ba chúng ta sẽ hoà nhập cả lại mà tạo nên, tôi tin vào Lời, tất cả vũ trụ
hướng về Lời. Lời "ở nơi Chúa Trời" và Lời chính là Chúa Trời, vân
vân và vân vân, cứ thế đến vô cùng. Người ta đã nói bao nhiêu lời về chuyện
này. Dường như tôi đang ở trên con đường đúng, phải không? Chú hãy tưởng tượng
rằng rốt cuộc thì tôi không chấp nhận thế giới này của Chúa Trời, tuy tôi biết
là có. Chúa Trời, nhưng tôi không dung nạp. Tôi chối bỏ không phải là Chúa Trời,
chú nên hiểu điều đó, mà là thế giới do Chúa Trời tạo ra, tôi không chấp nhận
thế giới của Chúa và không thể thuận tình chấp nhận được. Tôi xin nói rõ: Như một
hài nhi, tôi tin chắc rằng nhưng đau khổ rồi sẽ lành vết và qua đi, toàn bộ
tính hài kịch đáng giận của những mâu thuẫn trong quan hệ giữa người với người
sẽ tan biến như một ảo ảnh thảm hại như nguyên tử là sự bịa đặt bỉ ổi của trí
óc Euclit yếu đuối và nhỏ mọn, và cuối cùng, đến phần chót của tấn trò đời, khi
sự hài hoà vĩnh cửu ngự trị khắp nơi thì sẽ xuất hiện một cái gì quý giá đủ cho
mọi trái tim, làm dịu hết mọi phẫn nộ, chuộc lại được mọi tội ác người đời và tất
cả máu đã đổ ra, đủ để chẳng những có thể tha thứ mà còn biện bạch cho tất cả
những gì đã xảy ra với người đời, cho dù là tất cả những cái đó sẽ thành sự thực,
sẽ đến, nhưng tôi không chấp nhận và không muốn chấp nhận! Cho dù nhưng đường
song song sẽ gặp nhau và chính mắt tôi nhìn thấy; tôi nhìn thấy và tôi sẽ nói rằng
chúng đã gặp nhau, nhưng tôi vẫn sẽ không chấp nhận! Đấy là bản chất của tôi,
Aliosa ạ, đấy là luận đề của tôi. Tôi nói với chú hoàn toàn nghiêm chỉnh đấy.
Tôi chủ tâm bắt đầu cuộc nói chuyện này giữa tôi và chú sao cho thật ngớ ngẩn,
nhưng rồi dắt dẫn nó đến sự xưng tội của tôi, bởi vì chú cũng chỉ cần có thế
thôi. Chú đừng bàn về Chúa, mà chỉ cần biết ông anh yêu mến của chú lấy gì làm
lẽ sống. Thì tôi đã nói ra rồi đấy.
Ivan kết luận bài độc thoại tràng giang đại hái của mình, đột
nhiên trong lòng chàng dậy lên một tình cảm đặc biệt, bất ngờ.
- Nhưng tại sao anh lại mở đầu "sao cho thật ngớ ngẩn"?
- Aliosa hỏi, trầm ngâm nhìn anh.
- Đúng, thứ nhất là để tạo nên màu sắc đặc Nga: người Nga bàn
luận về những đề tài ấy bao giờ cũng hết sức ngớ ngẩn. Hai nữa là càng ngớ ngẩn
càng gần với thực tế. Càng ngớ ngẩn càng sáng rõ. Ngớ ngẩn thì ngắn gọn và chân
chất, còn tinh khôn thì quanh co và lẩn trốn. Tinh khôn thì ti tiện, ngớ ngản
thì ngay thẳng thật thà. Tôi đã đi đến chỗ bộc lộ sự thất vọng của tôi, và tôi
trình bày sự thất vọng đó càng ngớ ngẩn càng có lợi cho tôi.
- Anh sẽ giải thích cho tôi biết vì sao anh "không chấp
nhận thế giới này" chứ? - Aliosa nói.
- Ừ, cố nhiên, tôi sẽ giải thích, không có gì là bí mật, thì
tôi cũng cốt thế mà thôi. Chú em tôi ơi, tôi không có ý làm hỏng chú và đẩy chú
ra khỏi chỗ đứng vững chắc của chú, mà có lẽ tôi muốn dùng chú làm phương thuốc
chữa bệnh cho mình. - Ivan bỗng mỉm cười, hoàn toàn như một đứa bé nhỏ tuổi hiền
lành.
Chưa bao giờ Aliosa thấy anh có nụ cười như thế.
Chú thích:
(1) Tiếng Pháp trong nguyên bản, nghĩa là sự bộc lộ tín ngưỡng
(N.D).
(2) Caine và Abel đềulà con của Eva với Adam. Caine giết em
là Abel, vì ghen tỵ. Chúa Trời hỏi Caine về Abel, Caine đáp: "Tôi là người
coi giữ em tôi sao?" (N.D).
Chương 4
Nổi loạn
- Tôi phải thú nhận với chú một điều, - Ivan nói, - tôi chưa
bao giờ hiểu được làm sao có thể yêu được đồng loại. Theo tôi, chính đồng loại
mới là những kẻ ta không thể nào yêu được, hoạ chăng là những người ở xa thì
may ra. Tôi đã có đọc ở đâu đó về 'Gioan nhân từ" (một vị thánh)(1): một
người qua đường đói rét xin thánh sưởi ấm cho, ông ta lên nằm cùng giường với
người ấy ôm lấy ấy hà hơi vào miệng y, mà miệng y thì mưng mủ và hôi thối vì một
bệnh khủng khiếp gì không rõ. Tôi tin chắc thánh phải gắng tự dối mình để làm
được như thế, do thấm nhuần bổn phận phải yêu người, do tự hành thân để giải tội.
Muốn yêu được một con người thì phải giấu mặt đi, hễ phô mặt ra là tình yêu biến
mất.
- Trưởng lão Zoxima đã nhiều lần nói đến điều ấy, - Aliosa
lưu ý - Cha cũng nói rằng đối với nhiều người ít kinh nghiệm về tình yêu, nhiều
khi bộ mặt con người là trở ngại ngăn cản người ta yêu nhau. Thế nhưng trong
nhân loại vẫn có nhiều tình yêu, kể cả tình yêu gần như tình yêu của Chúa Kito,
điều đó thì tôi biết qua kinh nghiệm bản thân, anh Ivan ạ.
- Còn tôi thì hiện thời tôi chưa biết điều đó và không thể
nào hiểu được, và rất nhiều người cũng như tôi. Vấn đề là: đấy là do tính xấu của
người đời, hay bản lĩnh con người vốn như thế. Tôi cho rộng lòng yêu người của
Chúa Kito là một thứ phép lạ không thể có trên cõi thế. Thì Ngài là Chúa Trời
mà. Nhưng chúng ta không phải là Chúa Trời. Chẳng hạn, giả sử tôi đau khổ sâu sắc,
những người khác không bao giờ có thể biết được tôi đau khổ dường nào, vì đấy
là người khác, chứ không phải là tôi, vả lại ít có người chịu thừa nhận kẻ khác
là con người đau khổ (dường như đấy là một phẩm tước). Tại sao vậy, chú nghĩ thế
nào? Ấy là bởi tôi có mùi hôi hám chẳng hạn, hay tại mặt tôi nom đần độn, hay tại
tôi đã có lần giẫm phải chân người đó. Với lại, đau khổ có nhiều loại: nỗi đau
khổ loại này thì ân nhân của tôi còn chấp nhận được, nhưng loại đau khổ cao hơn
một chút, đau khổ vẻ tư tưởng chẳng hạn thì không được, hãn hữu lắm ngài mới
cho phép, bởi vì giả dụ ngài nhìn tôi và bỗng thấy mặt tôi không phải là bộ mặt
mà trí tưởng tượng của ngài hình dung ra cho một người đau khổ về một tư tưởng
như thế. Vậy là lập tức ngài tước bỏ những ân huệ ban cho tôi, mà hoàn toàn
không phải là độc ác Người hành khất, đặc biệt là những người hành khất cao
quý, không bao giờ nên xuất đầu lộ diện, mà phải xin bố thí qua báo chí. Về lý
thuyết thì vẫn có thể yêu đồng loại, dù là yêu từ xa, nhưng ở gần thì hầu như
không bao giờ. Nếu mọi cái như trên sân khấu trong vũ ba lê, nhưng kẻ hành khất
xuất hiện trong những bộ quần áo rách bằng tơ lụa và những tấm đăng ten tơi tả,
xin bố thí bằng động tác vũ duyên dáng thì có thể thích thú ngấm nhìn họ. Nhìn
mà thích thú, chứ vẫn không yêu. Những chuyện ấy nói thế đủ rồi. Tôi chỉ cần đặt
chú vào điểm nhìn của tôi. Tôi muốn nói về nỗi đau khổ của nhân loại nói chung,
nhưng tốt hơn hết là ta đừng lôi ở nỗi đau khổ của trẻ em mà thôi, điều đó sẽ
làm cho quy mô lý lẽ của tôi giảm bớt đi mười lần, nhưng chỉ nói về trẻ em thôi
thì hơn. Như vậy thì bất lợi cho tôi hơn, tất nhiên. Nhưng thứ nhất, trẻ em thì
ở gần vẫn có thể yêu chúng được, cho dù chúng bẩn thỉu, cho dù mặt mũi chúng xấu
xí (nhưng tôi cho rằng trẻ em không bao giờ xấu xí). Hai nữa, tôi không nói đến
người lớn còn vì lẽ họ đáng kinh tởm, không đáng được yêu, họ đang phải chịu sự
trừng phạt: họ đã ăn quả cấm và nhận biết được thiện ác, họ đã trở nên "giống
như Chúa Trời". Bây giờ họ vẫn tiếp tục ăn quả cấm. Nhưng trẻ em chưa ăn
gì cả và chưa phạm tội gì hết. Chú có yêu tôi không, Aliosa? Tôi biết chú yêu
trẻ, chú sẽ hiểu được vì sao lúc này lôi chỉ muốn nói đến trẻ em. Trẻ em trên
trái đất cũng đau khổ nhiều không, cố nhiên đấy là để chuộc tội cho cha, chúng
bị trừng phạt vì cha chúng đã ăn quả cấm, - nhưng đấy là lập luận của thế giới
khác trái tim người trên cõi đất này không hiểu được. Người vô tội nhất là lại
vô tội như trẻ thơ, không thể phải đau khổ thay cho kẻ khác! Tôi làm chú ngạc
nhiên, Aliosa, nhưng tôi cũng yêu trẻ lắm. Và xin lưu ý cho một điều: những kẻ
tàn ác, đam mê, ham nhục dục, nhưng kẻ dòng họ Karamazov, đôi khi cũng rất yêu
trẻ. Trẻ em, chí ít là trẻ dưới bảy tuổi, khác xa người lớn: đấy tuồng như là một
thực thể khác, một bản chất khác. Tôi biết một tên cướp bị giam trong tù: trong
thời gian còn hoành hành, ban đêm khi lọt vào nhà người ta để cướp bóc, nhiều
khi hắn giết cả từng gia đình, tiện tay cắt cổ luôn mấy đứa trẻ. Nhưng khi ở tù
hắn yêu trẻ lạ lùng. Qua cửa sổ phòng giam, hắn chỉ nhìn bọn trẻ chơi trong sân
nhà tù. Hắn đã làm cho một thằng bé nhỏ tuổi quen đến gần cửa sổ chỗ hắn. Thằng
bé rất thân với hắn… Chú có biết tôi nói những chuyện ấy để làm gì không,
Aliosa? Tôi hơi đau đầu và tôi buồn.
- Anh nom có vẻ kỳ lạ, - Aliosa nhận xét với vẻ lo lắng, - tuồng
như anh loạn trí thế nào ấy.
- A mà mới đây một người Bungari ở Moskva có kể với tôi câu
chuyện. - Ivan Fedorovich nói tiếp, như thể không nghe cậu em nói. - Người Thổ
và người Trerkex giở trò tàn ác ở khắp nơi trên đất Bungati, vì sợ cuộc nổi dậy
toàn thể của người Xlavơ. Chúng đốt nhà, cắt cổ, hãm hiếp đàn bà và trẻ em,
đóng đinh tai những người bị bắt vào hàng rào, để như thế đến sáng, rồi đem
treo cổ, và đủ mọi hành động khác không thể nào tưởng tượng nối. Thực ra, đôi
khi người ta nói về sự tàn bạo "thú vật" của con người, nhưng như vậy
thật là oan ức cho thú vật: thú vật không bao giờ tàn bạo được như người, con
người tàn bạo một cách tài tình có nghệ thuật. Hổ chỉ cắn xé, và chỉ biết làm
như thế thôi. Nó không bao giờ nghĩ ra được cái trò dùng đinh đóng tai người ta
vào hàng rào suốt đêm, cho dù nó có thể làm được việc đó đi nữa. Xin nói thêm
là bọn Thổ Nhĩ Kỳ ấy hành hạ cả trẻ con với một khoái lạc bạo dâm, kể từ việc
dùng dao găm rạch bụng mẹ lôi cái thai ra: cho đến việc tung đứa hài nhi lên rồi
dùng lưỡi lê xọc lấy ngay trước mắt bà mẹ. Thích thú nhất là làm ngay trước mặt
các bà mẹ. Tuy nhiên, có một cảnh làm tôi hết sức quan tâm. Chú hãy tưởng tượng
xem: một đứa hài nhi trên tay bà mẹ đang sợ run lên, mấy tên Thổ Nhĩ Kỳ quây
xung quanh. Chúng định bày ra một trò vui: chúng vuốt ve đứa bé, cười để làm
cho nó cười, chúng thành công, đứa bé cười sằng sắc. Lúc ấy một tên Thổ Nhĩ Kỳ
chĩa nòng súng lục vào sát mặt đứa bé, cách chưa đến một gang tay. Đứa bé cười
to vui sướng, đưa đôi tay bé xíu ra với lấy cây súng, thế là nhà nghệ sĩ đột
nhiên bóp cò, bắn vớ đầu đứa bé con… Có nghệ thuật đấy chứ, phải không? Vậy mà
người ta bảo là người Thổ thích của ngọt đấy.
- Anh ơi, anh nói tất cả những chuyện ấy để làm gì nhỉ?
- Tôi cho rằng nếu không có quỷ thì tức là quỷ do người tạo
ra, những người tạo ra quỷ theo hình ảnh của mình và giống như mình.
- Nếu vậy thì cả Chúa Trời cũng thế.
- Chú xoay trở ngôn từ khéo lạ, như Polomux đã nói trong
"Hamlet". - Ivan bật cười. - Chú nắm ngay lấy lời tôi để vặn tôi,
thôi được, tôi lấy làm mừng Chúa Trời của chú rõ thật là tệ hại khi tạo ra con
người theo hình ảnh của mình và giống như mình. Ban nãy chú hỏi tôi về những
chuyện ấy để làm gì. Chú ạ, tôi là người thích sưu tầm các sự kiện và chẳng biết
chú có tin hay không, tôi ghi chép và thu thập những chuyện đăng trên báo và
nghe kể nguồn gốc từ đâu, đấy là một loại chuyện phiếm, và tôi đã lập được một
bộ sưu tập dày dặn. Bọn Thổ Nhĩ Kỳ cố nhiên là có mặt trong bộ sưu tập đó,
nhưng đấy toàn là người nước ngoài. Tôi có cả những chuyện trong nước thậm chí
còn hơn cả chuyện về người Thổ Nhĩ Kỳ. Chú ạ, ở ta việc đánh đập, dùng roi vọt
xảy ra nhiều hơn, đấy là ảnh chất dân tộc: ở ta không thể có chuyện đóng đinh
tai người, dùsao chúng ta cũng là người châu Âu, nhưng dùng roi vọt là tài nghệ
riêng không thể tước bỏ được của chúng ta. Ở nước ngoài bây giờ hình như không
có chuyện đánh người, phong tục đã thuần hoá hay luật pháp khiến người ta không
dám dùng roi đánh người, nhưng họ đã bù đắp lại bằng một thói quen khác cũng có
tính chất dân tộc như thói quen của chúng ta, và có tính dân tộc đậm nét đến nỗi
cách đó dường như không thể dùng ở nước ta, mặc dù hình như nó có du nhập vào
nước ta, đặc biệt là thời kỳ có phong trào tôn giáo trong giới thượng lưu của
ta. Tôi có một cuốn sách mỏng rất lý thú, dịch từ tiếng Pháp, viết về chuyện ở
Giơnevơ, mới gần đây thôi chỉ mới năm năm trước, người ta xử tử một tên hung đồ
và giết người tên là Risa, hắn mới có hai mươi tư tuổi, đã ăn năn và cải theo đạo
Kito ngay trước khi lên đoạn đầu đài. Gã Risa ấy là đứa con hoang không rõ của
ai, mới lên sáu hắn đã bị người ta đem cho những người chăn cừu Thuỵ Sĩ ở trên
núi. Những người này nuôi hắn để có người làm. Ở với họ, hắn lớn lên như một
con thú hoang d, họ chẳng dạy dỗ gì hắn cả, mới lên bẩy hắn đã phải đi chăn cừu,
chịu mưa gió rét mướt, gần đây không có quần áo và không được nuôi ăn. Khi làm
như vậy, cố nhiên không người nào trong bọn họ đắn đo và ân hận, trái lại họ
cho rằng đấy hoàn toàn là quyền của họ, bởi vì người ta đã đem Risa cho họ như
cho một đồ vật, thậm chí họ thấy không cần phải cho nó ăn. Chính Risa kể lại rằng
trong những năm ấy, như đứa con lưu lạc trong Phúc âm, hắn thèm ăn vô cùng, dù
là ăn món cám hỗn hợp nuôi vỗ heo cho chóng béo để đem bán, nhưng ngay cả thứ
đó người ta cũng không cho hắn và khi hắn lấy trộm ăn thì lại bị đánh đập tàn
nhẫn. Hắn sống như thế suốt thời thơ ấu và thời thanh niên, cho đến khi lớn
lên, cứng gân mạnh cốt, hắn bắt đầu đi ăn cắp. Kẻ mọi rợ ấy đi làm còng nhật để
kiếm tiền ở Giơnevơ, kiếm được bao nhiêu uống rượu hết, sống như con quái vật
và cuối cùng hắn giết một ông già để cướp của. Hắn bị bắt, bị đưa ra toà và
lãnh án tử hình. Ở đây người ta không có tính đa cảm. Ở trong tù, lập tức hắn bị
mấy ông mục sư, mấy ông uỷ viên các hội Kito giáo, mấy bà từ thiện… bâu lấy.
Các ông các bà dạy cho hắn biết đọc biết viết, giảng Phúc âm, khuyên nhủ, thuyết
phục, nhiếc móc, nài ép hắn, cuối cùng hắn long trọng thú nhận là mình phạm tội
ác. Hắn tự tay viết cho toà án rằng hắn là con quái vật, nhưng rút cục hắn đã xứng
đáng được Chúa Trời soi sáng và ban ân cho hắn. Cả Giơnevơ xúc động, thành
Giơnevơ từ thiện và ngoan đạo. Tất cả những người cao quý có giáo dục đổ đến
nhà tù gặp hắn. Người ta ôm hôn Risa: "Cậu là anh em của chúng tôi, Chúa
đã xuống ơn cho cậu!". Risa chỉ khóc vì cảm kích: "Vâng Chúa đã xuống
ơn cho tôi! Trước kia, suốt thời thơ ấu và thanh niên, được miếng cám lợn là
tôi vui sướng, còn bây giờ Chúa đã xuống ơn cả cho tôi, tôi chết trong
Chúa" - "Phải, phải, Risa, hãy chết trong Chúa, cậu đã làm đổ máu thì
cậu phải chết trong Chúa. Cậu không hề biết Chúa thì không phải là có tội khi cậu
thèm cám heo và bị đánh đập vì ăn cắp cám heo. Cậu làm thế là rất không tốt, vì
không có phép đâu ăn cắp, nhưng cậu đã làm đổ máu thì cậu phải chết". Thế
rồi ngày cuối cùng đã đến, Risa suy nhược, khóc lóc và chỉ luôn miệng nhắc đi
nhắc lại: "Hôm nay là ngày tốt đẹp nhất đời tôi, tôi về với Chúa!" -
"Phải, - các mục sư, các pháp quan và các bà từ thiện la lên, - hôm nay là
ngày hạnh phúc nhất đời anh, vì anh về với Chúa!" - Cả bọn đi theo chiếc
xe bêu nhục chở Risa ra chỗ chém đầu, người ngồi xe riêng, kẻ đi bộ. Họ đến
pháp trường:
- Hãy chết đi, người anh em, - người ta gào lên với Risa, -
hãy chết trong Chúa, vì Chúa đã xuống ơn cho cậu!". Rồi anh chàng Risa, nhận
không biết bao nhiêu cái hôn của những người anh em, bị kéo lên đoạn đầu đài, bị
đặt lên thớt chém, và vì tình anh em, người ta chặt đầu hắn, bởi Chúa đã xuống
ơn cho hắn. Câu chuyện thật đặc sắc. Tập sách mỏng ấy được dịch sang tiếng Nga
bởi những người từ thiện theo đạo Lute trong giới thượng lưu và được đem phát
không coi như phụ trương của một số báo và ấn phẩm khác, cốt là để giáo dục dân
Nga. Câu chuyện Risa bổ ích vì nó có tính dân tộc. Ở ta mặc dù thật là lố bịch
nếu chặt đầu người anh em chỉ vì người đó đã trở thành anh em của ta và Chúa đã
xuống chỉ cho người đó, nhưng tôi nhắc lại, chúng ta có,thói tục của chúng ta,
gần như không thua kém. Ở ta, hành hạ bằng cách đánh đập là một truyền thống lịch
sử, đem lại khoái lạc trực tiếp và mau lẹ nhất. Nekraxov có bài thơ kể câu chuyện
gã mugich dùng roi quất vào mắt con ngựa, "vào cắp mắt hiền
lành". Ai mà chưa từng thấy cảnh đó, đấy là đặc tính Nga. Nhà thơ miêu tả
một con ngựa đuổi sức, phải kéo chiếc xe chất quá nặng, xe sa lầy và con vật
không thể kéo lên được. Gã mugich đánh nó, đánh một cách điên cuồng,
đánh mà không hiểu mình làm gì, trong cơn hăng say gã quất túi bụi nhưng đòn cực
đau: "Dù mày không còn sức cũng cứ phải kéo đi, chết cũng cứ phải kéo
đi!". Con ngựa lồng lộn, gã lại dùng roi quất con vật không phương tự vệ,
quất vào "cắp mát hiền lành" đang ứa lệ. Con vật cuống cuồng lồng
lên, kéo được chiếc xe ra và cất bước, toàn thân run rẩy, ngạt thở, loạng choạng,
thỉnh thoảng lại nhảy cẫng lên, nom thiếu tự nhiên và nhục nhã. Nekraxov vẽ ra
một cảnh thật khủng khiếp. Nhưng đấy mới chỉ là con ngựa, nhưng ngựa là trời
cho ta để quất roi. Chính bọn Tarta đã giải thích cho chúng ta như thế và tặng
chúng ta chiếc roi để làm kỷ niệm. Nhưng cũng có thể dùng roi đánh cả người nữa
chứ. Có một ngài trí thức hắn hoi cùng với bà vợ dùng roi đánh con gái mình,
con bé mới có bảy tuổi, chuyện ấy tôi đã ghi lại tỉ mỉ. Ông bố vui sướng vì
thanh roi có mắt mấu, "đánh sẽ đau hơn", ông ta nói, và ông ta bắt đầu
"nện" con gái mình. Tôi biết chắc hẳn là có những người càng đánh
càng hăng, cứ mỗi roi càng bốc lên đến mức cảm thấy một khoái lạc nhục dục,
đúng là một khoái lạc nhục dục, cứ mỗi rồi sau lại khoái hơn rồi trước, tăng đến
không ngừng Họ đánh một phút, rồi năm phút, rồi mười phút, càng về sau càng mạnh
tay hơn, gấp hơn, ác liệt hơn.
Đứa trẻ kêu gào, cuối cũng không gào được nữa, nghẹn thở: "Ba ơi, ba, ba thân yêu ba yêu quý!". Vụ đó thành chuyện tai tiếng om sòm và ra đến toà. Người ta thuê trạng sư. Dân Nga từ lâu đã gọi trạng sư của chúng ta là "ablakat"(2) - lương tâm thuê mướn. Trạng sư lớn tiếng cãi cho khách hàng của mình. "Đây là việc mọn, việc gia đình bình thường, bố đánh con gái nhỏ thôi, vậy mà lại đưa ra toà, đáng xấu hổ cho thời đại chúng ta!". Các bồi thẩm cho như vậy là có lý, rút vào phòng nghị án, rồi quyết định tha bổng. Công chúng reo hò vui sướng vì kẻ hành hạ được tha bổng. Ôi chao, tôi không có mặt ở đấy, không thì tôi sẽ gào lên để nghĩ thưởng cho kẻ hung ác ấy một khoản tiền… Những cảnh tượng kỳ thú! Nhưng về trẻ em thì tôi có những chuyện còn hay hơn, tôi thu thập được rất nhiều chuyện về trẻ em Nga, nhiều lắm, Aliosa ạ. Một con bạc lên năm bị bố mẹ thù ghét, bố mẹ nó là những công chức đáng kính, có học và có giáo dục. Chú ạ, một lần nữa tôi nói dứt khoát rằng nhiều người có cái tính thế này: thích hành hạ trẻ em, nhưng chỉ trẻ em thôi. Đối với tất cả các loại người khác, những kẻ tàn bạo ấy lại tỏ ra tử tế và hiền lành, như những người châu Âu có học và nhân đạo, nhưng rất thích hành hạ trẻ em, hiểu theo nghĩa đó thì thậm chí là họ yêu trẻ.
Đứa trẻ kêu gào, cuối cũng không gào được nữa, nghẹn thở: "Ba ơi, ba, ba thân yêu ba yêu quý!". Vụ đó thành chuyện tai tiếng om sòm và ra đến toà. Người ta thuê trạng sư. Dân Nga từ lâu đã gọi trạng sư của chúng ta là "ablakat"(2) - lương tâm thuê mướn. Trạng sư lớn tiếng cãi cho khách hàng của mình. "Đây là việc mọn, việc gia đình bình thường, bố đánh con gái nhỏ thôi, vậy mà lại đưa ra toà, đáng xấu hổ cho thời đại chúng ta!". Các bồi thẩm cho như vậy là có lý, rút vào phòng nghị án, rồi quyết định tha bổng. Công chúng reo hò vui sướng vì kẻ hành hạ được tha bổng. Ôi chao, tôi không có mặt ở đấy, không thì tôi sẽ gào lên để nghĩ thưởng cho kẻ hung ác ấy một khoản tiền… Những cảnh tượng kỳ thú! Nhưng về trẻ em thì tôi có những chuyện còn hay hơn, tôi thu thập được rất nhiều chuyện về trẻ em Nga, nhiều lắm, Aliosa ạ. Một con bạc lên năm bị bố mẹ thù ghét, bố mẹ nó là những công chức đáng kính, có học và có giáo dục. Chú ạ, một lần nữa tôi nói dứt khoát rằng nhiều người có cái tính thế này: thích hành hạ trẻ em, nhưng chỉ trẻ em thôi. Đối với tất cả các loại người khác, những kẻ tàn bạo ấy lại tỏ ra tử tế và hiền lành, như những người châu Âu có học và nhân đạo, nhưng rất thích hành hạ trẻ em, hiểu theo nghĩa đó thì thậm chí là họ yêu trẻ.
Trẻ con không có gì bảo vệ, chính điều đó cám dỗ kẻ hành hạ,
sự cả tin thiên thần của đứa trẻ không biết lẩn trốn đi đâu và cậy nhờ ai bênh
vực, đấy chính là nguyên nhân làm sôi sục bầu máu nhơ nhuốc của kẻ hung bạo.
Đương nhiên trong mỗi người đều có một con thú náu mình: cơn tức giận, khoái cảm
nhục dục hừng hực do tiếng kêu gào của nạn nhân bị hành hạ gợi lên, thú tính được
thả lỏng, các thứ bệnh do trác táng, bệnh thống phong, bệnh gan v.v… Con bé năm
tuổi ấy bị ông bố và bà mẹ có học kia hành hạ đủ mọi cách. Họ vô cớ đánh đập, đấm
đá nó, làm cho khắp mình mấy nó thâm tím. Cuối cùng họ giở đến một ngón cực kỳ
tinh vi: một hôm tiết trời giá băng, họ nhốt nó suốt đêm ở nhà xí, và lấy cớ
ban đêm nó không xin tha (làm như đứa bé năm tuổi đắm mình trong giấc ngủ trắng
trong có thể biết xin, tha tội, cái tuổi ấy đâu có khôn đến thế), viện cớ ấy họ
trát phân vào mặt nó, bắt nó ăn phân, mà người bắt nó ăn phân là bà mẹ, người mẹ!
Và người mẹ ấy vẫn ngủ được, dù là nghe thấy tiếng kêu khóc của đứa con tội
nghiệp bị nhốt ở một chỗ uế tạp. Chú có hiểu được điều đó không? Một đứa trẻ
con, thậm chí chưa hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra với nó, ở một chỗ uế tạp,
trong bóng tối rét mướt, vung hai nắm tay nhỏ xíu đấm vào bộ ngực nhỏ bé đứt
hơi của mình và đổ những giọt nước mắt thảm thiết, hiền dịu cầu xin "Chúa
Trời" che chở cho nó - Chú có hiểu điều phi lý ấy không, hỡi người bạn và
chú em của tôi, nhà tu hành thánh thiện và khiêm nhường của tôi, tại sao nó cần
thiết đến thế không? Người ta bảo rằng không có nó thì con người không thể tồn
tại trên cõi trần, bởi vì sẽ không phân biệt được thiện ác: Phản biệt thiện ác
làm cái quái gì khi phải trả giá đắt như thế. Thế thì cả thế giới nhận thức
không đáng giá bằng những giọt nước mát ấy của đứa trẻ cầu xin "Chúa Trời".
Tôi không nói về những đau khổ của người lớn, họ đã ăn quả cấm, thể thì mặc xác
họ, quỷ tha ma bắt họ đi, nhưng còn trẻ con, trẻ con! Tôi làm khó chú, Aliosa ạ,
hình như chú bứt rứt trong lòng. Tôi sẽ không nói nữa, nếu chú muốn.
- Không sao, tôi cũng muốn đau khổ. - Aliosa nói lý nhí.
- Một cảnh tượng nữa, chỉ một cảnh tượng nữa thôi đây là vì
tò mò, một cánh tượng rất đặc trưng, mà tôi vừa đọc trong "Lưu trữ"
và "Cổ đại" thì phải(3), tôi không nhớ rõ đã đọc ở đâu. Đấy là vào thời
kỳ nông nô đen tối nhất, hồi đầu thế kỷ, người giải phóng nhân dân muôn năm(4)!
Đây là chuyện một viên tướng hồi đầu thế kỷ, một viên tướng có thế lực rất lớn
đồng thời là một địa chủ hết sức giàu, nhưng thuộc loại người (thực ra loại
này, hồi ấy cũng đã ít lắm rồi) mà khi hồi hưu thì hầu như tin chắc rằng công
trạng của họ khiến họ có quyền sinh sát đối với con dân của họ. Có những người
như thế đấy. Viên tướng sống trong trang ấp có hai nghìn nông nô, ông ta cao ngạo,
coi những người láng giềng hèn mọn như những kẻ ăn nhờ mình và những tên hề của
mình. Ông ta có một đàn chó săn mấy trăm con và ngót một trăm kẻ trông coi chó,
tất cả đều mặc đồng phục, đều cưỡi ngựa. Một thằng bé con nhà nông nô, còn nhỏ
lắm, mới lên tám, một hôm nó nghịch ném đã què chân con chó được ông tướng yêu
quý. "Tại sao con chó quý của ta khập khiễng?". Người ta trình với
ông rằng chính thống bé ấy ném đã què chân chó "A, thì ra là mày, - viên
tướng nhìn thằng bé từ đầu đến chân, - bắt lấy nó!" Người ta bắt nó ngay
trước mặt mẹ nó, nó bị giam suốt đêm, sáng tinh mơ viên tướng mặc lễ phục đầy đủ,
lên ngựa sửa soạn đi săn, xung quanh ông là bọn thực khách, chó, những kẻ trông
coi chó, tất cả đều cưỡi ngựa. Gia nhân tụ tập xung quanh để chứng kiến làm bài
học, người mẹ của đứa bé phạm tội đứng phía trước tất cả bọn họ. Thằng bé bị giải
từ nhà giam ra. Một ngày thu u ám, lạnh lẽo, đầy sương mù, đi săn thì rất tuyệt.
Viên tướng ra lệnh lột hết quần áo đứa trẻ, thằng bé bị lột trần truồng, nó run
lên, sợ đến phát điên, không dám kêu một tiếng. "Xua nó chạy đi!".
Viên tướng ra lệnh. "Chạy đi, chạy đi!". Những kẻ trông coi chó thét
lên, thằng bé chạy… "Thả chó!" - viên tướng quát và cho cả đàn chó
săn đuổi theo đứa bé.
Người ta suýt chó đuổi theo ngay trước mắt bà mẹ, bầy chó xé
tan xác thằng bé!… Viên tướng dường như bị đặt dưới sự giám hộ. Chứ… còn biết bắt
ông ta đền tội thế nào nữa? Xử bắn ư? Để thoả mãn tình cảm đạo đức, phải xử bắn
ư? Nói đi, Aliosa!
- Bắn! - Aliosa khẽ thốt lên, môi tái nhợt méo xệch đi trong
một nụ cười, ngước mắt nhìn anh.
- Hoan hô! - Ivan reo lên, phấn khởi không rõ vì sao, - Chú
mà nói thế thì nghĩa là… Nhà khổ tu giỏi lắm! Vậy là vẫn có một con quỷ con ở
trong tim chứ, Aliosa Karamazov!
- Tôi lỡ nói ra một điều phi lý, nhưng mà…
- Vấn đề chính là ở tiếng nhưng mà… - Ivan reo lên. - Này,
anh chàng tập tu ơi, chú nên biết rằng cõi thế gian này rất cần những cái phi
lý. Thế giới tồn tại dựa trên những cái phi lý, không có những cái đó thì trên
đời sẽ chẳng có chuyện gì nữa hết. Chúng ta biết cái mà chúng ta biết.
- Anh biết cái gì?
- Tôi chàng hiểu gì cả, - Ivan nói tiếp dường như trong cơn
mê sảng, - ngay cả bây giờ tôi cũng chẳng muốn hiểu gì cả. Tôi chỉ bám chắc vào
sự kiện. Đã từ lâu tôi quyết định là không nên hiểu. Khi tôi muốn hiểu điều gì
thì lập tức tôi phải làm cho sự kiện đổi khác đi, mà tôi quyết tâm bám chắc lấy
sự kiện… '
Anh thử tôi làm gì? - Aliosa thốt lên bằng giọng run run chua
xót. - Rút cục thì anh có nói cho biết không?
- Cố nhiên tôi sẽ nói, tôi kể lể như vậy là Cốt để nói ra.
Tôi quý chú, tôi không muốn và sẽ không chịu nhường chú cho Cha Zoxima của chú
đâu.
Ivan im lặng một lát, mặt chàng bỗng có vẻ rất buồn.
- Nghe đây nhé: tôi chỉ nói về trẻ con là để cho rõ ràng hơn.
Tôi sẽ không nói một lần nào về những loại nước mắt khác của con người vẫn thấm
đẫm cả trái đất này từ vỏ đến ruột, tôi chủ tâm thu hẹp đề tài lại. Tôi là con
bọ rệp và tôi cam lòng chịu nhục mà thú nhận rằng tôi không hiểu ra gì về việc
tại sao mọi sự lại được an bài như thế. Như vảy là chính người đời có lỗi: họ
đã được ở thiên đàng, họ lại muốn tự do và đã ăn cắp lửa thượng giới, tuy họ biết
rằng họ sẽ bất hạnh, vậy thì chẳng việc gì phải thương họ. Ôi, theo cái trí tuệ
Euclit phàm tràn thảm hại của tôi, tôi chỉ biết rằng trên đời có sự đau khổ,
không ai có lỗi, tất cả đều chuyển biến từ cái này thành cái kia một cách trực
tiếp và đơn giản, mọi cái đều qua đi và cân bằng với nhau, nhưng đấy chỉ là điều
hồ đồ theo quan điểm Euclit, tôi biết thế, nhưng tôi không thể cam chịu sống
theo kiểu đó! Chẳng phải lỗi tại ai, tôi biết như thế, nhưng tôi vẫn thấy cần
có sự trừng phạt, nếu không thì tôi sẽ tự huỷ diệt mình. Không phải là trừng phạt
ở đâu đó và vào thời gian nào đó trong tương lai vô tận, mà ngay ở đây, trên
tôi đất này, để chính mát tôi nhìn thấy. Tôi đã tin, và tôi muốn chính mắt nhìn
thấy, nếu đến lúc ấy tôi đã chết thì người ta sẽ làm tôi sống lại, bởi vì nếu mọi
việc sẽ xảy ra không có tôi thì hận cho tôi quá. Tôi đã từng đau khổ, vậy thì
không phải để đem bản thân mình, nhưng hành vi tàn ác và những đau khổ của tôi
làm phân bón cho sự hài hoà tương lai mà ai đó sẽ được hưởng. Tôi muốn tận mắt
nhìn thấy con nai nằm cạnh con sư tử và kẻ bị giết sẽ trở dậy ôm hôn kẻ giết
mình. Tôi muốn có mặt ở đây khi mọi người đột nhiên nhận ra tại sao mọi sự lại
như thế. Mọi tôn giáo trên thế gian đều dựa trên niềm mong muốn ấy, còn tôi thì
tôi có đức tin. Nhưng còn trẻ em, khi ấy tôi sẽ làm gì chúng? Đấy là câu hỏi
mà, tôi không giải quyết được. Lần thứ một trâm tôi nhắc lại: câu hỏi thì vô
vàn nhưng tôi chỉ bàn tới trẻ em, vì như thể điều tôi cần nói mới rõ ràng tới mức
không thể bác bỏ được. Chú nghe đây nhé: nếu mọi người đều phải đau khổ để mua
lấy sự hài hoà vĩnh cửu thì trẻ em cần gì đến đây, chú nói tôi nghe thử? Thật
không tài gì hiểu được vì lẽ gì trẻ em cũng phải đau khổ vì lẽ gì các em cũng
phải đau khổ để em lại sự hài hoà? Vì lẽ gì trẻ em cũng phải biến thành vật liệu
và làm phân bón cho sự hài hoà mai sau mà ai đó sẽ được hưởng? Tôi hiểu sự liên
đới giữa người ta với nhau trong tội lỗi, tôi cũng hiểu quan hệ liên đới trong
sự đền tội, nhưng trẻ em không bị liên đới trong mọi hành động tàn ác của cha
chúng thì đương nhiên đấy là sự thật không phải ở thế gian này và tôi không thể
hiểu nổi. Một người ưa bông đùa có thể sẽ nói rằng trẻ con rồi sẽ lớn lên và có
dịp phạm tội, nhưng nó có lớn lên được đâu, thằng bé đánh chó bị chó xé xác ấy.
Ôi Aliosa, tôi không báng bổ đâu! Tôi hiểu, vũ trụ phải rung chuyển như thế nào
khi mọi cái trên trời và dưới đất hoà vào nhau trong một tiếng reo ngợi ca và tất
cả mọi sinh vật đang sống và đã từng sống đều thốt lên: "Chúa có lý, Chúa
đã mặc khải cho chúng con những con đường của Chúa!". Khi người mẹ sẽ ôm
hôn kẻ tàn ác đã cho chó xé xác con mình, cả ba cùng chan hoà nước mắt hô lên:
"Lạy Chúa, Chúa có lý!" thì cố nhiên lúc ấy nhận thức sẽ chói lọi ánh
hào quang và mọi sự đều sáng tỏ. Nhưng đấy chính là chỗ vướng mắc, tôi không thể
chấp nhận giải pháp đó. Này Aliosa ạ, rất có thể là nếu đến lúc ấy tôi còn sống
hay sẽ sống lại để chứng kiến thì có lẽ tôi cũng sẽ reo lên cùng với mọi người
khi thấy bà mẹ ôm kẻ hành tội con mình: "Chúa cỏ lý, lạy Chúa!",
nhưng lúc ấy tôi vẫn không muốn kêu lên như vậy. Lúc này còn thời gian, tôi gấp
rút dựng thành luỹ tự vệ vì tôi hoàn toàn không chấp nhận sự hài hoà cao cả nhất.
Họ không đáng giá một giọt nước mắt của đứa trẻ bị hành hạ, đứa trẻ bị nhốt
trong cái xó hôi thối, vung nắm tay nhỏ bé đấm ngực và nhỏ nhưng giọt nước mắt
không được đền bù của mình câu khẩn "Chúa Trời yêu dấu!" Không đáng,
vì nước mắt của nó không được đền bù. Những giọt nước mắt ấy phải được đèn bù,
nếu không thì không thể có sự hài hoà. Nhưng làm thế nào đền bù được? Mà có thể
đền bù được ư? Được đền bù là vì những kẻ ác sẽ bị trừng phạt ư? Nhưng họ sẽ bị
trừng phạt, những kẻ hành hạ người khác sẽ phải xuống địa ngục thì có làm gì, địa
ngục sửa chữa được gì, khi trẻ em đã bị hành hạ rồi? Mà nếu có địa ngục thì còn
hài hoà gì nữa: tôi muốn tha thứ và ôm hôn, tôi không muốn có nhiều đau khổ hơn
nữa. Nếu những đau khổ của trẻ em là thêm vào cho đủ số đau khổ cần có để mua lấy
chân lý thì tôi xin nói trước rằng toàn bộ chân lý đó không đáng giá như vậy.
Cuối cùng, tôi không muốn người mẹ ôm hôn kẻ tàn ác đã cho chó xé xác con bà!
Bà không được tha thứ cho hắn! Nếu muốn bà hãy tha thứ choắhẳn đã làm khổ bà,
hãy tha thứ cho kẻ tàn ác đã gây nên cho bà nỗi đau khổ vô biên của người mẹ,
nhưng bà không có quyền tha thứ cho kẻ tàn ác về nỗi đau khổ của đứa con bà đã
bị chó xé xác, bà không có quyền tha thứ, cho dù chính đứa bé có tha thứ cho hắn
đi nữa! Mà nếu vậy, nếu họ không có quyền tha thứ thì lấy đâu ra sự hài hoà?
Trên cả thế gian này có người nào có thể và có quyền tha thứ không? Tôi không
muốn sự hài hoà, vì tình yêu nhân loại mà tôi không muốn. Tôi muốn vẫn cứ để
cho đau khổ không được trả thù còn hơn. Chẳng thà đau khổ của tôi không được trả
thù, sự phẫn nộ của tôi không được giải toả còn hơn, cho dù tôi không có lý đi
nữa. Vả lại người ta định giá sự hài hoà quá cao, giá vào cửa quá đắt so với
túi tiền của chúng ta. Vì thế tôi vội trả lại vé vào cửa. Nếu như tôi là người
chính trực thì tôi phải trả lại càng sớm càng tốt. Tôi đang làm đúng như thế.
Tôi không chấp nhận Chúa Trời, Aliosa ạ, tôi chỉ hết sức kính cẩn trả lại Ngài
tấm vé.
- Nổi loạn ư? Tôi không muốn tiếng đó thốt ra từ miệng chú, -
Ivan nói bằng giọng thiết tha. - Có thể sống bằng nổi loạn được không mà tôi
thì tôi muốn sống. Hãy nói thẳng với tôi đi, tôi kêu gọi chú đấy, trả lời đi:
chú hãy tưởng tượng là chính chú sẽ dựng nên toà nhà vận mệnh của nhân loại nhằm
mục đích cuối cùng là đem lại hạnh phúc cho mọi người, rốt cuộc sẽ đem lại sự
bình yên cho họ, nhưng muốn vậy điều cần thiết không sao tránh khỏi là phải
hành hạ chỉ một sinh vật nhỏ xíu thòi, chính đứa bé đã tự đấm ngực ấy, và lấy
những giọt nước mắt không được đền bù của nó làm nền móng để dựng nên toà nhà ấy
thì chú có bằng lòng làm kiến trúc sư với điều kiện đó không, nói đi và chớ nói
dối!
- Không, tôi sẽ không chịu làm - Aliosa khẽ nói.
- Chú có thể nghĩ rằng những người mà chú xây nhà cho họ sẽ bằng
lòng đón lấy cái hạnh phúc dành cho họ và xây trên máu đổ ra oan ức của đứa bé
bị hành hạ không, mà dù có đón nhận đi nữa thì họ có suốt đời hạnh phúc được
không?
- Không, tôi không thể nghĩ như vậy. Anh ạ, - Aliosa bỗng
nói, mắt ngời sáng, - ban nãy anh vừa nói: trên thế gian này có người nào có thể
và có quyền tha thứ tất thảy, tha thứ cho tất cả mọi người và về mọi chuyện, bởi
vì chính người đó đã hiến dâng máu trong trắng của mình để cứu chuộc mọi tội lỗi
cho tất cả mọi người. Anh quên mất người đó, người đó là nền móng cho toà nhà,
và người ta sẽ reo lên với chính người đó: "Lạy Chúa Trời, Ngài có lý, vì
Ngài đã mặc khải cho chúng con những con đường của Ngài".
- A, đấy là "người duy nhất không hề vướng với tội lỗi"
và máu của người ấy! Không, tôi không quên người ấy và trái lại, tôi vẫn lấy
làm lạ rằng mãi chú vẫn chưa nêu người đó ra, bởi vì trong các cuộc tranh cãi,
đồng đạo của chú thường nêu người đó ra trước hết. Này, Aliosa, chú đừng cười,
hồi trước tôi có viết một bản trường ca, chừng một năm trước. Nếu chú có thể
dành cho tôi mười phút nữa, tôi sẽ kể cho chú nghe, được chứ?
- Anh viết bài trường ca ư?
- Ồ không, không phải là viết. - Ivan bật cười. - Trong, đời
chưa bao giờ tôi làm tới hai câu thơ. Nhưng bản trường ca này thì tôi đã nghĩ
ra và ghi nhớ. Tôi nghĩ ra trong cơn sốt nóng. Chú sẽ là độc giả đầu tiên của
tôi, nghĩa là người nghe thì đúng hơn. Ừ mà làm sao tác giả lại để mất người
nghe duy nhất nhỉ. - Ivan nhếch mép cười. - Kể chứ?
- Tôi rất muốn nghe. - Aliosa nói.
Bản trường ca của tôi nhan đề là "Viên Đại pháp quan tôn
giáo", nó phi lý, nhưng tôi muốn kể chú nghe.
Chú thích:
(1) Câu chuyện Ivan kể ở đây lấy trong "Truyền thuyết về
thánh Juyliêng nhân từ của G. Flobe (N.D)
(2) Advokat nghĩa là trạng sư, dân chứng gọi chệch đi lính
"ablakat" (N.D)
(3) Đây là hai tạp chí lớn "Lưu trữ Nga" (1863-
1917) và "Cổ đại Nga" (1870- 1918) (N.D).
(4) Nga hoàng Alexandr đã giải phóng nông nô năm 1861 (N.D)
Chương 5
Viên đại pháp quan tôn giáo
Ở đây không thể không có lời nói đầu, lời nói đầu cho tác phẩm
văn học ấy mà, hừm. - Ivan bật cười. - Tôi thì có biết sáng tác quái gì đâu!
Này nhé, chuyện của tôi xảy ra vào thế kỷ mười sáu hồi ấy trong các tác phẩm
thơ có cái thông lệ là đưa các lực lượng thượng giới xuống trần thế. Tôi không
nói về Dante. Các tu sĩ giới luật học ở Pháp và các thầy tu ở các tu viện thường
tổ chức những cuộc trình diễn đưa lên sân khấu cả Madona, các thiên thần, các
thánh, Chúa Kito và cả Đức Chúa cha. Tất cả những trò đó đều ngây ngô. Trong
"Notre Dam de Paris"(1) của Victor Hugo, để mừng ngày sinh của thái tử
Pháp, dưới triều Louis XI, trong phòng khánh tiết của toà thị chính, người ta
đã cho dân chúng xem một cuộc trình diễn không mất tiền, có ý nghĩa răn dạy,
nhan đề là "Le bon jugement de la trèm sainte ét graorieuse Vierge
Marie"(2). Ở Moskva của chúng ta, trước thời Petr đại đế, đôi khi cũng có
những buổi diễn kịch gần như thế, đề tài rút từ Cựu ước. Nhưng, ngoài những buổi
diễn kịch, trên toàn thế giới hồi ấy có nhiều truyện và thơ mà nhân vật hành động,
tuỳ theo sự cần thiết, là các thánh, các thiên thần và mọi thiên binh thiên tướng.
Trong các tu viện của chúng ta, người ta cũng dịch, chép lại và thậm chí sáng
tác những bản trường ca như thế mà là từ lời kỳ Tarta thống trị kia. Chẳng hạn,
có một bản trường ca của tu viện dĩ nhiên dịch từ tiếng Hy Lạp): "Hành
trình của Đức Mẹ qua con đường đau khổ", với những cảnh tượng và sự can đảm
không kém gì tác phẩm của Dante. Đức Mẹ xuống thăm địa ngục, tổng thiên thần
Misel đưa Đức Bà đi xem những khổ hình. Đức Mẹ nhìn thấy những kẻ tội lỗi và những
khổ hình mà họ phải chịu đựng. Ngoài những cái khác, ở đây có một loại người phạm
tội rất đáng chú ý, ở trong một cái hồ rực lửa: trong số họ có những kẻ chìm
nghỉm đến nỗi không thể nổi lên được nữa, đấy là những "kẻ bị Chúa bỏ
quên" - một cách diễn đạt cực kỳ sâu sắc và mạnh mẽ. Đức Mẹ kinh ngạc,
khóc lóc quỳ gối trước ngai vàng của Chúa Trời, xin ân xá cho tất cả những kẻ tội
lỗi mà Mẹ đã nhìn thấy dưới địa ngục, và Chúa Trời hết sức lý thú. Mẹ van vỉ,
không chịu đi khi Chúa Trời trỏ cho Mẹ tay chân con trai Mẹ bị đóng đinh và hỏi:
ta sẽ tha thứ cho những kẻ hành hạ Kito ư? - thì Mẹ truyền cho tất cả các
thánh, tất cả các vị tuẫn đạo, tất cả các thiên thần và tổng thiên thần quỳ xuống
cùng với Mẹ và cầu xin ân xá cho tất cả những kẻ tội lỗi, không trừ một ai. Cuối
cùng Đức Mẹ nài xin Chúa Trời hàng năm ngừng hành tội từ ngày thứ sáu Thánh(3)
đến ngày lễ Ba Ngôi, thế là những kẻ tội lỗi dưới địa ngục liền tạ ơn Chúa Trời
và kêu lên: "Lạy Chúa Trời, Chúa xử thế là chí phải".
Bản trường ca hạng bét của tôi đại loại cũng như thế, nếu nó
ra đời vào thời ấy. Trong bản trường ca của tôi, Chúa xuất hiện trên sân khấu,
Chúa chẳng nói năng gì, chỉ xuất hiện và chỉ đi qua đấy. Mười lăm thế kỷ đã
trôi qua kể từ khi Chúa hứa sẽ trở lại nước của mình, mười lăm thế kỷ từ khi vị
tiên tri của Ngài viết: "Chẳng bao lâu ta sẽ trở lại". "Về ngày
giờ thì cả đến Đức chúa con cũng không biết, chỉ có Cha ta ở trên trời mới biết
mà thôi" chính Ngài đã phán truyền như thế trên trái đất này. Nhưng nhân
loại vẫn chờ mong Chúa với niềm tin thiết tha như trước ôi thậm chí niềm tin
còn lớn lao hơn trước, bởi vì đã mười lăm thế kỷ trôi qua kể từ khi không còn
có sự đảm bảo nào của Trời cho con người nữa:
Hãy tin vào trái tim mình
Trời xa xôi lắm. Uy linh chớ màng.
Chỉ còn biết tin vào tiếng nói của con tim! Của đáng tội, hồi
ấy cũng diễn ra nhiều phép lạ. Có những vị thánh đã làm phép lạ chữa bệnh.
Thánh Mẫu từ trên trời xuống thăm một số người công chính, cứ theo sự tích của
họ. Nhưng quỷ không ngủ gật, và nhân loại bắt đầu nghi ngờ tính chân thực của
những phép lạ ấy. Có lần một tà thuyết mới, khủng khiếp đã xuất hiện ở miền Bắc
nước Đức. Một ngôi sao cực lớn "giống như cây đèn" (tức là giáo hội)
"rơi xuống nguồn nước, làm nước trở nên đắng ngòm", tà giáo ấy bắt
đau báng bổ phủ nhận phép lạ. Nhưng những người còn vững đức tin càng sốt mến đạo
hơn. Nước mắt nhân loại vẫn vọng trông Chúa, hy vọng vào Chúa, khao khát được
đau khổ và chết thay cho Chúa… Đã bao nhiêu thế kỷ nhân loại tràn đầy lòng tin,
sốt mến cầu khẩn: "Cầu xin Chúa đến với chúng con", đã bao thế kỷ
nhân loại kêu xin Chúa đến nỗi trong sự đau khổ vô lượng của mình, Chúa đã muốn
đến với những người cầu khẩn. Từ hồi còn ở cõi trần, Chúa đã hạ cố đến thăm một
số bậc công chính, một số vị tuần đạo, một số vị ẩn tu, thành thiện, như đã ghi
trong "sự tích" của các vị. Ở ta, Tiuttrev tin tưởng sâu sắc lời mình
nới là xác thực, đã tuyên bố:
Ôi Chúa trời,
Đội lốt kẻ lầm than
Cố sức vần cây thập giá,
Quên đau đớn - lượng nhân từ biển cả
Người đi khắp nhân gian ban tội phước lành.
Sự việc xảy ra đúng như thế, tôi sẽ kể với chú. Chúa muốn hiển
hiện dù chỉ là thoáng chốc trước dân chúng - đám dân chúng quằn quại, đau khổ,
hôi hám và tội lỗi, nhưng yêu Chúa với tấm lòng trẻ thơ. Chuyện tôi kể diễn ra ở
thành Xevin Tây Ban Nha, vào thời pháp đình tôn giáo ghê rợn nhất, khi mà để
làm sáng danh Chúa Trời, hàng ngày những giàn lửa thiêu rực cháy trong nước:
Quân tà đạo không còn thoát được.
Giàn lửa thiêu ngùn ngụt căm hờn
Cố nhiên đấy không phải là sự Chúa đến như đã hứa, vào kỳ tận
thế, trong tất cả ánh vinh quang thiên đình, và đột ngột "như tia chớp lóe
sáng từ Đông sang Tây". Không, Chúa muốn đến thàm các con mình, dù chỉ chốc
lát, chính ở nơi những giàn lửa thiêu kẻ dị giáo đang nổ lép bép. Vốn lòng lành
vô cùng, một lần nữa Chúa đi qua giữa dân chúng, hình dạng Chúa vẫn như mười
lăm thế kỷ trước khi Ngài sống giữa mọi người trong ba năm ròng. Ngài giáng lâm
đến "các phố phường rực lửa" của đô thành phía Nam ấy. Ở đó chỉ mới
hôm trước, trong "giàn lửa huy hoàng", trước mặt đức vua, triều thần,
các hiệp sĩ, các giáo chủ và các mệnh phụ kiều diễm nhất trong triều, trước
đông đảo dân chúng thành Xevin, theo lệnh của giáo chủ Đại Pháp quan, người ta
đã thiêu luôn một lúc ngót trăm kẻ di giáo ad majirem gloriam Der(4). Chúa xuất
hiện một cách lặng lẽ, không để ai nhận thấy, nhưng kỳ lạ thay, mọi người đều
nhận ra Chúa. Đấy có thể là một trong những đoạn hay nhất của bản trường ca,
nói về việc tại sao người ta nhận ra Chúa. Một sức mạnh không thể cưỡng lại được
khiến dân chúng ùa đến với Chúa, vây quanh Chúa mỗi lúc một đông thêm, đi theo
Chúa. Chúa im lặng đi qua giữa họ, miệng mỉm cười hiền từ, thương cảm vô hạn. Mặt
trời ánh yêu rực sáng trong tim Chúa, tia ánh sáng, Giáo hoá và Sức mạnh từ nơi
mắt Chúa toả chiếu khắp đám đông, khiến lòng người rung động vì yêu Chúa, Chúa
giang tay ra với họ, ban phước cho họ, và chỉ cần chạm vào Chúa, thậm chí vào
áo quần Chúa, là đã lành được tật bệnh. Trong đám đông, một ông già mù từ bé
kêu xin: "Lạy Chúa, xin Chúa làm lành mắt cho con, để con được nhìn thấy
Chúa", thế là dường như màng vảy bong ra khỏi mắt, và ông già mù nhìn thấy
Chúa. Dân chúng khóc và hôn mặt đất nơi Chúa bước chân lên. Trẻ em tung hoa trước
mặt Chúa, hát và reo hò: 'Hoxama!"(5).… "Đấy là Ngài, chính là Ngài,
một người nhắc đi nhắc lại, - hẳn phải là Ngài, chỉ có thể là Ngài". Chúa
dừng lại trên sân nhà thờ Xevin giữa lúc người ta khóc lóc khiêng vào đó một cỗ
quan tài trẻ em màu trắng mở nắp: nằm trong quan tài là một bé gái bảy tuổi,
con gái duy nhất của một người quyền quý ở tha phương. Xác đứa bé phủ đầy hoa.
"Ngài sẽ làm con bà sống lại" đám đông reo lên với bà mẹ đang khóc
lóc. Một linh mục của nhà thờ đang đi về phía cỗ quan tài cau mày nhìn, dáng vẻ
băn khoăn. Nhưng bà mẹ của đứa bé đã khóc gào lên. Bà sụp xuống chân Chúa:
"Nếu Ngài là Chúa thì xin hãy làm cho con tôi sống lại!" - bà ta
giang hai tay cầu Chúa, kêu lên. Đám đưa tang dừng lại, đặt cỗ quan tài dưới
chân Chúa. Chúa nhìn đầy vẻ thương xót, và một lần nữa Chúa khẽ thốt lên:
"Ta-lia kumi!" - "bé em hãy trở dậy" - Cô bé ngồi dậy trong
quan tài, mỉm cười, mắt mở to ngạc nhiên nhìn xung quanh. Hai tay em cầm bó hoa
hồng mà em vẫn ôm ở trong quan tài. Dân chứng nhốn nháo, la hò, nức nở, đúng
lúc ấy giáo chủ Đại Pháp quan đột nhiên đi qua quảng trường trước nhà thờ. Đấy
là một ông già ngót chín mươi tuổi, thân hình cao, lưng thẳng, mặt khô quắt, mắt
hõm sâu nhưng vẫn sáng quắc. Ồ, ông không mặc bộ đạo phục giáo chủ lộng lẫy mà
hôm qua ông còn mặc khi ra trước dân chúng trong cuộc hoả thiêu những kẻ thù của
đạo La Mã, không, lúc ấy ông chỉ mặc chiếc áo thụng cũ thô kệch của mình. Theo
sau ông, cách một khoảng khá xa, là những người giúp việc mặt mày cau có những
nô lệ và đội "thánh binh". Ông dừng lại trước đám đông và quan sát từ
xa. Ông nhìn thấy hết. Ông nhìn thấy cỗ quan tài được đặt dưới chân Ngài, rồi
con bé sống lại, và mặt ông sa sầm. Ông cau đôi lông mày sâu róm trắng bạc, ánh
mắt ông lóe lên hung tợn. Ông trỏ ngón tay ra lệnh cho bọn vệ binh bắt Ngài. Uy
quyền của ông rất lớn, dân chúng đã quen thần phục, ngoan ngoãn và run sợ tuân
lệnh ông, đám đông lập tức dãn ra trước bọn vệ binh, và bọn này, trong bầu
không khí im ắng như trong nhà mồ, túm lấy Ngài giải đi.
Tức khắc, nghìn người như một, đám đông nhất loạt rập đầu sát đất trước vị Đại Pháp quan, ông ta lẳng lặng ban phước cho dân chúng và đi ngang qua chỗ họ. Vệ binh giải phạm nhân vào một ngục thất chật hẹp, tối tăm, có vòm cuốn trong toà nhà cổ của Pháp đình thánh tín và nhốt ở đó. Một ngày qua đi, rồi đêm đến, một đêm nóng bức ngột ngạt của Xevin. Không khí nồng "hương nguyệt quế và hương chanh". Trong bóng tối sâu thăm thẳm, cửa sắt nhà ngục bỗng mở ra, và đích thân lão Đại Pháp quan cầm cây đèn chậm rãi đi vào. Ông ta đến một mình, cửa tức thời đóng lại sau lưng ông ta. Ông ta dừng lại một lúc lâu, chừng một vài phút, nhìn chằm chằm vào mặt Ngài. Cuối cùng ông ta nhẹ nhàng đến gần, đặt cây đèn xuống bàn, nói với Ngài: "Ông đấy ư? Ông ư?" - Nhưng không đợi trả lời, ông ta nói thêm luôn, - Đừng trả lời, cứ im lặng. Với lại, ông có thể nói gì được kia chứ? Tôi thừa biết ông sẽ nói gì. Ông không có quyền thêm một lời nào vào những gì ông đã nói trước kia. Tại sao ông xuống đây làm phiền chúng tôi? Ông đến là phiền cho chúng tôi, điều đó thì chính ông cũng biết. Nhưng ông có biết ngày mai sẽ thế nào không? Tôi không biết ông là ai và không muốn biết có phải ông thật không hay chỉ là cái vẻ bên ngoài giống như ông, nhưng ngày mai tôi sẽ kết án ông và thiêu ông trên giàn lửa như một kẻ tà giáo độc ác nhất, và dân chúng hôm nay hôn chân ông thì ngày mai tôi chỉ vẫy tay một cái là họ đổ xô đến hất thêm than vào giàn lửa thiêu ông, ông có biết thế không? Ờ, có lẽ ông biết" - ông ta trầm ngâm nói thêm, măt không lúc nào rời khỏi người bị bắt giam.
Tức khắc, nghìn người như một, đám đông nhất loạt rập đầu sát đất trước vị Đại Pháp quan, ông ta lẳng lặng ban phước cho dân chúng và đi ngang qua chỗ họ. Vệ binh giải phạm nhân vào một ngục thất chật hẹp, tối tăm, có vòm cuốn trong toà nhà cổ của Pháp đình thánh tín và nhốt ở đó. Một ngày qua đi, rồi đêm đến, một đêm nóng bức ngột ngạt của Xevin. Không khí nồng "hương nguyệt quế và hương chanh". Trong bóng tối sâu thăm thẳm, cửa sắt nhà ngục bỗng mở ra, và đích thân lão Đại Pháp quan cầm cây đèn chậm rãi đi vào. Ông ta đến một mình, cửa tức thời đóng lại sau lưng ông ta. Ông ta dừng lại một lúc lâu, chừng một vài phút, nhìn chằm chằm vào mặt Ngài. Cuối cùng ông ta nhẹ nhàng đến gần, đặt cây đèn xuống bàn, nói với Ngài: "Ông đấy ư? Ông ư?" - Nhưng không đợi trả lời, ông ta nói thêm luôn, - Đừng trả lời, cứ im lặng. Với lại, ông có thể nói gì được kia chứ? Tôi thừa biết ông sẽ nói gì. Ông không có quyền thêm một lời nào vào những gì ông đã nói trước kia. Tại sao ông xuống đây làm phiền chúng tôi? Ông đến là phiền cho chúng tôi, điều đó thì chính ông cũng biết. Nhưng ông có biết ngày mai sẽ thế nào không? Tôi không biết ông là ai và không muốn biết có phải ông thật không hay chỉ là cái vẻ bên ngoài giống như ông, nhưng ngày mai tôi sẽ kết án ông và thiêu ông trên giàn lửa như một kẻ tà giáo độc ác nhất, và dân chúng hôm nay hôn chân ông thì ngày mai tôi chỉ vẫy tay một cái là họ đổ xô đến hất thêm than vào giàn lửa thiêu ông, ông có biết thế không? Ờ, có lẽ ông biết" - ông ta trầm ngâm nói thêm, măt không lúc nào rời khỏi người bị bắt giam.
- Anh Ivan, tôi chẳng hiểu thế là thế nào? - Aliosa mỉm cười,
từ nãy đến giờ anh vẫn lẳng lặng nghe. - Đấy phải chăng là trí tưởng tượng
ngông cuồng vô hạn độ hay là một sai lầm của ông già, một quipro quo (6) kỳ
quái?
- Thì cứ cho là thế đi, - Ivan bật cười, - nếu như chủ nghĩa
hiện thực thời nay đã làm hỏng chú đến mức chú không thể chịu đựng nổi bất cứ sự
quái dị nào, mà chú muốn cho là quipro quothì cũng cứ được đi. Đấy là sự
thật, - chàng lại phá lên cười, - ông già đã chín mươi tuổi, và tư tưởng của
ông ta như thế thì ông ta có thể đã hoá điên từ lâu. Có thể là ngoại hình của
người bị giam đã làm ông già sửng sốt. Cuối cùng, đấy có thể chỉ là cơn mê sảng,
là hình ảnh tưởng tượng của ông già chín mươi tuổi trước khi chết, thêm nữa lại
bị kích động vì cảnh hoả thiêu một trăm kẻ dị giáo ngày hôm qua. Nhưng chú và
tôi thì cần quái gì, cho dù đấy là qu pro quo hay trí tưởng tượng
ngông cuồng vô hạn độ? Vấn đề ở đây chỉ là ông già cần tự bộc lộ, nói ra những
điều ông ta vẫn giữ kín suốt chín mươi năm trời.
- Thế người bị giam cùng im lặng ư? Chỉ nhìn ông già và không
nói gì ư?
- Đành phải thế thôi chứ làm thế nào. - Ivan lại bật cười. -
Chính ông già bảo với Chúa rằng Chúa không có quyền thêm gì vào những điều đã
nói trước kia. Nếu chú muốn biết thì đấy chính là đặc điểm cơ bản nhất của đạo
Thiên Chúa La Mã, ít ra đấy là ý kiến của tôi: "Chúa đã trao lại tất cả
cho Giáo hoàng, như vậy bây giờ tất cả là của giáo hoàng, và đừng làm phiền
chúng tôi, ít ra là trong lúc này". Họ không chỉ nói, mà còn viết ra theo
tinh thần đó, ít nhất là các tu sĩ dòng Tên. Chính tôi đã đọc ở các nhà thần học
của họ. Ông có quyền tiết lộ với chúng tôi, dù chỉ một bí mật của cái thế giới
mà ông vừa từ đấy đến không? - Lão già của tôi hỏi Chúa và chính lão trả lời
thay. - Không, ông không có quyền, để không thêm gì vào những điều ông đã nói
trước kia, để không tước đoạt mất của mọi người cái tự do mà ông đã ra sức bảo
vệ hồi ông còn ở trên trái đất. Tất cả những gì ông tiết lộ thêm sẽ xâm phạm đến
tự do tín ngưỡng của mọi người, bởi vì nó sẽ có vẻ như phép lạ, mà tự do tín
ngưỡng là điều ông quý hơn hết cách đây một nghìn năm trăm năm. Chẳng phải hồi ấy
ông thường nói: "Ta muốn làm cho các ngươi thành người tự do" đó sao?
Nhưng bây giờ ông thấy những con người "tự do" ấy đấy, - ông già bỗng
nói thêm, với nụ cười trầm mặc. "Phải, chúng tôi đã phải trả một giá đắt
cho việc làm của mình, - ông ta nói tiếp, nghiêm khác nhìn Chúa, - nhưng rốt cuộc
chúng tôi đã làm xong công việc ấy nhân danh ông. Mười làm thế kỷ chúng tôi khổ
sở với cái tự do ấy, nhưng bây giờ thì xong rồi, xong hẳn rồi. Ông không tin là
xong hẳn rồi ư? Ông nhìn tôi hiền từ, thậm chí không buồn tức giận tôi ư? Nhưng
ông nên biết rằng bây giờ, chính hiện nay, những con người ấy tin chắc hơn bao
giờ hết rằng họ hoàn toàn tự do, nhưng chính họ đã đem tự do của họ dâng chúng
tôi và đặt nó dưới chân chúng tôi. Nhưng đấy là kết quả mà chúng tôi đã đạt được,
còn ông có mong muốn thứ tự do như thế không?"
- Tôi lại không hiểu! - Aliosa ngắt lời. - ông ta mỉa mai,
ông ta chế nhạo ư?
- Hoàn toàn không. Ông ta khoe mình và người của mình có công
lao rốt cuộc đã đè nén được tự do và họ làm như thế là để con người có được hạnh
phúc. Chỉ đến bây giờ (cố nhiên ông ta nói về thời pháp đình tôn giáo) lần đầu
tiên mới có thể nghĩ đến hạnh phúc của loài người. Con người sinh ra vốn là kẻ
nổi loạn, mà kẻ ncổiloạn có thể có hạnh phúc được không? Ông đã được báo trước,
- ông ta lại nói với Chúa, - ông không thiếu những tời báo trước và chỉ bảo,
nhưng ông không nghe, ông gạt bỏ con đường duy nhất có thể đem lại hạnh phúc cho
con người, nhưng may thay, khi ra đi ông đã trao lại sự nghiệp cho chúng tôi.
Ông đã hứa, ông đã có lời chính thức trao cho chúng tôi quyền trói và cởi trói
vì thế cố nhiên bây giờ ông đừng có nghĩ đến chuyện lấy lại của chúng tôi cái
quyền ấy. Vậy cớ gì ông xuống đây làm phiền chúng tôi?
- Câu này nghĩa là gì? "Không thiếu những lời báo trước
và chỉ bảo" - Aliosa hỏi.
Đấy là điểm chủ chốt ông già cần nói. Quỷ ác độc và tinh
ranh, quỷ của sự tự huỷ diệt và hư vô, - ông già nói tiếp, - quỷ vĩ đại đã nói
với ông trong sa mạc, theo các sách còn truyền lại cho chúng tôi thì tuồng như
quỷ đã "cám dỗ" ông. Có phải thế không? Liệu có thể nói được điều gì
chân thực hơn những điều quỷ nêu ra trong ba câu hỏi mà ông đã bác bỏ và các
sách gọi là "ba sự cám dỗ" không? Thế nhưng trên đời này, nếu có phép
lạ nào đích thực và vang dội thì chính là vào ngày hôm ấy, ngày xảy ra ba sự
cám dỗ đó. Chính việc đặt ra ba câu hỏi ấy đã là phép lạ. Nếu như có thể tưởng
tượng, dù chỉ là đề thử và ví dụ, rằng ba cảu hỏi của quý ác độc sẽ biến mất
trong các sách và cần phải khôi phục lại, một lần nữa phải vắt óc sáng tác ra để
lại đưa vào. sách, vì vậy phải hội họp tất cả các nhà thông thái trên trái đất
này lại - các nhà cam quyền, các đại chủ giáo, các nhà bác học, các nhà triết học,
các nhà thờ - và đặt ra cho họ một nhiệm vụ: hãy nghĩ ra, soạn ra ba câu hỏi
không chỉ phù hợp với quy mô của sự biến, mà chỉ bằng mấy lời, chỉ ba câu thôi,
diễn đạt đủ toàn bộ lịch sử sau này của thế giới và nhân loại, thì ông có cho rằng
tất cả sự anh minh của trái đất chung đúc lại có thể nghĩ ra điều gì mạnh mê và
sâu sắc như ba câu hỏi mà quý đầy uy lực và tinh khôn quả thật đã đề ra với ông
không? Chỉ xét ba câu hỏi ấy, chỉ xem việc chúng xuất hiện ra như một phép lạ
là đủ hiểu rằng đấy không phải lả trí tuệ thông thường của con người, mà trí tuệ
vĩnh hằng và tuyệt đối, lần vì ba câu hỏi ấy dường như đúc kết và tiên tri toàn
bộ lịch sử nhân loại sau này, đấy là ba hình ảnh hội tụ mâu thuẫn lịch sử không
thể giải quyết
được của bản chất con người trên toàn trái đất. Lúc bấy giờ
chưa thể thấy rõ được điều đó bởi vì không thể biết được tương lai, nhưng bây
giờ, sau mười lăm thế kỷ, chúng ta thấy trong ba câu hỏi ấy mọi điều đã được
đoán nhận và tiên tri, và tất cả đều đã hành sự thực, đến độ không thể thêm bớt
gì vào đấy được nữa. Ông, hãy quyết định xem ai đúng: ông hay kẻ đã hỏi ông hồi
ấy? Ông hãy nhớ lại câu hỏi thứ nhất; tuy không đúng từng lời, nhưng ý nghĩa của
câu hỏi ấy là: "Chúa muốn tay không bước vào đời hứa hẹn với người đời thứ
tự do mà người đời chất phác và bẩm tính càn rỡ không thể hiểu nổi, đâm ra khiếp
sợ nó, bởi vì đối với con người và xã hội loài người, không bao giờ có cái gì
khó chịu đựng hơn tự do. Chúa thấy những hòn đá trong sa mạc nóng bỏng, trơ trụi
kia chứ? Hãy biến đã thành bánh mì đi, khi ấy loài người sẽ chạy theo Chúa như
một đàn cừu, biết ơn và ngoan ngoãn, tuy luôn luôn run sợ Chúa sẽ rút tay về
thì sẽ không còn bánh mì do Chúa hoá phép ra nữa". Nhưng ông không muốn tước
bỏ tự do của ông, nên đã khước, từ đề nghị đó, vì ông lập luận rằng sự vâng lời
mua chuộc được bằng bánh mì thì còn gì là tự do nữa? Ông bác lại rằng con người
không phải, chỉ sống bằng bánh mì, nhưng ông có biết đâu rằng chính vì bánh mì
trần thế ấy mà thần linh của trái đất sẽ nổi lên chống lại ông, sẽ giao tranh với
ông và thắng ông, và tất cả sẽ chạy theo vị thần ấy mà kêu lên: "Kẻ nào giống
như con thú này, nó đã đem lửa trời xuống cho chúng ta". Ông có biết hay
không rằng nhiều thế kỷ qua đi, rồi nhân loại qua miệng các nhà hiền triết và
bác học của mình, sẽ tuyên bố rằng không có tội ác, vì vậy cũng không có tội lỗi,
mà chỉ có những người đói mà thôi. "Hãy cho người ta ăn no, khi ấy hãy đòi
hỏi người ta phải có đạo đức!" - Đấy là khẩu hiệu người ta sẽ viết trên lá
cờ giương lên để chống lại ông và là lá cờ sẽ làm cho đền thờ ông sập đổ. Ở chỗ
đền thờ ông sẽ dựng nên một toà nhà mới, lại một tháp Baben khủng khiếp nữa, và
tuy tháp này cũng bị bỏ dở như tháp thứ nhất, nhưng lẽ ra Chúa có thể tránh được
cái tháp mới này và rút bớt cho loài người một ngàn năm đau khổ, bởi vì sau một
ngàn năm khổ sở với cái tháp ấy, họ sẽ đến với chúng tôi! Họ sẽ đi tìm chúng
tôi ở dưới mặt đất, trong các hầm mộ nơi chúng tôi ẩn trốn bởi vì chúng tôi sẽ
bị truy bức và hành hạ, họ tìm thấy và kêu lên: "Hãy cho chúng tôi ăn, vì
những người đã hứa cho chủng tôi, lửa trời lại chẳng cho gì cả". Khi ấy
chúng tôi sẽ xảy nốt tháp cho họ, bởi vì cho họ ăn tức là xây xong tháp, và chỉ
có chúng tôi sẽ cho họ ăn nhân danh Chúa, chúng tôi nói dối là nhân danh Chúa. Ồ,
không có chúng tôi thì họ không tự nuôi thân được! Không có khoa học nào có thể
cho họ bánh mì chừng nào họ còn tự do, nhưng cuối cùng họ sẽ mang tự do của họ
đặt dưới chân chúng tôi và nói với chúng tôi: "Chẳng thà biến chúng tôi
thành nô lệ, nhưng cho chúng tôi ăn còn hơn". Cuối cùng chính họ sẽ hiểu rằng
tự do và bánh mì trần thế thoả thuê cho mỗi người là điều không thể có được, bởi
vì không bao giờ họ có thể phân phổi với nhau cho ổn thoả được! Họ cũng sẽ thấy
rõ ràng không bao giờ họ có thể tự do, bởi vì họ yếu đuối, đốn mạt, hèn mọn và
là những kẻ nổi loạn. Ông hứa cho họ bánh mì trời nhưng tôi nhắc lại lần nữa,
trong con mắt của loài người yếu đuối, vĩnh viễn đốn mạt và vĩnh viễn vô ơn,
bánh mì trời sao bằng bánh mì trần thế? Và nếu như có mấy ngàn, mấy chục ngàn
người theo Chúa vì bánh mì trời thì sự thể sẽ ra sao với hàng triệu và hàng chục
ngàn triệu người không đủ can đảm coi rẻ bánh mì trần thế để trông mong bánh mì
trời? Hay Chúa chỉ quý trọng mấy chục ngàn người vĩ đại và hùng mạnh, còn hàng
triệu người khác nhiều như cát biển, yếu đuối nhưng yêu Chúa, thì chỉ đáng là vật
liệu cho những người vĩ đại và hùng mạnh? Không, chúng tôi quý cả những người yếu.
Họ đốn mạt và là những kẻ nổi loạn, nhưng rốt cuộc họ sẽ trở nên ngoan ngoãn. Họ
sẽ ngạc nhiên về chúng tôi và sẽ coi chúng tôi là những ông trời vì một khi đã
lên cầm đầu họ, chúng tôi ưng chịu gánh lấy gánh nặng tự do và cai trị họ - rốt
cuộc họ sẽ khiếp sợ tự do đến mức ấy đấy! Nhưng chúng tôi sẽ bảo họ rằng chúng
tôi vâng mệnh Chúa và cai trị nhân danh Chúa. Chúng tôi lại đánh lừa họ, bời vì
chúng tôi sẽ không cho Chúa đến gần chúng tôi. Chính sự lừa dối ấy là nỗi đau
khổ của chúng tôi, bởi vì chúng tôi sẽ phải nói dối. Đấy là ý nghĩa câu hỏi thứ
nhất trong sa mạc, đấy là điều Chúa đã bác bỏ nhân danh tự do mà Chúa coi là
cao hơn tất thảy. Thế nhưng câu hỏi đó chứa đựng một bí nhiệm vĩ đại của thế giới
này. Nếu ưng thuận hoá phép ra "bánh mì", Chúa sẽ giải toả được nỗi
ưu tư muôn đời của con người - từng con người: riêng biệt cũng như toàn thể
nhân loại - đó là: "Phải cúi đầu hàng phục ai". Đối với con người đã
được tự do, không có mối bận tâm nào triền miên hơn, đau khổ hơn là mau mau tìm
lấy một nhân vật để sùng phục. Nhưng người ta chỉ muốn sùng phục một uy quyền
hiển nhiên, không phải bàn cái gì nữa, một uy quyền mà tất cả mọi người đều nhất
tề sùng phục. Bởi vì mối bận tâm của những con người thảm hại ấy không phải là
tìm một đối tượng mà tôi hay người khác sùng phục, mà tìm một đối tượng được tất
cả mọi người tin tưởng và sùng phục, nhất định là tất thảm mọi người kia. Chính
nhu cầu về tính cộng đóng trong sự sùng phục ấy là mối khổ tâm chính yếu nhất của
mối cá nhân riêng biệt cũng như của toàn thể loài người từ thuở khai thiên lập
địa đến nay. Để thực hiện sự cộng đồng sùng phục ấy, họ tàn sát nhau bằng đao
kiếm. Họ sáng tạo, ra các đấng Chúa Trời và kêu gọi lẫn nhau: "Hãy vứt bỏ
Chúa Trời của các người đi và đến cúi đầu tôn thờ Chúa Trời của chúng tôi,
không thì cả các người và Chúa Trời của các người đều phải chết!".
Và sẽ như vậy cho đến ngày tận thế, ngay cả khi các Chúa Trời sẽ biến mất trên thế gian thì người ta cũng vẫn quỳ gối trước các thần tượng. Chúa biết, Chúa không thể không biết điều bí nhiệm cơ bản của bản chất loài người, nhưng Chúa đã gạt bỏ ngọn cờ duy nhất có uy lực tuyệt đối mà người ta đã mới Chúa nắm lấy và nó sẽ làm cho tất cả mọi người phải sùng phục Chúa không chút hồ nghi - ngọn cờ bánh mì trần thế, vậy mà Chúa đã gạt bỏ, nhân danh tự do và bánh mì trời. Hãy nhìn lại xem sau đó Chúa đã làm gì. Vẫn lại nhân danh tự do! Tôi nói với Chúa rằng con người không có mối lo âu này khắc khoải hơn là tìm cho được một người để mau mau trao lại cái tự do mà tạo hoá phú cho kẻ bất hạnh từ lúc mới ra đời. Nhưng chỉ có người nào làm cho lương tâm mọi người yên ổn thì mới chiếm hữu được tự do của họ. Có bánh mì là nắm được Ngọn cờ thành công chắc chắn: cho bánh mì của Chúa và đi theo kẻ dụ dỗ được lương tâm mình. Về điểm này Chúa có lý. bởi vì bí nhiệm của sự hiện hữu của con người không phải chỉ là sống, mà là sống để làm gì. Không có quan niệm vững chắc về việc sống để làm gì, con người không muốn sống, chẳng thà tự huỷ diệt mình còn hơn là lưu lại trên cõi trần, mặc dù xung quanh thừa thãi bánh mì. Đúng là như thế, những chuyện gì đã xảy ra: đáng lẽ chiếm lấy tự do của con người thì Chúa lại cử mở rộng tự do thêm mãi! Hay Chúa quên rằng con người quý trọng sự yên ổn và thậm chí cả cái chết hơn là tự do lựa chọn trong sự nhận thức thiện ác? Đối với con người không có gì hấp dẫn hơn tự do cho lương tâm(7) nhưng cũng không có gì khổ ái hơn. Thế mà thay cho những nguyên tắc nền tảng vững chắc để làm cho lương tâm con người mãi mãi yên ổn, Chúa lại chọn tất cả những gì là phi thường, bí ẩn và vu vơ, tất cả những cái không vừa sức con người, vì vậy Chúa hành động như thể hoàn toàn không yêu họ, thế mà Chúa đã hiến cả sinh mạng của mình cho họ đấy! Đáng lẽ chiếm lấy tự do của con người? Chúa lại cứ tảng thêm mãi lên và làm cho thế giới tinh thần của họ chồng chất thêm mọi những dằn vặt vì tự do. Chúa muốn con người yêu tự do, để họ tự do đi theo Chúa, bị lôi cuốn bởi sức hấp dẫn của Chúa. Thay cho luật pháp cứng rắn thời cổ, con người từ nay với trái tim tự do của mình, phải tự quyết định cái gì là thiện, cái gì là ác, mà chỉ lấy hình ảnh của Chúa trước mắt để định hướng cho mình. Nhưng chẳng lê Chúa không nghĩ rằng con người rốt cuộc sẽ chối bỏ và thậm chí bài bác cả hình ảnh của Chúa và sự thật của Chúa, nếu như họ bị đè ép dưới một sức nặng khủng khiếp là sự tự do lựa chọn? Cuối cùng họ sẽ la lên rằng sự thật không phải ở nơi Chúa, vì không thể nào đẩy họ vào tình cảnh bối rối và dằn vặt hơn là Chúa đã làm, Chúa đã để lại cho họ biết bao nhiêu lo âu và những nhiệm vụ không thể giải quyết nổi. Như vậy chính bản thân Chúa đã sắp đạt cho nước Chúa sụp đổ và đừng đổ lỗi cho ai nữa. Thế nhưng người ta có đề nghị với Chúa thế không? Có ba sức mạnh, trên đời chỉ có ba sức mạnh có thể thu phục được lương tâm những kẻ nổi loạn yếu ót để đem lại hạnh phúc cho họ: ba sức mạnh ấy là: phép lạ, bí nhiệm và quyền uy
Và sẽ như vậy cho đến ngày tận thế, ngay cả khi các Chúa Trời sẽ biến mất trên thế gian thì người ta cũng vẫn quỳ gối trước các thần tượng. Chúa biết, Chúa không thể không biết điều bí nhiệm cơ bản của bản chất loài người, nhưng Chúa đã gạt bỏ ngọn cờ duy nhất có uy lực tuyệt đối mà người ta đã mới Chúa nắm lấy và nó sẽ làm cho tất cả mọi người phải sùng phục Chúa không chút hồ nghi - ngọn cờ bánh mì trần thế, vậy mà Chúa đã gạt bỏ, nhân danh tự do và bánh mì trời. Hãy nhìn lại xem sau đó Chúa đã làm gì. Vẫn lại nhân danh tự do! Tôi nói với Chúa rằng con người không có mối lo âu này khắc khoải hơn là tìm cho được một người để mau mau trao lại cái tự do mà tạo hoá phú cho kẻ bất hạnh từ lúc mới ra đời. Nhưng chỉ có người nào làm cho lương tâm mọi người yên ổn thì mới chiếm hữu được tự do của họ. Có bánh mì là nắm được Ngọn cờ thành công chắc chắn: cho bánh mì của Chúa và đi theo kẻ dụ dỗ được lương tâm mình. Về điểm này Chúa có lý. bởi vì bí nhiệm của sự hiện hữu của con người không phải chỉ là sống, mà là sống để làm gì. Không có quan niệm vững chắc về việc sống để làm gì, con người không muốn sống, chẳng thà tự huỷ diệt mình còn hơn là lưu lại trên cõi trần, mặc dù xung quanh thừa thãi bánh mì. Đúng là như thế, những chuyện gì đã xảy ra: đáng lẽ chiếm lấy tự do của con người thì Chúa lại cử mở rộng tự do thêm mãi! Hay Chúa quên rằng con người quý trọng sự yên ổn và thậm chí cả cái chết hơn là tự do lựa chọn trong sự nhận thức thiện ác? Đối với con người không có gì hấp dẫn hơn tự do cho lương tâm(7) nhưng cũng không có gì khổ ái hơn. Thế mà thay cho những nguyên tắc nền tảng vững chắc để làm cho lương tâm con người mãi mãi yên ổn, Chúa lại chọn tất cả những gì là phi thường, bí ẩn và vu vơ, tất cả những cái không vừa sức con người, vì vậy Chúa hành động như thể hoàn toàn không yêu họ, thế mà Chúa đã hiến cả sinh mạng của mình cho họ đấy! Đáng lẽ chiếm lấy tự do của con người? Chúa lại cứ tảng thêm mãi lên và làm cho thế giới tinh thần của họ chồng chất thêm mọi những dằn vặt vì tự do. Chúa muốn con người yêu tự do, để họ tự do đi theo Chúa, bị lôi cuốn bởi sức hấp dẫn của Chúa. Thay cho luật pháp cứng rắn thời cổ, con người từ nay với trái tim tự do của mình, phải tự quyết định cái gì là thiện, cái gì là ác, mà chỉ lấy hình ảnh của Chúa trước mắt để định hướng cho mình. Nhưng chẳng lê Chúa không nghĩ rằng con người rốt cuộc sẽ chối bỏ và thậm chí bài bác cả hình ảnh của Chúa và sự thật của Chúa, nếu như họ bị đè ép dưới một sức nặng khủng khiếp là sự tự do lựa chọn? Cuối cùng họ sẽ la lên rằng sự thật không phải ở nơi Chúa, vì không thể nào đẩy họ vào tình cảnh bối rối và dằn vặt hơn là Chúa đã làm, Chúa đã để lại cho họ biết bao nhiêu lo âu và những nhiệm vụ không thể giải quyết nổi. Như vậy chính bản thân Chúa đã sắp đạt cho nước Chúa sụp đổ và đừng đổ lỗi cho ai nữa. Thế nhưng người ta có đề nghị với Chúa thế không? Có ba sức mạnh, trên đời chỉ có ba sức mạnh có thể thu phục được lương tâm những kẻ nổi loạn yếu ót để đem lại hạnh phúc cho họ: ba sức mạnh ấy là: phép lạ, bí nhiệm và quyền uy
Chúa đã bác bỏ cái thứ nhất, thứ hai, thứ ba và chính Chúa đã
tự nêu gương. Khi quỷ ghê gớm và cực tinh ranh đưa Chúa lên nóc đền thờ và bảo
với Chúa: "Nếu Chúa muốn biết Chúa cỏ phải là con Chúa Trời không thì hãy
lao mình xuống, vì có lời chép rằng các thiên thần sẽ đỡ lấy Chúa và nâng Chúa
trên tay. Chúa sẽ không rơi xuống và không bị thương, khi ấy Chúa sẽ biết Chúa
có phải là con Chúa Trời hay không và sẽ chứng tỏ được đức tin của Chúa vào
Chúa cha". Nhưng Chúa đã không nghe lời xúi bảo ấy và không gieo mình xuống.
Ồ, cố nhiên Chúa xử sự như thế thật là tự hào và cao cả tuyệt vời, xưng đáng là
Chúa Trời, nhưng con người ta, giống người yếu ót nổi loạn có phải là những ông
trời đâu? Ôi, khi Chúa hiểu rằng chỉ cần bước một bước, chỉ cần có một cử chỉ
toan gieo mình xuống là lập tức Chúa đã thử Đức Chúa cha và mất lòng tin vào
Chúa cha, Chúa sẽ tan xương nát đùi vì vập vào trái đất mà Chúa đã đến để cứu vớt
nó, và quỷ tinh ranh đã cám dỗ Chúa sẽ vui mừng. Nhưng, tôi nhắc lại, có nhiều
người như Chúa không? Chẳng lẽ có giây lát nào Chúa quả thật đã cho rằng người
đời đủ sức kham nổi sự cám dỗ như thế chăng? Bản chất con người phải chăng là gạt
bỏ phép lạ và trong những lúc ghê gớm của cuộc đời, lúc phải giải đáp những câu
hỏi cơ bản, đau khổ, ghê gớm nhất của tâm hồn thì vẫn chỉ theo quyết định tự do
của con tim? Ôi, Chúa biết rằng công ích của Chúa sẽ được ghi lại trong sử
sách, sẽ lưu truyền muôn thuở và sẽ dội đến cả những nơi cùng trời cuối đất, và
Chúa hy vọng rằng theo gương Chúa, con người sẽ vẫn tin ở Chúa Trời mà không cần
đến phép lạ. Nhưng Chúa không biết rằng hễ con người chối bỏ phép lạ thì cũng
chối bỏ luôn cả Chúa Trời, bởi vì con người tìm kiếm phép lạ hơn là tìm kiếm
Chúa Trời. Bởi vì con người không thể không cần đến phép lạ, nên họ sẽ tạo ra
cho mình những phép lạ mới, bây giờ là phép lạ của chính họ, và họ cúi đau sùng
bái phép lạ của thầy pháp chữa bệnh, phép phù thuỷ của bà đồng, mặc dù họ đã một
trăm lần là kẻ nổi loạn, kẻ tà giáo và vô thần Chúa không bứt khỏi cây thập giá
mà bước xuống khi người ta la gào, chế nhạo và trêu chọc Chúa: "Hãy rời khỏi
cây thập giá bước xuống đi thì chúng ta sẽ tin mi là Chúa". Chúa không bước
xuống vì Chúa lại vẫn không muốn dùng phép lạ nô dịch con người. Chúa tha thiết
mong muốn tín ngưỡng tự do chứ không phải là tin vì phép lạ. Chúa khao khát
tình yêu của con người tự do, chứ không phải là sự hân hoan của kẻ nô lệ trước
một uy lực đã làm nó khiếp đảm mãi mãi. Nhưng như thể Chúa đánh giá con người
quá cao, bởi vì dĩ nhiên họ là nô lệ, mặc dù bẩm sinh họ là kẻ nổi loạn. Chúa
hãy nhìn cho khắp mà phán xét, đã mười lăm thế kỷ trôi qua, Chúa hãy nhìn họ
xem, có người nào đã được Chúa dìu dắt lên bằng Chúa chưa? Tôi thề rằng con người
yếu đuối hơn và hèn kém hơn Chúa tưởng. Liệu họ có thể làm được như Chúa không?
Tôn trọng họ dường ấy, Chúa dường như không còn thòng cảm với họ nữa, vì Chúa
đòi hỏi ở họ quá nhiều vậy mà Chúa yêu họ hơn cả bản thân mình kia đấy. Nếu
Chúa bớt tôn trọng họ đi thì sẽ đòi hỏi họ ít hơn. Họ yếu đuối và đê hèn. Hiện
nay ở khắp mọi nơi họ nối lên chống lại quyền lực của chúng tôi và kiêu hãnh về
việc họ nổi loạn, nhưng đáng kể gì chuyện ấy? Đấy là sự kiêu hãnh của đứa con
nít và đứa học trò. Đấy là lũ trẻ nhỏ làm loạn trong lớp và đuổi thầy giáo đi.
Nhưng sự hoan hỉ của bọn trẻ ranh rồi sẽ hết, chúng sẽ phải trả một giá đắt.
Chúng sẽ phá sập các đền thờ và tưới máu trên mặt đất. Nhưng rốt cuộc nhưng đứa
trẻ đần độn đoán ra rằng tuy chúng là kẻ nổi loạn, nhưng chúng yếu đuối, không
kham nổi cuộc nổi loạn của chính mình. Chúng sẽ nhỏ những giọt nước mắt ngu độn
mà nhận ra rằng Chúa sinh chúng ra làm kẻ nổi loạn chắc chắn là muốn chế nhạo
chúng. Chúng sẽ nói lên điều đó trong nỗi tuyệt vọng, và điều chúng nói ra sẽ
là sự báng bổ khiến cho chúng càng bất hạnh hơn, bởi vì bản chất con người
không chịu đựng nổi sự báng bổ và cuối cùng bao giờ cũng sẽ trả thù về sự báng
bổ ấy. Vậy, lo lắng, bối rối và bất hạnh là thân phận hiện nay của con người
sau khi Chúa đã chịu bấy nhiêu thương khó vì tự do của họ! Đấng tiên tri vĩ đại
của Chúa, do thiên cảm và với ngụ ý xa xôi, có nói rằng Ngài đã nhìn thấy tất cả
những người có mặt trong lần phục sinh thứ nhất và mỗi chỉ có cả thảy mười hai
ngàn người. Nhưng nếu như có ngần ấy thì họ dường như không phải là người nữa,
mà là những Chúa Trời! Họ đã chịu mọi sự khó vì đạo của Chúa, đã hàng chục năm
chịu đói rét trong sa mạc, ăn châu chấu và rễ cây, và cố nhiên Chúa có thể hãnh
diện trỏ vào họ - nhưng đứa con của tự do, của tình yêu, của lòng hy sinh tự
nguyện và cao cá nhân danh Chúa. Nhưng hãy nhớ rằng họ chỉ có mấy ngàn người,
mà là những đấng Chúa Trời, còn những người khác thì sao? Những người yếu đuối
còn lại có lỗi gì khi họ không chịu đựng nổi cái mà người hùng chịu được? Tâm hồn
yếu đuối có tội gì khi nó không đương nổi món quà tàng ghê gớm như thế? Phải
chăng Chúa đến chỉ với những người được lựa chọn và vì những người được lựa chọn?
Nếu vậy thì đây là điều bí nhiệm và chúng tôi không hiểu nổi. Nhưng nếu là điều
bí nhiệm thì chúng tôi có quyền rao giảng về nó và dạy cho họ biết rằng quyền tự
do quyết định của con tim không phải là điều quan trọng và không phải là tình
yêu, mà là sự bí nhiệm mà họ phải tuân theo một cách mù quáng, cho dù trái với
lương tâm của họ.
Chúng tôi đã làm như thế. Chúng tôi đã sửa chữa sự nghiệp của
Chúa và đặt nó trên nền tảng phép lạ, bí nhiệm và quyền uy. Và người đời vui sướng
vì lại được chăn dắt như đàn cừu và rốt cuộc đã cất bỏ được khỏi con tim món
quà rất đỗi đáng sợ đã đem đến cho họ biết bao đau khổ. Chúng tôi làm như thế
có phải lẽ không, Chúa nói đi. Lẽ nào chúng tôi không yêu nhân loại khi chúng
tôi khiêm nhường nhận ra chỗ yếu kém của họ, trìu mến giảm nhẹ gánh nặng cho họ
và cho phép bản chất yếu đuối của họ phạm tội, miễn là được chúng tôi cho phép?
Vậy bây giờ Chúa đến gây phiền toái cho chúng tôi làm gì? Sao Chúa lẳng lặng
nhìn tôi một cách thấm thía bằng cặp mắt hiền từ như vậy? Cứ nổi giận đi, tôi
không mong muốn tình yêu của Chúa, vì chính tôi không yêu Chúa. Cần gì tôi phải
giấu giếm Chúa? Hay tôi không biết tôi đang nói với ai? Nhưng gì tôi muốn nói với
Chúa, Chúa biết hết rồi, tôi đọc thấy trong mắt Chúa. Tôi phải giấu Chứa điều
bí nhiệm của chúng tôi chăng? Có lẽ Chúa muốn nghe điều đó từ miệng tôi nói ra
chăng, vậy thì hãy nghe đây: chúng tôi không theo Chúa, mà theo hắn, đó là
điều bí nhiệm của chúng tôi! Đã từ lâu chúng tôi không theo Chúa, mà theo hắn,
đã tám thế kỷ nay.
Đúng tám thế kỷ trước, chúng tôi đã nhận lấy của hắn cái
mà Chúa đã phẫn nộ gạt bỏ, món quà cuối cùng mà hắn đã dâng Chúa khi trỏ cho
Chúa tất cả các vương quốc trần gian: chúng tôi đã nhận của hắn La Mã và thanh
gươm của Xezar và tuyên bố chỉ có chúng tôi mới là những hoàng
đế dưới trần gian, chỉ có chúng tôi mới là hoàng đế, mặc dù
cho đến nay chúng tôi vẫn chưa hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp của chúng tôi.
Nhưng lỗi tại ai?
- Ôi, sự nghiệp ấy cho đến nay chỉ mới khởi sự, nhưng nó đã
khởi sự. Còn lâu mới xong xuôi, và trần gian còn đau khổ nhiều, nhưng chúng tôi
sẽ đạt được mục đích, chúng tôi sẽ là những Cezar, bấy giờ chúng tôi sẽ nghĩ đến
hạnh phúc toàn thế giới của nhân loại. Thế nhưng hồi ấy lẽ ra Chúa vẫn có thể
nhận lấy thanh kiếm của Cezar. Tại sao Chúa khước từ món quà cuối cùng ấy? Nếu
Chúa chấp nhận lời khuyên thứ ba của Quỷ pháp lực cao cường thì Chúa đã thực hiện
được tất cả những gì con người vẫn đi tìm ở trần gian: một đấng để sùng phục, để
trao phó lương tâm của mình và nhờ đó mà rốt cuộc tất cả mọi người hợp nhất lại
thành một tổ kiến hoà thuận không gì phủ nhận được, bởi vì nhu cầu liên kết
toàn thế giới là nỗi dằn vặt thứ ba và cuối cùng của loài người. Bởi vì nhân loại,
xét trong tổng thể, bao giờ cũng có khuynh hướng tự tổ chức trên nền tảng toàn
thế giới. Đã có nhiều dân tộc vĩ đại viết nên pho sử vĩ đại, nhưng họ càng lên
cao thì càng bất hạnh, bởi vì họ có ý thức mạnh mẽ hơn các dân tộc khác về nhu
cầu liên kết toàn thế giới. Những nhà chinh phục vĩ đại như Timur và Thành Cát
Tư Hãn đã vút qua trên trái đất như cơn lốc khao khát chinh phục cả vũ trụ,
nhưng ngay cả những kẻ ấy, dù là không có ý thức, cũng biểu thị chính cái nhu cầu
vĩ đại của nhân loại và thống nhất mọi dân tộc trên toàn thế giới. Nếu Chúa nhận
lấy thế giới và bộ áo đỏ của Cezar thì Chúa đã tạo lập được một vương quốc toàn
thế giới và sự yên ổn trên toàn thế giới. Bởi vì ai sẽ làm chủ được người đời nếu
không phải là người làm chủ được lương tâm họ và nắm lấy bánh mì của họ trong
tay mình?
Chúng tôi đã nhận lấy thanh gươm của Cezar và như thế chúng
tôi đã từ bỏ Chúa để đi theo hắn. Ôi, trí tuệ tự do, khoa bọc và thói ăn thịt
người của họ còn hoành hành nhiều thế kỷ nữa, bởi vì sau khi đã bắt đầu dựng
tháp Baben không có chúng tôi, rốt cuộc họ sẽ trở lại thói ăn thịt người. Nhưng
khi ấy con thú sẽ bò đến liếm chân chúng tôi, nước mắt lẫn máu túa xuống chân
chúng tôi. Chúng tôi sẽ cưỡi lên nó, nâng cao cái chén có khắc chữ "Bí nhiệm!"
Nhưng chỉ khi ấy bình yên và hạnh phúc mới ngự trị trên cõi đời.
Chúa tự hào về những người được Chúa lựa chọn, nhưng Chúa chỉ có những người được lựa chọn, còn chúng tôi lại đem sự bình yên cho tất cả mọi người. Lại còn thế này nữa: trong số những ngươi được Chúa lựa chọn, trong số những người mạnh mê có thể được lựa chọn, rốt cuộc rất nhiều người mệt mỏi vì chờ đợi Chúa, họ đã và sẽ đem sức mạnh tinh thần và nhiệt tâm sang lĩnh vực hoạt động khác và sau hết, họ sẽ dựng lên ngọn cờ tự do của mình chống lại Chúa. Nhưng chính Chúa đã dựng lên ngọn cờ ấy. Đi với chúng tôi, tất cả mọi người sẽ hạnh phúc, khắp nơi nơi sẽ không còn nổi loạn nữa, người ta không tiêu diệt lẫn nhau nữa, những cái đó chỉ có trong tự do của Chúa. Ồ,chúng tôi sẽ thuyết phục được họ rằng chỉ tự do khi rời bỏ tự do của mình vì chúng tôi và phục tùng chúng tôi. Thế nào, chúng tôi có lý hay là nói dối? Chính họ sẽ thấy rằng chúng tôi có lý, vì họ sẽ nhớ lại rằng tự do của Chúa đã đưa họ đến kiếp nô lệ khủng khiếp và sự hoang mang như thế nào. Tự do, trí tuệ tự do và khoa học sẽ đẩy họ vào những mê lộ và đặt họ trước những phép lạ và những bí nhiệm không thể giải đáp được khiến cho một số trong bọn họ, những kẻ bất khuất và hung dữ, sẽ tiêu diệt chính bản thân mình, những kẻ khác bất khuất nhưng suy yếu thì sẽ tiêu diệt lẫn nhau, còn loại thứ ba yếu đuối và bất hạnh sẽ bò đến dưới chân chúng tôi mà kêu van: "Vâng, các ngài có lý - chỉ có các ngài nắm được bí nhiệm của Chúa, chúng con trở lại với các ngài, xin các ngài cứu vớt chúng con khỏi chính bản thân chúng con". Khi nhận bánh mì từ tay chúng tôi, cố nhiên họ biết rõ ràng đấy là bánh mì của họ, do tay họ làm ra, chúng tôi lấy của họ để phân phối cho họ, chẳng có phép lạ nào cả, họ sẽ thấy chúng tôi không biến đá thành bánh mì, nhưng họ sẽ vui sướng khi nhận bánh mì từ tay chúng tôi hơn cả vui sướng vì có bánh mì! Bởi vì họ sẽ nhớ rằng trước kia, không có chúng tôi, chính bánh mì do họ làm ra lại chỉ biến thành đá trong tay họ, còn khi họ trở lại với chúng tôi thì trong tay họ đã lại biến thành bánh mì. Họ sẽ hiểu rất rõ giá trị của việc vĩnh viễn phục tùng! Chừng nào người đời chưa hiểu điều đó thì họ vẫn còn bất hạnh. Ai góp phần nhiều nhất tạo nên sự thiếu hiểu biết ấy, Chúa nói đi? Ai đã xé lẻ đàn cừu và lùa nó tản tác vào những nẻo đường chưa từng biết? Những đàn cừu sẽ tụ họp lại và lại ngoan ngoãn vâng lời, lần này thì vĩnh viễn. Khi ấy chúng tôi sẽ đem lại cho họ hạnh phúc êm đềm và khiêm nhường, hạnh phúc của những sinh vật yếu đuối mà tạo hoá sinh ra vốn đã như vậy: ồ, cuối cùng chúng tôi sẽ thuyết phục được họ đừng kiêu ngạo, bởi vì Chúa đã tâng bốc họ quá, như vậy là dạy cho họ kiêu ngạo. Chúng tôi sẽ chứng tỏ cho họ lấy rằng họ yếu đuối họ chỉ là những đứa trẻ đáng thương, nhưng hạnh phúc của trẻ thơ ngọt ngào hơn bất cứ thứ hạnh phúc nào. Họ sẽ trở nên nhút nhát, sẽ ngước mắt nhìn chúng tôi và nép vào chúng tôi như gà con nép dưới cánh gà mẹ. Họ sẽ ngạc nhiên về chúng tôi; khiếp sợ chúng tôi, tự hào vì chúng tôi hùng mạnh và thông minh đến độ dẹp yên cả một bầy súc vật cuồng loạn hàng bao nhiêu triệu như thế. Họ sẽ bủn nhủn run sợ trước cơn giận của chúng tôi, trí tuệ họ đâm ra nhút nhát, mắt họ sẽ đẫm lệ như đàn bà trẻ con, nhưng chỉ cần chúng tôi vẫy tay một cái là cũng dễ dàng như thế, họ trở nên vui vẻ tươi cười, vui sướng hớn hở và hát bài ca hạnh phúc của trẻ con. Phải, chúng tôi sẽ bắt họ làm việc, nhưng những lúc rảnh rang, chúng tôi sẽ làm cho cuộc sống của họ như một trò chơi trẻ con, hát hỏng, đồng ca, nhảy những điệu vũ hồn nhiên. Ồ, chúng tôi cũng cho phép họ phạm tội nữa, họ yếu đuối và bất lực, và họ sẽ yêu mến chúng tôi như con trẻ yêu cha mẹ, vì chúng tôi cho phép họ phạm tội. Chúng tôi sẽ nói với họ rằng mọi tội lỗi đều chuộc được, miễn là nó được chúng tôi cho phép. Chúng tôi cho phép họ phạm tội vì chúng tôi yêu họ, và chúng ta sẽ gánh chịu sự đừng phạt thay cho họ. Chúng tôi sẽ gánh chịu và họ sẽ tôn sùng chúng tôi như những ân nhân đã gánh lấy tội lỗi cho họ trước Chúa Trời. Họ sẽ không có điều gì giữ bí mật với chúng tôi. Chúng tôi sẽ cho phép hay cấm họ sống với vợ và người tình, có con hay không có con, - tất cả tuỳ theo sự vâng lời họ, - và họ sẽ vui vẻ và sung sướng tuân phục chúng tôi. Những bí mật khiến cho lương tâm họ bị giày vò ghê gớm nhất, họ sẽ thổ lộ hết với chúng tôi, và chúng tôi sẽ giải quyết cho họ, họ sẽ vui sướng tin theo quyết định của chúng tôi, bởi vì nó sẽ giải thoát họ khỏi nỗi lo âu vô cùng lớn lao và những dằn vặt ghê gớm hiện nay khi mỗi cá nhân tự do quyết định vận mệnh của mình. Và tất cả sẽ hạnh phúc, hàng triệu người, trừ một trăm ngàn người quản lý họ. Chỉ vì chỉ có chúng tôi năm giữ điều bí nhiệm, chỉ có chúng tôi sẽ bất hạnh. Sẽ có hàng trăm triệu người thơ ngây sung sướng và một trăm ngàn người đau khổ phải chịu sự trừng phạt vì biết thiện ác. Họ sẽ chết êm ả, nhân danh Chúa họ sẽ tắt nghỉ êm ả, và ở thế giới bên kia họ sẽ chỉ tìm thấy cái chết. Nhưng chúng
Chúa tự hào về những người được Chúa lựa chọn, nhưng Chúa chỉ có những người được lựa chọn, còn chúng tôi lại đem sự bình yên cho tất cả mọi người. Lại còn thế này nữa: trong số những ngươi được Chúa lựa chọn, trong số những người mạnh mê có thể được lựa chọn, rốt cuộc rất nhiều người mệt mỏi vì chờ đợi Chúa, họ đã và sẽ đem sức mạnh tinh thần và nhiệt tâm sang lĩnh vực hoạt động khác và sau hết, họ sẽ dựng lên ngọn cờ tự do của mình chống lại Chúa. Nhưng chính Chúa đã dựng lên ngọn cờ ấy. Đi với chúng tôi, tất cả mọi người sẽ hạnh phúc, khắp nơi nơi sẽ không còn nổi loạn nữa, người ta không tiêu diệt lẫn nhau nữa, những cái đó chỉ có trong tự do của Chúa. Ồ,chúng tôi sẽ thuyết phục được họ rằng chỉ tự do khi rời bỏ tự do của mình vì chúng tôi và phục tùng chúng tôi. Thế nào, chúng tôi có lý hay là nói dối? Chính họ sẽ thấy rằng chúng tôi có lý, vì họ sẽ nhớ lại rằng tự do của Chúa đã đưa họ đến kiếp nô lệ khủng khiếp và sự hoang mang như thế nào. Tự do, trí tuệ tự do và khoa học sẽ đẩy họ vào những mê lộ và đặt họ trước những phép lạ và những bí nhiệm không thể giải đáp được khiến cho một số trong bọn họ, những kẻ bất khuất và hung dữ, sẽ tiêu diệt chính bản thân mình, những kẻ khác bất khuất nhưng suy yếu thì sẽ tiêu diệt lẫn nhau, còn loại thứ ba yếu đuối và bất hạnh sẽ bò đến dưới chân chúng tôi mà kêu van: "Vâng, các ngài có lý - chỉ có các ngài nắm được bí nhiệm của Chúa, chúng con trở lại với các ngài, xin các ngài cứu vớt chúng con khỏi chính bản thân chúng con". Khi nhận bánh mì từ tay chúng tôi, cố nhiên họ biết rõ ràng đấy là bánh mì của họ, do tay họ làm ra, chúng tôi lấy của họ để phân phối cho họ, chẳng có phép lạ nào cả, họ sẽ thấy chúng tôi không biến đá thành bánh mì, nhưng họ sẽ vui sướng khi nhận bánh mì từ tay chúng tôi hơn cả vui sướng vì có bánh mì! Bởi vì họ sẽ nhớ rằng trước kia, không có chúng tôi, chính bánh mì do họ làm ra lại chỉ biến thành đá trong tay họ, còn khi họ trở lại với chúng tôi thì trong tay họ đã lại biến thành bánh mì. Họ sẽ hiểu rất rõ giá trị của việc vĩnh viễn phục tùng! Chừng nào người đời chưa hiểu điều đó thì họ vẫn còn bất hạnh. Ai góp phần nhiều nhất tạo nên sự thiếu hiểu biết ấy, Chúa nói đi? Ai đã xé lẻ đàn cừu và lùa nó tản tác vào những nẻo đường chưa từng biết? Những đàn cừu sẽ tụ họp lại và lại ngoan ngoãn vâng lời, lần này thì vĩnh viễn. Khi ấy chúng tôi sẽ đem lại cho họ hạnh phúc êm đềm và khiêm nhường, hạnh phúc của những sinh vật yếu đuối mà tạo hoá sinh ra vốn đã như vậy: ồ, cuối cùng chúng tôi sẽ thuyết phục được họ đừng kiêu ngạo, bởi vì Chúa đã tâng bốc họ quá, như vậy là dạy cho họ kiêu ngạo. Chúng tôi sẽ chứng tỏ cho họ lấy rằng họ yếu đuối họ chỉ là những đứa trẻ đáng thương, nhưng hạnh phúc của trẻ thơ ngọt ngào hơn bất cứ thứ hạnh phúc nào. Họ sẽ trở nên nhút nhát, sẽ ngước mắt nhìn chúng tôi và nép vào chúng tôi như gà con nép dưới cánh gà mẹ. Họ sẽ ngạc nhiên về chúng tôi; khiếp sợ chúng tôi, tự hào vì chúng tôi hùng mạnh và thông minh đến độ dẹp yên cả một bầy súc vật cuồng loạn hàng bao nhiêu triệu như thế. Họ sẽ bủn nhủn run sợ trước cơn giận của chúng tôi, trí tuệ họ đâm ra nhút nhát, mắt họ sẽ đẫm lệ như đàn bà trẻ con, nhưng chỉ cần chúng tôi vẫy tay một cái là cũng dễ dàng như thế, họ trở nên vui vẻ tươi cười, vui sướng hớn hở và hát bài ca hạnh phúc của trẻ con. Phải, chúng tôi sẽ bắt họ làm việc, nhưng những lúc rảnh rang, chúng tôi sẽ làm cho cuộc sống của họ như một trò chơi trẻ con, hát hỏng, đồng ca, nhảy những điệu vũ hồn nhiên. Ồ, chúng tôi cũng cho phép họ phạm tội nữa, họ yếu đuối và bất lực, và họ sẽ yêu mến chúng tôi như con trẻ yêu cha mẹ, vì chúng tôi cho phép họ phạm tội. Chúng tôi sẽ nói với họ rằng mọi tội lỗi đều chuộc được, miễn là nó được chúng tôi cho phép. Chúng tôi cho phép họ phạm tội vì chúng tôi yêu họ, và chúng ta sẽ gánh chịu sự đừng phạt thay cho họ. Chúng tôi sẽ gánh chịu và họ sẽ tôn sùng chúng tôi như những ân nhân đã gánh lấy tội lỗi cho họ trước Chúa Trời. Họ sẽ không có điều gì giữ bí mật với chúng tôi. Chúng tôi sẽ cho phép hay cấm họ sống với vợ và người tình, có con hay không có con, - tất cả tuỳ theo sự vâng lời họ, - và họ sẽ vui vẻ và sung sướng tuân phục chúng tôi. Những bí mật khiến cho lương tâm họ bị giày vò ghê gớm nhất, họ sẽ thổ lộ hết với chúng tôi, và chúng tôi sẽ giải quyết cho họ, họ sẽ vui sướng tin theo quyết định của chúng tôi, bởi vì nó sẽ giải thoát họ khỏi nỗi lo âu vô cùng lớn lao và những dằn vặt ghê gớm hiện nay khi mỗi cá nhân tự do quyết định vận mệnh của mình. Và tất cả sẽ hạnh phúc, hàng triệu người, trừ một trăm ngàn người quản lý họ. Chỉ vì chỉ có chúng tôi năm giữ điều bí nhiệm, chỉ có chúng tôi sẽ bất hạnh. Sẽ có hàng trăm triệu người thơ ngây sung sướng và một trăm ngàn người đau khổ phải chịu sự trừng phạt vì biết thiện ác. Họ sẽ chết êm ả, nhân danh Chúa họ sẽ tắt nghỉ êm ả, và ở thế giới bên kia họ sẽ chỉ tìm thấy cái chết. Nhưng chúng
được của bản chất con người trên toàn trái đất. Lúc bấy giờ
chưa thể thấy rõ được điều đó bởi vì không thể biết được tương lai, nhưng bây
giờ, sau mười lăm thế kỷ, chúng ta thấy trong ba câu hỏi ấy mọi điều đã được
đoán nhận và tiên tri, và tất cả đều đã hành sự thực, đến độ không thể thêm bớt
gì vào đấy được nữa. Ông, hãy quyết định xem ai đúng: ông hay kẻ đã hỏi ông hồi
ấy? Ông hãy nhớ lại câu hỏi thứ nhất; tuy không đúng từng lời, nhưng ý nghĩa của
câu hỏi ấy là: "Chúa muốn tay không bước vào đời hứa hẹn với người đời thứ
tự do mà người đời chất phác và bẩm tính càn rỡ không thể hiểu nổi, đâm ra khiếp
sợ nó, bởi vì đối với con người và xã hội loài người, không bao giờ có cái gì
khó chịu đựng hơn tự do. Chúa thấy những hòn đá trong sa mạc nóng bỏng, trơ trụi
kia chứ? Hãy biến đã thành bánh mì đi, khi ấy loài người sẽ chạy theo Chúa như
một đàn cừu, biết ơn và ngoan ngoãn, tuy luôn luôn run sợ Chúa sẽ rút tay về
thì sẽ không còn bánh mì do Chúa hoá phép ra nữa". Nhưng ông không muốn tước
bỏ tự do của ông, nên đã khước, từ đề nghị đó, vì ông lập luận rằng sự vâng lời
mua chuộc được bằng bánh mì thì còn gì là tự do nữa? Ông bác lại rằng con người
không phải, chỉ sống bằng bánh mì, nhưng ông có biết đâu rằng chính vì bánh mì
trần thế ấy mà thần linh của trái đất sẽ nổi lên chống lại ông, sẽ giao tranh với
ông và thắng ông, và tất cả sẽ chạy theo vị thần ấy mà kêu lên: "Kẻ nào giống
như con thú này, nó đã đem lửa trời xuống cho chúng ta". Ông có biết hay
không rằng nhiều thế kỷ qua đi, rồi nhân loại qua miệng các nhà hiền triết và
bác học của mình, sẽ tuyên bố rằng không có tội ác, vì vậy cũng không có tội lỗi,
mà chỉ có những người đói mà thôi. "Hãy cho người ta ăn no, khi ấy hãy đòi
hỏi người ta phải có đạo đức!" - Đấy là khẩu hiệu người ta sẽ viết trên lá
cờ giương lên để chống lại ông và là lá cờ sẽ làm cho đền thờ ông sập đổ. Ở chỗ
đền thờ ông sẽ dựng nên một toà nhà mới, lại một tháp Baben khủng khiếp nữa, và
tuy tháp này cũng bị bỏ dở như tháp thứ nhất, nhưng lẽ ra Chúa có thể tránh được
cái tháp mới này và rút bớt cho loài người một ngàn năm đau khổ, bởi vì sau một
ngàn năm khổ sở với cái tháp ấy, họ sẽ đến với chúng tôi! Họ sẽ đi tìm chúng
tôi ở dưới mặt đất, trong các hầm mộ nơi chúng tôi ẩn trốn bởi vì chúng tôi sẽ
bị truy bức và hành hạ, họ tìm thấy và kêu lên: "Hãy cho chúng tôi ăn, vì
những người đã hứa cho chủng tôi, lửa trời lại chẳng cho gì cả". Khi ấy
chúng tôi sẽ xảy nốt tháp cho họ, bởi vì cho họ ăn tức là xây xong tháp, và chỉ
có chúng tôi sẽ cho họ ăn nhân danh Chúa, chúng tôi nói dối là nhân danh Chúa. Ồ,
không có chúng tôi thì họ không tự nuôi thân được! Không có khoa học nào có thể
cho họ bánh mì chừng nào họ còn tự do, nhưng cuối cùng họ sẽ mang tự do của họ
đặt dưới chân chúng tôi và nói với chúng tôi: "Chẳng thà biến chúng tôi
thành nô lệ, nhưng cho chúng tôi ăn còn hơn". Cuối cùng chính họ sẽ hiểu rằng
tự do và bánh mì trần thế thoả thuê cho mỗi người là điều không thể có được, bởi
vì không bao giờ họ có thể phân phổi với nhau cho ổn thoả được! Họ cũng sẽ thấy
rõ ràng không bao giờ họ có thể tự do, bởi vì họ yếu đuối, đốn mạt, hèn mọn và
là những kẻ nổi loạn. Ông hứa cho họ bánh mì trời nhưng tôi nhắc lại lần nữa,
trong con mắt của loài người yếu đuối, vĩnh viễn đốn mạt và vĩnh viễn vô ơn,
bánh mì trời sao bằng bánh mì trần thế? Và nếu như có mấy ngàn, mấy chục ngàn
người theo Chúa vì bánh mì trời thì sự thể sẽ ra sao với hàng triệu và hàng chục
ngàn triệu người không đủ can đảm coi rẻ bánh mì trần thế để trông mong bánh mì
trời? Hay Chúa chỉ quý trọng mấy chục ngàn người vĩ đại và hùng mạnh, còn hàng
triệu người khác nhiều như cát biển, yếu đuối nhưng yêu Chúa, thì chỉ đáng là vật
liệu cho những người vĩ đại và hùng mạnh? Không, chúng tôi quý cả những người yếu.
Họ đốn mạt và là những kẻ nổi loạn, nhưng rốt cuộc họ sẽ trở nên ngoan ngoãn. Họ
sẽ ngạc nhiên về chúng tôi và sẽ coi chúng tôi là những ông trời vì một khi đã
lên cầm đầu họ, chúng tôi ưng chịu gánh lấy gánh nặng tự do và cai trị họ - rốt
cuộc họ sẽ khiếp sợ tự do đến mức ấy đấy! Nhưng chúng tôi sẽ bảo họ rằng chúng
tôi vâng mệnh Chúa và cai trị nhân danh Chúa. Chúng tôi lại đánh lừa họ, bời vì
chúng tôi sẽ không cho Chúa đến gần chúng tôi. Chính sự lừa dối ấy là nỗi đau
khổ của chúng tôi, bởi vì chúng tôi sẽ phải nói dối. Đấy là ý nghĩa câu hỏi thứ
nhất trong sa mạc, đấy là điều Chúa đã bác bỏ nhân danh tự do mà Chúa coi là
cao hơn tất thảy. Thế nhưng câu hỏi đó chứa đựng một bí nhiệm vĩ đại của thế giới
này. Nếu ưng thuận hoá phép ra "bánh mì", Chúa sẽ giải toả được nỗi
ưu tư muôn đời của con người - từng con người: riêng biệt cũng như toàn thể
nhân loại - đó là: "Phải cúi đầu hàng phục ai". Đối với con người đã
được tự do, không có mối bận tâm nào triền miên hơn, đau khổ hơn là mau mau tìm
lấy một nhân vật để sùng phục. Nhưng người ta chỉ muốn sùng phục một uy quyền
hiển nhiên, không phải bàn cái gì nữa, một uy quyền mà tất cả mọi người đều nhất
tề sùng phục. Bởi vì mối bận tâm của những con người thảm hại ấy không phải là
tìm một đối tượng mà tôi hay người khác sùng phục, mà tìm một đối tượng được tất
cả mọi người tin tưởng và sùng phục, nhất định là tất thảm mọi người kia. Chính
nhu cầu về tính cộng đóng trong sự sùng phục ấy là mối khổ tâm chính yếu nhất của
mối cá nhân riêng biệt cũng như của toàn thể loài người từ thuở khai thiên lập
địa đến nay. Để thực hiện sự cộng đồng sùng phục ấy, họ tàn sát nhau bằng đao
kiếm. Họ sáng tạo, ra các đấng Chúa Trời và kêu gọi lẫn nhau: "Hãy vứt bỏ
Chúa Trời của các người đi và đến cúi đầu tôn thờ Chúa Trời của chúng tôi,
không thì cả các người và Chúa Trời của các người đều phải chết!". Và sẽ
như vậy cho đến ngày tận thế, ngay cả khi các Chúa Trời sẽ biến mất trên thế
gian thì người ta cũng vẫn quỳ gối trước các thần tượng. Chúa biết, Chúa không
thể không biết điều bí nhiệm cơ bản của bản chất loài người, nhưng Chúa đã gạt
bỏ ngọn cờ duy nhất có uy lực tuyệt đối mà người ta đã mới Chúa nắm lấy và nó sẽ
làm cho tất cả mọi người phải sùng phục Chúa không chút hồ nghi - ngọn cờ bánh
mì trần thế, vậy mà Chúa đã gạt bỏ, nhân danh tự do và bánh mì trời. Hãy nhìn lại
xem sau đó Chúa đã làm gì. Vẫn lại nhân danh tự do! Tôi nói với Chúa rằng con
người không có mối lo âu này khắc khoải hơn là tìm cho được một người để mau
mau trao lại cái tự do mà tạo hoá phú cho kẻ bất hạnh từ lúc mới ra đời. Nhưng
chỉ có người nào làm cho lương tâm mọi người yên ổn thì mới chiếm hữu được tự do
của họ. Có bánh mì là nắm được Ngọn cờ thành công chắc chắn: cho bánh mì của
Chúa và đi theo kẻ dụ dỗ được lương tâm mình. Về điểm này Chúa có lý. bởi vì bí
nhiệm của sự hiện hữu của con người không phải chỉ là sống, mà là sống để làm
gì. Không có quan niệm vững chắc về việc sống để làm gì, con người không muốn sống,
chẳng thà tự huỷ diệt mình còn hơn là lưu lại trên cõi trần, mặc dù xung quanh
thừa thãi bánh mì. Đúng là như thế, những chuyện gì đã xảy ra: đáng lẽ chiếm lấy
tự do của con người thì Chúa lại cử mở rộng tự do thêm mãi! Hay Chúa quên rằng
con người quý trọng sự yên ổn và thậm chí cả cái chết hơn là tự do lựa chọn
trong sự nhận thức thiện ác? Đối với con người không có gì hấp dẫn hơn tự do
cho lương tâm(7) nhưng cũng không có gì khổ ái hơn. Thế mà thay cho những
nguyên tắc nền tảng vững chắc để làm cho lương tâm con người mãi mãi yên ổn,
Chúa lại chọn tất cả những gì là phi thường, bí ẩn và vu vơ, tất cả những cái
không vừa sức con người, vì vậy Chúa hành động như thể hoàn toàn không yêu họ,
thế mà Chúa đã hiến cả sinh mạng của mình cho họ đấy! Đáng lẽ chiếm lấy tự do của
con người? Chúa lại cứ tảng thêm mãi lên và làm cho thế giới tinh thần của họ
chồng chất thêm mọi những dằn vặt vì tự do. Chúa muốn con người yêu tự do, để họ
tự do đi theo Chúa, bị lôi cuốn bởi sức hấp dẫn của Chúa. Thay cho luật pháp cứng
rắn thời cổ, con người từ nay với trái tim tự do của mình, phải tự quyết định
cái gì là thiện, cái gì là ác, mà chỉ lấy hình ảnh của Chúa trước mắt để định
hướng cho mình. Nhưng chẳng lê Chúa không nghĩ rằng con người rốt cuộc sẽ chối
bỏ và thậm chí bài bác cả hình ảnh của Chúa và sự thật của Chúa, nếu như họ bị
đè ép dưới một sức nặng khủng khiếp là sự tự do lựa chọn? Cuối cùng họ sẽ la
lên rằng sự thật không phải ở nơi Chúa, vì không thể nào đẩy họ vào tình cảnh bối
rối và dằn vặt hơn là Chúa đã làm, Chúa đã để lại cho họ biết bao nhiêu lo âu
và những nhiệm vụ không thể giải quyết nổi.
Như vậy chính bản thân Chúa đã sắp đạt cho nước Chúa sụp đổ và đừng đổ lỗi cho ai nữa. Thế nhưng người ta có đề nghị với Chúa thế không? Có ba sức mạnh, trên đời chỉ có ba sức mạnh có thể thu phục được lương tâm những kẻ nổi loạn yếu ót để đem lại hạnh phúc cho họ: ba sức mạnh ấy là: phép lạ, bí nhiệm và quyền uy
Như vậy chính bản thân Chúa đã sắp đạt cho nước Chúa sụp đổ và đừng đổ lỗi cho ai nữa. Thế nhưng người ta có đề nghị với Chúa thế không? Có ba sức mạnh, trên đời chỉ có ba sức mạnh có thể thu phục được lương tâm những kẻ nổi loạn yếu ót để đem lại hạnh phúc cho họ: ba sức mạnh ấy là: phép lạ, bí nhiệm và quyền uy
Chúa đã bác bỏ cái thứ nhất, thứ hai, thứ ba và chính Chúa đã
tự nêu gương. Khi quỷ ghê gớm và cực tinh ranh đưa Chúa lên nóc đền thờ và bảo
với Chúa: "Nếu Chúa muốn biết Chúa cỏ phải là con Chúa Trời không thì hãy
lao mình xuống, vì có lời chép rằng các thiên thần sẽ đỡ lấy Chúa và nâng Chúa
trên tay. Chúa sẽ không rơi xuống và không bị thương, khi ấy Chúa sẽ biết Chúa
có phải là con Chúa Trời hay không và sẽ chứng tỏ được đức tin của Chúa vào
Chúa cha". Nhưng Chúa đã không nghe lời xúi bảo ấy và không gieo mình xuống.
Ồ, cố nhiên Chúa xử sự như thế thật là tự hào và cao cả tuyệt vời, xưng đáng là
Chúa Trời, nhưng con người ta, giống người yếu ót nổi loạn có phải là những ông
trời đâu? Ôi, khi Chúa hiểu rằng chỉ cần bước một bước, chỉ cần có một cử chỉ
toan gieo mình xuống là lập tức Chúa đã thử Đức Chúa cha và mất lòng tin vào
Chúa cha, Chúa sẽ tan xương nát đùi vì vập vào trái đất mà Chúa đã đến để cứu vớt
nó, và quỷ tinh ranh đã cám dỗ Chúa sẽ vui mừng. Nhưng, tôi nhắc lại, có nhiều
người như Chúa không? Chẳng lẽ có giây lát nào Chúa quả thật đã cho rằng người
đời đủ sức kham nổi sự cám dỗ như thế chăng? Bản chất con người phải chăng là gạt
bỏ phép lạ và trong những lúc ghê gớm của cuộc đời, lúc phải giải đáp những câu
hỏi cơ bản, đau khổ, ghê gớm nhất của tâm hồn thì vẫn chỉ theo quyết định tự do
của con tim? Ôi, Chúa biết rằng công ích của Chúa sẽ được ghi lại trong sử
sách, sẽ lưu truyền muôn thuở và sẽ dội đến cả những nơi cùng trời cuối đất, và
Chúa hy vọng rằng theo gương Chúa, con người sẽ vẫn tin ở Chúa Trời mà không cần
đến phép lạ. Nhưng Chúa không biết rằng hễ con người chối bỏ phép lạ thì cũng
chối bỏ luôn cả Chúa Trời, bởi vì con người tìm kiếm phép lạ hơn là tìm kiếm
Chúa Trời. Bởi vì con người không thể không cần đến phép lạ, nên họ sẽ tạo ra
cho mình những phép lạ mới, bây giờ là phép lạ của chính họ, và họ cúi đau sùng
bái phép lạ của thầy pháp chữa bệnh, phép phù thuỷ của bà đồng, mặc dù họ đã một
trăm lần là kẻ nổi loạn, kẻ tà giáo và vô thần Chúa không bứt khỏi cây thập giá
mà bước xuống khi người ta la gào, chế nhạo và trêu chọc Chúa: "Hãy rời khỏi
cây thập giá bước xuống đi thì chúng ta sẽ tin mi là Chúa". Chúa không bước
xuống vì Chúa lại vẫn không muốn dùng phép lạ nô dịch con người. Chúa tha thiết
mong muốn tín ngưỡng tự do chứ không phải là tin vì phép lạ. Chúa khao khát
tình yêu của con người tự do, chứ không phải là sự hân hoan của kẻ nô lệ trước
một uy lực đã làm nó khiếp đảm mãi mãi. Nhưng như thể Chúa đánh giá con người
quá cao, bởi vì dĩ nhiên họ là nô lệ, mặc dù bẩm sinh họ là kẻ nổi loạn. Chúa
hãy nhìn
cho khắp mà phán xét, đã mười lăm thế kỷ trôi qua, Chúa hãy
nhìn họ xem, có người nào đã được Chúa dìu dắt lên bằng Chúa chưa? Tôi thề rằng
con người yếu đuối hơn và hèn kém hơn Chúa tưởng. Liệu họ có thể làm được như
Chúa không? Tôn trọng họ dường ấy, Chúa dường như không còn thòng cảm với họ nữa,
vì Chúa đòi hỏi ở họ quá nhiều vậy mà Chúa yêu họ hơn cả bản thân mình kia đấy.
Nếu Chúa bớt tôn trọng họ đi thì sẽ đòi hỏi họ ít hơn. Họ yếu đuối và đê hèn.
Hiện nay ở khắp mọi nơi họ nối lên chống lại quyền lực của chúng tôi và kiêu hãnh
về việc họ nổi loạn, nhưng đáng kể gì chuyện ấy? Đấy là sự kiêu hãnh của đứa
con nít và đứa học trò. Đấy là lũ trẻ nhỏ làm loạn trong lớp và đuổi thầy giáo
đi. Nhưng sự hoan hỉ của bọn trẻ ranh rồi sẽ hết, chúng sẽ phải trả một giá đắt.
Chúng sẽ phá sập các đền thờ và tưới máu trên mặt đất. Nhưng rốt cuộc nhưng đứa
trẻ đần độn đoán ra rằng tuy chúng là kẻ nổi loạn, nhưng chúng yếu đuối, không
kham nổi cuộc nổi loạn của chính mình. Chúng sẽ nhỏ những giọt nước mắt ngu độn
mà nhận ra rằng Chúa sinh chúng ra làm kẻ nổi loạn chắc chắn là muốn chế nhạo
chúng. Chúng sẽ nói lên điều đó trong nỗi tuyệt vọng, và điều chúng nói ra sẽ
là sự báng bổ khiến cho chúng càng bất hạnh hơn, bởi vì bản chất con người
không chịu đựng nổi sự báng bổ và cuối cùng bao giờ cũng sẽ trả thù về sự báng
bổ ấy. Vậy, lo lắng, bối rối và bất hạnh là thân phận hiện nay của con người
sau khi Chúa đã chịu bấy nhiêu thương khó vì tự do của họ! Đấng tiên tri vĩ đại
của Chúa, do thiên cảm và với ngụ ý xa xôi, có nói rằng Ngài đã nhìn thấy tất cả
những người có mặt trong lần phục sinh thứ nhất và mỗi chỉ có cả thảy mười hai
ngàn người. Nhưng nếu như có ngần ấy thì họ dường như không phải là người nữa,
mà là những Chúa Trời! Họ đã chịu mọi sự khó vì đạo của Chúa, đã hàng chục năm
chịu đói rét trong sa mạc, ăn châu chấu và rễ cây, và cố nhiên Chúa có thể hãnh
diện trỏ vào họ - nhưng đứa con của tự do, của tình yêu, của lòng hy sinh tự
nguyện và cao cá nhân danh Chúa. Nhưng hãy nhớ rằng họ chỉ có mấy ngàn người,
mà là những đấng Chúa Trời, còn những người khác thì sao? Những người yếu đuối
còn lại có lỗi gì khi họ không chịu đựng nổi cái mà người hùng chịu được? Tâm hồn
yếu đuối có tội gì khi nó không đương nổi món quà tàng ghê gớm như thế? Phải
chăng Chúa đến chỉ với những người được lựa chọn và vì những người được lựa chọn?
Nếu vậy thì đây là điều bí nhiệm và chúng tôi không hiểu nổi. Nhưng nếu là điều
bí nhiệm thì chúng tôi có quyền rao giảng về nó và dạy cho họ biết rằng quyền tự
do quyết định của con tim không phải là điều quan trọng và không phải là tình
yêu, mà là sự bí nhiệm mà họ phải tuân theo một cách mù quáng, cho dù trái với
lương tâm của họ.
Chúng tôi đã làm như thế. Chúng tôi đã sửa chữa sự nghiệp của
Chúa và đặt nó trên nền tảng phép lạ, bí nhiệm và quyền uy. Và người đời vui sướng
vì lại được chăn dắt như đàn cừu và rốt cuộc đã cất bỏ được khỏi con tim món
quà rất đỗi đáng sợ đã đem đến cho họ biết bao đau khổ. Chúng tôi làm như thế
có phải lẽ không, Chúa nói đi. Lẽ nào chúng tôi không yêu nhân loại khi chúng
tôi khiêm nhường nhận ra chỗ yếu kém của họ, trìu mến giảm nhẹ gánh nặng cho họ
và cho phép bản chất yếu đuối của họ phạm tội, miễn là được chúng tôi cho phép?
Vậy bây giờ Chúa đến gây phiền toái cho chúng tôi làm gì? Sao Chúa lẳng lặng
nhìn tôi một cách thấm thía bằng cặp mắt hiền từ như vậy? Cứ nổi giận đi, tôi
không mong muốn tình yêu của Chúa, vì chính tôi không yêu Chúa. Cần gì tôi phải
giấu giếm Chúa? Hay tôi không biết tôi đang nói với ai? Nhưng gì tôi muốn nói với
Chúa, Chúa biết hết rồi, tôi đọc thấy trong mắt Chúa. Tôi phải giấu Chứa điều
bí nhiệm của chúng tôi chăng? Có lẽ Chúa muốn nghe điều đó từ miệng tôi nói ra
chăng, vậy thì hãy nghe đây: chúng tôi không theo Chúa, mà theo hắn, đó là
điều bí nhiệm của chúng tôi! Đã từ lâu chúng tôi không theo Chúa, mà theo hắn,
đã tám thế kỷ nay.
Đúng tám thế kỷ trước, chúng tôi đã nhận lấy của hắn cái
mà Chúa đã phẫn nộ gạt bỏ, món quà cuối cùng mà hắn đã dâng Chúa khi trỏ cho
Chúa tất cả các vương quốc trần gian: chúng tôi đã nhận của hắn La Mã và thanh
gươm của Xezar và tuyên bố chỉ có chúng tôi mới là những hoàng
tôi nắm giữ điều bí mật và vì hạnh phúc của họ, chúng tôi sẽ
cám dỗ họ bằng phần thưởng vĩnh cửu trên trời. Chỉ vì nếu có cái gì ở thế giới
bên kia thì tất nhiên không phải là dành cho những người như họ.
Người ta nói và tiên tri rằng Chúa sẽ đến và sẽ lại chiếm phần
thắng. Chúa sẽ đến cùng với những người được lựa chọn, với những người kiêu
hãnh và uy quyền nhưng chúng tôi sẽ nói rằng, những người ấy chỉ cứu chính bản
thân họ thôi, còn chúng tôi cứu vớt tất cả mọi người. Người ta nói rằng người
đàn bà tà dâm, ngồi trên mình con thú, hai tay cầm cái chén "Bí nhiệm"
sẽ bị bêu nhục, những kẻ yếu đuối sẽ lại nổi loạn, sẽ xé tan tấm áo đỏ tía của ả
và phơi loã lồ tấm thân "ghê tởm" của ả ra(8). Nhưng khi ấy tôi sẽ đứng
lên và trỏ cho Chúa thấy hàng nghìn triệu người thơ ngây, hạnh phúc không biết
thế nào là tội lỗi. Còn chúng tôi, những người đã vì hạnh phúc của họ và gánh lấy
tội lỗi của họ. Chúng tôi sẽ đến đứng trước mặt Chúa và nói: "Hãy phán xử
chúng tôi, nếu Chúa có thể và dám làm việc đó". Nên biết rằng tôi không sợ
Chúa đâu. Nên biết rằng tôi đã từng ở trong sa mạc, tôi đã từng sống bằng châu
chấu và rễ cây, tôi đã từng cảm tạ cái tự do mà Chúa đã xuống ơn cho loài người:
tôi sẵn sàng xung vào số người được Chúa lựa chọn, những người đấy uy quyền và
mạnh mẽ, vì nóng lòng muốn "bổ sung cho đủ số" Nhưng tôi đã tỉnh ngộ
và không muốn phục vụ một công việc điên rồ. Tôi đã quay trở lại và nhập với những
người đã sủa chữa sự nghiệp của Chúa. Tôi lìa bỏ những người kiêu hãnh và trở lại
với những người khiêm nhường vì hạnh phúc, của những người khiêm nhường ấy. Điều
tôi nói với Chúa bây giờ sẽ thành sự thật, vương quốc của chúng tôi sẽ được dựng
nên. Tôi nhắc lại, ngày mai Chúa sẽ thấy chúng tôi chỉ vẫy tay một cái là đàn cừu
ngoan ngoan ấy sẽ đâm bổ đến hất thêm than hồng vào đống lửa thiêu Chúa, tôi sẽ
thiêu Chúa vì Chúa đã đến gảy phiền rầy cho chúng tôi. Bởi vì nếu có người nào
đáng lên giàn hoả thiêu hơn ai hết thì đó là Chúa. Ngày mai tôi sẽ thiêu Chúa.
Dixi(9).
Ivan dừng lại. Chàng bừng bừng trong lúc nói, chàng nói một
cách hăng say. Khi dứt lời, chàng bỗng mỉm cười.
Aliosa vẫn lặng im nghe anh nói, gần về cuối trong lòng xúc động
vô cùng, nhiều lần toan ngắt lời anh, nhưng rõ ràng tự ghìm mình, giờ đây bỗng
lên tiếng, như thế bật khỏi chỗ.
- Nhưng… đấy là chuyện phi lý! - Anh đỏ mặt kêu lên. - Bản
trường ca của anh ngợi khen Chúa Kito, chứ không phải là báng bổ… như anh muốn.
Ai sẽ tin những điều anh nói về tự do? Có nên hiểu tự do như thế không? Quan niệm
của đạo chính thống có thế đâu, đấly là La Mã, mà không phải là toàn bộ La Mã,
sự thật không phải thế, đấy là những gì tồi tệ nhất của đạo Thiên Chúa, của các
pháp quan tôn giáo, các tu sĩ dòng Tên… Và cũng không thể có nhân vật nào quái
dị như viên pháp quan tôn giáo của anh. Tội lỗi của người khác mà ông ta nhận lấy
vào mình là tội lỗi gì? Ai là người nắm giữ bí nhiệm và vì hạnh phúc của mọi
người mà nhận lấy sự trừng phạt của trời? Đã ai từng thấy những người như thế?
Chúng tôi biết những tu sĩ dòng Tên, người ta vẫn nói nhiều điều xấu về họ,
nhưng họ có phải là những người như anh nói không? Họ hoàn toàn không như thế…
Họ chỉ là quân đội La Mã, để mưu đồ sự trị vì toàn thế giới sau này, đứng đầu
là một vị hoàng đế - tức là giáo hoàng La Mã… đấy là lý tưởng của họ, nhưng không
có những bí nhiệm và nỗi buồn cao cả nào hết… Chỉ đơn giản là ham muốn quyền
hành, những phúc lọ trần tục bán thỉu, sự nô dịch… tựa như chế độ nông nô sau
này mà họ sẽ là địa chủ… chỉ có thế thôi. Có lẽ họ không tin Chúa Trời. Vị pháp
quan tôn giáo đau khổ của anh chỉ là do ai tưởng tượng ngông cuồng của anh sản
sinh ra…
- Hãy khoan, khoan, - Ivan cười, - chú nổi nóng quá đấy. Chú
bảo là trí tưởng tượng ngông cuồng cũng được thôi! Cố nhiên là tưởng tượng
ngông cuồng. Nhưng xin hỏi: chẳng lẽ quả thật chú cho rằng toàn bộ phong trào
Thiên Chúa giáo nhưng thế kỷ gần đây đích thị chỉ là sự ham muốn quyền hành để
mưu cầu toàn những lợi ích bẩn thỉu thôi ư? Có phải Cha Paixi dạy chú thế
không?
- Không, không. Cha Paixi có lần đã nói điều gì đại loại như
anh nói… nhưng cố nhiên không hẳn thế, hoàn toàn không phải thế! - Aliosa chợt
nghĩ ra.
- Vậy mà điều chú vừa nói ra thật là quý giá, mặc dù chú bảo
là "hoàn toàn không phải thế". Thì tôi hỏi chú tại sao các tu sĩ dòng
Tên của chú và các pháp quan tôn giáo lại cụm với nhau để mưu cầu toàn những lợi
ích vật chất nhơ nhuốc? Tại sao trong bọn họ không có lấy một người đau khổ,
mang trong lòng nỗi đau xót vĩ đại và yêu nhân loại? Chú thấy đấy: giả sử trong
số tất cả những người chỉ thèm muốn những lợi ích vật chất bẩn thỉu, có lấy một
người như vị pháp quan già của tôi, bản thân ông ta đã sống bằng rễ cây trong
sa mạc và phát rồ phát dại, cố vượt thắng xác thịt của mình thành người tự do
và toàn thiện, tuy nhiên suốt đời ông vẫn yêu nhân loại, đột nhiên ông tỉnh ngộ
và thấy rằng lạc thú tinh thần đạt tới ý chí hoàn thiện chẳng lớn lao gì lắm
khi thấy rõ ràng hàng triệu con dân còn lại của Chúa vẫn chỉ là vật bày đặt ra
để giễu cợt, không bao giờ họ kham nổi tự do của mình, và từ những kẻ nổi loạn
đáng thương không bao giờ nảy sinh ra những người khổng lồ để xây dựng xong
tháp, nhà duy tâm vĩ đại mơ ước hài hoà không phải để cho những con ngỗng như
thế. Hiểu được tất cả những điều đó, ông đã quay trở lại và nhập vào… với những
người thông minh. Chẳng lẽ điều ấy không thể xảy ra được ư?
- Nhập với ai, với những người thông minh nào? - Aliosa kêu
lên, gần như hăng máu. - Họ chẳng có trí tuệ gì, chẳng có những điều bí nhiệm
và bí mật nào cả… Chỉ có đầu óc vô thần, tất cả bí mật của họ chỉ là thế. Viên
pháp quan của anh không tin Chúa Trời, tất cả bí mật của ông ta chỉ có thế
thôi!
- Cho dù là thế đi nữa! Rốt cuộc chú đã đoán ra. Quả là thế,
quả thật tất cả bí mật chỉ là thế, nhưng chẳng lẽ đấy không phải là đau khổ, ít
ra là với một người như ông ấy, người đã huỷ hoại cả đời mình tròng sa mạc vì sự
đạo và không bỏ được tình yêu nhân loại? Lúc tuổi già xế bóng, ông ta thấy rõ
ràng chỉ có những lời khuyên của quỷ ghê gớm và sự vĩ đại mới có thể thu xếp cuộc
sống tạm ổn cho những kẻ nổi loạn yếu ớt; "những sinh vật làm thử, tạo tác
dở đang, chỉ để giễu cợt". Thế là, khi hiểu rõ như vậy, ông ta thấy cần đi
theo con đường ma quỷ tinh khôn, quỷ ghê gớm gieo rác chết chóc và tàn phá đã vạch
cho, muốn vậy phải chấp nhận sự dối trá và lừa lọc, chủ tâm đưa người ta đến chết
chóc và tàn phá, và phải lừa dối họ suốt dọc đường, để họ không nhận thấy họ được
dẫn đi đâu, để ít ra trên đường đi những kẻ mù quáng thảm hại ấy tự cho là mình
hạnh phúc. Và chú hãy lưu ý sự lừa dối nhân danh đấng đã đề ra cái lý tưởng mà
suốt đời ông già say mê tin tưởng!
Thế không phải là bất hạnh sao? và nếu như có lấy một người như thế đứng đầu cả đạo quân "khao khát quyền hành cốt để giành lấy những lợi ích bẩn thỉu" chì chẳng phải là cũng đủ để sinh ra bi kịch rồi không? Hơn thế nữa: chỉ cần một người như thế đứng đầu là rốt cuộc sẽ tìm được lư tưởng chỉ đạo thực sự cho toàn bộ sự nghiệp của La Mã với tất cả các đạo quân và các tu sĩ dòng Tên của họ, một tư tưởng tối cao chỉ đạo sự nghiệp ấy. Tôi nói thẳng với chú nhé: tôi tin chắc rằng không bao giờ thiếu vắng con người độc đáo ấy trong số những người đứng đầu phong trào. Biết đâu lại có thể có cả một số người độc đáo như thế trong các giáo hoàng La Mã. Mà biết đâu đấy, có thể ông già đáng nguyền rủa đó, kẻ yêu nhân loại bền bỉ dường ấy theo cách riêng của mình, ngay cả bây giờ vẫn tồn tại dưới hình thức một tập đoàn đông đảo những ông già độc đáo như thế, và không phải do ngẫu nhiên, mà tồn tại theo sự thoá thuận, như một hội kín đã được tổ chức từ lâu để giữ bí mật đối với những người bất hạnh và yếu đuối, nhằm đem lại hạnh phúc cho họ.
Thế không phải là bất hạnh sao? và nếu như có lấy một người như thế đứng đầu cả đạo quân "khao khát quyền hành cốt để giành lấy những lợi ích bẩn thỉu" chì chẳng phải là cũng đủ để sinh ra bi kịch rồi không? Hơn thế nữa: chỉ cần một người như thế đứng đầu là rốt cuộc sẽ tìm được lư tưởng chỉ đạo thực sự cho toàn bộ sự nghiệp của La Mã với tất cả các đạo quân và các tu sĩ dòng Tên của họ, một tư tưởng tối cao chỉ đạo sự nghiệp ấy. Tôi nói thẳng với chú nhé: tôi tin chắc rằng không bao giờ thiếu vắng con người độc đáo ấy trong số những người đứng đầu phong trào. Biết đâu lại có thể có cả một số người độc đáo như thế trong các giáo hoàng La Mã. Mà biết đâu đấy, có thể ông già đáng nguyền rủa đó, kẻ yêu nhân loại bền bỉ dường ấy theo cách riêng của mình, ngay cả bây giờ vẫn tồn tại dưới hình thức một tập đoàn đông đảo những ông già độc đáo như thế, và không phải do ngẫu nhiên, mà tồn tại theo sự thoá thuận, như một hội kín đã được tổ chức từ lâu để giữ bí mật đối với những người bất hạnh và yếu đuối, nhằm đem lại hạnh phúc cho họ.
Điều đó nhất định là có, chắc là phải có. Tôi có cảm giác là
các hội viên hội Tam điểm cũng có một cái gì đại loại như điều bí nhiệm đó, làm
cơ sở cho họ, vì vậy những người theo đạo Thiên Chúa căm thù các hội viên Tam
điểm đến thế, coi họ là những kẻ cạnh tranh, phá vỡ sự thống nhất tư tưởng,
trong khi cần phải có một đàn cừu thống nhất và một người chăn duy nhất… Tuy
nhiên, khi bảo vệ tư tưởng của mình, tôi có vẻ là một nhà sáng tác không chịu nổi
sự phê phán của chú. Chuyện này nói thế đủ rồi!.
- Có lẽ anh chính là hội viên hội Tam điểm! - Aliosa buột thốt
lên. - Anh không tin có Chúa Trời. - Aliosa nói thêm, lần này có vẻ cực kỳ đau
xót. Thêm nữa, anh có cảm giác rằng Ivan nhìn anh ra ý giễu cợt. - Bản trường
ca của anh kết thúc thế nào? - Anh bỗng hỏi, mắt nhìn xuống đất - Hay nó đã kết
thúc rồi?
- Tôi muốn kết thúc nó như sau: viên pháp quan tôn giáo im tiếng
một lát, chờ xem kẻ bị giam trả lời ra sao. Sự im lặng của Chúa thật nặng nề đối
với ông ta. Ông ta thấy người nì vẫn lắng lặng nghe ông ta với vẻ hết sức thấm
thía, và xem ra không muốn bác bẻ gì hết. Ông già muốn Chúa nói với ông ta điều
gì, dù là cay đắng, đáng sợ. Nhưng Chúa bỗng lẳng lặng đến gần ông già và dịu
dàng hôn lên cặp môi tái nhợt của ông lão chín mươi. Đấy là tất cả câu trả lời.
Ông già rùng mình. Khóe môi ông rung động. Ông ta mở cửa, nói với Chúa:
"Chúa đi đi và đừng đến nữa… đừng bao giờ đến nữa… đừng bao giờ, đừng bao
giờ". Ông ta thả cho Chúa đi vào "những phố phường tăm tối của đô
thành". Người bị giam ra đi.
- Thế còn ông già?
- Cái hôn nung đốt trái tim ông ta, nhưng ông già vẫn giữ
nguyên ý mình.
- Và anh cũng cùng một ý với ông ấy, cả anh nữa chứ? - Aliosa
đau buồn kêu lên.
Ivan bật cười:
- Nhưng đấy là chuyện nhảm nhí thôi mà. Aliosa ạ, đấy chỉ là
bản trường ca ngờ nghệch của một chàng sinh viên ngờ nghệch chưa từng làm thơ
bao giờ. Tại sao chú lại bận tâm đến thế? Hay chú nghĩ rằng tôi sẽ đi thẳng đến
với các tu sĩ dòng Tên để nhập với những người sửa chữa sự nghiệp của Chúa? Trời
ơi, tôi thiết gì kia chứ! Tôi đã nói với chú rồi mà: tôi chỉ muốn sống đến ba
mươi tuổi thôi, rồi sau đó thì đập tan chén rượu đời!
- Thế còn những lộc non vừa hé nở, còn mồ mả của những, người
thân thương, còn người phụ nữ anh yêu! Anh sẽ sống thế nào, anh sẽ thương yêu họ
như thế nào? - Aliosa chua xót thốt lên. - Có thể mang cái địa ngục như thế
trong tim óc được ư? Không, chính anh đang tới nhập bọn với họ… nếu không thì
anh sẽ tự vẫn chứ không chịu đựng nổi!
- Có một sức mạnh chịu đựng hết thảy! - Ivan nói với một nụ
cười lạnh lùng như thế!
- Sức mạnh nào?
Sức mạnh của dòng họ Karamazov… sức mạnh sinh ra từ sự ti tiện
của dòng họ Karamazov.
- Tức là ngụp mình trong phóng đãng, đè nghẹt tâm hồn trong sự
đồi bại, phải không?
- Có thể lắm… có lẽ tôi sẽ tránh được cho đến năm ba mươi tuổi
rồi sau…
- Làm thế nào mà tránh được? Dừng cách gì mà tránh? ý nghĩ của
anh như thế thì không sao tránh được.
- Vẫn lại theo kiểu Karamazov thôi.
- Tức là "mọi việc đều được phép" chứ gì? Mọi việc
đều được phép làm, phải thế không?
Ivan cau mày và mặt bỗng tái đi một cách lạ lùng.
- A, chú lại nắm lấy điều tôi nói hôm qua đã khiến cho Miuxov
rất bực… Còn anh Dmitri thì bật lên một cách thơ ngây và nhắc lại chứ gì? -
Ivan cười gằn. - Phải, có lẽ là "mọi việc đều được phép làm", một khi
đã nói ra mồm. Tôi không chối. Vả lại cách diễn đạt của Mitia không đến nỗi dở
đâu.
Aliosa lẳng lặng nhìn Ivan.
- Này, chú ạ, trước khi ra đi, tôi nghĩ rằng trên đời này ít
ra tôi cũng còn có chú, - Ivan bỗng thốt lên với một tình cảm bất ngờ, - còn
bây giờ tôi thấy rằng tôi không có chỗ trong tim chú, nhà khổ tu của tôi ạ. Tôi
sẽ không từ bỏ công thức "mọi việc đều được phép làm" đâu, thế thì
chú từ tôi chứ hả?
Aliosa đứng lên, đến gần và chẳng nói chẳng rằng, dịu dàng
hôn vào môi anh.
- Trò ăn cắp văn! - Ivan la lên, đột nhiên trở nên hoan hỉ
không rõ vì sao. - Đấy là chú thuổng trong bản trường ca của tôi! Nhưng cảm ơn
chú. Đứng lên, Aliosa, ta đi đi, đến lúc cả hai ta đều phải đi rồi.
Hai anh em đi ra, nhưng họ dừng lại ở bậc thêm quán ăn.
- Thế này này, Aliosa ạ, - Ivan thốt lên bằng giọng cương quyết,
nếu như tôi còn có thể nghĩ tới những lộc non mới hé nở và yêu chúng thì chỉ là
vì nhớ đến chú. Chỉ cần biết: ở đâu đó vẫn có chú là tôi vẫn còn muốn sống. Như
vậy chú đã cho là đủ chưa? Nếu muốn, chú hãy coi đó là lời tỏ tình của tôi. Còn
bây giờ chú đi sang phải, tôi đi sang trái, và thế là đủ rồi, chú nghe thấy chứ,
đủ rồi. Nghĩa là, nếu ngày mai tôi chưa đi (nhưng chắc là tôi sẽ đi) và chúng
ta sẽ còn gặp lại nhau nữa, thì chú đừng nói với tôi một lời nào về tất cả những
chuyện ấy nữa. Tôi khẩn khoản cầu xin chú đấy. Cả về anh Dmitri nữa, tôi đặc biệt
cầu van chú đấy, đừng bao giờ nói với tôi về anh ấy nữa, - chàng bỗng nói thêm
một cách cáu kỉnh, - hết chuyện rồi, thành tro bụi cả rồi, phải thế không? Còn
về phía tôi, tôi cũng hứa với chú một điều: đến năm ba mươi tuổi, khi tôi muốn
"đập tan chén rượu đời" thì mặc dù lúc ấy tôi đang ở đâu, tôi cũng sẽ
tìm về nói chuyện với chú… cho dù tôi đang ở Mỹ, chú nên biết như vậy. Về chỉ để
gặp chú. Lúc ấy tôi sẽ rất muốn nhìn thấy chú, xem chú ra sao. Này, lời hứa khá
long trọng đấy. Chúng ta chia tay nhau lần này có lẽ đến bảy năm, mười năm.
Thôi bây giờ chú về với Pater Xeraficus(10) của chú đi, ông già sắp lìa đời,
ông già mất mà không có chú thì chú lại giận tôi đã cầm giữ chú. Tạm biệt, hôn
tôi lần nữa đi, thế, thôi đi đi!
Ivan bỗng quay đi, rồi đi đường mình, không hề ngoái lại.
Hôm qua anh Dmitri bỏ mặc Aliosa đấy mà đi cũng na ná như thế
này, nhưng hôm qua hoàn cảnh khác hẳn. Nhận xét lạ lùng ấy thoáng qua như mũi
tên trong trí óc Aliosa lúc ấy đang buồn rầu và đau xót. Anh đứng nhìn theo
Ivan một lát. Chẳng rõ vì sao anh bỗng nhận thấy anh Ivan đi hơi lắc lư và nhìn
từ phía sau thì vai bên phải hơi thấp hơn vai bên trái. Trước kia chưa bao giờ
Aliosa để ý thấy điều đó. Đột nhiên anh cũng quay đi và gần như chạy về tu viện.
Đã tối hắn, và anh gần như ghê sợ; có cái gì mới lạ cứ lớn mãi lên trong anh mà
anh không thể đưa ra câu trả lời.
Gió lại nổi lên như hôm qua và những cây thông cổ thụ rì rào ảo
não xung quanh anh khi anh đi vào khoảng rừng nhỏ của tu xá.
Anh gần như chạy. "Pater Xeraficus", anh Ivan lấy
cái tên ấy ở đâu ra nhỉ, ở đâu ra - một ý nghĩ thoáng qua trong óc Aliosa. -
Ivan, anh Ivan tội nghiệp, bao giờ em sẽ lại nhìn thấy anh… Tu xá đây rồi, trời
ơi, phải, phải, đấy là ngài, đấy là Pater Xeraficus. Ngài sẽ cứu ta… khỏi tay
anh ấy, và mãi mãi!.
Sau này, mấy lần trong đời, Aliosa hết sức băn khoăn nhớ lại
rằng sau khi chia tay với Ivan, không hiểu sao anh có thể quên bẵng anh Dmitri
mà sáng nay, mới mấy giờ trước, anh đã quyết phải tìm cho bằng được, cho dù đêm
nay không kịp về tu viện.
Chú thích:
(1) Tiếng Pháp trong nguyên bản: "Nhà thờ Đức Bà
Paris".
(2) Tiếng Pháp trong nguyên bản: "Toà phán xét nhân từ của
Đức Mẹ đống trinh Mari rất thánh và rất khoan dung" (N.D).
(3) Ngày thứ sáu trước lễ Phục sinh (N.D)
(4) Tiếng Latinh: để làm sáng danh Chúa Trời hơn nữa (N.D).
(5) Tiếng xưng hô của người Do Thái khi hành lễ, rước
xách…(N.D)
(6) Tiếng Latin: "cái này thay cái kia", sự rối loạn,
sự hiểu lầm.
(7) Xvoboda xovietsky còn có nghĩa lả tự do tín ngưỡng, nhưng
ở đây tác giả không nói cái ý hẹp đó (N.D)
(8) Đây là theo sách "Khái huyền" của Jăng, XVII.
1-18. Người đàn bà tà dâm ngồi trên mình con thú bảy đầu mười sừng, ả mặc tấm
áo đó tía, tay cầm cái chén chứa đầy sự dâm đãng ghê tởm của mình. Ả sẽ bị lột
hết xiêm áo và bị con thú ăn thịt (N.D)
(9) Tôi nói thế đấy. (Tiếng Latin, thường dùng để kết thúc một
lập luận gì đó) (N.D).
(10) ám chỉ thánh Francoise Axxiz (1182-1226), nhà truyền
giáo Ý, sáng lập dỏng tu Thánh Frăngxoa. Có cái tên Paler Xerarlcus là do tích
Frăngxoa thiên cảm thấy Chúa Kito đến thăm ông, hiện hình thành thiên thần sáu
cánh (xenficus) (N.D).
Chương 6
Vẫn côn rất mơ hồ
Sau khi chia tay với Aliosa, Ivan Fedorovich về nhà bố, điều
lạ lùng là chàng bỗng cảm thấy một nỗi phiền muộn không thể chịu nổi, và cái
chính là càng tới gần nhà thì nỗi phiền muộn đó càng tăng thêm theo mỗi bước
chân. Điều lạ lùng không phải là chàng phiền muộn, mà là Ivan Fedorovich không
thể xác định được mình phiền muộn cái nỗi gì. Trước kia chàng cũng đã nhiều lần
phiền muộn, và không lấy gì làm lạ rằng nó đến vào lúc này, khi chàng đã đoạn
tuyệt với tất cả những gì đã lôi cuốn chàng đến đây, sửa soạn để ngày mai thực
hiện một bước ngoặt đột ngột và bước lên con đường mới, hoàn toàn lạ lẫm, và lại
hoàn toàn cô đơn như trước kia, hy vọng nhiều nhưng không biết mình hy vọng gì,
trông đợi quá nhiều ở cuộc sống, nhưng không thể biết rõ mình trông đợi hoặc
mong muốn gì. Vậy mà lúc này, tuy tâm hồn chàng thực sự khắc khoải chờ mong cái
mới mẻ chưa từng biết, đấy vẫn chưa phải là điều đang giày vò chàng.
- Phải chăng ta ghê tởm nhà cha? - chàng nghĩ thầm - Hình như
ta đã chán ghét đến mức độ ấy rồi đấy, mặc dù hôm nay lần cuối cùng ta bước vào
ngưỡng cửa nhơ nháp này, vậy mà vẫn ghê tởm…". Nhưng không, không phải thế.
Phải chăng là tại cuộc chia tay với Aliosa và cuộc nói chuyện ban nãy với chú ấy:
"Suốt bao nhiêu năm ta im lặng không buồn nói với ai, vậy mà bỗng nhiên lại
tuôn ra bao nhiêu điều vò lý". Quả thật đấy có thể là sự bực bội trẻ trung
của người trẻ tuổi chưa có kinh nghiệm, do tính háo danh của tuổi trẻ, bực vì
không diễn đạt được ý nghĩ của mình, nhất là lại với Aliosa, trong thâm tâm chắc
chắn chàng đặt nhiều hy vọng lớn ở chú ấy. Cố nhiên là thế, sự bực bội đó thậm
chí nhất định phải có, nhưng không hẳn vì thế, vẫn không hẳn vì thế. "Buồn
phiền đến lộn mứa, vậy mà không thể nói rõ ta muốn gì: Có lẽ chẳng nên nghĩ ngợi
nữa…"
Ivan Fedorovich đã thử "không nghĩ nữa", nhưng
không ăn thua gì. Điều chàng bực tức nhất là nỗi phiền muộn ấy tuồng như ngẫu
nhiên, có duyên cớ bên ngoài; chàng cảm thấy thể. Có một sinh vật gì hay một đỗ
vật gì án ngữ lù lù ở đâu đó, đôi khi trong lúc làm việc hay chuyện trò sôi
nôi, dường như có cái gì án ngữ trước mắt hồi lâu mà ta không nhận thấy, thế
nhưng rõ ràng ta cáu kỉnh, gần như khổ tâm, cuối cùng ta đoán ra là cần gạt bỏ
cái vật vô dụng, thường là một vật gì rất vớ vẩn và bị bỏ quên không đúng chỗ,
một chiếc khăn rơi trên sàn, một cuốn sách không cất vào tủ v.v… Cuối cùng,
trong tâm trạng hết sức nặng nề và cáu kỉnh, Ivan Fedorovich đến nhà bố, và bỗng
nhiên, cánh cửa rào chừng mười lăm bước, khi nhìn ra cổng, chàng tức khắc đoán
ra điều gì đã làm chàng khó tâm và lo lắng đến như thế.
Thằng hầu Xmerdiakov ngồi hóng mát trên chiếc ghế băng cạnh cổng, và thoạt nhìn hẳn, Ivan Fedorovich đã hiểu ngay rằng tên hầu Xmerdiakov vẫn ngồi chồm hỗm trong tâm tư chàng và kẻ mà tâm hồn chàng không chịu đựng nổi chính là thằng này. Mọi việc dường như bỗng được rọi sáng và trở nên rõ ràng. Ban nãy, ngay từ lúc Aliosa kể về việc chú ấy gặp Xmerdiakov, một cái gì u ám và kinh tởm bỗng xuyên vào tim chàng và lập tức khiến chàng tức giận. Sau đó, trong lúc trò chuyện, chàng tạm quên Xmerdiakov, nhưng hắn vẫn ẩn trong tâm hồn chàng, nhưng Ivan Fedorovich vừa chia tay với Aliosa và đi một mình về nhà thì cảm giác đó đột nhiên lại nhanh chóng bộc lộ ra. "Chàng lẽ cái thằng vô lại đốn mạt này có thể làm ca lo ngại đến thế ư?" Chàng chợt nghĩ, trong lòng tức điên lên.
Thằng hầu Xmerdiakov ngồi hóng mát trên chiếc ghế băng cạnh cổng, và thoạt nhìn hẳn, Ivan Fedorovich đã hiểu ngay rằng tên hầu Xmerdiakov vẫn ngồi chồm hỗm trong tâm tư chàng và kẻ mà tâm hồn chàng không chịu đựng nổi chính là thằng này. Mọi việc dường như bỗng được rọi sáng và trở nên rõ ràng. Ban nãy, ngay từ lúc Aliosa kể về việc chú ấy gặp Xmerdiakov, một cái gì u ám và kinh tởm bỗng xuyên vào tim chàng và lập tức khiến chàng tức giận. Sau đó, trong lúc trò chuyện, chàng tạm quên Xmerdiakov, nhưng hắn vẫn ẩn trong tâm hồn chàng, nhưng Ivan Fedorovich vừa chia tay với Aliosa và đi một mình về nhà thì cảm giác đó đột nhiên lại nhanh chóng bộc lộ ra. "Chàng lẽ cái thằng vô lại đốn mạt này có thể làm ca lo ngại đến thế ư?" Chàng chợt nghĩ, trong lòng tức điên lên.
Số là gần đây Ivan Fedorovich thực sự rất ghét thằng cha này,
nhất là mấy ngày gần đây. Thậm chí tự chàng nhận thấy mình gần như căm thù hắn,
mà sự căm thù ấy ngày càng tàng thêm. Có lẽ sự căm thù trở nên trầm trọng chính
là vì thoạt đầu, khi Ivan Fedorovich mới đến, sự thể khác hẳn. Hồi ấy chàng có
thiện cảm đặc biệt với hắn, thậm chí còn cho rằng hắn là con người rất độc đáo
Chính chàng đã làm cho hắn quen chuyện trò với chàng, tuy nhiên bao giờ chàng
cũng ngạc nhiên thấy đầu óc hắn hơi ngây ngô hay nói cho đúng hơn, hơi lo lắng
và chàng không hiểu cái gì có thể làm cho gã "hay chiêm nghiệm" ấy
thường xuyên lo lắng, ám ảnh hắn. Chàng và hắn bàn với nhau về các vấn đề triết
lý thậm chí về việc tại sao ngày đầu sáng thế đã có ánh sáng, mà mãi sang ngày
thứ tư mới có mặt trời, trăng và sao, nên hiểu điều đó như thế nào. Nhưng chẳng
bao lâu sau Ivan Fedorovich tin chắc rằng mặt trời, trăng, sao không phải là điều
quan trọng, mặt trời, sao tuy là điều rất đáng tò mò, nhưng đối với Xmerdiakov
chỉ là chuyện tầm phào, hắn cần cái gì khác hẳn kia.
Dùsao đi nữa, anh tự ái của hán đã bắt đầu lộ ra, tính tự ái
vô hạn, mà lại bị xúc phạm. Ivan Fedorovich rất không ưa cái thói đó Sự ghê tởm
của chàng bắc nguồn từ đấy. Rồi sau xảy ra chuyện lộn xộn trong nhà. Grusenka
xuất hiện, rồi chuyện giữa bố với anh Dmitri, thế là cứ lo bấn lên, chàng và hắn
cùng nói với nhau về chuyện ấy, nhưng mặc dù lúc nói chuyện ấy Xmerdiakov hết sức
xúc động, nhưng vẫn không thể nào hiểu được bản thân hắn muốn gì trong tình thế
ấy. Thậm chí có thể ngạc nhiên về việc một số mong muốn mà hắn vô tình bộc lộ
ra bao giờ cũng mập mờ, không hợp lý và hỗn độn. Chuyện gì Xmerdiakov cũng hỏi
cặn kẽ, đưa ra nhưng câu hỏi quanh co, rõ ràng là bày đặt, nhưng để làm gì thì
hắn không nói rõ, và thường thường, giữa lúc đang gặng hỏi sôi nổi nhất, hắn bỗng
im bặt và chuyển sang chuyện khác. Nhưng cái chính làm Ivan Fedorovich rất bực
tức và khiến chàng ghê tởm như vậy là thái độ suồng sã đặc biệt đáng ghét của
Xmerdiakov đối với chàng, và càng về sau càng quá hơn. Không phải hắn dám vô lễ,
trái lại bao giờ hắn cũng cực kỳ kính cẩn, nhưng sự thực là: vì lý do gì có trời
biết, rõ ràng là rốt cuộc Xmerdiakov đã cho rằng hắn dường như có liên đới với
Ivan Fedorovich về một việc gì đó, hắn nói với giọng tuồng như giữa hai người
đã có sự thoả thuận bí mật gì đó, một, cái gì mà trước đây cả hai bên đã nói với
nhau, chỉ có hai người biết, còn những người trần mắt thịt khác xung quanh họ
thì thậm chí không sao hiểu nổi. Tuy nhiên, một thời gian dài Ivan Fedorovich
không hiểu nguyên nhân sự ghê tởm ngày càng tăng của mình và mãi tới thời gian
gần đây chàng mới đoán được duyên do. Lòng đầy khinh miệt và tức giận, chàng
toan lẳng lặng đi ra cửa rào, không thèm ngó đến Xmerdiakov, nhưng Xmerdiakov đứng
đậy khỏi ghế, và chỉ riêng cử chỉ ấy đã khiến Ivan Fedorovich đoán ra rằng hắn
có chuyện muốn nói riêng với chàng. Ivan Fedorovich nhìn hắn và dừng lại, việc
chàng dừng lại chứ không đi qua như đã định một phút trước khiến chàng tức điên
lên. Giận dữ và ghê tởm, chàng nhìn khuôn mặt hoạn quan gày võ của Xmerdiakov với
hai mớ tóc mai chải mượt và chỏm tóc nhỏ dựng ngược. Mắt trái hắn nheo nheo, nhấp
nháy và mỉm cười như muốn nói: "Sao anh không đi thắng tuột đi, anh thấy đấy
cả hai chúng ta đều là những người thông minh. Chúng ta có chuyện để nói với
nhau". Ivan Fedorovich run lên: "Cút đi, thằng khốn, tao đâu phải
cùng phường cùng hội với mày, thằng ngu!" - câu nói suýt buột ra từ miệng
chàng, nhưng chàng hết sức ngạc nhiên thấy mình lại nói ra khác hẳn.
- Ồng nhà ngủ hay thức? - Chàng hỏi khẽ, vẻ nhún nhường, điều
đó thật bất ngờ đối với chàng, và bỗng nhiên, cũng hoàn toàn bất ngờ, chàng ngồi
xuống chiếc ghế băng. Trong giây lát chàng gần như khiếp sợ, sau này chàng nhớ
lại Xmerdiakov đứng đối diện với chàng, tay chắp sau lưng, hắn nhìn với vẻ vững
tâm, gần như nghiêm nghị.
- Cụ còn nghỉ. - Hắn nói thong thả. (Ra ý: "Chính anh gợi
chuyện trước, chứ không phải tôi") - Thưa cậu, càu làm tôi ngạc nhiên. - Hẳn
nói thêm sau một lúc im lặng, mắt nhìn xuống với dáng điệu hơi kiểu cách, đưa
chân phải ra phía trước, ngọ ngoạy mũi giấy đánh sĩ bóng loáng.
- Ta có gì khiến ngươi ngạc nhiên? - Ivan Fedorovich nghiêm
nghị hỏi bằng giọng nhát gừng, cố nén lòng và bỗng kinh tởm hiểu ra rằng mình cảm
thấy hết sức tò mò và chưa thoả mãn được sự tò mò đó dù nhất quyết sẽ không đi
khỏi đây.
- Thưa cậu, tại sao cậu không đi Tresniasnia? - Xmerdiakov bỗng
ngước mắt lên và mỉm cười suồng sã. "Tôi cười gì thì chính anh phải hiểu,
nếu anh là người thông minh" - con mắt trái nheo nheo như muốn nói.
- Ta đi Tresniasnia làm gì kia chứ? - Ivan Fedorovich ngạc
nhiên, Xmerdiakov lại im lặng.
- Thì chính cụ nhà nài nỉ cậu đi mà. - Cuối cùng hắn đủng đỉnh
trả lời, như thể tự đánh giá câu trả lời của mình: tôi đưa ra một lý do tầm
phơ, chỉ cốt để nói cho qua chuyện…
- Ê, đồ quỷ nói rõ hơn nữa đi, ngươi cần gì? - Cuối cùng Ivan
Fedorovich giận dữ quát lên, đành chịu nhịn mà chuyện sang thái độ thô lỗ.
Xmerdiakov rút chân phải về ngang chân trái, vươn thẳng người,
nhưng vẫn nhìn với thái độ điềm tĩnh và vẫn với nụ cười như thế.
- Không có gì quan trọng… nhân câu chuyện thì nói thế thôi…
Lại im lặng. Họ im lặng gần một phút. Ivan Fedorovich biết rằng
ngay bây giờ chàng phải đứng lên và nổi giận, còn Xmerdiakov đứng trước chàng
và dường như chờ đợi: "Để rồi xem anh có nổi giận hay không?". Ít ra
cũng là Ivan Fedorovich có cảm tưởng như thế. Cuối cùng chàng nghiêng người
toan đứng dậy. Xmerdiakov dường như chộp lấy thời cơ.
- Tình cảnh của tôi thật là khủng khiếp, cậu Ivan Fedorovich ạ,
thậm chí tôi không biết làm cách nào giải cứu cho mình. - Hắn bỗng nói bằng giọng
kiên quyết, rành từng tiếng, lời cuối cùng của hắn kèm theo tiếng thở dài, Ivan
Fedorovich lại ngồi xuống ngay.
- Cả hai người đều quá đáng lắm, cả hai đều trẻ con hết chỗ
nói. - Xmerdiakov nói tiếp. - Tôi nói về cụ nhà và cậu Dmitri đấy. Bây giờ cụ sẽ
dậy và sẽ lại ám tôi từng phút: "Sao cô ấy không đến? Tại sao cô ấy không
đến?", cứ thế cho đến nửa đêm, thậm chí quá nửa đêm. Còn nếu Agrafena
Alecxandrovna không đến (bởi vì có lẽ cô ấy chẳng bao giờ định đến) thì sáng
hôm sau cụ sẽ lại sừng sộ với tôi: "Sao cô ấy không đến? Vì cớ gì cô ấy
không đến, bao giờ cô ấy đến?" - cứ như thể trong việc đó tôi có lỗi gì với
cụ. Mặt khác cũng lại cái tội cái nợ như thể: cứ chập tối có khi còn sớm hơn nữa,
ông anh cậu cầm súng đến nhà bên cạnh: "Liệu hồn đấy, thằng đểu giả, thằng
bếp quèn, mày mà sơ ý để cô ấy vào và không báo cho tao biết cô ấy đến thì tao
giết mày trước tiên". Sáng hôm sau, cũng như cụ nhà, cậu ấy sẽ lại hành tới
đến khổ: "Tại sao cô ấy không đến, chắc là chẳng bao lâu nữa cô ấy sẽ đến",
cứ như thể tình nương của cậu ấy không đến là lỗi tại tôi. Cứ mỗi ngày mỗi giờ,
cả hai cha con đều càng thêm tức giận, đến nỗi có lúc tôi sợ quá, muốn chết
quách đi cho rồi. Thưa cậu, tôi chẳng hy vọng điều gì tốt lành ở họ.
- Thế ngươi dây vào làm gì? Tại sao ngươi lại thông tin cho cậu
Dmitri Fedorovich? - Ivan nói bằng giọng cáu kỉnh.
- Không dây vào sao được? Vả lại tôi cùng chẳng dính líu gì
vào đấy nếu cậu muốn biết đích xác. Ngay từ đầu tôi vẫn im lặng, không dám cãi,
chính cậu ấy coi tôi là đầy tớ riêng của cậu ấy. Từ đó cậu ấy cứ lặp đi lặp lại:
"Mày mà để cô ấy vào thì tao giết mày, thằng đểu ạ!". Thưa cậu, tôi
cho rằng ngày mai chắc là tôi sẽ lên một cơn động kinh kéo dài.
- Cơn động kinh kéo dài là thế nào?
- Một cơn động kinh kéo dài, rất dài. Mấy giờ liền, chưa biết
chừng một hai ngày cùng nên. Có lần tôi đã bị một trận kéo dài ba ngày, lần ấy
tôi ngã từ gác trang xuống. Cơn giật ngừng, rồi lại phát ra. Suốt ba ngày tôi
không tỉnh lại. Cụ cho đi mời ông bác sĩ vùng ta đến, ông Gherxenstube, ông ta
chườm nước đã vào đầu tôi và còn cho uống thứ thuốc gì đó nữa. Tưởng chết đi được.
- Không thể biết trước được giờ nào sẽ lên cơn động kinh kia
mà. Sao ngươi biết ngày mai sẽ lên cơn? - Ivan Fedorovich hỏi, vừa có vẻ tò mò
đặc biệt, vừa cáu kỉnh.
- Đúng là không thế biết trước được.
- Mà lại biết trước là ngã từ gác trang xuống nữa chứ.
- Ngày nào tôi cũng leo lên gác trang, ngày mai có thể tôi
ngã từ gác trang xuống. Mà không ngã trên gác xuống thì ngã xuống hầm nhà, ngày
nào tôi cũng có việc phải xuống hầm nhà.
Ivan Fedorovich nhìn hắn một lúc lâu:
- Ngươi bày trò gì đó, ta thấy thế, nhưng ta không hiểu lắm.
- Chàng nói khẽ, nhưng hơi có vẻ doạ dẫm. - Ngươi giả tảng chứ gì ngày mai
ngươi muốn sẽ lên cơn động kinh ba ngày chứ gì? Phải không?
Xmerdiakov vẫn nhìn xuống đất và lại ngọ ngày mũi giầy chân
phải, bây giờ hắn rút chân phải về, đưa chân tôi lên phía trước, ngẩng đầu lên
và nhếch mép cười mỉm, nói:
- Nếu tôi có thể giở trò như thế, tức là giả tảng như cậu
nói, thêm nữa một người có kinh nghiệm không khó gì mà không làm được việc đó,
thì tôi hoàn toàn có quyền dùng cách đó để cứu mạng mình. Bởi vì khi tôi ốm đau
nằm đấy thì dù cô Agrafena Alecxandrovna có đến với cụ nhà, cậu ấy cũng không
thể hạch một người ốm: "Sao mày không báo cho tao?" Như thế thì xấu hổ
cho cậu ấy.
- A, đồ quỷ, - Ivan Fedorovich bỗng sừng sộ, mặt méo đi vì giận
dữ. - Người luôn luôn lo cho tính mạng của
ngươi! Tất cả những lời hăm doạ đó của Dmitri chỉ là lời nói
hung hăng thôi, không có gì hơn. Anh ấy sẽ không giết người; có giết thì giết
người khác chứ không giết ngươi!
- Cậu ấy sẽ giết như giết con ruồi, và giết tôi trước hết. Và
còn có điều tôi sợ hơn thế nữa cơ: sợ bị coi là đồng loã nếu cậu ấy ra tay với
cụ nhà.
- Can gì ngươi lại bị coi là đồng loã?
- Vì tôi đã cho cậu ấy biết những tín hiệu hết sức bí mật.
- Những tín hiệu gì? Cho ai biết? Quỷ tha ma bắt nhà ngươi,
nói rõ ra đi!
- Phải thú nhận hoàn toàn thành thật, - Xmerdiakov nói dài giọng,
với vẻ bình tĩnh đạo mạo, - rằng có một bí mật giữa tôi và cụ nhà. Chính cậu
cũng biết (chỉ cần cậu biết điều đó), đã mấy ngày nay, cứ đêm đến hay thậm chí
tối đến là cụ đóng cửa cài then bên trong. Trước nay lần nào cậu cũng về sớm,
lên ngay phòng của cậu, còn hôm qua cậu không đi đâu, vì thế có lẽ cậu không biết
bây giờ đêm đến cụ đóng cửa cài then cẩn thận thế nào. Cho dù chính bác Grigori
Vaxilievich có lên thì chỉ khi nào nhận ra đích tiếng bác ấy, cụ mới mở cửa.
Nhưng Grigori Vaxilievich không lên đâu, vì bây giờ chỉ có một mình tôi hầu hạ
cụ ở nhà trên. Chính cụ cắt đặt như thế ngay từ lúc bắt đầu có tình ý với
Agrafena Alecxandrovna, còn bây giờ đêm đến, theo lệnh của cụ, tôi ngủ ở đầu hồi,
và cụ dặn phải thức cho đến nửa đêm để chực sẵn; phải đi vòng quanh sân xem cô
Agrafena Alecxandrovna có đến không, vì đã mấy ngày nay cụ chờ mong cô ấy đến,
cụ cứ như điên như dại vậy. Cụ suy tính thế này: nó sợ thằng Dmitri (ông gọi cậu
ấy là Mitka), vì thế ban đêm, khuya khuya một chút nó mới đi lối sau nhà đến với
ta; cụ bảo: mày phải canh chừng đón cô ấy cho đến nửa đêm và muộn hơn nữa. Nếu
cô ấy tới thì mày chạy đến cửa phòng hay cửa sổ trông ra vườn gõ hai tiếng
thong thả, rồi ba tiếng mau hơn. Thế là tao sẽ hiểu ngay rằng cô ấy đã tới, tao
sẽ nhẹ nhàng mở cửa phòng. Cụ còn định cho tôi một tín hiệu nữa đề phòng khi có
việc gì khẩn cấp: thoạt đầu hai tiếng mau, rồi chờ một lát, gõ tiếng nữa mạnh
hơn hẳn. Thế là cụ sẽ hiểu rằng có chuyện gì bất trắc xảy ra và tôi rất cần gặp
cụ, khi ấy cụ sẽ mở cửa cho tôi vào trình cụ. Ấy là phòng khi Agrafena
Alecxandrovna không đích thân đến được và cho người đến báo tin gì đó: ngoài ra
có thể là cậu Dmitri đến, thế thì báo cho cụ biết. Cụ sợ cậu Dmitri lắm, thế
thì nếu như cô Agrafena Alecxandrovna đã tới và cụ khoá cửa ở trong phòng với
cô ấy mà cậu Dmitri lại xuất hiện thì nhất định tôi phải trình ngay với cụ, gõ
ba tiếng, như vậy hiệu thứ nhất năm tiếng gõ nghĩa là: "Agrafena đã tới",
còn hiệu thứ hai ba tiếng nghĩa là "có việc gấp!". Chính cụ đã mấy lần
làm mẫu, dạy bảo kỹ cho tôi, lên vì trên đời này chỉ có tôi và cụ biết mật hiệu
đó, nên cụ sẽ mở cửa phòng không nghi ngại gì và không lên tiếng đáp lại (cụ rất
sợ phải lên tiếng đáp lại). Bây giờ cậu Dmitri đã biết những mật hiệu ấy.
- Vì sao mà biết? Ngươi bảo cho cậu ấy biết à? Sao người dám
cho cậu ấy biết?
- Vì sợ mà thôi. Tôi mà dám giữ kín với cậu ấy à? Cậu Dmitri
ngày nào cũng dồn tôi: "Mày đánh lừa tao, mày giấu giếm tao điều gì! Tao
bé gẫy cả hai chán mày cho mà xem!". Tôi đành phải nói cho cậu ấy biết những
dấu hiệu hết sức bí mật đó để cậu ấy thấy sự quỵ luỵ của tôi và tin chắc rằng
tôi không đánh lừa cậu ấy mà tôi báo cho cậu ấy biết hết.
- Nếu ngươi cho rằng anh ấy sẽ dùng mật hiệu ấy để vào phòng
cụ nhà thì đừng cho anh ấy vào.
- Nếu tôi lên cơn động kinh nằm bẹp một chỗ thì tôi ngăn cậu ấy
thế nào được, cho dù tôi dám cả gan ngăn cậu ấy tuy vẫn biết cậu ấy rất bạt mạng
đi nữa.
- Ồ quỷ tha ma bắt người đi! Tại sao ngươi biết chắc như thế
rằng ngươi sẽ lên cơn, đồ quỷ? Ngươi giễu ta chắc?
- Tôi mà lại dám giễu cậu, với lại đang sợ đến như thế thì bụng
dạ đâu mà giễu cợt? Tôi linh cảm thấy là tôi sẽ lên cơn động kinh, tôi có linh
cảm như thế, có thể chỉ vì sợ hãi cũng sẽ lên cơn.
- Đồ quỷ! Nếu ngươi nằm bẹp thì Grigori sẽ canh gác. Hãy báo
trước cho Grigori. Lão sẽ không cho cậu ấy vào.
- Không có lệnh của cụ thì tôi không đời nào dám cho bác
Grigori Vaxilievich biết mật hiệu. Với lại bác ấy ốm từ hôm qua, bác gái tính
ngày mai sẽ chữa thuốc cho bác ấy. Vừa rồi họ đã giao hẹn với nhau như thế.
Cách chữa của họ rất lạ: Marfa Ignatievna biết làm và luôn luôn có sẵn mọi thứ rượu
thuốc rất mạnh, ngâm bằng thứ cỏ gì đấy - bác ấy có một thứ bí quyết như thế. Một
năm ba lần, bà ấy chữa cho bác Grigori Vaxilievich bằng thứ thuốc bí mật ấy,
khi bác ấy đau sụn cả lưng, dường như tê liệt mỗi năm ba lần. Bà ấy lấy chiếc
khăn tay, nhúng vào thứ rượu thuốc ấy, đánh lưng cho bác ấy khoảng nửa giờ,
đánh đến khô hết cả thuốc, làm da lưng đỏ ửng và tấy lên, chỗ thuốc còn lại thì
cho uống, đồng thời đọc bài cầu nguyện gì không rõ.
Nhưng trong trường hợp hiểm hồi này bà ấy cũng giữ lại cho
mình một chút và cũng uống. Tôi xin nói để cậu biết, vì cả hai đều không uống
rượu, nên uống xong là họ vật ra ngủ say ly một giấc dài. Thức dậy thì Grigori
Vaxilievich hầu như bao giờ cũng khỏe, còn Marfa Ignatievna thì bao giờ cũng
đau đau. Như vậy, nếu ngày mai Marfa Ignatievna thực hiện ý định đó thì chắc họ
sẽ không nghe thấy gì và không thể ngăn giữ cậu Dmitri được. Họ ngủ mà.
- Vô lý quá! Mọi việc ăn khớp với nhau như có xếp đặt: ngươi
thì lên cơn động kinh, hai người kia thì ngủ mê man! - Ivan Fedorovich quát
lên. - Có phải ngươi giở trò như thế để cho khớp với nhau phải không!
- Tôi giở trò là thế nào… và giở trò làm gì, khi mọi việc chỉ
tuỳ thuộc vào một mình cậu Dmitri và những ý nghĩ của cậu ấy mà thôi… Cậu ấy muốn
làm gì là do cậu ấy, ờ mà không, không phải tôi chủ ý đưa cậu ấy đến để xô đẩy
cậu ấy vào với cụ.
- Nhưng anh ấy đến ba ta làm gì, mà lại đến lén lút nữa chứ,
nếu đúng như ngươi nói, Agrafena Alecxandrovna không hề đến đây. - Ivan
Fedorovich nói tiếp, mặt tái đi vì tức giận. - Chính ngươi nói như thế, vả
chăng một thời gian ta ở đây, ta tin chắc rằng đấy chỉ là ông già tưởng tượng
ra thôi, chứ ả súc sinh ấy sẽ không đến với ông già đâu. Ả không đến thì cậu
Dmitri xộc đến chỗ ông già làm gì kia chứ? Nói đi! Ta muốn biết những ý nghĩ của
ngươi.
- Chính cậu cũng biết cậu Dmitri đến làm gì, ý nghĩ của tôi
có dính dáng gì đến chuyện này? Cậu ấy đến vì tức giận, hay vì ngờ tôi ốm chẳng
hạn, cậu ấy nghi ngờ và sẽ sục vào các buồng như hôm qua ấy cô nàng có lẻn đến
mà cậu ấy không biết chăng. Cậu ấy cũng biết chắc là cụ đã để sẵn một phong bì
lớn trong có ba ngàn rúp, niêm phong ba lần dấu, buộc dải băng và tự tay cụ viết:
"Tặng thiên thần Grusenka của tôi, nếu em đến" và ba ngày sau cụ viết
thêm: "Con gà con của tôi". Đấy mới chính là điều đáng ngờ.
- Nhảm nhí! - Ivan Fedorovich thét lên gần như cuồng nộ. - Cậu
Dmitri không đến để cướp tiền, nhất là lại giết bố. Hôm qua vì Grusenka cậu ấy
có thể giết cụ nhà lắm, lúc ấy cậu như thằng ngốc điên dại hung dữ, nhưng cậu ấy
sẽ không đi ăn cướp.
- Hiện giờ cậu ấy cần tiền, cần lắm lắm, cậu Ivan Fedorovich ạ
Thậm chí cậu không biết cần đến chừng nào đâu. - Xmerdiakov giải thích hết sức
bình tĩnh và rành rẽ lạ thường. - Hơn nữa cậu ấy cho rằng ba ngàn rúp ấy có thể
coi là tiền của cậu ấy, cậu ấy đã giải thích với tôi như vậy: "Ba tao còn
nợ tao đúng ba ngàn rúp". Ngoài ra, thưa cậu Ivan Fedorovich, cậu hãy suy
xét xem, điều này gần như hoàn toàn là sự thật: phải nói gần như chắc chắn rằng
nếu cô Agrafena Alecxandrovna muốn, cô ấy sẽ bắt cụ nhà cưới cô ấy làm vợ, chỉ
cần cô ấy muốn, mà có lẽ cô ấy muốn như thế. Tôi vừa nói là cô ấy sẽ không đến
đâu, là bởi có lẽ cô ấy còn muốn nhiều hơn thế nữa kia, nghĩa là muốn thành bà
chủ hẳn hoi kia. Tôi biết rằng ông thương gia Xamxonov đã nói thẳng thừng với
cô ấy rằng việc ấy không đến nỗi dớ dẩn lắm đâu, rồi ông ta cười. Còn cô ấy thì
không ngốc nghếch tí nào đâu. Cô ấy không đời nào lấy một gã kiết xác như cậu
Dmitri Fedorovich ạ. Lấy đó mà suy, cậu thử xét xem, cậu Ivan Fedorovich ạ, sau
khi cụ nhà qua đời, cả cậu Dmitri Fedorovich cũng như cậu và cậu Alecxei
Fedorovich đều trắng tay, không được lấy một rúp, vì cô Agrafena Alecxandrovna
lấy cụ nhà chỉ cốt để giành hết tài sản cho mình và sẽ bắt cụ sang tên hết cho
cô ấy. Còn nếu cụ mất bây giờ, khi chuyện ấy chưa xảy ra thì mỗi cậu sẽ được
ngay bốn mươi ngàn rúp, ngay cả cậu Dmitri mà cụ rất căm ghét, vì cụ chưa làm
chúc thư mà… Điều đó cậu Dmitri biết rất rõ…
Những đường nét trên mặt Ivan Fedorovich dường như méo đi và
rung động. Chàng bỗng đỏ mặt.
- Nếu vậy, - chàng đột nhiên ngắt lời Xmerdiakov, - thì tại
sao nhà ngươi khuyên ta đi Tresniasnia? Ý nhà ngươi muốn nói gì? Ta đi, thế rồi
ở đây sẽ xảy ra chuyện gì đó. - Ivan Fedorovich khó nhọc thở lấy hơi.
- Hoàn toàn đúng. - Xmerdiakov khẽ nói một cách chín chắn,
nhưng vẫn chăm chú dò nhìn Ivan.
- Hoàn toàn đúng là thế nào? - Ivan Fedorovich hỏi lại, gắng
tự kìm nén, mắt long lên đầy hãm doạ.
- Tôi nói như thế là vì thương cậu. Ở địa vị của cậu, lâm vào
tình cảnh như thế này, tôi sẽ vứt bỏ ráo… tội gì dính vào một việc như thế -
Xmerdiakov trả lời, công nhiên nhìn vào cắp mắt long sòng sọc của Ivan
Fedorovich. Cả hai đều im lặng.
- Nhà ngươi xem ra là một lên cực ngu và cố nhiên là… một thằng
đểu giả kinh khủng. - Ivan Fedorovich bỗng đứng phắt dậy khỏi chiếc ghế băng.
Chàng toan đi ra cửa vườn nhưng đột nhiên chàng dừng lại, quay về phía
Xmerdiakov. Đã xảy ra một điều ly lạ: bất thinh lình, như lên cơn co rút, chàng
bặm môi, xiết chặt nắm tay, tưởng như chỉ giây lát nữa là sẽ xông vào đánh
Xmerdiakov. Giây lát ấy ít ra hắn cũng nhận thấy điều đó, hắn giật mình ngã người
về phía sau. Nhưng chẳng có chuyện gì xảy ra với hắn. Lặng lặng, nhưng dường
như hơi băn khoăn, Ivan Fedorovich quay về phía cửa vườn.
- Mai ta đi Moskva, nếu ngươi muốn biết, sáng tinh mơ ngày
mai, thế là xong! - Vẻ hằm hằm, chàng nói to và rành rọt, sau này chàng ngạc
nhiên: lúc ấy chàng cần quái gì phải nói với Xmerdiakov điều đó.
- Vậy là hay nhất. - Dường như chỉ đợi có thế, hắn đỡ lời. -
Có điều cậu ở Moskva thì nếu xảy ra chuyện như thế, ở đây người ta có thể đánh
điện báo tin làm phiền cậu.
Ivan Fedorovich lại dừng bước và lại quay nhanh về phía
Xmerdiakov. Dường như không có chuyện gì xảy ra cả với hắn. Tất cả vẻ suồng sã
và khinh mạn của hắn đã biến đâu hết. Toàn bộ gương mặt hắn biểu lộ vẻ chăm chú
và chờ đợi, nhưng bây giờ có vẻ rụt rè và nịnh nọt: "Cậu còn nói gì nữa
không, có nói thêm gì nữa không?" - Ivan đọc thấy câu hỏi ấy trong cái
nhìn chăm chú như xoáy vào chàng.
- Thế ta ở Tresniasnia thì người ta không gọi sao… nếu có
chuyện như thế xảy ra? - Ivan Fedorovich bỗng gào lên, không rõ vì sao mình bỗng
quát to như vậy.
- Cậu đến Tresniasnia thì… vẫn bị người ta quấy rầy, -
Xmerdiakov nói lúng búng, gần như thì thầm, như thể luống cuống, nhưng vẫn hết
sức chăm chú nhìn thẳng vào mắt Ivan Fedorovich.
- Nhưng Moskva xa hơn, còn Tresniasnia thì gần, ngươi tiếc tiền
xe nên mới nài ta đi Tresniasnia, hay ngươi thương ta phải đi đường vòng quá
dài?
- Hoàn toàn đúng như vậy… - Xmerdiakov nói lúng búng giọng đã
nghẹn lại, miệng mỉm nụ cười bỉ ổi và lại lật bật chuẩn bị để lùi lại cho kịp.
Nhưng Xmerdiakov ngạc nhiên vì Ivan Fedorovich bỗng bật cười và đi nhanh ra cửa
vườn, vẫn vừa đi vừa cười.
Người nào nhìn mặt chàng lúc ấy hẳn sẽ kết luận rằng chàng cười
hoàn toàn không phải vì trong lòng rất đỗi vui vẻ. Vả chăng chính bản thân
chàng cũng không sao giải thích được lúc ấy đã có chuyện gì xảy ra với chàng.
Chàng cử động và đi như con rối giật.
Chương 7
"Nói chuyện với người thông minh đến là thú vị"
Tuy vậy chàng cũng đã nói. Vừa bước vào phòng khách, gặp
Fedor Pavlovich, chàng bỗng hoa tay nói tướng lên: "Con lên buồng con đây,
không vào với ba đâu", rồi chàng đi luôn, thậm chí không nhìn đến bố. Rất
có thể là lúc ấy chàng rất đỗi thù ghét ông bố, nhưng sự biểu lộ tình cảm thù địch
một cách sỗ sàng như thế thật bất ngờ cả đối với Fedor Pavlovich.
Rõ ràng là ông già có điều gì muốn nói ngay với con, nên ông
cố ỷ ra đón gặp con ở phòng khách: nghe thấy câu nói nhã nhặn như thế ông lẳng
lặng dừng lại và vẻ giễu cợt nhìn theo con lên cầu thang cho đến khi con khuất
dạng hẳn.
- Cậu ấy làm sao thế? - ông nói nhanh, hỏi Xmerdiakov vào
theo Ivan Fedorovich.
- Cậu ấy tức giận cái gì đó, ai mà biết được. - Hắn lúng búng
nói lảng.
- A, đồ quỷ! Mặc cho nó tức giận! Đem ấm xamôva lên, rồi mfy
cũng tháo lui luôn đi, nhanh lên! Không có gì mới à?
Thế là bắt đầu những câu căn vặn mà ban nãy Xmerdiakov vừa
than phiền với Ivan Fedorovich, nghĩa là vẫn về người con gái mà ông ta đang
mong chờ, ở đây chúng ta sẽ bỏ qua những điều căn vặn ấy. Nửa giờ sau, cửa nhà
đã đóng kỹ, và ông già điên gàn đi đi lại lại một mình qua các buồng, hồi hộp
chờ mong năm tiếng gõ cửa quy ước sẽ vang lên, thỉnh thoảng lại nhìn ra những
khung cửa sổ tăm tối và chẳng thấy gì ngoài màn đêm.
Đã khuya lắm rồi mà Ivan Fedorovich vẫn chưa ngủ, vẫn nghĩ ngợi
Đêm ấy chàng đi nằm muộn, khoảng hai giờ sáng. Nhưng chúng tôi sẽ không thuật lại
tất cả dòng suy nghĩ của chàng, vả lại chưa đến lúc thâm nhập vào tâm hồn này:
rồi sẽ đến lượt nó.
Mà cho dù có muốn thử tường thuật lại thì việc đó cũng rất rắc
rối, bởi vì đây không phải là những ý nghĩ, mà là một cái gì rất đỗi vu vơ, cái
chính là quá xao xuyến. Chính chàng cảm thấy mình đã mất hết mọi đầu mối. Chàng
bị dằn vặt bởi những mong muốn kỳ lạ và hoàn toàn bất ngờ, chẳng hạn: quá nửa
đêm, một ý muốn khẩn thiết không thể chịu đựng nổi xui khiến chàng xuống dưới
nhà, mở cửa, đến gian đầu hồi đánh cho Xmerdiakov một trận, nhưng nếu hỏi cớ gì
thì hẳn bản thân chàng dứt khoát và không đưa ra được một lý do nào đích xác,
ngoại trừ lý do là chàng căm ghét thằng hầu này; nó là một tên xấc láo nhất
trên đời đã xúc phạm nặng nề đến chàng. Mặt khác, đêm hôm ấy, nhiều lần tâm hồn
chàng cảm thấy một sự rụt rè nhục nhã không sao giải thích nổi, nó khiến cho
chàng bỗng mất hết mọi sức lực (chàng cảm thấy thế). Đầu nhức nhối và quay cuồng:
Có cái gì đáng căm hờn làm cho chàng đau lòng, dường như là định trả thù một kẻ
nào. Chàng căm ghét cả Aliosa khi nhớ đến cuộc chuyện trò mới đây với cậu em,
có những lúc chàng thù ghét cả chính bản thân mình. Chàng gần như quên bẵng mất
Ekaterina Ivanovna, sau này chàng rất đỗi ngạc nhiên về việc này, nhất là chàng
vẫn nhớ như in rằng mới sáng hôm qua chàng còn phách lối khoe trước Ekaterina
Ivanovna rằng ngày mai chàng sẽ đi Moskva, còn trong thâm tâm, ngay khi ấy
chàng đã tự nhủ: "Tào lao, mi sẽ không đi, mi sẽ không dễ dứt tình như mi
đang huênh hoang lúc này đâu". Mãi sau này, khi nhớ tới đêm hôm ấy, Ivan
Fedorovich đặc biệt ghê tởm nhớ lại rằng chàng đột ngột đứng dậy khỏi đi văng
và len lén, dường như rất sợ người ta nhìn thấy mình, mở cửa đi ra cầu thang, lắng
tai nghe ở phía dưới, nghe ngóng bố động đậy và đi lại ở các căn buồng dưới, -
nghe một lúc lâu, đến năm phút, trong tâm trạng tò mò kỳ lạ, nín thở, tim đập
thình thịch, mà chàng làm thế để làm gì, rình nghe để làm gì, cố nhiên chính
chàng cũng không biết. "Hành động" ấy sau này suốt đời chàng gọi nó
là "đê mạt" và suốt đời, trong đáy sâu của tâm hồn, chàng coi đó là
hành động hèn hạ nhất trong đời mình. Trong những giây phút ấy, thậm chí chàng
không hề cảm thấy căm ghét bố chút nào, và không hiểu tại sao chàng chỉ hết sức
tò mò, ông già đang đi lại ở phía dưới như thế nào, đại khái lúc này ông phải
làm gì, chàng đoán và nghĩ rằng ở dưới ấy hẳn ông đang ngó ra những ô cửa sổ tối
om, đột ngột dừng lại ở giữa phòng và chờ đợi, chờ đợi, chờ đợi tiếng gõ cửa,
Ivan Fiođorovich đã ra cầu thang hai lần để nghe ngóng. Khi tất cả đã im ắng và
Fedor Pavlovich đi nằm, khoáng hai giờ, Ivan Fedorovich cũng đi nằm nhất quyết
muốn ngủ luôn, vì chàng cảm thấy mệt phờ. Quá thật chàng ngủ thiếp đi ngay và
ngủ say ly bì, không mộng mị gì hết, nhưng chàng thức giấc sớm, khoảng bảy giờ,
khi trời đã rạng sáng. Mở mắt ra, chàng ngạc nhiên cảm thấy mình tràn trề một
sinh lực lạ thường, chàng bật ngay dậy và nhanh chóng mặc quần áo, rồi lấy valy
của mình, và lập tức vội vã xếp hành lý. Vừa may hôm qua chị thợ giặt đã trả hết
quần áo lót. Ivan Fedorovich thậm chí mỉm cười khi nghĩ rằng mọi việc đều khớp
nhau như thế, không có gì làm chậm chuyến ra đi bất ngờ. Chuyến ra đi quả là bất
ngờ. Tuy hôm qua Ivan Fedorovich có nói (với Ekaterina Ivanovna, Aliosa, rồi với
Xmerdiakov) rằng ngày mai chàng sẽ đi, nhưng hôm qua lúc đi nằm, chàng nhớ rất
rõ ràng lúc ấy chàng không nghĩ đến chuyện ra đi, ít ra chàng hoàn toàn không
có ý nghĩ rằng buổi sáng thức dậy, việc đầu tiên là chàng đâm bổ đi xếp valy.
Cuối cùng valy và túi du lịch đã sẵn sàng. Đã gần chín giờ khi Marfa Ignatievna
lên phòng chàng, hỏi một câu mà ngày nào bà ta cũng hỏi: "Cậu dùng trà ở
buồng này hay xuống dưới nhà?" Ivan Fedorovich xuống dưới nhà, coi bộ gần
như vui vẻ, tuy rằng trong lời nói và cử chỉ của chẳng có cái gì như tán loạn
và hối hả.
Chàng niềm nở chào ông bố, thậm chí đặc biệt hỏi thăm sức khỏe,
nhưng không đợi bố trả lời xong, tuyên bố luôn rằng một giờ nữa mình đi Moskva,
đi hẳn, và xin ông già cho người đi lấy ngựa. Ông già nghe tin đó không chút ngạc
nhiên, bất nhã đến mức quên cả tỏ ra buồn rầu vì con trai ra đi; đã thế bỗng
nhiên ông lại bắt đầu lo tính công chuyện, vì đúng lúc ấy ông chợt nhớ tới một
việc riêng khẩn thiết.
- Chà chà! Con kỳ thật! thế mà hôm qua con không nói… nhưng
thôi, ta sẽ dàn xếp với nhau ngay bây giờ. Con hãy giúp ba một việc cực kỳ quan
trọng, con thân yêu của ba, con hãy rẽ qua Tresniasnia. Từ ga Volovia rẽ về bên
trái, chỉ độ mười hai dặm là đến Tresniasnia ngay thôi mà.
- Thưa ba, con không thể giúp được: đường đến ga tám chục dặm,
mà xe lửa rời ga đi Moskva lúc bảy giờ tối, chỉ vừa đủ thời gian đến kịp giờ
tàu chạy.
- Ngày mai, không thì ngày kia đi cũng được chứ sao, còn hôm
nay thì hãy về Tresniasnia. Có tốn công sức gì lắm đâu mà làm cho ba yên lòng!
Nếu không có việc cần phải ở đây thì chính ba đã đi từ lâu rồi, bởi vì đây là
việc gấp và vô cùng quan trọng, nhưng lúc này thì ba không vắng mặt ở đây được…
Con ạ, ở đấy có phần rừng của ba, hai lô, ở Beghisev và Diatki, vùng hoang vu.
Nhà Maxlov, ông già và con trai, đều là thương gia, chỉ trả có tám ngàn để đốn
gỗ, mãi đến năm ngoái mới có một người muốn mua, y trả mười hai ngàn, nhưng y
không phải người ở đây đấy là điểm đáng chú ý. Bởi vì bố con Maxlov tài sản có
tới hàng trăm ngàn, họ tự ý đặt ra luật lệ: họ định thế nào là phải theo như thế,
ở đây không có kẻ nào dám gành ghẹ với họ. Thứ năm trước, Cha Ilinssky có gửi
thư báo cho ba biết Gorskin đã tới, hắn cũng là lái buôn, ba biết hắn, điều quý
giá là hắn không phải người ở đây, mà ở Pogrebov, nghĩa là hắn không sợ Maxlov,
vì hắn không phải người ở đây. Hắn trả mười một ngàn, con nghe rõ chứ? Cha xứ
viết trong thư rằng hắn chỉ ở đây một tuần lễ. Vì vậy con nên đi thương lượng với
hắn hộ ba.
- Thì ba cứ viết thư cho Cha xứ, Cha sẽ thương lượng hộ cho.
- Cha xứ không làm được việc này, cái gay là ở đấy. Cha xứ
không tinh trong việc này. Cha là con người vàng ngọc, ba sắp gửi Cha giữ hộ
hai mươi ngàn rúp mà không lấy giấy biên nhận, nhưng Cha không tinh trong việc
này, có thể nói là rất ngờ nghệch, rất dễ bị lừa. Ấy vậy mà Cha là một học giả
đấy, con thử tưởng tượng xem. Gorskin nom bề ngoài có vẻ nhà quê, mặc áo chẽn
lưng dài vạt màu xanh, nhưng hắn là thằng hết sức đểu cáng, đấy là cái gay cho
chúng ta: hắn hay nói dối, cần lưu ý, điểm này. Đã hai năm nay hắn vẫn nói rằng
vợ hắn đã chết và hắn đã lấy vợ khác, nhưng làm gì có chuyện đó, con tưởng tượng
xem: vợ hắn đâu có chết, vẫn sống sờ sờ ra đấy và cứ ba ngày lại nện cho hắn một
trận. Vì vậy bây giờ cần biết hắn trả giá mười một ngàn là nói thật hay nói dối?
- Thế thì con chẳng được việc gì đâu, con cũng không thạo.
Gượm, hãy khoan, con giải quyết được đấy, vì ba sẽ cho con biết
mọi đặc điểm của tay Gorskin này, ba giao thiệp với hắn đã lâu. Con ạ, cứ nhìn
bộ râu hắn thì biết: râu hắn màu hung, nom đến tởm, lưa thưa. Nếu bộ râu rung
rung, mà hắn nói và giận dữ thì thể là được, hắn nói thật, muốn dàn xếp cho được
việc. Còn nếu hắn vuốt râu bằng tay trái và cười cợt thì tức là hắn muốn lừa gạt,
giở trò bịp bợm. Đừng bao giờ nhìn vào mặt hắn, nhìn mặt thì không rõ được gì
đâu, chỉ như làn nước tối sẫm, thằng bịp, cứ nhìn bộ râu. Ba sẽ viết mấy chứ
đưa con chuyển cho hắn.
Gã Gorskin ấy, tên thật không phải là Gorskin đâu, mà là
Liagavyi, nhưng con đừng gọi hắn là Liagavyi, hắn giận đấy(1). Nếu thương lượng
xong với hắn và thấy ổn thì viết thư về ngay cho ba. Chỉ cần viết thế này thôi:
"Hắn không nói dối". Cứ đòi mười một ngàn, bớt một ngàn là cùng. Con
thứ nghĩ xem: tám và mười một, chênh nhau ba ngàn. Ba ngàn ấy ba coi như của bắt
được có dễ tìm được người mua đâu, mà ba cần tiền ghê lắm. Con cho biết là việc
nghiêm chỉnh thì ba sẽ đích thân đi ngay và giải quyết cho xong, sẽ có cách thu
xếp được thời gian. Còn bây giờ ba đến đấy làm gì, ngộ Cha xứ bịa ra thì sao?
Thế nào, con có đi không?
- Ồ, con không có thời gian, ba miễn cho.
- Ôi chao, làm ơn giúp ba, ba sẽ ghi nhớ. Các anh thật nhẫn
tâm, thế đấy! Một hai ngày với con là gì? Con đi đâu bây giờ, đến Vơnizơ hả?
Trong hai ngày Vơnizơ của con không đổ sụp đâu. Ba muốn bảo Alecxei đi, nhưng
những việc ấy Alecxei hiểu quái gì? Ba nhờ con chỉ vì con là người thông minh
ba thấy chứ. Con không buôn gỗ, nhưng con có con mắt tình đời. Chỉ cần nhìn rõ:
hắn nói có thật không. Ba bảo là cứ nhìn bộ râu: râu rung rung tức là thật
- Ba cứ muốn đẩy con về cái vùng Tresniasnia chết tiệt ấy à?
- Ivan Fedorovich gắt lên, nhếch mép cười hằn học.
Fedor Pavlovich không thấy rõ sự hằn học không muốn thấy, ông
bám lấy nụ cười:
- Vậy là con đi chứ hả, đi chứ? Ba sẽ viết ngay mấy chữ cho
con cầm đi.
- Con không biết con có đi hay không, con không biết, dọc đường
con sẽ quyết định.
- Sao lại dọc đường, quyết ngay đi. Con thân yêu, quyết ngay
đi! Hễ thoả thuận được, con viết cho ba vài dòng, đưa cho Cha xứ, Cha sẽ gửi
ngay giấy của con cho ba. Xong việc rồi ba không giữ con đâu, con cứ đi Vơnizơ.
Cha xứ sẽ cho xe của Cha đưa con trở lại Volovia…
Ông già hoan hỉ thật sự, viết vội lá thư ngắn, cho đi gọi xe
ngựa, lấy đồ nhắm, cognac. Hễ ông già vui sướng, bao giờ ông cũng cởi mở
tâm tình, lần này ông dường như dè dặt. Chẳng hạn ông không có lấy một lời về
Dmitri Fedorovich. Cuộc chia ly hoàn toàn không làm ông cảm động, vì thế dường
như ông không có gì để nói. Ivan Fedorovich nhận thấy rất rõ điều đó: "Ông
già chán ngấy ta rồi", - chàng nghĩ thầm - Chỉ khi tiễn con ra đến bậc tam
cấp, ông già dường như mới hỏi rối rít, định hôn.
Nhưng Ivan Fedorovich vội chia tay ra bắt, rõ ràng để tránh
cái hôn. Ông già hiểu ngay và tức khắc dừng lại:
- Thôi. Chúa phù hộ con. Chúa phù hộ con! - ông đứng trên tam
cấp nhắc lại. - Con sẽ còn về thăm ba nữa chứ? Cứ về nhé, ba sẽ rất vui sướng.
Thôi, Chúa Kito ở cùng con.
Ivan Fedorovich lên xe ngựa.
- Chào con, Ivan, đừng xỉ vả ba nhiều quá nhé! - ông bố gào
lên lần cuối cùng…
Tất cả gia nhân đều ra tiễn: Xmerdiakov, Marfa và Grigori.
Ivan Fedorovich cho mỗi người mười rúp. Khi chàng đã ngồi vào xe, Xmerdiakov
đâm bổ tới sửa lại tấm thảm.
- Ngươi thấy đấy… ta đi Tresniasnia… - Ivan Fedorovich bỗng
buột thốt ra, cũng lại tự dưng buột miệng như hôm qua, mà lại kèm theo tiếng cười
nóng nảy. Sau này chàng còn nhớ mãi.
- Như vậy là người ta nói đúng: nói chuyện với người thông
minh quả là thú vị. - Xmerdiakov trả lời chắc nịch, nhìn Ivan Fedorovich một
cách thấm thía.
Xe chuyển bánh và phóng đi. Tâm hồn người đi rối bời, nhưng
chàng hau háu nhìn xung quanh - đồng ruộng, đồi, cây cối đàn ngỗng bay cao trên
bầu trời sáng sủa, Bỗng nhiên chàng cảm thấy hết sức thư thái. Chàng thử bắt
chuyện với người đánh xe và trong câu trả lời của gà mugich có cái gì
khiến chàng hết sức quan tâm, nhưng lát sau chàng nhận ra rằng tất cả đều ra
ngoài tai và thực anh chàng chẳng hiểu người đánh xe nói gì.
Chàng im lặng, thể này cũng tốt rồi: không khí trong lành,
tươi mát, hơi lạnh, bầu trời sáng sủa. Hình ảnh Aliosa và Ekaterina Ivanovna
thoáng qua trong tâm trí. Nhưng chàng mỉm cười nhẹ nhàng và nhẹ nhàng thổi vào
nhưng hình bóng đáng yêu, làm những hình ảnh ấy tan biến: "Rồi sẽ đến lượt
họ" - chàng nghĩ.
Họ nhanh chóng đến trạm, thay ngựa và phóng về Volovia.
"Tại sao lại nói chuyện với người thông minh quả là thú vị, ý hắn muốn nói
gì?" - Chàng bỗng nghẹn thở. - "Mà sao ta lại bảo cho hắn biết ta đi
Tresniasnia?". Đến ga Volovia, Ivan xuống xe, những người đánh xe vây
quanh chàng. Họ ngã giá đi Tresniasnia, mười hai dặm đường qua các làng, xe ngựa
tư.
Chàng bảo đóng ngựa. Chàng toan vào nhà trạm, chàng nhìn xung
quanh, tìm người phụ nữ trưởng trạm, rồi bỗng nhiên chàng trở ra bậc tam cấp.
- Không đi Tresniasnia nữa. Này các chú, bây giờ tôi phải lên
xe lửa, có muộn mất không?
- Xin lĩnh ý ông. Thắng xe chứ ạ?
- Làm ngay đi. Trong các anh có ai ngày mai về thành phố
không?
- Có chứ ạ. Mitri đây này.
- Mitri, anh giúp tôi một việc được chứ? Anh đến ba tôi, cụ
Fedor Pavlovich Karamazov ấy mà, nói với ba tôi rằng tôi không đi Tresniasnia
đâu. Được chứ?
- Xin vâng, tôi sẽ đến. Tôi biết cụ Fedor Pavlovich đã lâu lắm
rồi.
- Đây gửi anh tiền trà thuốc, vì ba tôi có lẽ sẽ không cho
anh tiền đâu…
- Đúng là cụ sẽ không cho, - cả Mitri cũng bật cười. - Cảm ơn
ông, nhất định chúng tôi sẽ đến…
Bảy giờ tối Ivan lên xe lửa về Moskva. "Vứt hết mọi chuyện
trước đây, đoạn tuyệt vĩnh viễn với thế giới trước đây, sao cho không bao giờ
còn nhận được tin tức hay hồi âm của nó nữa: đi vào thế giới mới, đến những chốn
mới, không ngoái nhìn lại!".
Nhưng thay cho niềm hân hoan, bóng tối bỗng mỉm lên tâm hồn
chàng, còn trong tim nhức nhối một nỗi đau xót mà cả đời chưa bao giờ chàng cảm
thấy như thế. Chàng nghĩ ngợi suốt đêm: xe lửa phóng như bay, mãi đến rạng sáng
khi xe vào Moskva, chàng dường như mới chợt tỉnh.
- Ta là thằng đê tiện! - Chàng tự nhủ.
Sau khi tiễn con đi. Fedor Pavlovich rất hài lòng. Suốt hai
giờ liền ông ta cảm thấy mình gần như hạnh phúc và ông uống cognac.Nhưng đột
nhiên trong nhà xảy ra một việc hết sức đáng bực và khó chịu cho tất cả mọi người,
khiến cho Fedor Pavlovich vô cùng bối rối: Xmerdiakov xuống hầm nhà chẳng hiểu
có việc gì và té nhào từ bậc trên cùng. Còn may là lúc ấy Marfa Ignatievna ở
sân và nghe thấy kịp thời. Mụ không nhìn thấy hắn ngã, nhưng nghe thấy tiếng
kêu, tiếng kêu đặc biệt kỳ lạ, nhưng mụ đã biết từ lâu, - tiếng kêu của kẻ động
kinh ngã trong lúc lên cơn. Hắn lên cơn lúc bước xuống bậc thang và bất tỉnh
lăn nhào xuống, hay trái lại vì ngã và chấn động mà bệnh động kinh vốn có lại
phát ra thì không thể hiểu rõ được, nhưng họ tìm thấy hắn nằm dưới đáy hầm nhà,
co quắp, giật dội, quằn quại, miệng sùi bọt. Thoạt đầu người ta tưởng chắc chắn
hắn phải gãy tay hay gãy chân, và bị dập xương, nhưng "nhờ trời phù hộ",
nói theo lời Marfa Ignatievna; không sao cả, có điều phải khó khăn mới khiêng
được hắn lên, chính Fedor Pavlovich có mặt suốt từ đầu đến cuối khi họ làm việc
đó, ông cũng giúp một tay, rõ ràng ông sợ hãi và dường như bối rối. Tuy nhiên
người bệnh vẫn không tỉnh lại: cơn động kinh có lúc tạm ngừng, nhưng rồi lại
tái phát, và mọi người đều cho rằng sẽ lại y như năm ngoái khi hắn vô ý ngã từ
gác trang xuống. Người ta nhớ lại rằng lần ấy hắn đã được chườm đầu bằng nước
đá. Trong hầm nhà, vẫn còn tìm thấy nước đá, Marfa Ignatievna lấy ra chườm cho
hắn, gần tối Fedor Pavlovich cho đi mời bác sĩ Gherxenstube, ông ta đến ngay.
Sau khi thăm bệnh cẩn thận (đây là một bác sĩ cẩn thận và chu đáo nhất tỉnh, một
ông già nhỏ bé hết sức đáng kính), ông kết luận rằng đây là một cơn bất thường
và "có thể nguy hiểm", hiện thời ông chưa hiểu hết, nhưng sáng mai, nếu
những thuốc ông cho bây giờ không hiệu nghiệm, ông sẽ cho dùng các thứ khác.
Người bệnh được đưa vào gian đầu hồi, trong căn phòng cạnh
phòng Grigori và Marfa Ignatievna. Tiếp đó, suốt ngày Fedor Pavlovich phải chịu
hết rủi ro này đến rủi ro khác: Marfa Ignatievna nấu ăn bữa chiều, so với món
súp do Xmerdiakov nấu thì xúp của mụ "chẳng khác gì nước rửa bát",
còn thịt gà thì xác đến nỗi không tài nào nuốt nổi. Đáp lại những lời trách móc
cay đắng nhưng đích đáng của chủ, mụ cãi rằng mụ đã già lắm rồi và mụ không được
học nấu bếp. Đến tối lại xảy chuyện đáng lo khác: Fedor Pavlovich được hay rằng
Grigori ốm đã ba ngày nay, bây giờ gần như liệt giường, đau sụn lưng. Ông già
dùng bữa trà thật sớm, rồi đóng kín cửa ở trong nhà một mình. Ông ở trong trạng
thái chờ đợi xao xuyến và khiếp sợ. Số là đúng tối hôm nay ông chờ Grusenka gần
như chắc chắn sẽ tới. Ít ra ngay từ sáng, Xmerdiakov gần như cam đoan với ông rằng
"cô ấy hứa nhất định sẽ tới". Tim ông già máu dê đập rộn, ông đi đi lại
lại qua các văn phòng trống vắng, lắng tai nghe. Cần nghe cho tinh: có thể
Dmitri Fedorovich rình cô ả ở quanh đâu đây, nếu cô ả gõ cửa sổ (đã ba ngày nay
Xmerdiakov cam đoan với ông rằng hắn đã dặn cô ta gõ cửa ở đâu và vào lối nào),
khi ấy phải mở cửa thật mau, không để ả phải nán lại ở phòng ngoài một giây
nào, kẻo cô ả sợ hãi chạy mất thì hỏng. Fedor Pavlovich lăng xăng bấn rộn,
nhưng chưa bao giờ trái tim ông tắm trong niềm hy vọng ngọt ngào như vậy, gần như
có thể nói chắc là lần này nhất định cô nàng sẽ đến!…
Chú thích:
(1) Ligavyi là một giống chó tai cúp, mõm to (N.D).





































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét