Thứ Năm, 1 tháng 9, 2022

Lối xưa xe ngựa 1

Lối xưa xe ngựa 1

Tựa

Tôi bước chân vào ngành biên khảo một cách rất tình cờ: khoảng năm 1985 tôi khám phá ra một loạt ảnh của Salles chụp lễ Xướng danh trường Hà Nam, khoa Đinh Dậu (1897). Trước tôi đã biết cảnh trường thi qua Ngô Tất Tố (Lều Chõng) và Chu Thiên (Bút Nghiên) giờ thấy tận mắt từng chi tiết nhỏ quang cảnh trường thi xưa khiến tôi xúc động, khác hẳn khi đọc sách, tựa như tôi được du lịch ngược thời gian, trở lại một trăm năm về trước. Thế là tôi nẩy ý muốn đi "săn" những ảnh thi cử khác, thu thập lại thành một cuốn sách in cho mọi người cùng thưởng thức và cũng là một cách bảo tồn di tích một thời đã qua.
"Săn" ảnh tuy tốn công nhưng tôi chỉ thực sự gặp khó khăn khi phải chú thích ảnh, dù là chú thích rất sơ sài: Sử sách ta chép về Khoa cử tuy nhiều nhưng chép thường không cẩn thận nên phải đối chiếu kỹ mới tìm ra sự thực. Chẳng hạn, nói về việc canh phòng trường thi, Chu Thiên viết hai chỗ khác nhau: "8 đội Thể sát" và "8 viên đội Thể sát". Tôi đã hỏi rất nhiều người nhưng không ai biết câu nào đúng, mãi sau tôi mới tìm thấy lời giải đáp trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên: "8 viên đội Thể sát".
Đến khi xem ảnh của Salles và đối chiếu với Cao Xuân Dục thì tôi lại phân vân không rõ ai mới thực là Chủ khảo trường Hà Nam khoa Đinh Dậu? Đồng Sĩ Vịnh hay Cao Xuân Dục? Lại nhớ có lần tôi khoe với vài người bạn Pháp rằng Việt Nam có nữ Trạng nguyên từ lâu, câu hỏi tự nhiên của họ là: "Từ năm nào?" Tôi ú ớ vì quả thật bà Nguyễn Thị Du sinh năm nào, đỗ năm nào, không ai biết, đành chỉ nói hàm hồ: "Ở thế kỷ thứ 17", rồi đánh trống lảng, sợ người ta hỏi kỹ hơn. Về nhà tôi lấy giấy bút thử tính xem có thể đoán được năm sinh của bà Du. Bài tính chép lại tuy đơn giản nhưng tôi mất mấy ngày mới tìm ra vì đi lầm đường lúc đầu: tôi cứ tưởng hễ dựa vào hai chúa Trịnh là có thể tìm ra bà lấy chúa Mạc nào, rồi từ đó tính ra năm sinh của bà, vì thế luẩn quẩn mãi không ra manh mối. Không riêng gì với bà Du, mỗi lần gặp khó khăn tôi thường tốn khá nhiều thì giờ để tìm câu giải đáp, thế mà những điều xác định được lại không thể đưa vào cuốn Khoa cử ở Việt Nam để tránh cho người đi sau khỏi mất thì giờ tìm kiếm như tôi vì khuôn khổ cuốn sách hạn hẹp không cho phép đi sâu vào chi tiết. (Vả lại cuốn Khoa cử có lẽ còn lâu mới ra mắt độc giả được: tác quyền ảnh rất đắt và tiền in cũng không rẻ vì có cả mấy tấm ảnh mầu đầu tiên trên thế giới). Do đó tôi mới bắt đầu gửi bài đăng báo, và đến nay thì thu thập những bài đã đăng rải rác trên các tạp chí thành cuốn sách này. Vì là cuốn sách tập hợp những bài viết cho các báo khác nhau nên tuy đã sửa chữa vẫn không tránh khỏi một vài chỗ nhắc đi nhắc lại cùng một ý, và những lỗi lầm sơ xuất khác... Rất mong độc giả thể tình.
Tháng giêng 1994

Chương I- KHOA CỬ Ở VIỆT NAM Công hay tội?

KHOA CỬ Ở VIỆT NAM
Công hay tội?
Xã hội ta xưa đại để chia ra làm hai loại người: quan và dân. Quan là người giúp vua điều khiển guồng máy chính trị để đem lại trật tự, an ninh cho dân. Quan trường do Nho phái xuất thân, cách kén người ra làm quan gọi là Khoa cử.
Tuy nhiên, làm quan không cứ phải theo cử nghiệp, ngoài Khoa cử ta còn có lệ Cống cử, hay Bảo cử, tức là các quan phải tiến cử những người có tài và có đức ra làm quan. Nhưng phương pháp này không cung cấp đủ người cho bộ máy hành chánh vì những người đứng ra Bảo cử, nếu lỡ tiến lầm người dở thì sẽ bị nghiêm trừng, do đó thường xuyên phải dùng Khoa cử để kén nhân tài.

Khoa cử xuất hiện từ bao giờ?

Nguyễn Hiến Lê (Triết học Trung Quốc, Chiến Quốc Sách), Đào Duy Anh (Trung Quốc Sử Cương), Trần Văn Giáp (Khai Trí Tập San), Trần Quốc Vượng (Lịch Sử Việt Nam, I) đều chép Khoa cử xuất hiện ở Trung quốc từ nhà Tùy, nhà Đường (cuối thế kỷ thứ VI, đầu thế kỷ thứ VII), thời nhà Hán chỉ có lệ dân cử người hiền tài, song theo Chu Thiên (Bút Nghiên) và thứ nhất Trần Trọng Kim (Nho Giáo) thì Khoa cử bắt đầu có từ Hán Vũ Đế: "Hán Vũ Đế (140 tr. TL) ra bài sách cho những người đã trúng tuyển, trong số đó có Đổng Trọng Thư". Ta có thể hiểu là Khoa cử manh nha từ nhà Tây Hán, nhưng đến nhà Tùy nhà Đường mới được khai thác và tổ chức có quy mô.
Cùng chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, song Việt Nam, Cao Ly và Nhật Bản đặt ra Khoa cử từ lâu, Âu châu phải đợi đến thế kỷ thứ XIX mới dùng thi cử để kén người(1).
Thời Bắc thuộc (111 tr. TL-938) văn hoá cổ của ta - và có lẽ cả chữ Việt cổ - dần dần bị chính sách đồng hóa của Trung Hoa hủy diệt (2). Chữ Hán được nâng lên địa vị chính thức. Tuy vậy, người Nam muốn học cao và thi cấp trên vẫn phải sang tận Trung quốc. Năm 845, vua nhà Đường lại hạn chế số sĩ tử của ta sang thi khoa Tiến sĩ không được quá 8 người, thi khoa Minh kinh (giảng giải kinh sách) không được quá 10 người (3). Người hiển đạt thời ấy còn hiếm nhưng không phải là không có, chẳng hạn:
Đời Hán Minh Đế (58-75) có Trương Trọng, người Giao chỉ, du học Lục dương, rồi làm Thái thú Kim thành.
Đời Hán Linh Đế có Lý Tiến, người Giao Châu, khoảng 184-89 được làm Thứ sử Giao châu (như Thủ hiến), Sĩ Nhiếp lúc ấy làm Thái thú.
Đời Đường có Khương Thần Dực, người quận Cửu chân, làm Thứ sử châu Ái (Thanh Hóa). Hai người cháu du học kinh đô Tràng An, cùng đỗ Tiến sĩ: Khương Công Phục làm đến Bắc bộ Thị lang, anh là Khương Công Phụ làm đến Gián nghị Đại phu dưới Đường Đức Tôn và Đường Thuận Tôn (4).
Sang thời tự trị, sau khi chỉnh đốn việc nước, năm 1075 vua Lý Nhân Tôn mở khoa thi Tam trường (thi Đại khoa gồm ba kỳ) đầu tiên ở nước ta, mô phỏng theo Khoa cử của Trung quốc. Dần dần về sau, các triều Trần, Hồ, Lê, Mạc v.v... cải sửa thêm, đến đời Lê Thánh Tôn, thế kỷ XV, Khoa cử cực thịnh.
Từ Lê trung hưng trở đi, Khoa cử ngày càng xuống dốc, thiên về hư văn.

Những điểm khác biệt với Trung quốc

Tuy rập theo khuôn mẫu của Trung Hoa, song Khoa cử ở Việt Nam cũng có những điểm dị biệt:
1) Trước hết, ngoài Bắc sử, ta phải học thêm Nam sử để biết rõ thêm những gì đã xẩy ra ở nước mình.
2) Tuy chữ Hán giữ địa vị chính thức ngay cả thời tự trị, nhưng ta đã dựa vào chữ Hán đặt ra một thứ chữ riêng để viết thêm những âm không có trong chữ Hán, gọi là chữ Nôm (có lẽ do chữ "Nam" đọc chệch đi). Chữ Nôm được Hồ Quý Ly là người đầu tiên đem ra dịch Kinh sách từ thế kỷ thứ XIV, mãi đến 1565, đời Mạc Mậu Hợp, mới dùng chữ Nôm lần đầu trong một khoa thi Tiến sĩ (đề mục kỳ đệ tứ là một bài phú Nôm), và phải đợi đến Quang Trung mới dùng chữ Nôm trong khoa thi Hương đầu tiên ở Nghệ An, Nguyễn Thiếp, tức La Sơn Phu Tử, làm Đề Điệu (thời ấy Chánh khảo là quan văn, gọi là Đề Điệu, sau này chức Đề Điệu trỏ vào một quan võ trông coi trật tự trong trường thi).
Nhờ biết sử dụng cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, ta đặt ra loại chơi chữ rất độc đáo, người Tầu không thể có được, chẳng hạn trong câu:
Da trắng vỗ bì bạch
"bì" = da, "bạch" = trắng, là chữ Hán, nhưng "bì bạch" lại là chữ Nôm khi mô tả tiếng vỗ trên da thịt. Câu này rất khó đối, mãi gần đây mới thấy ông Phan Ngọc đưa một vế đối chỉnh của một người bạn:
Rừng sâu mưa lâm thâm (5)
3) Trung quốc cho thi Tú tài riêng gọi là Phủ thí, năm sau thi Cử nhân gọi là Hương thí, nhưng ở Việt Nam, ít nhất cũng dưới triều Nguyễn, Cử nhân và Tú tài thi chung, người đỗ gọi là Cử nhân, người hỏng nhưng được xếp cao cho đỗ Tú tài, trung bình cứ lấy đỗ một Cử nhân thì lấy đỗ ba Tú tài. Tú tài được miễn dịch vụ cùng sưu thuế, nhưng không được phép thi Hội (6).
Ở Trung quốc danh từ "Sinh đồ" chỉ những người từ nhà học, nhà hiệu tại các châu, huyện cử ra, Cống cử hay Hương cống không do nhà học, nhà hiệu ra, mà do trúng tuyển, trong khi ở Việt Nam, thi Hương trúng ba trường thì gọi là Sinh đồ (ông Đồ), sau gọi là Tú tài, đỗ cả bốn trường thì gọi là Hương cống (ông Cống), sau gọi là Cử nhân.
4) Chu Xán, Thị lang bộ Lễ nhà Thanh, sang sứ Việt Nam năm 1688, về ghi trong Sử giao ký sự: "Trường thi nước ấy không có nhà làm sẵn, sĩ tử phải ngồi trong lều phục xuống đất mà viết" (7). Mãi tới 1843, vua Thiệu Trị mới cho xây trường thi bằng gạch đầu tiên ở Thừa Thiên. Trước đó, mỗi khoa thi người ta xây trường sơ sài nhà tranh vách nứa để sau khi thi phá bỏ lấy đất trồng trọt, nhưng bởi là đất công, không ai chăm bón, nên cây cằn cỗi, đứng xa thấy cả khu trường thi nổi bật lên một mầu vàng úa giữa đám cây cối xanh tươi xung quanh.
5) Theo Lê Quý Đôn, triều đình ta "đối với những người thi đỗ đãi ngộ rất hậu, bổ dụng rất cao... so với việc đặt Khoa mục ở Trung quốc từ xưa đến nay chưa từng có".

Công hay tội?

Trong non một ngàn năm tự trị, Nho học và Khoa cử đã đào tạo được nhiều bậc khoa bảng ngoài sự nghiệp văn chương đều có công giúp nước, triều nào cũng có, xin tạm nêu ra:
Đời Trần có Chu Văn An ( ?-1370) đỗ Tiến sĩ, giữ chức tư nghiệp (dậy ở Quốc Tử Giám, tức trường Đại học của ta), dậy Thái tử và con các Đại thần, dâng sớ "thất trảm" đòi chém 7 kẻ gian thần, vua không nghe, ông treo mũ từ quan. Sau được thờ trong Văn Miếu, tức là nơi thờ phụng Khổng Tử, ông tổ đạo Nho.
Đời Hồ có Nguyễn Trãi (1380-1442) đỗ Thái Học Sinh (như Tiến sĩ). Sau khi giúp Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, ông viết bài "Bình Ngô Đại Cáo" được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước ta (8) và là tác giả nhiều thơ văn Hán Nôm còn lưu truyền.
Đời Nguyễn có Nguyễn Công Trứ (1778-1859) đỗ Giải nguyên, thi Hương (1819), lập nhiều công lớn và đặc biệt khai khẩn đất hoang miền duyên hải Nam Định và Ninh Bình, lập ra hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn, và hai tổng Hoành Thu, Minh Nhất.
Nhờ có một tổ chức giáo dục và Khoa cử sớm hoàn bị, nước Việt Nam xưa được coi là một nước văn hiến. Thế mà chỉ mới bị bãi bỏ có hơn 70 năm, ngày nay phần đông chúng ta không mấy ai biết đến Khoa cử nữa. Hoặc chúng ta mỉm cười chế giễu, hoặc chúng ta lên án nghiêm khắc. Trong Việt Nam quốc sử khảo Phan Bội Châu viết: "Trung quốc bỏ Khoa cử từ năm Canh Tý (1900)(9), Triều Tiên bỏ từ năm Giáp Ngọ (1894), đó là một việc nhơ nhớp duy chỉ nước ta còn có mà thôi" và "người ta mửa ra, mình lại nuốt vào". Vì sao cha ông ta lại quá nặng lời như vậy? Có phải vì các vị quá phẫn uất trước thảm bại của nước nhà trong tay quân viễn chinh Pháp, mà giới lãnh đạo của ta lúc ấy do Khoa mục xuất thân, cho nên cha ông ta quy hết mọi tội cho Khoa cử đã đào tạo ra một lũ hủ Nho, mở miệng chỉ biết "chi, hồ, dã, giả", và một đám tham quan ô lại, chuyên bắt nạt dân đen, nhưng trước họng súng của Tây phương thì lại bó gối, cúi đầu, khiến cho lòng người chán nản, hết tin tưởng ở giai cấp lãnh đạo mà họ vẫn phục tùng xưa nay, do đó chúng ta phủ nhận luôn cả những khía cạnh tích cực của Khoa cử?
Đành rằng Khoa cử ngày một hủ bại, không thiết thực, chuộng hư văn, nhưng có thật lỗi ở Khoa cử hay ở người áp dụng nó? Con dao nào dùng mãi cũng cùn, ta không biết mài lại cho nó sắc lại đổ lỗi cho dao xấu, đi mua dao khác thay thì suốt đời còn phải thay.
Phan Huy Chú, trong Lịch Triều Hiến Chương, viết: "Xem việc thi cử hay hay dở thì biết nước thịnh hay suy". Thời thịnh của Khoa cử là thời kẻ sĩ coi nó chỉ là phương tiện, tạo điều kiện cho mình thi thố tài năng giúp đời, đạo đức vẫn là chính, văn học chỉ là thứ yếu ("văn" phải được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả chính trị, mưu lược quân sự, kinh tế, triết học v.v... chứ không phải chỉ học làm thơ suông). Mục đích dậy "văn" là để đào tạo ra hạng người có kiến thức, có mưu trí, có tài ứng đối mẫn tiệp, biết cách cư xử khôn khéo trên chính trường ngoại giao. Đã đành ngày nay tin tưởng văn thơ có thể đuổi được giặc là chuyện buồn cười, song ta không nên quên rằng chính trị, ngoại giao thời xưa rất khác, văn học không phải là chuyện phù phiếm. Ngày nay chúng ta thường băn khoăn tự hỏi sao tổ tiên ta lại hồ đồ kén chọn người ra gánh vác việc nước bằng văn thơ? Đọc lại những sự kiện lịch sử còn được lưu truyền thì thấy dù trong thời tự trị, ta vẫn bị Trung quốc đàn áp, nay đánh, mai dọa, tùy ta yếu hay mạnh. Họ lại thường dò xét xem ta có nhân tài hay không bằng cách đưa ra những câu đố hiểm hóc, những bài thơ oái oăm bắt giảng và họa lại, nếu ta hiểu và đối đáp trôi chảy, có khí phách, họ kết luận nên lui binh, cho hòa. Thí dụ thời nhà Mạc, quân Minh kéo sang định thôn tính nước ta. Tướng Mao Bá Ôn đóng quân ở cửa nam Quan, làm bài thơ "Cái bèo" đưa sang, ngụ ý khinh người Nam như cái bèo, phải một trận gió là tan. Sư Giáp Hải, đỗ Trạng nguyên, được cử ra làm thơ hoạ lại, hàm ý ta không sợ vì không thiếu nhân tài (dưới lớp bèo) "nào cá, nào rồng trong ấy ẩn", ta sẵn sàng ứng chiến. Bá Ôn đọc xong, rút quân về (10).
Thư sinh không thể làm tướng thì làm sứ. Trạng Bùng Phùng Khắc Hoan (1528-1613) đi sứ cũng nhờ văn tài làm vua quan Tầu kính phục, không những khiến họ lui binh, mà nước ta từ đó thoát khỏi phải cống hiến nước giếng Trọng Thủy để rửa ngọc trai, và người bằng vàng đúc (11).
Gần ta hơn, năm 1789, vua Quang Trung (1752-92), trước khi đại thắng quân Thanh đã tuyên bố: "Chỉ trong vòng mười ngày nữa thế nào ta cũng quét sạch quân Thanh, nhưng nước Thanh lớn hơn ta gấp mười lần, bị thua tất lấy làm thẹn, chắc phải tìm cách rửa hờn. Nếu cứ binh lửa liên miên thật không phải hạnh phúc cho dân, lòng ta sao nỡ? Vì vậy, sau khi thắng trận phải khéo "dùng ngọn bút thay giáp binh" (lấy lời lẽ khéo léo để giảng hòa, đẩy lui quân địch). Việc ấy phi Ngô Thời Nhậm (1746-1803) không ai làm nổi. Đợi mươi năm sau, ta đủ thì giờ gây nuôi, nước giầu, dân mạnh thì ta có sợ gì nó?" (12). Quang Trung thành công một phần nhờ tài biết dùng người.Quả nhiên sau này khi cầm đầu phái bộ ta sang Trung quốc, Ngô Thời Nhậm chứng tỏ Quang Trung không lầm người. Lúc tiến vào cửa Sứ quán, thấy hàng chữ đề "An Nam di sứ công quán" (Công quán của Sứ bộ xứ man di An Nam) Ngô Thời Nhậm không chịu vào, nói: "Ta không phải đại diện cho một xứ man di, nên không vào Sứ quán ấy". Quan nhà Thanh chữa rằng đối với Trung quốc thì tất cả đều là man di, mọi rợ hết, Ngô Thời Nhậm cười rằng: "Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã (trâu tìm trâu nhập bọn, ngựa tìm ngựa nhập bọn). Phải chăng Đại quốc là mọi rợ khác?". Nhà Thanh đành phải sửa lại cái biển thành "Nam quốc Sứ quan Công quán", lúc đó Ngô Thời Nhậm mới chịu dẫn đoàn ngoại giao của ta bước vào (13).
Những lỗi lầm
Bất cứ một chế độ nào dù hay đến đâu cũng phải có ngày suy. Một trong những lỗi lầm lớn của Khoa cử là quá trọng đãi những người thi đỗ, vô hình trung tạo ra hạng người học chỉ vụ lấy đỗ, còn đạo nghĩa trong kinh sách thì không mấy quan tâm đến. Lê Quý Đôn đã tóm thâu cái học của họ trong câu "thi thiên, phú bách, văn sách, năm mươi" nghĩa là chỉ cần học thuộc lòng 1000 bài thơ, 100 bài phú và 50 bài văn sách là đủ vốn để dựa theo đó làm văn bài và thi đỗ!.

Vì quá phục văn hóa Trung Hoa, vì khiêm tốn tin rằng chỉ bậc thánh mới xứng đáng viết sách dậy học và những gì đáng viết đều đã có trong kinh sách, cho nên ngoại trừ Nam sử và vài cuốn sách vỡ lòng như "Nhất Thiên Tự" (sách 1000 chữ), "Tam Thiên Tự" (sách 3000 chữ) v.v... ông cha ta ít dám viết sách dạy học. Phần đông khi học lại chỉ vận dụng trí nhớ để học thuộc lòng, thiếu óc suy luận, không tìm hiểu nghĩa thâm thúy bên trong mà chỉ áp dụng cái vỏ bên ngoài. Chẳng hạn cho rằng đã làm con thì phải thực hiện tất cả mọi ý muốn của cha mẹ mới là có hiếu. Sự thực, "Đức Thánh Khổng" có dậy như thế không? Cổ Học Tinh Hoa chép rằng Tăng Sâm, một trong những học trò giỏi của Khổng Tử, một hôm bừa cỏ lỡ tay làm đứt mất một ít rễ dưa, cha giận cầm gậy đánh. Tăng Sâm đau quá gục xuống một lúc mới hồi lại. Về nhà thưa với cha rằng: "Lúc nẫy con có tội để đến nỗi cha phải đánh, làm đau tay cha, thực là con lỗi đạo". Nói xong lui xuống, vừa gãy đàn vừa hát, có ý để cha biết rằng mình không còn đau. Khổng Tử biết chuyện cấm cửa không cho Tăng Sâm vào. Sâm tự nghĩ mình vô tội, nhờ bạn đến hỏi vì cớ gì mà thầy giận. Khổng Tử nói: "Ngày trước, ông Thuấn phụng sự cha là Cổ Tẩu, lúc cha sai khiến gì thì ở luôn bên cạnh, lúc cha giận giữ thì lánh xa, lúc cha đánh bằng roi vọt thì cam chịu, đánh bằng gậy gộc thì chạy trốn. Thế cho nên ông Cổ Tẩu không mang tiếng bất từ. Nay Sâm liều mình chịu đòn đến nỗi ngất đi để chiều cơn giận của cha, nếu lỡ cha đánh chết thì có phải khiến cho cha mắc tội không? Tội bất hiếu còn gì to hơn nữa?"

Bàn đến chữ "trung" nhiều người tin rằng đạo làm tôi phải hết sức phục tùng vua, vua trái thì can hoặc treo mũ từ quan, vua giết thì cam chịu chứ không được chống đối. Cao Bá Quát chống lại triều đình lập tức mang tiếng "giặc" (giặc châu chấu). Khổng Tử tuy nói rằng vua thay trời trị vì dân, dân phải phục tùng, nhưng cũng nói vua có bổn phận của vua, tức là phải chăm lo hạnh phúc cho dân. Mỗi khi vua ở trái đạo thì Trời ra tai (lụt lội, đói kém) hoặc sinh ra những chuyện bất thường (nhật thực, nguyệt thực v.v...) để thức tỉnh. Lúc ấy vua phải ăn chay, sám hối, sửa đổi đường lối chính trị, phóng thích tù nhân, phát chẩn cho người nghèo để chuộc lỗi. Thuyết này tuy hoang đường nhưng có công dụng là kiềm chế được phần nào các "đấng quân vương" còn chút ít lương tâm. (Giở sử ra, ta thấy nhan nhản những vụ như sau: "Năm 1345, tháng tư, tháng năm đại hạn. Ra lệnh ân xá cho tù nhân"). Mạnh Tử còn đi xa hơn Khổng Tử với câu: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh".
Nho học chủ trương lập đức là chính, học đạo để thành người quân tử. Lúc đầu chữ "quân tử" trỏ vào đám quý tộc cầm quyền chính, sau Không Tử cho rằng chỉ những người có đức hạnh mới xứng đáng cầm quyền, nên người quân tử cũng trỏ vào những người có đức hạnh. Nhà Nho sở dĩ trọng sự thanh bạch cũng vì tin rằng cái nghèo luyện cho ta bớt kiêu căng, bớt xa xỉ, bớt lười biếng, tóm lại là gây nhân cách cho con người. Một ông quan nghèo chắc chắn là một ông quan thanh liêm, không tham nhũng cho nên mới nghèo.(Paul Doumer chép trong Hồi Ký rằng Phan Thanh Giản Làm quan to mà lúc chết vẫn chỉ có một túp nhà tranh đơn sơ). Tuy nhiên, trong thực tế, hạng này càng ngày càng hiếm, mà hạng vơ vét của dân làm giầu thì càng ngày càng nhiều, bởi đạo hạnh đã kém mà tục lệ khao vọng của ta lại nặng nề, khiến người thi đỗ mang công mắc nợ, đã thế nếp sống nhà quan thường xa hoa trong khi lương bổng ít (14) cho nên "túng thì phải tính". Ca dao ta có những câu chua chát:
Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình
Ba Bộ đồng tình cướp gạo con tôi!
Hay:
Con ơi, nhớ lấy câu này:
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan!
đủ nói lên tình trạng đám quan lại khi đạo suy.
Nho giáo coi việc tu thân là cần, giữ sao cho tính tình lúc nào cũng điềm đạm, ôn hòa, cho nên nhà Nho khinh những người cậy sức khỏe lấn át kẻ khác. Nhà Nho chỉ "đấu khẩu" chứ không thèm "đấu chân tay", chê các võ quan là hạng "vai u, bắp thịt, mồ hôi đầu", "có khỏe mà chẳng có khôn", hoặc "văn thời tứ phẩm đã sang, võ thời nhất phẩm còn mang gươm hầu "... Lâu dần thành thói quen "trọng văn, khinh võ". Việc dụng binh trong nước coi là bất thường, thời bình cho quân lính ở nhà cấy ruộng, hữu sự mới triệu ra, cho nên quân sĩ thiếu luyện tập.
Vì tin rằng con người quý ở chỗ tinh thần thảnh thơi, không bị cái "hình dịch" (đeo đuổi công danh, phú quý để phục vụ cho hình xác) nó làm cho quay cuồng, nên ta coi rẽ phú cường mà cầu an lạc, không chú trọng đến khoa học thực tiễn, không lo mở mang kinh tế cho nước giầu mạnh mà chỉ lo nhẹ thuế cho dân an vui là đủ. Từ ưa hòa bình thanh nhàn, ta biến dần thành tính cầu an, rồi nhẫn nhục, và sau cùng đi đến chỗ hèn yếu. Khi va chạm với súng ống tối tân của Tây, thảm bại là cái chắc. Tuy các quan ta không thiếu người có khí tiết, nhưng vì quá khinh ngành võ, lại thiếu vũ khí, thiếu kinh nghiệm chiến đấu nên tỏ ra hoàn toàn bất lực trước sức mạnh của quân Pháp. Cái mớ kinh nghiệm trị nước bằng đức, đối ngoại bằng văn tài của tiền nhân để lại không còn thích hợp nữa nên Hoàng Diệu (1828-82), Nguyễn Tri Phương (1796-1867) v.v... chỉ đành đem cái chết để tỏ lòng mình.
Chính sánh "bế quan tỏa cảng" càng khiến ta thu hẹp tầm mắt, chỉ biết có văn minh Trung Hoa, ngoài ra không coi ai ra gì, tự kiêu, tự mãn cho mình là văn minh, không thèm học hỏi thêm. Nguyễn Tường Tộ viết: "Mỗi khi chê Tây nhỏ yếu, thì mọi người hân hoan, vui vẻ, còn nói sự thật thì lập tức bị thóa mạ, nghi là ăn hối lộ của Tây, vì thế ai cũng cắn răng ngậm miệng, không dám nói sự thật" (15). Phái đoàn Phan Thanh Giản đi sứ Pháp về kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe xứ người thì bị coi là nói chuyện hoang đường: "Làm gì có thứ nước chảy từ dưới lên trên (nước phun trong công viên), và đèn gì lại chúc đầu xuống mà vẫn cháy được)?".
Chữ Quốc ngữ do các giáo sĩ Tây phương đặt ra, lại do một lớp thông phán thiếu đức độ sử dụng lúc đầu, cho nên một số người cho học chữ Quốc ngữ là "vong bản", thà bỏ thi cử khi Quốc ngữ trở nên bắt buộc, chứ không thèm học loại chữ "con nòng nọc". Hành động này tuy do lòng nhiệt thành ái quốc mà ra song là một hành động quá khích bởi chữ Hán cũng đâu phải chữ của ta?

Cải cách

Ngày nay ta chê Khoa cử "dùng thơ phú để kén nhân tài" có hơi oan cho Khoa cử. Thực ra thi Hương cũng như thi Hội bao giờ cũng có một kỳ thi văn sách (có chỗ chép là vấn sách) gồm hai phần:
Cổ văn hỏi về chính sự và sử Trung quốc.
Kim văn hỏi về chính sự hiện tại của nước nhà.
Thí dụ: Năm 1868, đầu bài Kim văn thi Hội là: "Quân xâm lăng (Pháp) hiện nay càng ngày càng gây hấn, đồn lũy dựng lên khắp nơi, vậy nên đánh hay nên hòa (16).


Ngô Thì Sĩ trong bài tự trướng mừng Lê Quý Đôn đỗ Bảng nhãn cũng viết: "Thi văn sách, chuyện được mất xưa nay, điều hay điều dở của chính sự, chỗ cao thấp của nhân tài, sự khoan nghiêm của pháp lệnh, điều nào ông cũng lần lượt trình bày rõ ràng, rành mạch, tuyệt vời, tỏ ra hiểu sâu kinh, rộng sử, bác cổ thông kim"(17).

Có người trách Phan Thanh Giản nhường ba tỉnh An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long cho Pháp năm 1867, dù chết cũng không đủ chuộc tội. Nhưng đứng trước hỏa lực tối tân của Pháp, mưu lược hay đến đâu mà không có vũ khí tốt đi kèm cũng khó mà thắng huống chi lại là mưu lược chỉ thích hợp cho một đường lối hành quân cổ xưa và một nền tâm lý khác hẳn. Thử đem những người tốt nghiệp trường Khoa học Chính trị của Pháp chẳng hạn, bảo họ cầm quân xuất trận xem họ có lúng túng hay không? Nếu họ cũng giỏi như những người tốt nghiệp trường võ bị Saint Cyr thì chẳng hóa ra học Saint Cyr là thừa ư? Phan Thanh Giản tuẫn tiết tỏ ra không tham sinh, úy tử, nhường ba tỉnh cho Pháp tất nhiên không phải vì tư lợi mà muốn tránh cho dân khỏi chết thêm trong một cuộc chiến tuyệt vọng.
Giáo dục của ta không phải chỉ dậy toàn ngâm thơ, vịnh nguyệt, nhưng đối với thời nay quả có thiếu phần thực dụng, cần phải canh cải. Song không phải mãi sau khi đụng chạm với Tây phương ông cha ta mới tỉnh ngộ. Ngay từ cuối thế kỷ XIV, Hồ Quý Ly đã sáng suốt muốn ly khai ảnh hưởng Trung quốc bằng cách nâng cao địa vị chữ Nôm lên. Năm 1393, Quý Ly soạn sách Minh Đạo bằng chữ Nôm bàn về các nhân vật và kinh điển đạo Nho, chê các danh Nho đời Đường, đời Tống chỉ biết chắp nhặt văn chương, học rộng mà viễn vông. Sách dâng lên Thượng Hoàng Nghệ Tông khen, nhưng bị phe bảo thủ chỉ trích trong đó có vài học quan ở Quốc Tử Giám. Năm 1395, Quý Ly dịch thiên "Vô Dật" trong Kinh Thư ra dậy vua; 1396 làm sách Thi Nghĩa bằng Nôm (giảng nghĩa Kinh Thi) cho nữ quan dậy các hậu phi và cung nhân (18). Những cố gắng cải cách của Quý Ly không thu lượm được mấy kết quả vì nhà Hồ mất sớm, sách vở viết ra lại bị quân Minh đốt sạch.
Gần ta hơn có Lê Quý Đôn cũng muốn cải tổ Khoa cử và văn học. Song ngay lớp sĩ phu thời đó cũng chưa mấy ai thấy rõ tầm quan trọng của các đề nghị cải cách. Ngược lại, lợi dụng danh nghĩa cải cách, tự do, một Thí sinh đùa bỡn viết ngay vào quyển thi:
May sinh gập thời bình,
Thần xin lấy ba vợ (19).
Đầu thế kỷ XIX, Cao Bá Quát (1808-54/55) khi đi sứ Tân Gia Ba có dịp mở rộng tầm mắt, đã choáng người trước "Tầu thủy Hồng mao", làm ngay một bài thi ca tụng, rồi tự phê phán: "Đáng phàn nàn cho ta bấy lâu chỉ lo đóng cửa gọt rũa câu văn, lải nhải từng câu từng chữ có khác nào con sâu đo muốn muốn đo cả Trời Đất?" (20).
Phan Thanh Giản (1796-1867), Chánh Sứ
1863, sang Pháp để xin chuộc ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường.
Ông sinh ở Vĩnh Long, năm 1825 đỗ Cử nhân, 1826 đỗ Tiến sĩ. Được cử làm Phó-sứ sang Tàu năm 1832, làm quan đến chức Hiệp-biện Đại học sĩ, sung Vĩnh long Kinh lược sứ (1866), tùng nhất phẩm. Năm 1867, sau khi mất nốt ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, ông để lại một bức thư trần tình rồi xếp đồ triều phục, các đạo sắc gửi trả về Kinh, tuyệt thực 17 ngày không chết, sau phải uống thuốc độc. Triều đình luận tội, cách chức đục tên ông trên bia Tiến-sĩ, mãi năm 1886, vua Đồng Khánh mới cho ông phục chức.
Ông để lại chừng 10 bộ sách Hán văn và một ít văn quốc âm.
Trích trong Khoa cử ở Việt Nam (chưa in)
Phạm Phú Thứ (1820-1881), Phó Sứ (44 tuổi)
Ông người Quảng Nam, đỗ Tiến sĩ năm 1843, năm 1863 giữ chức Tham tri bộ Lại, tùng nhị phẩm. Năm 1866 làm Hộ bộ Thượng thư, năm 1876 Tổng đốc Hải Dương. Ông nổi tiếng vì có óc duy tân.
Trích trong Khoa cử ở Việt Nam (chưa in)
Ngụy Khắc Đản (1815-?, Bồi sứ (48 tuổi)
Ông sinh ở Nghệ An đỗ Cử nhân năm 1841, Thám hoa năm 1856. 1863 giữ chức Thị lang bộ Hình, tùng tam phẩm.
Trích trong Khoa cử ở Việt Nam (chưa in)
Chính vua Minh Mệnh cũng nhận xét: "Văn cử nghiệp chỉ câu nệ những cái hủ sáo... học như thế trách nào mà nhân tài chẳng mỗi ngày một kém đi?"
Một số người cho rằng Khoa cử bị bãi bỏ là do người Pháp cưỡng ép, thực ra giới trí thức của ta lúc ấy nhao nhao đòi cải tổ giáo dục và Khoa cử: Nguyễn Tường Tộ (1830-71), Phạm Phú Thứ (1820-81), Phan Bội Châu (1867-1940), Trần Quý Cáp (1870-1908) v.v... đều xin cải sửa, đặc biệt có Trần Bích San (1840-78) đỗ tới Tam Nguyên cũng xin bãi Khoa cử. Phan Chu Trinh xuất thân Nho học, đỗ Tiến sĩ, mà lên án Hán học rất nặng lời: "Bất phế Hán tự, bất túc dĩ cứu Nam quốc!" (không bỏ chữ Hán thì không cứu được nước Nam). Phương Sơn sửa lại: "Bất chấn Hán học, bất túc dĩ cứu Nam quốc" (không chấn hưng Hán học thì không cứu được nước Nam). Khoa cử hủ bại, chúng tôi đồng ý về điều ấy, còn Hán học đã đào tạo ra biết bao anh hùng, liệt sĩ thì sao ta lại phế bỏ đi?" (21).
Huỳnh Thúc Kháng (1876-1948) tuy kết tội Khoa cử, nhưng công nhận phần lớn lỗi ở người học đạo không đến nơi: "Mình nhận lối học Khoa cử cùng lối học Tống Nho làm lối học Khổng, Mạnh, chính là chỗ hư, chỗ hở của người Tàu mà mình bắt chước". Rõ ràng Huỳnh Thúc Kháng chỉ phê bình lối học "tầm chương, trích cú" chứ không nói trùm lấp cả lối kén người bằng thi cử, và chính ông đã ca tụng cái học cùng Khoa cử đời Trần, nhìn nhận nó gần chánh đạo. Lại cũng chính ông nghiêm khắc lên án thái độ của một số người theo Tân học: "Chẳng qua ngày trước nói Khổng, Mạnh thì ngày nay thay vào Hy Lạp, La Mã, Mạnh đức thư cưu (Montesquieu), Lư thoa (Rousseau), đổi cái "chi, hồ, dã, giả" bước sang "a, b, c, d". Phan Chu Trinh còn gay gắt hơn: "Ngày trước học chữ Hán thì làm hủ Nho, ngày nay học Tây thì làm hủ Âu" (22).Thế là thế nào? Khoa cử đã bị bãi bỏ, chương trình cải cách đã được áp dụng, tại sao hai vị còn chưa vừa lòng? - Ấy là vì cả hai đều nhận ra cái cái óc học để làm quan của ta vẫn còn, và cái óc ấy không hẳn là "độc quyền" của Hán học và Khoa cử... Người ta thích làm quan để được giàu sang, trọng vọng. Xưa kia các bà, các cô có phải chỉ tham "cái bút, cái nghiên" xuống đâu? Tham là tham một bước lên quan khi "anh Đồ" thi đỗ đấy chứ. Bởi thế khi Khoa cử tàn, các cô bèn "xếp bút nghiên" lại, không phải để "lên đường tranh đấu" mà là để tuyên bố "Phi Cao đẳng bất thành phu phụ!"
Ta chê Khoa cử, thực ra là chê cái học thiếu thực dụng, chứ còn cách dùng thi cử để kén nhân tài thì ngày nay trên khắp thế giới vẫn phải dùng đến. Khoa cử tương đối công bằng và bình đẳng, ít ra cũng hơn chế độ "con vua thì lại làm vua". Trong Hồi ký, Paul Doumer nhắc đến trường hợp một người con nông dân được lấy đỗ trong khi một người khác con quan lại bị đánh trượt mặc dầu văn tài hai người suýt soát nhau, để chứng tỏ các quan trường không tư vị. Song Khoa cử chỉ tương đối công bằng, con nhà "xướng ca vô loài" chẳng hạn, không được đi thi. Đào Duy Từ thi Hội đỗ, chỉ vì cha là người cầm đầu đội nữ nhạc trong cung vua Lê mà bị đánh hỏng, ai dám bảo là công bằng? Phụ nữ cũng không được phép bén mảng đến trường thi, thậm chí dự một buổi bình văn ở nhà Giám (Quốc Tử Giám) cũng bị đuổi ra (23) thì bình đẳng ở chỗ nào?
Phong trào duy tân ngày một lan rộng, nhất là từ khi ta thấy Nhật trở nên hùng cường nhờ Âu hóa, thắng được quân đội Nga và Trung Hoa vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
Ngày nay chúng ta bỏ hẳn Hán học, theo Tây học, song một số không ít đã nhận thấy đời sống Âu, Mỹ tuy đầy đủ tiện nghi, nhưng con người quay cuồng, phờ phạc vì công ăn việc làm, lúc nào cũng vội vã, sắp đặt thì giờ từng giây, từng phút, đến nỗi không biết gì đến sinh thú nữa. Đời sống vội vã, căng thẳng ấy chưa hẳn đã thích hợp với tâm hồn của ta. Mặt khác, cái học Đông phương quá chuộng thanh nhàn, coi rẻ đời sống vật chất nên người dân phải vất vả, lầm than, thiếu đủ thứ cũng không tạo được sự an lạc cho họ. Cho nên cuối cùng tất phải đi đến một giải pháp dung hòa.
Song dù giàu hay nghèo, dù sang hay hèn, phần đông dân ta đều trọng tình cảm và đạo đức, khiến người ngoại quốc phải kính trọng. Đấy là do ảnh hưởng một phần không nhỏ của Nho giáo đã thấm đến cốt tủy của ta, kể cả những người không trực tiếp học đạo. Nho học đã tạo ra một từng lớp sĩ phu có khí tiết, đức độ, rất có uy tín trong dân gian. Ngày nay phái Tân học tuy không biết đạo Nho nhưng vẫn được thừa hưởng cái uy tín của từng lớp trí thức trước để lại. Mà Nho học bành trướng được một phần là nhờ Khoa cử (Khoa cử kén người hỏi về đạo Nho vì đạo Nho dậy cách trị quốc, an dân, lại tôn quân quyền nên được vua chúa dùng làm quốc giáo) cho nên Khoa cử không hẳn chỉ có tội đối với quốc dân ta.
Chú thích:
(1) Connaissance du Việt Nam, tr. 84
(2) Văn hóa Đông sơn được coi là văn hóa cổ của ta, cực thịnh vào cuối thời các vua Hùng.
Chữ Việt cổ nếu có cũng không còn chứng tích.
(3) An Nam chí lược, tr. 251
(4) An Nam chí lược, tr. 232-4
Theo Đào Duy Anh (Đất nước Việt Nam qua các đời, tr. 69) hiện còn đền thờ Khương Công Phụ tại quê hương là làng Cẩm Chướng, huyện Yên Định (Thanh Hóa).
(5) Đoàn Kết số 411
(6) Ta thường dịch Tú tài thời xưa cũng là "bachelier", có lẽ chữ "sous-admissible" thích hợp hơn vì Tú tài xưa là những người thi Hương không đỗ, nhưng có chân trên bảng dự khuyết.
(7) Kiến văn tiểu lục, tr. 113
(8) Bài thơ "Nam quốc sơn hà, Nam đế cư" của Lý Thường Kiệt được coi là bản thứ nhất.
(9) Trung quốc bỏ Khoa cử năm 1905 chứ không phải năm 1900.
(10) và (11) "Nói về truyện các cụ ta đi sứ Tầu", Nam Phong số 92
Có lẽ Nguyễn Hữu Tiến đã lầm Trạng nguyên Giáp Hải đời Mạc với sư Giác Hải đời Lý Nhân Tông (Thiền Uyển Tập Anh)?
Bài thơ "Cái bèo" có thể cũng chỉ là một giai thoại bịa đặt.
Cương Mục XIV, 28-32 lại chép Mạc Đăng Dung, không đẩy lui được Mao Bá Ôn, xin hàng.
Lịch triều hiến chương chép Giáp Hải đỗ Đình nguyên khoa 1538.
Công dư tiệp ký - tập I, tr. 100 nói Giáp Hải đỗ Trạng nguyên khoa 1553, nhưng có con, không phải sư; cũng không nói đến bài thơ "Cái bèo". - tập II, tr. 118, cho biết Mao Bá Ôn rút quân sau khi xem bài biểu xin hàng của Mặc Đăng Dung do Trạng nguyên Ngô Miễn Thiệu hay Trạng nguyên Trần Tất Văn viết.
(12) Ngô gia văn phái, tr. 29
Hoàng Lê nhất thống chí, tr. 306
(13) Nghìn xưa văn hiến, tr. 306
Phủ biên tạp lục, tr. 19-20, lại chép là Lê Quý Đôn chứ không phải Ngô Thì Nhậm.
(14) Nguyễn Trường Tộ, tr. 74
(15) Nguyễn Trường Tộ, tr. 304
(16) Giai thoại làng Nho toàn tập, tr. 534
(17) Ngô Thì Sĩ, tr. 212
(18) Biên niên lịch sử Cổ Trung đại, tr. 230-3
(19) Lê Quý Đôn, tr. 221 và 185
Câu này còn được chép trong Công dư tập ký tập III, tr. 86, viết khoảng 1755 tức là từ trước khi Lê Quý Đôn làm chủ khảo (1772).
Vũ trung tùy bút thì nói Trần Tiến chép câu này trong bài thi ứng chế (tr. 166).
(20) Thơ Cao Bá Quát, tr. 22
(21) Đông kinh nghĩa thục, tr. 81
(22) Khổng học đăng, tr. 774-86
(23) Vũ trung tùy bút, tr. 96-8
Sách tham khảo:
Bùi Hạnh Cẩn, Lê Quý Đôn; Hà Nội, 1985.
Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời. Hà Nội: KHXH, 1965. Paris: Đông Nam Á tái bản.
P. Huard & M. Durand, Connaissance du Việt Nam, Paris, 1954.
Lãng Nhân, Giai thoại làng Nho toàn tập. Saigon: Nam chi tùng thư, 1966.
Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục. Hà Nội: Sử học, 1962. Dịch giả: Phạm Trọng Điềm.
Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục. Hà Nội: KHXH, 1977.
Lê Tắc, An Nam chí lược. Viện Đại học Huế, 1961.
Ngô Thì Chí, Hoàng Lê nhất thống chí. Bản dịch Ngô Tất Tố. Phong trào văn hóa tái bản, 1969.
Nguyễn Hiến Lê, Đông kinh nghĩa thục. Saigon, 1956. Xuân Thu tái bản ở Mỹ.
Nguyễn Hữu Tiến, "Nói về truyện các cụ ta đi sứ Tầu", Nam Phong số 92.
Phạm Đình Hổ, Vũ trung tùy bút. Hà Nội : Văn học, 1972. Paris: Đông Nam Á tái bản, 1985. Dịch giả : Nguyễn Hữu Tiến.
Phan Bội Châu, Khổng học đăng. Xuân thu tái bản ở Mỹ.
Phan Ngọc, "Chơi chữ trong câu đối Việt Nam", Đoàn Kết số 411.
Trần Lê Văn, Ngọc Liêu, Chương Thâu, Nguyễn Tài Thu, Một số tác giả và tác phẩm trong Ngô gia văn phái. Hà Sơn Bình, 1960.
Trần Quốc Vượng, Giang Hà Vị, Nghìn xưa văn hiến, tập IV, Hà Nội, 1984.
Trần Thị Băng Thanh, Ngô Thì Sĩ, Hà Nội, 1987.
Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo. Hồ Chí Minh, 1988.
Vũ Phương Đề, Công dư tiệp ký. Saigon: Bộ Quốc gia Giáo dục, 1962. Dịch giả: Nguyễn Đình Diệm.
Thơ Cao Bá Quát. Hà Nội: Văn học, 1984.
Biên niên lịch sử Cổ Trung Đại. Hà Nội: KHXH, 1987.
Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Hà Nội: Văn Sử Địa. Tổ biên dịch: Phạm Trọng Điềm, Hoa Bằng, Trần Văn Giáp.
Tháng 8/1989
Nguyễn Thị Chân Quỳnh
Nguồn: Rút trong Khoa cử ở Việt Nam 
Làng Văn, số 70, tháng 6/1990
Theo http://chimviet.free.fr/

Tết dưới mắt người Tây phươngXXXX

Tết dưới mắt người Tây phương

Trong "Lối Xưa Xe Ngựa..." tập II, tôi có viết ba bài về những tục lệ liên quan đến Tết Nguyên đán (1), song là viết theo sách sử của ta. Ở đây tôi trích dịch một số bài viết về Tết, từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, dưới mắt quan sát của Tây phương. Họ đã ghi lại nhiều phong tục mà ngày nay không còn. Là ngoại quốc với một nền văn hóa khác hẳn, họ có những suy diễn có thể sai lầm song vẫn là những tài liệu quý giúp ta rõ phần nào xưa kia cha ông ta ăn Tết ra sao.
gs alexandre de rhodes (1593-1660) - Người Pháp, tu Dòng Tên. Năm 1624, giáo sĩ định sang Nhật giảng đạo nhưng lúc ấy Nhật đang đóng cửa ngoại giao nên đành đến Ðàng Trong. Năm 1627, Tòa Thánh ủy thác cho ông dựng thêm cơ sở ở Ðàng Ngoài. Lúc đầu giảng đạo ông được Chúa Trịnh tiếp đãi nồng hậu, nhưng đến 1630 thì bị trục xuất chính vì vấn đề truyền giáo. Nhiều lần ông lén quay lại song lúc ấy Ðàng Trong cũng cấm đạo rất ngặt. Năm 1645, ông bị kết án tử hình, sau được ân xá nhưng phải lập tức rời Việt Nam và từ đấy không trở lại nữa. Khoảng 1646 ông viết xong Histoire du Royaume de Tunquin (Lịch sử Vương quốc Ðàng Ngoài) trong có nhắc đến một vài tục lệ ăn Tết của ta (2). Tôi lược dịch:
"Có một tục lệ lâu đời nhưng nực cười mà khắp Ðàng Ngoài còn giữ là những người già, cả nam lẫn nữ, cứ đến cuối năm thì sợ hãi trốn vào các đền chùa để tránh con quỷ mà họ gọi là Votuan(3). Họ cho rằng Votuan có nhiệm vụ sát hại và bóp cổ tất cả những người già thuộc cả hai phái. Thế là trong ba hay bốn ngày cuối năm, những kẻ khốn khổ đó đến trú ẩn trong các đền chùa, ngày đêm không dám thò mặt ra cho mãi tới mồng một Tết mới về nhà, vì họ tin rằng uy quyền của con quỷ đó, kẻ thù của những người già, đến hôm ấy chấm dứt (...). Những người khác có phận sự trong nhà như các gia trưởng thì vào ngày cuối năm có thói quen dựng gần cửa một cây cột cao vượt mái nhà, trên ngọn treo cái giỏ hay cái hộp đục thủng nhiều lỗ, đựng đầy những đồng tiền vàng bạc nhỏ làm bằng bằng giấy bồi cứng. Họ rồ dại đinh ninh rằng vào cuối năm tổ tiên họ có thể bị túng thiếu, cần đến vàng bạc để trả nợ. Sự kiện này dẫn đến một tục lệ khác là bất cứ già trẻ sang hèn, không ai khất nợ quá một năm, trừ trường hợp không thể trả nổi. Hành động của họ rất đáng ngợi khen nếu họ làm không phải vì tin nhảm, như họ thường làm, tức là sợ chủ nợ không đòi được tiền, tức giận, nói năng động chạm tới tổ tiên họ khiến tổ tiên oán hờn con cháu. Ðiều mà họ rất sợ là nếu có ai bị tố cáo và tòa kết tội đã xúc phạm tới danh dự người khác, đụng chạm tới tổ tiên người ta thì người đó sẽ bị quan tòa trừng phạt cũng nghiêm khắc như phạm một trọng tội. Họ còn lo trả nợ trước cuối năm vì một tin nhảm khác, sợ chủ nợ đến đòi vào ngày mồng một Tết, bắt đồ đạc trừ, họ cho thế là xúi quẩy và là một điềm gở".
samuel baron là người Hòa Lan lai Bắc. Cha làm đại diện cho công ty Ấn độ-Hòa-lan ở Kẻ chợ (Thăng-long) vào năm 1663. S. Baron sinh ở Kẻ chợ, sống nhiều năm ở miền Bắc, lớn lên cũng làm cho công ty này, lấy quốc tịch Anh, rồi bỏ đi buôn quanh vùng Ðông Nam Á. Những năm 1678/80/82 đều có trở lại Kẻ chợ. Năm 1685-6, S. Baron viết cuốn A Description of the King dom of Tonqueen (Mô tả Vương quốc Ðàng Ngoài) cũng nhắc đến một vài tục ăn Tết thời Hậu Lê (4):
"Cái lễ vui nhất là Tết, thường rơi vào khoảng 25 tháng giêng tây lịch và kéo dài một tuần. Vào dịp ấy, ngoài múa hát và những thú tiêu khiển (chọi gà, đi cà kheo...) họ còn bầy nhiều trò chơi như đá cầu hay đánh đu, cột đu làm bằng tre dựng ở mọi góc phố, đàn ông khoe sức mạnh và tài khéo léo trong khi những gánh hát rong trình diễn các trò ảo thuật, múa rối. Họ không bao giờ chểnh mảng trong việc chuẩn bị lễ Tết, cỗ bàn khá tươm tất. Tùy hoàn cảnh, mỗi người đều tìm cách trội át láng giềng trong ba, bốn ngày Tết. Ðây là thời gian người ta mặc sức ăn ngon, phóng túng, ai mà không cố tiếp đãi họ hàng, bạn bè chu tất thì mang tiếng là bủn xỉn, bần tiện, nên dẫu họ biết rằng tiêu hoang vào dịp này thì rồi sẽ khánh kiệt, cả năm đến phải sống bằng cách đi ăn xin cũng không quản ngại.
Mồng một Tết không ai ra ngoài đường (trừ những tùy thuộc của các lãnh chúa) người nào cũng ở trong nhà và chỉ tiếp cận họ hàng gần và gia nhân. Ðối với tất cả những người khác thì dù một ngụm nước, một thanh củi họ cũng không cho và còn khó chịu thấy ai dám ngỏ lời xin vì họ mê tín, sợ rông : mồng một mà cho ai cái gì thì cả năm cứ phải tiếp tục cho đến nỗi cuối cùng phải đi ăn mày. Tục lệ không đi ra đường cũng chung một lý do : sợ nhỡ ra đường mà gập điềm xấu thì cả năm sẽ khổ. Người Bắc còn tin nhiều điều như gập may hay không may tùy vào một vài sự kiện vớ vẩn.
Mồng hai, họ đi chúc Tết nhau và đến chào người trên để làm tròn bổn phận : lính tráng, gia nhân cũng đi mừng tuổi quan thầy hay chủ nhà. Tuy nhiên, các quan thì lại đi chầu vua chúa vào ngày mồng một, theo đúng nghi lễ.
Có người tính Tết bắt đầu từ 25 tháng chạp là tính bậy. Họ lầm vì thấy hôm ấy cái ấn/triện được xếp vào hộp, mặt ngửa lên, tỏ ý không dùng đến, nghỉ việc trong một tháng (khóa ấn, phong ấn). Trong thời gian ấy các vụ kiện tụng đều đình hoãn, không một tờ biên bản nào được đóng triện, những con nợ không bị tịch biên gia sản, những đám trộm cắp vặt, đánh nhau đều không sợ bị phạt. Các quan Tổng đốc, Tuần phủ, Tri huyện chỉ đếm xỉa đến những tội phản loạn, sát nhân, bắt giam phạm nhân lại chờ ngày khai ấn mới đem ra xử. Thực ra Tết bắt đầu vào ngày mồng một tháng giêng âm lịch, tức là khoảng 25 tháng giêng dương lịch và theo Trung quốc thì kéo dài tới một tháng" (5).
dampier w. là tác giả quyển Un Voyage au Tonkin en 1688 (Một chuyến du lịch Bắc kỳ năm 1688) đăng trong Revue Indochinoise (6):
"Cái lễ lớn nhất là Tết, vào ngày đầu trăng thượng tuần tháng giêng, tức là khoảng giữa tháng giêng dương lịch. Dân chúng thong dong trong mươi, mười hai ngày, ai cũng nghỉ việc, cố ăn mặc sạch sẽ, tươm tất, nhất là dân đen. Những người này tiêu khiển bằng các trò chơi hay vận động. Ðường phố đông như nêm cối, nhà quê cũng như kẻ chợ, nô nức đi xem các trò giải trí. Có người dựng cột đu ở các hè phố và thu tiền của những ai muốn đánh đu, lối đu tựa như của ta, phảng phất giống quang cảnh những cánh đồng phụ cận Luân-đôn, dân chúng dạo chơi ngày lễ hội. Nhưng người đánh đu ở đây đứng thẳng dưới chân cột, dẫm lên một cái ngáng nằm ngang, hai đầu buộc chặt vào hai sợi dây thừng treo ở trên, người đu nắm giữ bằng hai tay và rún chân đưa bổng lên cao tít, ví thử dây chão mà đứt thì ít ra cũng ngã gẫy xương nếu không chết. Những người khác dùng thì giờ vào việc uống trà là thứ giải khát thường nhật, nhưng họ cũng ưa khề khà, nhấm nháp một loại rượu hâm nóng, cất bằng gạo, pha chung với trà, song dù pha cách nào thì chung quy nó cũng rất khó uống dẫu không pha nồng quá. Chính vì thế mà họ thích, thứ nhất trong cái mùa họ được tự do bê tha, rượu say bí tỉ. Những người giầu có là những người có chừng mực nhất nhưng cũng chơi bời thỏa thích. Người sang thì đãi bạn bè những món cao lương mỹ vị, rượu nhất hạng không thiếu dẫu rằng, nói cho đúng sự thật, loại rượu này chẳng ra quái gì. Tuy nhiên, họ coi nó là thuốc rất bổ, đặc biệt khi ngâm với rắn độc, bọ cạp (ấy là tôi nghe nói thế), không những rượu ấy được coi là một thứ rượu bổ mà còn là thứ thuốc rất mạnh để trị bệnh hủi, chữa mọi nọc độc, phải là người họ trọng vọng ghê lắm mới có diễm phúc được thưởng thức thứ rượu trân quý ấy. Tôi biết chuyện này là qua một người đã được những nhà quyền quý bậc nhất mời như thế. Chính vào lúc ấy họ ăn rất nhiều trầu và trao tặng nhau trầu cau.
Tôi đã được một người ở thôn quê mời đến nhà ăn Tết. Tôi lên bộ cùng với các thủy thủ cũng được mời đi ăn Tết. Không rõ những người kia được tiếp đãi ra sao, riêng tôi thì trông cung cách tiếp đón quá xoàng xĩnh, tôi vội vàng cáo từ. Món ăn chính không bao giờ thiếu là cơm, món thường nhật của họ, ngoài ra, ông bạn tôi muốn cho tôi và những người khách của ông nếm của ngon, sáng hôm ấy dã đi câu ở cái ao gần nhà dược rất nhiều ếch và hớn hở đem ra khoe khi tôi tới nhà. Tôi ngạc nhiên thấy ông ta xếp rất nhiều những con vật nhỏ đó vào cái giỏ và khi tôi hỏi để làm gì thì ông trả lời là để ăn, song tôi không hiểu ông ướp thịt ếch ra sao. Những món ninh nấu của ông trông không đủ hấp dẫn để giữ tôi ở lại đánh chén với ông".
gs benigme là tác giả Vingt ans en Annam (Hai mươi năm sống ở An-nam). Viết về Tết, giáo sĩ có những nhận xét khá tỉ mỉ, xin lược dịch (7):
"Hôm trừ tịch, mỗi người trồng ở góc nhà một cây tre đẹp nhất, trên ngọn, chỗ những chùm lá, người ta treo cái giỏ nhỏ đựng trầu cau đã têm sẵn, thuốc lá gói từng điếu, thuốc lào (...). Trên bàn thờ đèn nến sáng choang, trước các bài vị cỗ bàn bầy la liệt (...). Chiều hôm ấy thiên hạ đốt pháo. Tôi đã thấy có nhà đốt tới 5000 cái pháo (...). Vong hồn tổ tiên trở về xum họp với con cháu và ở lại ăn Tết mấy ngày đầu năm. Thọat đầu hồn dừng lại ở ngọn tre, ăn trầu, hút thuốc rồi mới vào nhà sau ba lần cung thỉnh của gia chủ. Hồn ngồi dự tiệc giữa những tiếng chiêng trống ầm ỹ. Mỗi người xì xụp quỳ lạy ba lần (8) để tiếp rước ông bà ông vải. Hôm sau, sáng chiều họ đều làm như thế, và cứ như thế suốt cả một tuần lễ.
Trong ba ngày Tết, ai cũng diện quần áo mới toanh, hết sức tránh không to tiếng trong nhà, tất cả mọi công việc đều ngừng vì ngại làm phiền tổ tiên muốn yên tĩnh, đòi hỏi con cháu phải kính cẩn giữ yên lặng (...). Người ta tiêu khiển bằng cách đi mừng nhau đã sống lâu được đến hôm ấy và chúc phúc năm mới. Những kẻ dưới đi Tết người trên thì đem theo lễ vật và quỳ lạy ít ra là một lễ (8), không bao giờ người ta đi chúc Tết người trên mà lại đi tay không. Sau đó họ được phép tha hồ bê tha cờ bạc trong ba ngày Tết, say mê đến nỗi thua sạch cả quần áo. Nhưng họ không được phép chơi ở gìan nhà chính mà chơi ở dưới mái hiên và với điều kiện chỉ nói cười khe khẽ. Ðáng phục là điều kiện này đến cả các bà cũng tuân theo !".
Bs COURTOIS Edmondlà bác sĩ quân y và tác giả quyển Le Tonkin français contemporain (Bắc kỳ Pháp thuộc, hiện đại). Tết năm 1886 (Bính Tuất) đặc biệt ở chỗ có tới bốn người đã dự và viết bài tường thuật. Xin lược dịch đoạn trích trong Le Tonkin français contemporain(9) :
"Tết năm 1886 rơi vào ngày mồng 3 tháng hai dương lịch. Tôi đang ở với một đội ngũ coi mấy nghìn phu an-nam làm đường. Tết đến, tất cả mọi công việc đều ngừng lại như có phép lạ. Viên đội trưởng phân phát vô số thịt lợn, trà, và cho phu nghỉ việc với điều kiện là phần đông phải thuận ở lại chỗ làm việc. Rất nhiều người xin về ăn Tết với gia đình.
Tôi có hai tên gia nhân an-nam rất tận tâm, quá tận tâm nữa bởi vì chúng không bao giờ đợi tôi sai bảo mà cứ tự tiện làm mọi việc thành thử chúng làm bậy lung tung. Hôm trừ tịch, chúng nghiêm trang bảo tôi bằng thứ tiếng Pháp chưa rành : "Hết việc nàm" và xin phép tôi về nhà cha mẹ tuy ở khá xa. Tôi còn như thấy trước mắt chúng trịnh trọng mang những gói quà (một nắm cơm) rồi chắp tay, cúi rạp xuống cung kính chào theo kiểu an-nam, rất cảm động. Tôi tò mò rất muốn biết cái lễ Tết ấy ra sao, bèn hỏi một nhà buôn an-nam giầu có và là người đôi khi tôi đã giúp đỡ vài việc vặt, ngỏ ý muốn ăn Tết với gia đình ông ta. Khi tôi vừa nói tôi rất tôn kính những tục lệ cổ truyền, rất thán phục cái tục trọng vọng gia đình mà không xứ nào sánh bằng ở đây thì ông ta thuận để tôi tự do đến nhà suốt thời gian có lễ Tết.
Tết trước hết là lễ thờ phụng tổ tiên, nhà nào cũng đóng cửa ăn Tết trong gian phòng trang hoàng đẹp nhất vào dịp đặc biệt này. Nhiều người chỉ đến Tết mới thay áo quần, thành ra ờ xứ Bắc ngày hôm ấy ai cũng diện bảnh chọe, mọi khi họ ăn mặc rách rưới, nhếch nhác thì hôm ấy trông gần như sạch sẽ. Người ta tặng nhau quà, trẻ con chúc Tết cha và được mừng tuổi một xâu tiền kẽm buộc lạt, ngoài bọc giấy đỏ hay giấy trắng. Cũng vào ngày Tết người chủ gia đình giúp đỡ họ hàng nghèo và bao giờ trong gói quà cũng nói rõ để cúng ông bà ông vải. Cái chỗ vinh dự nhất nhà dành cho bàn thờ tổ tiên. Ðó là một cái bàn thờ sơn son trên bầy bình hương đựng cát, những chân nến cũng sơn son, những thoi giấy vàng giấy bạc và những đĩa đựng cơm, thịt (...) mỗi ngày người ta hạ và thay cỗ mới mấy lần. Tất cả gian phòng bầy rặt đồ thờ cúng, nào tàn quạt, nào bình phong. Bên trên bàn thờ treo những tờ giấy lớn viết đặc những chữ nho ca tụng công đức tổ tiên và lòng tôn sùng của con cháu. Cạnh bàn là chỗ các cung văn ngồi dạo nhạc liên tục những ngâm khúc lê thê, uể oái, kèm theo những bài ca. Tất cả mọi người cung kính lắng nghe gần như say mê.
Nhưng Tết không phải chỉ là lễ cúng tổ tiên, nó còn là cái cớ để người ta tiệc tùng, chè rượu thả cửa, tất cả những đĩa đồ ăn bầy la liệt trên bàn thờ mỗi ngày thay mấy lần, có thể nói là họ ăn uống từ sáng đến tối. Chiều mồng một hiếm khi gập một người an-nam nào không chuếnh choáng hơi men, say khướt thứ rượu "choum choum", rượu trắng cất bằng gạo, rất dở mà khắp xứ Bắc đâu đâu cũng có.
Thỉnh thoảng người ta ngừng ăn uống, các cung văn nghỉ đàn hát, rồi bỗng những tiếng súng nổ đùng đùng đinh tai nhức óc, chiêng khua trống gióng inh ỏi, mỗi người đều ra sức đập một vật như thể họ thi đua xem ai đập to hơn. Thế rồi lại ca hát ê a, và Tết kéo dài khoảng một tuần ở nhà giầu, nhà nghèo thì ngắn hơn. Số tiền nhỏ mọn họ dành dụm ky cóp đã tiêu sạch.
Ðến một lúc nào đó họ đốt vàng mã, những thỏi vàng bạc bằng giấy, cho ông bà ông vải. Và còn rất nhiều lễ kỳ dị, thay đổi tùy vùng. Ở đồng bằng thường thấy họ cân nước lã để bói. Nếu nước năm mới nặng hơn nước năm cũ là điềm gở, năm ấy sẽ có nạn hồng thủy ghê gớm (10).
Tổ tiên được coi như linh hiển, về ăn Tết, vì thế người ta mới luôn luôn thay đổi món ăn trên bàn thờ. Dân chúng cũng đi tảo mộ, nhổ cỏ, đắp mộ. Họ đi tảo mộ quanh năm. Nếu ruộng có mộ chôn đã bán đi thì trong văn tự phải chua rõ chỗ đất ấy không nhượng.
Ngày Tết, Phật cũng được dự phần cúng bái nhưng xếp vào hàng phụ, sau tổ tiên. Người ta trồng một cái cột tre trước cửa, trang hoàng những mảnh giấy để làm dấu hiệu cho tổ tiên biết đường về nhà (...). Tất cả cái lễ Tết ấy tựa như một lễ tuyên tôn (béatification) tổ tiên.
Vua chúa cũng ban hiệu lệnh cho dân chúng ăn chơi, nghỉ việc trong nửa tháng".
Bs HOCQUARD cũng là Bác sĩ quân y và là tác giả cuốn Une campagne au Tonkin (Một chuyến viễn chinh ở Bắc kỳ), viết từ 11 tháng giêng 1884 đến 31 tháng 5 năm 1886 kèm theo những tấm ảnh rất hiếm quý do chính ông chụp. Tập Hồi ký của ông được đánh giá cao. Xin lược dịch đoạn tả cái Tết năm 1886 ở Huế (11) :
"Từ sáng nay cả thành phố Huế tưng bừng, nô nức : sắp đến Tết đầu năm an-nam. Trong non một tháng trời dân chúng, giầu cũng như nghèo, đình hết mọi việc để ăn uống, dong chơi : không ai buôn bán, cầy bừa, không làm những việc chán ngán, lớn bé đều diện quần áo ngày Tết. Những người nghèo khó bán cả đồ đạc còn sót trong nhà, đi vay nợ, để có tiền tiêu Tết. Tục ngữ an-nam có câu "Ðầu năm phải tốt đẹp không thì rông cả năm". Các bộ, viện đều đóng cửa. Từ 25 tháng chạp âm lịch chính phủ ngừng làm việc, không ký và đóng dấu các công văn nữa, hộp đựng ấn tỷ sẽ khóa cho tới ngày 11 tháng giêng năm sau. Những hạng cùng đinh mà họ gọi là danlan(12), một năm chỉ được nghỉ ba lần mỗi lần một ngày, còn thì phải phục vụ những người giầu sang, nhưng họ bắt phải trả đắt, vì không mấy người làm việc nên họ có thể đòi hỏi nhiều.
Tất cả mọi cửa hiệu đều đóng cửa im ỉm, thành phố như chết nếu không có tiếng pháo của khách trú và tiếng các nhạc khí. Những người thuộc hạng trung lưu và các quan thì mặc lễ phục đi chúc Tết, trao đổi những cánh thiếp lớn mầu đỏ cùng quà cáp. Tết cũng là ngày vui của trẻ con, để đáp lại những lời chúc tụng, chúng được mở hàng những đồng tiền kẽm bao giấy đỏ. Chỗ nào cũng thấy đỏ rực, mầu đỏ vốn là mầu của vui mừng. Trước cửa mỗi nhà người ta trồng những cành tre lớn còn đầy lá, cũng có những cột trên ngọn trang trí bằng tầu là dừa hay chùm lông gà, đèn treo đủ mọi mầu sắc. Cây cột này trồng cho tổ tiên hay cha mẹ đã mất. Dân chúng tin rằng hàng năm vào dịp Tết vong linh tổ tiên trở về thăm gia đình và ở lại ăn Tết, thế thì cần phải để hồn người chết nhận biết nhà của con cháu mà vào, cây cột có mục đích chặn họ lại không để đi quá nhà.
Trước ngưỡng cửa, nhà nào cũng vạch xuống đất những hình cung tên xếp tréo nhau bằng vôi bột. Tục lệ này nhắc lại tích đức Phật đánh dẹp ma quỷ (13). Có người còn lấy cây xương rồng và những cành cây có gai bịt kín cửa để ma quỷ không vào được nhà quấy nhiễu mất vui. Ngoài cổng, mé trái bức tường, dựng một bàn nhỏ thắp đèn hương thờ thần giữ cửa, nhà giầu bầy hoa, vàng giấy, bánh trái, cỗ bàn ngày hai buổi cúng bái.
Trong nhà, bàn ghế được kê lại, đổi chỗ, cuối sân chăng dây kết hoa hay giấy sặc sỡ, thờ thần giếng. Những ông thầy bói thì đến cân nước để đoán quẻ : trong hai cái lọ dung tích bằng nhau người ta đổ hai khối nước như nhau, một đựng nước múc trước ngày Tết và một đựng nước múc sau Tết. Nếu lọ nước múc trước ngày mồng một nặng hơn lọ múc sau thì thầy bói cho là điềm gở, trong năm phải cẩn thận.
Chỉ những người đầy tớ là sung sướng nhất trong dịp lễ này : chẳng ai mắng mỏ họ một câu, nếu mắng ắt cả năm sẽ rông, họ bảo thế.
Vào dịp Tết dân an-nam ăn nhậu của ngon vật lạ phè phỡn, mỗi ngày họ ăn ba bữa chính và bao giờ cũng đem lên cúng một mâm cỗ mới. Trong bếp luôn luôn thắp hương cúng ba vị thần (Vua Bếp hay Táo công) sống ở ba hòn đá trong bếp (cái kiềng bếp ba chân) (14).
Từ khi Tết bắt đầu, dân chúng lũ lượt đi sửa sang mồ mả (có ngôi mộ chỉ là nấm đất, người giầu sang xây mộ đá, tường vây xung quanh...). Không gì kỳ dị bằng quang cảnh từng đoàn lũ thợ thuyền xúm xít nhổ cỏ và sơn phết lại các lăng mộ.
Tết năm nay rơi vào ngày 18 tháng giêng dương lịch (15). Ngay từ sáng thành phố Huế đã nhộn nhịp khác thường : các ông quan, các ông hoàng, và lũ lượt theo sau là một đám đông tùy tùng, mặc phẩm phục tiến vào thành nội để chúc Tết vua (Ðồng Khánh). Khắp nơi, các Ngự lâm quân vũ trang gươm giáo giám thị bờ sông để giữ trật tự đám thuyền bè đông đảo chuyên chở các quan chức. Tất cả quân đội Pháp đều trưng dụng, đứng làm hàng rào từ cổng thành tới cung điện (Thái-hòa), suốt thời gian vua thiết đại triều đón tiếp Thiếu tướng Prudhomme và viên Khâm sứ (16).

Tại sân thứ nhất của Hoàng thành, quang cảnh thật là ngoạn mục : từ cửa Ngọ môn đến sân chầu, các đội Hải quân bộ binh mặc lễ phục, đội mũ trắng, đeo binh khí, dàn thành hai hàng hai bên thành cái cầu nhỏ dẫn tới cung điện. Cái mũ trắng này đã khiến bộ Lễ phải thương lượng rất lâu vì mầu trắng là mầu tang tóc, trong dịp Tết vui mừng mà dùng mầu trắng là điềm chẳng lành cho năm mới. Trong hai ngày dòng dã, Lễ bộ Thượng thư liên tiếp gửi cho Prudhomme hết thư này đến thư khác, điều đình xin đổi mầu mũ nhưng viên tướng Pháp khăng khăng một mực: trời nắng chang chang mà đội mũ đen có thể khiến quân sĩ bị say nắng (17).
Giữa sân chầu, đại đội lính khố đỏ Bắc kỳ đứng thành hai hàng để chừa ở giữa một khoảng rộng làm lối đi cho tướng Prudhomme. Ðằng sau lính khố đỏ, cách quãng đều nhau là những bia đá chạm trổ, khắc chữ nho, các quan đứng sắp hàng theo thứ bậc cạnh những cái bia ấy, bên trái dành cho quan văn, bên phải là quan võ. Tất cả đều mặc triều phục, áo bào dài thườn thượt, tay áo rộng thùng thình, lưng thắt đai khảm ngọc quý nhiều mầu, đằng sau lại trang điểm cái gì như hai cái cánh rung rinh mỗi khi họ cất bước, chân mang hia tầu bằng vải thâm, đế dạ (feutre) dầy dặn. Mỗi ông quan cầm trong tay một cái giống như cái vương vị (hốt) bằng ngà. Mũ hơi giống mũ tế của các giám mục, phủ trán, bọc vải đen tô điểm bằng kim tuyến và những viên ngọc mầu, trùm lên trên cái lưới bao tóc sát thái dương. Hinh dáng mũ và xiêm áo của tất cả các quan giống nhau nhưng gấm vóc may áo, những hình thêu trên áo hay những đồ trang sức trên mũ thay đổi tùy phẩm tước : áo quan văn thêu con phong(phụng ?), một loại chim ưng đang giang cánh, quan võ thì thêu hình đầu con hổ (18).
Với quan chức cấp dưới thì những trang sức đều ở vuông lụa trước ngực chiếc áo thụng bằng gấm đồng mầu xanh lam, mũ điểm trang cũng sơ sài thôi. Các đại thần bận áo bào xa hoa sắc mầu lộng lẫy, nhiều nhất là mầu quan lục. Áo gấm thêu hoa lá, hai bên mũ tô điểm vàng, đính hai miếng vải cứng giống như cánh con chuồn chuồn, trên thêu rồng (19).
Các hoàng thân tụ tập ở phía trên các quan, ngay trong cung điện : họ khoác những tấm áo đỏ thêu kim tuyền lóng lánh rực rỡ Ở góc sân chầu, hai bên cung điện là các nhạc công mặc sắc phục đỏ, người thì mang nhạc khí tựa như kèn tây, kẻ đặt trống trên cái giá ở trước mặt. Bên cạnh là lính hầu cầm tàn lọng, gươm giáo, lắp vào cái cán gỗ dài là búa rìu, rồng trượng, bàn tay ngà biểu thị vương quyền.
Hai bên sân chầu, những con voi khổng lồ trang sức mỹ lệ, chân đeo vòng kim khí, ngà treo vòng chạm trổ những hình kỳ dị, đứng trầm ngâm, lưng mang ghế bành thếp vàng trong đặt một hình nhân ngồi, trang phục choáng lộn, che một chiếc lọng vàng to do tên thủ hạ cầm, đứng đằng sau, trên mông con voi. Hình nhân này đại diện cho các lãnh chúa tùng phục triều đình, từ các miền xa xôi nhân dịp lễ Tết về chầu.
Thình lình, một sự yên lặng sâu thẳm lan ra khắp các quan và lính. Một điệu nhạc vọng ra như từ chốn xa xăm, phía sau cung điện mà các cửa trong cùng đều mở, báo hiệu vua sắp lâm triều. Tiếng nhạc to dần, tựa như một bản hành quân nhịp điệu kỳ lạ, cứ giở đi giở lại mãi một âm điệu trầm buồn, u hoài, phát ra từ những nhạc khí có âm thanh rất êm nhẹ tựa như một dàn nhạc gồm ống tiêu, vĩ cầm, đàn ghi-ta. Một tiếng lanh lảnh kéo dài vang lên ở cuối cung điện và được các truyền lệnh sứ thay nhau nhắc lại, đứng rải rác từ tẩm cung ra đến sân chầu, qua các hành lang và những con đường vua phải đi qua để ra ngự triều.
Và đây mở đầu đám rước : Trước tiên là đoàn Ngự lâm bận áo điều, đầu đội mũ lưỡi trai xuống đến gáy bằng giấy bồi sơn, tay dựng tua tủa những thanh gươm rất dài tra trong vỏ gỗ, cán bịt bạc. Rồi đến các môn vệ vác búa trượng khắc những hình kỳ quặc, Thị vệ cầm những sợi xích sắt treo trên cán ngắn, những đỉnh trầm hương khói nghi ngút. Bọn khác cầm quạt lông ngựa xua ruồi, cờ thêu viền răng cưa giả hình ngọn lửa. Cả đoàn khoan thai tiến từng bước rồi dàn ra hai bên ngự tọa.
Cuối cùng nhà vua xuất hiện giữa bốn tên Thị vệ ăn mặc rất đẹp, khiêng bốn cái lọng vàng che cho vua. Vua vận một bộ áo hình dáng cũng tựa như áo các quan nhưng bằng vóc vàng thêu chỉ vàng. Mầu vàng là mầu dành riêng cho vua dùng, ở nước Nam chỉ có vua mới được mặc mầu vàng, các quan mà dám dùng mầu này trước công chúng là mang tội khí quân, lập tức bị án tử hình. Vua dận đôi ủng tầu đen, dát vàng, tay cầm một cái vương quyền bằng ngà (hốt ngà), đầu đội mũ cùng mầu với áo, khảm kim cương, ngọc trai, hoàng ngọc. Chiếc kim khánh bằng vàng chạm ngọc trai và kim cương đeo lủng lẳng ở cổ bằng một sợi dây chuyền vàng. Trên ngực áo cẩm bào thêu hai chữ nho "Vạn thọ".
(...) Vua vừa ngồi xuống thình lình vang lên từ phía đầu thành tiếng kèn tây rộn rã của binh sĩ Pháp. Tướng Prudhomme, bên phải sóng vai viên Khâm sứ, nối đuôi là các sĩ quan và rất nhiều công chức, thông ngôn, vừa mới tiến vào sân thứ nhất, đi giữa hai hàng rào quân đội Pháp bồng súng chào trong khi lính thổi kèn tấu nhạc. Khi Prudhomme bước lên thềm sân chầu thứ nhất thì vua đứng dậy, rời long ỷ, đường bệ bước xuống, tiến ra cửa cung đón tiếp viên đại diện nước Pháp, bốn tên Thị vệ theo sau che lọng. Tướng Prudhomme ngỏ lời chúc mừng năm mới, được người thông ngôn chính của tòa Khâm (20) dịch ngay ra, vua đáp lại mấy lời nhã nhặn rồi tướng Prudhomme cáo từ ra về với những nghi thức y như khi đến.
Nhưng chưa hết. Bây giờ mới tới những nghi lễ hấp dẫn, thú vị nhất. Các hoàng thân, đại thần làm lễ tuyên thệ trung thành với vua theo đúng thủ tục mỗi khi bước sang năm mới. Các quan sắp thành sáu hàng, quay mặt về phía cung điện. Theo hiệu lệnh của Thượng thư bộ Lễ, tất cả quỳ xuống, dập đầu sát đất, tuyên thệ trong khi âm nhạc nổi lên gợi cho ta phảng phất nhớ tới những buỗi lễ hát trong giáo đường. Các quan lom khom lên gối xuống gối ba lần như thế, và giữa hai lần phủ phục, âm nhạc trong cung văng vẳng đưa ra, vẫn cái điệu u hoài, uể oải.
Tôi rất chú ý đến cái cảnh tượng đặc biệt tôn nghiêm ấy : đám đông các quan bận phẩm phục rực rỡ, lóng lánh dưới ánh dương quang, quỳ rạp giữa hai hàng voi đứng im phăng phắc, điệu nhạc kỳ dị, hương trầm bát ngát bay trong không gian, tất cả chập chờn, như ẩn như hiện trong bóng tối mờ mờ của gian ngự điện rộng thênh thang, một ông vua trẻ tuổi, trạc đôi mươi, trong chiếc long bào mầu vàng rộng thùng thình, nét mặt vô cảm hệt như một pho tượng, và người ta quỳ gối sùng bái như phụng thờ một vị thần linh trong một khung cảnh tuyệt vời với những tòa cung điện, một quang cảnh không thể nào quên được.
Buổi lễ triều kiến kết thúc, vua vừa ra khỏi ngự điện thì những vệ sĩ và quan thuộc cấp từ từ giải tản dần. Các hoàng thân, đại thần được vua ban yến trong cung. Những lời khen tặng, những phần thưởng đã được vua ưu ái ban phát cho những người làm việc xứng đáng trong năm qua.
(...) Ngày xưa, hoàng đế an-nam mỗi năm xuất hiện cho thần dân chiêm ngưỡng tôn nhan một lần vào dịp Tết nhưng sau khi Nam kỳ bị thất thủ vào tay quân Pháp, vua Tự Ðức buồn rầu, ẩn lánh trong cung và chỉ ra ngoài bằng thuyền hay kiệu che kín mít (...). Vua Ðồng Khánh từ khi mới lên ngôi muốn quay lại noi theo cổ tục của tổ tiên (21).
Ðồng hồ điểm đúng 3 giờ, một tiếng súng vang ra từ thành nội báo hiệu vua xuất hành. Ðám rước vượt qua chiếc cầu gỗ lớn vắt ngang sông, tiến sang mỏm Ðông ba, đi đủng đỉnh giữa hai hàng lính Pháp, đằng sau lũ lượt hộ giá có cả nghìn người gồm các hoàng thân, Thượng thư, đại thần, Thị vệ, các nhạc công, Ngự lâm quân mang gươm giáo, cờ quạt, tàn lọng. Vua ngự trên chiếc kiệu thếp vàng do bốn người lực lưỡng khiêng, che bốn lọng vàng. Dân chúng xúm đông hai bên đường, phủ phục khi vua đi qua. Những tràng pháo an-nam nổ liên thanh, không khí tỏa ngát trầm hương từ những cái án thư nhỏ bầy lộc bình, phủ vải điều thêu, dựng khắp nơi bên đường vua đi qua. Ðứng trước án thư là các kỳ lão ở Huế đến chào mừng hoàng đế và cũng để tiếp nhận phần thưởng dành cho những bô lão trường thọ do vua ban theo đúng Kinh Lễ.
Vua dừng lại trước tòa Thương bạc để thăm viên chủ soái quân đội Pháp. Từ sân, vua được tướng Prudhomme song song sánh bước cùng viên Khâm sứ và toàn thể binh sĩ ra nghênh giá. Một tiệc chiêu đãi nhỏ đã bầy sẵn. Vua ngồi giữa Prudhomme và viên Khâm sứ ở chiếc bàn đặc biệt, kê trên một cái bục hơi cao trong khi tại phòng bên, các đại thần và các ông hoàng ngồi ăn uống ở những cái bàn thấp hẳn hơn".
Thiếu tướng Prudhomme giữ chức Lĩnh Trú sứ ở Trung kỳ năm 1886 đã tường thuật lại cái Tết Bính Tuất ở Huế mà ông đóng một vai chủ chốt, có những nhận xét khác với Bs Hocquard. Bài được Cosserat trích đăng trong Bulletin des Amis du Vieux Hué(22), xin dịch thêm để bổ sung :
"Vào dịp Tết này, thể theo lời yêu cầu của tướng Prudhomme, vua (Ðồng Khánh) thuận đặc cách bãi bỏ tất cả tục lệ cổ truyền mà ra mắt công chúng để cho mọi người thấy nhà vua không phải là tù nhân của người Pháp như thiên hạ đồn đại, mà là đồng minh của Pháp quốc.
Sáng ngày mồng 3 tháng 2 dương lịch, bẩy tiếng súng lớn báo hiệu một năm mới bắt đầu vào ngày mồng 4 tháng 2 năm 1886, và sáng hôm ấy vua dành để tiếp tướng Prudhomme, các sĩ quan và công chức tòa Khâm ở cung điện (Thái-hòa).
Trên những sân bên trong, các binh lính an-nam dàn thành hàng rào. Giữa sân chầu, các quan sắp theo thứ bực. Bên trái là ban nhạc cung đình, bên phải là quân nhạc đại đội Lạp bộ binh thứ 11 (chasseurs à pied). Hai bên là Ngự lâm quân với cờ xí, tàn lọng, đằng trước đàn voi trận. Viên Kinh lược sứ và hai viên Thượng thư quan trọng nhất (23) tiến ra đón tướng Prudhomme và đoàn tùy tùng, dẫn lên ngự điện. Vua Ðồng Khánh đợi ở đấy, bận long bào vóc vàng thêu chỉ vàng, đội mũ nạm bảo ngọc, ngồi trên long ỷ thếp vàng xung quanh có các quan thị phụng.
Khi tướng Prudhomme đến nơi, vua từ ngự tọa bước xuống đón, bắt tay rồi trở lại ngồi nghe những lời chúc mừng của Prudhomme. Cha Hoàng, thông ngôn của triều đình, quỳ lạy ba lần rồi mới dịch bài diễn văn ấy. Nghe xong, vua đứng lên thong thả đáp lễ, cũng do cha Hoàng dịch. Buổi triều kiến kết thúc với lễ ban phát huy chương cho các viên chủ sự, văn và võ. Sau khi những lời cảm tạ của tướng Prudhomme được dịch xong, viên chủ soái quân đội Pháp cáo từ, cũng do viên Kinh lược sứ và hai quan Thương thư tiễn đưa. Một lúc sau khi trở về đại bản doanh thì những huy chương bằng vàng to nhỏ được đưa đến một cách long trọng và lập tức được phân phát cho các viên chủ sự kèm với lời căn dặn là phải đeo trong buổi diễn binh trưa nay.
(...) 2g30 vua, cùng với tướng Prudhomme và toàn bộ tham mưu văn võ, ra khỏi cung điện, vua ngồi trên kiệu sơn son thếp vàng không mui để ra mắt công chúng. Ngự lâm quân hộ giá, binh sĩ Pháp đi tiên phong và tập hậu đám rước... diễu hành khắp Hoàng thành và Ðông ba trong tiếng nhạc an-nam. Tất cả mọi chùa chiền đều thắp đèn sáng và cắm cờ xí... Khi vua đi qua, dân chúng phủ phục sát đất rồi đứng dậy biểu lộ sự vui mừng ầm ỹ và đốt rất nhiều pháo.
(...) Ðến chiều, vua đãi tướng Prudhomme và viên Khâm sứ cùng tùy tùng của họ một đại tiệc theo kiểu Tây phương trong tiếng nhạc cung đình. Ngày lễ chấm dứt bằng mục đốt pháo bông rất huy hoàng.
Lễ Tết, và đặc biệt là chuyến xuất hành ra mắt thần dân của vua Ðồng Khánh rất có tiếng vang. Ngoài bằng chứng cho thấy nhà vua hoàn toàn tự do, Ðồng Khánh còn biểu lộ ý muốn cắt đứt với những hủ tục mấy trăm năm của chế độ quân chủ, khiến cho ông vua trở thành một một nhân vật có tính chất huyền thoại, xa cách nhân dân. Ðồng Khánh chứng tỏ ông ta muốn cải cách cổ tục và sống theo văn hóa Thái Tây. Cuộc viếng thăm đại bản doanh xác nhận lòng tôn kính đối với nước Pháp và mối giao tình hoàn hảo với đại diện Pháp... Tin tưởng rằng chỉ cần nhà vua xuất hiện trước công chúng là thu phục được những phần tử chống đối, tướng Prudhomme, qua cha Hoàng, đã đề nghị ý muốn đi dẫn đầu đám rước".
Phóng viên báo Figaro cũng có mặt ở Huế vào dịp Tết 1886 và đã tường thuật với con mắt bàng quan. Cosserat trích lại trong BAVH(24) :
"Dẫn đầu đám rước là hai con voi, hai con ngựa của vua do ba tên thị vệ dắt, rồi đến nhạc đội Lạp bộ binh thứ 11, một trung đội Lạp binh, âm nhạc an-nam, các quan mang gươm giáo, tàn lọng...
Vua ngồi trên kiệu, bên phải có tướng Prudhomme, bên trái là Ðại tá Brissaud, cả hai đều cưỡi ngựa, theo sau là đội lính thổi kèn, rồi đến các ông Hoàng, Thượng thư, nhân viên tòa Khâm, sĩ quan Pháp, các quan Nam đủ mọi cấp bậc, một đám phu an-nam mang vũ khí bằng gỗ thếp vàng, bạc, cờ xí. Ðám người này trông như vừa mới ở cửa hiệu bán đồ cũ bước ra. Ði đoạn hậu là 6 con voi, một toán bộ binh xứ Algérie (zouaves), trông như dân Lilliput (tí hon) bên cạnh những con vật khổng lồ... Ðường phố Ðông ba lúc nẫy ồn ào, náo nhiệt là thế, giờ vắng tanh, ai về nhà n ấy, vì không ai được phép nhìn vua. Trước cửa mỗi nhà đều đặt một án thư trên đốt trầm hương. Khi đám rước đã đi qua rồi, đường phố lại ồn ào đông nghịt những người, pháo liên thanh nổ... 5 giờ chiều chấm dứt buổi diễu hành, vua trở về cung và sau đó gửi tặng tướng Prudhomme một thanh gươm rất quý trị giá 2000 quan. Chiều tối, tướng Prudhomme dự một tiệc yến trong vòng thân hữu ở cung điện".
CHÚ THÍCH:
[1] Ba bài ấy là: "Tết Nguyên đán và lễ Nghênh Xuân", "Khai bút đại cát", "Tế Nam giao" in trong "Lối Xưa Xe Ngực..." tập II. Paris: An Tiêm, 2003.
[2] A. de Rhodes, Lịch sử Vương quốc Ðàng Ngoài, tr. 104-5.
[3] "Votuan" : chưa rõ nghĩa.
[4] S. Baron, Description du Royaume de Tonquin, tr. 34-5.
[5] Cuối năm có lễ Phong ấn hay Khóa ấn: hộp đựng ấn úp mặt xuống, công sở nghỉ làm việc cho đến ngày Khai ấn, làm việc trở lại vào đầu năm mới. Xin xem "Tết Nguyên đán và lễ Nghênh Xuân", "Lối Xưa Xe Ngựa..." tập II.
Chính S. Baron lầm: người ta tính Tết kể từ ngày cúng ông Táo lên chầu Trời vào 23 tháng chạp chứ không phải 25 (theo luật năm 1807, 25 là ngày phong ấn). Ngoài ra, Tết có thể rơi vào tháng giêng hay tháng hai dương lịch chứ không nhất thiết "vào khoảng 25 tháng giêng dương lịch".
[6] W. Dampier, "Un voyage au Tonkin en 1688", Revue Indochinoise, Sept. 1909.
[7] Père Bénigme,Vingt ans en Annam, tr. 113.
[8] Không hiểu tác giả nhầm hay tục lệ đã thay đổi vì tới giữa thế kỷ XX thì lễ người sống chỉ có hai lễ một vái, lễ người chết phải bốn lễ hai vái, không thấy có lệ lễ một lạy hay ba lạy.
[9] Dr Edmond Courtois, Le Tonkin français contemporain, tr. 347-9.
[10] Bs Hocquard viết ngược lại trong Une campagne au Tonkin: nếu nước năm cũ nặng hơn nước năm mới là điềm gỡ.
[11] Họcquard, tr. 623-33.
[12] "Danlan": chưa rõ nghĩa. Papin đoán là "dân làng".
[13] Tương truyền sự tích vẽ cung tên là từ Ðinh Tiên Hoàng (chứ không phải Phật), trong nước có nạn dịch hạch, vua cầu khẩn và được một ông thần chỉ cách vẽ cung tên bằng vôi bột để trị.
Còn sự tích Phật trừ ma quỷ thì dính líu đến cây nêu trồng 7 ngày mới hạ vi trong 7 ngày Tết Phật lên chầu Trời, ma quý tự do hoành hành, chỉ hứa tránh đất nhà Phật, tức là những chỗ nào có cây nêu, cành phướn. Xin xem "Tết Nguyên đán và lễ Nghênh Xuân", "Lối Xưa Xe Ngựa..." tập I I.
[14] 23 thánh chạp (trong Lối Xưa Xe Ngựa..." in nhầm là 30 tháng chạp) cúng ông Táo (tức Vua Bếp) lên chầu Trời để phúc trình những hành vi của gia chủ trong năm qua. "Ông Táo" gồm một bà và hai ông (hai đời chồng), cái kiềng bếp có ba chân tượng trưng cho ba Vua Bếp. Xin xem "Tết Nguyên đán và lễ Nghênh Xuân", "Lối Xưa Xe Ngựa..." tập II.
[15] Hocquard nhầm, Tết năm 1886 rơi vào ngày 4-2-1886, không phải 18-1-1886. Nếu tính từ lễ cúng ông Táo thì phải kể từ ngày 23 tháng chạp, một tuần lễ trước, tức là ngày 28-1-1886. Có lẽ Hocquard tính từ lễ Phong ấn hoặc nhầm ngày 18 với ngày 28?
[16] Thiếu tướng Prudhomme (nổi danh về cướp phá các kho tàng trong cung khi vua Hàm Nghi xuất bôn) là phụ tá của Trung tướng de Courcy, người lập Ðồng Khánh lên ngôi ngày 19-9-1885. Ngày 20-9-1885 de Courcy phải ra Bắc vì tình hình bất ổn, giao chính quyền lại cho de Champeaux và binh quyền cho Prudhomme.
Tháng 10-1885 de Champeaux bất hòa với de Courcy, từ chức. Hector, quan cai trị từ Nam ra thay thế ngày 3-10-1885, vậy Khâm sứ ở Huế tết Binh Tuất (4-2-1886) chắc là Hector, trong khi Prudhomme giữ chức Résident délégué en Annam, tạm dịch là Ðại diện Pháp lĩnh chức Trú sứ ở Trung kỳ, và de Courcy là Tổng Trú sứ Bắc kỳ.
[17] Chắc Hocquard nhầm, không có lý bộ Lễ lại xin đổi mầu trắng sang mầu đen vì mầu đen cũng là mầu tang.
[18] Hocquard nhầm, vuông lụa đính trước ngực áo, gọi là bổ tử, quan văn thêu hình các loài chim, quan võ thêu hình các loài thú, chim hay thú thay đổi tùy phẩm trật.
[19] Mũ cánh chuồn.
[20] Theo Prudhomme thì viên Thông ngôn ấy là cha Hoàng, làm việc với triều đình chứ không phải thuộc tòa Khâm như Hocquard viết, tuy nhiên ở đoạn sau (tr. 608) Hocquard sửa lại, gọi cha Hoàng là thông ngôn chính của triều đình. Nguyễn Xuân Thọ (tr. 403) cho cha Hoàng là tay sai của Pháp đặt bên cạnh Ðồng Khánh để do thám. Rất có thể cha Hoàng chính là gm Nguyễn Hoằng từng làm thông ngôn cho cả hai triều Tự Ðức và Ðồng Khánh (chữ "Hoằng" không bỏ dấu thành "Hoang", người đọc tự sửa thành "Hoàng") mà thời Tự Ðức thì Pháp chưa có quyền áp đặt người của mình vào làm quan với triều đình.
[21] Trong phần chú thích tr. 626 Papin nói là ở một đoạn sau Hocquard viết rằng tướng Prudhomme đã yêu cầu Ðồng Khánh cùng đi diễu hành với ông ta... song tôi chỉ thấy Hocquard cho biết là Ðồng Khánh muốn ra mắt công chúng để đoạn tuyệt với những tuc lệ cổ truyền (tr. 632), không có chỗ nào nói đó là ý của Prudhomme. Có lẽ Papin đã lẫn Hocquard với Prudhomme? Chính Prudhomme kể đã đưa ra ý kiến (ngây thơ) muốn cùng đi diễu hành với Ðồng Khánh để cho dân chúng thấy nhà vua không phải là tù nhân của người Pháp. Nhưng dù che đậy cách nào bài của Prudhomme cũng vẫn bộc lộ vai trò bù nhìn của Ðồng Khánh. (Xin xem bài tường thuật của Prudhomme).
[22] Cosserat, Bulletin des Amis du Vieux Huế viết tắt là BAVH (Hiếu cổ Tập san), Juil. Sept. 1924, tr. 302-4.
[23] Viên Kinh lược sứ có lẽ là Nguyễn Hữu Ðộ, nhạc phụ của Ðồng Khánh, Chủ tịch Viện Cơ mật, người đã đề nghi lập Chánh Mông tức Ðồng Khánh lên ngôi.
Chưa rõ hai viên "Thượng thư quan trọng nhất" là ai.
[24] - Cosserat, BAVH, tr. 305.
SÁCH THAM KHẢO:
Samuel BARON, A Description of the Kingdom of Tonqueen viết khoảng 1685-6, bản dịch sang Pháp văn của H. Deseille không đề năm xuất bản.
Père BENIGME, Dix ans en Annam, Paris, 1884.
H. COSSERAT, "Les fêtes du Têt en 1886 à Hué - Promenade publique du Roi". Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH), Juil.-Sept., 1924. Trích tướng Prudhomme và phóng viên báo Figaro.
Dr Edmond COURTOIS, Le Tonkin français contemporain, Paris : Charles Lavauzelle, 1891.
W. DAMPIER, "Un voyage au Tonkin en 1688", Revue Indochinoise, No 9, Sept. 1909.
Dr HOCQUARD, Une campagne au Tonkin, Paris : Hachette, 1892 ; 2e édition annotée par Papin. Paris : Arléa, 1999.
NGUYỀB XUÂN THỌ, Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt-Nam (1858-1897), 1994, không đề nơi xuất bản..
PHAN KHOANG, Việt-Nam Pháp thuộc sử (1884-1945), 1961 ; tái bản ở Mỹ, không đề năm.
A. de RHODES, Histoire du Royaume de Tunquin, bản tiếng Ý năm 1650, bản dịch sang Pháp văn của Henri Albi, Lyon, 1651 ; bản Việt ngữ của Hồng Nhuệ, TPHCM: Ủy ban Ðoàn kết Công giáo, 1994. (Ðoạn trích dịch in trong bài này không phải của Hồng Nhuệ). 
Tháng 11/2006
Nguyễn Thị Chân Quỳnh
Theo http://chimviet.free.fr/

  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...