Hoàng Thế Sinh và diễn ngôn nghệ thuật trong hành trình khám phá bản thể con người
Giá trị của con người
không nằm ở chân lý mà người ấy sở hữu hay nắm bắt được nó, mà nằm ở quá trình
gian truân khi đi tìm kiếm và khám phá chân lý. Hoàng Thế Sinh viết văn là hành
trình khám phá bản thể con người qua những trang tiểu thuyết. Trong hành trình ấy,
Hoàng Thế sinh đã nhận lãnh tất cả những gian truân khó nhọc, không chỉ ở tinh
thần, mà còn ở thể xác. Mỗi trang viết của Hoàng Thế Sinh là sự khám phá con
người trong chiều sâu bản thể của nó.
1. Diễn ngôn về sự băng
hoại khủng khiếp của con người trong tiểu thuyết của Hoàng Thế Sinh
Sự trưởng thành của một nhà văn bao giờ cũng được quy định bởi cái nhìn mới, sự khám phá mới về con người. Trong tác phẩm văn học, hình tượng con người đem đến nét riêng trong sự vận động tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. Bởi lẽ, con người luôn luôn là đối tượng của văn học, do vậy, phản ánh và miêu tả con người luôn mang tính quan niệm của nhà văn được biểu hiện một cách nghệ thuật.
Tiểu thuyết của Hoàng Thế
Sinh không có nhiều đột phá về hình thức cũng như kết cấu tác phẩm. Các câu
chuyện được kể theo trật tự thời gian tuyến tính, các tuyến nhân vật được trình
bày lớp lang theo lối truyền thống. Qua tiểu thuyết, Hoàng thế Sinh đem đến cho
người đọc một hành trình khám phá bản thể con người trong tận cùng chiều sâu của
nó. Các nhân vật của ông được đẩy đến giới hạn của bờ vực thẳm để nó thể hiện bản
thể của mình. Kẻ đã tham, đã ngu thì tham ngu hết mức, vô liêm sỉ hết mức như Lồ
Ty Bôn, Bá Quan, Tử Pín, Bưởng Kéc,… Cả một thế giới mà kẻ ác lúc nhúc như một
bầy sâu quái dị, độc ác, khốn nạn đến tận cùng.
Mỗi tiểu thuyết là một
hành trình khó khăn đi tìm bản thể của con người. Trong các tác phẩm của Hoàng
Thế Sinh, ông luôn trăn trở về bản thể con người, luôn đau đáu một câu hỏi: Con
người là gì? Tại sao lại như thế? Chính vì vậy, với Hoàng Thế Sinh viết tiểu
thuyết là hành trình khổ ải để khám phá bản thể của con người. Mỗi nhân vật của
ông là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người với đầy đủ bản chất trong
các mối quan hệ của nó. Ta thấy nhân vật Lồ Ty Bôn (Ma tiền) với sự đểu
giả quay quắt đến khôn lường. Bản tính hèn nhát của y được bộc lộ ngay từ khi
còn nhỏ. Trốn đi bộ đội, luồn lách, cơ hội, Lồ Ty Bôn là hiện thân của những gì
xấu xa nhất của những nhân vật lề phải nhưng đạo đức giả, ty tiện, tham lam.
Cũng tham lam như Lồ Ty Bôn nhưng Lưu Bá Quan (Ma tiền) không hẳn đã là
người có bản chất lưu manh từ bé, ông ta là người gặp may trong cuộc đời. Ngoại
hình với đôi mắt lé (nhất lé, nhì lùn…) đã giúp ông ta không phải đi bộ đôi
trong những năm đánh Mỹ, đó là một cơ may. Nhờ sự thăng tiến, bản chất của Bá
Quan dần thay đổi, khi nhận ra một “chân lý: Cái gì không mua được bằng tiền
thì mua được bằng rất nhiều tiền”, càng thăng tiến, Bá Quan càng tham lam.
Chính sự biến đổi ấy đã khiến Bá Quan ngày càng rời xa lời răn dạy của cụ tổ
Lưu Bá Vũ. Cái tham lam, ác độc của bưởng Kéc (Bí ẩn ngọc) lại đem đến sự
khám phá của tận cùng tội ác. Nguồn cơn của những tội ác mà bưởng Kéc gây nên
cũng xuất phát từ lòng tham. Đối với những người này thì đồng tiền là chúa tể.
Tiền, vàng, ngọc, đá quý, dollar… có sức hút ghê gớm. Nó khiến cho tất cả những
giá trị mà con người xây dựng nên trở thành vô nghĩa. Tình vợ chồng, cha con, bạn
bè… đều được định giá một cách sòng phẳng lạnh lùng. Hoàng Thế Sinh trong hành
trình khám phá bản thể của con người, ông đã chỉ ra quy luật của sự tha hóa, bắt
đầu từ những lòng tham. Ban đầu chỉ là những tham vọng nho nhỏ, nhưng theo thời
gian, và theo vị trí xã hội nó lớn dần lên và khiến họ trở thành những kẻ táng
tận lương tâm.
Cái cảm giác đê mê của Bá
Quan trong Ma tiền khi một mình ngắm nghía những đồng tiền: “Bá Quan lấy gói tiền
đem ra giường, mở lớp giấy báo, một mùi thơm là lạ tỏa nhẹ. Ô lạ! Cảm giác mùi
tiền mới thơm nức như mùi mật mía làng Phù Sa, thấm rịm mãi vào gan ruột, cứ
rưng rưng làm sao… Bá Quan ấp cả hai bàn tay lên đống vàng mát lạnh, mắt lé cứ
nháy nháy, nghĩ không đời nào! Buông vàng, Bá Quan cầm từng tệp tiền mới thơm nức
mùi mật mía đưa lên nũi hít hít, tự thấy sướng, không hiểu sao tiền lại thơm thế
cơ chứ. Bá Quan thầm rên rỉ…” Cũng cái cảm giác đê mê ấy, nhưng với Tử Pín (Chúa
đất miền Khau Sưa) thì lại có kiểu thưởng thức hương vị đồng tiền của kẻ
phàm phu tục tử: “Tử Pín nhỏm dậy, mở nắp một hộp cac-ton, lấy ra một tệp tiền
xanh mướt, ấp lên ngực, rồi ấp lên môi hôn hít, hôn hít hả hê, một lúc, thè lưỡi
liếm liếm, ôi tiền của ta ơi, giọng Tử Pín nhẹ thoảng, sao tiền thơm thế nhỉ,
sao tiền ngọt thế nhỉ, trái tim Tử Pín thổn thức, mắt Tử Pín lim dim, miệng Tử
Pín chẹp chẹp như vừa được ăn tiền thơm ngon.” Đối với loại nhân vật này, tất cả
mọi quan hệ tốt đẹp của con người đến đạo đức, lương tâm cũng chỉ là những khái
niệm mơ hồ. Đồng tiền trở thành chúa tể, là mục đích sống, là giá trị duy nhất
trong cuộc đời. Những rung cảm, triết lý trước đồng tiền của những con người
đang quay quắt vật vã trong vòng tròn kim tiền, Những kẻ này sẽ không từ một thủ
đoạn tàn ác nào, đến mức vượt qua những tưởng tượng khủng khiếp nhất, chỉ để nhằm
bảo vệ những đồng tiền bẩn thỉu bất chính mà chúng kiếm được.
Đồng tiền trong tác phẩm
của Hoàng Thế Sinh trở thành mãnh lực ghê gớm, một thế lực có sức mạnh siêu
nhiên. Đây không phải là điều mới. Nhưng với các tiểu thuyết của mình, ông đã lột
trần nó với tất cả sức mạnh tàn phá khủng khiếp. Tiền là thước đo giá trị con
người, là mục đích sống, là phương tiện cho những bậc thang danh vọng, lên
quan, phong tước. Việc mua quan bán chức của đám cán bộ biến chất đã làm cho
người đọc thấy cả một cái chợ ồn ào trong câm lặng. Những trang viết của Hoàng
Thế Sinh sống động và ngồn ngộn sức sống khi viết về cái chợ ấy. Tuy nhiên, ở
đây việc tha hóa, táng tận lương tâm của những kẻ mang danh cán bộ chưa được
Hoàng Thế Sinh biểu hiện trong những giằng xé tâm trạng của họ. Có chăng là sự
nuối tiếc, ân hận về mối tình đầu của Bá Quan trong tiểu thuyết Ma tiền.
Bên cạnh những nhân vật ấy,
còn có một loại lưu manh trí thức mà Tam (Xứ mưa) là đại diện. Đó là những
người có học, nhưng với họ, tri thức chỉ là con đường tiến thân. Đội lốt trí thức,
nhưng đạo đức của họ cũng bị băng hoại không kém gì những nhân vật nói ở trên.
Tam là giáo viên vật lí, sống giữa tập thể những thầy cô giáo có nhân cách,
nhưng anh ta lại tìm thấy ở mình cơ hội thăng tiến. Nhờ vào những mối quan hệ,
vào sự bợ đỡ cấp trên mà Tam thăng tiến dần. Y tìm cách cản trở, trù dập những
giáo viên có năng lực, có hoài bão, có nhân cách như Bảo Châu, Hoàng, đưa người
nhà mình vào các vị trí lãnh đạo. Nhận thấy xây dựng cơ bản là cơ hội để vơ
vét, Tam đã mưu mô đẩy ông Tào quyền Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông
Hoàng Liên đi học để một mình thao túng kiếm chác. Ở nhân vật này, Thế Sinh cho
người đọc thấy sự bỉ ổi, sự băng hoại của tầng lớp trí thức đã đến lúc báo động.
Khi xã hội đã đến mức các thầy cô giáo chỉ chạy theo đồng tiền, sống vị kỷ vì mối
lợi của bản thân mà không dám đứng về lẽ phải là xã hội ấy đã bước vào ngưỡng cửa
của sự suy đồi, giả dối giống như căn bệnh ung thư đã bắt đầu di căn, mà không
thuốc nào chữa được. Cuốn tiểu thuyết chỉ viết về một ngôi trường nhỏ, ở một thị
xã miền núi nhỏ nhưng mang ý nghĩa cực lớn về vấn đề giáo dục trong xã hội hiện
nay. Dường như nhà văn qua ngòi bút của mình qua những thân phận đang muốn kêu
lên: hãy cứu lấy nhà trường, hãy đuổi khỏi thánh đường tri thức những con sâu gớm
ghiếc đang phá hoại nền giáo dục từng giờ, từng ngày..
Ngòi bút của Thế Sinh
không chỉ dừng ở những hành động cử chỉ, những hành động bên ngoài với những mối
quan hệ nhằng nhịt ở xã hội, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp… của nhân vật. Để
khám phá chiều sâu bản thể của nhân vật ở cả khía cạnh vô thức, nhà văn miêu tả
các giấc mơ trong những mối quan hệ phức tạp của đời sống. Hầu như các nhân vật
chính trong các tiểu thuyết của Hoàng Thế sinh đều có những giấc mơ. Mơ trong
lúc ngủ chập chờn, mơ trong lúc ngủ say, thậm chí đôi lúc mơ trong lúc thức
(như những trang miêu tả Lồ Ty Bôn trong Ma tiền mơ màng khi
ngồi ghế salon trong phòng thỏa mãn khi nhận quyết định lên chức và tưởng tượng
ra bao nhiêu thứ, bao nhiêu viễn cảnh; hay cảnh Tử Pín mơ thấy ma). Giấc mơ là
sự bộc lộ cõi vô thức bằng những hình ảnh hư ảo khi ta ngủ. Những ý tưởng, những
suy nghĩ sâu kín, những âm mưu,.. hay xuất hiện trong những giấc mơ. Với các
nhân vật đã nói ở trên, các giấc mơ của họ không có gì ngoài cảnh vơ vét tiền,
vàng, là tình dục, là lên quan lên chức. Nhưng mỗi nhân vật có những cách mơ
khác nhau. Điều đó tạo nên sự đa dạng và nét độc đáo của từng nhân vật.
Với Lồ Ty Bôn, giấc mơ đến
với y chủ yếu là khát vọng lên chức giám đốc, rồi chức Phó chủ tịch thành phố…
Bởi chức gắn với quyền và tiền. Còn với Bá Quan cũng có những giấc mơ như thế,
nhưng ông ta còn mơ về mối tình đầu với cô Na ở làng Phù Sa trong sự giằng xé,
ân hận, rồi những giấc mơ gặp cụ tổ, gặp đôi rắn màu đỏ thần hộ mệnh cho dòng họ
trong sự khiếp sợ… Nhưng dù ở đâu Bá Quan cũng thấy “quá khứ là một lời nói dối,
rằng ký ức không thể quay trở lại, rằng mỗi mùa xuân đã qua không bao giờ có thể
lấy lại được, và rằng tình yêu hoang dại và bền bỉ nhất cuối cùng cũng chỉ là một
sự thật phù du”. Còn với Tam là giấc mơ tiến thân, được thỏa mãn những nhu cầu
vật chất tầm thường… Việc miêu tả các giấc mơ của nhân vật đã giúp tác giả đi
sâu hơn vào vùng vô thức của con người. Sigmund Freud đã viết: “Giấc mơ là sự
thể hiện của vô thức. Những ý tưởng tiềm tàng thậm chí không có nội dung quá rõ
ràng có thể xuất hiện một cách cụ thể, hình khối qua những giấc mơ…” (Phân
tâm học). Giấc mơ là sự phản ứng của những biến có, của những ý tưởng tiềm
tàng mờ nhạt mà ta không nhận ra được khiến người ta không thỏa mãn thì giấc mơ
đem đến cho con người sự hiện thực hóa các ý tưởng tiềm tàng, các ham muốn chưa
được thực hiện khiến người ta thỏa mãn. Đấy chính là chiều sâu mà khi viết
Hoàng Thế Sinh muốn nhấn mạnh.
Từ sự băng hoại lương tâm đến khủng khiếp ấy, Hoàng Thế Sinh gửi đến người đọc diễn ngôn nghệ thuật qua những chân dung nhân vật của mình. Thế giới nhân vật ấy của Thế Sinh trong các tiểu thuyết của ông từ Ma tiền, Chúa đất miền Khau Sưa, Bí ẩn ngọc, Xứ mưa… là một bầy sâu lúc nhúc với đủ sâu chúa, sâu con, sâu nhỡ với suy nghĩ duy nhất: Cái đầu luôn phải nghĩ đến tương lai, nghĩ đến các mối quan hệ, nghĩ đến giá trị, lợi nhuận, em chỉ nghĩ đến tiền, tiền… Tiền là Chúa tể của muôn loài, chứ không phải con người là Chúa tể của muôn loài. (Chúa đất miền Khau Sưa)
2. Nhân vật “con người
bên lề” là sự đóng góp của Hoàng Thế Sinh cho văn học Việt Nam đương đại
Bên cạnh những nhân vật ấy,
là sự xuất hiện của những con người trí thức, những văn nghệ sĩ nửa mùa nhưng
tâm hồn yêu cái đẹp, coi những giá trị tinh thần cao quý, coi đạo đức là chuẩn
mực cho mọi hành xử của cuộc sống. Đó là những ngưởi lính tuổi đôi mươi, phơi
phới xếp bút nghiên lên đường đánh giặc. Quan niệm về cuộc đời của họ thật đơn
giản và không bị thay đổi theo thời gian: “Con Người và lòng yêu Tự Do, Con Người
và niềm Vinh Dự, Con Người và lòng Dũng Cảm – tất cả phải nhập hoà làm một… Con
Người không chỉ là tên gọi, đó còn là Danh hiệu, một Danh hiệu cao cả mà đạt đến
đâu phải dễ dàng” (Ma tiền). Những người lính tuổi đôi mơi đi chiến đấu
vì một lẽ đơn giản: “… chiến đấu là vì Danh Dự Một Con Người… đó là nhiệm vụ
chiến đấu, là Danh Dự Một Con Người…” (Cánh Đồng Chum mùa hoa ban). Hay
những suy nghĩa của Sềnh khi nhìn thấy cảnh cuối đời của Bá Quan: “Quyền cao chức
trọng. Tiền của nhiều như cát sỏi. Mà vợ thì vì đau buồn mà sinh ra điên điên lẩn
thẩn thành người mất trí mất hồn. Quí tử con chung thì chết mất xác. Quí tử con
riêng thì chết trôi chết nổi, mả xanh lút tận phương trời Tây Bắc.
Còn uy quyền gì, còn đáng
lưu truyền cái danh giá gì, còn sung sướng cái nỗi gì nữa mà mê muội với lăng mộ
hoành tráng và độc đáo? Hiến dâng được gì cho đồng loại mà còn muốn mọi người
trên thế gian nhớ mãi ngàn năm? Khốn kiếp cái kẻ tham vọng nguông cuồng! Sếp ư?
Uy quyền ư? Giầu có ư? Dù gì thì cũng phải là Con Người đúng với ý nghĩa cao đẹp
của nó chứ! Con Người với lòng yêu Tự Do. Con Người và niềm Vinh Dự. Con Người
và lòng Dũng Cảm. Tất cả phải hòa làm một”. Quan niệm con người sống vì danh dự,
là yếu tố xuyên suốt các tác phẩm của Hoàng Thế Sinh. Trong các tiểu thuyết thế
sự, trước những đổi thay của xã hội sau thời kỳ đổi mới, sự tàn phá nghiêm trọng
của lối sống thực dụng kim tiền đã khiến nhà văn khinh bỉ. Ông phải trăn trở đi
tìm những con người sống vì danh dự, vì những điều tốt đẹp nhất. Tuy nhiên
trong cuộc kiếm tìm nhân vật lý tưởng ấy, có lẽ ngoài tiểu thuyết (Cánh Đồng
Chum, mùa ban nở) mang âm hưởng sử thi, anh hùng ca sâu đậm với những nhân vật
như Hoàng, Na, Phí, Bình, Minh, Thái… sống và chết theo lý tưởng đã làm nên vẻ
đẹp của Con Người đúng với ý nghĩa cao đẹp của nó… Con Người với lòng yêu Tự
Do. Con Người và niềm Vinh Dự. Con Người và lòng Dũng Cảm. Tất cả phải hòa làm
một.
Trong tiểu thuyết thế sự
về cuộc sống đời thường, ông cố miêu tả các nhân vật trí thức, nhân vật nghệ sĩ
sống theo lý tưởng ấy, thì lại thất bại. Họ hiện lên như những con người thất bại
thảm hại, lối sống, sự tôn thờ những nghĩa cử cao đẹp, sự trân trọng các giá trị
tinh thần chỉ là sự lạc điệu, khiến họ trở thành những con người bên lề. Nhưng
trong cái rủi có cái may, khi nhà văn thất bại khi tìm những nhân vật lý tưởng
thì ông lại xây dựng được nhân vật “con người bên lề”.
Khái niệm “con người bên
lề” người viết (Ngô Quyền) mượn khái niệm của từ tiếng Anh: marginalized
people. Có nghĩa là con người bị đẩy ra khỏi các hoạt động kinh tế, chính
trị, văn hóa hoặc xã hội chủ lưu. Thay vì là một phần của “trung tâm” xã hội, họ
sống ở “bên lề”, thiếu quyền tiếp cận các cơ hội và nguồn lực cơ bản. Có thể
nói các nhân vật trí thức, nhân vật nghệ sĩ chân chính trong tác phẩm của Hoàng
Thế Sinh là những con người bên lề như vậy.
Tiểu thuyết Xứ
mưa viết về những trí thức quẩn quanh, nghèo đói. Nhưng trong cái xã hội
tù túng quẩn đọng ấy lại có biết bao chuyện. Những thân phận giáo khổ trường
công với những suất tem phiếu bèo bọt của cuối thời bao cấp gợi cho người đọc
biết bao nỗi thương cảm, ngậm ngùi về thân phận người trí thức. Cuốn tiểu thuyết
là lát cắt ngang qua cuộc đời và số phận rất đỗi bình thường của những nhà giáo
cuối những năm 1980. Mặc dù sự nghèo đói, nói như Tam, thư ký Hội đồng trường
Trung học phổ thông Hoàng liên là “đói rã họng”, nhưng vẫn có những nhà giáo,
những con người quyết “giấy rách thì giữ lấy lề” như Bảo Châu, Hoàng, ông Thạch
thuyền chài…
Có thể nói không ngoa rằng: Xứ mưa là một trong những tiểu thuyết hay của văn học đương đại. Tác phẩm này có thể sánh với Sống mòn của Nam Cao hay Đám cưới không giấy giá thú của Ma Văn Kháng khi viết về thân phận người trí thức trong xã hội. Với Nam Cao đó là những giáo khổ trường tư với những giáo Thứ, San, Oanh, Đích… Với Ma Văn Kháng là thầy giáo Tự bị coi thường vì không thuộc thành phần cơ bản của cách mạng, câu châm ngôn của tác phẩm “Đời là vại dưa muối hỏng”, như một lời nhắc nhở về giá trị cuộc sống đang bị xói mòn. Ở Hoàng Thế Sinh là cuộc sống những giáo khổ trường công, họ bị va đập trước ước vọng cao đẹp với thực tế phũ phàng cuộc sống. Dần dần, họ bị đẩy ra bên lề. Điểm chung của các tác phẩm này là thân phận của người trí thức, bi kịch giữa những hoài bão lý tưởng cao đẹp mà họ ôm ấp không phù hợp với thực tế cuộc sống khiến họ bị khinh bỉ. Qua đó toát lên sự cay đắng về thân phận những con người bên lề có tri thức, có hiểu biết, có đạo đức nhưng bị chà đạp đẩy ra bên lề cuộc sống.
Bảo Châu và Hoàng đều là
những người đã trải qua những năm tháng chiến tranh. Với Bảo Châu, thầy giáo dạy
văn nổi tiếng, cái di chứng của những cuộc chiến theo anh vào những giấc mơ khủng
khiếp. Trong những giấc mơ ấy, là chiến trận, là bom rơi đạn nổ, là hình ảnh những
người bạn đã ngã xuống, luôn khiến anh có mặc cảm trong vô thức. Thứ mặc cảm mà
trong tiểu thuyết “Bến bờ” nhà văn Liên Xô Yuri Bondarev đã nói: Đi qua cuộc
chiến khủng khiếp được sống cũng là một tội lỗi. Bảo Châu có mặc cảm ấy, có lần
anh bảo với Như, vợ anh: Anh đã bị mẻ cả xương sườn, mảnh đạn còn găm trong ngực,
chẳng lẽ em lại muốn anh cụt tay cụt chân nữa à? Ừ, giá như… Bảo Châu định
nói là liệt sỹ, hẳn em sẽ được ưu tiên nhiều nữa.
Đối với Hoàng, giáo viên
dạy sử, nhưng mê văn chương, vẫn là trai tân dù đã hơn 40 tuổi, mê làm thơ
tình, nhưng lại không một mảnh tình vắt vai. Họ ôm ấp những cao vọng, lý tưởng
cao đẹp. Bảo Châu, những suy nghĩ day dứt “… Lỗi ở đâu? Xã hội chậm tiến hay
chính anh chậm tiến? Xã hội trì trệ hay chính những trí thức như anh bảo thủ,
thiếu năng động? … Cái gì đã khiến cho nhiều gia đình trí thức, trong đó có gia
đình anh trở nên bần cùng, đói khổ đến thế? Ở thời buổi mà tay mổ một bác sỹ có
hạng cứu sống bao mạng người mà đời sống không sánh được với tay mổ lợn hạng ruồi,
một đoạn nối ruột của bác sĩ giá bồi dưỡng không bằng đoạn nối săm cao su của
tay thợ sửa xe đạp vỉa hè… thì kể gì đến trang giáo án của người thầy giáo?”.
Đó là những day dứt rất chân thật của cả một lớp trí thức trước thời kỳ Đổi mới.
Bảo Châu là hiện thân của những day dứt ấy. Những cảnh chia cá, phân phối tem
phiếu, đi đóng cám cưa, xếp hàng mua thực phẩm, sự kiện đổi tiền 1985… là những
trang viết hiện thực sinh động nhất trong các tiểu thuyết của Hoàng Thế Sinh.
Những trang viết thật đến
nỗi những ai đã từng trải qua thấy như quay trở về sống lại một thời gian khó,
ngột ngạt ấy. Đó là những ngày tháng mà cái đói, cái rách triền miên, miếng ăn
đã khiến con người trở nên hèn mọn. Cái rách rưới vì thiếu thốn qua hình ảnh thầy
giáo Hoàng với cái quần pic- kê hai mông đít là chi tiết đắt giá. Bon chen vì
đói rách, khiến nhân cách con người dần bị tha hóa, đấy là quy luật tất yếu. Tiểu
thuyết Xứ mưa đã thể hiện được điều ấy. Đó là tiếng khóc cho một nền giáo
dục bắt đầu xuống cấp. Sự xuống cấp ấy bắt đầu từ những việc nhỏ nhặt: nhờ bà mậu
dịch viên là phụ huynh của nhà trường bán cho con cá ươn, cả khu tập thể giáo
viên xúm xít chia nhau với những đôi mắt đói khát “hau háu”, khiến người đọc thấy
sống mũi mình cay xè. Sự xuống cấp thảm hại của giáo dục là sự xuống cấp của đạo
đức, nhân phẩm con người. Điều đó đã được ông Thạch, ông lão làm nghề thuyền
chài ven sông Hồng nhưng là người hiểu đạo nghĩa, là bạn tâm giao của Bảo Châu
nói: “Bao nhiêu là chuyện, nhưng có chuyện ông Thạch nói đi nói lại rằng, sinh
nghệ tử nghệ. Làm nghề dạy học mà không sống được bằng nghề dạy học thì cái sự
học xem ra hỏng mất rồi”. Việc Bảo Châu bị học trò đánh trả thù đến gẫy chân là
sự xuống cấp thê thảm của nền giáo dục đương đại.
Những trang miêu tả cảnh
khu tập thể giáo viên “làm kinh tế” bung ra với lạc rang húng lìu, nấu rượu
nuôi lợn, làm bánh rán… là những trang viết cực kỳ sống động, nó có cái vị cay
đắng ngăn ngắt, có cái nụ cười hài hước, có sự chua chát đau đớn cho những trí
thức mà không còn là trí thức nữa “… biết làm sao, toàn con cháu các nhân vật
quan trọng, người là cấp trên tót vời quyền lực, người nắm giữ cái dạ dày các
nhà giáo khổ trường công…”. Khi kinh tế “bung ra”, gia đình Bảo Châu cũng như mọi
gia đình giáo viên khác cũng tìm những nghề phụ để sinh sống, những khi rao lạc
húng lìu, anh vẫn có những dằn vặt. Việc rang lạc húng lìu đem giao cho các
quán là một cách “tự cứu mình trước khi trời cứu”, nhưng ở những năm tháng đó,
thì đó lại là việc làm mang tính tư hữu theo quan điểm và tư tưởng cũ kỹ và bị
cấm kỵ vì sự ấu trĩ. Vì thế có những trang viết bi hài miêu tả việc sản xuất lạc
húng lìu của gia đình Bảo Châu. Nhưng việc “bung ra” lại là cơ hội kiếm chác,
là sự đổi đời của những kẻ như Tam, từ thư ký Hội đồng giáo dục đến Hiệu phó
trường Trung học phổ thông Hoàng Liên.
Cuộc sống như một dòng
sông thao thiết chảy. Những ngày đầu Đổi mới, sự va đập giữa lý tưởng cao đẹp của
một thời với sự thực dụng của nền kinh tế thị trường đã dần đẩy Bảo Châu, Hoàng
ra bên lề cuộc sống. Cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp gần như mất hẳn. Quyền
được hưởng những lợi ích mà cuộc sống đem lại cũng vô cùng hạn chế. Bảo Châu
không chịu đi dạy thêm theo ý Tam, không chịu thay đổi mình theo hướng tha hóa
đã khiến anh trở thành con người cô độc ngay trong chính ngôi trường anh đang dạy,
trong xã hội anh đang sống. Hoàng thì tự thu mình vào thu mình trong không gian
riêng của thơ ca, từ chối tham gia các hoạt động xã hội kể cả việc lấy vợ. Những
giáo viên khác vì quyền lợi bản thân đã mặc nhiên sống theo chủ nghĩa Mackeno.
Ông Thạch đã tự chọn cho mình cuộc sống bên lề khi làm bạn với dòng sông trôi
chảy bên lề cuộc sống. Con thuyền và dòng sông là biểu tượng của một dòng chảy
bên lề cuộc sống, biểu tượng cái lò khai thác đá quý thổ phỉ có tên: Lò tự do
là một diễn ngôn về những “con người bên lề”. Nó có tính chất như một biểu tượng
nghệ thuật. Đó là nơi tập hợp của những con người bên lề, là khát vọng đổi đời
đến với tự do. Nhưng cuộc sống không giống cuộc đời, chính ở đây là cái bi kịch
lớn nhất xảy ra: Lò tự do bị sập, kẻ chết, người điên dại… Đó chính là diễn
ngôn về cao vọng đẹp đẽ bị sụp đổ của người trí thức trước cuộc đời đen bạc
này.
Nhân vật Sềnh và By trong
tiểu thuyết Ma tiền cũng là những “con người bên lề”. Họ là những nghệ sĩ tài
hoa, được công tác tác, làm việc tại cơ quan báo chí, văn hóa. Nhưng trước thực
tế cuộc sống kim tiền, khi mà những kẻ như Lồ Ty Bôn nắm quyền giám đốc và biết
bao kẻ cơ hội, gian tham lúc nhúc thì họ đâu có quyền lên tiếng nói, hầu như
không có quyền lợi gì. Đứng trong xã hội, nhưng dường như cuộc sống của họ tách
biệt với cuộc sống chung. Cuộc đời họ tạo nên một khoảng cách với dòng chảy
chính của xã hội. Sềnh được tham gia vào các cuộc gặp gỡ, ăn nhậu với Bá Quan
và đám thủ hạ vì anh là người làng, nên được coi như người nhà Bá Quan. Quan
sát những bữa tiệc xa hoa tột đỉnh, được biết những thú ăn chơi, nó đối lập với
hoàn cảnh nghèo khó của mình. Không phải Sềnh không có những ham muốn ấy, trang
miêu tả Sềnh được ăn, nếm những món ngon, anh cũng cố ăn nhiều nhiều, uống nhiều
cho thỏa mãn, chứng tỏ anh cũng là người bình thường, dung tục như bao người
khác. Tuy nhiên, trong Sềnh quan niệm về cuộc sống, về con người khác với những
Bá Quan, Lồ Ty Bôn, Dã Miêu, Vũ Lé…
Con người với anh là phải
là con người cao quý “có lẽ con người trở nên vĩ đại là bởi con người sống biết
hiến dâng cho đồng loại, con người biết yêu thương con người, biết hòa đồng với
muôn người, như một lẽ thường… thứ quí giá nhất trong trời đất là Con Người, thứ
quí giá nhất trong Con Người là Tình Yêu Thương Con Người” (Ma tiền). Tài năng
của Sềnh chỉ để họ lợi dụng để đánh kẻ này kẻ khác, còn anh vẫn là kẻ bên lề,
khi cơ hội thăng tiến dường như là Zero, mọi quyền lợi đều rơi vào tay những kẻ
như Lồ Ty Bôn. Không phải Sềnh không biết điều ấy, nhưng vì thân phận bé mọn của
người nghệ sĩ nên anh không thể làm gì. Ở nhân vật By trong tiểu thuyết cùng
tên, là đạo diễn có năng lực nhất trong Công ty truyền thông Thế Kỷ. Chứng kiến
bao chuyện khốn nạn của giám đốc và bè lũ, By tự thu mình lại trong cuộc sống
được coi bên lề. Trang viết về Sềnh khóc mướn giúp phường Bát âm trong đám ma mẹ
vợ Bá Quan là những trang tuyệt hay.
Giọng điệu kể hòa với tâm
trạng của nhân vật. Cái say say bung biêng của trầu thuốc, cái hờn giận với kiếp
nghệ sĩ bọt bèo, cái hưng phấn của nghệ sĩ bỗng hòa làm một bay bổng, dạt dào, ảo
não khiến quan khách cảm động. Cái bi hài nhất là người nghệ sĩ không tìm được
nơi thể hiện tài năng, mà tài năng lại được phát huy ở … đám ma. “Như nhập đồng,
Sềnh ngả nghiêng, gân cổ hát. Không hiểu từ đâu, lời hát cứ tuôn ra… Ai dà! Mới
dạt dào ảo não làm sao. Cả đám ma lặng đi. Cảm giác siết bao nỗi niềm đau
thương đọng hết trong mấy câu mà Sềnh vừa kêu than thay cho gia chủ. Bao nhiêu
người dự đám ma, bao nhiêu người đến viếng, đều nghiêng mình, hỉ hả rút tiền lẻ
bỏ vào cái khay trước mặt Sềnh. Mấy cậu ở Đoàn Chèo cũng không thể ngờ Sềnh hát
đám ma lấp chỗ trống mà sao ngao ngán rung động chưa từng thấy”. Chi tiết này
cũng là một diễn ngôn có tính biểu tượng nghệ thuật cao: “Mai kia, Sềnh sẽ gia
nhập phường Bát âm. Nhập phường Bát âm để được thỏa sức hát cho người chết
nghe, mà chỉ có hát cho người chết nghe mới thật hết lòng, mới thật là chân thật”.
Vậy là nghệ thuật với những nghệ sĩ tài năng có lý tưởng cao đẹp, có đạo đức sẽ
chỉ có thể hát những bài ca hay nhất của mình cho cõi âm, cho người chết. Triết
lý ấy thật cay đắng. Trong quá khứ, ta đã từng biết có một chàng Trương Chi như
thế.
Những diễn ngôn bằng các
biểu tượng nghệ thuật thường được Hoàng Thế sinh sử dụng như một thủ pháp nghệ
thuật. Đó là những giấc mơ của các nhân vật, là cái chân bó bột của thầy giáo Bảo
Châu… “Diễn ngôn nghệ thuật phải là diễn ngôn tạo hình cho những cái chưa thành
hình, phát ngôn cho những điều đang ấp úng, đặt tên cho các hiện tượng chưa có
tên gọi trong từ điển. Đó là thực chất xã hội, thẩm mĩ của diễn ngôn nghệ thuật”
(Trần Đình Sử – Bản chất xã hội thẩm mỹ của diễn ngôn nghệ thuât).
Có những biểu tượng đã thực sự trở thành những diễn ngôn mang tính thẩm mỹ nghệ
thuật sâu sắc. Đó là hình ảnh cô bé Kha Ly trong tiểu thuyết Bí ẩn ngọc. Sinh
ra và lớn lên trong gia đình giàu có, hầu như rất ít khi gặp bố mẹ vì họ còn mải
làm ăn. Kha Ly xinh đẹp, trắng trong và ngây thơ. Ở Kha Ly, cái vẻ đẹp nguyên
trinh dường như là sự tương phản với thế giới giả dối mà cô bé đang sống. Cái
chết của Kha Ly được nhà văn lý giải từ nguyên nhân của nỗi đau mất mát mối
tình đầu. Những câu văn như nấc nghẹn: “…xác cô bé từ một cái ngườm đá sâu hun
hút lên, và lạ thay, bàn tay cô bé vẫn nắm chặt khúc phong lan gãy nát nhưng vẫn
còn sót chiếc lá xanh nhọn và mấy cánh hoa vàng rịm…”. Nhưng nếu nhìn ở vai trò
diễn ngôn nghệ thuật, thì cái chết ấy là là một thông điệp vô thức: Cái đẹp
không thể tồn tại ở thế giới thực tại đầy rẫy những xảo trá và dục vọng này.
Như vậy, diễn ngôn nghệ thuật tiểu thuyết trong thông điệp: Thế giới hiện thực bỉ ổi thì không bao giờ cái đẹp có thể tồn tại. Ở một khía cạnh nào đó, Kha Ly cũng là một “con người bên lề”. Bởi vì sự trinh trắng, ngây thơ của nàng đã đối lập hầu hết với mọi sự xấu xa của cuộc sống này.
Tiểu thuyết của Hoàng Thế
Sinh là diễn ngôn nghệ thuật với một thế giới nghệ thuật sinh động về cuộc sống
đương đại. Thế giới ấy ngồn ngộn những hiện thực khốc liệt tươi rói. Nhà văn
không hề e sợ khi viết về những ung nhọt của hiện thực cuộc sống hôm nay. Đó là
thế giới mà kẻ có tiền có được tất cả. Tuy nhiên đọc qua những trang tiểu thuyết
của Hoàng Thế Sinh, người đọc cảm nhận rất rõ diễn ngôn của tâm hồn nhà văn, đó
là sự dũng cảm, là tình yêu cháy bỏng đối với con người và cuộc sống. Ông yêu
quê hương tha thiết, yêu cuộc đời tha thiết, dường như ông muốn dùng tiểu thuyết
để kêu lên rằng: Hãy cứu lấy con người, cứu lấy quê hương.
Đóng góp lớn nhất của
Hoàng Thế Sinh là ông đã bước đầu vẽ lên được những hình tượng nghệ thuật có
giá trị về những “con người bên lề” đang cố gắng bám vào những giá trị cao đẹp
của đạo đức, của lý tưởng, nhưng rồi bọt bèo của dòng sông cuộc sống đẩy họ vào
bên lề đầy đau đớn. Đây chính là điều đã khiến Hoàng Thế Sinh có tầm vóc của một
nhà văn lớn, xứng đáng được bước vào ngôi đền bất tử của văn học sử Việt Nam.
20/4/2026
Ngô Quyền
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét