Ðã lâu tôi không làm cái nghề nhào lộn ấy nữa để kiếm cơm ăn.
Nhưng, một đôi khi, nghe tiếng thanh la inh-ỏi, hay tiếng phèng phèng khua ran,
hay những điệu kèn đu-đủ rè rè, tôi lại thấy lòng náo nức. Một cái gì mềm yếu
trong thâm tâm tôi bị rung động lúc bấy giờ, và một cái gì chua xót làm tê dại
linh hồn tôi. Lập tức, tôi phải đi xa chỗ tụi trẻ làm trò kia, hoặc cho chúng một
vài hào để chúng đi nơi khác biểu diễn tài nghệ.
Thưa các bạn, những bạn đã từng nếm qua các vị ngọt bùi, cay đắng của một nghề
tự do trong sạch nào, chắc các bạn phải từng có những phút giờ bùi ngùi như
tôi, sau khi các bạn bỏ nghề ấy, bỏ hẳn nghề ấy.
Một kỷ niệm cũ dù êm đềm, sáng suốt, hay thảm khốc, tối tăm, bao giờ cũng xúc động
lòng ta hơn là những sự lo âu, mừng rỡ của tương lai dẫn đến. Nhất là những kỷ
niệm ấy lại thuộc về thời kỳ thơ ấu của ta, cái thời kỳ rất yêu dấu, rất nên
thơ, vì chan chứa cảm tình.
Một ngày xuân đã qua, lâu lắm rồi, một ngày xuân sáng và ấm, nghề nhào lộn đã
khắc sâu vào tâm khảm tôi những dấu vết không thể mờ nhạt được. Dạo ấy, bọn trẻ con cặn bã đặt cho tôi cái tên kép: Nhân-đen
vì tôi, hết năm này sang năm khác, lang thang trong nắng, mưa và gió bụi, có một
nước da bóng nhẫy, mùi gỗ lim cũ đóng bàn học trong những nhà trường. Chúng lại
còn gọi tôi là Nhân-đu-đủ, vì tôi kiếm tiền của thiên hạ rất dễ dãi bằng những
bài kèn "la-mát", "mạc-xây-e", "ma-đơ-lông" vân
vân, thổi với ba ống đu-đủ.
Trước kia, đi theo tôi có một thằng bé kém tôi hai tuổi. Nó không biết thổi
kèn, không biết ca những bài cải lương mà bây giờ người ta cho là chướng tai vô
cùng, nhưng nhào lộn giỏi. Tôi gặp nó ở chợ nhà quê, vùng Hà-Ðông dắt thuê cho
một ông già mù. Thấy nó kháu khỉnh, mắt sáng, miệng cười luôn, tóc hung hung
xoăn xoăn như tóc tây, lại tinh lanh, chỉ xem tôi nhào lộn vài lần mà đã bắt
chước uốn cầu vòng đi bằng tay được, tôi liền dỗ nó bỏ ông cụ ăn mày.
Cùng tôi lang thang nay đây mai đó được hơn một năm, tới khi biết làm nhiều
trò, thì nó bỏ tôi, đi kiếm tiền một mình. Tại dạo ấy tôi ốm yếu luôn, không thể
nhào lộn nhiều được và ca hát, thổi kèn hay như trước. Mấy ngày đầu, tôi buồn rầu
và nhớ nó chẳng khác gì một người anh có đứa em gái nhỏ chết ở dọc đường khi
cùng nhau đi tha phương cầu thực.
Nó bỏ ông già, vì sống với ông, khổ sở, bệ rạc quá. Nhưng làm bạn tôi, được tôi
quý mến, có cái gì cũng chia sẻ cho, mà nó đánh "rơi" ngay tôi khi
tôi cùng quẫn, hỏi sự bội bạc ấy còn gì khốn nạn hơn? ấy là tôi không nghĩ đến
công phu luyện tập cho nó thành một nhà nghề khéo, giỏi.
Tuy bị một phen lừa lọc, tôi vẫn cố gắng tìm kiếm một đứa bé kháu khỉnh, khôn
ngoan như nó, để truyền cho các cách múa lộn rồi cùng đi kiếm tiền. Nhưng gần
hai năm, tôi chẳng chọn được đứa nào hết.
Cuối năm thứ ba, tôi càng ốm yếu hơn... rồi sang xuân năm thứ tư, tôi bắt đầu
đi sâu vào một quãng đời thiếu thốn, khổ sở vô cùng.
Tiếng hát của tôi đã khàn khàn! Tiếng kèn không vang to và ngân dài như trước.
Ði bàn tay chỉ được bốn, năm thước. Nhiều lúc, trên dây thép, tôi phải bỏ dở
trò vì thấy đầu bốc nóng, ù tai, quáng mắt.
Nghề làm xiếc của tôi đến thời kỳ cùng mạt rồi! Tôi bỏ Hải Dương về Hải Phòng chính lúc người đời đương vui mừng
đón chào xuân mới. Bởi cái tỉnh nhỏ với vài dãy phố vắng vẻ kia, đến một thành
phố không sầm uất lắm nhưng cũng đông dân cư, tôi hy vọng sẽ kiếm được một món
tiền kha khá, đủ cho tôi chuộc lại ít quần áo gán nợ cho hàng cơm và cắt vài
chén thuốc.
Xe lửa qua khỏi cầu Phú Lương lại bắt đầu chạy rất nhanh, lắm lúc đến quãng đường
vòng tưởng như sắp chồm ra ngoài đường sắt. Bấy giờ ánh nắng vàng tươi đã láng
khắp bầu trời không gợn một vệt mây đen và khắp vùng quê lặng lẽ trong một thứ
hơi gì mong manh ướt lạnh.
Tới khi mặt trời lên cao, phải che tay nghiêng mắt mới nhìn được, và gió lồng lộng
tung cát bụi lầm, tôi thấy đâu đâu cũng như có những mầu sắc gì rực rỡ và những
tiếng gì trong sáng.
Từ cánh đồng mạ bao la nổi sóng xanh rờn, từ những mắt nước thỉnh thoảng rùng
lên như tấm nhung nõn nà căng trùng, từ những chòm cây phấp phới, lấp loáng, đến
những đàn chim yên lặng xoãi cánh bay về những lũy tre bơ phờ, hết thảy đều như
nó rỡn vì vui mừng, vì sung sướng.
Lòng khấp khởi của tôi phút chốc bừng bột; tâm trí tôi trở nên tươi sáng, những
cái gì mới mẻ, ấm áp lan rộng trong linh hồn tôi, tôi không còn nghĩ đến hơn một
tuần lễ vừa qua, nằm liệt trong một quán trọ bẩn thỉu, không được ai săn sóc,
trái lại, còn bị hắt hủi, xua đuổi.
Ngày đầu xuân bao giờ cũng xóa bỏ hết những sự buồn bã, chán nản đến ám ảnh người
ta, làm cho người ta lây sự vui sướng của vạn vật và ham thích sống. Nhìn cảnh
vật rực rỡ dưới ánh nắng một giờ một chói lọi, tôi cảm thấy có thể gặp những
ngày đầy đủ như năm nào, hay hơn cũng có. Không phải vì nhờ cái nghề làm xiếc
và ca hát này, mà vì một sự may mắn gì bỗng đến.
Xuống ga Hải Phòng, tôi đeo túi vải đi lên Ngã Sáu, rẽ qua Ngõ Cấm. Thấy không
có mấy đám bạc và trẻ con tụ họp chơi đùa, tôi lên phố Ðầu Cầu. Phố này gần
bót, nên rất ít xóc đĩa và súc-sắc. Tôi phải đi lên phố Khách. Ðến đây tôi đứng
lại, vì chỗ tôi định diễn trò ấy có ba đám xóc-đĩa, người lớn, trẻ em chen chúc
nhau, vòng trong vòng ngoài.
Ðặt cái túi vải xuống thềm gạch tháo miếng vải vàng để lợp mui xe ra, quẳng nốt
chiếc mũ dạ tàng rúm ró ra giữa vòng, đoạn rút chiếc kèn bằng ba ống đu đủ, tôi
phồng má lên, thổi một hơi kèn.
Cũng như lần trước, trăm nghìn lần trước, điệu kèn nhà binh ca khúc khải hoàn
kia đã kéo đến chung quanh tôi một số đông người.
Tôi hởi dạ, ngẩng mặt lên trời cao và sáng, lấy hơi thổi nốt đoạn cuối.
Sao hôm nay tiếng kèn vang to thế? Tại tôi khoan khoái, nức lòng chăng? Hay bởi
trong người tôi nhẹ nhõm vì luôn mấy ngày nghỉ ngơi và ăn rất ít? Khi đó, nếu
dư tiền tiêu xài, tôi quyết hiến không cho đám người đông nghịt quây tròn lấy
tôi tất cả những bài kèn và những trò nhào lộn điêu luyện của tôi, để hưởng cái
khoan khoái thấy nhiều kẻ thưởng thức tài nghệ của mình.
Tiếng kèn ngừng, dưới ánh mặt trời nóng ấm, tôi từ từ đưa ngang tay gạt mồ hôi
trán. Một giọt rớt xuống mắt tôi, xót quá! Tôi phải dụi hồi lâu bằng chiếc khăn
bông giắt ở cạp quần thâm cộc có nẹp trắng. Cơn sốt lai nhai làm cho tôi nhọc mệt
và rét run không được, đến giờ là hết!
Tôi trải miếng vải vàng ra giữa thềm gạch, mặc chiếc maillot đỏ dòng dọc xanh,
và lấy ở túi vải ra những dây thép, những cọc tre, và hai quả bóng quần. Bắt đầu
tự lúc này tôi được người ta chú ý đến một cách sốt sắng.
Vây chung quanh tôi có tới hơn trăm người. Nhiều nhất là trẻ con hí hởn trong
những bộ quần áo mới, đến các phu phen ế việc, những thằng nhỏ, con sen, và vài
tốp đàn bà nhà quê.
Tôi đã đi ngược bằng tay ba, bốn bận. Muốn cho người xem sướng mắt hơn, tôi đổi
sang trò uốn cầu vòng, uốn con tôm, uốn cong người để cắn đồng xu cắm xuống đất
và nhặt mùi soa. Càng phấn khởi tôi càng không thấy mệt nhọc. Tôi trổ hết tài
nhào lộn trên mặt đất.
Bao nhiêu tiếng vỗ tay, tiếng reo hò cất lên không ngớt. Trong lúc ấy, người lớn
và trẻ con tưởng chừng như đã lạc vào được một rạp xiếc nào. Họ không ngờ tôi,
một đứa trẻ đi làm trò một mình, lại tài giỏi đến thế, làm họ khoái trá đến thế.
Trời! Sự khoái trá vui thích tăng thêm sự tươi tốt của ngày đầu xuân êm đềm trở
lại trong đời họ.
Nhưng... tôi bắt đầu thở bằng tai sau trò tung cầu trên dây thép. Sau ba phút
biểu diễn trò ấy, nhảy xuống đất, tôi nhao hẳn người đi, và khi ngẩng đầu lên,
mắt tôi tia ra những đốm sáng, trong tai tôi như có muỗi nhỏ sa vào.
Tôi phải đứng lặng một hồi lâu, và, chợt tôi nhận ra một cái gì, một sự phung
phí vì kiêu ngạo nếu không phải vì dại dột.
ánh nắng đã trở nên gay gắt. Mồ hôi trán tôi càng vã ra. Tôi rút khăn lau qua mặt
nóng bừng, đoạn vươn vai thở hắt mạnh ra một cái. Tức thì, bao nhiêu sự nhọc mệt
mất hết, xác thịt và tâm trí tôi lại nhẹ nhõm phẳng lặng như thường.
Ðời sống cấm ngặt tôi không được một giây nào chán nản và ủy mị, phải luôn luôn
hoạt động, hớn hở hơn là ánh nắng tưng bừng nô rỡn với muôn loài.
Không ngờ rằng tôi sắp sửa xin tiền, bọn phu xe và vài người quần chúng áo dài
thúc giục:
- Hay quá! Làm nữa đi.
- Làm nữa đi, kìa người xem càng kéo đến đông kìa!
- Thế nào chả được nhiều tiền.
Có kẻ giọng quả quyết:
- ít nhất là hàng hào.
Tôi mỉm cười, trật chiếc mũ nồi đội lệch trên đầu ra, thong thả đi lại chỗ người
nói sau cùng, lễ phép thưa:
- Vâng, tôi xin làm nữa, nhưng xin ngài và các ngài hẵng thưởng cho ít nhiều.
Những nét mặt tươi tỉnh của hắn ta phút chốc đổi thành những nét cau có. Hắn lắc
đầu một cái, ngoảnh mặt đi, lùi bước. Giá là kẻ làm trò khác đã kèo nhèo xin,
nhưng tôi đây có chút ít học vấn, biết tự trọng và khinh bỉ kẻ không biết tự trọng,
tôi chỉ nhìn hắn bằng đuôi con mắt rồi chìa mũ đi xin người khác.
Tiếng vỗ đùi đèn đẹt làm tôi chán ngán. Tôi phải đến xin người thứ ba. Tuy ăn vận
bảnh bao nhưng chàng nào cũng túi không. Ðến người thứ tư, thứ năm, thứ sáu...
thứ mười rồi thứ mười mấy chả rõ, cũng túi không.
Rồi những phu phen và đám đàn bà nhà quê lảng dần. Còn lại mấy chục đứa bé...
suýt soát... tuổi tôi giương những con mắt thao láo nhìn.
Ngay bấy giờ những tiếng nhạc đồng xoang xoảng từ đầu phố vẳng tới. Tôi kiễng
chân lên trông: một thằng bé để tóc hớt kiểu móng lừa, quần vải áo xanh thô,
chân dận hài sảo, vừa đi vừa tung đôi dao sáng loáng vừa lắc một chuỗi nhạc đồng.
Kêu gọi người xem, anh nhà nghề này dùng những hát lố lăng, giọng lè nhè:
- Sế cô pa lý sềnh ế ề ê... Sề cồ pà lỷ sềnh ể ề ề... ể ề ề...
Lũ trẻ con bỏ ngay tôi, chạy lại xúm xít quanh thằng bé. Tốp đàn bà nhà quê và
phu phen cũng kéo đến liền. Phút chốc trên thềm hè trơ khấc mỗi mình tôi, mà đằng
đầu phố đông nghịt những người.
Thằng bé múa dao hởi dạ, tung thêm một con dao nữa, và ráng sức ném nhanh hơn,
vừa lắc mạnh cho nhạc càng vang to. Giọng hát lố lăng của nó như cố dướn cao
lên:
- ế ề ê... ế ề ê ... sế cô pa lý sềnh ế ề ê... sể cổ pà lý sềnh ế ề ề ... ể ề ề...
Hơn lúc nãy bội phần, đám người xem, vẫn đám khán giả cũ của tôi, reo hò ầm ĩ.
Thằng bé múa dao bỗng dừng tay. Nó rút cái khăn bông cũng giắt ở cạp quần ra,
lau mồ hôi trán, và tháo bình nước đeo ở sau lưng, tu một hơi dài. Mặt nó đỏ bừng
đã dìu dịu. Nó cởi chiếc áo cụt tay ném phắt xuống đất, mặc một chiếc xích sắt
vào một đôi dao:
- Các ông các pà tứng lôi ra, tứng lôi ra.
Dứt lời, nó cầm chắc hai con dao có chuôi nối dây xích rồi hắt một con dao khác
lên. Con dao này vừa rơi xuống, thằng bé không bắt bằng tay, nó lấy một chuôi
dao cầm chắc trong tay hắt bắn chuôi dao kia lên.
Ðồng thời, một lưỡi dao sáng loáng vọt lên theo.
Nguy hiểm hơn, không dùng chuôi dao nữa, nó dùng đoạn xích căng thẳng hất cả
hai con dao trước khi và sau khi lộn mũi rơi xuống.
Nó tung thật nhanh, mắt nó sáng ngời lấp lánh như những lưỡi dao ấy, vầng trán
bóng rô hẳn ra cũng nhịp theo.
Trò nhào lộn và tung cầu của tôi trên dây thép đã nguy hiểm nhưng đem so sánh với
trò múa dao của anh nhà nghề người Tàu này còn thua kém xa.
Nếu không cứng tay, nếu không tinh mắt, nếu chỉ nghĩ lảng đi một giây, hai mũi
dao sắc, nhọn kia sẽ cắm sâu hoặc trên đầu, hoặc giữa mặt.
Những tia máu sẽ vọt lên! Những tia máu mà tài múa dao đã cho nó!
Tiếng nhạc rung càng ròn rã, tiếng hát lố lăng càng kêu gọi thêm được một số
đông người thua bạc đến xem. Hai lưỡi dao tung lên, rơi xuống nhanh quá đỗi, chỉ
còn là những làn chớp loáng.
Thằng bé này quả là một nhà nghề đặc sắc, một con cưng của sông hồ. Tôi quên hẳn
mình đương cần phải kiếm tiền nuôi miệng bữa chiều nay và những bữa ngày mai,
tôi thẫn thờ trông anh bạn trôi dạt ấy trổ hết tài năng.
Chuỗi nhạc đồng rung lên một hồi thật dài rồi ngừng tiếng. Phập, bốn lưỡi dao
chập cả lại vào lòng bàn tay phải. Thằng bé múa dao quỳ một gối xuống đất, cúi
đầu chào tất cả người xem.
Cánh tay phải nó chuỗi thẳng ra, bốn mũi dao ấy đỡ lấy một giỏ mây xinh xắn. Nó
yên lặng chờ những xu hào...
Không thể nói nhanh tới chừng nào, những cảm giác chua cay, đau tủi ran lên khắp
tim tôi. Tôi không thể cầm lòng nhìn thằng bé cũng dạn dày vì lang thang kia quỳ
lâu thêm một phút nữa, chìa giỏ xin tiền những người xem không tiền và không
giàu lòng thương lảng dần dần ra những chỗ khác.
Trời! Hai đứa bé nhà nghề chúng tôi đã phô diễn hết tài năng trong bao giờ để
sau cùng đổi lấy những cặp mắt lãnh đạm của mọi người.
Tôi vội chạy lại, đỡ thắng bé múa dao kia dậy; tôi muốn nói với nó một câu gì
nhưng cổ họng đã nghẹn ứ mất rồi. Nguyên Hồng Theo https://vietmessenger.com/
Hằng đêm, khi học bài xong và khi các căn hộ xung quanh đóng
kín cửa, Bích bắt ghế mây ngồi trước "cái hộp" của mình. Bên phải,
bên trái là những chung cư cao tầng nên ngoài không gian bị vây hảm, không khí
trong cái hộp mà gia đình Bích chen chúc cũng bị nén chặt, nhất là về mùa nóng.
Bích lâng lâng ngắm trời đêm, tận hưởng giây phút tĩnh lặng và khoan khoái hít
đầy buồng phổi không khí mát lạnh.
Bích ngồi sát lan can. Lô chung cư án ngữ trước mặt làm Bích phải ngước lên mới
thấy một mảng trời chi chít sao. Bổng một vật gì trắng lốp rơi xuống trước mặt
Bích khiến Bích giật mình né người ra sau. Vật trắng lốp nhún nhảy. Bích ngồi
chết lặng, tay đặt lên ngực, mắt mở trừng: Một phong thư được cột vào sợ dây cước
thả từ tầng trên xuống.
Tức vì bị sợ hãi, Bích giật phăng phong thư toan quẳng ra xa cho kẻ nào đó trên
kia nhìn thấy nhưng cô tò mò giữ lại. Bích cầm phong thư lòng thòng mẫu cước đứt
hồi lâu, do dự...
"Gởi cô gái đếm sao,
Đêm đêm tôi vẫn ngắm chung một mảng trời, đếm chung những vì sao với cô. Tôi đếm
nhầm hoài. Chẳng hạm đêm nay tôi đếm được hai mươi ba vì sao. Còn cô đếm được
bao nhiêu cho tôi biết với, được không?
Nhớ trả lời thư tôi nhen!
Người ở tầng trên".
Kẻ nào có cách làm quen... lãng mạn gớm! Phải tìm coi mặt tên này mới được. Bỗng
dưng Bích cảm thấy thích thú tham gia "trò đùa này". Đêm sau, khi yên vị chỗ ngắm sao của mình không lâu, Bích nhận
thư.
"Gởi cô gái đếm sao,
Đêm nay, mảng trời tôi ngắm chỉ có mười bảy vì sao. Còn cô đếm được bao nhiêu?
Hãy trả lời tôi bằng cách cột thư vào dây cước, nhé!
Người ở tầng trên!".
Bích lao nhanh về phía cầu thang, cô nhảy hai cấp một lên tầng trên. Vài căn hộ
còn sáng đèn nhưng không ai trước hành lang. Bích chần chừ rồi bước nhanh đến
căn ngay trên cái hộp của mình, cô vịn thanh sắt lan can mát lạnh, không thấy sợi
dây cước. Không hiểu hắn ở tầng trên thư mấy mà nhanh như... ma vậy. Nhưng khi
Bích ngồi thở trong ghế mây thì sợi dây cước lửng lơ trước mặt. Quỷ quái... cái
anh chàng này. Bích viết vào thư trả lời:
"Gởi người ở tầng trên,
Tôi thích ngắm mảng trời nàỵ nhưng chắc chắn tôi chưa bao giờ đếm sao như ai
đó. Hãy tưởng tượng là cả một bầu trời và có muôn ngàn vì sao không thích thú
hơn hay sao?
Cô gái chưa bao giờ đếm sao".
Bích cột thư vào dây cước, cô giật nhẹ sơi dây. Xong, Bích lao về phía cầu
thang, lên tầng trên. Không có ai. Bích lên thêm một tầng nữa. Dãy hàng lang vắng
hun hút. Bích về chổ ngồi, sợi dây cước và phong thư đã biến mất. Đêm sau. Rồi đêm sau nữa. Bích chờ những dòng chữ ngắn ngủi của
người bạn chưa biết mặt nhưng không nhận được. Đêm nay, Bích ngồi khuya hơn. Những
vì sao trên mảng trời kia trốn biệt, mảng trời chỉ là cái khung đen ngòm được
viền bởi những đường đậm là các nhà cao tầng.
Khi Bích đứng dậy toan vào thì phong thư nhảy múa trước mặt cô.
"Gởi cô gái giàu tưởng tượng,
Tôi đã cố tưởng tượng trên kia là bầu trời dầy đặc sao nhưng hình như tôi nghèo
mơ mộng quá, tôi chỉ thấy một mảng trời y sì. Có ngày mảng trời đó còn nhỏ hẹp
đi vì những tấm "ra" giường, những quần áo người ta phơi ngang dọc.
Dù sao, tôi cũng cố gắng luyện óc đặc sệt của mình thêm. Rất cám ơn cô.
Cô cho tôi mượn quyển Tuyển tập Áo Trắng, nhớ! Đó cũng là cách giúp tôi trẻ
trung, tươi mát hơn...
Người óc đặt sệt".
Anh chàng này sáng nay thấy mình mua quyển Áo Trắng? Hắn để ý mình kỷ lắm mà
mình không hay biết gì? Bích cột quyển Áo Trắng vào đầu sợi dây cước. Cô không
tìm xem mặt kẻ... "óc đặc sệt" nữa. Khi người ta chưa muốn xuất đầu lộ
diện thì đành chờ vậy!
Hắn biết về Bích nhiều hơn cô nghĩ. Khi hắn trả quyển Áo Trắng lại hắn còn tặng
cô một số tài liệu mà cô cần tham khảo thêm cho kỳ thi tốt nghiệp đại học sắp tới.
Đêm nay chưa đến phiên trao đổi thư. Hắn và cô thỏa thuận chỉ gởi thư cho nhau
hai lần trong tuần. Gần hai tháng nay, qua trao đổi những mẩu chuyện ngắn, sách
báo, Bích "tạm biết" về hắn như sau: "Khoảng hăm ba hăm bốn tuổi,
ở đâu đó trên các tầng trên, yêu thích âm nhạc, đã tốt nghiệp đại học và đang bị
thất nghiệp.
Dạo này Bích học khuya hơn. Đầu hôm hai cái hộp sát vách mở ti vi ồn quá. Tiếng
động không ngớt đuổi theo Bích từ sáng tinh mơ đến đêm. Trong mỗi cái hộp là một
gia đình với đầy đủ hệ lụy của cuộc đời, như cái hộp của Bích đông em, mỗi đứa
thường thu mình một góc khuất chứ cùng đứng lên, đi lại chắc dễ xảy ra...
"tai nạn giao thông" lắm. Ra trường rồi có tìm được việc hay không?
Bích sẽ đi làm xa, miễn có nơi nhận, để phụ giúp ba má nuôi em, và để thoát cái
hộp này. Ước gì nơi Bích sẽ đến, chỉ cần bắt ghế ngồi trước hiên, cô sẽ thấy cả
bầu trời đêm thăm thẳm, thấy cả những vì sao lẻ loi trong mịt mùng xa xăm chấp
chới mơ hồ. Hắn đã trễ hẹn cả tuần qua. Rồi tuần này nữa. Đã ba lần hắn
không thư cho Bích như giao ước. Đêm nay cô lại ngồi vào chỗ của mình, sau giờ
học, như thường lệ. Cô lại ngắm mảng trời chật hẹp và những vì sao hiếm hoi của
mình. Cô nhớ lại những dòng chữ viết ngắn, dí dỏm, cảm nhận nỗi khát vọng thấp
thoáng của hắn. Cô bỗng tò mò muốn biết có bao nhiêu vì sao trong tầm mắt cô.
Cô bắt đầu đếm một, hai...
Hắn đã tìm được việc làm nửa tháng nay, ở một vũ trường. Hắn chơi kèn
trompette. Hằng đêm, hắn nhìn những gương mặt nung núc phè phỡn, những cô vũ nữ
nặc nồng mùi son phấn, những cô gái diện đúng mốt làm ra vẻ quí phái trong ánh
đèn màu chập chờn hư ảo bằng đôi mắt dửng dưng, không hồn. Nửa tháng nay hắn
không nhìn thấy cô gái. Hắn không còn đứng nhìn cô từ một nơi khuất mà cô không
ngờ vào giờ cô đi học. Vì mỏi mệt, sáng hắn ngủ dậy trễ hơn trước.
Hằng đêm, khi cô gái ngắm sao, hít đầy buồng không khí mát lành thì hắn, hít đầy
buồng phổi khói thuốc lá ngột ngạt, mùi nước hoa quyện mồ hôi... Và hắn phồng
má, nổi gân cổ ra sức tạo những âm thanh du dương réo rắt.
Đêm nay cô gái đếm được bao nhiêu vì sao? Còn hắn không cần đếm hắn cũng biết
có "cả thảy mười hai vì sao lớn nhỏ trên vòm trời... vũ trường" vì
mái che vũ trường được trang trí hình vòm có gắn sao nhấp nháy đèm màu. Hắn
khát vọng một bầu trời thênh thênh nhưng rồi hắn lại chui vào một vòm trời...
giả. Có thể nào hắn rủ rê cô gái vào nơi ấy để đếm sao... giấy!
Dạo này đầu óc hắn đỡ đặc sệt hơn. Mỗi đêm chơi kèn ở vũ trường hắn mơ thấy cô
gái nằm trên đám cỏ non tơ, cô gối đầu trên hai cánh tay, ngửa mặt nhìn trời rộng
lấp lánh sao. Cô không tài nào đếm vô số vì sao. Còn hắn, hắn quỳ bên cô, thổi
bất tận một bản nhạc làm rung động đến những vì sao xa xôi nhất, cô độc nhất. Tất
nhiên là một bản nhạc tình.
Khi hắn về đến chung cư đã một giờ khuya. Hắn đứng lặng người, nép mình trong
bóng tối nơi cầu thang. Cô gái vẫn còn ngồi chỗ đêm đêm của cô.
Đêm nay là đêm sợi dây cước phải làm việc. Hồ Việt Khuê Theo https://vietmessenger.com/
Mười tám tuổi, giã từ quê nội Nha Trang tôi về Cần Thơ ở với
bà ngoại. Cả bà nội và bà ngoại hồi ấy đối với tôi đều khắc nghiệt. Một đứa con
gái mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống với bà nội rồi bà ngoại suốt một thời thơ ấu,
tôi như một cái cây tự phát mà lớn, chẳng ai chú ý gì đến những biến chuyển
trong tâm hồn hay thể xác của tôi. Hai mươi tuổi, tôi lấy chồng. Tôi quyết định
lấy chồng chỉ vì cái tát và một câu nói của bà ngoại khi tôi đi chơi về khuya:
- Con gái con đứa, đi chơi đêm có ngày chẳng ra gì.
Ðêm đó, nằm vắt tay lên trán, tôi điểm lại hết trong trí nhớ của mình những người
đang theo đuổi, tán tỉnh tôi. Ðầu óc của một đứa con gái hai mươi tuổi, nhiều tự
ái đối với gia đình, nhiều kiêu hãnh đối với những đứa con trai vây đuổi xung
quanh, chỉ có một ý nghĩ duy nhất là làm thế nào ra khỏi nhà bà ngoại một cách
kiêu hãnh. Kiêu hãnh ở đây có nghĩa là có xe đưa, xe rước; có pháo nổ đì đùng;
có áo dài, khăn cưới.
Trong số các ứng cử viên trong ý nghĩ của tôi lúc đó, Hùng là nhân vật sáng giá
nhất: cao, to, đẹp trai, con nhà giàu, lớn tuổi hơn tôi và ít nhất là Hùng chỉ
tán tỉnh tôi bằng những ánh mắt nhìn là lạ chứ không như những đứa con trai
khác với những lời tán hươu, tán vượn. Ngày hôm sau, tìm đến Hùng, chẳng cần
dông dài, tôi nói thẳng:
- Nếu anh thương tôi, ngay ngày mai anh đến nhà tôi và xin phép cưới tôi, còn nếu
không ngày mốt tôi sẽ về Nha Trang.
Trong ngày hôm ấy, Hùng cuống quýt thuyết phục gia đình. Và ngay ngày hôm sau,
một lễ dạm ngõ đã xảy ra đúng như cái kịch bản tôi xây dựng trong đầu đêm trước.
Cuộc hôn nhân không thành công ngay đêm đầu sống chung. Tôi không chịu đựng nổi
những sự va chạm thô bạo về mặt thể xác giữa hai người khác phái. Ngần ấy tuổi
nhưng thuở đó chưa hề có một đứa con trai nào hôn tôi. Tôi chưa hề biết đến những
âu yếm, vuốt ve của người yêu, làm sao tôi đủ tinh tế để thấy được những cố gắng
và sự thất bại của Hùng khi không chinh phục được tôi. Những ngày sau đó, mọi cố
gắng của Hùng đều vô ích. Tôi luôn luôn có một cảm giác sợ hãi khi đêm về phải
đối diện với chồng mình. Từ đó, Hùng thay đổi dần dần. Những ân cần chiều chuộng
đối với tôi ngày càng thưa, và cho đến một ngày tôi bắt gặp Hùng với một người
con gái khác, lúc đó tôi đã có hai đứa con và một cái bào thai chưa đầy hai
tháng. Cho dù cuộc sống vợ chồng với Hùng vẫn đầy cảm giác sợ hãi nhưng không
hiểu sao tôi là một người đàn bà mắn con. Năm đó tôi hai mươi lăm tuổi.
Hai mươi lăm tuổi, tôi chưa lường được cuộc sống trước mắt sẽ như thế nào với cảnh
phải nuôi con một mình. Sau khi ra toà ly dị, Hùng đi vượt biên. Tôi một mình với
hai đứa con nhỏ: đứa lớn năm tuổi, đứa nhỏ ba tuổi. Cái bào thai trong bụng tôi
đành quyết định phải bỏ. Nhưng định mệnh đã giữ nó lại, tôi buộc phải bước xuống
khỏi cái bàn trong nhà hộ sinh bởi vì lúc đó tôi đói quá. Người ta sợ tôi không
đủ sức chịu đựng, nhưng chủ yếu là do tôi sợ chết, tôi sợ hai đứa con nhỏ sẽ bơ
vơ.
Cái đói, cái nghèo thực sự đến với mẹ con tôi. Con tôi ăn không đủ no, mặc
không đủ ấm. Tôi lầm lũi buôn gánh, bán bưng. Trước mắt tôi lúc đó chỉ có những
đứa con, mấy mẹ con tôi chỉ có một con đường duy nhất: Phải sống cho dù thế
nào. Không ngờ cái bào thai trong bụng tôi lại là bào thai đôi. Tôi đẻ liền một
lúc hai đứa mà không hề biết rằng mình đã mang chúng trong vòng chín tháng mười
ngày. Sự vất vả vì công việc, sự thiếu ăn của tôi đã khiến chúng chỉ có mỗi đứa
một ký tư khi ra đời Những tháng ngày sau đó, chỉ có toàn nước cháo với muối
cho chúng vì tôi không đủ sữa và không có tiền mua đường cho con ăn, nhưng
không hiểu sao chúng vẫn lớn, vẫn lăn lóc mỗi ngày với tôi cùng quán bánh bèo
trước nhà. Mấy mẹ con tôi sống dựa dẫm vào nhau. Tôi nhin vào chúng để thấy
mình phải sống, chúng dựa vào tôi vì chúng chỉ là những đứa trẻ con...
Rồi số phận cũng đã mỉm cười với tôi trong lúc cùng cực nhất. Người ta đến thuê
nhà tôi để làm trạm thu mua lương thực. Lúc đó, vì đói quá tôi chỉ biết yêu cầu
người ta cho gạo đủ ăn mà không hề suy tính rằng tiền thuê nhà lẽ ra cũng không
phải nhỏ. Cuộc sống bắt đầu đổi khác, tôi dẹp gánh bánh bèo thay bằng một tủ
thuốc lá. Hồi ấy, thuốc lá người ta lót tay cho trạm thu mua dùng không hết,
bán rẻ lại cho tôi. Ai muốn nói nhỏ gì với người trong trạm, chỉ cần nói với
tôi. Cuộc sống thay đổi dần. Ðó là năm tôi hai mươi chín tuổi.
Một thời gian, trạm thu mua lương thực giải thể. Lúc đó, tôi đã có một số vốn
kiến thức về buôn bán gạo. Những người lái buôn ngày trước thỉnh thoảng đến nhà
tôi và hỏi thăm một vài kinh nghiệm. Tôi quyết định đi buôn gạo. Người đàn bà với
một nhan sắc khá mặn mòi, không có chồng ràng buộc bao giờ cũng thành công hơn
những người khác trong lĩnh vực buôn bán, và cũng chỉ bởi vì tôi có một quyết
tâm quá lớn: phải có những gì tốt đẹp nhất cho những đứa con. Tôi lầm lũi mà
đi, những cuộc mua bán đều được trả giá sòng phẳng. Tôi bất chấp mọi nguy hiểm,
bất chấp mọi lời gièm pha. Trước mắt tôi, đồng tiền to tát quá, tôi phải có nó,
có nó thật nhiều để bù lại cho những ngày đói khổ. Có những khi hai giờ sáng,
tôi đã một mình với chiếc xe Honda đàn ông từ Cần Thơ đi Vũng Tàu, rồi từ Vũng
Tàu về Cần Thơ. Cuộc sống cứ như thế, một người đàn bà với một quyết tâm sắt
đá: chỉ lo con mình bị đói. Ðứa con gái ngây thơ ngày nào sống với một bà nội
khắc nghiệt không còn hiện hữu trong tôi. Tôi nhìn xuống mà đi, tôi học thuộc
những bài học của trường đời, những bài học không bao giờ có trong sách vở và
những lời giáo huấn của bà nội hay bà ngoại.
Thời gian trôi qua, tôi không hề biết soi gương trong mười năm. Năm tôi hai
mươi sáu tuổi người ta hỏi tôi có mấy đứa con, tôi im lặng. Năm ba mươi sáu tuổi,
có người hỏi tôi mấy đứa con, tôi nói tránh đi: "Hỏi để cộng con anh với
con em hay sao?"
Ba mươi sáu tuổi, tôi bắt đầu có những gì tôi muốn: Nhà cửa xây cất lại, con
tôi không những có quần áo đẹp để mặc mà có cả đàn organ để chơi, còn có cả những
bữa tiệc sinh nhật... Những người đàn ông bắt đầu nhìn ngắm tôi. Lúc này tôi
không còn lầm lũi bước đi nữa mà bắt đầu nhìn thẳng, đầu hơi ngẩng cao. Cũng bởi
vì ánh mắt săm soi hay chiêm ngưỡng của những người đàn ông mà tôi bắt đầu tập
soi gương trở lại. Cơ thể một người đàn bà sinh nở sớm bao giờ cũng lấy lại sự
săn chắc hơn những người đàn bà sinh đẻ muộn. Nhìn vào gương, tôi tìm gặp lại
những nét duyên xưa. Bây giờ thì tôi đã thoả nguyện. Bốn đứa con gái xinh đẹp,
chúng biết thương tôi, hiểu những gì chúng có được ngày hôm nay mẹ chúng đã phải
đổi bằng tất cả những năm tháng tuổi trẻ với bao mồ hôi, nước mắt... Bây giờ
thì tôi có thể trả lời rằng tôi có mấy đứa con. Nhưng đến lúc tôi sẵn sàng trả
lời một cách thật tình, thì hình như chẳng còn ai hỏi nữa! ° ° ° Biển buổi chiều gió mạnh dần lên, mặt trời đang chầm chậm, mệt
mỏi trở về nhà, chuẩn bị đi ngủ, chấm dứt một ngày toả sáng. Vẫn còn đường chân
trời phân chia hai màu xanh ngăn cách nước và mây. Trên một kè đá nhỏ có hai
người đàn bà ngồi nhìn ra biển trò chuyện. Cát trắng mịn màng dưới chân họ chạy
dài đến từng con sóng đuổi xô nhau không hề biết mệt. Ngày xưa, họ đã từng có một
thời tuổi trẻ giống nhau, nhưng trong vòng thời gian hai mươi lăm năm xa cách,
mỗi người đã đi trên những lối đường riêng. Thời gian đã làm thay đổi cách xưng
hô, nhất là ở cái ngưỡng không già, không trẻ. Cách xưng hô thân mật ngày xưa
đă nhường cho những lời khách sáo.
- Kể về cậu đi, bao nhiêu năm qua rồi còn gì, nay cậu sống thế nào?
- Những gì mà cậu đã trải qua, đối với mình kinh khủng quá. Cuộc sống của mình
khá bình yên: học hành, ra trường, đi làm, lấy chồng, sinh con... chẳng có gì
đáng kể...
- ...
- Thế rồi từ đó đến giờ cậu có quen ai khôngl
- Có. Khi mình đã có tất cả: nhà cửa, xe cộ, tiền bạc, đột nhiên đôi lúc mình
thấy buồn, thấy rỗng. Những ngày khốn khổ không bao giờ mình có cảm giác đó. Thế
rồi có nhiều người đến với mình, nhưng chẳng người nào còn tự do, ai cũng có vợ
con đùm đề và mình rất tỉnh táo để biết rằng, họ đến chưa chắc vì tình yêu.
Nhưng mình lại tập yêu, tập tìm lại những cảm giác của một người đàn bà, để rồi
sau đó tất cả là sự hụt hẫng, trống vắng. Mình cũng tập uống rượu, tập say, tập
hư đốn để xem khi con người hư đốn nó sẽ như thế nào. Cuối cùng mình vẫn không
thể nào làm được một người hư đốn. Hình như tâm hồn mình đã quá chai sạn. Cuộc
đời đã dạy cho mình nhiều quá. Bây giờ những đứa con gái của mình đã lớn, ra đường
đã có những chàng thanh niên cúi đầu chào bác rất lễ phép. Hình như mình đã
không còn trẻ nữa.
Gió thổi mạnh hơn, buổi chiều chỉ còn lại vạt nắng nhỏ trên đỉnh một hòn đảo
phía xa. Sóng đuổi nhau vào bờ, rồi lại rủ nhau kéo ra, ầm ì, đùa giỡn. Một vài
chiếc thuyền nhỏ trôi lênh đênh trên mặt nước giống như những chiếc thuyền giấy
đang thả trôi. Ðám thanh niên đá banh trên bờ cát rủ nhau về, một vài cặp tình
nhân phủi cát đứng lên. Chiều đã muộn. Tôi rủ Ngà xuống biển, thói quen ngày
xưa của hai đứa học trò nhỏ, mỗi khi có giờ nghỉ rủ nhau lang thang ra biển lội
nước và đi bộ dọc theo bờ biển. Tôi nhìn kỹ khuôn mặt Ngà, một khuôn mặt già
hơn so với số tuổi bốn mươi hai, mái tóc thả dài đang rối đi vì gió. Ngà đang tự
cho rằng mình già trong khi đó bao nhiêu năm rồi tôi vẫn còn những cảm giác của
ngày nào. Nhiều khi tôi cứ nghĩ rằng: mình chưa kịp lớn nữa làm sao cảm nhận được
cái già, có phải vì cuộc sống của tôi quá đỗi bình yên(?). Còn Ngà, trên gương
mặt đẹp phảng phất những nỗi thống khổ của thời gian, đó là sự chịu đựng của
người đàn bà đã đi qua nhiều năm tháng trong cuộc đời với rất nhiều nỗi đau phải
cất giữ một mình, không có đáy mắt của người đàn ông nào để được tự soi mình
vào đó. Nước xô mạnh dưới chân rồi lại kéo ra biển để lại một cảm giác trống rỗng
dưới bàn chân. Mỗi một ngày qua chẳng lẽ không cho thời gian ghi lại gì trên
gương mặt? Tại sao tôi cứ buồn hoài. Có phải khi con người không đối diện với
sóng với gió của cuộc sống cũng lại thấy mình buồn. Ðối với tôi, nỗi buồn là
cái gì đó mơ mơ, hồ hồ, cho tôi không nắm bắt, lửng lửng lơ lơ, không đi đến tận
cùng của sự việc.
Ánh chiều đã tắt , đường chân trời không còn nữa , biển và trời hoà với nhau
thành một khối màu xanh đen. Những ngọn hải đăng đã được thắp lên, những chiếc
thuyền giấy đã trôi về tận phương nào. Những con sóng đứng đầu, bướng bỉnh
không bao giờ biết ngủ vẫn xạc xào dưới chân tôi và Ngà đang im lặng bước đi.
Tôi đang cố tìm cho mình một câu giải đáp, một lý lẽ để cảm thấy mình đang rất
hạnh phúc, nhưng cứ thấy như mình đang đi lòng vòng trong một con đường cụt. Tự
nhiên tôi muốn khóc, khóc cho một dồn nén nào đó muốn thoát ra mà không thoát
được. Cảm giác trống rỗng của con người thấy mình vừa thoát ra khỏi một giấc ngủ
với đầy mộng mị bủa vây lấy tôi. Không hiểu bây giờ Ngà có còn đủ cảm xúc để nhận
ra điều gì là hạnh phúc, điều gì là đau khổ trong quá nhiều những sự kiện đã trải
qua trong cuộc đời? Tôi và Ngà vẫn còn quá trẻ để nghĩ đến những buổi chiều tà.
Riêng tôi, tôi cứ đi tìm hoài cho mình một điều gì đó, có đáng trách không khi
tôi cứ tự mãi dằn vặt mình? Ba tháng sau, Ngà điện thoại cho tôi trong một đêm mùa hè
nóng nực, báo tin đứa con gái lớn sắp lấy chồng. Tôi nhẩm tính số tuổi con bé:
- Tại sao lại lấy chồng sớm thế?
- Cháu nó muốn vậy.
- Chồng con bé thế nào?
- Một người đàn ông bằng tuổi mình.
Tôi sợ tôi lại có những đêm mất ngủ để suy nghĩ. Một cuộc hôn nhân chênh lệch
hai mươi tuổi không là gì cả, nhưng liệu số phận có làm cho Ngà dứt được những
khổ đau. Liệu có bao giờ đó là một bản sao? Tôi điện thoại cho thầy giáo cũ của
tôi và Ngà báo tin Ngà sắp sửa làm sui. Tôi nghe một tiếng thở dài qua điện thoại:
- Hôm trước Ngà có nhờ thầy luận giùm lá số tử vi cho con bé đầu.
Tôi hỏi dồn theo thói quen của một người đàn bà:
- Ðường chồng con ra sao?
- Ôi, cũng lận đận lắm!
Tôi biết chắc chắn tối nay mình sẽ bị mất ngủ. Tôi sẽ buồn, rất buồn. Tôi nhớ lại
cái dáng thanh mảnh và khuôn mặt thật xinh tươi của con bé. Tôi không muốn nó
bước vào cuộc sống hôn nhân khi còn quá trẻ như thế. Tôi thật sự không muốn.
Tôi muốn gọi điện thoại cho cháu để nói rằng thời gian rồi sẽ qua và tuổi trẻ
cũng sẽ từng ngày mất đi, con còn quá trẻ để trói buộc vào một cuộc sống gia
đình, tuổi thanh xuân qua đi mau lắm, có biết bao việc cần phải làm... Nhưng có
lẽ tôi sẽ chỉ thở dài, mỗi người có mỗi suy nghĩ, mỗi lý lẽ để sống. Ðó chỉ là
suy nghĩ, lý lẽ của riêng tôi. Đào Thị Thanh Tuyền Theo https://vietmessenger.com/
Ngọc gửi cho tôi bức điện tín báo tin má chết. Bức điện tín
chạy vòng vèo như thế nào mà mãi hai ngày sau mới tới tay tôi. Khi tôi theo chiếc
xe đò tốc hành tìm tới thì má chỉ còn là một nhúm tro trong lọ .Tôi cùng Ngọc đến
chùa Ngũ Phúc - ngôi chùa nhỏ nằm ở một con đường vắng chuyên nhận cất tro thờ
phượng cúng kiễng.Chiếc lọ màu xanh sứ lạnh lùng kê trên kệ chen cùng với nhiều
lọ khác, chỉ có tấm ảnh má chụp từ thời xuân sắc là của má , còn không gian ở
ngôi chùa như mang một điều gì đó buồn buồn tôi không giải thích nổi. Giống như
những người đến thăm thân nhân được gửi cốt ở đây ,tôi gửi lại chùa chiếc phong
bì mấy trăm ngàn , uống một ly trà nóng do vị sư giữ chùa rót mời, rồi theo Ngọc
bước ra đường. Tôi không chút đau lòng, cũng chẳng nhỏ được giọt lệ nào. Tôi hiểu
có thể bởi trong cuộc đời lưu lạc của mình, má đã bứt lìa tôi ra khỏi bà từ khi
bà sinh ra tôi.Cho đến khi trở thành một con người đã lăn lộn qua bao nhiêu khổ
đau của cuộc sống, tôi mới tìm gặp được má. Nhưng khi đó thì đã muộn màng. Thậm
chí tôi chẳng hiểu tại sao má lại có thể bỏ tôi ra đi khi tôi còn đang ngơ ngác
và bơ vơ trong cuộc sống .
Ngọc là em ruột tôi, nhưng má đã giấu kín điều đó khi bỏ ba tôi đi theo người
đàn ông của mình. Thậm chí tôi cũng không tin rằng trên đời này mình lại có một
đứa em ruột thịt. Nhưng dù thế nào đi nữa thì tôi cũng có một đứa em gái. Ngọc
đã ổn định cuộc sống ở Sài Gòn, hiện em đang làm nghề uốn tóc, mở một tiệm nhỏ ở
Hàng Xanh. Quán của em khá đông khách nên cuộc sống chẳng có gì phải lo toan.
Chồng em là một anh chàng lanh lợi, giỏi giang, chuyên chạy mối cho các tay
kinh doanh đất đai. Hiền, chồng Ngọc , thường xuyên vắng nhà và khi tôi vào Sài
Gòn chịu tang má, tôi cũng không gặp được. Nghe nói Hiền đã đi Cần Thơ đề làm
ăn. Trước khi tiễn tôi về Nha Trang, Ngọc đưa cho tôi một gói nhỏ. Ngọc nói :
- Em không hiều tạí sao má lại dặn khi nào gặp anh thì đưa anh. Anh chơi tiền cổ
à ?
Tôi chẳng hiểu Ngọc nói gì :
- Tiền cổ gì đâu?
Nhưng đến khi ra sân ga, mở bọc nhựa đã vàng, nhìn thấy hai tờ giấy bạc xưa được
má bọc trong một mảnh giấy báo cũ, tôi mới hiểu tại sao Ngọc lại hỏi tôi điều
đó. Đó là hai đồng bạc lộc. Đó cũng là câu chuyện mà tôi tưởng rằng thời gian
đã rơi vào quên lãng, má của tôi cũng đã quên. Nhưng cho đến phút cuối đời má vẫn
còn nhớ. Má muốn tôi nhận hai tờ bạc đó dù rằng bây giờ chẳng ai biết dùng nó để
làm việc gì. Câu chuyện chỉ nhắc về một ngày mưa buồn bã. Má bỏ tôi đi khi tôi còn quá nhỏ. Tôi không hiểu được rằng
tình yêu với một người đàn ông có thể làm cho người phụ nữ có thể đành đoạn bỏ
con mình ở lại. Chẳng bao lâu sau thì ba tôi cũng có một người đàn bà khác. Đó
là một cô đào cải lương của một đoàn hát thường đến các làng che bạt biểu diễn.
Lúc đó tôi còn nhỏ quá không hiểu rằng tình yêu là một thứ thuốc phiện, chính
vì nó mà nhiều khi con người không đủ lý trí làm tan nát câ một gia đinh.
Tình yêu riêng của má tôi và cả ba tôi đã đem lại sự bất hạnh cho tôi. Từ một đứa
trẻ có cha mẹ, tôi trở thành vô gia đình, may mà bà tôi lúc đó còn khỏe, đem
tôi về ở với bà .
Bà nội tôi là một người đàn bà ít học . Nội chỉ nhìn được mặt chữ để đọc Lục
Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm hay Kim Vân Kiều. Dường như với nội, ba cuốn thơ đó là
tất cả văn chương của thế gian này gom lại. Những buổi chiều bóng cây tỏa mát
trong vườn, nội cứ lắc lư võng, kêu tôi nhố tóc ngứa rồi đọc thơ, những câu thơ
nội đọc chữ mất chữ còn ăn sâu vào tiềm thức tôi : " Thôi thôi ,ngồi đó chớ
ra. Nàng là phận gái ta là phận trai " , hoặc " Trăm năm trong cõi
người ta. Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.Trải qua một cuộc bể dâu những điều
trông thấy mà đau đớn lòng " . Tôi lớn lên bằng những đồng bạc nội kiếm được
bằng nghề làm cỏ lúa, cỏ khoai, hay hôm nào không có việc thì nội lại dắt tôi đến
cánh rừng ngập mặn gần bờ sông bắt con cá con cua về bán kiếm sống qua ngày.
Tôi có một thời thơ ấu trần trụi và buồn bã bên cạnh bà nội tôi. Rồi tôi được
bà nội gửi đi học ở nhà một ông giáo làng. Không khí lớp học ngày đó sao mà
thiêng liêng với tôi đến thế . Trường của ông giáo là một ngôi nhà tranh vách đất.
Lớp học là những tấm gỗ được kê cao, một tấm gỗ khác kê thấp hơn làm ghế cho học
trò ngồi. Mỗi ngày thứ bảy thay vì dạy học, ông giáo lại kể cho chúng tôi nghe
một câu chuyện cổ tích . Cách kể chuyện của ông theo kiều truyện Ngàn lẻ một
đêm , không bao giờ ông kể hết câu chuyện, luôn để đoạn kết qua tuần sau. Nếu học
trò nào bỏ học trong tuần sê không được dự buổi học có kể chuyện cổ tích. Ham
chơi nhưng cũng ham nghe chuyện cổ tích, cho nên tôi chẳng bao giờ bỏ học . Giờ
đây, vốn chuyện cố tích của tôi có rất nhiều cũng chính nhờ vào thời gian đi học
ở trường ông giáo làng .
Ở với nội như thế, nhưng tôi vẫn thường xuyên đến thăm má tôi. Sau khi má tôi
và ba tôi chia tay nhau , má lấy một người phụ trách bẻ ghi cho các con tàu về
sân ga. Má dọn nhà về ở trong khu nhà tập thể của ga xe lửa. Tôi nhớ con đường
vào nhà má là con hẻm rất nhỏ , nhỏ như không có con hẻm nào nhỏ hơn nữa. Căn
nhà má ở nằm cuối cùng của con hẻm, bị che khuất bởi những căn nhà to hơn. Tôi
chẳng chú ý tới những căn nhà to, tôi chỉ chú ý tới căn nhà nhỏ vì má của tôi
đang sống ở đó. Tôi nhớ rõ con đường đến nhà má có cả hàng me cổ thụ, đến mùa rụng
lá tôi đi bên dưới, lá me nhỏ vàng cứ rụng bám đầy tóc tôi. Tôi đâu biết làm
thơ, nhưng ấn tượng về những chiếc lá me vàng rụng khiến tôi không thể nào quên
được .
Tới nhà má vào những ngày chủ nhật là niềm vui của tôi. Thật ra thì tôi cũng
không biết đi đâu trong những ngày nghỉ. Tham dự các trò chơi đánh lon, ném bạc
cắc hay bịt mắt bắt dê tôi đều không thích. Nghe bà nội đọc mãi mấy vần thơ rồi
cũng chán. Tôi thích đi lang thang ,tôi muốn tìm hơi ấm nơi má của tôi. Mặc dù
không còn nuối tôi nữa, nhưng tôi biết má rất thương con trai của mình. Nhưng
cuộc đời má lại hoàn toàn không may mắn vì má chỉ là vợ nhỏ của ông chồng bẻ
ghi. Ông ta còn một người vợ nữa ở Sài Gòn nên có khi cả tháng mới về Nha Trang
thăm má. Đồng lương ít ỏi của ông ta không thể nào cùng chia cho hai phía, nên
má phải làm thêm .
Má của tôi học hành ít, lại không có nghề gì, cho nên dùng sức lao động của
mình kiếm ăn là chính. Má nấu chè bày bán trước sân ga, khi tôi ghé có hôm bán ế,
má múc chè cho tôi ăn, tôi ăn đến bốn chén nhưng đâu biết rằng gánh chè ế nghĩa
là vốn liếng của má bị hết. Sau đó má nấu bún bò, gánh đi đạo qua những con hẻm
nhỏ mời người ta ăn. Những ngày như thế khi tới nhà, không có má tôi cứ ngồi
bên thềm cửa mà ngó sang hàng xóm. Khi đó tôi phát hiện có một ngôi nhà chuyên
tổ chức lên đồng.
Thật là lạ khi lần đầu tiên tôi chứng kiến cành người ta trùm khăn đỏ kín mặt một
người nào đó. Rồi ê a, tiếng chiêng tiếng mõ và cả tụng kinh. Không khí nơi lên
đồng sặc mủi nhang , mùi trầm và mùi mồ hôi người trộn lẫn nhau. Tôi thích nhìn
người ta hát, người ta hỏi và người ta múa mà quên hết cả thời gian đợi má. Thường
thì khi thăm má trở về, tôi thường được má nhét trong túi áo tôi hai đồng bạc để
tôi muốn xài thế nào thì xài. Những đồng bạc má cho, tôi ghé tiệm sách trên đường
Độc Lập mua những cuốn truyện thiếu nhi về đọc. Bởi đâu có ai mua truyện cho
tôi đọc đâu ?
Khi đó tôi nào biết má có một cuộc đời buồn. Tình yêu của má với người đàn ông
bẻ ghi xe lửa như thế nào tôi không biết, nhưng đổi lấy sự cô đơn thiếu thốn cả
vật chất để có một thứ tình yêu như thế thì tại sao má lại cam tâm, má là một
người đàn bà đẹp. Tôi không hiểu từ một miền quê nhỏ ở tận bên bờ sông Hương xứ
Huế, má đã làm thế nào để đến đây một mình. Dường như má chẳng có quê hương, vì
thế mà cả đời tôi cũng chẳng hề có quê ngoại để trở về. Cho đến khi má nhắm mắt
lìa trần gian này vời nhiều nỗi buồn hơn niềm vui, má cũng chẳng kể cho tôi
nghe bên cạnh má còn một ai thân thiết nữa không ? Đó là một buổi chiều mưa buồn thê thiết Khi chuyển qua nghề
gánh nước thuê, má phải túc trực thường xuyên bên chiếc máy nước công cộng
trong đêm khuya để có nước " đổ" cho những nhà giàu. Có khi vào buổi
chiều tìm má, tôi vẫn thấy má ngồi kiên trì đợi đến lượt mình hứng nước. Lúc đó
tôi cũng ngồi đợi nước như má. Nhưng buổi chiều mưa buồn đó thì má không đi
gánh nước được nữa. Bởi cách đó mấy hôm, má gánh nước đêm mà đèn đường thì
không soi vào trong hẻm. Ai đó đã vô tình để chấn trên đường má đi một hòn đá lởn.
Má vấp phải hòn đá , té . Má đã bị trặc chân phải , không thể nào đi gánh nước
được nữa. Má không gánh nước được thì má lại bắt đầu đi mua gạo, mắm muối thiếu.
Hôm đó ở nhà sách có trưng một cuốn truyện thiếu nhi khá hấp dẫn. Nhìn cuốn
sách treo trên sợi dây kẽm trước mắt mình, tôi nhớ tới má. Tôi nghĩ đến hai đồng
bạc má cho nếu tôi ghé thăm má. Hai đồng bạc là cuốn truyện hay còn thơm mùi mực
in, còn là ly kem ngọt lịm có những hạt đậu phộng rắc lên trên. Thế là tôi đi tới
nhà má .
Mưa khiến cho trời đất mù mù. Tôi chen vào trong con hẻm, tới nhà thì thấy đã
khóa cửa, chắc má đã ở đâu đó .Có thể má lại qua nhà bà hàng xóm nào đó phụ việc
kiếm bữa cơm hay đi giác lể cho người ta. Những công việc linh tinh như thế má
gọi là " tài vặt" . Tôi ngồi bệt xuống thềm ximăng đợi má về. Cũng lạ,
chân của má còn đau mà má lại có thể đi đâu .
Đợi mãi má vẫn chưa về , tôi lần bước chân mình đến căn nhà giữa xóm, nơi vẫn
thường xuyên tổ chức những buổi lên đồng. Tôi chen đầu ngó vào trong. Không khí
ở nơi này khác hẳn với bên ngoài, giữa một bàn thờ đầy cây trái nghi ngút khói
hương là cảnh lên đồng. Tôi nhìn thấy một người đang phủ kín mặt bằng chiếc
khăn đỏ, còn đối diện là bà chủ nhà trong vai một thiên sứ đang cầm chiếc roi bằng
cây ổi chuốt ra, vừa ê a những tiếng nói như đọc kinh, dùng chiếc roi quất liên
hồi lên thân hình người nhập đồng. Bà chủ cứ ê a những lời nối thành nhạc:
"Quỷ a, quỷ này. Mày đi khôn chốn này, mày không được ở chốn nao. Tao
đánh mày bằng roi thần, roi phép cho mày khỏi nhập hồn Nguyễn Thị Lan. Quỷ... quỷ a á a...". Tiếng rít của bà ta trong kẽ răng, tiếng gõ chiêng át cả
trong không gian mù mịt khói nhang càng khiến tôi có cảm giác gì đó ghê sợ.
Hình ảnh người đội khăn giả quỉ lăn lộn trên nền đất với những làn roi quất khiến
mọi người khoái chí reo hò. Rồi giữa lúc bất ngờ nhất, chiếc khăn đội đầu rớt
ra .Tôi không thề tin vào mắt mình bởi con quỉ kia không ai khác hơn là má của
tôi.
Má không biết rằng tôi đã nhìn thấy má phải đóng vai quỷ trong buổi lên đồng để
lấy những đống bạc công mà má gọi là "bạc lộc". Tôi đã bỏ về nhà má
trước khi má về . Má mở cửa cho tôi vào. Vẫn là cái xoa đầu âu yếm: "Con
đợi má lâu lắm phải không? Ở lại ăn cơm với má". Tôi lắc đầu. Tôi nhìn
má và phát hiện trên cánh tay má có vết hằn của lằn roi ổi đánh vào. Tôi bỗng cảm
thấy như mình cũng đang bị chiếc roi kia đánh lên người. Tôi lắc đầu: "Con về đây. Con không ăn cơm đâu". Rồi má rút trong túi mình ra hai đồng
bạc giấy, đưa cho tôi: "Má cho con". Tôi cầm hai tờ giấy bạc để
trên bàn, nói: "Con không lấy đâu. Con không thích má làm quỷ".
Nói xong, tôi vùng ù chạy ra khỏi nhà má. Thời gian trôi qua đã lâu lắm rồi. Tôi giờ đây cũng không còn
trẻ nhỏ. Từ ngày đó má đã theo chồng của má vào Sài Gòn sinh sống. Tôi lạc mất
má và đường như tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đi tìm má. Nhưng tôi nào ngờ rằng
chính ngày tôi trả lại hai đồng bạc lộc mà muốn kiếm được má phải đóng vai quỷ cho người ta đánh vào, chính tôi chứ không ai khác đã làm cho má đau đớn. Khi
đó hai đồng bạc rất lớn với má, nhưng má vẫn giữ để có ngày má đưa lại cho tôi. Khuê Việt Trường Theo https://vietmessenger.com/
Ngày phục viên, vợ chồng Vọng đưa nhau về quê. Về làm dâu quê
chồng ở một vùng trung du, chị ngỡ ngàng trước núi đồi, cỏ cây và nhất là dòng
sông cuồn cuộn chảy. Chị chóng mặt nhức đầu trước sức nước lúc nào cũng như réo
sôi lên, dòng sông uốn lượn ngoằn ngoèo giữa cái thế đất sừng sững bất ngờ đâm
ngang như muốn chặn đứng dòng chảy. Chị bảo anh: "Quê em dòng sông bốn mùa
ăm ắp, nước lững thững hiền hòa theo mương thủy lợi tưới mát cho cánh đồng thẳng
cánh cò bay. Quê anh - chị lắc đầu - biết làm sao sống nổi". Anh nhìn chị,
cái nhìn chan chứa và đầy nghị lực. Anh đặt thằng Viễn xuống, nó bò lổm ngổm
trên vạt cỏ, rồi đưa tay giật một bông hoa bướm vàng rười rượi. Nó ngẩng nhìn
anh chị toét miệng cười. Anh bảo chị: "Có người có ta, lo gì". Lúc
ngoảnh lại thằng Viễn chui tọt vào một bụi cây ven đường, lôi được nó ra, tóc
nó mắc đầy những chùm ké dại. Chị gỡ ké, có chỗ tóc và ké kết thành cục không
tài nào gỡ nổi, cắt tóc của con mà nước mắt chị lưng tròng.
Nhìn hai mẹ con, anh cũng thấy ngùi ngùi. Anh phóng tầm mắt nhìn ra sông, nơi
ngã ba sông mênh mang, mịt mờ sương khói. Trước khi hợp lại hai dòng chảy vuốt
cho thế đất nơi "đầu sóng ngọn gió" này nhọn hoắt. Nhìn xa dải đất
như một mảng rừng nguyên sinh còn sót lại xanh um một mầu giữa trời và nước.
Mùa mưa bão, nước từ các triền đồi, triền núi dốc cả về đây, chồm lên hoang dại
như muốn nhận chìm mũi đất. Mùa khô, trời yên nước lặng hai dòng sông bắt nguồn
từ hai dãy núi tạo thành hai dòng trong đục: dòng biếc, dòng đào. Từ trên cao
nhìn xuống hai dòng sông tựa như hai dải lụa bồng bềnh trên mặt đất, mềm mại giữa
các lũng đồi. Người xưa tương truyền rằng: Đây là nơi thủy tụ, nơi tạo sinh khí
thiêng liêng cho sông núi. Chẳng biết có phải vì thế mà tiền nhân đã dựng một
ngôi đền giữa bãi. Bao năm rồi, dãi dầu mưa nắng gội, trong đền duy nhất còn
sót lại một chiếc cồng khù to bằng cái nong vựa. Nghe nói bộ cồng này còn chín
chiếc con, đó là những chiếc chiêng năm loạn lạc bị thất tán vào trong dân gian
nay chẳng biết có ai còn giữ được. Đó là những bảo vật mà người xưa chế tác rất
công phu. Nay chỉ còn chiếc cồng khù. Cồng khù là cồng mẹ, giữ "chịch"
trong giàn cồng lễ.
Vốn là một "thanh niên xung phong", chị nhanh chóng thích nghi với cuộc
sống làng Ghềnh. Sáng sáng nhìn chị tra cán tre vào chuôi dao quắm phát đồi anh
thấy yên tâm hơn. Một hôm anh bảo chị: "Tôi phải ra sông thôi mình ạ!".
Chị lườm anh rồi mỉm cười bảo: "Mặc ông, ông làm gì thì làm" . Anh dồn
mấy tháng phụ cấp của hai vợ chồng ngược rừng. Hơn một tháng sau anh cùng với
cái mảng toàn tre, nứa, bương, luồng dềnh dàng về bến sông nhà. Anh hì hục
ghép, làm một cái vó bè thả trên sông. Hay chuyện, người chú ruột ra tận bờ
sông bảo: "Biết thế này, tao đốt quách cái nhà đi cho mày khỏi về, cho bõ
công tao gìn giữ những năm mày vắng nhà. Mấy đời rồi mày có biết không? Chỉ đến
mày mới được bước chân ra khỏi cổng làng. Những tưởng mày khá, tìm cách mà ngẩng
mặt với thiên hạ cho cả họ được nhờ. Ai ngờ mày mê muội đâm đầu quay về làng,
hay cái lời nói kia là thứ bùa ngải trói buộc mày. Mồ mả đất cát kém cỏi đã đến
lúc ngơi nghỉ thật". Ông chú bỏ đi, tiếng ho sù sụ của ông như bào lòng Vọng.
Đêm đó anh ngồi trên bè uống rượu suông. Chuyện cũ trong gia đình nhoi nhói gợi
lại, từ tuổi hoa niên anh vẫn được nghe kể lại rằng:
Cụ ngũ đại nhà anh là một vị quan thanh liêm. Nhà vua biết tiếng triệu về kinh
thành làm Thượng thư Bộ Hình. Nhưng triều đình vào lúc tham nhũng như giặc, bọn
gian thần âm thầm bày mưu tính kế, tìm mọi cách để hãm hại cụ. Một lần, nhân có
việc đại tang mẹ, cụ Thượng vào tâu với nhà vua xin về quê chịu tang, nhà vua đồng
ý. Trước khi đi có mấy vị quan đồng liêu tỏ ý thân tình, sai thợ ghép sẵn một cỗ
hậu sự bằng gỗ thông Ngọc Am, gọi là "lễ viếng". Rồi sai lính hộ tống
về tận quê nhà. Xong việc trở lại triều, cụ Thượng nghe tin đồn về mình biết là
mắc mưu gian. Cụ đã lấy gỗ của triều đình để "Dụng công vi tư" (lấy của
công làm của riêng). Nhà vua cho gọi cụ vào truyền: "Khanh là người giữ
phép nước ắt phải biết lề luật, cho được tự xử". Cụ Thượng xin lấy cái chết
để phép nước được nghiêm. Nhà vua tiếc tài cho được toàn tính mệnh, chỉ cách
quan biếm chức cho về quê nhà và "châu phê": vào gia phả: "Tam đại
bất đắc ứng thí" (Ba đời không được thi cử) .
Cụ Thượng về quê buồn bã chẳng thiết gì ăn uống, chơi bời gì. Cụ cất một cái vó
bè âm thầm sống trên dòng sông quê. Mấy tháng sau, có một người đội ân sâu với
cụ, lặn lội từ trong Kinh ra tận nơi bảo: "Quê cụ có một thứ bảo vật mà khắp
nơi trên đất nước này không đâu có. Nhà vua đang cần lễ vật để đi sứ, cụ cứ
dâng lên nhà vua, thế nào nhà vua cũng ân xá cho, giải đi cái lời nguyền mà con
cháu phải gánh chịu oan uổng...". Cụ một mực lắc đầu.
Cái vật quý mà người khách bàn với cụ đó là đàn hạc trắng. Đàn hạc trắng bay về
mũi đất ngã ba sông đã mấy mươi năm. Rất lạ kỳ! Cái ngày ấy, ngày cụ vinh quy
bái tổ cũng là ngày đàn hạc trắng bay về. Mấy người bạn đồng môn thông tuệ nho,
y, lý, số bảo cụ: "Đất lành chim đậu, bạch hạc là điềm báo đất này kết
phát, thiên hạ vào lúc thái bình đây". Trước khi "xuất gia" về
Kinh, cụ dặn con cháu và dân làng giữ gìn đàn hạc cho kỹ lưỡng...
Cuối năm đó cụ chết, hôm ấy nửa đêm đàn hạc cất tiếng kêu hoảng hốt. Sáng ra
chúng nhất loạt vỗ cánh, như những mũi tên bay vút lên bầu trời. Tiếng kêu thảng
thốt ai oán rơi rụng xuống mặt sông cuộn sóng. Từ bấy đến nay chẳng bao giờ thấy
đàn chim quý ấy bay về đất này nữa. Những đời sau, con cháu cụ Thượng hay chữ nổi
tiếng một vùng. Học trò của các cụ nhiều người đã trở thành ông Nghè, ông Cống,
nhưng các cụ chỉ là những thầy đồ dạy học và người cày ruộng. Câu chuyện về cụ
Thượng và đàn hạc trắng ở làng Ghềnh lưu truyền mãi như là huyền thoại...
Anh Vọng cứ lặng lẽ làm theo ý định của mình mặc cho người chú nói ra nói vào.
Sáng sáng chị ra bờ sông nhận từ tay anh mớ tôm, mớ tép mang ra chợ. Rồi anh Vọng
vào làng trình với ủy ban, xin được trồng tre dọc bờ sông. Lúc ấy anh cũng chỉ
nghĩ cho đất khỏi lở, tre mà lên tốt, dày, chặt tỉa sẽ có tiền.
Người làng Ghềnh cho việc anh Vọng làm là viển vông. Mặc, Vọng cứ cần mẫn làm
công việc của mình. "Kiến tha lâu đầy tổ", nhãng đi có vài năm trời mà
cả một triền đê xanh mầu tre ấm búi. Cũng năm đó cò về. Lúc đầu chấp chới một
vài đôi, mấy năm sau cò đỗ trắng cả bờ sông, no mồi chúng bay ra cánh bãi mũi đất,
co chân xù lông ngủ gật. Cánh bãi an toàn như là thế giới của riêng chúng! Đêm
đêm cò bay về ngủ cong cả ngọn tre, ỉa cứt trắng toát, lá cây trong vườn ngoài
bãi như là bị nhuộm bằng vôi vậy.
Lúc ấy, cả làng Ghềnh lại học theo cách làm của anh Vọng. Nhà nào cũng trồng
tre, ở đất vườn, họ bảo: "Ngắn ngày, chắc ăn lại giữ được đất, được
làng...". Làng Ghềnh um tùm, tre mọc như rừng. Cò và cơ man các loài chim
nước bay về. Cuối năm, vào cữ tháng mười ta, từ trên vó bè Vọng quan sát thấy một
đàn chim lạ từ phương Bắc bay về. Xa xa chúng bay giăng hàng như một sợi dây, đến
gần mũi ngã ba sông, chúng chuyển đội hình bay theo kiểu chữ "vờ" nhọn
hoắt: Đến giữa bãi nơi rậm rạp nhất, chúng bay nối đuôi nhau thành một vòng
tròn. Đàn chim quần đảo mấy chục lượt trên bầu trời rồi nhất tề đáp xuống. Vọng
hồi hộp theo dõi những bóng chim khuất dần trong lau lách.
Vọng tợp một ngụm nước mắm cốt, nhoài người xuống nước, cái lạnh đầu đông thấm
vào da thịt, anh cảm thấy mình đã có tuổi. Trườn êm trong bồi non, đầu anh ngụy
trang bằng một khóm bèo lục bình, anh như lẫn vào thiên nhiên. Cái mùi nằng nặng
của con người là không loài chim nào chịu đựng được. Anh lại gần và xuýt buột
miệng kêu lên: "Chim hạc, bạch hạc". Vừa đủ chín con. Anh như bị chôn
cứng trong bùn vì ngạc nhiên. Loài chim mà anh chỉ được nghe như trong truyền
thuyết giờ chỉ cách gang tấc. Toàn thân trắng toát, lông sạch như có ánh xà cừ
ngũ sắc. Theo từng chuyển động của thân thể mà mầu sắc lúc ẩn, lúc hiện, lúc ở
chỗ này, lúc ở chỗ kia. Toàn thân chim như được giát ngàn vạn viên bạch ngọc vô
hình. Cái đài các, kiêu sa mà trời ban cho loài chim này trước mắt Vọng mơ hồ
như có thật. Lúc đàn chim tụ lại muôn hồng nghìn tía lung linh tưởng có thể cầm
lấy được. Lúc đàn chim giãn ra khối mầu như tan ra vụt biến, theo những tiếng
rúc gọi nhau long lanh như từng viên ngọc rơi rụng xuống mặt nước. Hai cái chân
lênh khênh đen bóng những vẩy sừng, lớp nọ nối lên lớp kia như ngói mũi lợp
dày, vai cắn vai ba đường thẳng tắp. Cái cổ dài, đầu vươn cao ngạo nghễ. Cái mỏ
vàng óng đanh thép như một tháp bút bằng ngà... Vọng lẩm bẩm: "Đây là đàn
chim linh quý, nó đã bỏ đất này đi cả trăm năm rồi!". Một cái gì đó làm
anh bồn chồn rung chuyển. Lặng lẽ Vọng bơi trở lại bè. Những ngày sau anh âm thầm
theo dõi và bảo vệ bầy chim quý, lòng hy vọng sự hồi sinh trên mảnh đất này. Tiếng đồn về rừng cò lan rộng một vùng, lúc đầu một vài người
hiếu kỳ tìm đến để thỏa mãn trí tò mò. Sau đó khách nườm nượp đổ về, khi đã chứng
kiến tận mắt họ kinh ngạc thốt lên: "Đây là vùng đất từ thời hồng hoang
nguyên thủy còn sót lại...".
Làng Ghềnh nhờ vào du khách khấm khá dần lên. Dân làng cũng ý thức được nguồn lợi
này, họ bảo nhau giữ gìn. Cả một sống đất dài mượt mà xanh trong một vùng môi
sinh mới hồi phục. Một đoàn cán bộ sinh học về làng Ghềnh khảo sát đất bãi mãi.
Rồi họ quyết định thành lập một "Trạm nghiên cứu các loài chim hoang
dã". Vọng được họ mời tham dự, anh rất mãn nguyện. Với anh đời sống của
muôn loài sinh vật là những bí ẩn đầy lý thú. Mặt khác từ trong sâu xa anh muốn
bảo vệ sự sống của đàn chim này. Nhất là đàn chim hạc.
Công việc của trạm rất đơn giản: quan sát, ghi chép, phân loại và "đeo
vòng" vào chân chúng mỗi một mùa chim về. Thằng Viễn đã lớn, những lúc rảnh
rỗi nó làm cùng anh rất say mê. Trong đám trẻ mục đồng có thằng Vĩ, kém thằng
Viễn vài tuổi, nó là con một người trong làng. Bố nó bị bệnh chết, mẹ nó nắm nối
với một người ở bên kia sông, đi từ lúc nó còn lẫm chẫm mà chưa thấy về làng.
Nó lớn lên với người chú rể. Nhà chú nó cũng nghèo lắm, nó phải đi hót phân
trâu để đổi lấy miếng ăn. Nó thường lân la xuống bè, rất thích thú với bầy
chim.
Lần đầu tiên đeo vòng vào chân một con chim bồ nông, trước khi thả nó ra, anh Vọng
ngẩn ngơ tự hỏi mình: Nó sẽ bay về đâu? ở đấy có an toàn với nó không? Cuộc sống
hoang dã với những quy luật tàn bạo của răng nanh và móng vuốt... Rồi những họng
súng săn đang chờ đợi nó! Động lòng trắc ẩn, những cái vòng tiếp theo anh bí mật
ký hiệu trên đó một dấu vết của riêng mình. Điều này chỉ có anh và thằng Viễn
biết. Năm sau mùa chim bồ nông bay về mũi đất, anh Vọng bắt lại được những con
chim cũ. Anh vô cùng mừng rỡ, thấy ở chân chim có thêm hai cái vòng nữa, một
cái ở miền nam đất nước, một cái ở mãi bờ biển Australia xa xôi: Anh Vọng rất
xúc động, vậy là suốt một chặng đường dài chim bay, vẫn còn những trạm an toàn
cho đàn chim hạ cánh. Họ cũng như anh, âm thầm theo dõi những đàn chim di cư.
Thời gian cứ trôi đi. Càng say mê với công việc, anh càng cảm thấy mình bất lực.
Ngoài những hiểu biết đơn giản và bảo vệ đàn chim một cách cơ học, anh không
còn cách nào khác. Từ trong thâm tâm anh muốn có những hiểu biết, kiến thức
khoa học để duy trì và phát triển đàn chim. Anh thật sự tiếc cho sự học hành dở
dang của mình, nếu như không có chiến tranh...
Một câu hỏi cứ xoáy vào lòng anh: "Làm thế nào để nuôi thằng Viễn ăn học
suốt năm năm đại học được bây giờ?". Anh chị vấp phải một bài toán hóc
búa. Nếu có dồn phụ cấp của cả hai vợ chồng, cũng không đủ chi dùng cho con
trong một tháng. Chặt tre ư? Không thể phá tan sự bình lặng của đất làng. Có thể
chỉ một thay đổi nhỏ của môi trường đàn chim sẽ bay đi. Anh rùng mình khi nghĩ
đến điều đó... Vả chăng, đó cũng chẳng phải là kế lâu dài. May thay, vợ anh tìm
được việc làm tại một cơ sở sản xuất tư nhân ở ngay gần trường thằng Viễn học.
Cũng lại là chỗ bạn bè đồng ngũ giúp nhau. Thế là mẹ con thằng Viễn vừa có chỗ ở,
chỗ làm. Chị hứa với anh sẽ nuôi con ăn học nên người, chị bùi ngùi thương anh ở
một mình vò võ nơi bến sông...
Vọng là người ít nói, khi vợ đưa con về Hà Nội học, anh càng trở lên lầm lỳ
hơn. Trên gương mặt anh thoáng hiện những nét ưu tư. Hàng ngày nếu không có những
đồ vó bè nhịp nhàng cất lên mặt nước, thì dân làng Ghềnh cũng không còn biết
anh Vọng vẫn tồn tại trên cõi đời này.
Thằng Vĩ năng xuống bè hơn. Một hôm anh bảo nó: "Mày xuống đây ở hẳn với
tao cho vui, thiếu gì việc". Nó bẽn lẽn cười, gương mặt hồng lên những nốt
nhang của tuổi đang lớn. Thấm thoát đã năm năm trôi qua, mẹ con thằng Viễn từ thành phố
trở về, trên mặt chị hằn lên những nét dãi dầu nhưng ngời lên niềm hy vọng. Những
ngày sau đó thằng Viễn chạy rạc cẳng tìm việc làm mà không đâu nhận.
Một hôm nó chỉ vào đàn hạc:
- Con biết một người buôn chim thú quý ra nước ngoài: Nếu bố đồng ý... con sẽ
có tiền để xin việc làm.
- Không được, không thể làm thế được!
Giận dữ, anh Vọng vớ lấy cái điếu cày, lủi thủi đi về làng. Cuối tháng bảy gió
se se lạnh, lá tre rụng xào xạc dưới chân. Trời xâm xẩm tối. Những mảnh vỏ trứng
sau vụ cò nở cứ sáng lên trên nền đường vào xóm. Tít trên vòm lá lũ cò tranh
giành nhau đỗ, kêu nháo nhác loạn xạ. Trằn trọc suốt đêm không ngủ được câu
chuyện hồi chiều giữa hai bố con như miết vào lòng, thít vào da thịt. Thằng Viễn
bảo:
- Không phải là của bố, "Chim trời, cá biển" biết thế nào cho vừa,
cho đủ, ai hơi đâu mà giữ. - Giọng nó nghẹn lại, hai mắt nó rưng rưng sáng rực
- Vẫn biết bố vì một mục đích tốt đẹp và cao thượng. Nhưng có ai thông cảm và
xót thương cho hoàn cảnh nhà mình đâu! Người ta đang bán tất tận tật, miễn là
có tiền. - Rồi nó đổi giọng - Bố có thương con không, bố tạo tiền đề cho con
đi. Bố mẹ có quyền đòi hỏi cho mình vì những năm tháng ở chiến trường. Nếu bố mẹ
chối từ con phải được hưởng điều đó chứ...
Anh có tiếc gì con, đến cả phần danh dự cá nhân chị cũng phải nén lại, cam chịu
về thành phố làm thuê, làm mướn nuôi con nên người. Nhưng đàn hạc... Mất nó thì
đất làng anh sẽ vô phúc một lần nữa...
Đêm tàn, cánh hạc chấp chới vỗ trên không trung, tiếng kêu văng vẳng xa gần.
Anh không thể nằm yên được, bật dậy anh đi ra bè... Hình như anh đã già rồi.
Anh Vọng ngày nào giờ trở thành ông Vọng. Trời đã tang tảng sáng, xuống bè ông
Vọng ngơ ngác tìm con, trong lều lạnh lẽo và hoang vắng. Cái vó bè chênh vênh
trên mặt nước từ đêm qua chưa được hạ xuống. Ra phía đầu mảng ông Vọng chụm tay
gọi ra bốn phía: "Viễn ơi!... Ơi Viễn!...". Tiếng ông vang vọng mặt
nước lặng như tờ, chẳng tiếng người đáp lại, chỉ có tiếng chim xao xác giật
mình.
Bỗng ngoài mũi đất có tiếng chim kêu hoảng hốt, ông Vọng giật mình dụi mắt. Trời
đã sáng rõ, trong giàn giạt gió lau lách và năn lác rạp cả xuống. Đàn hạc sải
những đôi chân dài, nhất loạt vỗ cánh bay vút lên trời, vừa bay vừa kêu, tiếng
kêu lả tả rụng xuống mặt sông. Đàn hạc nối đuôi nhau quần đảo trên trời. Ông Vọng
đếm, chỉ còn có bảy con. Trời đất ơi! Thằng Viễn đã làm chuyện động trời. Ông
lao mình xuống sông sải những sải dài ra mũi đất. Ông chạy vào đền, rút vội chiếc
vỗ sàm vung cánh tay lực lưỡng nện xuống mặt chiếc cồng Khù. Tiếng cồng cái trầm
đục âm âm như từ lòng đất phát ra, lan tỏa trên mặt sông, luồn vào lau lách, lần
trong bờ tre mái rạ. Tiếng nọ nối tiếng kia, lúc nhanh thôi thúc rộn rã, lúc chậm
khẩn khoản thiết tha. Tiếng cồng Khù vang vọng một vùng rồi dội trở lại như tiếng
của ngàn xưa... Dân làng thấy động kéo nhau ra cả bờ sông, có người quỳ xuống
run run làm lễ. Rồi từ đầu làng đến cuối làng đột ngột vang lên những tiếng
chiêng con, tiếng thanh, tiếng bổng đủ mọi âm sắc hòa quyện vào nhau thành một bản
tấu cồng trang trọng như một ngày hội lễ. Có lẽ mấy trăm năm nay làng Ghềnh lại
có một ngày như thế.
Trên trời đàn hạc như bị tiếng cồng thôi miên, chúng khép dần vòng lượn sà xuống
dần. Vừa chạm phải mặt đất bất thần chúng lại bốc ngược lên. Cả làng Ghềnh nín
thở... Nhưng sải cánh chúng như bị tiếng cồng vít xuống, chúng nghiêng cánh rồi
hạ ngay giữa bãi. Cả làng thở phào, những tiếng chiêng dần dần im tiếng. Trong
đền ông Vọng thả nhịp chậm lại, nhỏ dần rồi tiếng cồng Khù tan biến vào sương
khói.
Thằng Viễn bỏ nhà ra đi với đôi hạc trắng. Vợ ông nức nở, lặn lội, vật vã mấy
ngày trời rồi ốm liệt giường. Bà đổ bệnh, vết thương cũ tái phát và qua đời vào
mấy tháng sau đó. Ông Vọng chỉ còn là cái bóng âm thầm trên cái vó bè lênh đênh
giữa dòng sông. Cũng may có thằng Vĩ chập tuổi thành niên đỡ đần, gần gũi nên
cuộc sống của ông cũng vơi bớt phần nào. Ông vẫn đeo vòng vào chân các loài
chim, như một thói quen của ông gửi vào đó dấu vết của riêng mình. Đã mấy năm
mà đàn hạc không hề sinh nở. Ông rất băn khoăn nhưng không lý giải được. Ông lo
lắng đến ngày nào đó đàn chim này sẽ tuyệt diệt. Và cả ông nữa...
Đàn chim đến, đàn chim lại đi. Đàn chim đi, đàn chim lại về.
Mấy năm sau, trong một lần thay vòng định kỳ cho đàn hạc, ông thấy xuất hiện những
chiếc vòng lạ, ông xem xét kỹ lưỡng, trong lòng nghi nghi hoặc hoặc... Chẳng
nói với ai, ông vẫn âm thầm làm việc và hoàn thành như một trọng trách thiêng
liêng. Một hôm người chú lâm bệnh, biết mình tuổi đã cao, khó mà qua được. Người
chú cho gọi ông Vọng vào bảo: "Bỏ con chỉ có loài cầm thú, nhà này duy nhất
chỉ có mày...". Nói rồi người chú tắt hơi. Vẻ mặt giận dữ suốt từ ngày ông
về đến chết vẫn chưa giãn ra được. Ông Vọng nghẹn ngào: "Tuổi trẻ có con
đường riêng của nó, mong chú hãy hiểu và thông cảm cho nỗi lòng cháu". Quá
xúc động và tủi hờn, ông Vọng khóc ngất đi.
Thằng Viễn đột ngột trở về, da nó rám nắng, thoạt nhìn có vẻ phong trần nhưng
chững chạc. Nó chạy một mạch ra bờ sông, sầm sầm lao xuống bè. Thằng Vĩ ngồi một
mình thẫn thờ. Con bè cô đơn trên sông nước hoang vắng. Thằng Viễn linh cảm đến
một điều chẳng lành.
- Vĩ... bố anh...?
- Vâng - Vĩ nghẹn ngào - Em chẳng biết anh ở đâu mà tìm...
Một năm về trước khoảng nửa đêm về sáng, không gian ba bên bốn bề im phăng phắc,
chỉ có tiếng cuốc ven bờ khắc khoải cầm canh. Bỗng trên mũi đất, chim cò giật
mình rộ lên. Ông Vọng bật dậy linh tính báo cho ông biết có chuyện... Ông lao
mình xuống dòng sông, trườn trong nước, hướng về phía đàn hạc. Thấy động bọn
săn trộm bỏ chạy. Thằng Vĩ đến nơi tìm không thấy ông Vọng đâu. Nó cất tiếng gọi,
chỉ có tiếng của nó dội lại rờn rợn. Nghe tiếng kêu của thằng Vĩ dân làng đổ ra
đất mũi. Họ thả thuyền đi tìm, gần sáng mới thấy xác ông tím ngắt dạt vào đúng
mảng vó bè. Có người bảo: "Ông Vọng bị cảm lạnh, chuột rút cứng các cơ, đó
là hậu quả của việc cố gắng quá sức". Có người lại bảo: "Ông bị đánh
bất ngờ vào chỗ phạm".
Thằng Vĩ đặt ông Vọng nằm giữa cánh bãi mũi đất ngã ba sông. Nó bảo: "Đó
là sở nguyện mà rất nhiều lần ông Vọng đã tâm sự". Hôm đưa đám nhìn nó để
tang sô "thít ngang" nằm phủ phục ai cũng mủi lòng. Xong việc, mọi
người lên bờ để chuẩn bị về nhà, bỗng giật mình ngơ ngác quay đầu nhìn lại.
Trong cái mênh mông trời nước ngã ba sông, các loài chim nước ở đâu kéo về.
Chao đảo nháo nhác ngoài đất mũi. Rồi chúng nhất loạt đỗ xuống, mầu lông trắng
toát một vùng. Các cụ già chưa bao giờ chứng kiến cảnh tượng ấy, lặng lẽ thành
kính thắp hương cúi đầu vái vọng ra mũi đất.
Nghe xong chuyện, thằng Viễn òa khóc, tiếng khóc ầng ậc từ trong sâu thẳm của
chàng trai đang độ sức lực. Hai đứa chèo thuyền ra nơi đặt mộ, tìm mãi mà chẳng
thấy chỗ ông Vọng nằm. Mới có hơn một năm mà sa bồi tràn về lấp kín cả. Thằng
Viễn đành cắm những nén nhang xuống giữa bãi rồi quay về. Một vùng năn lác ngần
ngật xanh trong gió chiều lồng lộng. Nó ngồi trên lòng bè, nước mắt chảy ngắn
dài. Bỗng chốc cái đêm bỏ cha mẹ, bỏ làng ra đi với đồi hạc trắng lại hiện về...
Viễn đã bắt một đôi hạc rồi trốn nhà mang lên sát biên giới... Khách là một người
rất cẩn thận, bảo: "Cậu phải nuôi đôi chim này đúng một tuần trăng, nếu
không có biến động gì thì mới giao tiền". Viễn rất bực, song trước món tiền
quá lớn và đang rất cần Viễn đành chấp nhận. Hơn nữa là một bác sĩ thú y, nó
tin vào khả năng mình, nghĩ sau này nhất định nó sẽ cho đàn chim này sinh nở
trong điều kiện nhân tạo. Viễn nhốt đôi chim vào một cái chuồng sắt. Mấy ngày đầu
đôi hạc ăn uống rời rạc, sải cánh soãi ra nhưng không bay được lại buông xuống
rũ rượi. Viễn tiêm các loại thuốc, đôi chim ăn uống bình thường. Gần một tháng
trôi qua, Viễn khấp khởi mừng thầm. Chỉ còn một đêm nữa, đêm nay, đó là một đêm
rằm trăng sáng vằng vặc, những miếng trăng lọt qua mái lều lổ đổ dát trên nền
chuồng đôi hạc. Đôi hạc cất tiếng kêu, nửa đêm chúng rũ cánh phành phạch... Viễn
nhìn vào, đôi hạc ngẩng đầu, mỏ bói bói vào ánh trăng, hình như đôi hạc nhớ bầu
trời. Viễn mệt mỏi thiếp đi, lòng chập chờn những hình ảnh về quê hương và những
người thân của mình...
Đến hẹn. Sáng hôm sau, chủ khách bước vào lều, cả hai cùng giật mình trước một
cảnh tượng hãi hùng. Đôi hạc đứng dựa vào nhau, hai cái cổ vắt lên thanh cầu bắc
ngang chuồng sắt, rồi buông thõng xuống, mềm oặt như một cái dọc rau sơn hà
phơi nắng. Cái mỏ mầu ngà voi bạc phếch, lạnh lẽo ngậm chặt. Viễn bàng hoàng,
hai con hạc đã cắn đứt lưỡi chết tự lúc nào... Viễn ôm đầu bỏ chạy. Vẻ mặt thất
thần như kẻ phạm tội, ăn năn vì có lỗi với tiền nhân. Lần đầu tiên Viễn thấm
thía câu ngạn ngữ: "Đất lành chim đậu"...
Không dám về nhà, Viễn tìm về trường. Biết ngoài đảo cũng có một đàn chim lạ mới
xuất hiện Viễn xin ra đảo. Nó đã nhận ra bảy con hạc của xứ sở mình. Cậu lại
đeo vòng vào chân chim. Như một thói quen, cậu lại ký hiệu vào đó dấu vết của
riêng mình... Lúc này thằng Vĩ mới chợt hiểu thông qua cái vòng mà xa xôi nghìn
trùng cha con ông Vọng vẫn nhận được tin nhau...
... Ba năm sau ngày ông Vọng mất, hạc bay về mũi đất ngã ba sông nhiều lắm. Khi
tháo những chiếc vòng cũ ra đeo vòng mới vào chân chim, cũng như ông Vọng ngày
trước thằng Vĩ biết ở một hòn đảo tít ngoài khơi, Viễn đã thành công trong việc
tạo môi trường cho loài chim quý hiếm nhưng rất khó tính này sinh sôi, phát triển.
Vĩ càng tận tình với công việc nó đang làm... Nó chắc ông Vọng cũng mát lòng
nơi chín suối.
Đàn bạch hạc đông đúc lại rủ nhau ra bãi cát sát mép nước. Chúng tắm táp, soi
bóng xuống nắng chiều ong óng. Những viên sỏi cuộn tròn xoe dưới chân chúng bắt
nắng như những cục vàng mười lăn lóc. Rồi chúng rúc đầu vào ức, tự vặt những
chiếc lông của mình, những chiếc lông trắng muốt xốp như mây bồng bềnh trên mặt
nước. Nước sông dồn chúng lại nhè nhẹ cuốn đi. Trên mặt sông thoảng có một dải
lụa bạch lững thững trôi về xuôi...
Xuân, 1999 Hà Nguyên Huyến Theo https://vietmessenger.com/