Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2024

Xóm chợ - Truyện ngắn của Võ Văn Trường

Xóm chợ - Truyện ngắn
của Võ Văn Trường

Đám tang Năm Nhạc rình rang cả chợ. Nghe đâu có rước cả mấy sư nữ một ngôi chùa đâu đó đến tụng niệm, cầu siêu. Lão Quành gánh nước thuê ở chợ đưa mấy thông tin làm đám thanh niên hay ngồi ở chiếc bàn gỗ tạp góc chợ chuyên úp mặt, úp mày vào mấy trò sát phạt đỏ đen thêm tò mò. 
– Bà ấy đi mà cứ mắt tròng thao láo, phải vuốt mấy lần mới xuôi xuôi.
– Miệng thì cứ năm, mười phút máu ở đâu rịm lên đỏ cả mấy tờ vàng mã.
– Nghề sát sanh. Nhân quả dữ thật… lâu nay cứ nghĩ nói chơi, ai ngờ…
– Mấy chú giỏi tán chuyện. Lão Quành to toe.
– Sát sanh cái gì, giết bò, giết heo đấy chứ. Cả đám thanh niên cười khùng khục, có vẻ thích thú cách nói năng của lão Quành.
– Lào ngồi xuống đây trò chuyện. Ừ ngồi thì ngồi. Đã đi bữa giỗ chấp chi  mất toi bữa cày. Tui thì cày gánh nước, thêm vài chục nghìn, dễ không mấy chú đây bớt đi chai rượu…Lão cười he he, đầy hàm ý.
Một thanh niên ngồi ngoài bàn rút ngay tờ hai chục ngàn chừng như nhét vào miệng lão. Lão lại he he…
– Bịt mồm này lại thì lấy ai kể chuyện… Cả đám lại cười khùng khục.
– Thường thì luật nhân quả hay đến muộn có khi người làm những việc ác nhưng phải rất lâu sau nhân mới hình, nhưng khi nó đến thì người ta mới nhận ra đó là quả báo. Lúc đó chỉ còn biết kêu trời chứ chẳng ai có thể cứu được cả.
Bà Năm Nhạc tên thật ít ai rõ, Năm Nhạc là tên người chồng hờ của bà. Nói chồng nhưng cũng chỉ qua qua lại lại, chứ nghề chính của ổng là cầu cơ, đề đám…
Thị tứ Tân Bàn này thành lập, chợ Mới ngã ba ra đời, hôm trước hôm sau, thì lò mổ của Năm Nhạc xuất hiện. Ngày đó, dân cư còn thưa thớt, mỗi ngày lò mổ chỉ thịt vài con heo, con bò… rồi ngày một tăng lên.  Chưa đủ tuần, chợ Mới đã hình thành đám cư dân cứ tạm gọi là dân xóm chợ. Ba, bốn giờ sáng heo, bò ra thịt thì cũng lúc miếng lòng nóng đã cắt ra thớt, chai rượu gạo đã rót ra ly… nên cơn say ở chợ bắt đầu có khai sinh sớm nhất giữa cái làng quê xưa nay vốn rất yên ả.
Lò mổ ở góc chợ. Còn chợ quê vùng bán sơn địa này cũng chỉ vài chục gian hàng. Đến chợ, người bán hàng dỡ hàng rồi bày ra hàng hóa của mình: măng, dầu, muối, cá khô, vải, giấy… từ dưới xuôi mang đến, từ các địa phương khác mang về. Trong những gian hàng được xây cất thành từng ngăn như dưới xuôi là các loại hàng hóa của những người chuyên buôn bán lớn. Dọc hai bên đường đi quanh chợ là hàng của bà con bán nhỏ lẻ, thường là bà con dân tộc thiểu số ba xã vùng cao của huyện. Những cây măng, những xấp vải, những cuộn chỉ màu được đặt trong gùi… thú là gian hàng ăn, có mì quảng, bún giò, cháo lòng, tiết canh… một hai bàn cuối dãy bao giờ cũng dành riêng cho khách được coi “người nhà” của chợ. Nơi đó ổn định, có rượu, thi thoảng là bia… đĩa lòng…
Lão Quành đầu quân cho Năm Nhạc từ những ngày đầu chợ Mới ra đời. Đời lão buồn hơn một khúc bolero. Lão từng nghĩ đến cái chết, nhưng đến với Năm Nhạc, lão biết ham sống, yêu đời. Bởi vậy, tin Năm Nhạc mất, lão cười he he như quán tính nhưng nước mắt lão lại giọt giọt. Lão khóc như thể 50 năm mới được khóc.
Thường thì xong vụ gánh nước, lão ra ngồi làm ly rượu, tô cháo, khi bát mì. Lão thu thập tất cả các thông tin và cũng là người phát đi thông tin từ chợ ra bên ngoài sớm nhất.
Đám dân xóm chợ Mới coi Năm Nhạc là chị đại khả kính. Bởi Năm Nhạc vừa là bà chủ cầm quân, thanh toán tiền công, thưởng phạt và nếu cần bà hét ra lửa mấy tay chậm việc, “lóng ngóng như vợ đóng dập chim”. Câu cửa miệng ấy của chị Năm làm mấy tay thanh niên vừa sợ vừa thú. Là phụ nữ nhưng Năm Nhạc đảm trách toàn bộ công việc khó nhất để lò ra thịt, đó là  gõ nhát búa vào đầu con bò hay xắn quần lên quá bắp vế sồ sộ như thân chuối cây, đặt một chân vào chuồng heo đang nhốt thịt, kéo từng con một ra, thọc dao vào cổ… còn lại là phần việc của đàn ông.
Lý lịch Năm Nhạc xuất thân ở đâu và cả hai đứa con vẫn là điều bí ẩn, chỉ mỗi lão Quành là cặn kẽ. Lão biết con gái lớn của Năm Nhạc là Mây học hết 12, đậu đại học lên thành phố rồi không thấy về. Thằng Án em con Mây học giữa lớp 10, bỏ nhà, đàm đúm, hút sách… hơn năm nay cũng biệt tích.
– Đấy, có con trai, gái đầy đủ mà mẹ mất không đứa “mũ gai, đai chuối, chống gậy”. Quả thật là buồn.
Việc chôn cất xong xuôi, gần 11 giờ trưa mấy người thân làm việc ở lò mổ mới quay lại ngôi nhà Năm Nhạc bên lò mổ ở chợ hương khói.
*
Khi mọi người ra về cả, lão Quành mới lại bàn thờ lặng nhắm kỹ càng ảnh thờ hình Năm Nhạc. Khói nhang phảng phất mờ mờ, lão thột dạ khi thấy thấp thoáng như có hình bóng lão trong đôi mắt bà Năm. Trời xui đất khiến, cái đầu rét rỉ, bụi đất lèm hem của lão lại nhớ nhớ quên quên.
– Ông ở đây giúp tôi, nước non, mỗi buổi sáng năm bảy gánh chi thôi.
– Giếng cách đây mấy chục thước.
– Chiều tối quét dọn vệ sinh chỗ lò mổ nhắng cái là xong.
– Cơm nước cứ ra quán trước.
– Khi mô đau ốm thì nghỉ. Tiền nong không lo.
Bà ấy sòng phẳng, gai góc nhưng theo ông là rất có tình. Tự dưng lão thấy trách nhiệm hương khói lúc này là của lão. Hai đứa con Năm Nhạc chúng nó lưu lạc đây đó nhưng rồi sẽ hay tin để về.
*
Tối đó thằng Án con út Năm Nhạc quay về thật. Mẹ hắn đã chôn cất xong, hắn hối hận lắm, là thằng con trai mà mẹ mất… Chừ chỉ mỗi ngồi nhà để khóc. Lão thấy cũng thương cho nó thật.
Lúc lão về gánh nước cho Năm Nhạc, thằng Án mới lớp 5. Nó khá thân thiết và mến lão bởi nhà chỉ có mẹ và chị gái nhưng mẹ thì cấm đoái hoài gì nó.  Công việc mẹ nó bắt đầu hằng ngày từ khi nó còn mê man trên gường, thi thoảng tiểu đêm nó dậy, lúi húi tè vào bụi chuối nhưng đâu ngờ lại tè lên gường.
Thằng Án nhớ mãi lần bị mẹ phát hiện, bà trừng mắt, giật cái chăn lôi qua cửa sổ. Không có chăn quấn, nó còng người nhưng không giấu được đôi tay thừa thải. Cái rét khuya về sáng làm nó không tài nào ngủ được. Lại thêm cạnh đó, rõ to tiếng huỳnh huỵch, tiếng heo éc… liếc mắt ra ngoài lò mổ cách mấy bước chân nó thấy máu me, phân, rác lều bều. Hắn lại nhắm mắt.
Những lúc như thế chị Mây, nhẹ nhàng đưa tay vào lưng xoa cho nó ngủ. Bàn tay chị như có phép lạ, chỉ thoắng cái hắn đã chìm vào giấc ngay. Có hôm, chị Mây bảo, sao ngủ lắm thế, có thích nghe chị kể chuyện không.
– Mà chị kể chuyện gì kia chứ… em chúa thích chuyện ma…
– Chuyện ma lại sợ sao ngủ được. Thế là Mây lại kể về lão Quành. Thằng Án cứ xít xoa, thế rồi sao nữa chị…
– Mai chị lại kể tiếp.
Đã thành quen, đêm nào Mây bận rộn chuyện gì, hay mệt không kể được thằng Án lại thấp thỏm trông chờ.
Làng xưa của chị em thằng Án bên con phà. Con phà cũng có từ đời nảo đời nào. Chừ có cầu rồi, hết cách trở đò giang, nên bên ni bên tê phát triển đùng đùng. Còn xưa nghe đâu rậm rạp, cọp beo còn nhiều. Dân làng sợ mỗi khi cọp về bắt heo, trâu bò, nên nhà nhà làm chuồng cẩn thận lắm. Ngoài còn mấy lớp rào, trời chưa cập quạng người lớn đã nhắc lũ trẻ lùa trâu bò trên đồi, trên rẫy về tra cổng, chốt cẩn thận. Heo nuôi cũng vậy. Rứa mà chuyện cọp bắt heo, bò làng trên xóm dưới là chuyện cơm bữa.
Cọp ở đây tinh khôn, nhảy vô bấm con heo chỉ keo cái éc là lôi đi. Giữa khuya, có người trong làng còn thấy cọp cõng cả con bò nhảy qua bờ rào cái ào, mất hút.
Nhưng điều lạ nhà nào có người ngang ngược, chửi thề coi thường ông cọp, thì y rằng ổng ra tay nhà đó trước. Đi rừng người ta kiêng dè hay gọi trớ tên là ông Nghè, ông Ba Mười là vậy.
Chị Mây bảo, người già kể, làng cũ của chị em hắn ngày xưa có cái bốt của đám nhóm ngụy quân, do thằng Đỗ Hân làm trưởng bốt. Thằng trưởng bốt cậy quyền thế có Mỹ chống lưng nên hà hiếp dân lành, cướp bóc giữa ban ngày. Đàn bà, con gái trong làng hễ ai xinh đẹp, ưng mắt là thằng Hân đánh tiếng sang chơi, lựa thế ép vô phòng chốt cửa, mặt người thân gia đình bên ngoài. Hắn quen thói sàm sở, đứa con gái mô chống trả, hay chửi bới xóc gan hắn, lựa lúc vào rừng đi củi, hái rau thế nào hắn cũng đón lõng, rồi kéo cả lính tráng tham gia cuộc chơi chung như cầm thú.
Dân tình oán thán nhưng kêu trời không thấu. Không hiểu sao ông cọp ở núi Lớn cũng căm tức. Một hôm thằng Hân đang hà hiếp một cô gái đi củi về giữa dốc Ré, hắn bắt cô gái phải xuống con suối cạnh đó tắm, còn củi để hắn trông. Thật ra cái ý đồ của hắn đã rõ. Cô gái vừa thả bó củi định chạy thì hắn chàm tới nắm áo cô gái giật bay khỏi người. Nhìn cô gái hai tay ôm ngực khư khư như che đôi mắt ăn tươi, nuốt sống của hắn thì bất ngờ một tiếng gầm vang lên.
Ông cọp nhảy bổ ra sừng sững trước mặt hắn. Thất kinh còn hơn như đất đâu sụt dưới chân hắn. Chới với, chới với… thì ông đã tát cho một cái, làm rụng một nửa hàm răng. Hắn ôm mặt máu me chạy về bốt. Cả tháng sau chữa trị, mặt mũi chưa bình phục hẳn thì hắn đã cầm đầu đám lính quay lại chỗ dốc hôm nọ phục bắn ông cọp. Nhưng rồi cũng hoài công, tối ngày cả đám vác súng quay về.
Vợ lão Quành ngày xưa có tiếng trẻ đẹp. Và chính cái đẹp ấy đã mang tai họa về. Vợ lão trở thành nạn nhân, bởi một cái chết không rõ ràng khi đi củi về ngang qua dốc Ré. Vợ lão bị hãm hiếp tập thể. Bởi vậy, lão thù thằng bốt trưởng, căm lũ lính còn hơn căm cọp rừng. Và thế là lão quyết trả thù cho vợ, bằng cách bỏ con ở nhà, vác dao vào rừng mai phục…
Một hôm từ rừng trở về thì có tin con trai lão chăn trâu cùng đám bạn trong xóm ở bìa rừng đã bị cọp vồ chết. Lạ là thân xác còn nguyên nhưng bộ đùm “làm giống” của nó thì bị bứt đi đâu mất. Rồi nghe đồn đoán, thằng con trai lão mới lên mười mà ngỗ nghịch, khi chúng bạn hỏi, mày có sợ ông cọp không, thì nó trỗ C. Hôm trước hôm sau, nó đánh trâu lên mé rừng thì ổng ra tay bứt ngay bộ đùm. Hết tang vợ đến tang con, một mình bơ vơ giữa đời, lão đâm dở điên, dở dại… lang thang… lang thang mãi đến tận khi nhập tịch về làm công dân xóm chợ, gánh nước cho Năm Nhạc.
– Chuyện có thật vậy không chị.
– Nghe đâu sâu xa cái chết của đứa con trai lão Quành là do thằng Hân giết. Hắn thù lão. Dân làng từng nghe nó bảo, lão Quành là Việt Cộng nằm vùng. Dọa cọp, dọa hổ cho đám lính tráng nó sợ, không đám vô rừng để Việt Cộng về hoạt động. Chuyện heo, rồi bò trâu mất cũng là Việt cộng giả cọp mang đi. Con cọp tát nó mất nửa hàm răng nghe nó bảo cũng chưa chắc là cọp thật hay Việt Cộng nữa.
-Trả thù như rứa con người còn ác hơn dã thú chị nhỉ.
Thằng Án bức xúc nói theo. Gần lúc phải dậy lo cơm nước đi học, chị Mây tóm tắc nhanh, đoạn kết câu chuyện, sau này thằng Hân bị dân làng giết chết.
– Đó là quả báo.
– Rứa lão Quành làm gì nên tội mà quả báo vợ con đều chết oan…
– Mây không nói gì. Kéo thằng Án cùng dậy ra ảng nước đánh răng.
*
Lão Quành hiểu vì sao thằng Án nhận ngay ra giọng chị nó, trong cái băng tụng kinh mà một sư nữ gửi đang chạy re re trong cái máy cát sếch để dưới chân bàn thờ mẹ nó. Lắng nghe lần nữa, thằng Án thốt lên, đúng rồi giọng chị Mây.
Hai mươi tuổi đầu mà nó khóc như trẻ lên ba. Lão Quành dỗ nó nín, lão hứa sẽ tìm chị Mây. Nói vậy thôi, nhưng lão biết tìm đâu, khi ngày này qua ngày nọ lão không đi ra ngoài mấy mươi mét vuông của cái chợ Mới thị tứ Tân Bàn.
Đêm đó Thằng Án không ngủ, nó nhớ chị Mây. Còn với mẹ tuy có hắt hủi lạnh nhạt với nó, nhưng nó không ghét mẹ, bởi nó biết tất cả công việc của mẹ làm là để nuôi hai chị em nó. Mẹ nó còn dang tay giúp đỡ lão Quành. Mẹ nó không phải là người ác tâm. Nó nhớ ngày mẹ còn sống…
Ngày nào cũng thế, từ 2, 3 giờ sáng, khi nhà nhà vẫn say giấc thì mẹ đã dậy, chọn vài con heo làm thịt. Tiếng kêu vang động cả xóm. Mọi người phàn nàn vì mất giấc ngủ nhưng lâu dần thành quen. Hình ảnh những con heo tiếp tục được hóa kiếp sau tiếng éc… éc mỗi ngày. Ám ảnh với nó là những giấc mơ khủng khiếp luôn đến. Những vết máu tấy lên chiếc áo trắng có bảng tên nó, tên trường.
Có lần chị Mây khuyên mẹ, gia đình bây giờ cũng không còn quá khó khăn, hay mẹ nên tìm nghề khác nhẹ nhàng hơn. Song không lay chuyển được mẹ.
Thằng Án lại theo chị Mây ăn chay.
Chị Mây đi xa, thằng Án đâm hư hỏng khi vào tuổi dậy thì… nó ăn chơi, theo bạn bè, bị ả phù dung quyến rũ, lâm vào con đường hút chích, buộc phải đi cai nghiện ở một cơ sở trên địa bàn. Đã có lần Án từng đi tìm chị nhưng chưa biết tung tích ở đâu. Chừ thì hắn ngờ ngợ một ngôi chùa nào đó chị Mây đang ở.
Hết hạn ba ngày, mai thằng Án phải quay lại trại. Trong đầu Án nảy ra một quyết tâm, phải cai bằng được để còn có dịp trở về đi tìm chị Mây. Bao ý nghĩ trong đầu hắn lóe ra. Giá như mẹ hắn không quá chạy theo đồng tiền, giá như gia đình hắn không chuyển xuống cái chợ Mới này và giá như hắn…
Cũng may còn có lão Quành. Mai hắn sẽ bảo lão ở lại hẳn nhà để lo hương khói giúp. Nếu lão thấy muốn thờ vợ con thì cho lão lập thêm cái áng thờ. Đời lão cũng đã khổ quá nhiều rồi.
Gần sáng gà eo óc gáy, xóm chợ thị tứ Tân Bàn chìm trong màn đêm vắng ngắt. Trằn trọc mãi rồi thằng Án cũng thiếp đi lúc nào không hay. Trong giấc ngủ chập chờn hắn mơ thấy mình như hồi còn bé. Tè dầm bị mẹ trừng mắt, rút cái chăn qua cửa sổ, lạnh quá không ngủ được, chị Mây lại đưa tay thoa lưng cho hắn ngủ.
Tỉnh dậy thằng Án lại nghe giọng tụng kinh của chị Mây đều đều. Nhón chân lại phía bàn thờ mẹ đốt mấy que nhang, khói trầm bay lên làm hai mắt hắn cay xòe.
9/5/2020
Võ Văn Trường 
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Phan Hoàng có bênh vực Phan Huyền Thư trong vụ "Đạo thơ" hay không

Phan Hoàng có bênh vực Phan
Huyền Thư trong vụ "Đạo thơ" hay không?

Hai hôm nay, có vài ý kiến cho rằng, nhà thơ Phan Hoàng đứng ra bảo vệ nhà thơ Phan Huyền Thư trong vụ “đạo thơ” Phan Ngọc Thường Đoan.
Hai hôm nay, có vài ý kiến cho rằng, nhà thơ Phan Hoàng – Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM đã đứng ra bảo vệ, bênh vực, tiếp tay cho nhà nhà thơ Phan Huyền Thư trong vụ “đạo thơ” Phan Ngọc Thường Đoan. Những quan điểm trên được đăng trên trang mạng xã hội theo kiểu quy chụp gây xôn xao dư luận.
Sự thật câu chuyện như thế nào, người viết bài này có phần liên quan và chứng kiến ngay khi câu chuyện xảy ra.
Tối ngày 18/10/2015, tôi cùng nhà thơ Phan Hoàng và nhà thơ Đặng Huy Giang (ở Hà Nội vào) cùng nhau ngồi hàn huyên trong một quán ăn ở quận Tân Phú. Khoảng 21h thì chị Phan Ngọc Thường Đoan điện thoại cho anh Phan Hoàng thông báo rằng, Phan Huyền Thư đã “đạo” gần nguyên văn bài thơ “Buổi sáng” của chị. Vụ việc đã được đăng trên FB. Phan Hoàng hết sức ngạc nhiên và có khuyên chị Thường Đoan nên bình tĩnh xem xét và xử lý cho khéo léo, xem động thái Huyền Thư như thế nào, dù sao chị cũng là đàn chị.
Sau cuộc điện thoại của chị Phan Ngọc Thường Đoan, anh Phan Hoàng gọi ngay cho Phan Huyền Thư nhưng không thấy bắt máy. Vài phút sau Huyền Thư gọi lại, và anh Phan Hoàng bảo rằng chị Thường Đoan vừa phản ánh sự việc như vậy, phải kiểm tra lại thực hư thế nào. Anh cho Huyền Thư số điện thoại của chị Thường Đoan để liên lạc.
Chúng tôi tiếp tục ngồi trò chuyện với nhau và chưa tin vào chuyện đạo thơ. Một hồi sau, Phan Huyền Thư gọi cho anh Phan Hoàng nói rằng đúng là bài thơ “Buổi sáng” của chị Thường Đoan in trong tập thơ “Đếm cát” từ năm 2003, trước bài thơ “Bạch lộ” trong tập “Sẹo độc lập”. Huyền Thư cũng báo sự việc đã đăng trên Facebook rồi. Phan Hoàng nói rằng anh chưa biết thực hư thế nào, nhưng về lý thì Huyền Thư đã sai, hãy suy nghĩ cho kỹ và nhanh chóng bay vào TPHCM gặp, trao đổi và xin lỗi chị Thường Đoan.
Tôi liền mở FB xem 2 bài thơ và phần nào đã hiểu sự việc. Chúng tôi cùng nhất trí: Huyền Thư đã sai và ai cũng cảm thấy tiếc, vì sao cô ấy lại làm như vậy?! Tập thơ mới được giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội đã vướng vào chuyện “đạo” một câu thơ của nhà thơ Du Tử Lê, bị dư luận phê phán, bây giờ tiếp tục “dính” chuyện đạo thơ của Thường Đoan thì Huyền Thư sẽ bị sốc mạnh. Anh Phan Hoàng mới gọi cho chị Thường Đoan nói rằng rõ ràng trước mắt Huyền Thư đã sai, nhưng với tư cách đàn chị trong giới văn chương chị nên độ lượng ứng xử nhẹ nhàng giúp cô ấy. Tôi và anh Đặng Huy Giang cũng đồng ý với ý kiến của Phan Hoàng.
Sau đó, qua trao đổi với tôi, Phan Huyền Thư nhờ tôi liên hệ với chị Thường Đoan và thu xếp cuộc hẹn để sáng mai Huyền Thư bay vào gặp chị ấy. Thư còn khẳng định đã đặt vé máy bay rồi, sáng mai bay vào TPHCM sớm. Sau đó tôi chủ đông liên hệ nhà thơ Phan Ngọc Thường Đoan để xin ý kiến chị. Chị Đoan đồng ý và còn khẳng định rằng, nếu Phan Huyền Thư biết lỗi, chị sẽ tiếp chuyện.
Câu chuyện diễn ra khá bất ngờ đối với chúng tôi. Mọi người ai cũng cảm thấy tiếc cho Phan Huyền Thư, một người đa năng và có tâm huyết. Anh Phan Hoàng cũng tắt máy, không liên lạc với ai nữa. Có lẽ anh thận trọng, vì dù sao anh cũng đang giữ cương vị Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM, trong khi tập thơ “Sẹo độc lập” của Phan Huyền Thư vừa nhận giải của Hội Nhà văn Hà Nội.
7h sáng hôm sau, vừa thức dậy, tôi đã thấy điện thoại mình có 4 cuộc gọi nhỡ của Phan Huyền Thư. Tôi gọi lại thì Thư với chất giọng buồn bã, Thư nói, Hiệu à, Thư không bay vào TP.HCM nữa đâu, vì chị Đoan đã cho hàng chục báo đăng rồi. Tôi hỏi, vậy bây giờ làm sao? “Tưởng chị ấy im lặng để dàn xếp cho Thư, không ngờ chị ấy đã bung bét trên báo chí rồi Hiệu ạ!” – Huyền Thư nghèn nghẹn…
Câu chuyện giữa chúng tôi chỉ có như vậy. Tuy nhiên không hiểu sao trên FB của một vài cá nhân lại có thông tin suy diễn là nhà thơ Phan Hoàng bênh vực cho Phan Huyền Thư như để cho “im lặng” vụ này. Im lặng làm sao được khi chúng tôi còn ngồi với nhau thì trên FB đã lan truyền thông tin về việc Huyền Thư đạo thơ và tôi lại cập nhật liên tục. Anh Phan Hoàng thừa biết điều đó, nhưng vì thương tình bạn thơ trẻ là Phan Huyền Thư bị hết tai nạn này đến tai nạn khác, có thể do vô tình hoặc cố ý của chính cô ấy, anh sợ nếu quá nặng tay thì cô ấy không vượt qua nổi, nên có lời với chị Thường Đoan như đã nói trên.
Việc quy chụp cho nhà thơ Phan Hoàng bênh vực chuyện Phan Huyền Thư đạo thơ nhà thơ PN Thường Đoan là hoàn toàn thiếu chính xác và không có cơ sở. Tôi là người trong cuộc biết rõ điều này. Rồi từ đó vu khống, quy chụp “tư cách” Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM của anh lại càng không đúng.
Phan Hoàng với tư cách Phó chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM không dại gì nhảy vào bênh vực, bảo vệ, tiếp tay cho một người sai trái như vậy, càng không thể có chuyện Phan Hoàng chỉ đạo cho chị Thường Đoan im lặng nếu truyền thông hỏi tới, trong khi đó mạng xã hội đăng tràn lan, và Phan Hoàng cũng thừa hiểu rằng mình không có quyền chỉ đạo nào đối với Phan Ngọc Thường Đoan trong vụ này.
Tôi viết bài này vì sự trung thực của lòng mình, cũng vì sự yêu quý đối với một người nhiệt huyết với văn chương, thấu hiểu nỗi đau của người này và cũng là sự mất mát của người kia, chứ không có ý gì bênh vực nhà thơ Phan Hoàng.
10/5/2020
Phùng Hiệu
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Đi tìm dấu xưa trong tranh mộc bản

Đi tìm dấu xưa
trong tranh mộc bản

Tranh mộc bản, hay tranh khắc gỗ còn có tên tranh thủ ấn họa, có nghĩa là tranh in tay. Đây là loại tranh được in từ những hình ảnh vẽ được khắc trước trên mặt gỗ. Tranh in bằng tay ra nhiều bản để phổ biến mà không ghi tên tác giả. Nên có thể nói tác giả tranh mộc bản là những nghệ sĩ dân gian.
Tết về nhớ bánh chưng xanh
Nhớ tràng pháo chuột, nhớ tranh lợn gà.
Hằng năm, cứ đến ngày cuối Chạp gần Tết Nguyên Đán, tiết trời lành lạnh, vào những chiều cuối tuần, tôi có thói quen khoác chiếc áo gió cũ, đi dạo một vòng qua chợ để xem không khí chuẩn bị đón Tết của bà con trong thành phố. Ngoài đường phố, các loại tranh Tết được xuất hiện do những người đi bán dạo đến từ các tỉnh miền ngoài. Trong các nhà sách, bên cạnh những chồng sách mới phát hành bày la liệt trên kệ, là rừng lịch năm mới cùng lớp lớp tranh Tết đủ loại với màu sắc sặc sỡ và hình ảnh sinh động, treo cạnh gian hàng trung tâm cho tới cận bên vách, trông thật vui mắt. Thói thường thị dân cũng rất thích mua tranh cảnh về trang trí cho sáng đẹp nhà cửa, chuẩn bị đón tiếp khách và bà con, bằng hữu trong những ngày họp mặt đầu năm.
Nhìn vào rừng tranh Tết sum suê, tôi nhận ra đầy đủ sự hiện diện những tác phẩm nghệ thuật: từ tranh phong cảnh quê hương, chân dung các anh hùng hào kiệt, nhân vật nổi tiếng, đến cảnh chùa miếu, đền đài mang dấu ấn lịch sử cho đến tranh loài vật, tranh minh họa những tấm gương trung, hiếu, tiết nghĩa… Kỹ thuật thể hiện các chủ đề rất đa dạng: tranh sơn dầu, sơn mài, tranh lụa, thêu đan, kết nối… theo nhiều khuynh hướng nghệ thuật khác nhau. Nhưng tôi đã mất rất nhiều thời gian dõi mắt kiếm tìm mà vẫn ít thấy một chủng loại tranh truyền thống từng hiện diện từ lâu trong kho tàng nghệ thuật dân gian. Nó vốn mang giá trị cao đẹp như những áng ca dao dung dị, mượt mà và ý nghĩa thâm thúy khôn cùng. Đó là tranh mộc bản.
Tranh mộc bản, hay tranh khắc gỗ còn có tên tranh thủ ấn họa, có nghĩa là tranh in tay. Đây là loại tranh được in từ những hình ảnh vẽ được khắc trước trên mặt gỗ. Tranh in bằng tay ra nhiều bản để phổ biến mà không ghi tên tác giả. Nên có thể nói tác giả tranh mộc bản là những nghệ sĩ dân gian. Không chủ yếu nhắm vào mục đích kinh tế, trước kia loại tranh khắc gỗ được in ra để truyền lại cho con cháu hoặc họ hàng coi như là di sản văn hóa của gia đình. Tôi được biết, nếu những tác phẩm mang nặng dấu ấn bàn tay của nghẹ sĩ dân gian ấy có đem bày bán ở chợ quê hay các gian hàng nơi thành thị trong những ngày Tết Nguyên Đán thì cũng bán với giá rất rẻ. Dù vậy, tranh mộc bản cũng rất đẹp, nhìn kỹ, ta cũng trông thấy nó phấp phới sắc màu trong sáng, tươi vui và điêu luyện những đường nét linh động bay bướm, xứng đáng gọi là một bức tranh mỹ thuật. Do vậy, tùy theo sở thích và óc thẩm mỹ, nghèo hay giàu, ai cũng có thể mua được ít nhiều bức mang về trang trí nhà cửa trong những ngày xuân đến.
Hiện nay, chủng loại tranh dân gian này chưa có cở sở chắc chắn để xác định rõ thời điểm hình thành bởi vì chúng ta ít nắm được đủ tư liệu về lịch sử hội họa dân tộc. Tôi chỉ biết ngoài những bức bích họa và hình vẽ trang trí hay khắc chạm ở cột đình chùa, đền miếu, lưu lại từ các thời đại trước, giới nghiên cứu mỹ thuật hay văn nghệ sĩ cũng chỉ còn trông cậy vào sách vở, tài liệu do phương Tây nghiên cứu, soạn thảo. Có người bảo tranh Tết dân gian xuất hiện từ đời nhà Lý (1009-1225) – đầu thế kỷ 11-  tiếp theo sau sự ra đời của nghề in mộc bản (in sách bằng bản gỗ). Đến thời nhà Hồ (1400-1407), đã có loại tiền giấy được in ra và phát hành trong dân gian. Từ đầu thế kỷ 16, thời nhà Mạc (1527-1592) nhất là thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, loại tranh Tết và tranh Thờ thuộc dòng tranh mộc bản đã xuất hiện khá nhiều, được bày bán rộng rãi trong nước từ thành thị đến thôn quê miền Bắc và miền Trung. Nhớ lại, trong những năm của thập niên 1950-1960 khi còn học trung học tại Cần Thơ, tôi được thầy dạy Hội Họa là giáo sư họa sĩ Nguyễn Cường, tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương từ Hà Nội mới vào nhận công tác, sau khi đi tham gia triển lãm tại Nhật Bản. Thầy dạy mỹ thuật của tôi, phong cách rất phóng khoáng trong nếp dạy và cách ứng xử với học trò. Ngoài những giờ học chính khóa trong trường, đám học trò mê hội họa chúng tôi gồm có: Nguyễn Trung, Nguyễn Thanh, Nguyễn Đồng, Lê Tấn Lộc (1) …, nhóm học trò ruột của thầy – luôn được họa sĩ Nguyễn Cường hướng dẫn đi vẽ phong cảnh ngoài trời tại Xóm Chài (Hưng Phú ngày nay), Cái Răng, Mít Nài (chợ An Nghiệp bây giờ)… Chính trong khoảng thời gian ấy, thầy có dịp trao đổi, bồi dưỡng cho chúng tôi hiểu thêm về tranh mộc bản thường xuất hiện vào ngày Tết. Rất may, trong những năm vào nghề sau này, một hôm tôi tình cờ đọc được nhận định vô cùng tinh tế, sắc sảo của ông Lê Văn Hòe về tranh mộc bản:
“Tranh gà lợn đỏ như xôi gấc, vàng như màu lúa chín, xanh như lá mạ, hay vàng như nghệ kho cá, xanh như cốm non, đỏ như ngô già, nâu như đất cày, toàn những màu sắc quen thuộc thân mến từ bao nhiêu đời rồi. Những màu sắc ấy in sâu vào tâm não nông dân, hết thế hệ này đến thế hệ khác thành những màu sắc dân tộc. Những màu sắc xanh, đỏ chói rực của tranh Tàu tranh Tây chướng quá, nó không mộc mạc, quen thuộc như những màu xanh đỏ, thô kệch mà điềm đạm, thật thà của tranh lợn gà” (2). Sau này, khi dạy mỹ thuật, cùng các giáo sư họa sĩ  Nguyễn Thị Tâm (trường Đoàn Thị Điểm), Nguyễn Văn Ẩn (PTG) tại Cần Thơ, chúng tôi tổ chức thi vẽ tranh Tết cho học trò vào mỗi độ xuân về nên có cơ hội trao đổi nhau thêm về dòng tranh dân gian đậm đà tính chất dân tộc này.
Đặc biệt nhất là trong cuốn sách của Maurice Durand (thuộc trường Viễn Đông bác cổ) dày 500 trang đã cho tôi cái nhìn khá đầy đủ về tranh mộc bản Việt Nam.
Do tính cách cơ bản nội dung và nghệ thuật có phần dị biệt về đường nét (dessin), về cách bố cục và màu sắc so với tranh sơn dầu, tranh lụa, sơn mài… nên không thể nhận định giống nhau về kỹ thuật giữa hai chủng loại nghệ phẩm này. Riêng tranh mộc bản – và hầu hết tác phẩm hội họa – nếu được quan sát kỹ, ta nhận thấy nét vẽ là yếu tố quan trọng vì đó là khởi điểm cần thiết không thể thiếu trong sự hình thành bất cứ loại tranh vẽ nào. Do vậy, có ý thức làm tốt trong việc chuẩn bị nét vẽ bước đầu này, ta sẽ gặp nhiều dễ dàng, thuận lợi ở công đoạn tiếp theo là sắp xếp bố cục. Ví dụ như bức mộc bản vẽ Cảnh trèo dừa: nhà nghệ sĩ dân gian dù chưa chắc đã tiếp thu kiến thức chuyên môn từ trường mỹ thuật nào, vẫn sở hữu được những đường nét vô cùng cô đọng, không thiếu cũng không thừa mảy may chi tiết nào khi diễn tả. Óc tiết kiệm đường nét đến mức độ cực kỳ tinh tế của tác giả thật đáng trân trọng khôn cùng. Ta hãy nhìn kỹ lại từ bộ mặt vênh vênh, thoáng vẻ ngây ngô của cô gái hứng dừa cùng bộ mặt phớt tỉnh, ranh mãnh của anh thanh niên trèo dừa, tất cả ngần ấy được sáng tạo bằng nét vẽ hết sức dung dị mà không kém phần linh động, hàm súc. Bức tranh đã lột tả hết cái thần thái chân dung người phụ nữ nông thôn Việt Nam qua từng ánh mắt, nét mặt, dáng điệu đậm tính dân tộc. Bức tranh Ông Nghè vinh quy (3) dù vẽ hổ nhưng cũng bộc lộ rõ tính cách con người Việt Nam qua hình ảnh cái kèn, võng lọng hay chiếc kiệu của ông Tiến sĩ tân khoa về làng quê bái tổ khi nghiệp bút nghiên đã công thành danh toại. Với bức tranh Đám cưới chuột, hình ảnh sinh động và vui mắt của những chú chuột thổi kèn, khiêng kiệu, cầm đèn lồng đều mang bản sắc rất Việt Nam. Xem lại bức tranh mộc bản của Hokusai – họa sĩ Nhật Bản, vẽ cảnh sóng bể trong đó chỉ duy nhất có một làn sóng dâng lên rất cao, nhưng mang dấu ấn rõ nét là một ngọn sóng Nhật Bản không một ai có thể nhầm lẫn với ngọn sóng Tàu, sóng Tây hay bất cứ  ngọn sóng nào trong tranh của họa sĩ khác.
Về bố cục, ở những bức tranh mộc bản trong giai đoạn đầu mới xuất hiện, các nghệ sĩ dân gian trình bày vượt khuôn khổ nguyên tắc kinh điển của hội họa mặc dù đường nét, hình thể con người, loài vật rất vững vàng. Ví dụ ở  bức tranh Đám cưới chuột. Vì khuôn khổ hạn hẹp của tờ giấy vẽ mà đám cưới lại quá đông thành viên gia đình, họ hàng nhà chuột nối đuôi nhau lê thê một hàng dài chưa dứt. Trước tình huống như vậy, nhà nghệ sĩ mạnh dạn cắt bức tranh ra làm hai: một nửa nằm phía trên, một nửa còn lại nằm bên dưới tờ giấy. Dù vậy, khách thưởng ngoạn xem tranh vẫn dễ cảm thụ vì bức họa như giữ được sự thuần nhất. Nhìn kỹ lại bức tranh, ta có cảm tưởng đám cưới tiếp diễn đều đặn, không hề bị trở ngại trong sự chia cắt, sắp xếp của nghệ sĩ. Tác giả những bức tranh dân gian không mấy chú ý đến luật viễn cận (perspective) ràng buộc bởi đường tầm mắt – đường chân trời (ligne horizontale), điểm nhìn (point de vue) nên trong nhiều bức tranh mộc bản, ta thấy người hay nhân vật chính thường được vẽ to hơn. Cũng ít tìm thấy sự cân đối nằm trong luật cân đối – một quy luật vốn được người Việt Nam xưa nay coi trọng và được áp dụng trong cách sắp xếp, bày biện đồ đạc trong nhà như bàn ghế, bàn thờ ông bà, tủ sách, bộ sa-long… Dường như nhà nghệ sĩ ẩn danh muốn biến sự bất cân xứng thành một sự cân xứng hòa hợp trong bức tranh. Trong những bức tranh Tết hay tranh mộc bản, tác giả cũng không chú trọng đến việc ký tên mình để lại bên dưới họa phẩm.
Ở những bức tranh mộc bản Việt Nam trước đây, họa sĩ thường tác nghiệp với những màu sắc tự nhiên thật tươi thắm gọi là thuốc màu nước và mực Tàu. Mực Tàu màu đen dùng để in những nét chính. Riêng màu in tranh mộc bản gồm hai loại cơ bản. Một loại là thuốc bột khô có màu trắng lấp lánh (vỏ trai nghiền thành bột), màu lam (xa cừ), kim nhũ vàng óng ánh (vàng nghiền), ngân nhũ trắng óng ánh (bạc nghiền). Loại sau lấy từ chất liệu thiên nhiên thường gọi là phẩm nhuộm. Bức tranh có bao nhiêu màu – thường sử dụng nguyên chất – thì phải in bấy nhiêu lần trên nhiều bản gỗ khác nhau. Giấy in tranh mộc bản cũng quan trọng không kém mực và màu, gồm có; giấy quyến, giấy bồi và giấy dó. Trong đó, thông dụng hơn cả là giấy dó, làm bằng vỏ cây dó, một loại cây có nhiều ở vùng Tuyên Quang, có tính dai, chắc, dễ thấm mực và màu. Loại giấy dó thông dụng nhất là giấy điệp. Ngoài loại giấy hoa hiên và giấy kim nhũ hay ngân nhũ, loại giấy điệp cũng thuộc loại giấy dó nhưng được làm từ vỏ trai, vỏ sò nghiền nát nhừ thành bột trộn với hồ loãng. Khuấy bằng bột gạo (có pha với ít vôi để chống gián và thằn lằn đến ăn làm hỏng tranh), sau đó quét lên mặt giấy một lớp mỏng, đều. Sau khi phơi khô, màu trắng giấy điệp lấp lành những chấm li ti của vỏ trai, vỏ sò trông rất sáng đẹp. Với loại giấy điệp này, người ta phải in bằng màu nguyên chất, vì nếu pha nước, màu sẽ không thấm vào giấy. Sử dụng màu nguyên thủy có lợi là làm tăng phần tươi vui thích hợp với tính cách dí dỏm của bức tranh với mục đích trang trí để nói lên chủ đề, hơn là diễn tả bài bản đúng theo phong cách mỹ thuật. Xem lại nhiều bức tranh mộc bản tiêu biểu, ta dễ nhận ra những màu sắc với thể chất thô sơ của nó rất hòa hợp với những đường nét ngây thơ ở bản khắc gỗ và tính chất đặc biệt của giấy điệp vốn gồ ghề. Ví dụ, sự thật thà chơn chất như màu đỏ cánh sen của chiếc yếm, màu xanh hoa lý ở chiếc thắt lưng của chị nông dân đã thể hiện rõ nét đặc trưng của tranh mộc bản Việt Nam. Trong khi các bức mộc bản Trung Quốc, màu sắc có vẻ kín đáo, nghiêm khắc mà tế nhị, của Nhật bản thì màu sắc óng chuốt ra vẻ đài các, hào hoa bay bướm như tơ lụa, gấm vóc trên những chiếc áo ki-mo-no của kiều nữ xứ sở hoa anh đào.
Nhìn chung về kỹ thuật, được biết đến lâu và nổi tiếng nhất là tranh mộc bản của làng Đông Hồ (ngày xưa có tên là làng Mái, nằm dọc bên bờ sông Đuống – tỉnh Bắc Ninh). Ta thử nghe chàng trai làng Đông Hồ cất lên tiếng hát quan họ ướm tình, rủ rê các cô gái ở làng khác: Hỡi cô thắt lưng bao xanh/ Có về làng Mái với anh thì về/ Làng Mái có lịch có lề/ Có sông tắm mát có nghề làm tranh. Rồi đến tranh của Hàng Trống – Hà Nội, tranh mộc bản Kim Hoàng – ven đô Hà Nội… hoặc ở làng Sình (Huế ) chuyên về tranh thờ… Mỗi bức tranh mộc bản của Việt Nam đều được thực hiện với một kỹ thuật riêng biệt đậm sắc thái Việt Nam. Đó là tính giản dị, chất phác, chan chứa tinh thần lạc quan trong sáng, không hề thấy bị ảnh hưởng bởi yếu tố nghệ thuật nước ngoài.
Với tính cách đặc biệt đó, nội dung những bức tranh mộc bản của ta thường mang đến cho công chúng và khách thưởng ngoạn nghệ thuật nhiều cảm nhận thoải mái, thú vị. Bởi vì đa phần tranh dân gian loại này đã lột tả được tinh thần trào lộng vui tươi của người Việt Nam – tính hài hước vô tư không có ác ý thể hiện qua sự châm biếm rất đổi nhẹ nhàng. Mỗi bức tranh Tết là một thông điệp đứng đắn về nhân sinh quan, một biểu tượng trong sáng về cách ứng xử của con người trong xã hội lành mạnh mà người xem không thể ngăn được tiếng cười hồn nhiên. Bức Lão Oa giảng độc (Thầy đồ cóc dạy học) mang tính tượng trưng như một bài thơ ngụ ngôn (fable) của thi sĩ Pháp La Fontaine (1621-1695). Bằng nét vẽ đơn giản, tự nhiên nhưng bức tranh bao hàm một triết lý giáo dục khuôn mẫu của người xưa: tình thầy trò cao quý. Con cóc lớn là lớp trưởng đang thay thầy, quản lý lớp, trong khi một con khác đang bưng mâm trà đứng cạnh hầu thầy rất chu đáo. Trong bức Đám cưới chuột, bên dưới là cảnh cưới xin thời xa xưa có cờ, xí, kiệu… nhưng ở trên là một đám chuột khác đang lo lót cho mèo, van xin chú mèo để đám cưới được cử hành êm đẹp. Mèo có thể là hình ảnh tiêu biểu muôn đời cho mô hình tiêu cực, bọn cường hào ác bá. Bức Tranh Lợn minh họa một đàn heo con quay quần bên heo mẹ đang ăn cám. Chủ đề bức tranh nói lên sự sung túc, ấm no của một xã hội thanh bình, thịnh vượng. Lợn gà đông con nhiều cháu, ăn uống no đủ, gia đình hòa thuận, yên vui. Ngay cả hình ảnh cái ‘xoáy’ trên lưng con heo mẹ tưởng đâu chỉ là để trang trí đơn thuần, thực ra cũng mang ý nghĩa triết lý “âm dương hòa hợp” của cuộc sống thái hòa trong mơ ước muôn đời của tiền nhân. Đến những bức Đánh ghen, Đánh đu tiên, Hái dừa… bức nào cũng có cái hay trong nội dung và cái đẹp ở sắc màu.
Hầu hết tranh mộc bản đều hàm ý cổ xúy cho một tư tưởng hay, một nếp sống đẹp, không bao giờ có ý nghĩa giải trí nhảm nhí dù tác giả chẳng mấy chú trọng về bút pháp, kỹ thuật. Bên cạnh tranh mộc bản dân gian xuất hiện vào những ngày xuân, còn có một loại tranh Tết khác gọi là tranh Tứ bình gồm 4 bức khớp nhau một bộ. Chẳng hạn tranh Tứ bình diễn tả nét đặc trưng của 4 mùa, mỗi mùa bằng một loài hoa: lan, sen, cúc và đào, ngụ ý ca ngợi cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Tranh đề cao nét phong nhã hào hoa của con người: cầm, kỳ, thi, họa, bày tỏ sự trân trọng trước những trang phong lưu tài tình muôn mặt. Lại còn thêm bộ tranh mô tả về nỗi tai hại chết người của Tứ Đổ tường: tửu, sắc, tài, khí… như lời cảnh báo nghiêm ngặt khuyên mọi người tránh xa.
Nhân ngày đầu năm, trong không gian sáng đẹp mát dịu, cây cỏ thắm tươi, lòng người phơi phới, ta tạm lắng quên cuộc sống bon chen, dành đôi phút để du xuân. Không bỏ qua cơ hội xem tranh Tết, ta đi tìm lại dấu xưa: tranh mộc bản. Đi vào vườn tranh Tết, tôi có cảm tưởng mình đang làm một cuộc hành hương về nguồn. Những bức tranh mộc bản Việt Nam có giá trị tích cực như những bức chân dung về nhân cách, đạo lý của người tốt trong xã hội. Đó là những câu ca dao ý vị dệt bằng đường nét cô đọng, sắc màu tươi thắm mang ý nghĩa những bài học xử thế của người xưa. Đẹp kín đáo như vườn hoa cổ tích dân tộc, không kém vẻ diễm lệ đáng yêu như phong cảnh non sông hoa gấm của đất nước quê hương, nhất là trong tranh làng Đông Hồ: Quê hương ta nếp lúa thơm nồng/ Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/ Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp… (Thơ Hoàng Cầm). Tranh Tết nói chung và tranh mộc bản dân gian nói riêng, là mô hình di sản văn hóa vô giá của người xưa còn lưu lại. Trong những ngày đầu năm đón Tết vui xuân, thưởng thức vẻ đẹp thấm kín của những bức tranh mộc bản, ta có dịp hiểu về nghệ thuật của người xưa và cảm thông nếp sống tình cảm của tiền nhân. Đó những tác phẩm dân gian mang tính giáo dục trong sáng cao đẹp, thấm đẫm tinh thần hiếu học, nghĩa thầy trò, bằng hữu ở học đường, tình cảm cha mẹ, anh em gia đình, tình yêu quê hương, dân tộc, lòng yêu kính anh hùng, lãnh tụ… luôn chứa đựng tính nhân văn sâu sắc như những trang Quốc văn Giáo khoa thư, rất cần cho mọi người ở bất cứ thời đại không gian nào trong xã hội ta hôm nay.                                               
* Tham khảo:
Tranh cổ Việt Nam – NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội – 1995…
1. L’École francaise d’Extrême-Orient à Hanoi – Philippe LeFailler (Hà Nội-1900-2000)
2. Từ điển Mỹ thuật (Hà Nội)
3. Tạp chí Mỹ thuật (Hà Nội)
4. Tạp chí Mỹ thuật (TP. Hồ Chí Minh, sau 1975)
5. Tạp chí Kiền thức Ngày nay số 908, ra ngày 20.10.2015 (TP. Hồ Chí Minh)
6. Các tư liệu mỹ thuật về tranh mộc bản bằng tiếng Anh, Pháp, Đức, Hoa, Nhật, Hàn…
7. Kỹ thuật và Mỹ thuật tranh Mộc bản Việt Nam- Nguyễn Khắc Ngữ, Canada – 1988
8. Nghệ thuật tạo hình dân gian Việt Nam – Huỳnh Hưu Ủy, Hồng Lĩnh Hoa Kỳ – 1993
9. Bài viết của tác giả, họa sĩ : Thái Tuấn, Bửu Hồ (Làng Huệ)
10. Đặc san Xuân Nắng Mới 1973 - trường trung học Đệ Nhị cấp Cái Răng, Cần Thơ.
11/5/2020 
Đan Thanh
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Chân dung người lính trong "Tây Tiến" của Quang Dũng và "Đồng chí" của Chính Hữu

Chân dung người lính trong "Tây Tiến"
của Quang Dũng và "Đồng chí" của Chính Hữu

Quang Dũng và Chính Hữu đều là những nhà thơ cách mạng nổi tiếng của dân tộc Việt Nam. Đều là những người nghệ sĩ tài hoa, và có nhiều tài năng trong phép sử dụng ngôn ngữ và các nét điển hình trong phong cách nghệ thuật, Quang Dũng và Chính Hữu đã làm nên những giá trị to lớn trong những tác phẩm của mình.
Người lính là hình tượng trung tâm trong văn thơ thời kháng chiến, ở mỗi thời kì lịch sử của những cuộc chiến tranh, người lính trong đời sống thực tại cũng như trong thi ca đều có những nét khác nhau. Đù cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp có hai loại người lính: một là người lính xuất thân từ nông dân như trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu; hai là người lính xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản thành thị như trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng thì cả hai đều có chung lí tưởng yêu nước, đánh giặc, cùng thể hiện trách nhiệm xả thân vì tổ quốc, vì nhân dân. Đó chính là vẻ đẹp về chân dung người lính sẽ được chúng ta đề cập, bàn luận đến trong hai bài thơ nổi tiếng là Tây Tiến và Đồng chí.
Chân dung người lính trong bài thơ Tây Tiến được miêu tả bằng cảm hứng lãng mạn. Bút pháp lãng mạn thường thể hiện bằng cái cao cả, phi thường. Khung cảnh, hoạt động của người lính cũng là khung cảnh phi thường:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Những độ cao, những vực thẳm hay những heo hút chỉ làm tăng vẻ hào hùng cho người lính chứ không đe dọa các anh. Và thiên nhiên còn ẩn chứa cả những bí mật, những hiểm nguy vẫn không hề gây sợ sệt cho người lính:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người”
Hình ảnh người lính cũng thật là phi thường. Người lính Tây Tiến gần với người hiệp sĩ vì nghĩa cả lớn lao, nhưng họ là những con người bằng xương bằng thịt đang sống, chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ của những ngày đầu kháng chiến:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”.
Miêu tả những gian khổ, khó khăn của người lính ở rừng rất chân thật, thiếu ăn, thiếu thuốc, sốt rét… đến nỗi rụng hết tóc. Nhưng bút pháp lãng mạn không làm yếu người lính mà càng oai hùng đầy tự hào. Cái chết cũng bi hùng, đượm tinh thần hi sinh khí phách anh hùng của hiệp sĩ:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
Người lính Tây Tiến mang theo nét hào hoa của những thanh niên đất Hà thành lên đường chiến đấu thời bấy giờ, trong đó có nhà thơ Quang Dũng. Tình quân dân cũng nhuốm màu sắc lãng mạn:
“Doanh trại bừng lèn hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”.
Con người như lạc vào thiên nhiên thơ mộng, lạc vào xứ lạ, phương xa thường thấy trong cảm hứng lãng mạn.
Giấc mơ của người lính Tây Tiến cũng là giấc mơ của những thanh niên Hà Nội tràn đầy tinh thần lãng mạn:
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Nhà thơ Quang Dũng đã mạnh dạn xây dựng chân dung người lính thời kháng chiến bằng một tình yêu nồng nàn. Người lính sẵn sàng hy sinh vì lợi ít dân tộc, quê hương. Với ngòi bút tài hoa của tác giả, hình tượng người chiến sĩ hiện lên thật đẹp đẽ và lãng mạn.
Nhà thơ Chính Hữu
Hình tượng người lính trong bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu được tác giả mô tả với bút pháp hiện thực. Người lính hiện lên với tất cả các dáng vẻ chất phác, lam lũ của người nông dân mặc áo lính. Họ là người của nhiều miền vùng, đến từ những làng quê nghèo đói, gặp nhau trong lí tưởng cứu nước:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Anh với tôi đôi người xa lạ
Từ phương trời chẳng hạn quen nhau”
Từ tình yêu giai cấp, tình yêu nước, lòng căm thù giặc nên họ đã nâng lên thành tình đồng chí, một thứ tình cảm mới mẻ:
“Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí!”
Tấm chăn đắp lại thì tâm tư họ mở ra, họ hiểu rõ hoàn cảnh của nhau, thông cảm lẫn nhau:
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”.
Ở ngoài chiến trường mà nghe rõ gió lung lay từng gốc cột của ngôi nhà mình, người lính thương yêu gia đình, quê hương biết bao nhiêu, nhưng trước hết họ phải vì nghĩa lớn, nợ tang bồng. Về tinh thần hiệp sĩ này, họ lại rất gần với người lính Tây Tiến của Quang Dũng.
Họ sẵn sàng chịu đựng những gian khổ, thiếu thốn tột cùng của cuộc kháng chiến:
“Áo anh rách vai
Quần tôi có vài miếng vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
Tình đồng chí đã nuôi dưỡng tâm hồn của những người lính và họ đã biến nó thành sức mạnh chiến đấu. Một chi tiết trong thơ: chiếc áo trong Tây Tiến của Quang Dũng nói là áo bào có tính chất hiệp sĩ còn trong Đồng chí của Chính Hữu nói áo anh rách vai rất hiện thực.
Từ tình thương yêu giai cấp, cùng tham gia kháng chiến, họ đã cùng vươn lên đỉnh cao của tình đồng chí, đồng đội:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”
Chung nhau một cái chăn là một cặp đồng chí; áo anh rách vai, quần tôi có vài miếng vá là một cặp đồng chí; đêm nay giữa rừng hoang sương muối đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới là một cặp đồng chí. Và cũng rất lạ, súng và trăng cũng là một cặp đồng chí: “đầu súng trăng treo”. Súng và trăng là biểu hiện cao cả của tình đồng chí.
Sự kết hợp yếu tố hiện thực tươi rói với tinh thần lãng mạn cách mạng là vẻ đẹp riêng của chân dung người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.
Như vậy, với con mắt tinh tế, một sự trải nghiệm về cuộc kháng chiến của dân tộc, Quang Dũng và Chính Hữu – hai thi sĩ cách mạng đã phác họa chân dung người lính trong thời kỳ đấu tranh chống Thực dân Pháp thật oai hung, cao đẹp, giàu lòng nhiệt huyết, yêu nước, chấp nhận hy sinh để bảo vệ nước nhà. Hình tượng người lính hiện lên với sự lãng mạn như trong bài thơ Tây Tiến và cũng rất hiện thực như trong bài thơ Đồng chí. Tất cả những đều ấy đã tô điểm cho phẩm chất của người chiến sĩ, phẩm chất của bộ đội cụ Hồ. Càng đọc hai bài thơ này, chúng ta càng thắm thía chất thơ trữ tình chính trị, khẳng định tài năng sáng tạo độc đáo của Chính Hữu và Quang Dũng.
11/5/2020
Trần Thanh Xem
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Hình xăm của gió

Hình xăm của gió

“Thơ Khosiyat Rustam là khu vườn bí ẩn hay một thế giới? Đó là câu hỏi liên tục tra vấn tôi khi đọc thơ chị. Thơ Rustamova là một khu vườn, bởi tôi thường xuyên nghe rõ tiếng gió thổi qua những tàng cây, tiếng con chim lạ chỉ có ở Uzbekistan hót vang trong đó. Cả những chiếc lá khô im lìm dưới ánh trăng, lăn qua từng tảng đá. Những bông tuyết nhỏ xíu rơi xuống xuyên nứt mặt đất… Trong khu vườn ấy luôn giấu kín những tâm sự, giấc mơ, khát vọng, tình yêu của Rustam (tên thân mật của Rustamova). Và, chị đã sống, đã hạnh phúc và cả nếm trải những khổ đau, mất mát trong khu vườn ấy. “Hỡi Thượng đế, có điều con ao ước:/ Ít nhất cho con có được sức mạnh cỏ cây”. Rustam đã thốt lên như vậy trong khu vườn tuyệt đẹp. Khép lại từng trang thơ của chị, tôi như người cố ý bước ra khỏi khu vườn. Nhưng lạ thay tôi vẫn thấy những bông tuyết thêm rơi dày và gió càng thổi mạnh trong tâm trí. Thơ Khosiyat Rustam đã dẫn tôi theo con đường riêng vào thế giới, đi trong thế giới”
(Mai Văn Phấn giới thiệu)
Gió đang thổi mạnh 
1.
Anh ở đâu suốt những năm qua?
Phải chăng cuộc đời là giấc mơ dài, ảm đạm?
Tại sao anh không thể gõ cửa nơi em lần cuối
Chỉ một lần khi anh có cơ hội đi qua?
Em giản đơn không thể ở lại thế giới này thêm nữa.
Em đã khoác áo và sẵn sàng ra đi!
Nhưng anh vẫn ở phía sau cuộc đời em
Như người dẫn chương trình tiễn em vào vở diễn.
2.
Em giã biệt đời sống lúc này
Giống bức vẽ mệt mỏi của họa sĩ.
Có thể một chú chim, nhưng đậu trên trán em,
Hay sữa mẹ tươi nguyên nhưng làm em muốn ói
Ai mà em có thể hờn giận?
Ai mà em có thể than phiền?
Em nên ở đâu trong thời điểm này?
Có phải đó là lý do vì sao bài thơ này mang nỗi đau cắn rứt?
Và có lẽ tại sao nó vô vị hoàn toàn?
3.
Khi nào em sẽ lại đến đây lần nữa?
Chuyến viếng thăm của em ý nghĩa thế nào
Em mãi mãi run sợ vì sự căng thẳng
Như từng đợt sóng biển khơi…
Giá mà em được phân tán
Trong thế giới lấp lánh này
Như túp lều của dân gipxi lang thang,
Như những ký tự trong cuốn sách Hoa ngữ.
4.
Cơn gió đến vô tình rồi nhanh chóng ra đi…
Ô cửa sổ của em than dài và lại hít thở.
Gió lững thững bất cẩn đi xuống hành lang,
Khẩy nhẹ trái tim em mong manh về với gió.
Gió đưa em đi đâu, tới con phố nào,
Làm đảo lộn cuộc sống em từng ở?
Nhưng nỗi sợ của em phân tán tựa sương khói dưới chân.
Và vĩnh viễn không còn dấu tích.
Ôi, ngày hôm đó em yêu anh đến nhường nào!
Những tán cây trên phố và ánh trăng đã nhìn thấy cả!
Những tia ánh bạc đang chỉ lối đưa đường,
Trái đất thẳm sâu hơn em khi em sa ngã…
Tâm hồn em bối rối, trái tim em run rẩy
Cửa sổ tâm hồn em bỗng bật tung ra.
Nhưng may mắn thay, anh ở trên giải thoát
May mắn thay người đó chính là anh.
5.
Đôi khi ngọn gió đi qua
Và quay trở lại.
Nó cuộn tròn đôi mắt thất thần,
Tựa những trái nho giao chuyển qua ngày.
Những chiếc lá khô của chiếc tổ chim
Mục nát nằm sâu trong vũng nước.
Những hạt hạnh nhân trống rỗng lấp đầy nguồn sống
Của mùa thu vừa mới đi qua.
6.
Bầu trời u tối, giống tố càng đen hơn.
Nhìn sang phía bên kia là điều không thể.
Toàn bộ thế gian giờ bóng tối lấp đầy;
Căn nhà lớn của anh cũng dường như biến mất.
Lâu nữa mới bình minh và gió đang thổi mạnh.
Những chiếc lá khô sẽ không thể phục hồi.
Khi mùa hạ quay về, những thân cây nương tựa
Vào mặt đất của mùa thu khép lại trong vườn.
Trăng đang lên. Mặc dù em có thể níu chặt?
Có lẽ ánh trăng sẽ nán lại phút giây.
Và vầng trăng tỉnh bơ như quên phải trôi đi
Trên mái ngói nhà anh đứng như giăng mắc.
7.
Em muốn hét lên nhưng lại giữ yên.
Em mãi rút lui về phía sau sân khấu.
Nhưng bông tuyết nhỏ đang rơi như không hề sợ hãi
Nó làm nứt xuyên mặt đất tự bao đời.
Nó tìm thấy ý chí và sức mạnh?
Không e sợ tảng đá, cơn mưa hay ngọn gió
Nhưng có đôi bàn chân nặng nề đứng đó
Có thể giậm thêm lên mặt đất đôi lần.
Em đang bùng cháy. Trái tim em rực lửa.
Ngày tận thế mở ra thiêu đốt tâm hồn!
Hỡi Thượng đế, có điều con ao ước:
Ít nhất cho con có được sức mạnh cỏ cây.
8.
Một chiếc lưỡi không thể tồn tại,
Nó chỉ không biết hành xử bao giờ.
Một chút không tưởng để giữ thanh sạch
Những giọng nói vũ trụ ban cho.
Những cánh đồng và thảo nguyên có thể chạy điên cuồng,
Nhưng hòn đá ngủ như trôi trong thanh thản.
Và những loài cây giữ gìn nguồn gốc vững bền
Luôn chống lại hình xăm của gió.
9.
Anh đang nhìn đăm đăm! Có điều chi muốn nói?
Thấy bóng anh trên sàn nhà ngay trước mắt tôi.
Ánh sáng của anh dù chiếu qua cửa sổ nơi tôi
Dù anh cố gắng thế nào, tôi vẫn nhìn thấy.
Như vậy mỗi ngày từ bầu trời bình minh,
Trước khi cơn gió thoảng buổi sớm bắt đầu trỗi dậy,
Chẳng chút nghi ngờ, ánh mặt trời rực rỡ
Chạm mỗi lần vào khung cửa của tôi.
Những khu vườn dành trọn tình yêu
Cho dài rộng xa xăm thế giới.
Nhưng vết nhơ từ ánh mặt trời
Trong ô cửa kính mà tôi đã lau chùi cẩn thận.
TIỂU SỬ NỮ THI SĨ KHOSIYAT RUSTAM
Khosiyat Rustam là một trong những nhà thơ đương đại uy tín của U-zơ-bê-ki-xtan. Chị sinh năm 1971, tại làng Olmos thuộc quận Chust, vùng Namangan. Rustam tốt nghiệp Đại học Quốc gia U-zơ-bê-ki-xtan, đã xuất bản một số tập thơ, tiêu biểu như “Ngôi nhà trên bầu trời” (1997), “Giải cứu” (2003), “Lớp phủ” (2004), “Một bức tường” (2006), “Tháng 8” (2008) và “Chiếm đóng” (2011)… Từ năm 2015, chị là tổng biên tập báo “Thế giới sách”. Thơ của Khosiyat Rustam đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, được ấn hành tại các quốc gia như Cô-lum-bia, Nga, Hoa Kỳ và các nước khác. Khosiyat Rustam đã tham gia một số lễ hội thơ quốc tế, đoạt giải trong liên hoan thơ quốc tế Thái Lan năm 2018. Chị đã dịch thơ của các tác giả Marina Tsvetaeva, Eugene Eutushenko, Anna Akhmatova, Boris Patertak, Rasmiye Sobir, Ramiz Rovshen, Nigar Refibeyli, Rza Khalil, Neguib Fazil Kisakurak, Khusnu Daglarja, nhiều bài thơ của các nhà thơ Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Ailen từ tiếng Nga sang tiếng U-zơ-bêk. Khosiyat Rustam là thành viên của Hiệp hội Nhà văn U-zơ-bê-ki-xtan, Hiệp hội Nhà văn A-déc-bai-dan. Khosiyat Rustam đã được trao Huy chương “Shukhrat” (Ngọn lửa) vào năm 2004. Hiện chị sống với chồng là nhà thơ – nhà văn Kuchkor Norkobil ở Ta-sơ-ken.
13/5/2020
Khosiyat Rustam
Vũ Việt Hùng dịch
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...