Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2024
Xóm chợ - Truyện ngắn của Võ Văn Trường
Xóm chợ - Truyện ngắn
Đám tang Năm Nhạc rình rang cả chợ. Nghe đâu có rước cả mấy sư nữ một ngôi chùa đâu đó đến tụng niệm, cầu siêu. Lão Quành gánh nước thuê ở chợ đưa mấy thông tin làm đám thanh niên hay ngồi ở chiếc bàn gỗ tạp góc chợ chuyên úp mặt, úp mày vào mấy trò sát phạt đỏ đen thêm tò mò.
Phan Hoàng có bênh vực Phan Huyền Thư trong vụ "Đạo thơ" hay không
Phan Hoàng có bênh vực Phan
Huyền Thư trong vụ "Đạo thơ" hay
không?
Hai hôm nay, có vài ý kiến cho rằng, nhà thơ Phan Hoàng đứng
ra bảo vệ nhà thơ Phan Huyền Thư trong vụ “đạo thơ” Phan Ngọc Thường Đoan.
Hai hôm nay, có vài ý kiến cho rằng, nhà thơ Phan Hoàng – Phó
Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM đã đứng ra bảo vệ, bênh vực, tiếp tay cho nhà nhà
thơ Phan Huyền Thư trong vụ “đạo thơ” Phan Ngọc Thường Đoan. Những quan điểm
trên được đăng trên trang mạng xã hội theo kiểu quy chụp gây xôn xao dư luận.
Sự thật câu chuyện như thế nào, người viết bài này có phần
liên quan và chứng kiến ngay khi câu chuyện xảy ra.
Tối ngày 18/10/2015, tôi cùng nhà thơ Phan Hoàng và nhà thơ Đặng
Huy Giang (ở Hà Nội vào) cùng nhau ngồi hàn huyên trong một quán ăn ở quận Tân
Phú. Khoảng 21h thì chị Phan Ngọc Thường Đoan điện thoại cho anh Phan Hoàng
thông báo rằng, Phan Huyền Thư đã “đạo” gần nguyên văn bài thơ “Buổi sáng” của
chị. Vụ việc đã được đăng trên FB. Phan Hoàng hết sức ngạc nhiên và có khuyên
chị Thường Đoan nên bình tĩnh xem xét và xử lý cho khéo léo, xem động thái Huyền
Thư như thế nào, dù sao chị cũng là đàn chị.
Sau cuộc điện thoại của chị Phan Ngọc Thường Đoan, anh Phan
Hoàng gọi ngay cho Phan Huyền Thư nhưng không thấy bắt máy. Vài phút sau Huyền
Thư gọi lại, và anh Phan Hoàng bảo rằng chị Thường Đoan vừa phản ánh sự việc
như vậy, phải kiểm tra lại thực hư thế nào. Anh cho Huyền Thư số điện thoại của
chị Thường Đoan để liên lạc.
Chúng tôi tiếp tục ngồi trò chuyện với nhau và chưa tin vào
chuyện đạo thơ. Một hồi sau, Phan Huyền Thư gọi cho anh Phan Hoàng nói rằng
đúng là bài thơ “Buổi sáng” của chị Thường Đoan in trong tập thơ “Đếm cát” từ
năm 2003, trước bài thơ “Bạch lộ” trong tập “Sẹo độc lập”. Huyền Thư cũng báo sự
việc đã đăng trên Facebook rồi. Phan Hoàng nói rằng anh chưa biết thực hư thế
nào, nhưng về lý thì Huyền Thư đã sai, hãy suy nghĩ cho kỹ và nhanh chóng bay
vào TPHCM gặp, trao đổi và xin lỗi chị Thường Đoan.
Tôi liền mở FB xem 2 bài thơ và phần nào đã hiểu sự việc.
Chúng tôi cùng nhất trí: Huyền Thư đã sai và ai cũng cảm thấy tiếc, vì sao cô ấy
lại làm như vậy?! Tập thơ mới được giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội đã vướng vào
chuyện “đạo” một câu thơ của nhà thơ Du Tử Lê, bị dư luận phê phán, bây giờ tiếp
tục “dính” chuyện đạo thơ của Thường Đoan thì Huyền Thư sẽ bị sốc mạnh. Anh
Phan Hoàng mới gọi cho chị Thường Đoan nói rằng rõ ràng trước mắt Huyền Thư đã
sai, nhưng với tư cách đàn chị trong giới văn chương chị nên độ lượng ứng xử nhẹ
nhàng giúp cô ấy. Tôi và anh Đặng Huy Giang cũng đồng ý với ý kiến của Phan
Hoàng.
Sau đó, qua trao đổi với tôi, Phan Huyền Thư nhờ tôi liên hệ
với chị Thường Đoan và thu xếp cuộc hẹn để sáng mai Huyền Thư bay vào gặp chị ấy.
Thư còn khẳng định đã đặt vé máy bay rồi, sáng mai bay vào TPHCM sớm. Sau đó
tôi chủ đông liên hệ nhà thơ Phan Ngọc Thường Đoan để xin ý kiến chị. Chị Đoan
đồng ý và còn khẳng định rằng, nếu Phan Huyền Thư biết lỗi, chị sẽ tiếp chuyện.
Câu chuyện diễn ra khá bất ngờ đối với chúng tôi. Mọi người
ai cũng cảm thấy tiếc cho Phan Huyền Thư, một người đa năng và có tâm huyết.
Anh Phan Hoàng cũng tắt máy, không liên lạc với ai nữa. Có lẽ anh thận trọng,
vì dù sao anh cũng đang giữ cương vị Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM, trong khi
tập thơ “Sẹo độc lập” của Phan Huyền Thư vừa nhận giải của Hội Nhà văn Hà Nội.
7h sáng hôm sau, vừa thức dậy, tôi đã thấy điện thoại mình có
4 cuộc gọi nhỡ của Phan Huyền Thư. Tôi gọi lại thì Thư với chất giọng buồn bã,
Thư nói, Hiệu à, Thư không bay vào TP.HCM nữa đâu, vì chị Đoan đã cho hàng chục
báo đăng rồi. Tôi hỏi, vậy bây giờ làm sao? “Tưởng chị ấy im lặng để dàn xếp
cho Thư, không ngờ chị ấy đã bung bét trên báo chí rồi Hiệu ạ!” – Huyền Thư
nghèn nghẹn…
Câu chuyện giữa chúng tôi chỉ có như vậy. Tuy nhiên không hiểu
sao trên FB của một vài cá nhân lại có thông tin suy diễn là nhà thơ Phan Hoàng
bênh vực cho Phan Huyền Thư như để cho “im lặng” vụ này. Im lặng làm sao được
khi chúng tôi còn ngồi với nhau thì trên FB đã lan truyền thông tin về việc Huyền
Thư đạo thơ và tôi lại cập nhật liên tục. Anh Phan Hoàng thừa biết điều đó,
nhưng vì thương tình bạn thơ trẻ là Phan Huyền Thư bị hết tai nạn này đến tai nạn
khác, có thể do vô tình hoặc cố ý của chính cô ấy, anh sợ nếu quá nặng tay thì
cô ấy không vượt qua nổi, nên có lời với chị Thường Đoan như đã nói trên.
Việc quy chụp cho nhà thơ Phan Hoàng bênh vực chuyện Phan Huyền
Thư đạo thơ nhà thơ PN Thường Đoan là hoàn toàn thiếu chính xác và không có cơ
sở. Tôi là người trong cuộc biết rõ điều này. Rồi từ đó vu khống, quy chụp “tư
cách” Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM của anh lại càng không đúng.
Phan Hoàng với tư cách Phó chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM không dại
gì nhảy vào bênh vực, bảo vệ, tiếp tay cho một người sai trái như vậy, càng
không thể có chuyện Phan Hoàng chỉ đạo cho chị Thường Đoan im lặng nếu truyền
thông hỏi tới, trong khi đó mạng xã hội đăng tràn lan, và Phan Hoàng cũng thừa
hiểu rằng mình không có quyền chỉ đạo nào đối với Phan Ngọc Thường Đoan trong vụ
này.
Tôi viết bài này vì sự trung thực của lòng mình, cũng vì sự
yêu quý đối với một người nhiệt huyết với văn chương, thấu hiểu nỗi đau của người
này và cũng là sự mất mát của người kia, chứ không có ý gì bênh vực nhà thơ
Phan Hoàng.
10/5/2020
Phùng Hiệu
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Đi tìm dấu xưa trong tranh mộc bản
Đi tìm dấu xưa
trong tranh mộc bản
Tranh mộc bản, hay tranh khắc
gỗ còn có tên tranh thủ ấn họa, có nghĩa là tranh in tay. Đây là
loại tranh được in từ những hình ảnh vẽ được khắc trước trên mặt gỗ. Tranh in bằng
tay ra nhiều bản để phổ biến mà không ghi tên tác giả. Nên có thể nói tác giả
tranh mộc bản là những nghệ sĩ dân gian.
Tết về nhớ bánh chưng xanh
Nhớ tràng pháo chuột, nhớ tranh lợn gà.
Hằng năm, cứ đến ngày cuối Chạp gần Tết Nguyên Đán, tiết trời
lành lạnh, vào những chiều cuối tuần, tôi có thói quen khoác chiếc áo gió cũ,
đi dạo một vòng qua chợ để xem không khí chuẩn bị đón Tết của bà con trong
thành phố. Ngoài đường phố, các loại tranh Tết được xuất hiện do những người đi
bán dạo đến từ các tỉnh miền ngoài. Trong các nhà sách, bên cạnh những chồng
sách mới phát hành bày la liệt trên kệ, là rừng lịch năm mới cùng lớp lớp tranh
Tết đủ loại với màu sắc sặc sỡ và hình ảnh sinh động, treo cạnh gian hàng trung
tâm cho tới cận bên vách, trông thật vui mắt. Thói thường thị dân cũng rất
thích mua tranh cảnh về trang trí cho sáng đẹp nhà cửa, chuẩn bị đón tiếp khách
và bà con, bằng hữu trong những ngày họp mặt đầu năm.
Nhìn vào rừng tranh Tết sum suê, tôi nhận ra đầy đủ sự hiện
diện những tác phẩm nghệ thuật: từ tranh phong cảnh quê hương, chân dung các
anh hùng hào kiệt, nhân vật nổi tiếng, đến cảnh chùa miếu, đền đài mang dấu ấn
lịch sử cho đến tranh loài vật, tranh minh họa những tấm gương trung, hiếu, tiết
nghĩa… Kỹ thuật thể hiện các chủ đề rất đa dạng: tranh sơn dầu, sơn mài, tranh
lụa, thêu đan, kết nối… theo nhiều khuynh hướng nghệ thuật khác nhau. Nhưng tôi
đã mất rất nhiều thời gian dõi mắt kiếm tìm mà vẫn ít thấy một chủng loại tranh
truyền thống từng hiện diện từ lâu trong kho tàng nghệ thuật dân gian. Nó vốn
mang giá trị cao đẹp như những áng ca dao dung dị, mượt mà và ý nghĩa
thâm thúy khôn cùng. Đó là tranh mộc bản.
Tranh mộc bản, hay tranh khắc gỗ còn có tên tranh
thủ ấn họa, có nghĩa là tranh in tay. Đây là loại tranh được in từ những
hình ảnh vẽ được khắc trước trên mặt gỗ. Tranh in bằng tay ra nhiều bản để phổ
biến mà không ghi tên tác giả. Nên có thể nói tác giả tranh mộc bản là những
nghệ sĩ dân gian. Không chủ yếu nhắm vào mục đích kinh tế, trước kia loại tranh
khắc gỗ được in ra để truyền lại cho con cháu hoặc họ hàng coi như là di sản
văn hóa của gia đình. Tôi được biết, nếu những tác phẩm mang nặng dấu ấn bàn
tay của nghẹ sĩ dân gian ấy có đem bày bán ở chợ quê hay các gian hàng nơi
thành thị trong những ngày Tết Nguyên Đán thì cũng bán với giá rất rẻ. Dù vậy,
tranh mộc bản cũng rất đẹp, nhìn kỹ, ta cũng trông thấy nó phấp phới sắc màu
trong sáng, tươi vui và điêu luyện những đường nét linh động bay bướm, xứng
đáng gọi là một bức tranh mỹ thuật. Do vậy, tùy theo sở thích và óc thẩm mỹ,
nghèo hay giàu, ai cũng có thể mua được ít nhiều bức mang về trang trí nhà cửa
trong những ngày xuân đến.
Hiện nay, chủng loại tranh dân gian này chưa có cở sở chắc chắn
để xác định rõ thời điểm hình thành bởi vì chúng ta ít nắm được đủ tư liệu về lịch
sử hội họa dân tộc. Tôi chỉ biết ngoài những bức bích họa và hình vẽ trang trí
hay khắc chạm ở cột đình chùa, đền miếu, lưu lại từ các thời đại trước, giới
nghiên cứu mỹ thuật hay văn nghệ sĩ cũng chỉ còn trông cậy vào sách vở, tài liệu
do phương Tây nghiên cứu, soạn thảo. Có người bảo tranh Tết dân gian xuất hiện
từ đời nhà Lý (1009-1225) – đầu thế kỷ 11- tiếp theo sau sự ra đời của
nghề in mộc bản (in sách bằng bản gỗ). Đến thời nhà Hồ (1400-1407), đã có loại
tiền giấy được in ra và phát hành trong dân gian. Từ đầu thế kỷ 16, thời nhà Mạc
(1527-1592) nhất là thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, loại tranh Tết và tranh Thờ thuộc
dòng tranh mộc bản đã xuất hiện khá nhiều, được bày bán rộng rãi trong nước từ
thành thị đến thôn quê miền Bắc và miền Trung. Nhớ lại, trong những năm của thập
niên 1950-1960 khi còn học trung học tại Cần Thơ, tôi được thầy dạy Hội Họa là
giáo sư họa sĩ Nguyễn Cường, tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương từ
Hà Nội mới vào nhận công tác, sau khi đi tham gia triển lãm tại Nhật Bản. Thầy
dạy mỹ thuật của tôi, phong cách rất phóng khoáng trong nếp dạy và cách ứng xử
với học trò. Ngoài những giờ học chính khóa trong trường, đám học trò mê hội họa
chúng tôi gồm có: Nguyễn Trung, Nguyễn Thanh, Nguyễn Đồng, Lê Tấn Lộc (1) …,
nhóm học trò ruột của thầy – luôn được họa sĩ Nguyễn Cường hướng dẫn đi vẽ
phong cảnh ngoài trời tại Xóm Chài (Hưng Phú ngày nay), Cái Răng, Mít Nài (chợ
An Nghiệp bây giờ)… Chính trong khoảng thời gian ấy, thầy có dịp trao đổi, bồi
dưỡng cho chúng tôi hiểu thêm về tranh mộc bản thường xuất hiện vào ngày Tết. Rất
may, trong những năm vào nghề sau này, một hôm tôi tình cờ đọc được nhận định
vô cùng tinh tế, sắc sảo của ông Lê Văn Hòe về tranh mộc bản:
“Tranh gà lợn đỏ như xôi gấc, vàng như màu lúa chín, xanh như
lá mạ, hay vàng như nghệ kho cá, xanh như cốm non, đỏ như ngô già, nâu như đất
cày, toàn những màu sắc quen thuộc thân mến từ bao nhiêu đời rồi. Những màu sắc
ấy in sâu vào tâm não nông dân, hết thế hệ này đến thế hệ khác thành những màu
sắc dân tộc. Những màu sắc xanh, đỏ chói rực của tranh Tàu tranh Tây chướng
quá, nó không mộc mạc, quen thuộc như những màu xanh đỏ, thô kệch mà điềm đạm,
thật thà của tranh lợn gà” (2). Sau này, khi dạy mỹ thuật, cùng các giáo
sư họa sĩ Nguyễn Thị Tâm (trường Đoàn Thị Điểm), Nguyễn Văn Ẩn (PTG) tại
Cần Thơ, chúng tôi tổ chức thi vẽ tranh Tết cho học trò vào mỗi độ xuân về nên
có cơ hội trao đổi nhau thêm về dòng tranh dân gian đậm đà tính chất dân tộc
này.
Đặc biệt nhất là trong cuốn sách của Maurice Durand (thuộc
trường Viễn Đông bác cổ) dày 500 trang đã cho tôi cái nhìn khá đầy đủ về tranh
mộc bản Việt Nam.
Do tính cách cơ bản nội dung và nghệ thuật có phần dị biệt về đường
nét (dessin), về cách bố cục và màu sắc so với tranh
sơn dầu, tranh lụa, sơn mài… nên không thể nhận định giống nhau về kỹ thuật giữa
hai chủng loại nghệ phẩm này. Riêng tranh mộc bản – và hầu hết tác phẩm hội họa
– nếu được quan sát kỹ, ta nhận thấy nét vẽ là yếu tố quan trọng vì đó là khởi
điểm cần thiết không thể thiếu trong sự hình thành bất cứ loại tranh vẽ nào. Do
vậy, có ý thức làm tốt trong việc chuẩn bị nét vẽ bước đầu này, ta sẽ gặp nhiều
dễ dàng, thuận lợi ở công đoạn tiếp theo là sắp xếp bố cục. Ví dụ như bức
mộc bản vẽ Cảnh trèo dừa: nhà nghệ sĩ dân gian dù chưa chắc đã tiếp thu kiến
thức chuyên môn từ trường mỹ thuật nào, vẫn sở hữu được những đường nét vô cùng
cô đọng, không thiếu cũng không thừa mảy may chi tiết nào khi diễn tả. Óc tiết
kiệm đường nét đến mức độ cực kỳ tinh tế của tác giả thật đáng trân trọng khôn
cùng. Ta hãy nhìn kỹ lại từ bộ mặt vênh vênh, thoáng vẻ ngây ngô của cô gái hứng
dừa cùng bộ mặt phớt tỉnh, ranh mãnh của anh thanh niên trèo dừa, tất cả ngần ấy
được sáng tạo bằng nét vẽ hết sức dung dị mà không kém phần linh động, hàm súc.
Bức tranh đã lột tả hết cái thần thái chân dung người phụ nữ nông thôn Việt Nam
qua từng ánh mắt, nét mặt, dáng điệu đậm tính dân tộc. Bức tranh Ông Nghè
vinh quy (3) dù vẽ hổ nhưng cũng bộc lộ rõ tính cách con người Việt
Nam qua hình ảnh cái kèn, võng lọng hay chiếc kiệu của ông Tiến sĩ tân khoa về
làng quê bái tổ khi nghiệp bút nghiên đã công thành danh toại. Với bức
tranh Đám cưới chuột, hình ảnh sinh động và vui mắt của những chú chuột thổi
kèn, khiêng kiệu, cầm đèn lồng đều mang bản sắc rất Việt Nam. Xem lại bức
tranh mộc bản của Hokusai – họa sĩ Nhật Bản, vẽ cảnh sóng bể trong đó chỉ duy
nhất có một làn sóng dâng lên rất cao, nhưng mang dấu ấn rõ nét là một ngọn
sóng Nhật Bản không một ai có thể nhầm lẫn với ngọn sóng Tàu, sóng Tây hay bất
cứ ngọn sóng nào trong tranh của họa sĩ khác.
Về bố cục, ở những bức tranh mộc bản trong giai đoạn đầu mới
xuất hiện, các nghệ sĩ dân gian trình bày vượt khuôn khổ nguyên tắc kinh
điển của hội họa mặc dù đường nét, hình thể con người, loài vật rất vững
vàng. Ví dụ ở bức tranh Đám cưới chuột. Vì khuôn khổ hạn hẹp của tờ
giấy vẽ mà đám cưới lại quá đông thành viên gia đình, họ hàng nhà chuột nối
đuôi nhau lê thê một hàng dài chưa dứt. Trước tình huống như vậy, nhà nghệ sĩ mạnh
dạn cắt bức tranh ra làm hai: một nửa nằm phía trên, một nửa còn lại nằm bên dưới
tờ giấy. Dù vậy, khách thưởng ngoạn xem tranh vẫn dễ cảm thụ vì bức họa như giữ
được sự thuần nhất. Nhìn kỹ lại bức tranh, ta có cảm tưởng đám cưới tiếp diễn đều
đặn, không hề bị trở ngại trong sự chia cắt, sắp xếp của nghệ sĩ. Tác giả những
bức tranh dân gian không mấy chú ý đến luật viễn cận (perspective)
ràng buộc bởi đường tầm mắt – đường chân trời (ligne
horizontale), điểm nhìn (point de vue) nên trong nhiều bức tranh mộc
bản, ta thấy người hay nhân vật chính thường được vẽ to hơn. Cũng ít tìm thấy sự
cân đối nằm trong luật cân đối – một quy luật vốn được người Việt Nam xưa nay
coi trọng và được áp dụng trong cách sắp xếp, bày biện đồ đạc trong nhà như bàn
ghế, bàn thờ ông bà, tủ sách, bộ sa-long… Dường như nhà nghệ sĩ ẩn danh muốn biến
sự bất cân xứng thành một sự cân xứng hòa hợp trong bức tranh. Trong những bức
tranh Tết hay tranh mộc bản, tác giả cũng không chú trọng đến việc ký tên mình
để lại bên dưới họa phẩm.
Ở những bức tranh mộc bản Việt Nam trước đây, họa sĩ thường
tác nghiệp với những màu sắc tự nhiên thật tươi thắm gọi là thuốc màu nước và mực
Tàu. Mực Tàu màu đen dùng để in những nét chính. Riêng màu in tranh mộc bản gồm
hai loại cơ bản. Một loại là thuốc bột khô có màu trắng lấp lánh (vỏ trai nghiền
thành bột), màu lam (xa cừ), kim nhũ vàng óng ánh (vàng nghiền), ngân nhũ trắng
óng ánh (bạc nghiền). Loại sau lấy từ chất liệu thiên nhiên thường gọi là phẩm
nhuộm. Bức tranh có bao nhiêu màu – thường sử dụng nguyên chất – thì phải in bấy
nhiêu lần trên nhiều bản gỗ khác nhau. Giấy in tranh mộc bản cũng
quan trọng không kém mực và màu, gồm có; giấy quyến, giấy bồi và giấy dó. Trong
đó, thông dụng hơn cả là giấy dó, làm bằng vỏ cây dó, một loại cây có nhiều
ở vùng Tuyên Quang, có tính dai, chắc, dễ thấm mực và màu. Loại giấy dó thông dụng
nhất là giấy điệp. Ngoài loại giấy hoa hiên và giấy kim nhũ hay ngân nhũ, loại
giấy điệp cũng thuộc loại giấy dó nhưng được làm từ vỏ trai, vỏ
sò nghiền nát nhừ thành bột trộn với hồ loãng. Khuấy bằng bột gạo (có pha
với ít vôi để chống gián và thằn lằn đến ăn làm hỏng tranh), sau đó quét lên mặt
giấy một lớp mỏng, đều. Sau khi phơi khô, màu trắng giấy điệp lấp lành những chấm
li ti của vỏ trai, vỏ sò trông rất sáng đẹp. Với loại giấy điệp này, người ta
phải in bằng màu nguyên chất, vì nếu pha nước, màu sẽ không thấm vào giấy. Sử dụng
màu nguyên thủy có lợi là làm tăng phần tươi vui thích hợp với tính cách dí dỏm
của bức tranh với mục đích trang trí để nói lên chủ đề, hơn là diễn tả bài bản
đúng theo phong cách mỹ thuật. Xem lại nhiều bức tranh mộc bản tiêu biểu, ta dễ
nhận ra những màu sắc với thể chất thô sơ của nó rất hòa hợp với những đường
nét ngây thơ ở bản khắc gỗ và tính chất đặc biệt của giấy điệp vốn gồ ghề.
Ví dụ, sự thật thà chơn chất như màu đỏ cánh sen của chiếc yếm, màu xanh
hoa lý ở chiếc thắt lưng của chị nông dân đã thể hiện rõ nét đặc trưng của
tranh mộc bản Việt Nam. Trong khi các bức mộc bản Trung Quốc, màu sắc có vẻ kín
đáo, nghiêm khắc mà tế nhị, của Nhật bản thì màu sắc óng chuốt ra vẻ đài các,
hào hoa bay bướm như tơ lụa, gấm vóc trên những chiếc áo ki-mo-no của kiều
nữ xứ sở hoa anh đào.Nhìn chung về kỹ thuật, được biết đến lâu và nổi tiếng nhất
là tranh mộc bản của làng Đông Hồ (ngày xưa có tên là làng Mái, nằm dọc
bên bờ sông Đuống – tỉnh Bắc Ninh). Ta thử nghe chàng trai làng Đông Hồ cất lên
tiếng hát quan họ ướm tình, rủ rê các cô gái ở làng khác: Hỡi cô thắt lưng
bao xanh/ Có về làng Mái với anh thì về/ Làng Mái có lịch có lề/ Có sông tắm
mát có nghề làm tranh. Rồi đến tranh của Hàng Trống – Hà Nội,
tranh mộc bản Kim Hoàng – ven đô Hà Nội… hoặc ở làng Sình (Huế
) chuyên về tranh thờ… Mỗi bức tranh mộc bản của Việt Nam đều được thực hiện với
một kỹ thuật riêng biệt đậm sắc thái Việt Nam. Đó là tính giản dị, chất phác,
chan chứa tinh thần lạc quan trong sáng, không hề thấy bị ảnh hưởng bởi yếu tố
nghệ thuật nước ngoài.
Với tính cách đặc biệt đó, nội dung những bức tranh mộc bản của
ta thường mang đến cho công chúng và khách thưởng ngoạn nghệ thuật nhiều cảm nhận
thoải mái, thú vị. Bởi vì đa phần tranh dân gian loại này đã lột tả được tinh
thần trào lộng vui tươi của người Việt Nam – tính hài hước vô tư không có ác ý
thể hiện qua sự châm biếm rất đổi nhẹ nhàng. Mỗi bức tranh Tết là một thông điệp
đứng đắn về nhân sinh quan, một biểu tượng trong sáng về cách ứng xử của con
người trong xã hội lành mạnh mà người xem không thể ngăn được tiếng cười hồn
nhiên. Bức Lão Oa giảng độc (Thầy đồ cóc dạy học) mang tính tượng
trưng như một bài thơ ngụ ngôn (fable) của thi sĩ Pháp La Fontaine (1621-1695).
Bằng nét vẽ đơn giản, tự nhiên nhưng bức tranh bao hàm một triết lý giáo dục
khuôn mẫu của người xưa: tình thầy trò cao quý. Con cóc lớn là lớp trưởng đang
thay thầy, quản lý lớp, trong khi một con khác đang bưng mâm trà đứng cạnh hầu
thầy rất chu đáo. Trong bức Đám cưới chuột, bên dưới là cảnh cưới xin thời
xa xưa có cờ, xí, kiệu… nhưng ở trên là một đám chuột khác đang lo lót cho mèo,
van xin chú mèo để đám cưới được cử hành êm đẹp. Mèo có thể là hình ảnh tiêu biểu
muôn đời cho mô hình tiêu cực, bọn cường hào ác bá. Bức Tranh Lợn minh
họa một đàn heo con quay quần bên heo mẹ đang ăn cám. Chủ đề bức tranh nói lên
sự sung túc, ấm no của một xã hội thanh bình, thịnh vượng. Lợn gà đông con nhiều
cháu, ăn uống no đủ, gia đình hòa thuận, yên vui. Ngay cả hình ảnh cái ‘xoáy’
trên lưng con heo mẹ tưởng đâu chỉ là để trang trí đơn thuần, thực ra cũng mang
ý nghĩa triết lý “âm dương hòa hợp” của cuộc sống thái hòa trong mơ ước muôn đời
của tiền nhân. Đến những bức Đánh ghen, Đánh đu tiên, Hái dừa… bức nào
cũng có cái hay trong nội dung và cái đẹp ở sắc màu.
Hầu hết tranh mộc bản đều hàm ý cổ xúy cho một tư tưởng hay,
một nếp sống đẹp, không bao giờ có ý nghĩa giải trí nhảm nhí dù tác giả chẳng mấy
chú trọng về bút pháp, kỹ thuật. Bên cạnh tranh mộc bản dân gian xuất hiện vào
những ngày xuân, còn có một loại tranh Tết khác gọi là tranh Tứ bình gồm
4 bức khớp nhau một bộ. Chẳng hạn tranh Tứ bình diễn tả nét đặc trưng của 4
mùa, mỗi mùa bằng một loài hoa: lan, sen, cúc và đào, ngụ ý ca ngợi cảnh thiên
nhiên tươi đẹp. Tranh đề cao nét phong nhã hào hoa của con người: cầm, kỳ, thi,
họa, bày tỏ sự trân trọng trước những trang phong lưu tài tình muôn mặt. Lại
còn thêm bộ tranh mô tả về nỗi tai hại chết người của Tứ Đổ tường: tửu, sắc,
tài, khí… như lời cảnh báo nghiêm ngặt khuyên mọi người tránh xa.
Nhân ngày đầu năm, trong không gian sáng đẹp mát dịu, cây cỏ
thắm tươi, lòng người phơi phới, ta tạm lắng quên cuộc sống bon chen, dành đôi
phút để du xuân. Không bỏ qua cơ hội xem tranh Tết, ta đi tìm lại dấu
xưa: tranh mộc bản. Đi vào vườn tranh Tết, tôi có cảm tưởng mình đang làm
một cuộc hành hương về nguồn. Những bức tranh mộc bản Việt Nam có giá
trị tích cực như những bức chân dung về nhân cách, đạo lý của người tốt trong
xã hội. Đó là những câu ca dao ý vị dệt bằng đường nét cô đọng, sắc màu tươi thắm
mang ý nghĩa những bài học xử thế của người xưa. Đẹp kín đáo như vườn hoa cổ
tích dân tộc, không kém vẻ diễm lệ đáng yêu như phong cảnh non sông hoa gấm của
đất nước quê hương, nhất là trong tranh làng Đông Hồ: Quê hương ta nếp lúa
thơm nồng/ Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/ Màu dân tộc sáng bừng trên
giấy điệp… (Thơ Hoàng Cầm). Tranh Tết nói chung và tranh mộc bản dân gian
nói riêng, là mô hình di sản văn hóa vô giá của người xưa còn lưu lại. Trong những
ngày đầu năm đón Tết vui xuân, thưởng thức vẻ đẹp thấm kín của những bức tranh
mộc bản, ta có dịp hiểu về nghệ thuật của người xưa và cảm thông nếp sống tình
cảm của tiền nhân. Đó những tác phẩm dân gian mang tính giáo dục trong sáng cao
đẹp, thấm đẫm tinh thần hiếu học, nghĩa thầy trò, bằng hữu ở học đường, tình cảm
cha mẹ, anh em gia đình, tình yêu quê hương, dân tộc, lòng yêu kính anh hùng,
lãnh tụ… luôn chứa đựng tính nhân văn sâu sắc như những trang Quốc văn
Giáo khoa thư, rất cần cho mọi người ở bất cứ thời đại không gian nào trong xã
hội ta hôm nay.
* Tham khảo:
Tranh cổ Việt Nam – NXB Văn hóa Thông tin,
Hà Nội – 1995…
1. L’École francaise d’Extrême-Orient à Hanoi – Philippe
LeFailler (Hà Nội-1900-2000)
2. Từ điển Mỹ thuật (Hà Nội)
3. Tạp chí Mỹ thuật (Hà Nội)
4. Tạp chí Mỹ thuật (TP. Hồ Chí Minh, sau 1975)
5. Tạp chí Kiền thức Ngày nay số 908, ra ngày 20.10.2015 (TP. Hồ
Chí Minh)
6. Các tư liệu mỹ thuật về tranh mộc bản bằng tiếng Anh, Pháp, Đức,
Hoa, Nhật, Hàn…
7. Kỹ thuật và Mỹ thuật tranh Mộc bản Việt Nam- Nguyễn Khắc Ngữ,
Canada – 1988
8. Nghệ thuật tạo hình dân gian Việt Nam – Huỳnh Hưu Ủy, Hồng
Lĩnh Hoa Kỳ – 1993
9. Bài viết của tác giả, họa sĩ : Thái Tuấn, Bửu Hồ (Làng Huệ)
10. Đặc san Xuân Nắng Mới 1973 - trường trung học Đệ Nhị cấp Cái
Răng, Cần Thơ.
11/5/2020
Đan Thanh
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Chân dung người lính trong "Tây Tiến" của Quang Dũng và "Đồng chí" của Chính Hữu
Chân dung người lính trong "Tây Tiến"
của Quang Dũng và "Đồng chí" của Chính Hữu
Quang Dũng và Chính Hữu đều là
những nhà thơ cách mạng nổi tiếng của dân tộc Việt Nam. Đều là những người nghệ
sĩ tài hoa, và có nhiều tài năng trong phép sử dụng ngôn ngữ và các nét điển
hình trong phong cách nghệ thuật, Quang Dũng và Chính Hữu đã làm nên những giá
trị to lớn trong những tác phẩm của mình.
Người lính là hình tượng trung tâm trong văn thơ thời kháng
chiến, ở mỗi thời kì lịch sử của những cuộc chiến tranh, người lính trong đời sống
thực tại cũng như trong thi ca đều có những nét khác nhau. Đù cuộc kháng chiến
chống Thực dân Pháp có hai loại người lính: một là người lính xuất thân từ nông
dân như trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu; hai là người lính xuất
thân từ tầng lớp tiểu tư sản thành thị như trong bài thơ Tây Tiến của
Quang Dũng thì cả hai đều có chung lí tưởng yêu nước, đánh giặc, cùng thể hiện
trách nhiệm xả thân vì tổ quốc, vì nhân dân. Đó chính là vẻ đẹp về chân dung
người lính sẽ được chúng ta đề cập, bàn luận đến trong hai bài thơ nổi tiếng
là Tây Tiến và Đồng chí.
Chân dung người lính trong bài thơ Tây Tiến được
miêu tả bằng cảm hứng lãng mạn. Bút pháp lãng mạn thường thể hiện bằng cái cao
cả, phi thường. Khung cảnh, hoạt động của người lính cũng là khung cảnh phi thường:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Những độ cao, những vực thẳm hay những heo hút chỉ làm tăng vẻ
hào hùng cho người lính chứ không đe dọa các anh. Và thiên nhiên còn ẩn chứa cả
những bí mật, những hiểm nguy vẫn không hề gây sợ sệt cho người lính:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người”
Hình ảnh người lính cũng thật là phi thường. Người lính Tây
Tiến gần với người hiệp sĩ vì nghĩa cả lớn lao, nhưng họ là những con người bằng
xương bằng thịt đang sống, chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ của những ngày đầu
kháng chiến:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”.
Miêu tả những gian khổ, khó khăn của người lính ở rừng rất
chân thật, thiếu ăn, thiếu thuốc, sốt rét… đến nỗi rụng hết tóc. Nhưng bút pháp
lãng mạn không làm yếu người lính mà càng oai hùng đầy tự hào. Cái chết cũng bi
hùng, đượm tinh thần hi sinh khí phách anh hùng của hiệp sĩ:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
Người lính Tây Tiến mang theo nét hào hoa của những thanh
niên đất Hà thành lên đường chiến đấu thời bấy giờ, trong đó có nhà thơ Quang
Dũng. Tình quân dân cũng nhuốm màu sắc lãng mạn:
“Doanh trại bừng lèn hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”.
Con người như lạc vào thiên nhiên thơ mộng, lạc vào xứ lạ,
phương xa thường thấy trong cảm hứng lãng mạn.
Giấc mơ của người lính Tây Tiến cũng là giấc mơ của những
thanh niên Hà Nội tràn đầy tinh thần lãng mạn:
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Nhà thơ Quang Dũng đã mạnh dạn xây dựng chân dung người lính
thời kháng chiến bằng một tình yêu nồng nàn. Người lính sẵn sàng hy sinh vì lợi
ít dân tộc, quê hương. Với ngòi bút tài hoa của tác giả, hình tượng người chiến
sĩ hiện lên thật đẹp đẽ và lãng mạn.
Nhà thơ Chính Hữu
Hình tượng người lính trong bài thơ Đồng chí của
nhà thơ Chính Hữu được tác giả mô tả với bút pháp hiện thực. Người lính hiện
lên với tất cả các dáng vẻ chất phác, lam lũ của người nông dân mặc áo lính. Họ
là người của nhiều miền vùng, đến từ những làng quê nghèo đói, gặp nhau trong
lí tưởng cứu nước:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Anh với tôi đôi người xa lạ
Từ phương trời chẳng hạn quen nhau”
Từ tình yêu giai cấp, tình yêu nước, lòng căm thù giặc nên họ
đã nâng lên thành tình đồng chí, một thứ tình cảm mới mẻ:
“Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí!”
Tấm chăn đắp lại thì tâm tư họ mở ra, họ hiểu rõ hoàn cảnh của
nhau, thông cảm lẫn nhau:
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”.
Ở ngoài chiến trường mà nghe rõ gió lung lay từng gốc cột của
ngôi nhà mình, người lính thương yêu gia đình, quê hương biết bao nhiêu, nhưng
trước hết họ phải vì nghĩa lớn, nợ tang bồng. Về tinh thần hiệp sĩ này, họ lại
rất gần với người lính Tây Tiến của Quang Dũng.
Họ sẵn sàng chịu đựng những gian khổ, thiếu thốn tột cùng của
cuộc kháng chiến:
“Áo anh rách vai
Quần tôi có vài miếng vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”Tình đồng chí đã nuôi dưỡng tâm hồn của những người lính và họ
đã biến nó thành sức mạnh chiến đấu. Một chi tiết trong thơ: chiếc áo
trong Tây Tiến của Quang Dũng nói là áo bào có tính chất hiệp sĩ còn
trong Đồng chí của Chính Hữu nói áo anh rách vai rất hiện thực.
Từ tình thương yêu giai cấp, cùng tham gia kháng chiến, họ đã
cùng vươn lên đỉnh cao của tình đồng chí, đồng đội:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”
Chung nhau một cái chăn là một cặp đồng chí; áo anh rách vai,
quần tôi có vài miếng vá là một cặp đồng chí; đêm nay giữa rừng hoang sương muối
đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới là một cặp đồng chí. Và cũng rất lạ, súng và
trăng cũng là một cặp đồng chí: “đầu súng trăng treo”. Súng và trăng là biểu hiện
cao cả của tình đồng chí.Sự kết hợp yếu tố hiện thực tươi rói với tinh thần lãng mạn
cách mạng là vẻ đẹp riêng của chân dung người lính trong bài thơ Đồng chí của
Chính Hữu.
Như vậy, với con mắt tinh tế, một sự trải nghiệm về cuộc
kháng chiến của dân tộc, Quang Dũng và Chính Hữu – hai thi sĩ cách mạng đã phác
họa chân dung người lính trong thời kỳ đấu tranh chống Thực dân Pháp thật oai
hung, cao đẹp, giàu lòng nhiệt huyết, yêu nước, chấp nhận hy sinh để bảo vệ nước
nhà. Hình tượng người lính hiện lên với sự lãng mạn như trong bài thơ Tây
Tiến và cũng rất hiện thực như trong bài thơ Đồng chí. Tất cả những đều
ấy đã tô điểm cho phẩm chất của người chiến sĩ, phẩm chất của bộ đội cụ Hồ.
Càng đọc hai bài thơ này, chúng ta càng thắm thía chất thơ trữ tình chính trị,
khẳng định tài năng sáng tạo độc đáo của Chính Hữu và Quang Dũng.
11/5/2020
Trần Thanh Xem
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Hình xăm của gió
Hình xăm của gió
“Thơ Khosiyat Rustam là khu vườn
bí ẩn hay một thế giới? Đó là câu hỏi liên tục tra vấn tôi khi đọc thơ chị. Thơ
Rustamova là một khu vườn, bởi tôi thường xuyên nghe rõ tiếng gió thổi qua những
tàng cây, tiếng con chim lạ chỉ có ở Uzbekistan hót vang trong đó. Cả những chiếc
lá khô im lìm dưới ánh trăng, lăn qua từng tảng đá. Những bông tuyết nhỏ xíu
rơi xuống xuyên nứt mặt đất… Trong khu vườn ấy luôn giấu kín những tâm sự, giấc
mơ, khát vọng, tình yêu của Rustam (tên thân mật của Rustamova). Và, chị đã sống,
đã hạnh phúc và cả nếm trải những khổ đau, mất mát trong khu vườn ấy. “Hỡi Thượng
đế, có điều con ao ước:/ Ít nhất cho con có được sức mạnh cỏ cây”. Rustam đã thốt
lên như vậy trong khu vườn tuyệt đẹp. Khép lại từng trang thơ của chị, tôi như
người cố ý bước ra khỏi khu vườn. Nhưng lạ thay tôi vẫn thấy những bông tuyết
thêm rơi dày và gió càng thổi mạnh trong tâm trí. Thơ Khosiyat Rustam đã dẫn
tôi theo con đường riêng vào thế giới, đi trong thế giới”
(Mai Văn Phấn giới thiệu)
Gió đang thổi mạnh
1.
Anh ở đâu suốt những năm qua?
Phải chăng cuộc đời là giấc mơ dài, ảm đạm?
Tại sao anh không thể gõ cửa nơi em lần cuối
Chỉ một lần khi anh có cơ hội đi qua?
Em giản đơn không thể ở lại thế giới này thêm nữa.
Em đã khoác áo và sẵn sàng ra đi!
Nhưng anh vẫn ở phía sau cuộc đời em
Như người dẫn chương trình tiễn em vào vở diễn.
2.
Em giã biệt đời sống lúc này
Giống bức vẽ mệt mỏi của họa sĩ.
Có thể một chú chim, nhưng đậu trên trán em,
Hay sữa mẹ tươi nguyên nhưng làm em muốn ói
Ai mà em có thể hờn giận?
Ai mà em có thể than phiền?
Em nên ở đâu trong thời điểm này?
Có phải đó là lý do vì sao bài thơ này mang nỗi đau cắn rứt?
Và có lẽ tại sao nó vô vị hoàn toàn?
3.
Khi nào em sẽ lại đến đây lần nữa?
Chuyến viếng thăm của em ý nghĩa thế nào
Em mãi mãi run sợ vì sự căng thẳng
Như từng đợt sóng biển khơi…
Giá mà em được phân tán
Trong thế giới lấp lánh này
Như túp lều của dân gipxi lang thang,
Như những ký tự trong cuốn sách Hoa ngữ.
4.
Cơn gió đến vô tình rồi nhanh chóng ra đi…
Ô cửa sổ của em than dài và lại hít thở.
Gió lững thững bất cẩn đi xuống hành lang,
Khẩy nhẹ trái tim em mong manh về với gió.
Gió đưa em đi đâu, tới con phố nào,
Làm đảo lộn cuộc sống em từng ở?
Nhưng nỗi sợ của em phân tán tựa sương khói dưới chân.
Và vĩnh viễn không còn dấu tích.
Ôi, ngày hôm đó em yêu anh đến nhường nào!
Những tán cây trên phố và ánh trăng đã nhìn thấy cả!
Những tia ánh bạc đang chỉ lối đưa đường,
Trái đất thẳm sâu hơn em khi em sa ngã…
Tâm hồn em bối rối, trái tim em run rẩy
Cửa sổ tâm hồn em bỗng bật tung ra.
Nhưng may mắn thay, anh ở trên giải thoát
May mắn thay người đó chính là anh.
5.
Đôi khi ngọn gió đi qua
Và quay trở lại.
Nó cuộn tròn đôi mắt thất thần,
Tựa những trái nho giao chuyển qua ngày.
Những chiếc lá khô của chiếc tổ chim
Mục nát nằm sâu trong vũng nước.
Những hạt hạnh nhân trống rỗng lấp đầy nguồn sống
Của mùa thu vừa mới đi qua.
6.
Bầu trời u tối, giống tố càng đen hơn.
Nhìn sang phía bên kia là điều không thể.
Toàn bộ thế gian giờ bóng tối lấp đầy;
Căn nhà lớn của anh cũng dường như biến mất.
Lâu nữa mới bình minh và gió đang thổi mạnh.
Những chiếc lá khô sẽ không thể phục hồi.
Khi mùa hạ quay về, những thân cây nương tựa
Vào mặt đất của mùa thu khép lại trong vườn.Trăng đang lên. Mặc dù em có thể níu chặt?
Có lẽ ánh trăng sẽ nán lại phút giây.
Và vầng trăng tỉnh bơ như quên phải trôi đi
Trên mái ngói nhà anh đứng như giăng mắc.
7.
Em muốn hét lên nhưng lại giữ yên.
Em mãi rút lui về phía sau sân khấu.
Nhưng bông tuyết nhỏ đang rơi như không hề sợ hãi
Nó làm nứt xuyên mặt đất tự bao đời.
Nó tìm thấy ý chí và sức mạnh?
Không e sợ tảng đá, cơn mưa hay ngọn gió
Nhưng có đôi bàn chân nặng nề đứng đó
Có thể giậm thêm lên mặt đất đôi lần.
Em đang bùng cháy. Trái tim em rực lửa.
Ngày tận thế mở ra thiêu đốt tâm hồn!
Hỡi Thượng đế, có điều con ao ước:
Ít nhất cho con có được sức mạnh cỏ cây.
8.
Một chiếc lưỡi không thể tồn tại,
Nó chỉ không biết hành xử bao giờ.
Một chút không tưởng để giữ thanh sạch
Những giọng nói vũ trụ ban cho.
Những cánh đồng và thảo nguyên có thể chạy điên cuồng,
Nhưng hòn đá ngủ như trôi trong thanh thản.
Và những loài cây giữ gìn nguồn gốc vững bền
Luôn chống lại hình xăm của gió.
9.
Anh đang nhìn đăm đăm! Có điều chi muốn nói?
Thấy bóng anh trên sàn nhà ngay trước mắt tôi.
Ánh sáng của anh dù chiếu qua cửa sổ nơi tôi
Dù anh cố gắng thế nào, tôi vẫn nhìn thấy.
Như vậy mỗi ngày từ bầu trời bình minh,
Trước khi cơn gió thoảng buổi sớm bắt đầu trỗi dậy,
Chẳng chút nghi ngờ, ánh mặt trời rực rỡ
Chạm mỗi lần vào khung cửa của tôi.
Những khu vườn dành trọn tình yêu
Cho dài rộng xa xăm thế giới.
Nhưng vết nhơ từ ánh mặt trời
Trong ô cửa kính mà tôi đã lau chùi cẩn thận.
TIỂU SỬ NỮ THI SĨ KHOSIYAT RUSTAM
Khosiyat Rustam là một trong những nhà thơ đương đại uy tín của
U-zơ-bê-ki-xtan. Chị sinh năm 1971, tại làng Olmos thuộc quận Chust, vùng
Namangan. Rustam tốt nghiệp Đại học Quốc gia U-zơ-bê-ki-xtan, đã xuất bản
một số tập thơ, tiêu biểu như “Ngôi nhà trên bầu trời” (1997), “Giải
cứu” (2003), “Lớp phủ” (2004), “Một bức tường” (2006), “Tháng
8” (2008) và “Chiếm đóng” (2011)… Từ năm 2015, chị là tổng
biên tập báo “Thế giới sách”. Thơ của Khosiyat Rustam đã được dịch ra nhiều
thứ tiếng trên thế giới, được ấn hành tại các quốc gia như Cô-lum-bia, Nga, Hoa
Kỳ và các nước khác. Khosiyat Rustam đã tham gia một số lễ hội thơ quốc tế,
đoạt giải trong liên hoan thơ quốc tế Thái Lan năm 2018. Chị đã dịch thơ của
các tác giả Marina Tsvetaeva, Eugene Eutushenko, Anna Akhmatova, Boris
Patertak, Rasmiye Sobir, Ramiz Rovshen, Nigar Refibeyli, Rza Khalil, Neguib
Fazil Kisakurak, Khusnu Daglarja, nhiều bài thơ của các nhà thơ Nga, Thổ Nhĩ Kỳ
và Ailen từ tiếng Nga sang tiếng U-zơ-bêk. Khosiyat Rustam là thành viên của
Hiệp hội Nhà văn U-zơ-bê-ki-xtan, Hiệp hội Nhà văn A-déc-bai-dan. Khosiyat
Rustam đã được trao Huy chương “Shukhrat” (Ngọn lửa) vào năm 2004. Hiện chị sống
với chồng là nhà thơ – nhà văn Kuchkor Norkobil ở Ta-sơ-ken.
13/5/2020
Khosiyat Rustam
Vũ Việt Hùng dịch
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Cái Tôi của Phạm Duy trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)