Thứ Tư, 1 tháng 1, 2025
Chuyến lưới máu
Vào năm một ngàn chín trăm bốn mươi ba, tôi có lần tới Bãi Mũi. Từ thị xã Hà Tiên đi Bãi Mũi cũng không lâu lắm. Chiếc xe ngựa đưa tôi xuống tận bãi mới dừng lại. Đằng sau lối xe vừa qua, hai hàng dấu chân ngựa in dài trên lớp cát trắng mịn. Lần đầu tiên tôi mới tới có cái bãi này. Đến Hà Tiên đã đi Thạch Động, lên núi Tô Châu nhưng không đến đây thì cũng hoài. Ông giàa đánh xe dừng lại, hàm thiếc của con ngựa nghiến ken két chưa dứt thì lão Tư Hưng đã chạy ra, tay lão cầm cái vi cá bơi bơi như đón khách. Lão hỏi ông già xe ngựa:
Bức tranh để lại
Bức tranh để lại
Tôi ngồi dựa lưng vào những cột gỗ còn sần sùi vết rìu đẽo. Bấy
giờ ngày đã hết từ lâu và đêm xuống mênh mông trên bờ bể. Một đêm hè gió lặng.
Tiếng sóng vỗ nghe chừng cũng âu yếm dịu dàng hơn. Anh phó chủ nhiệm tập đoàn
đánh cá Mũi Né treo cây đèn bão lên cột nhà rồi ngồi ghé xuống bên cạnh tôi.
Hai cánh tay buông thõng dài đến quá gối. Anh thẫn thờ nhìn tôi mất một lúc rồi
cất giọng ồ ề hỏi:
- Ai nói với anh tôi giữ bức tranh đó mà anh lặn lội đi tầm tôi vậy?
- Tôi nghe một người quen nói. Một chiến sĩ cũng là người Nam Bộ.
Anh phó chủ nhiệm chồm người tới:
- Có phải là một đồng chí tiểu đoàn trưởng không?
- Phải, anh ấy là tiểu đoàn trưởng, tên là Danh.
- Thôi, đúng rồi. Đúng là anh Danh rồi!
Anh ta vừa kêu lên vừa lập cập để hai bàn tay lên gối chân tôi. Đôi mắt của người
đàn ông Nam Bộ trạc bốn mươi tuổi này chớp lia lịa, hai hàng mi đen rậm nhíu
nhíu lại. Anh ta thu hai bàn tay về, thở dài một thôi rồi lắc đầu:
- Bức tranh... bức tranh đó... không có ở đây đâu. Tôi không
còn giữ nữa. Nhưng mất thì chắc chưa thể mất được. Tới bây giờ tôi vẫn tin là
nó hãy còn. Anh à, bức tranh đó vẽ Cụ không được sắc sảo lắm đâu. Là vì do một
anh thợ họa hình ở miệt vườn vẽ thôi mà. Nếu đem so sánh với những ảnh Cụ bây
giờ thì đâu đẹp bằng được. Nhưng có điều tôi dám quyết với anh là bức tranh đó
không có bạc vàng nào trên đời này sánh nổi. Bởi vì ở trên đời này chắc gì đã
có một người thứ hai vẽ được...
Nói tới đây anh đưa tay lên cào cào ngực. Tôi có cảm giác như trong ngực anh bấy
giờ có cái gì nóng lắm.
- Trời, mà người vẽ bức tranh đó lại chính là em tôi. Em của
tôi đã họa bức tranh đó trong những giờ phút cuối cùng của đời nó... Thôi thì
tôi cũng nói cho anh rõ hoàn cảnh gia đình của tôi. Cha mẹ anh em tôi đều chết
sớm hết anh à. Tên nó là Đô. Tôi không muốn em tôi dốt nát, nên chi hồi đó một
mình tôi đã làm lụng, đi gặt hái, đi câu lưới nuôi em tôi học hành. Nói thiệt với
anh, tôi thì có phần hơi quê mùa cục mịch, đầu óc không đặng sáng sủa bằng em
tôi. Với lại tánh tôi củ mỉ cù mì, chớ tánh em tôi nó gan góc lắm. Trong làng hễ
ai bắt nạt tôi thì nó bênh tôi, dám chống chọi với bất cứ đứa nào hiếp đáp tôi.
Tính ra như vậy thì nó đã học hết lớp nhứt trường làng. Sau
nó thi đậu tên tỉnh học. Học đâu gần được một năm thì thôi học. Ngay hồi nhỏ nó
đã có hoa tay. Thôi học về đi làm ruộng đi câu kéo với tôi chớ nó vẫn ham hố vẽ
vời. Khắp nhà tôi treo la liệt những hình, tranh của nó. Nào là hình lũ trẻ
chăn trâu ngoài đồng, hình người đi chài cá, hình phong cảnh, đủ thứ.
Năm cái đình làng tôi được phép tu sửa, làng đã rước em tôi
ra vẽ lại con kỳ lân nơi tấm bình phong trước đình. Hình con kỳ lân do em tôi vẽ
mãi tới kháng chiến cũng còn. Sau Tây nó mới phá đi lấy gạch xây bót. Em tôi lại
có tập họa hình. Họa được hình người rất giống. Ông già bà cả trong làng được
nó họa cho, ai cũng đều ngợi khen. Không bao lâu cả làng đều gọi nó là thằng
Tám họa hình. Vẽ một tấm hình nó được người ta trả một giạ lúa, lại được mời đi
ăn giỗ. Cái gì chớ uống rượu thì tôi phải chạy em tôi. Thằng uống rượu cứng
quá, càng uống mặt càng xanh tái chớ không đỏ. Lúc kháng chiến nó tham gia tự vệ.
Năm bốn sáu đánh du kích bị trúng thương ở tay. Vết thương làm độc sưng vù lên.
Ông bác sĩ ở tỉnh nói:
- Tám Đô à, tôi thấy chú phải chịu cho tôi cưa cái tay của
chú, không cưa thì chết đa.
Em tôi đáp:
- Nếu không cưa mà phải thiệt mạng thì tôi chịu cưa. Còn cưa
mà chết thì tôi giết ông.
- Nhưng không có cưa nghề đâu. Tôi cưa bằng cưa thợ mộc liệu
chú có chịu nổi không?
Em tôi lặng lẽ bảo:
- Được, cứ cưa!
Và nó xoắn ngay tay áo lên. Từ nói đến làm không đầy mười lăm
phút. Không có rượu an-côn, ông bác sĩ khử trùng lưỡi cưa bằng rượu đế. ổng cưa
mà tay ổng còn rung thì anh biết. Ngược lại em tôi chẳng hé răng kêu một tiếng.
Nó ngoảnh mặt đi nơi khác, mồ hôi chảy có giọt xuống hai bên màng tang... Đó,
tánh khí của nó như vậy đó. Cụt mất tay trái rồi nó vẫn đi đánh chim sẻ, đi gài
lựu đạn. Lúc đó bận rộn nhứt là những lúc sắp tới ngày sinh nhật Cụ. Tôi còn nhớ
đồng chí chánh trị viên xã đội trưởng thường bảo nó:
- Thôi, Tám Đô, mày không không phải đi gài lựu đạn nữa. Gần
tới ngày mười chín tháng năm rồi. Việc đánh chác để tụi tao, còn mầy ở nhà lo họa
hình Cụ. Bà con ai cũng muốn có một tấm ảnh Cụ để treo. Vậy thì mày ở nhà vẽ. Kỷ
niệm ngày sinh nhật của ông Cụ, mỗi nhà đều có ảnh thì quý lắm.
Thế làm thằng Đô em tôi tối ngày sáng đêm cặm cụi lo họa ảnh
Cụ. Hồi đó vẫn còn vẽ theo ảnh cũ, Cụ trông gầy chớ đâu được hồng hào như bây
giờ. Thằng em tôi vẽ mãi nên nó thuộc lòng như hết mọi nét trên khuôn mặt ông Cụ.
Vẽ xong bức này lại vẽ tới bức khác. Bà con tới lui nhà tôi suốt ngày kính cẩn
rước ảnh Cụ về treo. Em tôi vẽ xong cho mỗi nóc gia một bức rồi lại còn vẽ thêm
một tấm thiệt lớn, tô màu coi rất sắc sảo. Trưa cái hôm vẽ xong nó hỏi tôi:
- Anh Bảy ơi, anh có biết em vẽ bức tranh lớn này để mần chi
không?
Tôi chưa kịp đáp thì nó ghé vào tai tôi nói nhỏ:
- Để treo lên ngọn dừa lão ngoài chợ cho đồng bào nhìn thấy
và để tụi lính nó coi. Kẻo tụi nó trách mình không cho nó biết chân dung của
ông Cụ mình.
Em tôi nói rồi cười ha hả. Từ ngày kháng chiến bao giờ nó
cũng cười vui như vậy. Năm đó nó ới có hăm hai tuổi. Mặc dù đã bị mất một tay
nhưng lúc nào nó cũng lạc quan. Thằng em tôi hễ nó nói là nó làm thiệt. Chiều
hôm đó mới nói với tôi đó thì sáng ngày đã nghe thấy bà con đi chợ về nói rum
lên là ảnh Cụ đã thấy ở trên ngọn cây dừa lão. Bà con ở thị trấn được nhìn thấy
ảnh Cụ, ai cũng cảm động rưng rưng. Bọn lính đi tuần chỉ dám đứng nghiêng ngó
chớ không dám trèo lên lấy. Vì ở dưới gốc dừa có cắm tấm biển đề "Không ai
được hạ ảnh Hồ Chủ tịch. Nếu trái lệnh sẽ bị trừng trị ngay tại đây". Thằng
Tây xếp bót, tôi còn nhớ, tên nó là Mônôry, một thằng Tây rất trẻ, mới hăm sáu
tuổi, đẹp trai, ở bên Tây qua có hơn một năm mà đã giết riêng ở Hiệp Hưng này gần
ba chục người. Sáng đó thằng Mônôry nghe tụi lính về báo tin, thì nó liền đi ra
tận nơi, đứng chắp hai tay sau lưng nhìn lên tranh Cụ rất lâu. Nhưng nó không
ra lệnh tháo gỡ gì cả. Một chốc sau nó đích thân dẫn hai trung đội xộc vào
làng. Du kích nổ súng. Đánh nhau tới chiều, bọn địch chết sáu bảy đứa. Lúc rút
về chúng bắt theo một số người. Trong số người bị bắt có một đồng chí đảng là
anh Chín. Bởi chân ảnh cao như chân sếu nên chúng tôi gọi ảnh là anh Chín Giò.
Anh Chín Giò về tới bót thì bị lính ngụy nhận mặt. Thằng Mônôry cho điệu anh ra
gốc dừa lão. Nó rút súng lục trỏ lên ngọn dừa bảo anh trèo lên tháo tấm tranh Cụ
xuống. Anh Chín Giò thừa biết là lúc ta treo tranh không có bẫy lựu đạn gì cả,
nhưng anh nói:
- Du kích có gài lựu đạn, tôi không dám leo.
Thằng Mônôry lên đạn súng lục:
- Trèo lên ngay không tao bắn tức khắc.
Anh Chín Giò đứng tại gốc cây dừa ngước nhìn lên ảnh Cụ. Thằng
Mônôry giục lần thứ hai. Anh quay lại nhìn thẳng vào mặt nó lắc đầu. Nó liền
giơ súng bắn chết anh tại chỗ. Anh Chín Giò chết rồi mà bức tranh chúng nó vẫn
chưa đem xuống được. Thằng Mônôry tức tối như điên. Sau đó nó bắt đồng bào leo
lên lấy ảnh, bà con không dám leo. Bắt lính, lính cũng không dám trèo. Thằng
Mônôry rút súng dí sau lưng một thằng lính ngụy. Nhìn họng súng trong tay xếp
bóp, thằng lính ngụy phải leo. Leo lên lưng chừng cây dừa trên ngọn thấy động
chạm làm rơi mấy trái dừa non sạt sạt. Thằng lính hoảng quá, từ trên tuột xuống
một cái rột. Nó chấp tay lạy thằng xếp lia lịt, bảo có bắn nó thì bắn chớ nó
không dám leo lên nữa. Thằng xếp bất lực, cười gằn bỏ về. Thành ra bức tranh Cụ
vẫn còn y nguyên trên ngọn dừa. Hai ba bữa sau xảy ra có một trận giông lớn, bức
tranh mới bị gió thổi bay mất. Bà con tìm khắp bờ chuối đọt tre mà không gặp.
Trong ấp tôi có một thằng cha tên Tư Râu, thuở giờ chuyên môn nói dóc. Lần đó y
vê râu nghiêm trang nói với mọi người: "Thôi, đừng có kiếm chi cho mất
công. Hồi đêm tôi nằm chiêm bao thấy ông thần gió tới báo cho tôi rằng chính
ông đã đem bức tranh đó đi. Tôi mới trách ổng: "Đáng lẽ ngài muốn thỉnh cụ
đi cũng phải cho bà con hay trước chớ?". ổng năn nỉ tôi: "Không thể
cho hay trước đặng bây giờ tôi báo cáo cho anh biết, anh nói lại với bà con
giùm tôi"... Thằng cha Tư Râu xưa nay nói dóc quá nên khi y nói gì ra cũng
hay bị người ta chất vấn hoặc cãi lại, thế mà lần đó hình như không có ai phản
đối y cả.
Anh Bảy phó chủ nhiệm kể đến đấy dừng lại, cởi áo ra rồi nói
tiếp:
- Tôi là bạn thân với anh Chín Giò. Tôi nghe tin ảnh chết thì hết sức phục ảnh.
Anh à, mình hiểu cái tinh thần của anh Chính nên mình khâm phục anh Chín là phải,
nhưng tôi cứ hồ nghi rằng thằng Mônôry nó bắn chết anh Chín chớ chưa chắc nó biết
được lý do anh Chín không chịu trèo lên là bởi làm sao?... Có khi nó tưởng anh
Chín mình sợ bẫy lựu đạn cũng nên.
Tôi cũng phân vân đáp:
- Chẳng biết nó có hiểu được không?
Anh Bảy ngắt lời tôi:
- Không, rồi sự ấy nó phải hiểu. Sau đó một vài tháng có một
người nữa, cũng như anh Chín, đã làm cho nó hiểu thêm. Người đó là em tôi. Phải,
Tám Đô bị bắt sau đó hai tháng. Vì hầm bí mật bị chó săn đánh hơi được. Thằng
Mônôry lần đầu tiên thí nghiệm chó săn thì bắt được em tôi. Kể ra nếu lúc Tám
Đô nhảy lên khỏi hầm mà không bị một viên đạn lễu trúng trán và đùi thì nó đã
chạy thoát. Nhưng vì bị thương khá nặng nên phải chịu bắt. Lúc đầu thằng Mônôry
cũng cho em tôi là một du kích nào đó thôi. Nhưng mấy thằng ngụy người Hiệp
Hưng bảo với thằng Mônôry:
- Thưa ông xếp, thằng này tên là Đô. Chính nó đã vẽ ảnh lãnh
tụ của nó treo lên ngọn cây dừa hồi tháng trước. Lúc ông xếp chưa đổi về đây,
năm nào nó cũng đều làm như vậy!
Thằng Mônôry biết ra việc ấy thì chiều hôm đó nó chưa đem bắn
em tôi vội. Tờ mờ sáng hôm sau thình lình nó dẫn lính vây ráp bắt tất cả mọi
người ở chợ và một số người ở Hiệp Hưng, lùa tất cả mọi người ra bãi cỏ gần cầu
sắt để coi xử em tôi. Có người chạy vô xóm cho tôi hay. Tôi vì nóng lòng thương
em, nên liều mạng mò ra, lẫn vào đám đông bà con. Khi tôi ra tới nơi thì đã thấy
em tôi bị trói ngồi trên bãi cỏ. Thằng Mônôry nói tiếng Tây với mọi người. Tên
lính thông ngôn dịch lại:
- Bữa nay ông xếp đem xử cái thằng đã vẽ ảnh Hồ Chí Minh. Thằng
đó ông xếp đã ra lệnh thộp nó từ lâu. Nay chính tay ông xếp đã bắt được nó. Ông
xếp muốn nó đền tội trước mặt mọi người, cho tất cả ai cũng đều đặng trông thấy.
Tôi nghe nó nói xong chỉ còn cố ráng đứng nhìn mặt em tôi một
lần cuối, để khi súng nổ rồi tôi có thể nhớ thiệt lâu cái gương mặt em tôi trước
khi nó chết. Mặt em tôi bấy giờ nhợt nhạt hẳn đi, vì vết thương ở đầu và chân
chảy mất nhiều máu quá. Nhưng nói chung nó vẫn bình thường. Dưới mớ tóc đắp rủ
lên mép trán, đôi mắt nó liếc nhìn tên xếp bót trông vừa bén lạnh lại vừa dữ tợn.
Đôi mắt ấy khi bắt gặp tôi thì dịu hẳn ngay xuống, không buông tôi ra nữa, và cứ
lặng lẽ nhìn cho đến lúc tôi phải quay mặt đi mới thôi. Có gần năm phút mà
chúng nó vẫn chưa rục rịch gì. Nhìn về phía thằng Mônôry, tôi lạ quá, thấy nó cứ
đứng thừ cái bộ mặt của nó ra. Một tay nó nắm cán súng lục đeo trễ bên hông, một
tay bẹo cằm, có vẻ suy nghĩ lung lắm. Bọn lính đã ghìm những cây súng trường
Anh đầu bằng, chỉ đợi thằng Mônôry hạ lệnh bắn vào em tôi. Vừa lúc đó thằng
Mônôry giơ tay. Tôi nhắm mắt day mặt chỗ khác. Nhưng mãi không nghe thấy súng nổ,
và mọi người xung quanh bỗng xôn xao cả lên. Tôi quay lại thấy thằng Mônôry
vung mạnh tay ra hiệu cho bọn lính giạt qua hai bên. Nó vẫy tên lính thông ngôn
cùng đi với nó lại trước mặt em tôi. Nó hỏi em tôi:
- Trước đây mày học vẽ ở đâu? Có học ở trường Gia Định không?
Em tôi lờ đi không đáp. Thằng Mônôry tự trỏ ngón tay cái vào
ngực:
- Mày không rõ chớ tao cũng là họa sĩ đây. Thấy mày biết vẽ
nên tao chưa nỡ bắn mày. Nhưng tao hỏi: Nếu bây giờ tao thả mày ra thì mày còn
dám vẽ nữa không?
Em tôi trề môi đáp:
- Vẽ là nghề của tao mà.
- Bây giờ tao cho mày vẽ mày dám vẽ không?
- Vẽ cái gì?
- Vẽ gì tùy ý. Vẽ hình Hồ Chí Minh cũng được.
Em tôi đáp giọng cứng cỏi:
- Mày nói chuyện nghe ngu lắm. Hình lãnh tụ của tao mà sao
tao không vẽ được. Bất
cứ ở đâu tao cũng vẽ được hết thảy!
Thằng xếp Mônôry nghe em tôi đáp thì nó giương cặp mắt xanh lè như mắt mèo nhìn
suốt người em tôi. Nó day qua nói vào tai tên thông ngôn. Tên thông ngôn bảo em
tôi:
- Ông xếp nói thiệt đấy. Nếu anh dám vẽ trước những mũi súng này thì ổng lấy
danh dự của một người quân nhân bảo đảm không bắn anh bất tử. Nè, anh không biết,
chớ ổng là một người có học vấn, trước kia hồi ở bên Tây ổng có học vẽ. Bây giờ
thỉnh thoảng ổng cũng hay vẽ chơi. ổng muốn coi anh vẽ. ổng sẽ cho người lấy đủ
giấy bút cho anh vẽ tại đây. Anh vẽ được chớ?
Em tôi hất ngược mớ tóc ra sau gật đầu không chút do dự. Tôi không ngờ thằng xếp
bót có ý định lạ lùng như vậy. Ban đầu tôi nghi nó bày ra việc này để dẫn tới
cái sự gì đây. Nhưng tôi rất tin em tôi. Từ trước tới nay nó chưa từng chịu
thua trí thằng địch bao giờ. Thằng Mônôry sau khi thấy em tôi gật đầu, nó liền
móc túi lấy ra một xâu thìa khóa quẳng cho một tên ngụy. Trong lúc tên ngụy chạy
về bót thì thằng Mônôry ra lệnh mở trói cho em tôi. Nó đi đến đứng trước mặt em
tôi, miệng bập bập cái ống píp. Nó lừ ngừ nhìn em tôi một lúc rồi rút phắt cái
píp thuốc ra khỏi miệng, lên giọng:
- Tụi như chúng mày mà biết vẽ cái gì... Nếu mày biết vẽ ắt
là mày phải có phần nào biết yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống. Tại sao mày không
vẽ phong cảnh, vẽ động vật hoặc vẽ cái gì khác... mà lại đi vẽ thứ này để phá rối
trị an?
Và nó hạ thấp giọng xuống:
- Mày có biết ông Pát không? Ông Pát là một nhà điêu khắc và
họa sĩ có tài, rất nổi tiếng ở Paris. Ông sang bên này làm giám đốc trường mỹ
thuật Gia Định để giáo dục cho tụi bây hiểu biết về cái đẹp, về nền nghệ thuật
hội họa lâu đời của một nước văn minh lớn ở nước Pháp chúng tao. Thế mà tụi bây
đã giết ổng, giết một người nghệ sĩ... Ông Pát có phải là một nhà quân sự gì
đâu. Ông không phải là người cầm súng. Ông chỉ đi chung với những sĩ quan trong
đoàn xe hộ tốngt trên đường Là Ngà. Tụi bây đã bắn ổng chết...
Nghe nó nói, em tôi im lặng một chốc rồi ngẩng lên bảo:
- Thứ như mày mà cũng nói chuyện thiên nhiên, cây cỏ. Trước
khi mày mở miệng nói với tao câu đó đáng lẽ mày phải nhìn khắp chung quanh cái
bót này coi có còn một cái cây nào còn sống được không? Cây có trái tụi mày
cũng đốn, cây sắp ra trái tụi mày cũng chặt. Tới từng ngọn cỏ chúng mày cũng đạp
lên... Mày nói mày là họa sĩ, thì tao cũng có thể tin cho mày đi. Mày lại nói
nước Pháp có một nền nghệ thuật hội họa nổi danh. Có, cái đó có... Nhưng riêng
tụi chúng mày thì đừng có xí phần vào, nghe không? Mày nói chúng tao giết chết
ông Pát là giết một nghệ sĩ Pháp. Không, nhân dân Việt Nam chúng tao không bao
giờ có ý định giết hại những người nghệ sĩ chân chính của nước Pháp. Trái lại
chúng tao rất yêu mến những người đó. Mày có đọc quyển "Kháng chiến nhất định
thắng lợi" của lãnh tụ tao chưa? Trong cuốn sách đó, lãnh tụ của chúng tao
có nói rõ "... Chúng ta đánh bọn thực dân xâm lược Pháp, chúng ta không
đánh nhân dân Pháp"... Ông Pát nào mà mày nói đó nếu quả ổng có chết thì ổng
phải cam chịu thôi. Chúng tao nã súng vào đoàn xe chở lổn nhổn bọ sĩ quan xâm
lược chúng mày, đạn liên thanh của chúng tao có nhận mặt được ông Pát mà chừa ổng
ra được đâu?
Câu chuyện đối đáp qua lại giữa thằng Mônôry với em tôi vừa đến
đấy thì tên lính ngụy về bót khi nãy đã ra tới. Nó đem đến đưa thằng Mônôry một
cuộn giấy vẽ trắng tinh và một hộp màu hình chữ nhật bằng gỗ đánh vẹcni nâu
bóng nhoáng. Thằng Mônôry cầm các thứ đi lại chỗ em tôi. Nó mở tờ giấy, thận trọng
trải ra trên cỏ rồi đặt hộp màu bên cạnh. Tôi hồi hộp theo dõi từng cử chỉ của
em tôi. Bà con trước đó không ai muốn đứng nhìn cảnh thương tâm sắp diễn ra thì
giờ chen nhau mà coi cảnh em tôi đang loay hoay chuẩn bị vẽ trên bãi cỏ. Bấy giờ
em tôi chỉ có được cánh tay phải và chân trái là còn lành lặn. Mà cánh tay phải
vì bị trói nghịt lâu quá, vừa được cởi ra nhưng chắc bị tê hay sao nên em tôi
nó cứ quơ quơ một lúc mới cử động được. Đầu tiên em tôi mở hộp màu ra. Tôi thấy
cặp mắt nó vụt sáng rực lên trước những gói bột màu lổn nhổn, những bút, những
than vẽ. Hộp màu ấy đối với nó quý lắm. Có bao giờ nó sắm được một hộp màu như
vậy đâu. Em tôi đưa tay bươi bươi những gói màu. Nhưng cuối cùng nó chỉ cầm lấy
một mẩu than. Tôi hơi ngạc nhiên. Tôi đoán có lẽ em tôi nó biết sức lực của nó
không cho phép có thì giờ rảnh rỗi để tô màu tô mè gì nữa. Cho nên nó chỉ chọn
lấy một mẩu than rồi đưa cùi tay trái chận xuống tờ giấy rà vuốt cho mặt giấy nằm
im. Nhưng khổ nỗi gió ngoài vàm sông cái thổi vào làm tờ giấy nằm trên cỏ cứ phập
phều, em tôi loay hoay mãi mà không sao vẽ được.
Thằng Mônôry thấy thế liền sai tên thông ngôn tức tốc chạy về
bót vác lại một cái giá vẽ. Rồi tự tay nó bê cái giá vẽ lại đặt trước chỗ em
tôi. Nó bố trí sắp xếp, hạ trục giá thấp xuống, áp tờ giấy lên bảng vẽ, ghim
kim bốn góc. Xong rồi nó xoa xoa hai bàn tay vào nhau, bước lùi ra. Em tôi liền
duỗi cái chân bị thương sang một bên, tỳ khuỷu tay cục xuống cỏ, rướn người tới.
Tay phải em tôi cầm mẩu than nhanh nhẹn phác họa những đường trên không khí chớ
chưa chạm lên mặt giấy. Bỗng thình lình một giọt máu từ trên trán nó nhễu xuống
giữa tờ giấy. Em tôi dừng tay, đôi mày nhíu lại đăm đăm nhìn giọt máu. Và nó từ
từ buông mẩu than đang cầm, đưa tay lên quệt máu nơi trán. Tức thì tôi cảm thấy
khắp người tôi máu nóng ran. Thằng Mônôry biến sắc. Nó luôn đưa tay gãi gãi bộ
ngực lông lá của nó. Bà con chung quanh chạo rạo cả lên. Có người buột miệng
kêu "Trời ơi..." và tiếng đàn bà khóc sùi sụt. Anh ạ, em tôi bắt đầu
vẽ bằng ngón tay trỏ chấm máu trên trán của nó. Trước tiên nó vẽ đôi mắt Cụ. Tất
cả sức lực nó đều dành cho việc vẽ đôi mắt ấy. Tôi đứng nhìn mà chân cứ như giẫm
phải lửa. Bấy giờ tôi không còn nặng lo về số phận của em tôi lắm mà lại lo
không biết em tôi có đủ sức vẽ xong bức tranh Cụ hay không. Việc đó bấy giờ đã
trở nên quan trọng hơn cả cái tính mạng của em tôi nhiều. Tôi chỉ đợi hễ em tôi
ngước lên bắt gặp tôi lần nữa thì tôi sẽ nhìn nó, trợ tinh thần và khích lệ nó.
Nhưng nó không nhìn tôi. Từ đó trở đi, đôi mắt nó chỉ dán lên bảng vẽ. Vẽ được
một bên mắt trái Cụ, em tôi mệt quá ngất đi. Thằng Mônôry sai lính xách gầu ra
bờ sông múc nước rẩy lên mặt em tôi. Em tôi tỉnh dậy thì máu trên ngón tay trỏ
của nó vừa ráo lại. Nó đưa mắt nhìn đồng bào một lượt đoạn quệt máu trên trán
cúi xuống vẽ. Lúc em tôi vẽ xong đôi mắt Cụ, tôi nhẹ nhõm cả người. Nhưng em
tôi thì lại gục xuống một lần nữa. Bọn lính vốc nước còn lại trong gầu tưới lên
người em tôi. Nó dần hồi tỉnh. Lần này nó ngồi dậy đưa ngón tay chấm phá rất
nhanh. Đến lúc bức tranh gần thành hình, em tôi chõi khuỷu tay trái, nghiêng
người ra phía sau để ngắm rồi mới ngã vật ra. Bọn lính kêu lên:
- Nó chết giấc nữa rồi!
- Đổ nước nữa đi!
Nhưng lần này chúng tưới trọn một gầu nước mà em tôi vẫn
không động đậy. Thằng Mônôry chạy tới cầm chéo áo em tôi giật giật mấy cái. Em
tôi vẫn nằm im, mặt ngửa ra dưới ánh mặt trời mười hai giờ trưa. Thằng Tây cúi
xuống sát mặt em tôi xem một lúc rồi đứng thưỡn dậy, lẩm bẩm:
- Chết rồi...
... Tôi cũng tính là em tôi phải chết chớ không thể nào sống
đặng. Vì có bao nhiêu sức sống còn lại nó đã dốc ra hết. Nhưng tôi không khóc.
Cái cảm giác đau đớn khi có đứa em ruột mình chết đi ở trong tôi bấy giờ mình
như không cào cấu ruột gan tôi mạnh như trước. Thằng Mônôry thấy em tôi đã chết,
nó đứng rũ ra một chốc. Nó không còn cái vẻ hống hách thường ngày của thằng xếp
bót nữa. Nó đứng trước bức tranh rất lâu, nhìn những nét máu còn tươi rói trên
tờ giấy... Anh ạ, bức tranh đó nói chung còn nhiều nét phụ chưa vẽ kịp, như râu
tóc không vẽ được hết nét, bởi vì bao nhiêu nét đều phải dồn vào vẽ đôi mắt.
Thiệt, đôi mắt của Cụ trong bức tranh ấy thì em tôi vẽ giỏi hơn tất cả những
đôi mắt Cụ nó vẽ từ trước tới nay. Chỉ riêng nhìn đôi mắt không cũng có thể nhận
ngay ra khuôn mặt nhân hậu của Cụ anh ạ... Trưa hôm đó, tôi đem xác em tôi về
chôn...
Anh Bảy đang nói bỗng dừng lại. Không hiểu sao lúc ấy hai bàn
tay tôi tự nhiên với ngoặc ra sau thân cột, run run rờ rẫm những vết rìu đẽo sần
sùi trên gỗ. Và tôi hỏi:
- Còn bức tranh?
- Bức tranh thì sau đó thằng Mônôry cuộn lại đem về bót.
Tôi kêu lên:
- Nó lấy bức tranh à?
- Phải, nó lấy đem về... Tới cuối năm năm mươi thằng Mônôry sắp
được về Tây. Nhưng số nó không đi khỏi nước mình đặng. Bót Hiệp Hưng bị bộ đội
về đánh và thằng Mônôry chết trước một ngày nó lên đường đi Sài Gòn để về Tây.
Anh em bộ đội lấy được trong buồng riêng của nó một cái va ly da. Trong va ly
có nhiều bức tranh chính nó đã vẽ. Bức thì vẽ hình một chị phụ nữ lõa lồ đang oằm
oại, bên dưới đề "Sau lúc hỏi cung", bức thì vẽ đồn bót cây cảnh ở Hiệp
Hưng. Bức tranh Cụ của em tôi vẽ bằng máu tìm được trong góc va ly, đã cuộn lại,
phía sau có ghi một dòng chữ Pháp. Anh Danh, chánh trị viên lúc trao bức tranh
lại cho tôi đọc những câu văn nó ghi là: "Bức tranh này do một tù binh Việt
Nam đã vẽ trong một hoàn cảnh hết sức khủng khiếp và kỳ quặc".
Anh Bảy phó chủ nhiệm thôi kể. Tôi được dịp thở ra một hơi.
Anh Bảy đứng cầm lấy áo mặc vào và nói:
- Hồi đi tập kết tôi tính mang bức tranh theo nhưng bà con
trong xã yêu cầu tôi để lại. Tôi đã nghe theo lời bà con mà để lại. Tiếc quá...
nhưng thôi, để lại cho bà con mình ở trỏng thì có gì là đáng tiếc. Tôi cứ nghĩ
sau này thống nhứt tìm lại bức tranh đó đưa vô bảo tàng thì quý lắm. Chắc chắn
đến lúc đó bức tranh đã có ý nghĩa dài hơn cái ý nghĩa câu chuyện tôi vừa kể
cho anh nghe nhiều lắm rồi.
28/1/2005
Anh Đức
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Sao phải là Khánh Ly
Sao phải là Khánh Ly?
Tên tuổi Khánh Ly gắn liền với những ca khúc Trịnh Công Sơn để trở thành “thương hiệu kép” nổi tiếng hàng đầu trong nhạc sử Việt Nam [*]. Cô vẫn được cho là “sinh ra để hát nhạc Trịnh Công Sơn”. Nhưng vì sao?
Diva này từng “bị tố cáo” là “không hát”, mà chỉ dùng chất giọng “sương mù lạnh ẩm” của mình để “xướng âm” theo cách “chân phương” nhất: “Không biểu cảm”, “không cao trào/thấp trào” - “không điều chỉnh cường độ âm thanh” gì hết (khác hẳn với Thái Thanh hay Lệ Thu: “biểu cảm” phong phú, “to/nhỏ, lên/xuống” đúng mực - khi “êm khẽ dịu dàng”, lúc “mãnh liệt dữ dội”). Ngoài ra, giọng cô cũng bị xem là “lạnh lẽo”, “hững hờ”, và “bải hoải” (so với cái “nóng bỏng”, “da diết”, hay “sôi nổi” của hai diva kia), còn phát âm của cô thì “lười lĩnh”, “nhòe cạnh”, và “buông lỏng” (chứ không “dụng công”, “sắc bén”, và “chắc nịch” như của hai “đỉnh cao” còn lại)! Chưa hết, người ca sĩ này còn đứng yên “như pho tượng”, nét mặt cũng “như pho tượng”, chỉ hai môi là buộc phải “động đậy” [**] (trong khi Thái Thanh thường “sống động”, còn Lệ Thu cũng có “chuyển động”, tuy không nhiều). Tôi tin nếu thủ đắc được thuật “phát âm bằng bụng”, cô cũng sẵn lòng cho hai môi “bất động” ngay tức thì?!
Ấy nhưng mà, thật lạ lùng và thú vị, toàn bộ những gì Khánh Ly bị “tố cáo” hóa ra lại là những “công phu”, những “bí quyết” độc nhất vô nhị - chưa (và sẽ không) ai thực hiện thành công được như thế ngoại trừ chính cô. Thật vậy, bạn có thể “thách” bất kỳ ai khác “hát như không hát”, “biểu cảm như không biểu cảm”, nhả chữ “lạnh lẽo, hững hờ, uể oải, lười lĩnh, nhòe cạnh, buông lơi”, và đứng yên “như một pho tượng” (mà không được để cho khán/thính giả “ngoảnh tai”, “rời mắt”, hay “dợm chân bỏ đi”, tất nhiên rồi)? Tin chắc đi: Bạn sẽ thắng cả trăm phần! Nhưng, một lần nữa, tại sao?
Vậy thì đây, vâng, lời đáp chính xác - lý do quan trọng nhất: Trên hết cả mọi thứ, chất giọng “mù sương ẩm lạnh” của người ca sĩ này không “hay”, mà là “quá hay”, “quá liêu trai”! Phát âm/ cấu âm của cô thật “chuẩn xác”, mà cũng thật “độc đáo”, “hút hồn” - chỉ một lần nghe qua, bạn sẽ không thể quên, cũng không thể nào nhầm với ai khác nữa.
Chính Trịnh Công Sơn đã chọn Khánh Ly làm người “chuyển tải” các “thông điệp” của ông; ông biết rõ cô sẽ đáp ứng tốt nhất những “yêu cầu”, những “í đồ nghệ thuật” của mình. “Đúng là chỉ có Khánh Ly mới thể hiện đúng tâm trạng bài hát của tôi nhất”, ông trả lời phỏng vấn. [***]
Trịnh Công Sơn được cho là đã tạo ra một “cõi ảo” với mảng “tình ca” của ông; phải chăng chỉ chất giọng “sương ẩm lạnh mù” của Khánh Ly mới có thể “ướp” cho cái “cõi” kia được nguyên vẹn “ảo” như thế (chứ nếu là “nắng” (dù có “sáng đẹp”) với “nóng” (dẫu là “ấm áp”) - như Thái Thanh hay Lệ Thu chẳng hạn - thì cái “ảo” ấy rất có thể sẽ bị làm cho “bốc hơi” đi ít nhiều)?. Còn bản thân Khánh Ly? Hẳn cô cũng phải “kềm” không cho “thân nhiệt” vượt quá cái “ngưỡng… X độ bách phân” nào đấy; bằng không, chất giọng sẽ không còn đủ “lạnh” và sẽ “làm hỏng” tất cả? Mà còn cách “kiềm nhiệt” nào hiệu quả cho bằng “cử động ít nhất có thể”?
Nhưng đâu chỉ thế? Họ Trịnh đâu chỉ có “cõi ảo” với mảng “tình ca”, ông còn một “cõi rất thật” - “Việt Nam chiến tranh” - với mảng “ca khúc da vàng”, mà ở đó, giọng ca vị “ngôn sứ” của ông dù vẫn thế - không đổi - song thay vì “ướp” cho nguyên vẹn một “cõi ảo”, thì lần này cái làn “sương lạnh ẩm mù” ấy lại chở theo “hiệu ứng” khác hẳn - “nhuốm” cho nó - cái “cõi rất thật” ấy - một “màu khăn sô”, bằng “tiếng khóc khô” của một “tử thi sống” - nghe “chai sạn”, “rã rời”, và “hoang dại”. Mà cũng vậy, chẳng có lí nào một “tử thi” lại được phép “cử động” hay “biểu cảm”?!
Dù sao, tôi vẫn tưởng Khánh Ly - qua Trịnh Công Sơn - còn tham vọng hơn thế? Cô muốn không chỉ khẳng định một “phong cách” hay một “thái độ”, mà định hình hẳn một “loại hình nghệ thuật”, trong đó người thể hiện phải tuân thủ các đòi hỏi gần như “quy luật”, hay có thể còn hơn cả thế - như những “nghi thức” - nghiêm ngặt mà tinh vi? Bạn hãy khoan bĩu môi - tôi muốn hỏi bạn đã từng “pha/uống trà Tàu” như nhà văn Nguyễn Tuân? Từng hiểu về “Trà Đạo” của người Nhật? Hay đã từng xem “tuồng Nô” (cũng của người Nhật, ở đấy diễn viên không được phép “để lộ facial expression” nào)? Hay, tốt hơn, bạn có từng nghe/nhìn “ca Trù Bắc Bộ”? [****]
Thế thì, Khánh Ly - với nhạc Trịnh Công Sơn - không chỉ là một “giọng hát”, mà còn là một “phong cách”, một “thái độ” trình diễn; qua đó, một “loại hình nghệ thuật mới” được thiết lập? Lười chữ và nghèo liên tưởng nhất, tôi chỉ gọi nó là “ca Trù Sài Gòn - ca Trù Khánh Ly/ Trịnh Công Sơn”.
Hôm nay, nhiều ca sĩ khác cũng hát nhạc của họ Trịnh (tất nhiên với “phong cách” và “thái độ” riêng của mỗi người, và cũng chưa hẳn đã là “dở”), chỉ có điều không ai “biết đứng yên” để hát loại “ca Trù” mới này, cũng không ai có thể trả lại cho cả “cõi ảo” lẫn “cõi rất thật” của ông cái “ẩm lạnh mù sương”, nguyên sơ và “huyền thoại”, như Khánh Ly đã làm ngày ấy nữa.
Chú thích:
[*] Trong số các bài hát của Khánh Ly ở “trang” này, tác phẩm của Trịnh Công Sơn chiếm chủ yếu. Không phải vì cô không hát nhạc ai khác, càng không phải cô hát những “người ấy” không hay, mà chỉ bởi cô không phải là người hát “hay nhất” những bài của họ, và chỉ vậy.
[**] Như trong hai clip này: Ru Ta Ngậm Ngùi và Đêm Cuối Cùng.
[***] Điều này không có nghĩa Khánh Ly luôn luôn hát “hay nhất” các bài hát của Trịnh Công Sơn. Chính ông cũng xác nhận, với “Hạ Trắng” và “Xin Mặt Trời Ngủ Yên” thì Lệ Thu là vô địch (ấy là ông quên chưa kể các bài “Như Cánh Vạc Bay” và “Biển Nhớ”, mà Lệ Thu đã làm cho rất “lộng lẫy” sau đó?), còn với “Lời Buồn Thánh” thì phải là ca sĩ Bạch Yến.
[****] Được biết vào khoảng những năm cuối thập niên 90 (thế kỷ trước), có đoàn nghiên cứu văn hóa của Đức đến Hà Nội, nhân dự buổi “giao lưu” có tiết mục “ca Trù”, đã (nhỏ nhẹ) nhận xét: Hình như đây không phải là Ca Trù “chính thống” của quí vị? Bởi họ thấy các “nghệ nhân” cứ “lúng la lúng liếng”, “đong đa đong đưa”…, mà theo chỗ họ hiểu về loại hình nghệ thuật (quý hóa) này của Việt Nam, thì các “đào nương” phải “đứng hoặc ngồi nghiêm”, “nét mặt cũng nghiêm”! Song “chủ nhà” có cho vàng cũng chả dám thú thật với “khách quí” rằng thì là vâng ạ, quả đấy là “hàng giả” - chả là các em văn công gái “đóng thế vai” - để “phục vụ nóng” cho “yêu cầu giao lưu tại chỗ”, chứ biết đào đâu ra “hàng thật” - là thứ đã kịp tuyệt chủng từ thời “Cải Cách Ruộng Đất” - bây giờ?.
Sài Gòn, 14/12/2012
Ấu Lăng
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Tại sao người ta còn mãi nghe họ hát
Tại sao người tacòn mãi nghe họ hát?
Tại sao chúng ta còn nghe mãi những ca sĩ này hát những bài
hát này, dù không bất kỳ ai trong số họ từng được mệnh danh là vocalist? Tất
nhiên, có vẻ chẳng ai trong số các ca sĩ yêu quí của chúng ta ngày đó đã từng
được đào tạo kỹ năng xướng âm hoặc thanh nhạc. (Mấy kẻ trong số
họ có thể xướng âm ngay một dòng nhạc mà không tập trước? Bao nhiêu người có thể
hát không cần hỗ trợ của dàn ampli cùng với loa?) Cũng thế, trong số các nhạc
sĩ viết ca khúc cho họ hát cũng có mấy ai đã từng học qua hòa âm từ
sơ đến cao cấp, nói gì đến đối âm “thuận” với đối âm “nghịch”,
nói gì đến các kỹ thuật tẩu pháp - để biết thế nào là triển khai “nhạc
đề”, thế nào là khai thác “cung”, “quãng”? Tóm lại, cả người viết ca khúc lẫn
người hát đều chỉ là “nghiệp dư”, chỉ là “tự phát”, một cách hồn nhiên, thế
thôi. Tuy nhiên, nhiều người trong chúng ta sẽ không đánh đổi dù chỉ một câu họ
hát để lấy thậm chí cả một tủ CD “Tiếng Hát Thanh Lam”.
Không ít người đã trả lời rằng những ca sĩ của chúng ta ngày đó tuy không qua
đào tạo hàn lâm nhưng được trời cho chất giọng rất hay, rất độc đáo, “chẳng ai
giống ai”, “chẳng lẫn vào đâu được”. Họ chỉ cần cất tiếng hát lên một vài chữ,
ta đã có thể nhận ra là ai - Carol Kim ắt phải khác Julie Quang, Connie Kim
không hề giống Mai Lệ Huyền, Thanh Tuyền lại càng khó lẫn với Thanh Thúy. Duy
Khánh thì không thể nào bị nhầm thành Chế Linh, Nhật Trường thành Hùng Cường,
Tuấn Ngọc thành Sĩ Phú, Jo Marcel thành Elvis Phương cho được. Ca khúc họ hát
cũng thế, cứ như thể đã được “đo ni đóng giày” vậy: Đúng như có người đã bảo,
nghe “buồn vào hồn không tên” thì ắt là người này, “từng bước từng bước thầm” -
hẳn là người kia, “gửi tới em gửi tới em một hạt mưa lẻ loi” - phải là người ấy,
“cái trâm em cài là do người yêu em biếu đó” - chắc chắn là người nọ, “mỗi năm
đến hè lòng man mác buồn” - thôi rồi, lại người khác nữa! Ấy chưa kể nhạc intro
và phối khí: Chỉ “trong vòng đôi ba (thậm chí “một”) nốt nhạc”, ta đã
nhận ra “bài quen, người quen”. Tóm lại, tất cả - từ giọng hát, đến bài hát, nhạc
đệm - đều để lại ấn tượng “in hằn, khoét sâu, đâm thủng”, khiến người nghe
phải “nhớ cả đời”, thậm chí “cả đến kiếp sau” - điều mà “nhạc ta” hôm nay có
“mơ cũng chả được” (khiến một nhạc sĩ đương đại ganh tị đến mất cả kiên nhẫn,
phải thét lên: “Thời này mà người ta cứ còn nghe mãi một loại nhạc… như thế là
bất bình thường!”)Một cách giải thích quen tai nữa là các ca sĩ ngày đó hát “có hồn” hơn, và các
ca từ cũng “có ý nghĩa” hơn, đồng thời “văn vẻ” hơn. Trong hai điều vừa nêu, thực
ra, điều thứ hai (ca từ) có tính quyết định: Nếu lời ca “vô nghĩa” hay “thô thiển”,
ai có thể hát cho “ra hồn”? Và nó cũng đòi hỏi cách diễn tả phù hợp. Nhân đây
không thể không nhớ đến những “ca” phối hợp trớ trêu giữa một bên là “ca từ
ngày đó”, còn bên kia - “giọng hát bây giờ”, mà kết quả là người viết ca khúc
phải than thở rằng ca sĩ “hát nhạc ông không ra được cái hồn”, hoặc thậm chí
năn nỉ người hát “tha cho nhạc của ông”!Lý do người ta đưa ra có khi còn cực đoan hơn thế. Chẳng hạn, theo mợ tôi - một
người rất sành bếp núc - thì ‘các giọng hát ngày ấy là chim trời, cá biển, tự
sinh tự trưởng, chẳng do ai nuôi nhốt, ắt “thịt” phải săn hơn, ngọt hơn, có giá
trị dinh dưỡng hơn hẳn so với các “diva”, “divo” được sản xuất từ chuồng trại
công nghiệp hôm nay, dù có tẩm ướp gia vị đủ loại thế nào thì cứ vẫn “không bở
bục cũng dai nhách”, chưa kể phẩm mầu công nghiệp, dư lượng kháng sinh, mợ có
muốn thử cũng chả đành lòng.’ Còn theo cậu tôi - rất sành hoa quả - thì ‘họ như
quả tự nhiên chín cây, thơm, lành, mát, ngọt, ngon, bổ, đủ kiểu, chẳng như hôm
nay, rặt hàng biến đổi gien hết canh tác bằng phân hóa học, thuốc trừ sâu, lại
thu hoạch bằng thuốc kích phọt, thuốc thúc chín, rồi bảo quản bằng “phong phú
và đa dạng” các hóa chất “chưa được kiểm định” khác, thảy đều “nằm ngoài danh mục
cho phép”, bao giờ chán sống cậu mới ăn.’Hẳn rằng tất cả những lý lẽ “yêu”/ “ghét”, “đẹp”/ “xấu”, “hay”/ “dở” của chúng
ta đều chủ quan. (Như một “nhà” nổi tiếng nào đó đã phán: “Đẹp là gì? Ấy là con
cóc cái đối với con cóc đực của nó!”) Chỉ cần lấy thí dụ về ca nhạc thôi: Michael
Jackson có là tượng đài của bao nhiêu người thì cũng có bấy nhiêu kẻ bĩu môi.
Whitney Houston đoạt hết Grammy này đến Grammy khác ư? Ái chà, nhưng bảo đảm
trong túi xách của ô-sin nhà tôi sẽ chẳng bao giờ có CD của diva ấy. Thần tượng
của bạn có giọng ca siêu phàm đến độ có thể “hát hay cả một danh bạ điện thoại”
hả? Tốt thôi, nhưng ông (hay bà) ấy cứ việc nằm yên đấy trong sọt rác của một
ai đấy khác, chả tại sao hết! Trở lại với những ca sĩ của chúng ta ngày đó, với
chủ quan tôi, có thể sẽ không bao giờ thôi nghe họ không hẳn vì những giọng hát
và những bài hát ấy “thực sự hay”, mà đơn giản tôi không chỉ nghe họ hát, cũng
không chỉ nghe lại những ca khúc; tôi “nghe” lại một phần đời của tôi và của cả
những người thiết thân nhất với tôi.Trang “Saigon Hợp Tuyển” dưới đây để dành cho cậu mợ tôi và những ai cùng sở
thích (Người xem có thể click vào tên mỗi bài hát để nghe/ nhìn clip.): http://aqpvn.blogspot.com/2013/05/test-10.html hoặc http://vimeo.com/channels/610380 hoặc http://www.youtube.com/user/aqpvn/videos?shelf_id=7&view=46&tag_id=UCoRqQu6VtsCc4v_2NVK08TQ.3.sg&sort=ddSài Gòn, 21/1/2014Ấu LăngTheo https://www.vanchuongviet.org/
Hỏi khán giả của Lệ Thu
Hỏi khán giả của Lệ Thu
Nếu hỏi giới showbiz Sài Gòn cũ ai là danh ca (từ nửa
sau thập niên 60) có hàng trăm áo dài đẹp và vài chục đôi giày sang cùng với
cát-xê “huyền thoại” - một triệu vnd (hay vài chục ký vàng 24k) một tháng,
thì họ cho bạn biết ngay. Và nữa, nếu hỏidiva nào “hiếu chiến” đến mức sáng đêm
còn miệt mài với cái “chiếu bạc” hay “bàn mạt chược”, thì bạn cũng không phải
chờ lâu mới có giải đáp.
Tất nhiên, chỉ đùa thôi, nhưng dù thế
nào, tiếp cận một nghệ sĩ từ những góc độ “phi nghệ thuật” như vậy là thiếu “nhậy
cảm”? Có chăng chỉ cần hỏi Ca sĩ nào từng được mệnh danh “Giọng Ca Vàng
Ròng”, hay “Tiếng Hát Vàng Mười”, mặc dù câu trả lời sẽ vẫn thế - Lệ
Thu!
Một điều thoạt có thể gây ngạc
nhiên: Số người ngưỡng mộ Lệ Thu lẽ ra đã phải lớn hơn rất nhiều. Vậy, những lí
do nào đã làm hạn chế số khán/thính giả tiềm năng của cô? Có thể kể: (1) Rất hiếm
khi Lệ Thu xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng - truyền thanh
hay truyền hình, (2) mỗi tối cô chỉ hát ở một phòng trà “độc quyền”, mà “vé vào
cửa” là rất đỗi xa xỉ với hầu hết người Sài Gòn xưa, và (3) đĩa hay băng (nhạc nói
chung, ca khúc Lệ Thu nói riêng) đòi hỏi các thiết bị quay đĩa (tourne-disque)
hoặc quay băng (magnétophone hoặc máy nghe cassette) - tất cả đều đắt,
vượt quá khả năng của giới lao động bình thường. Kết quả là, thứ nhất, chỉ có
thành phần trung lưu trở lên mới có điều kiện thưởng thức giọng hát của ca sĩ
này. Và thứ nhì? Có nhiều ca khúc Lệ Thu hát rất xuất sắc mà lại được rất ít
người - kể cả những người yêu thích tiếng hát của cô - biết đến. (Để kiểm chứng,
bạn thử click vào đây để nghe, và trả lời: (1) “Tên bài hát?”, và
(2) “Bạn đã từng nghe bài này?”)
Lệ Thu vẫn được nhắc đến như “một trong những giọng hát tình khúc hay nhất của nền tân nhạc
VN”. Vâng, hầu như người ta chỉ biết tên tuổi của cô gắn liền với những
tình khúc “thời chiến” (Nước
Mắt Mùa Thu, Mùa
Thu Chết, Nửa Hồn Thương Đau, Hạ Trắng, Như
Cánh Vạc Bay, Hoài
Cảm, Tình Khúc Thứ Nhất, Xin Còn Gọi Tên Nhau, Chiều
Tím, Dáng Ngọc, Chiếc Lá Cuối Cùng, Anh Cho Em Mùa Xuân, …) hay “tiền chiến” (Dang Dở [Tà Áo Xanh], Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, Lá
Đổ Muôn Chiều,Bến Xuân, …) bởi những tác phẩm ấy quá phổ biến; tuy vậy,
cũng ở “mảng” tình khúc này, tôi dám chắc còn không ít tuyệt phẩm do ca sĩ này
hát mà bạn chưa từng biết, chẳng hạn: Về Trên Lá Cỏ Ngậm Ngùi, Mái
Tóc Dạ Hương, Mắt Biếc, Yêu, Hoa Soan Bên Thềm Cũ, …? Mà không chỉ thế, có thể bạn
cũng chưa biết: Gia tài của Lệ Thu không chỉ gồm các tình khúc “hiện đại” và
“sang trọng”: Cô còn “lấn sân” qua mảng “sầu tình”, nhưng điều rất ư thú vị (và
kỳ diệu nữa) là qua “bộ lọc Lệ Thu” nó bỗng dưng, chỉ trong “đường tơ kẽ tóc”,
thoát khỏi thân phận “sên… sắc” để trở nên “quí phái” vô song. (Vâng, nhưng bạn
đừng chỉ nghe Sang
Ngang, Một Lần Cuối, Tình
Buồn, mà hãy nghe cả Nửa Cuộc Tình Buồn, Tuyệt Vời Bóng Tối, Bài
Tình Buồn,… nữa.) Và cuối cùng (tạm cho là vậy), một “mảng” khác của Lệ Thu
- mảng đề tài “quê hương”, “thế sự”, mà bản Không Ai Ngăn Nổi Lời Ca tôi vừa “hỏi đố” bạn trên kia
là một thí dụ - vẫn còn đang chờ được phám phá: Vang
Bóng, Tình Quê Hương,Thương Quá Là Thương, Lời
Yêu Dấu Cho VN, Xin Mặt Trời Sáng Trở Lại, Xin
Cho Tôi, … Ở đó, người ta phát hiện một Lệ Thu khác - “về nguồn” - “nồng
nàn” và “tha thiết” khác thường. [*]
Ngày ấy, mỗi lần (rất hiếm hoi, chủ
yếu chỉ trong các show của Jo Marcel và Phạm Mạnh Cương) danh ca này xuất hiện
trên TV, nhiều người phải tạm bỏ dở công việc để “nghe/ngắm” cô - không là “tuyệt
sắc”, nhưng “kiêu sa mê hồn”! Ở vũ trường, mỗi khi Lệ Thu bước ra chỗ dành cho
cô, cầm lấy micro, đứng im, chuẩn bị hát, thì “mọi người dừng khiêu vũ để nghe”.
Sức hút của giọng hát này ở đâu? Ở
cách nhả chữ “điêu luyện”, “chắc nịch mà êm như nhung”? Ở kiểu “ngân rung” cuối
mỗi câu nghe như sóng gợn, “hút hồn”? Hay ở chất giọng “trầm ấm” mà “trang trọng”,
rất “gợi cảm”? (Lệ Thu chọn hát bằng giọng “thật”, không bằng “giả thanh” - ngoại
trừ ở một đôi chỗ trong các bài Bến Xuân, Đêm Đông Lạnh Lẽo, Ly
Rượu Mừng, và Vọng Ngày Xanh. Phải chăng chỉ bằng giọng “thật”, ca
sĩ mới có thể “hát
như rót từng dòng tâm sự đến người nghe”?)
Có lẽ tất cả những nhận xét trên đêu
xác đáng. Quả khó tìm được ai khác hát tiếng Việt phát âm từng chữ vừa đĩnh đạc
chuẩn xác vừa biểu cảm tinh tế, vừa “hiện đại” vừa “kinh điển”, như ca sĩ này.
Giọng đã sẵn khỏe, mỗi lúc lên “cao trào” nghe “mãnh liệt dữ dội” (chẳng hạn ở
các bài Mùa Thu Chết, Chiếc Lá Cuối Cùng, Bài Tình Buồn,… nói trên), nhưng
một trong những đặc điểm quyến rũ nhất của Lệ Thu là cô không phô trương “nội lực”
(điều hiển nhiên thừa mứa trong làn hơi của cô), mà bao giờ cũng mở đầu “êm khẽ
dịu dàng” (nhưng dầu là “êm”, “dịu” đến đâu cũng vẫn cho thấy người hát đang
“nén” làn hơi sung mãn của mình), rồi “mạnh”, “lớn” dần, để đạt đến “đỉnh”,
“bùng vỡ” ở chính xác những “lúc/nơi” cần phải “bùng vỡ” (cứ như thể do một nhạc
trưởng điệu nghệ điều khiển vậy [**]), nghe rất “đắt” [***]. Người ta “hạnh phúc khi nghe Lệ Thu hát”.
Lệ Thu, cùng với Thái Thanh và Khánh
Ly, đã trở thành biểu tượng, “hiện vật lịch sử” của Sài Gòn tân nhạc một thời;
mỗi người trong số họ để lại hàng trăm “tác phẩm” mà họ là “đồng tác giả” (bên
cạnh người viết ca khúc), góp phần giúp chúng vượt qua mọi sàng lọc nghiệt ngã
của thời gian cũng như của số phận, để mãi ở lại trong lòng những người yêu nhạc
Việt.
Chú thích:
[*] Để nghe đầy đủ hơn các ca khúc do Lệ Thu trình
bầy, bạn click vào đây. Trang này để dành tặng cho những ai yêu mến tiếng
hát Lệ Thu.
[**] Nhân nhắc đến “một nhạc
trưởng điệu nghệ…”, tôi chợt liên tưởng và không khỏi ngạc nhiên: So với Thái
Thanh và Khánh Ly, một người được đào tạo và hỗ trợ bởi môi trường sáng tác và
trình diễn ca nhạc sẵn có của gia đình (nhạc sĩ Phạm Đình Chương kiêm ca sĩ
Hoài Bắc, ca sĩ Hoài Trung, ca sĩ Thái Hằng, và nhạc sĩ Phạm Duy) và người kia
- bởi chính tác giả các ca khúc cô thể hiện (nhạc sĩ Trịnh Công Sơn), thì Lệ
Thu chẳng được đào tạo hay hỗ trợ bởi bất cứ một “thẩm quyền” âm nhạc nào; bởi
đâu cô lại có thể đạt đến “đỉnh cao” đối lập với hai “đỉnh cao” kia? Vậy, bên cạnh
sự thông minh, “trực cảm thẩm mỹ” của ca sĩ này thật đáng gờm? Điều này có thể
thấy rõ nhất khi cô trình bày những “bài thơ phổ nhạc” (khi ấy, ngoài phần “nhạc”,
người hát còn phải bảo toàn được giá trị (thi ca) cho phần “thơ” - tất nhiên phải
giả định là “nhiệm vụ khó khăn” kia đã được người nhạc sĩ, về phần mình, chu
toàn qua công đoạn “phổ nhạc” rồi). Vâng, khi nghe Lệ Thu hát Ngậm
Ngùi (Huy Cận/Phạm Duy), Mộ
Khúc (Xuân Diệu/Phạm Duy), Kẻ Ở (Quang Dũng/Trầm Tử Thiêng), Tình Khúc Thứ Nhất (Nguyễn Đình Toàn), Mắt Biếc (Cung Tiến), Đôi Bờ (Quang
Dũng/Cung Tiến),…, có cảm tưởng cô chính là “thi nhân (chi) tri kỷ”, “nhạc sĩ
(chi) tri âm” vậy: Những “Nàng-Thơ-được/bị-hóa-thân” ấy, qua Lệ Thu, lại hoàn
nguyên hơi thở và nhan sắc tinh khôi của mình.
[***] Kỹ thuật “nén hơi” - “lấy
hơi” - “bùng vỡ” của Lệ Thu có thể ví như cách “tiêu tiền” đích đáng và thông
minh của một người thật sự giàu, có văn hóa, bản lĩnh, phong cách riêng của
mình; nó rất khác với kiểu các ca sĩ hôm nay, lúc nào - kể cả lúc hát nhạc Trịnh
Công Sơn - cũng tranh thủ gào thét quằn quại, chỉ cốt “khoe giọng khỏe”, mà nói
cho cùng chả khác gì một “nhà giàu mới phất”, không dằn được thói vung tiền mọi
nơi mọi lúc để phô trương?.
Sài Gòn, 12/12/2012
Ấu Lăng
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Biết nói gì về Thái Thanh
Biết nói gì về Thái Thanh?
Không chỉ một
người, tiếp cận "hiện tượng" Thái Thanh từ góc độ "tiểu sử"
(một tiểu sử "trải dài" vài thời kỳ lịch sử thăng trầm của đất nước,
mà chủ yếu là "đất nước" VNCH trước 1975) cùng toàn bộ gia tài đồ sộ
(năm bẩy trăm) các ca khúc bà đã hát (từ dân ca, tình ca, tâm ca, bi ca, hoan
ca, hùng ca, đạo ca, ...), đã gọi bà là tiếng "khóc cười theo mệnh nước nổi
trôi". Cũng không chỉ một người, từ góc độ "thưởng thức ca nhạc",
mệnh danh bà là "tiếng hát vượt thời gian", "giọng ca vàng không
tuổi" - chính xác là "The Ageless Golden Voice", như được in
trên bìa một băng nhạc SG xưa. (Chưa kể đến năm 1998 tôi được nghe một
danh xưng nữa dành cho danh ca, từ miệng một giáo viên mới ở Hà Nội vào Sài
Gòn: "Ở ngoài ấy người ta gọi Thái Thanh là Tiếng Hát Lên Đồng"!)
Những danh
xưng ấy dành cho Thái Thanh tất nhiên không thuyết phục tất cả mọi người (Việt
Nam), mà chỉ đúng đối với những ai yêu mến bà. Vì sao? Giọng hát của nữ danh ca
này không dành cho những đôi tai (1) không chuộng các "âm tần cao",
và/hay (2) không chuộng các "cường độ biểu cảm - đặc biệt là bi cảm - quá
lớn" (gọi nôm na là "quá mùi"). Tuy nhiên con số những kẻ yêu
(giọng hát) Thái Thanh là không nhỏ, và trong số ấy cũng không hề thiếu những
tên tuổi lớn các nhà làm văn học nghệ thuật (như nhạc sĩ Phạm Đình Chương, nhạc
sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Cung Tiến, danh cầm Nghiêm Phú Phi, nhà văn kiêm nhà thơ
Thanh Tâm Tuyền, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Du Tử Lê, nhà thơ Nguyên Sa, ...),
cho nên những lời xưng tụng dành cho người ca sĩ ấy không thể "hàm hồ"
được; chúng tất yếu phải "chính xác" và "xứng đáng". Trong
chủ quan hạn hẹp của người viết bài này, tiếng hát Thái Thanh có thể ví như một
"đặc sản", chỉ dành cho những kẻ "sành điệu", đồng thời
cũng từ chối quyết liệt những ai không là "đồng điệu". Bạn sẽ nhăn mặt:
"Làm gì có một đặc sản như thế"? Xin thưa rằng có: Quả sầu riêng!
Đúng vậy, mặc ai có thể "bịt mũi xua tay", vẫn không hiếm người lõi đời
"nghiện" nó, xem nó là "số Một", và nó luôn là một trong những
loại quả "quí và đắt nhất". Vậy thì, vâng, có nhiều người tôi
quen biết "nghiện" Thái Thanh (và nghiện cả sầu riêng)! Thậm chí
đối với họ chỉ có mỗi một mình Thái Thanh biết "hát", còn những ca sĩ
khác chỉ là "phát âm một cách khổ sở". (Tôi nhớ đến truyện biếm
"TIẾNG HÁT" khi nghe ai phát biểu về Thái
Thanh tương tự như vậy).Nói về
"ngôi vị" của Thái Thanh trong giới ca sĩ Sài Gòn trước 75 có lẽ
không ai chính xác bằng "người trong giới", đặc biệt là một trong các
danh ca hàng đầu thủa ấy - Lệ Thu. Năm 1970, nhân chuyến tham dự khai mạc Hội
Chợ Osaka, Nhật Bản, Lệ Thu đã trả lời phỏng vấn của báo chí: "Nếu chị
Thái Thanh có mặt ở đây và hát, mọi người sẽ cúi đầu khâm phục!". Cũng
chính Lệ Thu, trong một ca khúc hải ngoại nhớ về Sài Gòn, đã "sửa" ca
từ của một câu khi hát "Đâu rộn ràng tiếng hát Thái Thanh?" Kiêu
ngạo và đắt giá nhất trong giới ca sĩ ngày đó, Lệ Thu chỉ chấp nhận
"nghiêng đầu" trước Thái Thanh.
Sự thật thì
sao? Mặc dầu Thái Thanh đi trước cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề so với hai diva Lệ
Thu và Khánh Ly (cũng như với hầu hết các ca sĩ khác), giọng lẫn cách hát của
bà vẫn "trẻ trung", "hiện đại" và "độc đáo" nhất,
đặc biệt với những ca khúc này:1/ CHUYỆN TÌNH BUỒN
2/ Đạo
Ca 8 - Giọt Chuông Cam Lộ
3/ Đạo
Ca 9 - Chắp Tay Hoa
4/ Đêm mầu hồng
5/ NGÀY XƯA HOÀNG THỊ
6/ Ru Ta Ngậm Ngùi
7/ Tạ Ơn đời
8/ Tiếng Hát Trên Sông
9/ TÌNH
SẦU - Du Tử Lê
Tôi vẫn tin là bạn không cần nhìn các ca sĩ (Việt Nam) "làm trò" khi
họ hát, mà chỉ cần nghe cách phát âm cũng đủ để phân biệt và xếp hạng họ là loại
ca sĩ nào. Nhưng đối với Thái Thanh thì khác, bạn nên ngắm "khẩu
hình" của bà lúc bà hát - cái cách bà cấu âm (articulate) từng
"âm", từng "chữ" - chuyển động của má, môi, cơ miệng, lưỡi,
hàm (răng) trên, hàm (răng) dưới, xương quai hàm; điều đó tác động đến cả cặp
lông mày, cũng như vầng trán, và tất nhiên rồi, cả đôi mắt nữa. Mà không chỉ thế,
hãy nhìn thanh quản ở cổ, nhìn hai vai, và tay,..., của người hát. Cách
"phát âm"/ "cấu âm" của Thái Thanh, bắt đầu từ "bộ
máy phát âm", đã tác động hoàn toàn tự nhiên đến các cơ trên mặt, rồi lan
tỏa toàn thân. Khi hát, Thái Thanh như "đang bơi", hay "đang
bay", (theo nghĩa đen) trong âm nhạc, và toàn bộ ngôn ngữ cơ thể của người
ca sĩ ấy toát lên thông điệp này: Được cất tiếng hát, đối với bà, là Tất Cả -
là Sự Sống, là Hạnh Phúc vô bờ. Để thấy/ hiểu
phần nào niềm hạnh phúc của "Người Đàn Bà Hát" Thái Thanh, bạn có thể
xem các clip này (và đừng quên rằng lúc ấy bà đã U70):
1/ TÌNH HOÀI HƯƠNG
2/ Cỏ hồng
3/ Ngày
Xưa Hoàng Thị
4/ Dòng Sông Xanh
5/ Tình ca
6/ Hoài Cảm
Và nếu muốn nghe đầy đủ hơn các bài hát của Thái Thanh, mời bạn click vào đây. Trang này được mở ra không với mục đích nào khác
hơn là để dành tặng cho những ai yêu mến tiếng hát Thái Thanh. (Rất tiếc là
chúng tôi không thể gửi tặng nó cho người ca sĩ ấy, vì bà đã vào ở hẳn một Viện
Dưỡng Lão (ở Hoa Kỳ) từ mấy năm nay rồi).
Sài Gòn, 2/11/2012
Ấu Lăng
Theo https://www.vanchuongviet.org/
2/ Đạo Ca 8 - Giọt Chuông Cam Lộ
3/ Đạo Ca 9 - Chắp Tay Hoa
4/ Đêm mầu hồng
5/ NGÀY XƯA HOÀNG THỊ
6/ Ru Ta Ngậm Ngùi
7/ Tạ Ơn đời
8/ Tiếng Hát Trên Sông
9/ TÌNH SẦU - Du Tử Lê
2/ Cỏ hồng
3/ Ngày Xưa Hoàng Thị
4/ Dòng Sông Xanh
5/ Tình ca
6/ Hoài Cảm
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Cái Tôi của Phạm Duy trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...








