Đà Lạt là một thành phố trực thuộc tỉnh và
tỉnh lỵ tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao
nguyên Lâm
Viên, ở độ cao 1500m so với mặt nước biển và diện tích tự nhiên: 393,29 km².
Với nhiều cảnh quan đẹp, Đà Lạt là một trong những thành phố du lịch nổi
tiếng nhất của Việt Nam. Trong thời Pháp thuộc, tên tiếng
Latin "Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem" có nghĩa
là cho những người này niềm vui, cho những người khác sự mát mẻ.
Vị trí
Thành phố Đà Lạt nằm trong cao nguyên Lang Biang, phía Bắc tỉnh
Lâm Đồng, Về phía Bắc, Đà Lạt giáp với huyện Lạc Dương, về phía Đông và Đông
Nam giáp với huyện Đơn Dương, về phía Tây và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm Hà
và Đức Trọng.
Hàng trăm năm trước đây, Đà Lạt là địa bàn cư trú của người Lạch,
hay toàn bộ cao nguyên Lang Biang, diện tích hơn 400 km², bao bọc bởi các đỉnh
núi cao và dãy núi liên tiếp:
Phía Bắc và Tây Bắc giới hạn bởi dãy Chorơmui, Yộ Đa Myut
(1.816m), Tây Bắc dựa vào chân dãy núi Chư Yang Kae (1.921 m), thuộc quần sơn
Lang Biang mà đỉnh cao nhất là Chư Yang Sinh (1.408 m).
Phía Đông là chân dãy núi Bi Doup (2.278 m) dốc xuống cao
nguyên Dran. Phía Đông Nam chắn bởi dãy Cho Proline (1.629 m). Phía Nam và Tây Nam có dãy núi Voi (1.754 m) và Yàng Sơreng
bao bọc.
Địa hình
Cao trung bình so với mặt biển là 1.500 m. Nơi cao nhất trong
trung tâm thành phố là Nhà Bảo Tàng (1.532 m), nơi thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri
Phương (1.398,2 m).
Bên trong cao nguyên, địa hình Đà Lạt phân thành hai bậc rõ rệt:
Bậc địa hình thấp là vùng trung tâm có dạng như một lòng chảo
bao gồm các dãy đồi đỉnh tròn, dốc thoải có độ cao tương đối 25-100 m, lượn
sóng nhấp nhô, độ phân cắt yếu, độ cao trung bình khoảng 1.500 m.
Bao quanh khu vực lòng chảo này là các đỉnh núi với độ cao
khoảng 1.700 m tạo thành vành đai che chắn gió cho vùng trung tâm. Phía Đông Bắc
có hai núi thấp: hòn Ông (Láp Bê Bắc 1.738 m) và hòn Bộ (Láp Bê Nam 1.709 m). Ở
phía Bắc, ngự trị cao nguyên Lang Biang là dãy núi Bà (Lang Biang) hùng vĩ, cao
2.169 m, kéo dài theo trục Đông Bắc - Tây Nam từ suối Đa Sar (đổ vào Đa Nhim) đến
Đa Me (đổ vào Đạ Đờng). Phía Đông án ngữ bởi dãy núi đỉnh Gió Hú (1.644 m). Về
phía Tây Nam, các dãy núi hướng vào Tà Nung giữa dãy Yàng Sơreng mà các đỉnh
cao tiêu biểu là Pin Hatt (1.691 m) và You Lou Rouet (1.632 m).
Bên ngoài cao nguyên là các dốc núi từ hơn 1.700 m đột ngột đổ
xuống các cao nguyên bên dưới có độ cao từ 700 m đến 900 m
Khí hậu
Do ảnh hưởng của độ cao và rừng thông bao bọc, Đà Lạt mang
nhiều đặc tính của miền ôn đới. Nhiệt độ trung bình 18-21°C, nhiệt độ cao nhất chưa
bao giờ quá 30°C và thấp nhất không dưới 5°C.
Đà Lạt có hai mùa rõ rệt. Mùa
mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng
4. Mùa hè thường có mưa vào buổi chiều, đôi khi có mưa đá.
Lượng mưa trung bình năm
là 1562 mm và độ ẩm 82%.
Đà Lạt không bao giờ có bão, chỉ có gió lớn do ảnh hưởng bão
từ biển thổi vào vì sườn đông không có núi che chắn.
Lịch sử
Cao nguyên Lang Biang trước năm 1893 là địa bàn cư trú
của các tộc người Thượng. Người Việt đầu tiên có ý định khám phá
vùng rừng núi Nam Trung Bộ là Nguyễn Thông, nhưng do nhiều lý do nên cho tới cuối đời
ông vẫn không thực hiện được ý định của mình. Vào hai năm 1880 và 1881, bác sĩ hải quân Paul
Néis và trung úy Albert Septans có những chuyến thám hiểm đầu tiên vào vùng người
Thượng ở Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, và họ được coi là hai
nhà thám hiểm đầu tiên đã tìm ra cao nguyên Lang Biang. Hành trình của Paul
Néis và Albert Septans mở đường cho nhiều chuyến đi khác như A. Gautier (năm
1882), L. Nouet (1882), thiếu tá Humann (1884).
Ngày 3 tháng
8 năm 1891,
bác sĩ Alexandre Yersin thực hiện chuyến thám hiểm đầu
tiên với ý định tìm đường núi từ Nha Trang vào Sài
Gòn, nhưng chuyến đi này bất thành. Từ 28
tháng 3 đến 9 tháng
6 năm 1892,
Yersin thực hiện một cuộc thám hiểm từ Nha Trang, băng qua vùng cao
nguyên Đắk Lắk để đến Stung Treng, nằm bên bờ sông Mê
Công (thuộc địa phận Campuchia).
Tháng 1-1893, Yersin nhận nhiệm vụ từ toàn quyền Jean Marie Antoine de
Lanessan, khảo sát một tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên sâu vào vùng người
Thượng và kết thúc ở một địa điểm thuận lợi trên bờ biển Trung
Kỳ. Yersin còn phải tìm hiểu về tài nguyên trong vùng: lâm sản, khoáng sản,
khả năng chăn nuôi... Từ ngày 8 tháng
4 đến ngày 26
tháng 6 năm 1893,
Yersin đã thực hiện ba chuyến đi quan trọng. Và 15h30 ngày 21
tháng 6, Yersin đã phát hiện ra cao nguyên Lang Biang, trong nhật ký hành
trình, ông ghi vắn tắt "3h30: grand plateau dénudé mamelonné" (3h30:
cao nguyên lớn trơ trụi, gò đồi nhấp nhô).
Với nhu cầu tìm một vùng đất có khí hậu ôn hòa, gần giống với châu
Âu để xây dựng khu nghỉ mát, trạm điều dưỡng, toàn quyền Paul Doumer viết
một bức thư hỏi ý kiến của Yersin, và Yersin đã trả lời là cao nguyên Lang
Biang. Tháng 3 năm 1899,
Yersin cùng toàn quyền Doumer thực hiện một chuyến đi lên cao nguyên Lang Biang
và chuyến đi này có ý nghĩa quyết định về việc thành lập một trạm điều dưỡng ở
đây.
Ngày 1
tháng 11 năm 1899,
Doumer ký nghị định thành lập ở Trung Kỳ tỉnh Đồng Nai Thượng (Haut-Donnai) và hai trạm hành
chính được thiết lập tại Tánh Linh và trên cao nguyên Lang Biang. Đó có thể
được xem là văn kiện chính thức thành lập trạm điều dưỡng trên cao nguyên Lang
Biang - tiền thân của thành phố Đà Lạt sau này.
Ngày 20
tháng 4 năm 1916,
vua Duy
Tân đã ra đạo dụ thành lập thị tứ, tức thị xã (centre urbain) Đà Lạt, tỉnh lỵ tỉnh Lâm
Viên. Đạo dụ này được Khâm sứ J.E. Charles chuẩn y ngày 30
tháng 5 năm 1916.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét