Phạm Thiên Thư: Người đi tìm “bụi đỏ” đã hóa thân vào “cát bụi” phận người
Nhà thơ Phạm Thiên Thư mất đi nhưng sự nghiệp thi ca của ông với Ngày xưa Hoàng thị; Đưa em tìm động hoa vàng; Gọi em là đóa tình sầu; Em lễ chùa này, cùng những bài Đạo ca đã được Phạm Duy phổ nhạc sẽ còn mãi với muôn đời, vì, Phạm Thiên Thư đã tạo cho mình một thi giới riêng, một vũ trụ ngôn ngữ riêng giàu tính dân tộc và nhân bản…
Chiều tối, lúc 18h24
phút, Báo Giác Ngộ Online – Cơ quan ngôn luận của Giáo Hội Phật
giáo Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh đưa tin về việc “ra đi”, xa lìa cõi
tạm của thi sĩ Phạm Thiên Thư với một dòng tin ngắn nhưng trang trọng: “Phạm
Thiên Thư tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người “thi hóa kinh Phật” vừa từ
trần lúc 6h15 phút, chiều nay, 7.5.2026”.
Tôi thật sự bàng hoàng
khi đọc tin này!? Vẫn biết rằng việc nhà thơ Phạm Thiên Thư ra đi về chốn vĩnh
hằng là chuyện tất yếu phải đến, vì lâu nay ông phải sống trong bệnh tật, phải
trải qua những cơn đau thể xác vốn là qui luật của kiếp người nhưng sự ra đi của
một tài năng thi ca như ông, không khỏi để lại trong lòng người yêu thơ một khoảng
trống khó bù đắp. Bởi, những giá trị ông đã sáng tạo cho nền văn học hiện đại
nước nhà, trong đó có di sản văn học miền Nam 1954-1975 là những giá trị có ý
nghĩa đặc biệt của một tài năng thi ca đặc biệt của dân tộc, không dễ tìm thấy,
nhất là khi những thi phẩm nỗi tiếng của ông ra đời trong thời kỳ mà ảnh hưởng
của văn hóa Âu – Mỹ đang ngập tràn ở xã hội miền Nam lúc bấy giờ. Vậy mà, Phạm
Thiên Thư vẫn giữ cho mình một hồn thơ trong sáng, thánh thiện và thuần khiết
thấm đẫm “giòng sinh mệnh” văn hóa dân tộc quyện hòa trong văn hóa và tư tưởng,
triết lý Phật Giáo, thế nên các nhà nghiên cứu văn học thường nói đến chất thiền
riêng có trong thơ ông.
Nhà thơ Phạm Thiên Thư,
tên thật Phạm Kim Long, sinh năm 1940, ở Thái Bình (nay là thành phố Hải
Phòng). Ông xuất hiện trên thi đàn miền Nam khá muộn, cho nên thơ ông dường như
ít được xuất hiện trong các tuyển tập thơ giới thiệu về tác giả, tác phẩm ở miền
Nam giai đoạn 1954-1975 như: Những nhà thơ hôm nay, (Nhà văn Việt
Nam xuất bản, Sài Gòn, 1967), Văn học hiện đại, Thi ca và thi
nhân của Cao Thế Dung, (Quần chúng xuất bản, Sài Gòn, 1969); Tác
giả tác phẩm, Nhà văn hiện đại của Trần Tuấn Kiệt, (Tác giả
xuất bản, Sài Gòn, 1973); Thi nhân Việt Nam thế hệ 1954-1973 của
Nguyễn Tấn Long, Phan Canh, (Sống Mới xuất bản, Sài Gòn, 1974)… nhưng ông đã để
lại cho đời một gia sản văn chương đồ sộ, lưu dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc
với những tác phẩm đã xuất bản đi cùng năm tháng.
Đó là những tác phẩm
như: Thơ Phạm Thiên Thư (1968); Kinh Ngọc (thi
hoá Kinh Kim Cương); Động Hoa Vàng (thơ, 1971); Đạo
ca (nhạc Phạm Duy); Hậu Kiều – Đoạn Trường Vô
Thanh (1972); Kinh thơ (thi hoá Kinh Pháp
Cú); Quyên Từ Độ Bỏ Thôn Đoài (thơ); Kinh Hiếu (thi
hóa kinh); Kinh Hiền (thi hoá Kinh Hiền Ngu, gồm 12.000
câu lục bát); Ngày xưa người tình (thơ); Trại Hoa
Đỉnh Đồi (thơ, 1975); Thơ Phạm Thiên Thư (Nhà xuất bản Đồng
Nai tái bản); Tự điển cười (24.000 bài tứ tuyệt tiếu liệu
pháp); Vua núi vua nước (tức Sơn Tinh Thủy tinh, Nhà
xuất bản Văn hóa Thông tin, 2003)… Và thành tựu đáng ghi nhận của Phạm Thiên
Thư là việc ông được trao giải nhất Văn chương toàn quốc thời Việt Nam Cộng
Hòa, năm 1973, cho tác phẩm Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh, một giải
thưởng văn chương danh giá thời bấy giờ.
Trong hành trình sống và
lao động văn nghệ của mình, Pham Thiên Thư có gần mười năm làm tu sĩ Phật giáo,
từ 1964 -1973, và điều này cũng được thi sĩ chia sẻ trong thơ rất thành thực “Anh
khoác áo nâu sồng/ Em chân trời biền biệt/ Tên ai còn tha thiết/ Trong tiếng
chuông chiều đưa” (Vết chim bay). Vì thế, thơ ông nhuốm màu thiền và tư tưởng
triết lý Phật giáo, một đóng góp mà không phải ai cũng làm được khi ông đã thi
hóa kinh Phật, đã viết lời cho 10 bài Đạo ca của Phạm Duy mà theo suy niệm của
Tạ Tỵ: “Đạo ca không phải là những bài ca tôn giáo mà chữ Đạo ở đây, Duy dùng
theo nghĩa: lý công nhiên (vérité), tức là nhập vào sự thực: sự thực của lý trí
của suy luận và ngay cả của đời sống nữa. Duy đã soạn được ba bản Đạo ca phổ
thơ Phạm Thiên Thư (Thích Tuệ Hải). Phạm Thiên Thư một cái tên mới như Nhất Hạnh
hôm nào. Thơ Phạm Thiên Thư thanh thoát nhẹ nhàng pha lẫn huyễn hoặc. Phạm
Thiên Thư đi tìm chân lý qua những hình ảnh vừa gần gủi, vừa xa xôi với đời sống.
Nội dung mỗi bài thơ ít nhiều gì cũng mang ý niệm thuộc về Phật Học”(1).
Không những thế, ông còn
là một nhà thơ tình với những thi phẩm đặc sắc được Phạm Duy chọn và phổ nhạc
đã trở thành những nhạc phẩm nỗi tiếng như: Ngày xưa Hoàng thị; Đưa
em tìm động hoa vàng… được công chúng ngưỡng mộ, nhất là giới trẻ miền Nam
lúc bấy giờ. Và theo tôi có lẽ, không giống với những nhà thơ khác, khi thơ
mình được các nhạc sĩ tài danh phổ nhạc, công chúng tiếp nhận thường chỉ biết /
nhớ đến người nhạc sĩ mà ít khi biết/ nhớ đến nhà thơ. Còn với Phạm Thiên Thư,
người ta không chỉ nhớ cả tên thi sĩ và nhạc sĩ, thậm chí ở một số nhạc phẩm,
người ta nhớ đến tên thi sĩ, trước khi nhớ đến nhạc sĩ. Đó là trường hợp của những
bản tình ca đầy huyễn hoặc và mộng tưởng như: Ngày xưa Hoàng thị; Đưa
em tìm động hoa vàng… khi nói đến, người ta nhắc ngay đến thi sĩ Phạm Thiên
Thư. Mặc dù, công bằng mà nói, nếu không có sự tài hoa của thiên tài Phạm Duy
phổ nhạc, những bài thơ này của Phạm Thiên Thư, có thể công chúng sẽ không biết
nhiều và sẽ không bị ám ảnh về giá trị mỹ cảm lấp lánh từ những viên ngọc thơ độc
đáo này!?.
Để rôi, cũng như nhiều
người, yêu thơ Phạm Thiên Thư và yêu nhạc Phạm Duy, tôi “mê” tình khúc Ngày
xưa Hoàng thị; Đưa em tìm động hoa vàng do Phạm Duy phổ thơ của
Phạm Thiên Thư từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường trung học ở miền Nam
trước 1975. Và với những bản tình ca Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi
em là đóa tình sầu, Em lễ chùa này, Ngày xưa Hoàng thị cùng
những bài Đạo ca, thơ Phạm Thiên Thư, do Phạm Duy phổ nhạc đã trở thành một sự
cộng hưởng nghệ thuật lạ thường ở miền Nam trong thập niên bảy mươi. Sự cộng hưởng
nhiệm mầu ấy không chỉ là sự hòa hợp diệu kỳ của cuộc hôn phối giữa thi ca và
âm nhạc mà còn ở sự chiếm lĩnh thế giới tâm cảm của bao thế hệ người Việt ở miền
Nam lúc bấy giờ.
Nói như Tạ Tỵ: “Phạm Duy
nương vào thơ Phạm Thiên Thư để giải bầy ý tưởng mình và chờ đợi sự hóa kiếp của
bản thân và người yêu trong nhịp luân hồi. Hơi nhạc của Đạo ca Một, thực tình
chưa thoát du vào cõi lâng lâng của dòng thời gian không biên giới giữa tiền kiếp,
hiện tại và mai sau!… Đạo Ca Hai mang ý nghĩa đại nguyện gần với Tâm Ca 6: Một
cành củi khô) tức là mang tình thương để cứu rỗi mình và người. Làm việc tốt
cho người tức là cho mình, vì muôn loài cũng như vũ trụ phải nương vào nhau mà
sống, mà sinh hóa muôn đời!”(2).
Có thể nói, thơ Phạm
Thiên Thư quyện hòa với âm nhạc Phạm Duy ở những nhạc phẩm như: Đưa em
tìm động hoa vàng, Gọi em là đóa tình sầu, Em lễ chùa
này, Ngày xưa Hoàng thị, Đạo ca đã trở thành nỗi ám ảnh
khôn nguôi với biết bao người trong cuộc đời mà nhiều khi chỉ một “dấu chân
chim bé nhỏ” của ai đó thuở nào trong quá vãng từ tuổi hoa niên thơ mộng, sáng
trong, thánh thiện cũng hằn sâu trong tâm thức chúng ta, để rồi, suốt đời tìm
kiếm, mỗi khi nhớ về những buổi “tan trường” huyền thoại và đẹp như cổ
tích: Em tan trường về/ Đường mưa nho nhỏ/ Chim non giấu mỏ/ Dưới cội
hoa vàng… (Ngày xưa Hoàng thị)
Thật vậy, tình yêu bao giờ
cũng chứa trong nó sự huyền diệu của khát vọng kiếm tìm. Cái đẹp của tình yêu,
vì thế cũng là cái đẹp của sự đam mê khám phá và tìm kiếm. Phạm Thiên Thư cũng
thế!? Ông cũng đã yêu, đã sống, đã hạnh phúc, khổ đau giữa cõi đời và cõi yêu.
Vì thế tình yêu trong thơ ông bao giờ cũng gắn với những hoài niệm nhiều khi rất
cụ thể nhưng cũng rất lãng mạn và đầy chất trữ tình qua những hình ảnh thơ giàu
mỹ cảm. Đó là một chùm hoa “ép từ hạ cũ“, là một “đường mưa nho nhỏ”
ngày em tan trường, là “Chúng mình ngày nọ/ ngó mây lang thang“, là “con
đường sầu đông / em đi guốc tía“, là “em nhớ gì không / cái chiều hạ nọ“,
là Đêm nghe mưa nhỏ/ Động mái lều thơ/ Dưng nhớ người xưa/ Áo vàng thuở
nọ” (Hạ hoa).
Và chính những kỷ niệm tưởng
như bình thường mà rất sâu nặng, thiêng liêng này là nguyên nhân tạo nên nỗi
khát vọng kiếm tìm trong cảm thức của thi sĩ, một nỗi kiếm tìm định mệnh như
căn tính của tình yêu và thân phận: “Ta về rũ áo mây trôi/ Gối trăng
đánh giấc bên đồi dạ lan/ Rằng xưa có gã từ quan/ Lên non tìm động hoa vàng ngủ
say” (Động hoa vàng), và “Hoa vàng ta để chờ anh/ Hiện thân ta hát trên
cành tâm mai/ Trần gian chào cõi mộng này/ Sông Ngân tìm một bến ngoài hoá
duyên” (Động hoa vàng).
Tình yêu bao giờ cũng dệt
bằng kỷ niệm. Kỷ niệm là phép màu tạo nên sự bất tử của tình yêu. Thế nên, khi
yêu nhau người ta yêu bằng kỷ niệm và lúc xa nhau người ta cũng nhớ nhau qua kỷ
niệm. Bởi, nói như nhà văn, nhà văn hóa Phạm Quỳnh “Cái gì cũng qua, cái gì
cũng mất, chỉ có kỷ niệm là còn”. Và, cảm thức này dường như luôn trôi trong
thơ Phạm Thiên Thư như một dấu chỉ của tình yêu và thân phận mà chính kỷ niệm
trong tình yêu cùng khát vọng kiếm tìm đã khiến tình yêu trở thành hằng cửu, một
sự hằng cửu được nuôi dưỡng bằng hoài niệm của yêu thương và mong nhớ. Vết
chân chim, bài thơ tình thuở ban đầu của Phạm Thiên Thư là thi phẩm minh chứng
cho sự hằng cửu của tình yêu: “Ngày xưa anh đón em/ Nơi gác chuông chùa nọ/
Con chim nào qua đó/ Còn để dấu chân in/ Anh một mình gọi nhỏ Chim ơi biết đâu
tìm” (Vết chân chim); Vì vậy, sự tìm kiếm trong tình yêu cũng là sự kiếm
tìm thế giới của kỷ niệm, của nhớ mong.“Mười năm anh qua đó/ Còn vẫn dấu
chân chim/ Anh một mình gọi nhỏ/ Em ơi biết đâu tìm” (Vết chân chim). Tình
yêu trong thơ Phạm Thiên Thư là tình yêu của sự kiếm tìm kỷ niệm với những nỗi
nhớ mong nhiều khi đến nao lòng: “Rồi em về đâu/ Nhớ chi con cầu/ Riêng ta
ngồi mãi/ Dưới tàng hoa ngâu” (Qua Cầu).
“Rồi em về đâu”, một câu hỏi như một lời tự vấn. Đó cũng là nỗi xót xa khi nhận ra sự hiện hữu của tình yêu ngày nào chỉ còn là những giấc mơ trong hoài niệm của bến bờ hư tưởng: “Bây giờ hoa cũ/ Rụng hoài trong mơ” (Giàn mơ), Bởi tất cả giờ đã nhạt nhòa theo năm tháng xa mờ, quạnh vắng của nỗi cô đơn phận người trong kiếp lưu đày: “Rồi từ đây – vườn chùa thanh vắng/ Đến thăm em – ngày tháng qua mau/ Một nụ mai – vừa nở trong nắng/ Hỡi em ơi – mây đã qua cầu” (Em lễ chùa này). Tình yêu luôn đồng hành với nỗi nhớ. Và nỗi nhớ bao giờ cũng chứa trong đó những chiêm bao, mộng mị đến lạ lùng, nên sự kiếm tìm trong tình yêu cũng chính là sự kiếm tìm những giấc chiêm bao diệu kỳ mà Tế Hanh có lần đã thảng thốt, bàng hoàng: “Chiêm bao bừng tỉnh giấc/ Biết là em đã xa/ Trên tường một tia nắng/ Biết là đêm đã qua” (Chiêm bao – Tế Hanh).
Phải chăng khi sự hiện hữu
của tình yêu chỉ còn là những hoài niệm thì con người cũng chỉ biết tìm tình
yêu trong mộng mị vô thường. Cứ thế, thực và mộng, nhớ và quên, hạnh phúc và khổ
đau, mãi vận chuyển như kiếp luân hồi. “Đợi em dài một luân hồi/ Thêm vài giờ
nữa mình ngồi có sao/ Đợi em như đợi chiêm bao/ Biết đâu chiêm mộng có vào
đêm nay”(Đợi chờ). Chính vì vậy, bước vào cõi yêu trong thơ Phạm Thiên
Thư, ta luôn bắt gặp nỗi ám ảnh của một con người đi tìm “bụi đỏ” mà ai đó đã
vô tình mang đi. “Bụi đỏ” chính là dấu tích của tình yêu đã xa mờ trong quá
vãng. Nhưng cũng là hạt bụi của phận người trong cõi phù sinh
mà một thi sĩ đồng thời là một tu sĩ Phật giáo như Phạm Thiên Thư đã cảm nhận từ
trong vô thức của mình: “Mốt mai em nhớ bao giờ/ Bãi dâu vẫn mộ cho dù sắc
không” (Động hoa vàng).
Vì vậy, nỗi ám ảnh “bụi đỏ”,
không chỉ hiện hữu ở bài thơ Ngày xưa Hoàng thị mà còn bàng bạc
trong nhiều bài thơ khác của Phạm Thiên Thư như một vết hằn trong tâm thức. Để
rồi vết hằn ấy trở thành nỗi đau trong tâm cảm thi nhân. Vì: Thôi còn gì
đâu/ dặm trường bụi đỏ” (Tái ngộ). Mặc dù vậy, thi nhân vẫn
yêu đến vô cùng hạt bụi ngày ấy, tuy giờ đã quá xa xăm với một
tình yêu miên viễn, một tình yêu lặng lẽ, vô ưu và độ lượng. Một tình yêu mà ở
đó không có những vụ lợi tầm thường, không có những khát thèm nhục cảm đến bệnh
hoạn, chỉ có tiếng gọi thổn thức từ trái tim lặng lẽ khao khát tin yêu… “Anh
lặng nghe bằng tim/ Thấm từ lời mật đó/ Anh thành con còng nhỏ/ yêu hạt bụi vô
cùng” (Giọt mật).
Thơ tình của Phạm Thiên
Thư là thơ được dệt thành từ những mộng mị vô thường. Nói như Joseph Huỳnh Văn:
“Có phải những ngày sầu đưa, những sắc vàng nhạt, những động hoa vàng là cõi
thơ của Phạm Thiên Thư? Xa thì từ muôn thuở, muôn nơi, mà gần thì ở chính ngay
lòng thi sĩ; cho nên tuy thân thiết, lời thơ vẫn mang cái vẻ ngậm ngùi xa vắng”.
Bởi, cái khát vọng trong tình yêu của thi nhân thật giản dị, chân thành và
trong sáng đến hồn nhiên như một giấc mơ “Bây giờ ta đã gặp nhau/ Thì xin đừng
để nghìn sau ngậm ngùi” (Chiêm bao)
Phải chăng khát vọng kiếm
tìm là một trong những yếu tính của tình yêu. Và khi nào còn khát vọng tìm kiếm
thì tình yêu vẫn còn nguyên giá trị; vẫn mãi mãi là một tiếng gọi thao thiết
trong cõi tâm linh của mỗi con người. Đó cũng là điều ta bắt gặp trong thơ Phạm
Thiên Thư, một con người suốt đời đi tìm “bụi đỏ” của tình yêu và thân phận,
khiến chúng ta không khỏi thấy nao lòng khi nghĩ về tình yêu đã đi qua trong cuộc
đời của chính mình. Để rồi, cũng như thi nhân ta cứ mãi: “Tìm xưa quẩn
quanh/ Ai mang bụi đỏ/ Dáng ai nho nhỏ/ Trong cõi xa vời. / Tình ơi!… Tình ơi!
…” (Ngày xưa Hoàng thị). Và nhiều khi khát vọng kiếm tìm đó
cũng chỉ là sự kiếm tìm trong xa xót, vô vọng nhưng sao ta vẫn cứ mãi đi tìm…
Phải chăng, đó mới là tình yêu đích thực, một tình yêu định mệnh…
Bây giờ thì ông đã vĩnh
viễn rời xa cõi tạm trong buổi hoàng hôn nắng tắt giữa phố xá Sài Gòn, nơi ông
đã có những tháng năm để yêu và sống, để lao động và sáng tạo, để hạnh phúc và
khổ đau, để vinh quang và cay đắng trong sự trải nghiệm của số kiếp để hóa thân
vào cát bụi phận người mà cả đời thi nhân mãi dấn thân, lặng lẽ đi tìm “hạt bụi”
vô thường ấy như một ám ảnh của vô thức và tâm linh. Thơ Phạm Thiên Thư, vì thế,
là thơ của những ám ảnh phận người mà sự dự phần của ông giữa cuộc đời với 87
năm hiện hữu nơi trần thế là một minh chứng với những nghiệm sinh đầy tính triết
luận mà ông đã gởi gắm trong thi phẩm “Vết chim bay” đầy ám gợi, in trong tập
thơ “Ngày xưa người tình” (1974), năm đó ông mới 34 tuổi, như một lời trăn trối
của ông về thân phận mỏng manh của kiếp người mà dường như ông đã dự cảm từ lâu
rồi khi còn là một “gã” thanh niên lãng tử, viễn mơ với bao nhiêu sầu mộng của
kiếp người mà ở lứa tuổi ấy ông đã bắt đầu chiêm nghiệm: “Cõi người có bao
nhiêu/ Mà tình sầu vô lượng/ Còn chi trong giả tướng/ Hay một vết chim bay!”
(Vết chim bay)
Quả thật, phận số con người
trên cõi đời chỉ là một tia chớp có rồi lại không mà Thiền Sư
Vạn Hạnh đã truyền dạy cho đệ tử khi ông sắp mất trong bài kệ Thị đệ tử: “Thân
như điện ảnh hữu hoàn vô/ Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô/ Nhậm vận thịnh suy vô
bố úy/ Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”. (dịch nghĩa: “Đời người như ánh
chớp, có rồi lại không, / Cây cối, mùa xuân tốt tươi, mùa thu khô héo. / Mặc kệ
vận đời dù thịnh hay suy, đừng sợ hãi, / Vì thịnh suy cũng mỏng manh như giọt
sương treo đầu ngọn cỏ”). Phải chăng, đốn ngộ được điều này từ rất sớm
trong tâm thức thi nhân, khi còn là một tu sĩ Phật giáo nên nhà thơ Phạm Thiên
Thư đã sống giữa cõi trần cũng như chuẩn bị cho chuyến ra đi về cõi vĩnh hằng của
mình nhẹ nhàng như một giấc chiêm bao lúc thi sĩ làm thơ.
Và tôi, người yêu quí thơ Phạm Thiên Thư xin gởi nén tâm hương đến thi sĩ qua bài viết này, mong hương linh ông sớm siêu thoát nơi cõi Phật trong niềm tin vững chắc rằng, dù Phạm Thiên Thư mất đi nhưng sự nghiệp thi ca của ông với Ngày xưa Hoàng thị; Đưa em tìm động hoa vàng; Gọi em là đóa tình sầu; Em lễ chùa này, cùng những bài Đạo ca đã được Phạm Duy phổ nhạc sẽ còn mãi với muôn đời, vì, Phạm Thiên Thư đã tạo cho mình một thi giới riêng, một vũ trụ ngôn ngữ riêng giàu tính dân tộc và nhân bản. Bởi, ngôn ngữ thơ không bao giờ là con chữ vô hồn mà là hiện thân của tư tưởng, tình cảm, là mối tương giao giữa nhà thơ với người đọc, là sự khẳng định phẩm tính thi nhân của nhà thơ giữa cuộc đời. Nói như Cao Thế Dung: “Ngôn ngữ thơ tự nó đã có một giá trị nhiệm mầu trong sự truyền đạt cảm thông”(3). Và với sứ mệnh “cao trọng hóa tiếng nói của con người”, nhà thơ có phong cách phải tạo ra một “tiếng nói riêng”, “một giọng điệu riêng”, trong thế giới nghệ thuật thi ca của mình. Và, nói như Chế Lan Viên: “làm thơ là tạo ra một hành tinh thứ hai bằng ngôn ngữ”(4). Phạm Thiên Thư đã làm được điều này bằng chính tài năng thi ca, thi cảm trong hành trình lao động sáng tạo nghệ thuật của mình, nên thơ ông trở thành bất tử trong tri nhận của người đọc, có lẽ là vì thế…
Chú thích:
(1), (2) Tạ
Tỵ, Phạm Duy còn đó nỗi buồn, Văn Sử học, xuất bản, Sài Gòn, 1971,
tr.254, tr. 255
(3) Cao
Thế Dung, Thi ca và thi nhân, Quần Chúng xuất bản, Sài Gòn, 1969,
tr.111
(4) Chế Lan Viên, Di cảo thơ III, Nxb. Thuận Hóa Huế, 1996, tr.230
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 9/5/2026
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét