Đồng bằng sông Hồng ứng xử văn hóa
I. Khai thác các tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu
của một số dân quá đông.
Con người và xã hội loài người đã và đang tồn tại trong môi
trường thiên nhiên, hay nói đúng hơn là môi trường thiên nhiên đã được người
hóa - có thể gọi môi trường đó là môi trường sinh thái - nhân văn. Sống và hoạt
động trong môi trường này, bằng trí tuệ và lao động, con người đã và đang không
ngừng khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố của môi
trường nhằm đáp ứng các nhu cầu cuộc sống ngày càng cao của mình và sự phát triển
không ngừng của xã hội. Tuy nhiên chính trong quá trình say sưa nhào nặn thiên
nhiên con người đã không thể lường hết những hậu quả nghiêm trọng đem đến cho
thiên nhiên, và suy đến cùng là hậu quả cho chính con người và xã hội loài người.
Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đưa đến thực trạng môi trường sống
hiện nay xấu đi là do sự ứng xử thiếu văn hóa của con người với môi trường tự
nhiên.
Đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng được khai thác sớm
nhất ở nước ta. Ngay từ những buổi đầu định cư thì thái độ sống hòa hợp, nương
nhờ và thuận theo thiên nhiên là đặc trưng cơ bản của cư dân đồng bằng Bắc Bộ.
Bởi vì phương thức sản xuất nông nghiệp trồng trọt gắn bó chặt chẽ với những điều
kiện thiên nhiên. Việc tạo lập một cuộc sống ổn định là vô cùng cần thiết để
các cư dân nông nghiệp có thể an tâm tạo ra những vụ mùa, những sản phẩm nông
nghiệp nhiều hơn, tốt hơn phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của mình và sự phát triển
của xã hội.
Ngày nay, với sự phát triển của kinh tế, sự gia tăng ồ ạt của
quá trình đô thị hóa thì văn hóa ứng xử của cư dân đồng bằng sông Hồng với môi
trường thiên nhiên cũng đã thay đổi. Sự ứng xử thiếu văn hóa với môi trường
thiên nhiên đã làm cho môi trường cảnh quan của đồng bằng bị biến đổi rất nhiều
và ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng môi trường sống. Trước tình hình như vậy
con người cần phải thay đổi cách ứng xử với tự nhiên, phải lựa chọn cách ứng xử
cho hợp lý để giải quyết xung đột giữa nhu cầu sống, nhu cầu về một môi trường
an toàn, sạch sẽ và cố gắng để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
II. Đặc điểm môi trường tự nhiên đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng còn gọi là đồng bằng Bắc Bộ là vùng đất
màu mỡ, được hình thành do sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng và hệ
thống sông Thái Bình.
Về mặt tọa độ thì đồng bằng sông Hồng trải dài từ 19o53’B đến
21o34’B và từ 105o17’Đ đến 107o07’Đ, có hình dáng điển hình của một vùng châu
thổ, với đáy là đường bờ biển kéo dài 130 km từ trung tâm mỏ than và cảng thành
phố Hạ Long ở phía Bắc, đến điểm cực Nam của tỉnh Ninh Bình ở phía Nam. Đỉnh của
tam giác này thay đổi theo thời gian cùng với sự mở rộng của nó và hiện tượng mực
nước biển rút xuống. Theo GS Trần Quốc Vượng (Việt Nam cái nhìn địa văn hóa,
1998), vào thời kỳ nhà nước Văn Lang, đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng ở gần
thành phố Việt Trì ngày nay. Đến thời kỳ nhà nước Âu Lạc (thế kỷ 3 TCN), đỉnh của
tam giác đã lui xuống vùng Đông Anh (Hà Nội). Hiện nay, đỉnh của tam giác này ở
Hưng Yên.
Nếu vẫn coi đỉnh tam giác là ở Việt Trì, thì diện tích tổng cộng
của đồng bằng sông Hồng khoảng 15.000 km2, bao gồm có 11 tỉnh và thành phố: Hà
Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định,
Hà Nam, Ninh Bình và Hà Tây. (Đến ngày 01/08/2008 tỉnh toàn bộ tỉnh Hà Tây đã
được sát nhập vào thủ đô Hà Nội, vì vậy đến nay về mặt hành chính đồng bằng
sông Hồng chỉ còn có 10 tỉnh).
Phía Bắc của vùng là Miền núi trung du phía Bắc, phía Nam là
Bắc Trung Bộ, hai vùng có tài nguyên khoáng sản lớn cung cấp nguyên liệu cần
thiết cho sự phát triển công nghiệp. Phía Đông là Vịnh Bắc Bộ, một vùng biển
giàu tài nguyên thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế biển.
Như vậy, đồng bằng sông Hồng nằm ở vị trí là tâm điểm của con
đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính: từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống
Nam. Vị trí này tạo điều kiện cho cư dân có thuận lợi về giao lưu và tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại.
Đồng bằng sông Hồng là đồng bằng tích tụ phù sa của hai hệ thống
sông Hồng và sông Thái Bình có địa hình thấp, bằng phẳng, với 55,5% diện tích đồng
bằng ở độ cao từ 0-2m so với mặt biển, 27% diện tích đồng bằng ở độ cao từ 2-4m
và 10% diện tích ở độ cao 4-6m. Tổng số đất ở độ cao dưới 6m chiếm tới 92,5% diện
tích của đồng bằng.
Đồng bằng có khí hậu nhiệt đới gió mùa với một mùa đông lạnh.
Tính chung cả năm, đồng bằng sông Hồng có nền nhiệt độ cao, tổng lượng bức xạ
110-120Kcal/cm2/năm, tổng số giờ nắng 1600-1800h/năm, nhiệt độ trung bình năm
khoảng 23oC, tối cao trung bình trên 26oC và tối thấp trung bình trên 20oC.
Trong năm nhiệt độ có sự phân hóa mạnh thành hai mùa. Mùa đông thường bắt đầu từ
hạ tuần tháng 11 với sự xuất hiện của thời tiết rét, và kết thúc vào khoảng
tháng 4 năm sau, với 3 tháng mùa đông lạnh (tháng 12, 1, 2) nhiệt độ bình quân
thấp nhất biến động trong khoảng từ 16o2 đến 17o8, tạo nên một mùa đông thực sự.
Nhiệt độ trong mùa đông xuống khá thấp, khiến cho mùa vụ ở đồng bằng rất nghiêm
ngặt và tối đa chỉ cấy được 2 vụ. Nhiệt độ xuống thấp tuy cản trở một số cây trồng
nhiệt đới đòi hỏi nhiệt lượng cao song lại cho phép trồng một vụ cây ngắn ngày
ôn đới, khiến cho cơ cấu cây trồng ở đây lại phong phú, đa dạng làm giàu cho bữa
ăn của nhân dân. Mùa hè thường bắt đầu từ tháng 4, 5 và kết thúc vào tháng 10.
Đây là mùa quan trọng nhất và cũng dài hơn cả, rất thuận lợi cho cây cỏ nhiệt đới
phát triển. Thời tiết đặc trưng là nóng, nhiệt độ trung bình trên 25oC, có những
ngày chịu ảnh hưởng của gió Lào nhiệt độ có thể lên đến trên 37oC, gây bất lợi
cho sản xuất và sinh hoạt của người dân.
Đồng bằng sông Hồng có một mạng lưới sông ngòi dày đặc vừa
bao gồm hạ lưu các sông lớn với các chi lưu dày đặc, vừa là hệ thống kênh đào,
có sông đổ ra biển, nhưng cũng có sông chỉ chảy trong phạm vi một ô trũng, gọi
là sông nội địa. Đồng bằng sông Hồng tuy có nhiều sông nhưng quan trọng nhất là
hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Hai hệ thống sông này cung cấp một lượng
nước ngọt lớn và lượng phù sa cao cho đồng bằng. Tuy vậy, chế độ thủy văn và hải
văn của đồng bằng sông Hồng khiến cho vấn đề chống lũ lụt, chống úng và chống mặn
là những mối quan tâm hàng đầu của cư dân nơi đây mà biện pháp an toàn nhất là
đắp đê. Vì thế tuy đắp đê, giữ đê là một công trình rất vất vả, tốn kém, cư dân
đồng bằng sông Hồng từ xa xưa đến nay vẫn phải tự tổ chức sao cho có thể tiến
hành việc đắp đê được vững chắc.
Những điều kiện của môi trường tự nhiên nêu trên đã có ảnh hưởng
rất lớn đến tập quán sản xuất, đến đời sống sinh hoạt của cư dân đồng bằng sông
Hồng. Để có thể thích nghi và khai thác các điều kiện hết sức đa dạng của tự
nhiên thì cư dân đồng bằng sông Hồng đã có những phương thức sống khác nhau
trong những thời kỳ lịch sử nhất định. Điều này được thể hiện rất rõ trong văn
hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của cư dân đồng bằng sông Hồng.
III. Văn hóa ứng xử truyền thống của cư dân đồng bằng sông Hồng
với môi trường thiên nhiên.
1. Văn hóa tận dụng môi trường tự nhiên
Văn hóa ứng xử truyền thống của cư dân đồng bằng sông Hồng với
môi trường thiên nhiên chính là thái độ sống hài hòa với thiên nhiên. Văn hóa ứng
xử hài hòa với thiên nhiên trước hết được thể hiện trong tâm thức của người dân
dưới dạng các quan niệm vừa mang tính bác học, vừa mang đậm triết lý sống dân
gian: “Thiên – Nhân hợp nhất”, “Thiên - Địa - Nhân hòa đồng”…. Đồng thời, lối sống
hài hòa, nương nhờ vào thiên nhiên còn được thể hiện đậm nét trong nếp làm, nếp
ăn, nếp mặc, xây cất nhà cửa, đi lại, chữa trị bệnh tật…
1.1. Tập quán sản xuất
Đồng bằng sông Hồng được hình thành chính là nhờ sự bồi đắp
phù sa của hai con sông lớn: sông Hồng và sông Thái Bình, song cho đến ngày
nay, người ta vẫn quen gọi nó là đồng bằng sông Hồng. Những cứ liệu sử học và
khảo cổ học cho thấy, sau đợt biển tiến cách ngày nay chừng 3000 năm, lần theo
dòng chảy của các dòng sông, tổ tiên người Việt từ những vùng trước núi đã tràn
xuống đồng bằng. Chính môi trường tự nhiên với những ưu điểm của một vùng đất
màu mỡ nhờ phù sa bồi đắp, nguồn nước ngọt phong phú, khí hậu nhiệt đới gió mùa
rất thích hợp cho hoạt động nông nghiệp đặc biệt là việc trồng lúa nước đã giữ
chân được những người đi khai phá.
Trong những buổi đầu sơ khai, đất rộng, người thưa thì cách ứng
xử của cư dân ở đây với môi trường tự nhiên chủ yếu là thích nghi và lợi dụng tự
nhiên. Họ tập trung khai thác trên các sống đất cao, các đồi sót, các cồn cát nổi.
Họ lợi dụng thủy triều để dẫn nước vào ruộng và tháo nước ra sông biển. Nhân
dân thời kì này chủ yếu là thích nghi với chế độ triều và chế độ lũ mà canh
tác, hoặc khi lấn vùng triều bãi tiền châu thổ thì cũng chỉ đắp bờ bao cho một
vùng nhỏ, ở vùng cửa sông, nước lũ không cao, phía biển thường đắp bờ dựa vào
các cồn cát, chỉ khi triều kết hợp với bão to mới phá hủy nổi.
Nhưng từ thế kỷ XV trở đi, dân số ngày càng nhiều và tăng
nhanh thì nhu cầu thâm canh, tăng vụ, mở rộng đất đai trở nên cấp bách . Cùng với
việc quai đê lấn biển mở rộng diện tích, cư dân đồng bằng sông Hồng thời kỳ này
còn biết khai thác tính đa dạng của tài nguyên thiên nhiên để bù đắp cho số lượng
sản phẩm tương đối hạn chế của từng giống loại. Đồng bằng sông Hồng tuy có hai
mùa nóng lạnh rõ rệt, nhưng mùa đông với nhiệt độ dưới 18oC kéo dài tới 3 tháng
rất thích hợp với những cây chịu lạnh, như các loại rau, quả, khoai tây, bắp cải… Vì
vậy, cư dân ở đây đã dần dần đa dạng hóa cơ cấu giống cây trồng, trong mỗi giống
lại có nhiều loài khác nhau, thích hợp với từng chất đất, từng điều kiện tiểu
khí hậu. Công cụ sản xuất và kỹ thuật sản xuất được cải tiến mạnh, phân bón được
sử dụng rộng rãi.
Từ đầu thế kỷ XX, người nông dân đồng bằng sông Hồng đã sử dụng
những phương pháp, kỹ thuật canh tác tinh vi phù hợp với các môi trường khác
nhau nhằm một mục đích duy nhất là sản xuất được tối đa trên một diện tích trồng
trọt. Trong thời kỳ này ít nhất cũng có trên 300 loại lúa ở vùng châu thổ, 200
loại lúa tháng mười và 100 loại lúa tháng năm (Pierre Gourou, người nông dân
châu thổ Bắc kỳ). Mỗi loại có một đặc tính riêng trong những hoàn cảnh riêng biệt
như khả năng chịu hạn, khả năng chịu úng sâu, chấp nhận được đất cằn hoặc chống
được mưa rào, trỗ sớm hay muộn, chịu được nước lợ, thích hợp với loại đất nặng
hay nhẹ. Người nông dân nắm được đầy đủ các đặc tính đó và họ đã chọn loại
thích hợp nhất cho mỗi nơi riêng biệt. Để tăng suất cây trồng, người nông dân
hoàn toàn hiểu biết về lợi ích của phân bón và cũng cố gắng bón nhiều phân cho
đồng ruộng. Mặc dù không có nhiều tiền để mua phân bón hóa học song người nông
dân đã biết cách sử dụng mọi nguồn phân hữu cơ có được từ môi trường tự nhiên:
xác tôm cá làm nước mắm từ các trung tâm đánh cá, bã tràm, tro rơm rạ… Nông dân
cũng hiểu rõ giá trị của phân xanh, họ đào hố để ủ lá thầu dầu, lá xoan, lá sắn,
lá rụng của khoai lang, đậu, lục bình. Khi nguồn phân xanh không đủ, họ còn biết
tận dụng bùn ao để bón ruộng, họ dùng vôi để khử độ chua quá nhiều của một số đất…Cách
sử dụng nguồn phân bón lấy từ thiên nhiên như trên vừa giảm được chi phí sản xuất
vừa không gây ô nhiễm môi trường.
Đến nay, tuy là một đồng bằng châu thổ phì nhiêu, có truyền
thống trồng lúa nước lâu đời, nhưng lại chịu một sức ép mật độ dân số khá cao
so với các vùng khác trong nước, khả năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp là
ít nên đồng bằng sông Hồng từ lâu đã đi vào hướng thâm canh cây lúa và ngày
càng đạt trình độ cao. Sự gia tăng mùa vụ (hệ số sử dụng đất là 2,1) việc gieo
trồng các lúa mới cho năng suất cao, ngắn ngày, chịu sâu bệnh và môi trường khắc
nghiệt (úng, hạn, chua, mặn…), đi đôi với các biện pháp thủy lợi hóa, cơ giới
hóa, hóa học hóa đã tạo nên những biến đổi khá cơ bản trong nông nghiệp đồng bằng
sông Hồng theo hướng thâm canh tăng vụ. Những biện pháp thâm canh theo kinh
nghiệm cổ truyền “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” đã được kế thừa và
phát triển trên cơ sở khoa học – kĩ thuật hiện đại. Cùng với việc thâm canh
tăng vụ thì cơ cấu cây trồng ở đồng bằng đã được mở rộng và đa dạng hơn trước rất
nhiều. Cây lúa tuy chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu cây trồng của đồng bằng
nhưng không còn ở vị trí độc tôn như trước, bên cạnh sản xuất lương thực thì việc
sản xuất rau, đậu, cây ăn quả, cây công nghiệp cũng rất đang được chú trọng, nhằm
khai thác có hiệu quả hơn các loại tài nguyên thiên nhiên của đồng bằng.
Là một châu thổ nhiều sông ngòi, kênh mương, hồ ao, diện tích
phủ nước khá lớn, nhất là về mùa mưa, cư dân từ lâu đời có truyền thống ưu tiên
sử dụng đạm thủy sản, nên bên cạnh canh tác lúa, ở đồng bằng sông Hồng đã phát
triển nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, kể cả việc nuôi cá ngay trên chân
ruộng đang trồng lúa, cũng là một biện pháp thâm canh tăng năng suất loại cây
trồng này. Đây là kinh nghiệm lâu đời của cư dân đồng bằng sông Hồng. Thừa kế
tài sông nước và đánh cá của người Lạc Việt, từ mấy nghìn năm trước, họ đã thấy
rõ lợi ích của việc nuôi cá "thứ nhất canh trì, thứ nhì canh viên, thứ ba
canh điền". Nhất nuôi cá, nhì làm vườn, ba làm ruộng. Hay là, "cơm với
cá như mạ với con". Đồng bằng sông Hồng có nhiều ao, có nơi "đào
đá" "vượt thổ" để có đất cư trú. Vì vậy, về sau với sức ép của
dân số đông, đất chật thì người nông dân không thể sống với việc làm nông nghiệp
thuần túy được nữa. Họ đã đã biết cách kết hợp giữa làm ruộng với làm vườn,
chăn nuôi gia súc, gia cầm với thả cá vừa tận dụng được tối đa các nguồn tài
nguyên thiên nhiên vừa tăng năng suất, đa dạng hóa được sản phẩm, phần nào đáp ứng
được nhu cầu của gia đình. Cho nên, cùng nhà ở, một số nông dân còn cả vườn và
ao với cách bố trí "trước cau, sau mít, cá vít chân bèo", cùng với
chuồng nuôi gia súc, gia cầm.
Lịch sử phát triển nông nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng cho
thấy bên cạnh cây lúa truyền thống, còn có con trâu, con lợn. Cùng với chăn
nuôi, nghề thủ công làm cho kinh tế tiểu nông càng thêm đa dạng nhằm giải quyết
cái ăn, cái mặc, cái ở cho nông dân. Cho tới cách mạng tháng Tám, có hàng trăm
nghề thủ công khác nhau ở đồng bằng sông Hồng, trong đó nổi lên ba nghề chính
là dệt, gốm và luyện kim. Các nghề thủ công ở đây có lịch sử từ rất lâu đời và
chúng ra đời hầu hết là dựa trên các nguồn tài nguyên sẵn có của đồng bằng, và
phần nào đó tận dụng thời gian nhãn rỗi của người nông dân, nhất là nông dân ở
vùng đồng bằng chiêm trũng trong năm chỉ cấy có một vụ nên thời gian nông nhàn
nhiều.
1.2. Văn hóa sinh hoạt đời sống vật chất (ăn, mặc, ở)
Trong văn hóa đời thường, sự khác biệt giữa văn hóa Bắc Bộ và
các vùng khác trong cả nước chính là được tạo ra từ sự thích nghi với thiên
nhiên, không thể tách rời các đặc điểm của tự nhiên. Trước hết, cách ứng xử với
thiên nhiên trong nền văn hóa cổ truyền của cư dân đồng bằng sông Hồng, người
ta coi tính hợp lý là quan trọng hàng đầu. Ăn hợp lý, ở hợp lý và làm
nhà phải hợp lý.
1. 2.1. Kiến trúc nhà cửa
Lối xây dựng nhà ở, kiến trúc phải tận dụng và thuận theo
thiên nhiên, từ việc chọn hướng, đến việc sử dụng các nguyên vật liệu: tranh,
tre, nứa lá vốn rất sẵn trong thiên nhiên. Ứng xử với thiên nhiên, người nông
dân đã có lý khi chọn hướng Nam làm cửa chính của ngôi nhà. Bởi vì đồng bằng
sông Hồng nói riêng và nước ta nói chung là một nước nhiệt đới gió mùa, phía
Đông là biển, phía tây là núi, với hai mùa gió chính: gió Đông Bắc khô, lạnh về
mùa đông và gió Đông Nam mát mẻ về mùa hè. Do đó, trong 4 hướng chính, hướng
Nam có nhiều ưu thế hơn cả: một mặt tránh được cái gió bấc giá lạnh, khô hanh từ
phương Bắc về mùa đông, cái gió khô nóng (gió Lào) từ phía Tây về mùa hè, vừa
tránh được gió bão từ biển Đông. Tục chọn đất, xem phong thủy để xây cất nhà cửa,
đặt mồ mả…cũng là một cách làm có khoa học để sống “thuận” theo thiên nhiên của
người nông dân.
Tính hợp lý trong ứng xử với thiên nhiên được biểu hiện thông
qua các giá trị sử dụng, thông qua sự tiện dụng của ngôi nhà. Ngôi nhà lí tưởng
của cư dân đồng bằng sông Hồng được ưu tiên theo thứ tự các tiêu chí như: “Nhất
cận thị. Nhị cận lân. Tam cận giang. Tứ cận lộ. Ngũ cận điền”. Cư dân đồng bằng
sông Hồng coi tính hợp lí gắn với ăn, ở, đi lại và các giao tiếp thuận lợi. Họ
ít muốn đi lại, vì cái gì cũng gần: gần chợ, phố phường, gần sông, gần đường
đi, gần ruộng đồng. Điều đó cũng xuất phát từ lối sống định cư của người làm
nông nghiệp trồng trọt, đặc biệt là cư dân trồng lúa nước.
Sự thích ứng với môi trường tự nhiên trong nếp ở của cư dân đồng
bằng còn được thể hiện rất rõ trong việc lựa chọn các nguyên vật liệu xây nhà
và trong cách thiết kế cấu trúc nhà cửa.
Nguyên vật liệu dùng để dựng nhà cửa thường được cư dân đồng
bằng sông Hồng tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có trong thiên nhiên. Như thế vừa
rẻ, vừa tiết kiệm vừa tạo ra môi trường cảnh quan sinh thái hài hòa với thiên
nhiên. Cột kèo khung gỗ thường dùng gỗ xoan, tre ngâm, xoan tre đều là tự trồng.
Tường nhà dùng vật liệu địa phương như tường đá ong ở vùng Sơn Tây, tường bằng
gạch “cay” (đất không nung) ở Nam Định, Ninh Bình…Gạch ngói thường được làng,
huyện tự sản xuất, vì đất sét ở đâu cũng có, chỉ cần kiếm được chất đốt lò. Mái
nhà thì được lợp bằng rơm hoặc lá gối. Người nông dân Bắc Bộ thường muốn xây dựng
ngôi nhà của mình theo kiểu bền chắc, to đẹp, tuy nhiên vẫn hòa hợp với cảnh
quan.
Trong phong tục tập quán của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ,
có thể thấy tập quán ăn uống có quan hệ rất mật thiết với sinh thái môi trường,
đặc biệt là nguồn lương thực và thực phẩm, họ tận dụng triệt để những sản vật vốn
có của thiên nhiên. Đồng bằng từ xưa do vẫn sinh hoạt bằng nghề cày cấy và nghề
chài lưới cho nên hai thứ đồ ăn chủ yếu của người dân là gạo và cá.
Ngoài việc sử dụng lương thực, thực phẩm có sẵn trong thiên
nhiên, cư dân trong vùng còn chế biến món ăn phù hợp với thời tiết, khí hậu. Tại
vùng đồng bằng sông Hồng, nếu xét theo nhiệt độ có hai mùa nóng, lạnh. Vào mùa
nóng, người dân hay thích ăn rau quả, tôm, cua, cá là những thứ hàn. Khi chế biến
người ta hay ăn luộc, tái, gỏi, ưa những món canh chua, rau sống và các thứ chè
để giải nhiệt…. Còn mùa lạnh, họ lại thích các món làm theo kiểu xào, rán hoặc
khi nấu canh thì cho nhiều mỡ để giữ nhiệt cho cơ thể. Các gia vị có tính chất
cay, chua, đắng, quen thuộc với cư dân Trung Bộ, Nam Bộ lại không có mặt trong
bữa ăn của người Việt Bắc Bộ nhiều lắm. Người dân đồng bằng sông Hồng mà tiêu
biểu là người Thăng Long – Hà Nội nổi tiếng sành ăn, tinh tế trong lựa chọn và
chế biến món ăn, khi ăn uống luôn giữ được vẻ thanh lịch của người đang thưởng
thức cái ngon cái đẹp. Ăn uống của người Hà Nội không đơn giản chỉ là cung cấp
nguồn năng lượng duy trì sự sống của con người mà nó đã được nâng lên thành một
nghệ thuật – nghệ thuật ẩm thực. Vẫn là công thức muôn thuở của bữa cơm Việt
Nam ở mọi miền đất nước: cơm + rau + cá, thịt… nhưng với sự chế biến tài ba của
những đầu bếp Hà Nội, bữa ăn trở nên đậm đà hương vị, màu sắc, tạo cho người ăn
cảm giác ngon miệng, thích thú khó quên. Cách ứng xử thanh lịch trong ẩm thực của
người Hà thành là biết cách chọn các cây gia vị của tự nhiên trong khung cảnh
Hà Nội. Hà Nội có vùng Láng trồng nhiều cây rau gia vị rất nổi tiếng. Người Hà
Nội ăn trong khung cảnh tự nhiên và màu sắc kỳ thú.
Cách uống của cư dân đồng bằng sông Hồng cũng rất đa dạng, thể
hiện cách ứng xử thanh lịch, tận dụng luôn những cây lá có sẵn trong thiên
nhiên. Lấy ngay việc uống chè cũng thấy muôn màu muôn vẻ. Chè là loại lá có
tính mát, giải độc, là thức uống quen thuộc bên cạnh nước vối, nước lá… Cũng là
cách uống chè tươi, nhưng người dân Thái Bình thích trồng chè, lấy lá pha chè
vì như thế chất đất và chất nước mới hợp. Vùng quanh Hà Nội thì để nguyên cả
lá, hãm nước sôi cho vào tí gừng để giữ ấm mùa đông. Vùng Bắc sông Hồng thì phải
giã, ủ, phơi xong mới nấu. Người mạn Nam sông Hồng thì thường giã xong là đem nấu.
Đó vừa là thứ nước uống dân dã tận dụng cây cỏ trong vườn nhà, vừa là bài thuốc
chữa các bệnh nhiệt, khó tiêu thường ngày. Do khí hậu nóng quanh năm nên phần lớn
người dân đồng bằng sông Cửu Long có tập quán pha trà sẵn loãng trong bình to để
uống thường xuyên trong ngày, không câu nệ chọn lựa trà và thường uống trong những
cái tô, cái chén to. Trong khi đó với thời tiết nhiều tháng trong năm lạnh và ẩm
ướt, người dân sông Hồng lại ưu uống trà nóng, đậm và xem trà như một thứ văn
hóa tao nhã, từ tốn. Bởi vậy, với cư dân đồng bằng sông Hồng uống trà mang ý
nghĩa thưởng thức nhiều hơn là mục đích giải khát như cư dân vùng sông nước Cửu
Long.
Ẩm thực đối với con người vùng Bắc Bộ không chỉ đáp ứng yêu cầu
dinh dưỡng sinh học mà nó đã trở thành một nền văn hóa-văn hóa ẩm thực hài hòa
với tự nhiên, vừa điềm đạm vừa tinh tế, sáng tạo.
1.2.3. Trang phục truyền thống
Cách mặc của người dân Bắc Bộ cũng là một sự lựa chọn thích ứng
với thiên nhiên châu thổ Bắc Bộ. Sự thích ứng này được thể hiện từ việc lựa chọn
màu sắc, chất liệu may mặc cho đến việc hình thành cách thức trang phục.
Từ xưa cư dân đồng bằng sông Hồng đã biết lựa chọn các chất
liệu may mặc có sẵn trong tự nhiên, các chất liệu thực vật đặc thù như tơ chuối,
tơ đay, gai, sợi bông phù hợp với điều kiện khí hậu nóng, ẩm, đem lại những sản
phẩm độc đáo. Nổi tiếng nhất đó là chất liệu làm bằng lụa. Trang phục bằng lụa
vốn được dân ta từ xưa đến nay ưa thích, mùa hè mặc thì mát, mùa đông mặc thì ấm.
Để có được nhiều lứa tằm trong năm, người Việt đồng bằng sông Hồng đã tạo ra được
nhiều giống tằm khác nhau phù hợp với thời tiết nóng, lạnh, khô, ẩm như giống tằm
Bối bát tàm (ươm tháng 3), Thái tàm (ươm vào tháng 4), Nguyên tàm (tháng 5), Ái
tàm (tháng 6), Hàn tàm (tháng 10). Từ tơ tằm người dân đã dệt nên nhiều loại sản
phẩm phong phú như: tơ, lụa, lượt, là, vóc, nhiễu, the, đoạn, lĩnh, đũi, nái, sồi… mỗi
loại có hàng chục mẫu mã khác nhau. Lụa không chỉ là vật liệu may mặc trong nước
mà xưa kia còn là món cống vật quý được vua chúa phương Bắc ưa dùng. Trong tâm
thức của người Việt đồng bằng sông Hồng vì vậy luôn có niềm tự hào về một vùng
đất lụa trù phú.
Sắc màu trang phục của đồng bằng Bắc Bộ cũng nói lên cảm quan
thẩm mỹ của con người sống chan hòa giữa thiên nhiên của cư dân đồng bằng châu
thổ với nền văn minh lúa nước. Màu thường gặp của trang phục là màu thâm (hoặc
đen) như váy, quần, khăn, có khi cả áo, màu nhuộm được lấy từ cây cỏ quanh nhà
như lá sồi, lá bàng, vừa bền màu vừa dễ tìm. Gần với mầu thâm là mầu nâu, màu
ưa chuộng và đặc trưng của y phục miền Bắc. Màu nâu già nhuộm nhiều nước, giãi
nhiều nắng, lại nhấn thêm bùn ngả sang nâu đen, là màu sắc của người thôn quê
“ăn chắc mặc bền” suốt năm quen thuộc với vất vả nơi đồng ruộng. Người trẻ đỏm
dáng hơn thì ưa màu nâu non, nền vải ngả từ nâu sang hơi đỏ sậm, rất hợp với nước
da của các cô gái đồng quê trong những ngày nhàn nhã. Màu hay dùng, có vẻ hơi
“sang” một chút là mùa tam giang (ngả màu giữa nâu và đen) là màu nhã nhặn, hợp
với tuổi già. Mùa hoa hiên (ngả giữa cam và đỏ) là màu ưa thích của các cụ già
nông thôn hay may yếm (yếm hoa hiên), vì thế trong quan niệm thời trang dân gian
nó được gọi là “màu quê mùa”.
Tóm lại, sống gắn bó, hài hòa với thiên nhiên là cách ứng
xử thông minh và phù hợp nhất của con người đồng bằng sông Hồng với môi trường
thiên nhiên trải qua hàng nghìn năm nay. Văn hóa ứng xử theo kiểu hòa hợp với
thiên nhiên có mặt tích cực rất đáng quý đó là làm cho con người sống luôn gắn
bó với thiên nhiên, biết tôn trọng và bảo vệ sự cân bằng của các hệ sinh thái tự
nhiên, các cảnh quan; biết dựa vào thiên nhiên để hồi phục sức lực của mình; có
đầu óc quan sát, suy nghĩ bao quát.
2. Văn hóa ứng phó với môi trường thiên nhiên, ứng phó với
thiên tai
Các điều kiện của môi trường thiên nhiên đồng bằng sông Hồng
thường là không ổn định. Khí hậu nhiệt đới gió mùa đã tạo ra những hệ sinh thái
rất phong phú, đa dạng nhưng hết sức mong manh, dễ bị tổn thương. Mưa, gió,
bão, lũ thất thường buộc con người phải có thế ứng xử phù hợp thì mới tồn tại
và phát triển được. Cư dân ở đây không chỉ biết tận dụng thiên nhiên, mà còn biết
cố kết cộng đồng ứng phó tài tình, uyển chuyển trước những tác động khắc nghiệt
của môi trường sống.
2.1. Văn hóa ứng phó với môi trường thiên nhiên trong hoạt động
sản xuất
Đối với những cư dân vùng đồng bằng sông Hồng, một trong những
khó khăn lớn nhất chính là nạn lụt lội vào mùa mưa bão. Sông Hồng mang đến cái
lợi bồi đắp phù sa cho đồng bằng, song cũng là mối lo cho người dân vì thường
gây ra lụt lớn. Để chống chọi với thiên nhiên, những người nông dân đã rất quan
tâm đến vấn đề thủy lợi. Ngay từ thế kỉ thứ I sau C.N, đồng bằng sông Hồng đã
có nhiều kênh ngòi (Hậu hán thư), huyện Phong Khê (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc) có
đê phòng lụt (Giao châu kí). Hệ thống đê có nhiều tác dụng, ngoài việc ngăn chặn
nước lũ lụt, nó còn giữ nước ở một số vùng và mở rộng diện tích ra phía biển.
Ngày nay, hệ thống thủy lợi lại càng được chú trọng phát triển
và hoàn thiện dần. Vùng đồng bằng sông Hồng hiện có khoảng 55 hệ thống thủy
nông, thủy lợi vừa (bao gồm: 500 cống, 1.700 trạm bơm điện chính, 35.000 trạm
bơm nhỏ nội đồng, hơn 5 vạn kênh trục chính (cấp I, II, III), 35 hồ chứa (dung
tích từ 0,5 – 230 triệu m3) cùng nhiều hồ chứa nhỏ, đã đảm bảo tưới cho 765.000
ha (trong đó, tưới lúa mùa khoảng 580.000 ha, màu và cây công nghiệp dài ngày
7.000 ha), diện tích được tiêu khoảng 510.000 ha. Qua nhiều năm hoạt động, hệ
thống công trình thủy lợi đã góp phần tạo ra những hiệu quả to lớn trong phục vụ
tưới, tiêu cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, tạo nguồn cung cấp nước
sinh hoạt, công nghiệp, tiêu nước cho các khu dân cư, cải thiện môi trường sinh
thái.
2.2. Văn hóa ứng phó với môi trường thiên nhiên trong đời sống
sinh hoạt vật chất
2.2.1. Kiến trúc nhà cửa
Dân gian ta hay mơ ước có “nhà cao cửa rộng”, đó không chỉ là
ước muốn về một cuộc sống sung túc mà còn là một kinh nghiệm được rút ra qua
quá trình đối phó với điều kiện tự nhiên. Cái “cao” của ngôi nhà gồm hai yêu cầu:
thứ nhất là nơi con người đặt chân phải cao hơn so với mặt đất để đối phó với
nước nôi, lụt lội, ẩm ướt, côn trùng. Một ngôi nhà lý tưởng là nhà phải có nền
cao, nhà những người có của, nhà địa chủ, các dinh thự đều làm nền cao. Ở những
nơi hay ngập lụt, nền nhà cứ phải đắp cao lên dần. Yêu cầu “cao” thứ hai là mái
phải cao hơn so với nơi người đặt chân (sàn hoặc nền) nhằm tạo ra một khoảng rộng,
thoáng mát trong nhà để đối phó với nắng nóng. Mái cao còn tạo độ dốc lớn đối
phó với lượng mưa nhiều, giúp cho nước thoát đều tuân thủ chặt chẽ yêu cầu này.
Tuy nhiên mái cao phải tỷ lệ hợp lý với bề ngang theo nguyên tắc “nằm ba ngồi
hai”. Riêng nhà ở ven biển, nơi có nhiều gió thì mái nhà phải làm thấp để tránh
bão.
Nhà đã “cao” rồi thì phải có “cửa rộng”. Cửa làm rộng chứ
không làm cao để tránh cái nắng xiên khoai và tránh bị mưa hắt. Ngoài ra, người
ta còn đan những tấm mành lớn bằng tre nứa đặt trước cửa để cản bớt bức xạ nhiệt
trực tiếp từ mặt trời và bức xạ nhiệt từ sân hắt vào. Dân ta còn tạo ra một
vành đai tạo bóng mát quanh nhà và hắt mưa ra xa chân các cột gỗ, đó là đầu dưới
của mái nhà (gọi là giọt gianh). Làm “cửa rộng” để đón gió thổi vào nhà cho
thoáng mát, tránh nóng, nhưng đồng thời lại phải tránh gió độc, gió mạnh, bởi vậy
kinh nghiệm dân gian tuyệt nhiên không làm cổng và cửa thẳng hàng (cửa chính
thường ở giữa nhà, còn cổng thường lệch về một bên), tuyệt đối tránh để con đường
trước mặt đâm thẳng vào nhà. Trong trường hợp bất khả kháng thì phải làm tấm
bình phong bằng cách trồng cây xanh hoặc sân gạch để ngăn bớt gió thổi thẳng
vào nhà và phân tán chúng sang hai bên.
Mưa và mặt trời buộc người ta phải quan tâm nhiều nhất đến
mái nhà. Mái thường có độ dốc lớn để đảm bảo thoát nước mưa một cách tốt nhất.
Mái nhà lợp bằng rơm hoặc lá gối, dày hay mỏng tùy theo lượng rơm có được, những
nhà khá giả lợp mái rơm dày tới hơn 30 cm, bền lâu và chống nhiệt rất tốt. Nhà
giàu lợp mái ngói, gồm lớp ngói lót ở dưới và lớp dui mè gần kín tạo nên một lớp
cách nhiệt rất hiệu quả.
Tường nhà làm bằng đất để bảo vệ con người khỏi thời tiết
nóng, lạnh goi là “tường trình phên nứa”. Vách được làm bằng phên tre đan thưa
rồi lấy bùn trộn rơm rạ trát lên vừa không nứt vừa bảo vệ tre, chống được mối mọt.
Những gia đình giàu có thì xây tường gạch nung, có nơi tận dụng ngay vôi tả trộn
với xỉ lò vôi hoặc xỉ than để đóng gạch (còn goi là gạch bi), kích cỡ lớn hơn gạch
nung, đem phơi nắng một thời gian, gạch bi trở nên cứng và dùng rất tốt. Ngày
nay, người ta thêm một ít xi măng để tăng cường độ chống thấm nước. Xã Hải
Chính (Hải Hậu – Nam Định) là vùng ảnh hưởng của nước ngầm mạnh, người ta dùng
gạch xỉ làm móng nhà để chống nước mặn vào móng và tường. Nhà giàu hơn thì mua
gỗ tốt về trạm trổ hoa văn ốp vào tường. Vùng đất Sơn Tây nắng gió khắc nghiệt,
vì vậy người dân nơi đây đã sử dụng đá ong để xây nhà, vừa tránh được sự xói
mòn của mưa lớn, vừa giữ được không khí mát mẻ của mùa hè.
2.2.2. Trang phục truyền thống
Sự khác biệt nhất lớn về điều kiện tự nhiên giữa đồng bằng
sông Hồng và các đồng bằng khác trong cả nước đặc biệt là các đồng bằng phía
nam là sự khác biệt về khí hậu. Đồng bằng sông Hồng có một mùa đông lạnh, trong
đó có tới 3 tháng nhiệt độ dưới 18oC. Và để đối phó với lạnh, cái rét như cắt
da cắt thịt thì trong trang phục ngoài váy yếm, chiếc áo dài tứ thân người dân ở
đây còn có thêm áo kép, áo mền. Áo kép thêm một lần lót trong tạo nên vẻ đẹp
kín đáo của người phụ nữ, áo mền cũng tương tự như áo kép nhưng giữa hai lần vải
ngoài còn có lớp dựng bằng vải dày thô. Áo bông thì chần quân cờ, vừa bền, ấm vừa
đẹp, mặc khi đi chơi hoặc đi làm. Mùa đông ở vùng đồng bằng không thể không nhắc
tới áo tơi tránh mưa, tránh gió rét và có khi mùa hè còn dùng để tránh nóng nữa.
Áo tạo bằng lá gối , tách từng rẻ nhỏ rồi ken lại với nhau thành từng lớp, dài
từ cổ tới gấu. Khi mặc, người ta choàng quanh người, thít dây buộc cổ lại vừa tầm
vai. Ngoài ra, vào mùa rét phụ nữ còn chít khăn vuông, phân biệt với phụ nữ miền
châu thổ sông Cửu Long ưa đội khăn rằn. Có nhiều cách chít khăn tùy theo thời
tiết và phong tục địa phương. Khi trời rét đậm, phụ nữ đi ra đường thường chít
khăn xuống cằm hay chỉ trùm phần tóc vấn theo kiểu chít khăn mỏ quạ. Để tránh
cái nắng “rám má hồng”, các cô đội khăn mép sát lông mày, quấn chéo hai đuôi
khăn che kín cả miệng, mũi chỉ để hở hai mắt.
Để đối phó với nắng mưa, dân ta rất coi trọng trang phục đội
đầu, tiêu biểu là cái nón. Người nông dân nơi đồng quê dầm mưa, dãi nắng cả
ngày ngoài đồng không thể thiếu chiếc nón đội đầu. Nón nông và dày, khâu bằng sợi
móc chắc, có khi còn lót mo cho thêm dày, lá nón thường là thứ lá cọ của vùng
trung du Phú Thọ, Vĩnh Phúc. Loại nón đặc trưng cho dân Kinh Bắc - Hà Nội là
nón thúng. Nón làm bằng lá, mặt phẳng và rộng, thành cao được ken bằng lá cọ mỏng,
khâu bằng móc trắng, phía trong thêu hoa văn hoặc dùng những mảnh gương nhỏ xếp
hình hoa và rồng phượng, vừa đẹp lại vừa là tấm gương soi để các cô kín đáo sửa
tóc sửa mày.
Qua những nét trang phục tiêu biểu đó, cư dân vùng Bắc Bộ đã
thể hiện được sự sáng tạo của mình. Họ vừa biết tận dụng thế mạnh của nền văn
minh nông nghiệp để tạo ra những trang phục rất linh hoạt vừa thích nghi vừa đối
phó lại với những điều kiện khắc nghiệt của môi trường tự nhiên, vừa biến trang
phục thành những vật trang điểm làm đẹp cho con người.
IV. Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của cư dân đồng bằng
sông Hồng trong những năm gần đây.
1. Thực trạng môi trường tự nhiên đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng đóng vai trò quan trọng trong lịch sử
phát triển của dân tộc ta. Từ xa xưa người dân sống ở nơi đây đã không ngừng
vươn lên làm chủ thiên nhiên. Ý thức làm chủ đó được thể hiện bằng hệ thống đê
điều luôn được xây dựng và củng cố. Từ đó năng lực tưới tiêu được củng cố, sản
lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp được nâng cao, tạo nên cảnh quan trù phú
của vùng đồng bằng châu thổ. Trong vài năm trở lại đây, đồng lúa xanh rờn với
các hệ thống kênh mương và các quần cư nông thôn rợp bóng cây không còn chiếm vị
trí độc tôn trong cảnh quan nữa. Thêm vào đó, các đô thị được mở rộng, các khu
công nghiệp mọc lên với các hệ thống cơ sở hạ tầng bề thế kéo theo mạng lưới
giao thông, cầu cống, bến cảng hiện đại. Ngay trong nông thôn, nền nông nghiệp
độc canh với mật độ dân số cao đã đòi hỏi sự phục hồi và mở rộng các nghề thủ
công với cơ sở hạ tầng còn yếu kém. Điều đó đã làm cho bộ mặt của quần cư thay
đổi và ảnh hưởng không ít tới môi trường.
1.1. Sự biến đổi của môi trường cảnh quan
Đồng bằng sông Hồng là đồng bằng được khai phá sớm nhất nước
ta, từ hàng nghìn năm trước. Để chinh phục vùng đồng bằng đầm lấy với rừng rậm
nhiệt đới và lau sậy mọc um tùm khắp nơi và để phát triển được nghề trồng lúa
nước, ông cha ta đã biết bền bỉ trị thủy và làm thủy lợi. Việc đắp các đê sông,
đê biển cải tạo đồng bằng quy mô lớn bắt đầu từ triều Lý và kéo dài cho đến
ngày nay. Hiện nay, việc trị thủy sông Hồng được tiến hành tổng hợp: cả củng cố
hệ thống đê điều, nạo vét lòng sông và đặc biệt nhờ vai trò cắt lũ của công
trình thủy điện Hòa Bình, trong tương lai còn có thêm công trình thủy điện
Tuyên Quang và thủy điện Sơn La.
Đồng bằng vốn có nhiều ô trũng được bao bọc bởi các nhánh
sông, do có hệ thống đê mà các ô trũng càng trở nên trũng hơn, vì hầu hết diện
tích đồng bằng là đất phù sa không được bồi đắp hàng năm.
Nền nông nghiệp lúa nước đã làm nền tảng cho sự hình thành nền
văn minh Việt cổ - nền văn minh sông Hồng. Nền nông nghiệp lúa nước, định canh,
định cư, với các hệ thống canh tác tạo ra năng suất cây trồng cao đã cho phép
nuôi sống khối dân cư đông đúc và làm cho đồng bằng sông Hồng trở thành vùng có
mật độ dân số cao nhất cả nước. Sức ép dân số đòi hỏi cư dân đồng bằng sông Hồng
không ngừng khẩn hoang, chinh phục vùng đất nơi mình sống. Việc nuôi trồng lúa
nước đã làm thay đổi căn bản đặc điểm của đất lúa nước, thay đổi địa hình đồng
bằng, làm thay đổi căn bản các khu hệ động thực vật hoang dại, tạo ra các hệ
sinh thái đồng ruộng lúa nước. Nền nông nghiệp lúa nước thâm canh cao hiện nay
sử dụng nhiều phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật và đang đe dọa ô
nhiễm môi trường đất và môi trường nước, nhất là ở vùng nông nghiệp ngoại
thành.
Đồng bằng sông Hồng là vùng tập trung công nghiệp lớn thứ hai
ở nước ta, tốc độ tăng trưởng công nghiệp trong vùng hiện nay khá cao, nhất là ở
vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đã làm cho không gian công nghiệp, giao thông và
đô thị vùng có sự thay đổi rất lớn so với trước. Đồng bằng sông Hồng hiện nay
là vùng lãnh thổ có mật độ đô thị dày đặc nhất cả nước. Tính trung bình cứ 12km
lại gặp một đô thị. Đây cũng là vùng có cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, thủy
lợi… khá phát triển. Trong vùng có đầy đủ các loại hình giao thông vận tải từ
đường bộ đến đường sắt, đường thủy, đường biển đến đường hàng không. Các hệ thống
đường này không chỉ tập trung trong nội vùng mà còn tỏa rộng ra khắp các vùng
khác và quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho sự mở rộng giao lưu của vùng. Đồng
bằng sông Hồng cũng là một trong những vùng có nhiều khu công nghiệp nhất cả nước
với 34 khu công nghiệp tập trung (tính đến năm 2007). Các khu công nghiệp này đều
được xây dựng trên đất nông nghiệp đặc biệt là đất canh tác lúa nước khiến cho
quỹ đất nông nghiệp của vùng bị thu hẹp rất nhanh chóng. Vì vậy, đồng bằng sông
Hồng có có tỷ lệ đất chuyên dùng và đất thổ cư cao nhất trong cơ cấu sử dụng đất,
trong khi đó bình quân đất nông nghiệp trên đầu người lại thấp nhất cả nước.
Các điểm dân cư đô thị, các trung tâm công nghiệp còn là nguồn chủ yếu tạo ra
các chất gây ô nhiễm. Đồng bằng sông Hồng chịu tác động của môi trường do sự
phát triển của công nghiệp ở vùng trung du, từ công trình thủy điện Hòa Bình đến
các trung tâm công nghiệp dọc sông Hồng, sông Lô (Việt Trì, Lâm Thao, Vĩnh Yên)
và dọc sông Cầu (từ Thái Nguyên, Bắc Giang đến Hải Dương).
1.2. Vấn đề ô nhiễm môi trường
Không chỉ có môi trường cảnh quan bị biến đổi sâu sắc mà ngay
cả chất lượng môi trường sống của người dân ở đây cũng bị ảnh hưởng, nhiều nơi
còn bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Môi trường đất bị ô nhiễm kim loại nặng. Đặc biệt là ở các
làng nghề và dọc các trục đường giao thông lớn.
Còn các sông hồ nội thị vùng đồng bằng sông Hồng đã bị ô nhiễm
ở mức báo động, do là nơi tiếp nhận nước thải chưa được xử lý, với nồng độ các
chất ô nhiễm gấp 5 - 10 lần, thậm chí 20 lần so với tiêu chuẩn cho phép.
Một số khu công nghiệp bị ô nhiễm khí SO2. Các khu Thượng
Đình (Hà Nội), dệt Nam Định có nồng độ SO2 vượt tiêu chuẩn cho phép 3 - 4
lần. Một số khu công nghiệp thải nhiều khí SO2 đã gây ra hiện tượng lắng đọng
a xít cục bộ, làm môi trường đất chung quanh bị a xít hóa. Chất thải a xít và
khí SO2 của nhà máy supe phốt phát Lâm Thao
(Phú Thọ) đã làm cho đất ở xung quanh bị axit hóa (ptt = 1,9-3,5).
2. Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên hiện nay của cư dân
đồng bằng sông Hồng.
Đồng bằng sông Hồng là một vùng đất trù phú, với các điều kiện
tự nhiên rất thích hợp cho hoạt động sản xuất và định cư của con người, vì vậy
cho đến nay đồng bằng sông Hồng là nơi có mật độ dân số cao nhất cả nước, gấp
nhiều lần mật độ dân số các vùng khác. Điều đó đã gây ra rất nhiều sức ép đối với
đồng bằng đặc biệt là việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho
nhu cầu của một số dân quá đông. Cho đến nay hầu như tất cả các nguồn tài
nguyên tự nhiên của đồng bằng đều đã được khai thác để phát triển nông nghiệp,
công nghiệp. Trong đó có nhiều loại tài nguyên đã bị khai thác một cách quá mức
dẫn đến tình trạng cạn kiệt, môi trường bị suy thoái, gia tăng thêm mức độ ô
nhiễm (điển hình là tài nguyên đất, nước).
Tính đến giữa năm 2007, vùng đồng bằng sông Hồng có 34 khu
công nghiệp tập trung được thành lập, trong đó 23 khu công nghiệp đang hoạt động
và 11 khu công nghiệp đang triển khai xây dựng cơ bản. Trong những năm qua, các
khu công nghiệp tập trung trong vùng là nhân tố động lực đóng góp quan trọng
cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của vùng, biến vùng thuần nông thành
vùng kinh tế trọng điểm có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phổ biến trên
10%/năm… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, các khu công nghiệp tập trung của
vùng đồng bằng sông Hồng những năm qua cũng đã làm cho môi trường sinh thái bị ảnh
hưởng nghiêm trọng. Đồng bằng sông Hồng là vùng đất chật, người đông nên các
khu công nghiệp phát triển làm cho đất nông nghiệp bị giảm dần, mật độ dân số
ngày càng cao; trong khi đó các yếu tố có lợi cho môi trường sinh thái như nguồn
nước sạch, thảm thực vật, cây xanh giảm dần. Các yếu tố gây ô nhiễm môi trường
như bụi, nước thải công nghiệp, rác công nghiệp, từ các khu công nghiệp, từ các
bệnh viện, trường học đều tăng. Sự gia tăng ô nhiễm này diễn ra hết sức phổ biến
tại các thành phố lớn, điển hình phải kể đến Hà Nội, Hải Phòng.
Cùng với việc thành lập và phát triển các khu công nghiệp mới
thì các làng nghề ở đồng bằng sông Hồng vẫn được coi trọng. Bên cạnh mặt
tích cực là giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động thì hoạt động
sản xuất tại các làng nghề đã tác động xấu tới môi trường sống, cảnh quan nông
thôn, và tình trạng ô nhiễm tại các làng nghề ngày càng trầm trọng. Giống
như sự đa dạng của các nguồn nguyên liệu sản xuất, các chất thải từ hoạt động của
các làng nghề cũng hết sức phong phú như bụi, khí độc, cặn bã, nước thải... Hầu
hết các chất thải của các làng nghề không qua xử lý mà thải trực tiếp ra các
mương rãnh ao hồ xung quanh, mùi hôi thối nồng nặc, không khí của các lò đốt bằng
than từ các làng nghề với các khí thải độc, chất thải rắn, rác thải sinh hoạt đổ
bừa bãi ra các ao hồ, mương rãnh gần khu sản xuất đã làm cho môi trường khu vực
ô nhiễm trầm trọng.
Một trong những nguồn gây ô nhiễm chính cho đồng bằng sông Hồng
không thể không nhắc đến các phương tiện giao thông vận tải, đặc biệt là ở các
đô thị. Theo con số đáng tin cậy của Sở Giao thông công chính thì hiện nay
phương tiện công cộng chỉ đáp ứng được 5% nhu cầu đi lại của nhân dân. Thế là
người dân đua nhau sắm xe máy, với giá rẻ do nhập lậu, trốn thuế. Xe máy nhiều
đến nỗi những nơi ùn tắc giao thông, khói bụi mù mịt, hàng giờ liền xe không
sao nhích bánh được càng làm gia tăng ô nhiễm do giao thông đem lại.
3. Quan điểm và giải pháp nhằm phát huy lối sống hài hòa với
thiên nhiên trong giai đoạn hiện nay.
Để xây dựng được một lối ứng xử mới vừa hài hòa với môi trường
tự nhiên vừa phù hợp với sự phát triển của thời đại, chúng ta cần phải tuân
theo các hệ ứng xử sau:
Một là, phải chú ý đến mối quan hệ của con người với sự phát
triển bền vững. Con người có quyền cơ bản được sống tự do, bình đẳng trong môi
trường thiên nhiên và môi trường xã hội với đầy đủ những điều kiện vừa bảo đảm
phẩm giá và phúc lợi, vừa lành mạnh và hài hòa. Mặt khác, con người phải có
trách nhiệm quan trọng trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường cho các thế hệ
hôm nay và mai sau.
Hai là, con người có trách nhiệm khai thác và sử dụng hợp lý
tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống, ngăn ngừa và chống ô nhiễm
môi trường bởi các chất thải độc hại trong quá trình sản xuất và tiêu dùng.
Ba là, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị
hóa và quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp tập trung, khu dân cư lớn cần phải
tính toán đầy đủ nghiêm túc đến những điều kiện thiên nhiên để có thể hạn chế đến
mức thấp nhất những tác hại xấu đến môi trường, làm cho tất cả mọi người đều có
thể được hưởng tối đa các lợi ích kinh tế, xã hội.
Bốn là, cần phải giáo dục về các vấn đề môi trường rộng rãi đến
mọi người dân, để cho từng cá nhân, xí nghiệp, cộng đồng thấy được vai trò và
trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ môi trường.
Năm là, cần phát huy lối sống tận dụng thiên nhiên và ứng phó
phù hợp với thiên nhiên.
Thu Vân








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét