Hai
sắc hoa tigôn
Hành trình tình yêu hay hành trình đi tìm một nửa kia của
mình luôn là đề tài chiếm vị trí quan trọng trong các câu chuyện
tình hay nhất, những áng thơ dễ đi vào lòng người và cũng chính
là nỗi niềm khao khát của bất kỳ ai có đời sống sinh hoạt, tinh thần bình
thường. Yêu và được yêu, yêu và giữ được tình yêu cũng luôn đòi
hỏi từ hai phía; trao gửi, cho nhận, hiến dâng,... đều cần thiết sự trân
trọng, và hành xử một cách có văn hóa. Tính yêu càng đẹp càng hứng chịu
nhiều thử thách, gian nan, có khi như những cơn bão tố cuồng
phong cuốn phăng đi tất cả, kể cả thể xác con người để dệt
nên những câu chuyện tình diễm lệ, cũng có khi lặng lẽ, nhỏ nhẹ mà vô
cùng đau xót, cứa đứt mọi mối dây liên hệ của đôi tình
nhân để họ âm thầm chia xa, day dứt khôn nguôi về một mối
tình đẹp mà dang dở, duyên tình đẹp mà lỡ làng, xót xa.
Hai sắc hoa ti gôn của T.T.K.H. là một bài thơ đẹp, xuất
hiện trên thi đàn từ những năm cuối thập kỷ 30 của thế kỷ trước.
Thơ đẹp từ ý đến tứ, từ vần đến nhạc, từ con chữ đến
hình ảnh, từ thực đến mộng,… tất cả đan xen, hòa lẫn, huyền ảo
như tình yêu của “tôi” và “người ấy”, gần lắm mà cũng xa xôi, tỉnh mà
như mơ trong cõi vô định đường trần. Chuyện thơ kể rằng:
Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi cảm thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người đến với yêu đương.
Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương, cát
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng: "Hoa, dáng như tim vỡ
Bài thơ như một tiên định. Tiên định về một
mối tình đẹp mà tan vỡ. Đọc bài thơ, ngay từ con chữ đầu, đã
thấy dư vị của mối tình đẹp mà chia xa với những hình ảnh
thơ gợi buồn: mùa thu, hoàng hôn, cánh hoa rơi, nỗi buồn, ánh nắng
tà, chờ đợi,…. Rồi tiên định thứ hai là ở ngay trong lời
“người ấy” thốt lên trong buổi chiều tà, tình ta như dáng hoa tim vỡ,… Từ đây
ý thơ đeo đẳng với cái tứ, trai gái gặp nhau, say nhau và chia lìa đôi
ngả. Hai sắc màu của hoa ti gôn cũng là thông điệp tiên định
thứ ba dự báo về mối tình trẻ sẽ tan theo gió mây, qua
theo ngày tháng, như màu hoa phai trong chiều thu tàn, se lạnh. Giọng
thơ cứ thế thâm trầm, buồn bã buông lơi mà hồi tưởng về ngày
tháng, thời khắc, biến cố của mối tình nhiều trắc trở. Giọng
thơ mang nỗi buồn man mác kể về tấm lòng trinh trắng ngây
thơ của những buổi đầu hò hẹn, nhưng rồi đột ngột quặn thắt niềm đau,
vỡ òa cảm xúc, khi không thể tin rằng:
Đâu biết một đi một lỡ làng,
Dưới trời đau khổ chết yêu đương
Người xa xăm quá! Tồi buồn lắm,
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường...
Hạnh phúc, tình yêu đôi khi như bị tạo
hóa đem ra để trêu đùa người trần thế, thật gần đấy,
hiện hữu đấy, nhưng ôi sao, cũng thật mong manh, hư ảo,… càng hiểu,
càng yêu nhiều nên cũng càng ghen tuông và lắm nghi kỵ. Đó được xem
như “hai mặt đối lập” của “thuyết tình yêu” trong mỗi người. Ý chí và
con tim, lý và tình nhiều khi không phân định rõ ranh giới trong tâm hồn
người đang yêu. Màu hoa ti gôn với hai sắc hồng trắng cũng là một
thông điệp đầy tính ẩn dụ về thế giới tình yêu
muôn màu, về sự phức tạp của lòng người, về tiền định của một
mối tình đẹp nhưng dở dang,…
Nhân vật nữ có tấm lòng trinh trắng, bồng bột ngây thơ bao nhiêu trong buổi đầu gặp gỡ, chớm nở tình yêu và thoảng thốt, đau đớn, buồn thương bấy nhiêu khi nhận ra tình yêu đã mất, khi lòng đầy băng giá mỗi tiết thu về. Nàng chắc hẳn bây giờ cũng nhận ra lời “người ấy” tiên định mối tình của mình cũng giống như ti gôn, đẹp, mong manh và sớm phai sắc. Cái đáng quý trong con người nàng là tấm lòng chân thật, chân thật với tình đầu và tình cuối. Dám nghĩ và dám nói điều nghĩ phải chăng là một lối hành xử văn hóa, đáng được trân trọng cho dù điều nói ra thật tế nhị, thật quan trọng (hoặc đe dọa) đối với hạnh phúc cá nhân. Điều này thật khó lắm thay khi tâm hồn của mỗi người là một thế giới riêng đầy bí ẩn cần cất giữ, rất tế nhị và khó sẻ chia. Bi kịch của mối tình sắc hoa ti gôn được đẩy lên đỉnh điểm khi nàng thú nhận:
Nhân vật nữ có tấm lòng trinh trắng, bồng bột ngây thơ bao nhiêu trong buổi đầu gặp gỡ, chớm nở tình yêu và thoảng thốt, đau đớn, buồn thương bấy nhiêu khi nhận ra tình yêu đã mất, khi lòng đầy băng giá mỗi tiết thu về. Nàng chắc hẳn bây giờ cũng nhận ra lời “người ấy” tiên định mối tình của mình cũng giống như ti gôn, đẹp, mong manh và sớm phai sắc. Cái đáng quý trong con người nàng là tấm lòng chân thật, chân thật với tình đầu và tình cuối. Dám nghĩ và dám nói điều nghĩ phải chăng là một lối hành xử văn hóa, đáng được trân trọng cho dù điều nói ra thật tế nhị, thật quan trọng (hoặc đe dọa) đối với hạnh phúc cá nhân. Điều này thật khó lắm thay khi tâm hồn của mỗi người là một thế giới riêng đầy bí ẩn cần cất giữ, rất tế nhị và khó sẻ chia. Bi kịch của mối tình sắc hoa ti gôn được đẩy lên đỉnh điểm khi nàng thú nhận:
Từ đấy, thu rồi, thu lại thu...
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người.
Bài thơ ra đời trong giai đoạn đời sống
tinh thần của thanh niên thị thành ở Việt Nam đang
có nhiều xáo trộn, thay đổi. Sự ảnh hưởng của văn hóa phương
Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp tác động không nhỏ tới cách
nghĩ, cách ứng xử, quan niệm về tình yêu, hôn nhân của lớp người trẻ tuổi.
Họ đọc và học theo cách yêu trong thơ mới, trong các tiểu thuyết
lãng mạn nên nhiều khi suy nghĩ có vượt qua khỏi khôn phép, nếp
nghĩ thường nhật. Chuyện tình yêu tay ba hay ngoại tình trong tâm tưởng,
“ngoại tình trong thơ”,… cũng là điều dễ nhận thấy và dễ hiểu, dễ cảm
thông cho một lớp người trẻ tuổi lúc bấy giờ. Nhưng cái điều
khó nói ấy đâu phải dễ sẻ chia, càng không thể xuất hiện
trong lời nói của một thiếu phụ khuê các, có gia thất sang trọng.
Nàng bộc bạch chân thành về mối chung tình với “người ấy” qua những
hành động “lạnh giá”, “ái ân lạt lẽo”, “hững hờ”, mà có thể nói
quá lên là “phản bội” chồng mình. Hình ảnh “người ấy” vẫn chiếm trọn
trái tim nàng, vẫn làm nàng đêm đêm bên chồng mà lòng vẫn thồn thức về bóng
hình người ấy, về màu hoa ti gôn ngọt ngào trong những buổi đầu
hò hẹn, tự tình và say ngất. Câu thơ bây giờ đặc tả lòng
người trong nhịp rung khắc khoải, dồn dập của trái tim thiếu phụ đang
thổn thức khôn nguôi, của tâm trạng đau đớn đến tột cùng
khi đánh mất tình yêu, để sa ngập vào vũng lầy bi kịch tâm hồn
chen lồng với bi kịch gia đình là phải chung sống với người mình
không yêu, sống không tình yêu, không hạnh phúc. Ý thơ là thế, nên nhịp
thơ gấp gáp, đớn đau, chua xót, thê thảm trong mâu thuẫn giằng
xé hiện tại và quá khứ, xa và gần, hi vọng và thất vọng về mình, về chồng
và “người ấy”,…
Bài thơ kết thật tế nhị, đủ để cho
người đọc thấp thỏm, mơ hồ về những kịch bản tiếp theo
của thiên chuyện tình dang dở. Nỗi lòng của người trong cuộc cũng được
gửi theo “chiều thu nhạt nắng mờ”, “chiều thu hoa đỏ rụng”, “chiều
thu gió về lạnh lẽo chân mây vằng”,… để gửi hồn mong nhớ tới người
xưa. Nên kết thúc bài thơ có sự nghịch lý, rõ ràng nói về nỗi
lòng chia xa, đau khổ vì tình yêu tan vỡ, sự thoảng thốt
về sự mất mát khó tin nhưng người đọc vẫn thấy ấm lòng
khi gặp lại sắc hoa năm nào với những nhịp rung của cánh hoa như nhịp
rung thổn thức của trái tim đang đập bồi hồi trong ngực trẻ. Chuyện
tình trong thơ vì thế mà được nhiều người yêu thích, là tiếng
lòng sẻ chia của biết bao người cùng cảnh ngộ qua các thể hệ độc
giả tiếp nối.
Bài thơ là câu chuyện tình diễm lệ đầy nước m¾t
về sự ly tan, hối tiếc, buồn thương của một mối tình đầu.
Bai thơ mang đến một câu chuyện mà được thời gian và hình tượng
nghệ thuật thơ dệt nên như một huyền thoại. Yếu tố mơ hồ,
võ đoán, không xác định được tác giả và bạn đọc qua
các thế hệ chủ tâm hoặc vô tình kết tạo nên càng làm cho sức
sống, sự lan tỏa của bài thơ thêm mãnh liệt và sâu rộng. Tính
mơ hồ về tác giả (T.T.K.H. là ai?), rồi những nghi án liên
quan đến nhà văn Thanh Châu, đến Trần Tuấn Trình (Thâm Tâm) sẽ mãi
còn là ẩn số hấp dẫn mời gọi sự tìm kiếm, giải mã và thưởng
thức.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét