Thứ Hai, 12 tháng 5, 2014

Vài dòng... của 100 ca khúc

Vài dòng...của 100 ca khúc

    Nào có ai ngờ,với thời gian ngắn ngủi 66 ngày của hơn 2 tháng, tôi đã cố gắng hết sức ngày đêm để hoàn tất được 100 ca khúc kể từ đầu tháng 4/2013 với 20 ca khúc của tập “ Những bông hoa đầu mùa“ đầu tiên. Rồi đến tập thứ 2, thứ 3 “ Hành trình tìm kiếm tiết điệu ” phần 1, phần 2 và tập 4, tập 5 ” Con đường tìm giai điệu ”.
      Rồi đến nay 6/6/2013 thì đã đủ 100 ca khúc với 5 tập hẵn hòi, mỗi tập 20 ca khúc.Thật là, một sự cố gắng vượt bực, một nỗ lực không ngừng nghỉ. Đôi khi nghĩ lại cũng tự thích thú chính mình. Và có nói “ Người viết ca khúc thầm lặng ” không oan vậy. Thật tốn biết bao công sức, thời gian và giấy, mực!.
      Tôi cố gắng hồi tưởng lại những gì đã học ở nhà trường phổ thông khi xưa, những câu văn thơ thích nhất mà đến nay vẫn không thể nào quên được: Từ một Phan Khôi với bài Tình già nổi tiếng của phong trào thơ mới: “ Hai mươi bốn năm sau- Tình cờ đất khách gặp nhau- Đôi cái đầu đều bạc- Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được....” (tập 4). Rồi Lưu Trọng Lư “ Em không nghe mùa thu ....Em không nghe rừng thu. Lá thu kêu xào xạc.....Con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô...”(Tiếng thu), “ Mắt em là một dòng sông...
Thuyền ta bơi lặng trong dòng mắt em...(Trăng lên). Đến nhà thơ Thâm Tâm với bài Tống biệt hành  nổi tiếng một thời “ Đưa người ta không đưa sang sông – Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng- Bóng chiều không thẳm không vàng vọt- Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ....Mẹ! Thà coi như chiếc lá bay- Chị! Thà coi như là hạt bụi- Em! Thà coi như hơi rượu cay ....” ( tập 4 ). Kể đến nhà thơ Xuân Diệu- một thời thanh niên nam nữ mê say những bài ca tụng tình yêu, rồi quên sao được  Lời kỹ nữ  trên dòng sông Hương- núi Ngự năm nào “ Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa.... Chớ để riêng em gặp phải lòng em... Mắt run mờ kỹ nữ thấy sông trôi... Du khách đi du khách đã đi rồi...”. Bài Đây mùa thu tới của Xuân Diệu ” Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang...Với áo mơ phai dệt lá vàng ...Và với bài Tương tư chiều “ Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm...Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi... Rồi thi sĩ Huy Cận với bài Trình bày “ Người biết đấy lòng tôi trong trắng lắm...Khi thanh xuân tôi mãi chạy theo tình ...Quên, quên, quên đã mang trái tim người ..”. Bài Đi giữa đường thơm của Huy Cận “ Đường trong làng hoa dại với mùi rơm...Một buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao. Có cu gáy , có bướm vàng nữa chứ. Mà đôi lứa đứng bên vườn tình tự. “ Thôi đã tan rồi vạn gót hương- Của người đẹp tới tự trăm phương- Tan rồi những bước không hò hẹn- Đã bước trùng nhau một ngả đường....Của những bàn chân rỗ dấu đời....(Dấu chân trên đường). Rồi thi sĩ họ Hàn:Hàn Mặc Tử với bài Đây thôn Vĩ dạ “ Sao anh không về chơi thôn Vĩ .. Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay...Mơ khách đường xa khách đường xa- Áo em trắng quá nhìn không ra...” Ai biết tình ai có đậm đà....Rồi bài “Bẽn lẽn” nữa” Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu...Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe...Em sợ lang quân em biết được. Nghi ngờ đến cái tiết trinh em...”.Còn nữa 3 bài thơ Thu bất hủ của Nguyễn Khuyến nói về mùa thu ở thôn quê xưa: Mùa Thu đi câu cá:” Ao thu lạnh lẽo nước trong veo- Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo....
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được- Cá đâu đớp động dưới chân bèo..”.(Thu điếu). Rồi mùa Thu uống rượu:” Năm gian nhà nhỏ thấp le te....Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy- Độ năm ba chén đã say nhè...”(Thu ẩm); hoặc mùa Thu làm thơ vịnh:” Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao...” (Thu vịnh). Lưu Trọng Lư với bài Tiếng Thu, còn Huy Cận thì Thu rừng có đoạn ” Nai cao gót lẫn trong mù- Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về...Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh lùng- sầu thu lên vút song song- Với cây hiu quạnh với lòng quạnh hiu...”. Mấy câu rất hay của thi sĩ Đoàn Phú Tứ trong bài Màu thời gian “ Màu thời gian không xanh- Màu thời gian tím ngát – Hương thời gian không nồng- Hương thời gian thanh thanh ...Duyên trăm năm đứt đoạn, tình muôn thuở còn hương...”. Với Bích Khê- thi sĩ của “ Những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam “ 
( Hoài Thanh ) “. Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm- Nàng là hương hay nhan sắc lên hương....(Tranh lõa thể), hay “ Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng- Vàng rơi! Vàng rơi: thu mênh mông (Tỳ bà)...”
     Thật là những câu rất hay, rất đẹp vậy. Ngoài ra các thi sĩ khá quen thuộc:Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Thế Lữ, Hồ Dzếnh...mà tôi đã chọn viết các tập trước.
      Tất cả đều do lòng đam mê, thích thú và cố gắng hoàn thành được.
 100 ca khúc này, cũng là việc đánh dấu ban đầu:“ Vạn sự khởi đầu nan “ cho bước tiếp theo chắc hẳn bớt khó khăn, vất vả hơn.
  Đại văn hào Lỗ Tấn bên Trung quốc có một câu nổi tiếng: “ Tự kỷ văn chương, tha nhân thê ”, có nghĩa là “Văn mình, vợ người “. Thế nên, cho dù hay hoặc dở thì cũng là của mình vậy.
      Vì vậy, tôi hăng hái trân trọng và giới thiệu cùng các bạn, những người yêu thích âm nhạc để cùng tôi hát vui những ngày, giờ thích hát như khi người ta rãnh rỗi ngâm nga vài câu truyện Kiều hay hát nhạc Trịnh vậy .
Thành phố HCM 6/6/2013
Triều Châu
Mục lục
( 20 ca khúc xếp theo A,B,C...)
1) Bên dòng sông – Triều Châu
2) Bẽn lẽn – Hàn Mặc Tử
3) Dấu châu trên đường – Huy Cận
4) Đây mùa thu tới – Xuân Diệu
5) Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử
6) Đi giữa đường thơm – Huy Cận
7) Giữ gìn – Hồ Dzếnh
8) Màu thời gian – Đoàn Phú Tứ
9) Thu ẩm – Nguyễn Khuyến
10) Thu điếu – Nguyễn Khuyến
11) Thu rừng – Huy Cận
12) Thu vịnh – Nguyễn Khuyến
13) Tiếng chim hót – Triều Châu
14) Tiếng thu – Lưu Trọng Lư
15) Tình lãng – Phạm Thiên Thư
16) Tỏ tình – Phạm Thiên Thư
17) Trăng lên – Huy Cận
18) Tranh lõa thể – Bích Khê
19) Tỳ bà – Bích Khê
20) Vết chim bay – Phạm Thiên Thư

Ca khúc

Con đường
Tìm
Giai điệu
Tập 5

Triều Châu

Căn bản của âm nhạc là giai điệu
Thành phố HCM 6/6/2013


10 ca khúc ngợi ca Thiên Chúa của Triều Châu
















Tiếng Thu Lưu Trọng Lư dưới ngòi bút của Nguyễn Thụy Kha và Trần Đăng Khoa

Tiếng Thu Lưu Trọng Lư dưới ngòi bút của 
Nguyễn Thụy Kha 
        Xuất hiện giữa mùa hạ nóng bức và mùa đông lạnh lẽo, mùa thu mát dịu và mơ màng là nguồn cảm hứng bất tận của văn nhân, thi sĩ xưa nay. Viết Thu vịnh và Đây mùa thu tới, Nguyễn Khuyến và Xuân Diệu đã đóng góp cho văn học sử nước nhà hai bài thơ hay về cảnh thu và tình thu. Với Tiếng thu, Lưu Trọng Lư viết thu thanh và đã dọn cho mình một chỗ ngồi khá độc đáo trên văn đàn của những thi sĩ mùa thu:
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức? 
      
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu    
 

Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?

       Chủ đề tiếng thu đã được nhà thơ thể hiện trước hết bằng từ ngữ. Xuyên suốt bài thơ là một từ “nghe” xuất hiện ba lần ở đầu mỗi khổ thơ. Người đọc nghe gì? Chúng ta nghe lời “thổn thức” dưới ánh trăng mờ của mùa thu được nhân cách hóa, nghe tiếng lòng “rạo rực” của người cô phụ có chồng đi đánh giặc xa, nghe tiếng lá thu rơi “xào xạc” trong rừng vắng.
Chủ đề tiếng thu còn được tác giả diễn tả bằng thanh âm. Đó là hai câu thơ có toàn thanh bằng xuất hiện ở đầu khổ thơ thứ nhất và thứ ba: “Em không nghe rừng thu”
             Trước cách mạng tháng Tám, trong khi câu thơ Đường và thơ lục bát với luật gián cách bằng trắc còn ngự trị trên văn đàn, Lưu Trọng Lư đã sáng tạo và độc đáo khi tự do viết những câu thơ ngũ ngôn có toàn thanh bằng để miêu tả tiếng thu. Đọc những câu thơ này, cùng với sự hỗ trợ của nguyên âm “u” tròn môi xuất hiện nhiều lần ở cuối câu thơ, ta như nghe được tiếng thu êm đềm, nhẹ nhàng và vang vang của tác giả.
             Cú pháp của bài thơ cũng góp phần biểu hiện tiếng thu. Không phải ngẫu nhiên mà cả ba khổ thơ của bài Tiếng thu đều được viết bằng ba dấu hỏi ở cuối ba khổ thơ này. Tại sao tác giả phải hỏi liên tục như vậy? Tại vì nhà thơ không tin người em nào đó có thể nghe được cái tiếng thu quá xa vắng và mơ hồ. Không nghe ư? Em hãy lắng lòng sâu đậm để tiếp nhận tiếng thu dịu nhẹ và mơ màng ấy.
              Cấu trúc của bài thơ cũng được tác giả sử dụng để thể hiện chủ đề tiếng thu. Hầu hết các bài thơ cũ và thơ mới đều được viết thành những khổ bốn câu đều đặn. Ở bài thơ này, số dòng trong mỗi khổ thơ tăng dần đều. Nếu xem mỗi dòng là mỗi khổ thơ thì khổ thứ nhất có hai câu, khổ thứ hai có ba câu, khổ thứ ba có bốn câu. Nhà thi sĩ có ý thức khi viết những khổ thơ như vậy để diễn tả một cách có nghệ thuật cái tính chất ngân nga, lan tỏa của thu thanh. Thêm vào đó, cách gieo vần liền bằng các từ láy đặt ở cuối câu thơ đã liên kết các câu thơ trong khổ (“xào xạc” với “ngơ ngác”) và các khổ trong bài (“thổn thức” và “rạo rực”), vừa làm giàu yếu tố nhạc của thơ, vừa làm cho các câu thơ và khổ thơ như kéo dài ta và nối lại với nhau, tạo cho bài thơ cái âm hưởng miên man của khúc thu ca.
        Để thưởng thức trọn vẹn giai điệu mùa thu của Lưu Trọng Lư, hãy đọc lại Tiếng Thu, đọc liền mạch và chỉ dừng lại một giây khi gặp dấu chấm hỏi. Hãy tưởng tượng có ai đó ném xuống mặt nước phẳng lặng của hồ thu một viên đá nhỏ. Nhiều vòng tròn sóng đồng tâm xuất hiện và lan tỏa mãi. Đó là hình ảnh làn sóng âm thanh của tiếng thu mà nhà thi sĩ Lưu Trọng Lư đã làm vang lên trong tâm hồn mỗi người.
Hai dòng thơ cuối của Tiếng thu đã vẽ lên trước mắt người đọc hình ảnh:
"Con nai vàng ngơ ngác
  Đạp trên lá vàng khô"
          Ta nghe gì khi nhìn thấy hình ảnh ấy? Có phải ta nghe tiếng lá vàng khô vỡ vụn dưới những bước chân nai ngơ ngác? Tiếng thu đích thực của Lưu Trọng Lư là như vậy đó. Ta không nghe tiếng thu ấy bằng tai mà nghe bằng trí tưởng tượng, nghe vang lên trong tâm hồn, mỗi khi thấy lá ngoài đường rụng nhiều và những đám mây bàng bạc trên không...
           Tắt một lời, thu thanh của Lưu Trọng Lư là vô thanh. Đó là cái "vô thanh thắng hữu thanh" mà tác giả Tỳ Bà Hành là Bạch Cư Dị đã một lần khẳng định trong cảnh trăng nước tương giao trên bến Tầm Dương. Với nhận thức tinh tế của nhà thi sĩ, trong Đây mùa thu tới, Xuân Diệu đã cảm được cái tiếng thu ấy khi nhìn những "thiếu nữ buồn không nói”. Bằng trí tuệ của một nhà phê bình có biệt tài, trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã "ngộ" được cái thu thanh ấy khi bình Tiếng thu của Lưu Trọng Lư:
         "Tiếng thu" ấy, riêng gì mùa thu mới có? Tuy nó phát khởi từ mùa thu nhưng nó đã vang bên tai loài người từ muôn đời thì bao giờ chả còn chút dư âm sau những ngày thu tàn tạ. Đã sống nhiều trong cuộc đời tư tưởng thì dầu trong mùa đông hay mùa xuân, mùa thu hay mùa hạ, ai là người không có những buổi “chiều thu”, những buổi mà cái buồn vẩn vơ nó đến van lơn cám dỗ, những buổi mà tiếng thu vàng, gieo vừa nhẹ, vừa chìm. Như một phút chợt dừng trong trường tình phiêu lưu của Lưu Trọng Lư, "Tiếng thu” dội lên âm thanh day dứt của một thời bơ vơ xa xưa. Va còn vọng mãi đến bao giờ?
Em không nghe mùa thu                     
Dưới trăng mờ thổn thức? 

Em không nghe rạo rực

Hình ảnh người chinh phụ
Trong lòng người cô phụ?         
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.

     Bằng hình thức kết cấu cú pháp. Điệp ngữ phủ định và câu hỏi tu từ, bài thơ "Tiếng thu” đã được Lưu Trọng Lư thể hiện tới toàn bích trong hơi thở thấm đẫm của văn học lãng mạn thời Thơ Mới.
Nhà thơ Nguyễn Vỹ từng viết: "Lưu Trọng Lư bước vào làng thơ Việt Nam, gót chân lơ đễnh, cặp mắt ngơ ngác, nụ cười xa vắng, tay cầm một quyển truyện mỏng của anh vừa in xong, nhan đề "Người Sơn Nhân”. Một quyển truyện? Thật ra, không hẳn là một quyển truyện. Nhan đề Người Sơn Nhân cũng không hẳn là sơn nhân. Có thể gọi đó là một bài thơ cũng được. Và có thể đổi nhan đề là "Người thi nhân" cũng được Lưu Trọng Lư đâu có biết Lưu Trọng Lư là thi sĩ. Lưu Trọng Lư cũng không biết Lưu Trọng Lư là Lưu Trọng Lư... Dễ thương làm sao?"
          Còn nhà phê bình Hoài Thanh trong "Thi nhân Việt Nam" thì viết: "ở đời này, ít có người lơ đãng hơn. Thi sĩ đời nay họ khôn lắm, có khi ranh nữa. Và yêu thơ, thường ta chẳng nên biết người. Thiệt thòi cho họ và thiệt thời ngay cho mình. Những yêu thơ Lư mà quen Lư thì vô hại, vì đời Lư cũng là một bài thơ. Nếu quả như người ta vẫn nói, thi sĩ là mời ké ngơ ngơ ngác ngác chân bước chập chững trên đường đời, thì có lẽ Lư thi sĩ hơn ai hết.
          Có lẽ thế nên khi viết riêng về "Tiếng thu”, mặc dù có ý rằng Lưu Trọng Lư ảnh hưởng một bài thơ Nhật Bản, Nguyễn Vỹ vẫn cứ cho rằng thơ Lưu Trọng Lư đâm đặc chất thi sĩ hơn và vì thế có ý ở trên sự tả hơn bài thơ tả cảnh của nhà thơ Sumaru từ thế kỷ VIII của Nhật Bản. Ông viết: “Lưu Trọng Lư là một ảnh tượng lơ lửng trong thời gian. Mảnh tim của anh bay vời vợi trên khung xanh như con thều giấy, đính vào trần gian bằng một sợi tơ mỏng manh, chập chờn trong gió, vi vu trong mây. Cho nên thơ của Lưu Trọng Lư cũng phảng phất một hơi thu, một nắng hè thu mát, một khói lam chiều, một thuyền mơ phiêu dạt, một hơi tiêu man mác, một tiếng hước của con nai vàng xào xạc trên lá vàng khô...".
         Ta thấy điều khác nhau ấy thật rõ ràng khi điệp ngữ phủ định "Em không nghe" được sử dụng làm môtíp chính để phát triển toàn bộ cảm xúc của tác giả. Hai lần "Em không nghe" ở khổ đầu và khố tiếp theo với các hình ảnh "trăng mờ", "chinh phụ”, "cô phụ” đã gợi ra không khí quạnh vắng cổ điển của "Chinh phụ ngâm". Tự nhiên làm ta nhớ đến câu thơ "Mặt chinh phụ trăng dọi dọi soi”. Tiếng thu ở đây được phát hiện như tiếng thở khẽ của nỗi cô đơn. Câu hỏi tu từ được tác giả sử dụng để gợi ý định hướng độc giả lắng nghe về phía cô đơn ấy mà tác giả không trực tiếp trả lời.
          Từ một ánh trăng mờ đầy ấn tượng thổn thức đến nỗi mong nhớ chồng rạo rực của người đàn bà cô độc trong căn phòng mang một màu ẩm tối, lần "Em không nghe" cuối cùng mới hướng độc giả tới nỗi bơ vơ cùng cực. Ở khổ kết này, sau phương thức chuyển nghĩa nhân cách hóa ở câu thứ hai: "Lá thu kêu xào xạc", nỗi bơ vơ được chiếc lá mùa thu kêu lên như người, thì sự nhân cách hóa nói trên. Chính tư tưởng của nhà thơ thời Thơ Mới đã khiến cho Lưu Trọng Lư tìm ra chữ “kêu” xuất thần đẩy bài thơ đến tầm cao, vươn tới toàn mỹ. Hai câu thơ cuối được hình thành chuyển nghĩa bằng định ngữ "vàng". Hai màu vàng đạp lên nhau:
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp lên lá vàng khô?
Đã tạo ra một không gian cô đơn vô bờ bến. Đấy là bước làm mới bất ngờ từ sự tả cảnh ở bài thơ cổ kia:
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp lên lá vàng khô
         Hai chất màu: "Vàng ngơ ngác" rồi đến “vàng khô" xiết lên nhau, khiến ta nhớ đến Nguyễn Gia Thiều với: "Trải vách quế gió vàng hiu hắt" và Nguyễn Du với: "Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô". Điều đó đã đẩy tâm trạng độc giả tới sự đồng cảm sâu sắc với tâm hồn của tác giả. Một lối chuyển nghĩa độc đáo khiến tiếng thu thấm sâu vào ta. Tiếng thu, tiếng của nỗi cô đơn, bơ vơ của con người thời không phương hưởng trong cảnh nước mất nhà tan còn ẩn dấu một dự báo về sự "cùng tắc biến" của xã hội ta thời ấy. Một dự báo về một thời chiến chinh như những thuở xưa. Hãy lắng nghe tiếng thu mà thấy.
         Nhờ chất nhạc mạnh mẽ trong bài thơ, "Tiếng thu” được khá nhiều nhạc sĩ của các thế hệ khác nhau phổ nhạc. Thời tiền chiến thì có Võ Đức Thu Lê Thương. Thời bây giờ thì có Phan Huỳnh Điểu, Hữu Xuân và Hoàng Phức Thắng. Nghe "Tiếng thu” được hát lên cũng thấy nao nao xúc động. Nhưng thú thực, khi tự mình đọc "Tiếng thu” lên để nghe hai màu vàng đạp lên nhau trong tâm tưởng, mới thấy cái tuyệt đỉnh của thơ mà không một sự thêm vào nào làm nó mới được hơn nữa, hay hơn được nữa. quyến rũ như mùa thu..
  Nguyển Thụy Kha 

Tiếng Thu Lưu Trọng Lư dưới ngòi bút của 
Trần Đăng Khoa
       Lưu Trọng Lư là nhà thơ tiên phong của phong trào Thơ mới. Nhận định về nghệ thuật thơ ông, nhà phê bình thiên tài Hoài Thanh đã có những nhận xét thật chuẩn xác:Tôi biết có kẻ trách Lư cẩu thả, lười biếng, không biết chọn chữ, không chịu khó gọt giũa câu thơ. Nhưng Lư có làm thơ đâu Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy.
      Nhận định này dường như đã thành nỗi ám ảnh, và rồi suốt đời, Lưu Trọng Lư cứ loạng choạng, cứ bập bõm bước trong cái vòng kim cô mà Hoài Thanh đã tiên đoán và vạch ra ngay từ khi ông mới xuất hiện trên thi đàn,
      Còn về con người Lưu Trọng Lư, thiết tưởng cũng chẳng có ai hiểu ông hơn Hoài Thanh: Cả đời Lư cũng là một bài thơ, nếu quả như người ta vẫn nói, thi sĩ là một kẻ ngơ ngơ ngác ngác, chân bước chập chững trên đường đời thì có lẽ Lư thi sĩ hơn ai hết.
        Quả đúng vậy, và nếu chọn một bài thơ thơ nhất của Việt Nam, nghĩa là ngoài thơ ra, nó không có gì bấu víu, thì đó chính là Tiếng thu. Đây là bài hay nhất trong đời thơ Lưu Trọng Lư, cũng là bài thơ thơ nhất của thi ca Việt Nam hiện đại:
Em không nghe mùa thu              
Dưới trăng mờ thổn thức?   
Em không nghe rạo rực          
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ            
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác,
Đạp trên lá vàng khô...
      Bài thơ vẻn vẹn có 9 câu, chia làm ba đoạn, mỗi đoạn lại so le, các ý trong bài thơ rời rạc, khấp khểnh, chẳng ý nào ăn nhập với ý nào. Nếu cứ theo cách hiểu máy móc của những nhà phê bình quen thói bắt bẻ, cứ đè thơ ra mà tìm tư tưởng, tìm ý nghĩa thì đây là bài thơ Đầu Ngô mình Sở. Đã thế, tác giả còn tỏ ra vụng về, tỳ vết của sự thô vụng ấy nằm trong hai câu chẳng thơ tí nào, nó như câu văn xuôi bình giảng văn học của học sinh phổ thông:
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ
       Ấy vậy mà khi gộp tất cả lại, nằm trong một tổng thể, bài thơ hay đến, lạ lùng, người ta không còn thấy dấu vết thô vụng đâu nữa. Đây là điều duy nhất xảy ra ở văn học Việt Nam và chỉ xảy ra có một lần. Cái hay của bài thơ này không nằm ở câu chữ. Nó hoàn toàn siêu thoát, là cái hồn phảng phất đâu đó đằng sau những con chứ rất sáng tỏ mà lại vời vợi mông lung kia. Người ta chỉ cảm thấy được, chứ không thể nói ra được một cách rạch ròi. Đây là bức tranh thiên nhiên được vẽ bằng hồn, bằng cả điệu nhạc rất riêng của tâm hồn thi sĩ. Bởi thế, người đọc cũng phải dùng hồn để chiêm ngưỡng nó, chứ không thể ngắm nó bằng lý trí tỉnh táo. Đã không ít nhà phê bình nghiên cứu mang lý trí ra để làm con dao cùn mổ xẻ những con chữ rất ngơ ngác này. Có người còn viện đến cả thi pháp học để cố hiểu cho bằng được bài thơ, lấy thi pháp làm chìa khoá mở cánh cửa thực dụng, đi vào cõi mù mờ tâm linh này. Bằng cách vận dụng thi pháp, có người cho đây là bài thơ nói về nỗi cô đơn không có sự chia sẻ. Không phải ngẫu nhiên bài thơ có 9 câu mà đã có đến ba câu điệp Em không nghe:
Em không nghe mùa thu    
Em không nghe rạo rực
Em không nghe rừng thu...
      Em không nghe, còn anh thì nghe thấy hết. Nghe thấy hết mà không nói ra được. Đây là cuộc đối thoại mà kẻ đối thoại lại ẩn sau sự câm lặng. Hoặc giả em cũng đã nghe thấy, nhưng anh vẫn hỏi như vậy, nghĩa là anh không hiểu em. Đằng nào thì cũng vẫn cứ là thiếu niềm đồng cảm. Một bên thì thổn thức, rạo rực, kêu xào xạc, một bên thì không nghe, không nghe, không nghe, cả con nai ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô, nghĩa là nó cũng không nghe nôt. Hiểu một cách sống sít như thế thì thật thô thiển. Nhà phê bình đã kéo những đám mây ngũ sắc đang bay bảng lảng trong không trung, rồi rải xuống đường làm rơm rạ lót chân, và như thế còn đâu cánh rừng thu, tâm hồn thu cho con nai vàng trú ngụ. Mấy câu điệp khúc ấy thực chất chỉ để tạo giai điệu rất đặc biệt cho bài thơ này. ở đây, nhạc điệu cũng là một phần nội dung chính làm nên hồn vía bài thơ. Còn ở góc độ khác, cũng nhìn bằng con mắt lý trí, có người còn cho rằng đây là bài thơ Lưu Trọng Lư thâu cóp của nước ngoài. Thực tế trong bếp núc sáng tác, có thể có sự trùng hợp ngẫu nhiên. Người bình luận còn viện cớ rằng: Thực tế Việt Nam làm gì có khu rừng vàng. Đấy là rừng châu âu. Rừng Việt Nam là rừng luốm nhuốm. Mùa thu Việt Nam đúng như Nguyễn Du mô tả trong Kiều: Rừng thu rừng biếc chen hồng? Và con nai Việt Nam cũng nhanh nhẹn lắm, tinh ranh lắm, nó đâu có ngơ ngác? Ơ hay, Lưu Trọng Lư có nhìn thiên nhiên bằng con mắt thịt đâu! Lại phải mời Hoài Thanh về làm luật sư bào chữa cho ông thôi: Trong thơ Lư, nếu có cả chim kêu, hoa nở, ta cũng chớ tin. Hay ta hãy tin rằng tiếng ấy, màu kia chỉ có ở trong mộng. Mộng! Đó mới là quê hương của Lư. Thế giới thực của ta với bao nhiêu thanh sắc huy hoàng. Lư không nghe thấy gì đâu. Sống ở thế kỷ 20, ngày ngày nện gót trên các con đường Hà Nội mà người cứ mơ màng thấy mìn gò ngựa ở những chốn xa xăm nào
       Tương truyền khi viết bài thơ này, Lưu Trọng Lư đến thăm nhà một người bạn. Rồi nhân cớ thấy cái bình gốm cổ có vẽ con nai đứng giữa núi non. Lưu Trọng Lư bèn vịnh ngay bài thơ này. Thực chất, nếu chuyện đó là thật, thì con nai trên bình gốm chỉ là cái cớ rất nhỏ, là tiếng động rất nhỏ đánh thức con nai vàng và khu rừng vàng trong tâm hồn Lưu Trọng Lư thức dậy và toả hương. Nhờ thế, thi ca Việt Nam đã có một kiệt tác thật hiếm có, ngỡ như đó là khúc nhạc huyền bí của thần linh, chứ quyết không phải là tiếng ca phàm tục của người đời...                                                                                       Nhà thơ  Trần Đăng Khoa

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

Khoảnh khắc tình yêu trong bốn câu thơ độc đáo của nhà thơ Thiền sư Tuệ Sỹ

Khoảnh khắc tình yêu 

trong bốn câu thơ độc đáo của nhà thơ

Thiền sư Tuệ Sỹ

      Bài thơ chỉ vỏn vẹn có bốn câu ngắn ngủi thôi, nhưng chỉ chừng ấy cũng đã nói lên được những điều đáng nói của nhà thơ Thiền sư Tuệ Sỹ, một người uyên thâm trong thơ ca. Nào ai ngờ một nhà sư, một trí tuệ uyên bác, thâm sâu cao vời vợi đến như thế lại có những vần thơ độc đáo:
“ Em: mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn
Khoé môi cười nắng quái cũng gầy hao
Như cò trắng giữa đồng xanh bát ngát
Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao”.
      Chúng ta thử tìm hiểu vài nét về thi nhân Tuệ Sỹ. Theo Wikipedia Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ tục danh Phạm Văn Thương sinh ngày 15 tháng 2 năm 1943 tại Paksé, Lào, ông quê tại Quảng Bình, Việt Nam, là một học giả uyên bác về Phật giáo, nguyên giáo sư thực thụ của Đại học Vạn Hạnh tại Sài Gòn, nhà văn, nhà thơ, dịch giả và là một người bất đồng chính kiến với chính phủ Việt Nam. Ông hiện là Đệ nhất phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ông thông thạo tiếng Trung Hoa, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Pali, tiếng Phạn và tiếng Nhật, đọc hiểu tiếng Đức. Ông được giới học giả Việt Nam đánh giá cao vì đã công bố nhiều tiểu luận, chuyên khảo, thơ và nhiều công trình dịch thuật Phật giáo từ tiếng Phạn, tiếng Trung Hoa và tiếng Nhật. Ông và Thích Trí Siêu, được coi là 2 nhà sư uyên bác nhất của Phật giáo Việt Nam, đang soạn thảo quyển Bách Khoa Phật Học Ðại Tự Ðiển.

   Một chút về hồn thơ, hơi thơ của Tuệ Sỹ qua 4 câu thơ này sẽ ra sao. Bài thơ bắt đầu bằng nhân vật ở ngôi thứ ba: “ Em “, mà có khi là nhân vật ngôi thứ hai biết đâu?, từ ngữ “ Em “. Vâng, tôi nói với em đấy. Không nói bằng lời mà bằng cái tâm thiền của người tu hành. Nhà thơ miêu tả người đẹp chỉ bằng mấy chữ thôi:”Em: mắt biếc, ngây thơ..”. Mắt biếc: đôi mắt là cửa sổ tâm hồn như người ta thường nói, nhưng là mắt biếc mới xinh đẹp làm sao!. Đôi mắt xanh, nhưng ở đây nó toát lên một nét tuyệt vời đích thực của đôi mắt trong tâm hồn ngây thơ, trong trắng mới giá trị làm sao!. Chỉ nhìn vào cửa sổ là thấy được cái gì ẩn sâu bên trong. Cửa sổ xanh biếc, xanh như ngọc, mở ra một tâm hồn trắng trong, ngây thơ. Ngày xưa Nguyễn Du miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều “ Làn thu thủy, nét xuân sơn. Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh...” không hơn không kém vậy. Không những vậy, cái vẻ đẹp ngây thơ, nên thơ còn được xác định thêm bằng cái khung cảnh xung quanh, bằng sự nhộn nhịp, đông đảo người của một ngày hội lớn. Qua đó, nhà thơ nhận  thấy " Em" ngây thơ giữa chốn lạ lại chen chúc những người là người của mùa lễ hội năm nào. Lễ hội nào đây?. Chẳng phải Phục sinh hay mùa Giáng sinh như đạo Thiên Chúa. Không, chắc chắn là không, bởi vì thi sĩ là Thiền sư nhà Phật. Phải là lễ hội lớn ở chùa thì mắt biếc kia mới giao cảm với cái nhìn của thi nhân được. Có phải là Tết thượng nguyên không hay là lễ Phật Ðản. Không, những ngày lễ hội này vui lắm. Khi khí trời ấm áp, lòng người nô nức hân hoan để lòng mình bất chợt nẩy sinh một nỗi buồn vu vơ, hoặc bỗng dưng mà tha thiết yêu người đến như vậy. Chắc hẵn là ngày hội Vu Lan, mùa báo hiếu rồi. Lễ hội Vu lan vào rằm tháng bảy Âm lịch hằng năm. Đó là dịp vào mùa thu, gió lành lạnh, trời buồn , lòng người cũng tơ vương những nét buồn da diết. Thật là “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ “ như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du vậy.
    Một ngày lễ, tuy cũng là một ngày hội lớn nhưng không rộn ràng, vui tươi như ngày xuân hoặc mùa Phật Ðản. Ngày ấy, những người con xa gia đình sẽ nhớ về cha,  về mẹ hơn và họ phải làm một điều gì đó để báo hiếu mẹ cha. Một mùa Vu Lan báo hiếu trong đạo Phật đã dạy dỗ con người lòng hiếu thảo của con cái đối với người cha, người  mẹ đã có công sinh thành dưỡng dục ta. Khi những tín đồ nhà Phật tề tựu đông đảo nơi nhà Chùa cũng là lúc nhà sư sẽ dễ chạnh lòng hơn khi đối diện với thiện nam tín nữ già có, trẻ có nhất là khi gặp “ Em” , người con gái ngây thơ với tâm hồn trắng trong thì không thể nào không cảm động, cảm xúc, cảm hứng thành những vần thơ, câu thơ lai láng, trữ tình của tình yêu thương: “Em: mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn”. 
   Hơn thế nữa nơi sân chùa thanh vắng hôm nao, nay đến mùa lễ hội Vu Lan những tiếng trống, tiếng chuông, tiếng mõ, những câu kinh, tiếng kệ của nhà Chùa hòa cùng tiếng nguyện cầu kinh của hàng vạn tín đồ Phật tử gần xa và những đoàn người đi viếng lễ Chùa  đang tập trung bu quanh đàn tràng đợi chờ giờ phút giành giật thực phẩm cúng cô hồn. Và rồi bỗng  dưng nổi bật giữa bốn bề của đám đông mùa lễ hội ấy, với đôi mắt ngạc nhiên quan sát, tìm hiểu quang cảnh lễ hội một cách thú vị của  một cô gái. Thế rồi một thoáng bất chợt bắt gặp nhà sư thi sĩ: “Khoé môi cười nắng quái cũng gầy hao”. Bây giờ là nắng của ban chiều và tất nhiên cũng không còn gay gắt lắm nữa. Màu nắng trời đột nhiên lắng dịu xuống và càng không phải dịu vì nắng thu mà vì một “khoé môi cười” của ai đó. Thật là một  mảnh lực ghê gớm của một cô gái nhỏ mắt biếc ngây thơ!?. Khoé môi cười làm cho "nắng quái" hao gầy đi, giảm gay gắt đi. Thật cũng là điều quái dị. Trời đang nắng gắt bỗng dưng êm dịu đi khi người đẹp nở một nụ cười. Nụ cười gì đấy nhỉ và cười với ai bây giờ. Cười với bạn bè ư hay cười với người thân, cười với nhà sư thi sĩ Tuệ Sỹ ?. Ai mà biết được !. Có chăng, chỉ có  thi nhân mới cảm nhận được điều đó. Chắc có lẽ em mỉm cười để thay cho một lời chào hỏi chăng?. Nhưng cười thế nào mà nắng quái cũng gầy hao, cười thế nào mà lòng bỗng bâng khuâng, lâng lâng như gặp nàng tiên hạ giới, làm nhà sư rung động, xao xuyến  trong tâm hồn để rồi những vần  thơ “ quái “ kia bật ra từ tâm khảm: “Em mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn. Khoé môi cười nắng quái cũng gầy hao”. Chưa hết. Ngay lúc ấy, ngay ở cái quang cảnh tưng bừng của lễ hội ấy, mà tự dưng dáng em bỗng trở thành hiện thân của một con cò trắng giữa đồng xanh. Rõ ràng là em đang đứng giữa rừng người mà sao thi sĩ nhà sư lại thấy khác đi. Thấy em nổi bật lên, không phải như con cò trắng đứng giữa bầy cò đen; cũng không phải như con cò trắng đứng giữa bầy gà, bầy vịt, mà đứng giữa đồng xanh bát ngát.
Tất cả mọi người chung quanh đều mất dạng, không hiện hữu. Chỉ có một mình em áo trắng, ngây thơ, mắt biếc, đứng giữa đất trời mênh mông:” Như  cò trắng giữa đồng xanh bát ngát”. Mắt biếc, ngây thơ, trong chiếc áo dài trắng thướt tha ngày lễ hội. Nàng đang đứng lặng lẽ, nở một nụ cười, giữa đám người đông đảo, nhộn nhịp bốn bề. Ôi! đẹp làm sao hình tượng ấy gây ấn tượng trong tâm hồn thi sỹ, làm sao mà lòng khỏi bâng khuâng xao động; làm sao mà chẳng thành thơ; làm sao mà khỏi yêu được! Vì vậy: “Ta yêu người...”. Cái khéo của Thiền sư Tuệ sỹ là ở đây, thi nhân biết rất rõ ranh giới giữa người đời và người đạo. Phải stop thôi, nếu không thì sẽ vượt giới hạn.Từ  từ “ Em “ chưa có chữ anh đã chuyển sang “ Ta” và “ Người “ là cả một khoảng cách khá xa. Ðừng vội nhé! hãy đọc ngang đó, ngắt ngang đó thôi. Khoan đọc tiếp mấy chữ cuối. Khoan chấm dứt bài thơ. Hãy mượn bài thơ của thi nhân để diễn tả thể cách yêu đương của riêng chúng ta:
“Em: mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn. Khoé môi cười nắng quái cũng gầy hao. Như cò trắng giữa đồng xanh bát ngát.Ta yêu người...”. Ta yêu người, chấm hết thôi sao. Rồi bắt đầu bước chân chinh phục, chiếm hữu. Bước chân đó mỗi người có một cách riêng, không cần phải nói ra. Chỉ cần: Ta yêu người, là xong. Cái trình tự thương yêu của người trần sẽ trôi đi như thế. Thấy em mắt biếc, trong trắng, dịu dàng, cười rất có duyên, nổi bật giữa đám phàm phu tục tử khác... thì phải yêu thôi!. Vâng, ta yêu người, tôi yêu cô, anh yêu em. Phải là như thế. Bài thơ của chúng ta, dù theo vần điệu và thể loại thì không muốn cắt ngang đó, tức lắm; nhưng trên thực tế đời sống thì chúng ta cắt ngang đó cái rụp, đâu có  cần suy nghĩ gì nữa. Ðẹp, có duyên như vậy thì... yêu! Là phải. Bài thơ chấm dứt, có một đoạn kết rất thực tế, rất phổ thông, rất là người. Nhưng bài thơ của nhà sư thi sĩ thì tiếp tục:

” Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao”. Vẫn là yêu, nhưng tình yêu đã được thăng hoa. Từ cái yêu phàm tục của thi nhân trước bức tranh tuyệt đẹp của giai nhân đã biến thành tình yêu của đạo sĩ đối với con người phàm tục trong trần gian khổ lụy này: ”Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao”. Lý do yêu người được khẳng định. Không phải vì cái đẹp, cái ngây thơ trong sáng, cái duyên dáng mảnh mai, thon thả của một thiên thần áo trắng, mà chính vì cái mong manh dễ tan, dễ vỡ của màu trắng ấy. Tất cả cái đẹp đều chỉ là cái đẹp trong mộng huyễn vô thường mà thôi. Nhưng cũng chính vì huyễn mộng vô thường kia mà tất cả trở nên đẹp. Bình thường, tình yêu cũng chỉ đẹp trong mộng tưởng ấy chăng. 
Tất cả đều nằm trong một khoảnh khắc chiêm bao. Một hiện tượng vừa hư vừa thực. Chính trong cái khoảnh khắc chiêm bao ấy làm đảo lộn tất cả những gì diễn ra tưởng là y hệt con người trần thế trước đó. 
Ba câu thơ đầu diễn tả cái đẹp của một nàng thơ áo trắng. Ðáng yêu quá. Trùng hợp với tâm trạng của chúng ta quá. Nhưng đến câu thứ tư, thi nhân Tuệ Sỹ bỗng giật mình đổi giọng và nói tiếng nói tỉnh thức của đạo nhân. Ðạo nhân ấy không nói "anh yêu em" như chúng ta, mà nói "Ta yêu người". Lối xưng hô của một kẻ đứng bên ngoài, bên trên, nhìn xuống cuộc đời tạm bợ, huyễn hóa. Ở câu đầu gọi bằng " Em" nghe ra ngọt sớt theo thể điệu của thi nhân, bỗng dưng đổi giọng nghiêm trang, cao vời vợi của một bậc thầy, một hành giả trên đầu ghềnh tử sinh, gọi người ta bằng " Người"! Mà " Người" ở đây, cũng chưa hẳn là chỉ riêng cho " Em" đâu. Có thể là danh từ chỉ chung chung cho mọi con người khổ lụy trầm luân nơi trần thế của cuộc đời ô trọc này. Như thế, nhìn " Em" mà thấy tất cả chính là vậy. Em sẽ là hiện thân của tất cả chúng sinh, của chiêm bao mộng mị. Ðổi xưng hô, thay cách gọi, là xoay ngược cái nhìn và thế đứng của mình trước đối tượng cuộc đời. Một khoảnh khắc đam mê, một khoảnh khắc lấp lánh, long lanh của tình thơ lai láng, lâng lâng... bất giác biến thành chiêm bao. Thi nhân dùng từ “Khoảnh khắc” hay quá. Tình yêu cũng chiêm bao. Cái đẹp cũng chiêm bao. Khoảnh khắc thơ mộng nhất, nên thơ nhất cũng chiêm bao...
    Cho nên, đừng nói rằng thi sĩ Thiền sư kia sao sắt đá, không có trái tim. Nếu không có trái tim thì làm sao cứu độ con người, cứu độ cuộc đời. Thi nhân yêu và phấn đấu thăng hoa tình yêu ấy. Thi nhân cảm nhận được cái đẹp không phải chỉ qua những hình hài cụ thể mà còn cảm nhận được cái đẹp trường cửu trong từng hiện hữu chiêm bao. Không ai yêu mà thốt nên lời thơ, tiếng ca tuyệt vời như những nhà thơ, nhưng chẳng ai yêu mà cảm nhận sâu sắc tận bản thể đối tượng yêu thương như thi sĩ Thiền sư. Tình yêu ấy bồng  bềnh như chiêm bao nhưng lại bất tử, bởi vì nó được khơi dậy từ một khoảnh khắc và được cảm nhận một cách trọn vẹn trong chính khoảnh khắc ấy. Bài thơ đẹp một cách bất ngờ, lạ lẫm của một nhà sư. Thế mới nói không biết cảm xúc về tình yêu thì không làm sao có thể có những câu thơ, lời thơ đẹp mà độc đáo đến như thế. Không siêu thoát thì cũng không làm sao có được những ý thơ thâm viễn thượng thừa  như vậy. Thật tuyệt vời. Những lúc buồn nãn hoặc tâm tư bị nhiều xáo trộn của đời sống, thậm chí bị  dìm xuống đáy vực sâu của  khổ đau, chúng ta lại nghĩ đến và có thể nói theo kiểu của nhà thơ Phùng Quán năm nào: "Có những phút ngã lòng. Tôi vịn câu thơ và đứng dậy.". Đúng thế, chúng ta  có thể đọc lại bốn câu thơ của Thiền sư Tuệ Sỹ để rồi đứng dậy cho một tình yêu bất tuyệt. Thật là khoảnh khắc chiêm bao có thể cũng đồng lõa với khoảnh khắc tình yêu vậy:
“ Em: mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn
   Khoé môi cười nắng quái cũng gầy hao
   Như cò trắng giữa đồng xanh bát ngát
   Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao”. 
  Triều Châu 
 TP. HCM 30/4/2014



    



                                         



















Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2014

Nghĩ suy về " Một thoáng Nha Trang " của nhà thơ Vân Nhiên

Nghĩ suy

về “Một thoáng Nha Trang”

của nhà thơ Văn Nhiên



      Tôi quen biết với căp vợ chồng nhà thơ Văn Nhiên- Minh Hiếu ở Hòa Đồng- Tuy Hòa- Phú Yên qua lời giới thiệu của nhà thơ Hạnh Dung. Âu cũng là một “cái duyên“ trong đời người.
        Quê hương anh ở tận miền quê xa xôi Tuy Hòa, nhưng vẫn cảm nhận khi một lần nào đó anh đến thăm Nha Trang và rồi yêu lắm thành phố biển Nha Trang- Khánh Hòa, khoảng cách khá xa 120 km, nếu tính đường QL1. Anh yêu biển vì bãi biển ấy hiền hòa mà thân thương, yên lặng mà không bao giờ có những con sóng dữ dằn cả những ngày giông tố, bão bùng. Và có lẽ không chỉ yêu mến biển Nha Trang không thôi, mà ở đó chắc hẳn tồn tại một bóng hồng nào ấy làm xao động lòng người, làm xôn xao trong tâm hồn anh, và càng làm dậy sóng tình yêu, tạo nguồn xúc cảm trong nguồn thơ mộc mạc, chất phác như tâm hồn anh, để rồi những dòng chữ kia tuôn trào nên “Một thoáng Nha Trang“. Ai mà biết được điều đó, có chăng chỉ có nhà thơ Văn Nhiên mới biết và hiểu được điều này.
     Tản mạn một tí thôi nhé, nay lại trở về chính với” Một thoáng Nha Trang” của nhà thơ Văn Nhiên.
Bãi biển đẹp nhất là lúc bình minh buổi sángvà cả buổi chiều tà nữa. Mỗi một thời gian, một vẻ đẹp khác nhau như trong truyện Kiều “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười...” mà cụ Nguyễn Du mô tả sắc đẹp của nàng Kiều và Thúy Vân vậy. Nhà thơ ước chi trên bãi biển lúc này chỉ còn lại mình ta với người ta yêu, chỉ duy nhất đôi tình nhân bên bãi biển vắng người. Nhưng sự đời lại khác đi, khó lắm mới vắng người trên biển, nên sự ước ao cũng chỉ là mơ mộng.Thế nên trong tình yêu mộng tưởng bao giờ cũng đẹp. Một ánh vàng buổi chiều tà trên biển chắc không thua kém một bình minh mặt trời đang ló dạng sớm mai. Khi màn đêm buông xuống, trên bãi biển đông người hiện diện một cô hàng nước, mà cô này dám cả gan ”Nghiêng trăng xuống” khi vầng trăng đang lên từ biển của đêm đen.
Một chén đời được rót khẽ vào tâm hồn bằng những giọt lung linh của tình yêu dịu vợi:”Ai bảo chiều nay biển vắng người. Nha Trang dịu vợi ánh vàng tươi. Này cô hàng nước nghiêng trăng xuống. Rót khẽ hồn tôi một chén đời”.Thế rồi từng giọt rơi mềm mại đến nỗi làm xót xa lòng ai. Trên dãi Ngân Hà của đêm trăng sao huyền dịu vẫn thấm đượm chút hương thắm ái tình ngày nào.Trăng và thuyền,và hình ảnh ”Thuyền chở trăng về kịp tối nay...” của Hàn Mặc Tử đã lấn vào thơ Văn Nhiên tự lúc nào, thế rồi ngại ngùng muộn màng ân tình vì đã” Lỡ chuyến” đò sang sông của hương tình cũ: ”Từng giọt rơi mềm lên xót xa. Dường như hương thắm dải Ngân Hà. Thuyền ơi hãy chờ trăng vào mộng. Kẻo muộn ân tình lỡ chuyến qua”. Nàng đang đến cạnh tôi ư ? hay đó chỉ là một giấc mơ màng thôi, để rồi chỉ một mình một bóng bẽ bàng trong ảo tưởng. Giật mình mộng tưởng chiếc bóng kia nghiêng chao bao mùa hẹn ước. Một góc trời tím đượm bóng hoàng hôn hay lòng ai tím cả ruột gan khi người yêu chưa đến. Nào có ai hay, ai biết được lòng ta:”Có lẽ nàng đang đứng cạnh tôi. Thầm hôn chiếc bóng bẽ bàng trôi. Giật mình chiếc bóng chao mùa hẹn. Tím cả hoàng hôn một góc trời”. Phiên đến trên phố biển hay một phiên chợ cuối mùa đã mãn?. Người ta đi đi, lại lại theo dòng người, hết lượt này đến lượt kháccó ai ngăn cản được. Ngàn sắc hoa như điểm màu của sắc màu xanh của biển vẫn lung linh hòa lẫn những ưu phiền của tâm tư ai đó. Một sự nhớ nhung, xao xuyến, đam mê lẫn lộn vào lòng người như một thoáng Nha Trang chỉ là giấc mơ đời hư ảo:”Phố biển bây giờ cũng mãn phiên. Lung linh ngàn sắc lẫn ưu phiền. Đam mê gởi trọn vào nhung nhớ. Một thoáng Nha Trang những hảo huyền”
      Có lẽ Nha Trang chỉ là một thoáng, bởi xét cho cùng cũng chỉ là một thoáng qua trong mộng tưởng của người tình năm xưa nào mà thôi. Bây giờ thì chẳng còn gì để nói vì Nha Trang xa cách nghìn trùng biển khơi.
Triều Châu
TP. HCM 26/4/2014





  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...