Ngày nay, việc kết hợp các yếu tố trong âm nhạc dân tộc cổ
truyền cùng với các yếu tố âm nhạc hiện đại đang là xu hướng được nhiều nghệ sĩ
lựa chọn để cho ra đời những sản phẩm âm nhạc độc đáo. Điều này cũng thúc đẩy
việc xóa mờ ranh giới giữa các nền âm nhạc trên khắp thế giới. Không chỉ dừng lại
ở việc kết hợp các ca khúc với nhau, mà ngày nay các ngôn ngữ, nhạc cụ cũng được
đan xen với nhau trong cùng một ca khúc. Và một trong những nhạc cụ cổ truyền dễ
mang lại sự ấn tượng sâu sắc cho người nghe khi được kết hợp cùng âm nhạc hiện
đại là đàn tranh, hay còn gọi với cái tên đàn thập lục.
I/ Xuất xứ
Đàn tranh thuộc họ dây, chi gảy có xuất xứ từ cây đàn sắt của
người Trung Hoa. Có thể đàn tranh được du nhập sang đất Việt từ thời nhà Trần.
Qua gần 80 thập kỷ, người Việt Nam đã Việt hóa để cây đàn mang nhiều điểm nhấn
phù hợp với văn hóa âm nhạc dân tộc mình.
Nói qua một chút về đàn Sắt (tiền thân đàn tranh). Đàn sắt là
một loại đàn cổ của người Trung Hoa. Đầu tiên đàn Sắt có 50 dây, sau được làm gọn
lại còn 25 dây. Đàn Sắt thường được tấu chung với đàn Cầm (7 dây), một trong những
loại nhạc cụ họ dây cổ xưa nhất Trung Hoa. Bạn nghe tên 2 loại đàn này có thấy
quen thuộc không nào. Hai chữ sắt cầm chính là nằm trong câu hát của bài cổ nhạc
Dạ Cổ Hoài Lang mà ADAM Muzic đã từng có bài viết trước đây. Duyên sắt cầm ý chỉ
sự gắn bó son sắt của vợ chồng.
“Bao thuở đó đây sum vầy
II/ Cấu tạo
Thùng đàn:
Đàn tranh có hình hộp dài, thùng đàn/ thân đàn dài khoảng
100cm với một đầu lớn và một đầu nhỏ dần. Đầu lớn có chiều ngang 17cm đến 20cm
và đầu nhỏ có chiều ngang từ 12cm đến 15cm. Chính cấu tạo này cùng với cách tạo
hình chi tiết khác tạo nên sự thanh thoát cho đàn tranh. Thân đàn tranh thường
được làm bằng gỗ mun, gỗ trắc
Mặt đàn:
Là mặt gỗ cong vòm lên và không liền một khối với thân đàn. Mặt
đàn thường làm bằng gỗ cây ngô đồng hoặc gỗ thông. Có quan niệm cho rằng, mặt
đàn vòm cong lên là biểu trưng cho bầu trời. Mặt đàn dày khoảng 5mm
Đáy đàn:
Đáy đàn là một mặt phẳng để dễ để trên đùi khi ngồi đất hoặc
để trên mặt phẳng khác khi ngồi ghế, đồng thời tạo sự ổn định khi chơi đàn. Đáy
đàn thường sẽ được khoét 3 lỗ. Một lỗ ổ đầu to của đàn để thoát âm, và mắc dây
đàn. Ở đầu nhỏ có một lỗ nhỏ để treo đàn lên khi không sử dụng và 1 lỗ ở giữa
đáy đàn để tiện việc di chuyển. Lỗ giữa này có hình chữ nhật.
Đàn tranh Việt Nam
Cầu đàn:
Ở đầu to của hộp đàn, chúng ta sẽ thấy một miếng gỗ nhô cao
lên, cong ôm sát theo độ vòm của mặt đàn. Đây là cầu đàn. Cầu đàn được đục 16 lỗ
nhỏ thẳng hàng để luồn dây đàn qua và giúp cố định dây đàn không bị xô lệch quá
nhiều khi được khẩy.
Ngựa đàn:
Các bạn nhìn thấy trên mặt đàn có 32 vật thể nhọn hình chữa
A. Đó chính là ngựa đàn hay còn gọi là nhạn đàn vì hình dáng như đôi cánh ngạn.
32 ngựa đàn này dùng để gác dây và có thể di chuyển dọc theo mặt đàn để căng chỉnh
cao độ của mỗi dây đàn ngay cả trong lúc đàn một cách dễ dàng. Ngựa đàn thường
làm bằng gỗ, nhựa hoặc xương, ngà,…
Dây đàn:
Dây đàn ngày xưa được tra là loại dây làm bằng tơ. Tra là tiếng
gọi xưa của hành động luồn dây, mắc dây vào thân đàn. Ngày nay thi đa số làm bằng
dây kim lại như đồng, sắt, inox
Trục đàn:
Ở phía đầu nhỏ của đàn tranh, có 1 trục đàn. Trục đàn dùng để
căng dây hoặc làm trùng dây/ thả dây để tạo các âm sắc khác nhau. Kết hợp cùng sự
di chuyển của ngựa đàn/ nhạn đàn tạo nên khả năng thiên biến vạn hóa cho đàn tranh.
Móng chơi đàn tranh
Tuy không là một bộ phận nằm trong cấu tạo của đàn tranh
nhưng nếu thiếu những móng gảy này thì người chơi đàn tranh khó có được sự uyển
chuyển trong việc tạo ra âm thanh và cũng sẽ rất dễ tổn thương ngón tay vì dây
đàn rất mỏng, mỏng như cước mà lại được căng cứng.
Móng gảy đàn được đeo ở các ngón tay 1, 2 và 3 bàn tay.
III/ Âm thanh của đàn tranh
Do các dây được căng rất chắc, đồng thời dây đàn được tạo ra
với độ dày rất nhỏ dù là dây dày nhất nên âm thanh của đàn tranh rất mảnh mai
và trong sáng. Ở những nốt cao nhất mà đàn tranh có thể tạo ra, âm thanh nghe
vô cùng réo rắt như tiếng nước chảy và bay bổng như lạc vào chốn thần tiên.
Đàn tranh có một âm vực rất rộng lên đến 3 quãng 8. Điều này
là một lợi thế cho Đàn tranh vì âm vực quá rộng nên có thể diễn đạt nhiều cung
bật cảm xúc cũng như kiêm nhiều “chức vụ” khi hòa tấu cùng các nhạc cụ khác.
Đàn tranh là một nhạc cụ thể hiện rõ ràng nhất ngũ cung Việt
Nam. Đàn tranh được lên dây theo kiểu cổ nhạc:
Dây 1 là dây Hò tương ứng với nốt Sol 3 (G3) trong nhạc
phương Tây. Có khi thấp hơn là Fa 3
Dây 2 là dây Xự tương ứng với La 3 (A3)
Dây 3 là Xang tương ứng với nốt Đô 4 (C4)
Dây 4 là Xê tương ứng với nốt Rê 4 (D4)
Dây 5 là dây Công tương ứng với nốt Mi 4 (E4)
Và cứ theo công thức này mà tăng lên tương ứng với 20 dây còn
lại.
Đàn tranh có một đặt điểm là 32 con nhạn đàn xếp thành 2
hàng, chia đàn tranh ra làm 3 phần. Phần gần đầu to của đàn (Dùng tay phải để
khẩy), phần giữa và phần gần đầu nhỏ của đàn (dùng tay trái để điều khiển). Và
âm thanh 3 phần của đàn này tạo ra không hề giống nhau.
Điển hình lấy ví dụ như mở đầu cho bài Lưu Thủy Trường trong
các bản nhạc Bắc thì các bạn sẽ nghe người chơi đàn lướt ngón tay qua một loạt
dây đàn tạo nên một chuỗi âm thanh như quyện vào nhau rất mềm mại như một dòng
nước chảy. Đó là lý do vì sao gọi là Lưu Thủy Trường. Xin lưu ý là chữ bài và bản
ở đây được dùng theo nghĩa một cái khung sườn và người chơi tùy biến trong đó
chứ không phải là một bài nhạc cụ thể như cách đặt tên các ca khúc hiện đại.
Khi chơi bài Lưu Thủy Trường thì người chơi sử dụng phần dây
đàn nằm gần đầu to của đàn Tranh chứ không dùng 2 phần còn lại. Khi dùng 2 phần
còn lại tạo ra âm thanh sẽ nghe rất khó chịu và mất đi sự trong trẻo vốn có của
tiếng đàn tranh. Để dể hình dung các bạn xem video sau nhé.
Sau khi xem xong video thì chắc các bạn đã hình dung ra Lưu
Thủy Trường là gì và đặc điểm trong cách chơi của đàn Tranh như thế nào. Lưu Thủy
Trường chỉ là 1 trong 6 bài của bản Bắc, ngoài ra còn có các bài của bản Nam, bản
Vọng Cổ, v.v… và trong mỗi bản lại chia ra nhiều bài khác nhau. Từ đó có cách
lên dây khác nhau. Sau đây là một vài cách lên dây của các bản căn bản:
Dây Bắc, Quảng: Sol - La - Do - Re - Mi - Sol
Dây Đảo: Sol - La - Do - Re - Fa- Sol
Dây Nam Ai, Xuân: Sol - Si - Do - Re - Fa- Sol
Dây Vọng cổ: Sol - Si - Do - Re - Mi - Sol
Sa Mạc: Sol - Si - Do - Re - Fa- Sol
Tây Nguyên: Sol - Si - Do - Re - Fa# - Sol
IV/ Kỹ thuật chơi đàn tranh
Nói như ở phần trên thì không có nghĩa là tay trái, gần khu vực
đầu nhỏ của đàn là vô tác dụng. Nếu như tay phải dùng để tạo ra các âm thanh
chính thì tay trái dùng để tạo ra các kỹ thuật nhằm tăng sự phong phú cho tiếng
đàn khi phát ra.
Chặn:
Tay trái có thể chặn trên đầu các con nhạn làm cho dây đàn
hơi khựng lại, tạo ra âm thanh khá giống đàn bầu.
Móc:
Vì mỗi nốt nhạc chia ra 1 dây nhất định tương tự như các phím
đàn piano, nên đàn tranh có thể hoàn toàn tạo ra các hợp âm và đồng thời vẫn
chơi được các nốt riêng lẻ. Lúc này tay phải vẫn chơi các nốt theo giai điệu
còn tay trái có thể dùng các ngón tay móc các dây đàn gần như cùng lúc để tạo
ra các hợp âm.
Nhấn:
Nếu đã có thể tạo ra hợp âm thì hoàn toàn có thể chơi được
tân nhạc. Nhưng theo ngũ cung Việt Nam thì lại không có nốt Si. Lúc này dùng
ngón tay ở tay trái nhân xuống dây nốt La và tay phải khẩy vào dây La này thì
chúng ta có nốt Si. Và có nốt Mi nhưng không có nốt Fa thì chúng ta “xài ké”
dây Mi và nhấn xuống bằng tay trái, chúng ta có nốt Fa.
V/ Các loại đàn tương tự như đàn tranh
Đàn Gayageum Hàn Quốc
Đàn Koto Nhật Bản
Và để kết bài, mời các bạn thưởng thức các sản phẩm âm nhạc
có sự hiện diện của âm thanh kỳ diệu của đàn tranh nhé.
Đầu tiên là một ca khúc của một nhạc sĩ trẻ với chất nhạc rất
riêng. Anh đã kết hợp tiếng đàn tranh vào ca khúc nhạc hiện đại của mình một
cách tuyệt vời. Ca khúc Quá Lâu của nhạc sĩ Vĩnh Khuất
Khi nghe đến đoạn nhạc sử dụng tiếng đàn tranh, bạn sẽ cảm thấy
Tết đang tới rất gần rồi. Một minh chứng hùng hồn cho tính dân tộc đậm sâu của
đàn tranh. Các bạn để ý xem đoạn nhạc sử dụng tiếng đàn tranh trong cá khúc, mở
đầu chính là cách đánh bài Lưu Thủy Trường mà mình đã đề cập đấy.
Ca khúc Tình yêu màu nắng được thể hiện qua tiếng đàn tranh:
Còn thương rau đắng mọc sau hè:
VI/ Tạm kết
Các bạn thấy đấy, thực sự đàn tranh với số dây là 16, số nhạn
là 32 và rất nhiều kỹ thuật chơi đàn đã biến đàn tranh trở thành cây đàn có sức
ảnh hưởng rất lớn trong dòng chảy âm nhạc. Từ các buổi đờn ca tài tử dân dã đến
các buổi nhạc lễ long trọng. Đàn tranh đều có một vị thế riêng không lẫn được với
loại đàn nào từ âm thanh đến dáng hình đầy hoài niệm của nó.
Và sự kết hợp đàn tranh vào dòng chảy âm nhạc hiện đại đã xóa
nhòa ranh giới âm nhạc của các nền văn hóa đồng thơi nâng niu nhau cho ra đời
những sản phẩm âm nhạc đột phá.
Nếu có dịp, các bạn hãy đếm tham gia các buổi hòa nhạc với
dàn nhạc dân tộc có đàn tranh để thưởng thức hết cái hay, cái kỳ ảo của đàn tranh nhé. Cảm ơn các bạn đã quan tâm bài viết.
Dẫn nguồn:
Móng đàn tranh, hocdantranh.vn, http://hocdantranh.vn/
Koto: The National Instrument of Japan, Hikikyo78, [Jul 28th,
2013], https://americanhikikomorifilm.wordpress.com/
Gayageum, thinglink.com,
https://www.thinglink.com/
Đàn tranh, hocdanbinhduong.net,http://hocdanbinhduong.net/








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét