Nỗi đau trần thế trong “Hai phía phù sinh” của Nguyễn Thúy Quỳnh
Không phải ngẫu nhiên,
ngay lời đề từ Hai phía phù sinh (Nxb. Hội Nhà văn, H.2018)
Nguyễn Thúy Quỳnh viết: “thả bầy chữ qua cánh đồng, dòng sông, những
cơn dông qua thăm thẳm bóng đêm về miền Ánh Sáng”.
Đây cũng là tâm thức chi phối thế giới nghệ thuật trong tập thơ, và xoay quanh tư duy thơ thấm đẫm tinh thần hiện sinh nhân bản, Nguyễn Thúy Quỳnh đã bày tỏ những ưu lo của mình về một cõi nhân gian đầy rẫy những khổ đau mà con người phải gánh chịu trong hành trình sống của chính mình. Một nỗi đau mà đức Phật đã khái quát một cách đầy hình tượng trong một tư duy triết học để chúng sinh có thể cảm nhận được khi Ngài cho rằng: “Đời là bể khổ, nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước bể”. Còn nhà thơ Etophi của Phi Châu, nơi mà đói nghèo và chết chóc luôn trùm lên số phận của bao kiếp người thì xót xa thở than: “Buồn đau là biển cả /Sung sướng là ngọc châu/ Khi mò được ngọc châu dưới biển/ E nửa vời tan nát biết đâu?”.
Thật vậy, thân phận của
con người trên cõi trần thế này thật mong manh, vì thế hạnh phúc nếu có cũng chỉ
là màn sương hư ảo. Và thơ Nguyễn Thúy Quỳnh cũng đã bước đầu chạm
đến những suy nghiệm mang màu sắc hiện sinh này. Thế nên, hiện diện trên những
trang thơ của chị là muôn triệu sinh linh bé bỏng đang đối diện với sự sống và
cái chết; hạnh phúc và bất hạnh; Sự thật và giả dối; tốt và xấu đang hiển lộ
trong từng khoảnh khắc của hiện hữu…Sự vận động, giằng co giữa những đối cực của
thế giới muôn hình vạn trạng sắc màu, cung bậc trong Hai phía phù sinh diễn
ra căng thẳng, dữ dội, khốc liệt. Và như một tất yếu của sự khủng hoảng trong
xã hội mà mọi giá trị đều bị đảo lộn nên nhiều khi cái ác đã thắng cái thiện, lẽ
phải, công lý, sự chân chính, thật thà bị nhấn chìm bởi những phi lý, bất công,
gian xảo, lọc lừa, trí trá nhưng đầy quyền lực…khiến cho mọi sinh linh bị đẩy
vào chân tường của bi kịch. Song dẫu sinh linh trên cõi trần thế này có bị chìm
đắm trong tận cùng của bi kịch, thì cuối cùng, nhân loại vẫn tiếp tục cuộc hành
trình hướng về miền ánh sáng, dẫu có phải đánh đổi bằng máu và nước mắt – đó là
thứ ánh sáng cuối cùng còn sót lại có thể cứu rỗi con người, gieo hạt niềm tin
khi tất cả đang chìm trong đêm đen mờ mịt. Hai phía phù sinh đúng
như tên gọi của nó mang màu hiện sinh rõ nét, cho nên tập thơ đã khơi gợi trong
bạn đọc những ưu tư về một cõi trần ai đầy trắc trở, vô thường.
Ám ảnh sâu nhất trong
lòng người đọc tập thơ có lẽ là việc tái hiện những cái chết. Tập thơ có
20 bài thì có 13 bài xuất hiện cái chết. Đó là cái chết của một
con mèo bị xe cán, Cá chết ở sông Nhuệ, Có thể ở nơi ngọn khói hương bay lên, Tặng
linh hồn bé Nhung, Cho dù sự thật có mùi gì, Viếng những người lính dù hy sinh
ngày 6/7, Tặng các con ở Ishinomaki, Đôi dòng dâng những hồn cây, Thiêu thân, Về
một sinh linh vừa rời bỏ trần gian, Hỏi, Nghĩ trong sương mù, Nghĩ cùng năm mới,…
Thực ra, sống và chết là hai đối cực luôn diễn ra tự nhiên trong sự vận động của
vũ trụ, của đời sống con người. Tuy vậy, dù bất luận là lý do gì cái chết cũng
luôn mang đến cho con người những ưu tư, nặng nề, bởi lẽ cái chết là hiện thực
hóa sự hư ảo, mỏng manh trong sự tồn sinh của vạn vật trên cõi trần thế…
Đọc Hai phía phù sinh, có thể nhận thấy tâm thức hiện sinh xuất hiện như một giá trị trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh. Nhà thơ đã không thể nén lòng trước những cái chết thê thảm, đớn đau, đầy phi lý, cho dù đó là cái chết của con người, hay là một sinh vật nào đó trong thế giới hỗn mang này. Và chính những nỗi đau này đã tạo nên những dự phóng sáng tạo trong thơ, trở thành những ám ảnh của vô thức và tâm linh không chỉ trong tâm cảm thi nhân mà còn trong tâm cảm của người đọc: Giữa bầy nhầy máu/ sót lại một vạt lông trắng mịn/ Nó bé bỏng và thanh khiết thế ra ngã năm làm gì/ để chết tức tưởi dưới một bánh xe vô tình/ chết thêm hàng vạn lần dưới những vòng xe vô cảm… (Về một con mèo bị xe cán)
Quên đi con nhé/ nẻo đường
gập ghềnh từng là nỗi kinh hoàng của con ngày ngày chiếc xe đạp tả tơi, bộ áo
quần rách nát/ Quên đi/ những hạt cơm cuối cùng con vét tối qua/ trong chiếc nồi
lúc nào cũng thiếu từng nắm gạo/ Trái tim bé bỏng của con sẽ không còn triền
miên nhức nhối cơn đau… (Tặng linh hồn bé Nhung)
Mười tám dòng sông/Một sớm
đổ vào trời/ Mười tám ngọn lửa /Thiêu đốt triệu hồn người/ Mười tám vầng trăng
/ khuyết suốt đời con trẻ/ Mười tám lá xanh/ Rụng nát lòng cội rễ (Viếng
những người lính dù hy sinh ngày 6/7)
Đâu phải chiến tranh / mà
mấy chục cuộc đời nát vụn một ngày mìn nổ đá rơi/ phút chốc chạm đường ray, đồng
làng bời bời khăn trắng (Những tích tắc quanh tôi)
Những Người Cây bị bức tử
đã được đem đi/ Không còn chút dấu vết nào/ Dù chỉ một cánh tay, một con mắt
lá/ Người ta đã dọn sạch thi hài của họ (Đôi dòng dâng những
hồn cây)
Ở những bài thơ xuất hiện
cái chết, với âm chủ là giọng kể chậm, trầm, buồn, hiện thực do tác giả “tự cảm
thấy” được tái hiện trước mắt người đọc phủ gam màu lạnh, tối sẫm, u ám, thê
lương, cái chết xảy ra nhiều khi chỉ là trong tích tắc, bất ngờ đến khó tin, những
cái chết mang đầy ưu tư về cõi trần thế: Sự sống của một chú mèo xinh xắn,
một bầy cá dưới sông, một em nhỏ mồ côi, một hài nhi bé bỏng mới chào đời,
một người lính dù trẻ tuổi, một thân cây đang mơn mởn xanh tươi…tất cả bị cắt đứt
một cách đột ngột, tàn bạo, phũ phàng, mọi sinh linh vừa hiện hữu đó mà bỗng
nhiên trong khoảnh khắc đã trở thành cát bụi…nỗi đau lắng lại, kết khối trong
sâu thẳm lòng người…
Tại sao con người và những
sinh vật vô tội lại phải chết tức tưởi, oan khuất như vậy? Câu hỏi truy vấn
nhân tâm thế cuộc nhức nhối vang lên nhưng đâu dễ có câu trả lời. Chỉ biết những
cái chết không đáng chết của vạn vật là một sự phi lý khiến lòng người đau đớn
khôn nguôi. Những ngang trái, bất công hoành hành trên cõi thế khiến bao kiếp
phận sinh linh bị dập vùi tơi tả đã đẩy giới hạn chịu đựng của con người đến tận
cùng, cho nên trong tập thơ, bạn đọc có thể thấy chủ thể trữ tình đã
không thể kiềm chế, tác giả nhiều lần xuất hiện trực tiếp trong tư thế của
người phán xử trước tòa án lương tâm: Những lời đầu môi trôi về đâu/ chỉ còn
vạn giấc chết nổi trắng mặt sông (Cá chết ở sông Nhuệ), Không
một lời biện minh nào đủ lấp đầy sự ra đi tức tưởi của con/ không một sự sám hối
nào đủ xóa tội cho những người ở lại/ Chúng ta, những kẻ thản nhiên sống và ngợi
ca sự sang giàu/ giữa trùng trùng áp phích, pa nô quảng cáo sáng choang/ không
một ai đủ tư cách cầu xin con/ một em bé chết đói giữa ban ngày/ tha thứ (Tặng
linh hồn bé Nhung), Đừng than khóc rùm beng rồi làm khổ nhau/ Nếu có
lòng hãy thương lấy những sinh linh cô độc đang bơ vơ trên mặt đất này (Về
một sinh linh vừa rời bỏ trần gian).
Với sự nghiệm sinh sâu sắc,
thơ Nguyễn Thúy Quỳnh đã truyền cảm hứng cho người đọc, buộc chúng ta phải
sống chậm lại, dành ít phút ngẫm nghĩ về nhân tình thế thái…cảm thức hiện sinh
của tập thơ khiến chúng ta phải suy tư về sự được/ mất, chân/giả, thiện/ác, tốt/xấu
trên cõi trần, bởi, trước cái chết mọi thứ bỗng trở thành phù du, vô nghĩa… Và,
nếu trái tim nhà thơ không thực sự xót xa đau đớn, cảm thông trước sự sống và
cái chết của sinh mệnh con người cũng như vạn vật thì không thể có những vần
thơ thấm đẫm tinh thần nhân bản như thế!? Đây cũng là điều cần ghi nhận về ý thức
công dân của nhà thơ trước những vấn đề nhiễu nhương đang từng ngày từng giờ giết
chết môi trường sống của con người và mọi sinh vật khác mà những nhà khoa học
chân chính đang cảnh báo.
Soi chiếu con người và cuộc
sống từ những góc nhìn khuất lấp, ẩn tàng nhiều thông điệp, trong Hai
phía phù sinh Nguyễn Thúy Quỳnh một mặt vừa tỏ rõ thái độ chia sẻ,
đồng hành cùng những kiếp phận chịu nhiều mất mát, khổ đau, vừa “lột mặt nạ” của
những kẻ tàn độc, vô lương. Đã đến lúc người tử tế không thể đồng hành với những
kẻ nhân danh “công lý” mà đằng sau vỏ bọc hào nhoáng là sự giả dối, ti tiện, đớn
hèn, họ chỉ biết: Cao đàm khoát luận về sự tử tế/ bền bỉ tuyên ngôn cho
tình yêu thương/ rỏ nước mắt trước kẻ khốn cùng/ và im lặng trước những điều giả
dối…giữa u u minh minh vẫn nhìn ra đâu là Chân, Giả/ rồi nhếch mép quay đi (Phác
thảo một chân dung). Âm vang trong Hai phía phù sinh là niềm
day dứt, là câu hỏi trăn trở cõi người sẽ ra sao đây nếu nhan nhản quanh chúng
ta chỉ còn thấy: những ánh mắt nhắm tịt/ những ánh mắt nhìn
ngang/ những ánh mắt vờ như không nhìn/ những ánh mắt cụp xuống/ những bàn tay
lạnh tanh/ những bàn tay vờ nhấn phím/ những bàn tay buông xuôi dưới gầm bàn/
những bàn tay sột soạt trong bóng tối (Tôi nhìn thấy).
Tập thơ, vì thế đã phơi bày một sự thật đau lòng trong thời đại kỹ trị, đó là sự vô cảm như căn bệnh trầm kha lan truyền trong xã hội đã, đang và sẽ làm băng hoại giá trị Người trong mỗi một Con Người. Nó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến những bi kịch diễn ra trong cõi trần thế mà tận cùng của những tấn bi kịch ấy chính là những cái chết thương tâm. Thông điệp nhân văn đó vang lên khẩn thiết, thôi thúc người đọc hướng về phía ánh sáng nhân văn để cùng nhau hành động ngăn chặn những tấn bi kịch đang phủ xuống cuộc sống muôn loài trên cõi trần thế này. Thiết nghĩ, đây cũng có thể coi là khát vọng “dấn thân” của thi nhân vì một sự hiện hữu đúng nghĩa của con người và vạn vật.
Thơ vốn là tiếng gọi sâu
thẳm của cõi vô thức và tâm linh kết hợp với trí tưởng tượng phong phú của nhà
thơ. Không bắt đầu từ những gì cao siêu, to tát, trong Hai nửa phù sinh,
Nguyễn Thúy Quỳnh luôn ưu tư, suy niệm về cuộc sống từ những điều giản dị mà
tên gọi những bài thơ có thể cho chúng ta thấy điều này: Dựng
nhà, Sau tiếng sét đầu mùa, Chuyện kể về một ngôi nhà, Về chậu hoa giấy
ở hành lang, Chuyện trong quán nước, Nghĩ vặt về khẩu trang sau bản
tin môi trường, Về một con mèo sống cùng nhà, Trở về nhà, Biên bản buổi
chiều chưa đặt tên…Hành trình cuộc sống vốn không ít cay đắng đa đoan, lưu
dấu nhiều kỷ niệm buồn, vui, đau khổ, hạnh phúc… của thi nhân đã ít nhiều ảnh
hưởng đến kiến tạo thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Dường như những “ẩn ức” từ
trong cuộc sống là “dự phóng” để nhà thơ có thể trải lòng mình một cách “thành
thực”, một phẩm tính rất cần có trong thơ mà nếu không có nó thì thơ cũng chỉ
là những ngữ ngôn rỗng tuếch vô hồn.
Và đây là chính là sự
thành thật hiếm quí như thế trong thơ Quỳnh: Một phần mười giây/ mẹ kịp
nhận ra nỗi khiếp đảm trong mắt các con/ sau ánh chớp chói loà và tiếng nổ rung
trời của nó / một phần trăm giây/ mẹ kịp nhận ra những cánh tay nhỏ nhoi vươn
lên/ bước chân mẹ chập vào nhau, đổ về phía cuối phòng/ mười lăm mét sao mà hun
hút/ Trong bóng tối chết lặng/ dưới tay mình/ mẹ gặp những mạch máu của các con
đang líu ríu chảy/ những nơ ron thần kinh nép vào nhau run rẩy/ những tế bào
tươi non cuống cuồng/ khao khát được chở che… Xin lỗi các con.
(Sau tiếng sét đầu mùa), Vẫn biết sinh ký tử quy/ vẫn biết ngày của anh
không tính bằng trăng nhưng… /giá mà em ngộ ra những phù du cõi người/ bập bềnh
trôi ngoài cửa nhà mình/ biết đâu giờ này/ những bước chân anh đang chậm chạp
lên cầu thang/ căn phòng bé nhỏ/ vẫn ấm tiếng anh gọi em và con mỗi sớm (Có
thể ở nơi ngọn khói hương bay lên). Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình, giàu nữ tính
trong những bài thơ được cất lên từ những trải nghiệm của chính cuộc đời tác giả
là yếu tố góp phần không nhỏ cảm hóa, lay động trái tim bạn đọc. Những lo
âu, dằn vặt, tự vấn, những sám hối, tiếc nuối và cả đau đáu khát khao rất thật
của Nguyễn Thúy Quỳnh đã đánh thức nơi người đọc những gì thuộc về thiên lương,
nhân bản nhất của con người. Giá như giọng điệu đó được chảy trong tập thơ như
một mạch ngầm xuyên suốt thì tôi tin sức thuyết phục từ tập thơ này của
Nguyễn Thúy Quỳnh còn lớn hơn nhiều.
Dẫu thế nào thì cuộc sống
vẫn không ngừng trôi về phía trước, đời người vẫn diễn ra như một hành trình dằng
dặc và lữ khách không thể dừng chân. Người thơ Nguyễn Thúy Quỳnh vẫn tiếp tục
trăn trở, ưu lo để hướng đến sự hoàn thiện về đời và thơ của mình. Bởi đã
là con người, và hơn nữa là một nhà thơ không ai là không có những giới hạn. Vấn
đề là mình có nhận ra những giới hạn ấy để dũng cảm vượt lên và hoàn thiện
chính mình. Tôi đọc thấy trong Hai nửa phù sinh của Nguyễn
Thúy Quỳnh những ưu tư chồng chất ưu tư, những khắc khoải, lo âu không ngừng chảy
để hướng về miền Ánh Sáng. Mặc dù người viết bài này không hẳn thích một
số những cái kết có tính luận đề, lý trí và tỉnh táo nhưng biết đâu đó lại là dụng
ý nghệ thuật của tác giả?! Tất nhiên tôi tôn trọng chính kiến của Nguyễn Thúy
Quỳnh – một nhà thơ khao khát Tự do, tôn trọng Sự thật, luôn khát vọng Hạnh
phúc cho con người và vì con người. Chừng nào còn dằn vặt, ưu tư trong cõi phù
sinh, chừng đó tôi tin Nguyễn Thúy Quỳnh sẽ tiếp tục vượt qua giới hạn của
chính mình để khẳng định bản lĩnh sáng tạo nghệ thuật, như chị đã xác quyết: Nhưng
sinh ra đã là cây/ Không thể dầm chân trong bóng tối/ Ngày ngày gắng gỏi vươn
tìm ánh sáng/ Chắt chiu những tia nắng ngoài kia…Bất chấp sự cắt tỉa cho vừa
khuôn phép/ Bất chấp cánh cửa kia một ngày bị khép/ Vì những bông hoa / chỉ rực
rỡ dưới mặt trời (Về chậu hoa giấy ở hành lang)./.
Cầu mong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh tiếp tục tỏa hương, một thứ hương của thành thực và nhân bản… một yếu tính không thể thiếu trong thơ, nhất là trong cõi nhân gian vốn đang đầy những điều nhiễu nhương này…!.
6/4/2026
Cao Thị Hồng
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét