Thứ Tư, 1 tháng 1, 2025

Chuyến lưới máu

Chuyến lưới máu

Vào năm một ngàn chín trăm bốn mươi ba, tôi có lần tới Bãi Mũi. Từ thị xã Hà Tiên đi Bãi Mũi cũng không lâu lắm. Chiếc xe ngựa đưa tôi xuống tận bãi mới dừng lại. Đằng sau lối xe vừa qua, hai hàng dấu chân ngựa in dài trên lớp cát trắng mịn. Lần đầu tiên tôi mới tới có cái bãi này. Đến Hà Tiên đã đi Thạch Động, lên núi Tô Châu nhưng không đến đây thì cũng hoài. Ông giàa đánh xe dừng lại, hàm thiếc của con ngựa nghiến ken két chưa dứt thì lão Tư Hưng đã chạy ra, tay lão cầm cái vi cá bơi bơi như đón khách. Lão hỏi ông già xe ngựa:
- Có khách lên không ông Bảy Hân?
Ông Bảy Hân, trỏ tôi nói:
- Có cậu này lên chơi đó!
Trên xe tôi đi có bốn người, hai người là dân biển ở đây. Khi ông Bảy Hân cầm roi vút nhẹ vào mông ngựa, đánh chiếc xe lộc xộc trở về nhà ngủ Đông Hồ rồi thì chỉ còn lại tôi với một thím bán hàng rong. Thím ấy ốm yếu, nước da vàng bủng, cắp cái rổ trong đó còn lại ba bốn cái bánh ếch chưa bán hết.
Sau khi hỏi tôi có ở lại chơi không, và tôi gật đầu thì lão Tư Hưng quay vào phía nhà gọi lớn:
- Vọi ơi! Ra khiêng đồ!
Nghe tiếng gọi, từ trên dãy nhà, một thằng bé vấn khố xăm xăm chạy xuống. Nói là thằng bé bởi vì mặt mũi nó coi còn ngây ngô quá, chớ cũng độ mười sáu, lại có phần cao lớn khỏe mạnh hơn tôi nhiều. Đến nơi, chợt nó chạy lại thím bán bánh kêu "má" rồi nước mắt rớt lả chả. Bấy giờ tôi mới biết người đàn bà ấy chính là má nó. Hai mẹ con dường như lâu lắm mới gặp nhau. Song chưa nói câu nào, lão Tư Hưng đã la lên:
- Thôi chớ! Đem đồ cho khách mau lên!
Người mẹ lấy hai cái bánh ếch đưa cho con và nói nhỏ: "- Thôi, đi đem đồ cho người ta lên đi!". Thằng Vọi chùi nước mắt. Đến trước tôi nó chắp tay xá một cái làm tôi nhột nhạt hết sức. Coi da thịt của nó thì biết, nắng và nước biển đã nhuộm da nó đen sạm, mốc mốc, mắt nó hơi đục và đỏ, còn tóc thì vàng cháy như hun nắng. Người lớn, con nít ở biển đại để đều như vậy cả. Cái vali nhẹ như không, có gì đâu mà phải xách giùm, nên tôi cứ tự xách. Thằng Vọi ngó tôi coi bộ lạ lắm. Từ chỗ xe ngựa đậu lên chỗ cái nhà ngói nóc đỏ của lão Tư Hưng thấy thì gần, nhưng vì đi lên dốc, chân tôi mỏi cứ líu ríu trên cát. Một đoạn đường ngắn vậy thôi, nhưng tôi bắt đầu làm quen với thằng Vọi. Tôi hỏi ở đây có gì vui không.
Vọi suy nghĩ hồi lâu rồi nói: - Tôi không biết!
Tôi thấy thằng quê quá. Rải rác trên bãi có trên mươi cái nhà bát giác màu xanh, màu vàng. Ghế phô tơi của mấy người nghỉ mát nhiều đếm không xiết. Ta cũng có, Tây đầm cũng có, ăn uống hát xướng ngậu lên. Vậy mà thằng Vọi nó nói không biết, không vui.
Lên đến nhà trọ, tôi ở gian buồng liền với lão Tư Hưng. Tôi đem đóng tiền trọ, gặp mụ Tư tôi tưởng như gặp phật Di Lặc. Sao mụ ta mập ghê gớm quá, quần áo bó lấy mình mụ chật cứng. Gió biển thổi suốt ngày mà người mụ ta lúc nào cũng đầm đìa mồ hôi. Khi mụ Tư chìa tay lấy tiền, tôi thấy cổ tay mụ núc thịt, to béo lạ thường.
Bữa cơm trưa ấy, có thức ăn ở biển. Cá đao hấp mỗi khoanh lớn bằng cổ tay của mụ Tư Hưng. Cá khoai luộc nước dừa, mực tươi chưng cách thủy. Trong lúc tôi ăn cơm thì thằng Vọi biến đâu mất. Bên kia nhà, hai vợ chồng lão Tư Hưng đang bận rộn với khách. Khách là bốn năm người dân lưới đến nạp từng bao lớn vi cá cho lão ta. Hai vợ chồng lão Tư săm sói mấy bao vi cá, híp cả mắt. Ăm cơm xong, tôi đến coi vi cá chơi cho biết. Bấy giờ lão Tư ngồi trên bục cao, gõ bàn toán lốp cốp... Tôi tưởng lão ta tính tiền để trả, nhưng không phải, lão ta có tật như vậy. Hễ người nào mướn lưới và ghe của lão mỗi tháng đến nạp vi cá hoặc bong bóng, thì lão Tư gõ con toán quy ngay ra tiền thử coi được bao nhiêu. Tôi có ngờ đâu mỗi cái vi cá bán tới một cắc bạc. Hèn gì lão ta có cái nhà ngói, tậu mười cái nhà bát giác, lại có phần hùn trên nhà ngủ Đông Hồ nữa.
Tôi đi ra ngoài. Vừa lúc ấy thằng Vọi ở đâu về, vác trên lưng một giỏ lớn đựng đầy sò huyết. Nó đặt giỏ sò lên thềm bếp rồi đi ra. Tôi liền theo nó xuống bãi. Thằng Vọi nói với tôi:
- Chiều tôi phải ra lưới, lén đi chơi một chút... sợ ông chủ biết được thì chết!
- Không sao, có tôi đây... Chơi một chút, chừng nào đi thì về đi, sợ gì!
Vọi chỉ con dã tràng bò lểnh nghểnh trên cát, nói:
- Anh ngó thấy chưa, nó đương vò cát đó! Vò đã đời rồi để sóng đánh tuốt luốt hết. Nè, vậy mà khó bắt được nó lắm nghe.
Tôi hỏi:
- Bắt con đó làm chi!
- Chơi thôi... Trên bãi này không ai bắt được đâu. Khó lắm, hễ tới gần nó trốn xuống hang liền!
Tôi nghe nó nói thì rón rén rình bắt thử. Nhưng tới gần, quả nhiên dã tràng trốn xuống hang không còn một con. Mấy lần đều bắt không được, tôi hỏi Vọi:
- Mày bắt được không?
Thằng Vọi nói được, vừa nói nó vừa bảo tôi ngồi im một chỗ, đoạn nó chạy đến một nơi khác nằm rạp xuống. Nó nằm như vậy rất lâu, không động đậy. Tôi ngồi đợi, thấy chốc sau dã tràng nhú lên hang bốn năm con. Tưởng yên, dã tràng bò từ từ, quơ càng đằng trước. Dã tràng đã mắc lừa, tưởng Vọi là một vật gì chứ không phải người rình bắt nó. Tôi cười ré lên, vì lúc ấy Vọi đã quơ tay chộp luôn được ba bốn con. Nó nhổm dậy, chạy lịch phịch lại đưa cho tôi, nói:
- Thấy tôi bắt chưa?
Tôi nói:
- Bắt lần nữa mới giỏi!
Vọi nói:
- ừ nghe!
Và dứt lời, nó chạy một quãng dài, nằm chuồi trên bãi cát như một khúc cây.
Tôi mê nhìn thằng Vọi, lão Tư Hưng đi đến hồi nào tôi không biết. Lão cầm cây đao cá màu vàng vàng, có răng giông giống như răng cưa. Lão ta chắp cây đao cá sau lưng đi tới chỗ thằng Vọi. Chết chửa. Thằng Vọi vẫn nằm im đợi dã tràng lên hang. Tới nơi, lão Tư vụt thét:
- Vọi! Mày biết có bao nhiêu người đợi mày đem lưới ra ghe không?
Tiếng lão ta gầm rất to. Dứt tiếng, lão ta giơ cây đao cá, thẳng cánh tay giáng xuống. Tôi nhắm mắt, nghe một cái "chát", chừng mở ra thấy người thằng Vọi như bẹp dưới cát, trên đít hằn lên một lằn đỏ lớn, in nguyên hình cây đao cá. Tôi sợ nếu lão Tư trở bề cạnh răng cưa cây đao mà đánh, thì lút vô thịt thằng Vọi liền.
Trong lúc lão ta giang tay muốn đập nhát nữa, thì thằng Vọi lồm cồm dậy được, co cẳng chạy lông lốc. Lão Tư Hưng rượt theo như bay. Song hình như lão ta chỉ rượt nó chạy mau về đặng đem lưới ra ghe thôi.
Tôi ngồi một mình trên bãi. Trong hai bàn tay tôi, bốn con dã tràng vẫn còn rọ rạy.
Mười sáu chiếc ghe lưới mà tôi thấy lúc trưa gần bờ, bây giờ nước thủy triều lên, dường như có dai dời ra ngoài hai trăm thước. Sóng đánh ào ào, mấy chiếc ghe cắm ngoài kia bồng bềnh muốn giạt đi, nhưng không hề giạt được. Xa hơn đó nữa, đảo Phú Quốc như một tảng đá màu thạch lục, nổi cố định trên mặt biển.
Thằng Vọi khệ nệ ôm từng tay lưới lớn chất lên một cái xe bò. Lâu lắm nó mới chất lên hết. Xong đâu đó nó ra trước tay càng, ghé vai vô sợi dây da trâu. Nó rị một cái, chiếc xe không nhúc nhích. Lần sau nó đổi vai bước dấn tới, bánh xe bò mới chuyển. Thằng Vọi kéo một hơi. Tôi không ngờ nó khỏe đến thế. Kéo tới sát mí nước nó dừng lại, bỏ dây ra, thở phào. Hai ba mươi người đi lưới mướn hàng năm cho lão Tư Hưng, từ trên cái nhà ngói nóc đỏ lô nhô kéo xuống bãi. Đến nơi họ bu chung quanh xe bò, xốc lưới trên xe xuống. Cả bọn lội xuống nước đi ra chỗ ghe cắm.
Đất cát cạn xợt, lội đã xa mà vẫn chưa lút đầu gối họ. Thằng Vọi kéo cái xe chạy trở lên. Một hồi nó đi xuống, trên lưng mang cái giỏ sò huyết, hai tay bê tấm ván, trên tấm ván là một cái hỏa lò than đỏ có lót vỉ sắt. Trên cổ nó còn có một xâu chuỗi, không phải chuỗi hạt trai, mà là chanh trái xỏ qua một sợi kẽm.
Thằng Vọi đem từng thứ ấy để tại chỗ xe bò rồi lội ra nơi ghe đậu. Nó không đi luôn mà ra lôi một chiếc ghe vô, đem tay lưới còn lại cùng các thứ để lên ghe.
Trên nhà bấy giờ đi xuống hai người, lão Tư Hưng với một bác già, chừng như cũng là người ở mướn. Tất cả gồm bốn người, trong đó có tôi, sửa soạn lên ghe. Ra bãi Mũi, tôi cốt ý đi theo ra khơi cho biết. Lúc đầu lão Tư Hưng không khứng chịu, tôi nói mãi, sau cùng chìa ra một đồng bạc nói là chung tiền sò, lão ta mới thuận cho tôi đi.
Thấy chiếc ghe còn ở ngoài độ ba bốn sải tay, lão Tư mắng thằng Vọi om sòm:
- Còn một chút nữa cũng làm biếng không chịu kéo rấn ghe vô, mày khiến chết, tội mày bữa nay tao chưa trị đa!
Thật là lạ, ở biển mà lão ta ngại đặt chân xuống nước. Tôi thì có quần áo nào mặc quần áo nấy, còn lão ta đi lưới mà ăn mặc như đi chơi. Quần xá xị đen, áo cẩm tự màu trứng gà. Cái túi trên áo của lão, cộm ló lên gói thuốc Mêlia trắng.
Thằng Vọi vẫn vấn khố, mặc một cái áo vải ta nhuộm chàm, sợi to như bố tời.
Sau rồi thằng Vọi cũng phải lội ra kéo ghe vô sát bờ thêm đoạn nữa cho lão ta xuống. Bác lưới già dùng sào chõi ghe ra quãng sâu rồi cùng thằng Vọi cất buồm lên. Buồm giương cao bọc gió chạy như tàu. Sóng nhỏ thôi mà cũng hung hăng xốc tới muốn nhảy vô ghe, nhưng đời nào được, vì ghe do bác già lái luôn cỡi trên lưng sóng. Lão Tư Hưng móc gói Mêlia, búng cái tách lòi ra một điếu, lão ta ngoạm lấy, ấm ứ nói:
- Vọi, lấy lửa!
Thằng Vọi bò tới hỏa lò than, cầm đũa sắp gắp lửa đưa lão ta mồi thuốc. Lão Tư Hưng phà phà khói nói với bác lái già:
- Mẹ! Con nước này chém chết cũng mười tạ cá khoai. Mấy người làm cho hết mình, về tôi cho nhậu say chết cha hết thảy!
Tôi càng lấy làm lạ nữa, về cái câu như vừa nói vừa chửi của lão ta.
Chiều xuống dần, nắng rút về phương Tây. Cái nhà ngói trên bãi chỉ còn là một chấm đỏ bằng ngón tay út. Ghe càng ra xa, lão Tư Hưng càng hút thuốc nhiều. Dứt điếu này lão ta mồi điếu khác. Không thấy lão cho bác già đằng lái một điếu nào. Đi đâu quá mà vẫn chưa tới chỗ đánh cá, tôi hỏi:
- Đi xa quá vậy?
Lão ta cười, trỏ tận ngoài khơi mù mịt bảo:
-Anh khờ quá, mới có nửa đường thôi. Hôm nay ra tám cây số, có bữa phải tới mười một cây. Kiếm tiền cực thấu trời chớ anh tưởng sung sướng lắm sao?
Tôi làm thinh, gẫm lại câu nói của lão thiệt vô lý. Cực thì mấy người đi lưới mướn cực chớ lão ta cực khổ nỗi gì. Nãy giờ lão ta ngồi trên sạp hút thuốc thơm, cái áo cẩm tự trứng gà chưa dính một giọt nước biển. Nhưng tôi cứ làm thinh ngó ra khơi nữa. Thấy mấy chiếc ghe đằng trước nhỏ xíu mờ trong hơi nước biển bốc lên như sương.
Trời đã bắt đầu sụp tối. Nhưng lúc bóng tối chưa úp trọn màu đen của nó xuống khắp biển thì trên trời sao đã mọc lấp lánh. Đêm càng đến thì sao càng bật sáng hơn lên, muôn ức vì sao đếm không biết. Trước mũi ghe, nước biển rẽ ra rực sáng. Những ghe trước đã thôi chạy, hiện lờ mờ một dãy dài. Lão Tư Hưng móc ra cái đồng hồ quả quít có kim sáng, coi và nói to:
- Đúng một giờ tám cây số! Thôi, hạ buồm đi!
Thằng Vọi nãy giờ bị gió lạnh, cứ giả cách gầy than, ngồi thủ bên cái hỏa lò cho ấm. Nghe tiếng lão Tư, nó ngồi bật dậy như lò so, bò ra cột buồm mở dây. Cái rõ rẽ kêu rốc rốc. Bác lái già nương dây cho buồm từ từ hạ xuống. Cả cột lẫn buồm nằm xếp gọn bên phải sạp ghe. Ghe đi lừ đừ, đến cặp song song với một ghe khác. Mười sáu chiếc bắt cặp với nhau. Trên sạp, tiếng phao và lốp cốp, lưới được dàn ra. Hai ghe đánh chung một lưới, hai tay lưới giáp lại thành một, mỗi bên giữ một cáng lưới rồi từ từ buông rời ra. Đường lưới dài, ghe tếch ra rất lâu mới cuối hết vạt lưới.
Thằng Vọi bây giờ có muốn thủ bên cái hỏa lò cũng không được. Gió, nước thốc vào người, nó ngồi trên be ghe ghì chặt cáng lưới. Bác lái già thấy lưới buông ra rồi, thả chèo, chèo bọc lên. Tôi đợi mãi mà hai ghe vẫn chưa giáp nhau. Bác lái già kêu lên, khi ngó thấy trong vòng lưới, ánh sáng xanh chéo ngược loạn xạ. Những người đi nghề quen như bác biết ngay là đã gặp cá bầy. Lão Tư Hưng mừng được của, nói toáng lên:
- Hồi đi tôi đã biết rồi! Con nước này là con nước kim ngân mà! Cứ làm khá lên, nhứt định lần này về tôi sẽ cho mỗi người một ly rượu. Không phải rượu nếp đâu nghe, rượu ánít... anít...!
Hai đầu lưới giáp nhau, thằng Vọi nhấc cáng lưới đưa sang ghe bên kia. Lưới từ từ kéo lên, cá trắng như bạc thật, lấp lánh đều trong các kẽ lưới. Chuyến đầu đã trúng mẻ cá to.
Người bên kia trút cá hết vô khoang, trao lại cáng lưới. Thằng Vọi với lấy, ngồi thụp xuống ghì chặt như trước. Ghe lại rời ra, đi bọc. Trên sạp, lão Tư Hưng cười khà khà. Lão kéo cái giỏ sò hyuết lại bên hỏa lò. Cái xâu chanh hồi chiều tôi thấy thằng Vọi đeo trên cổ như xâu chuỗi hạt ấy, bây giờ lão sẽ nới ra từng trái, dùng dao con xắc hằng chục miếng dày chung với muối tiêu trên đĩa sứ. Lão ta nói với tôi!
- Phải ăn mừng mới được, lại đây anh!
Hễ ai có tiền thì lão Tư Hưng mới mời mọc như vậy. Lão ta phùng mang thổi mấy hơi vô hỏa lò. Lửa than đỏ rần rật. Bốc một vốc sò huyết, lão đặt từng con lên cái vỉ sắt hực nóng. Sò huyết kêu eo éo như sôi bụng, một chút sau nắp sò hé bật ra. Lão vắt chanh vào con sò, dùng đũa gắp ra chấm với tiêu ăn. Tôi cùng ăn với lão. Tôi nói:
- Dành cho họ một ít!
Lão vừa nhai ngấu nghiến thịt sò một cách ngon lành vừa đáp:
- Dành gì, tụi nó còn lo lưới chớ!
Tôi ăn có ngon nhưng dường như nhột miệng. Còn lão thì vẫn cứ tiếp tục. Đến lúc cái giỏ đựng sò vơi đi, thì cũng là lưới sắp bọc tới. Những đường sáng xanh lại rạch loạn dưới nước. Lão Tư Hùng vừa ăn và với vẻ hả hê đắc thắng, lão khoe với tôi:
- Một chuyến đi lưới gặp con nước như đêm nay, có thể tạo thêm một cái nhà bát giác nữa... Cho thuê một cái mỗi tháng hai mươi đồng, mười cái mỗi tháng hai trăm...
Hai ghe từ từ xáp lại. Lúc cách nhau độ mươi sải bỗng có một cơn gió luồng thổi vùn vụt. Thằng Vọi nâng cánh lưới đứng dậy sửa soạn trao sang... Khi nó với tay tới, bỗng một chân trái nó trượt khỏi ghe. Nó chưa kịp rút chân lên, thì luồng gió đẩy giạt ghe bên kia xô rập vào. Tôi hốt hoảng kêu rú lên. Hai be ghe va nhau vào một cái dữ dội, kẹp lấy chân thằng Vọi vào giữa. Gió thổi vù vù, tay nó vẫn ghì cáng lưới không dám buông. Rời cái cáng lưới, để rớt xuống biển, tức nhiên cá trong lưới sẽ tuột ra hết. Lão Tư Hưng chồm đứng lên. Tiếng thằng Vọi kêu như van lão:
- Tôi buông... Cho tôi buông cáng!
Dưới ánh sao, đôi mắt nó thất lạc. Lão Tư Hưng hầu như không nghe tiếng kêu thảm thiết ấy. Lão đang nghe tiếng cá dậy rộn trong lưới... Trước mắt lão hiện ra vô số cá khoai, cá gộc. Cá ấy sẽ cho lão vô vàn giấy bạc. Lão Tư Hưng giậm chân một cái rầm trên sạp ghe. Miệng lão còn đang nhai sò, huyết sò chưa chính ứ ra mép lão như máu người, lão ta gằn từng tiếng:
- Không được buông cáng! Vọi, ráng lên. Đưa cái cáng qua ghe mau. Một chút nữa... ráng, ráng!
Thằng Vọi lóa cả mắt rồi. Nhưng tiếng thúc của lão Tư Hưng dồn dập quá, khiến nó hết sức kinh sợ, cố với tay qua chừng hai gang nữa. Người bên kia vớ lấy được cáng lưới. Lão Tư Hưng mừng húm, lè lưỡi liếm máu sò bên mép, trố mắt nhìn từng vạt lưới kéo lên. Tiếng cá choi trút vô khoang nghe lạch đạch. Lão nghe đến khi cái tiếng lạch đạch dứt rồi mới quay lại. Tôi đã kéo thằng Vọi lên để nằm dài trước mũi ghe, lấy khăn quàng nhắm mắt mà buộc cái chân gẫy rập của nó. Máu ở chân nó chảy tuông như xối. Cái khăn trắng biến thành màu đỏ.
Tôi với bác lái già giục về gấp. Lão Tư Hưng cúi nhìn và gọi tên thằng Vọi. Nhưng nó đã ngất rồi đâu đáp lại được. Lão Tư Hưng nói:
- Về đâu bây giờ, lâu lâu mới gặp cá bầy như vầy. Nó chưa hề gì, dẫu có về, chân nó đã gẫy rồi nào có nối liều lại được đâu? Làm ăn không ý tứ thì khiến vậy nó mới tởn. Được rồi, mai cho xe ngựa chở nó lên nhà thương thí!
Lão Tư Hưng gọi lớn:
- Bên kia qua đây bớt một người nghe!
Một anh từ bên ghe kia nhảy sang, thay thằng Vọi.
Đi hai mẻ lưới nữa... Lão Tư Hưng mới chịu rúc tù và báo hiệu về. Mười mấy chiếc ghe sửa soạn trở mũi. Từ đó về đến bãi tôi ngồi bên thằng Vọi. Nó có tỉnh mấy lần, sau đó lại ngất đi.
Đến nơi, hai bác dân lưới khiêng nó lên. Tôi xách cây đèn chai đi sau, thấy máu nơi chân Vọi rỏ dài trên cát. Giọt máu nào rơi xuống liền bị cát hút ngay giọt ấy.
Hôm sau, lão Tư Hưng sai người chở nó lên nhà thương thí. Trưa đó, tôi cũng ra đón xe ngựa ông Bảy Hân về một cách vội vàng. Xe chạy ngang bãi lưới, tôi dòm xuyên qua cửa, thấy những vết máu đêm hôm rỏ thành một đường dài. Màu máu thấm cát bị nắng hun trọn buổi biến thành màu xám sẫm như màu sét sắt.
Mãi đến năm sau, cũng trong mùa nắng ráo, tôi trở lên Hà Tiên, có về bãi Mũi một lần. Ông Bảy Hân vẫn còn đánh xe ngựa như cũ. Sực nhớ đến chuyện xưa, trên xe tôi hỏi thăm về thằng Vọi. ông Bảy Hân cho tôi biết sau khi lão Tư Hưng đem bỏ nó trên nhà thương thí cưa chân, tới chừng lành rồi lão bắt nó trở về đi lưới cho lão như cũ. Má nó bán bánh ếch dành dụm mà không đủ tiền chuộc nó ra. Kể xong, ông Bảy Hân chép miệng, quất con ngựa một roi chạy lồng lên. Ông còn cho biết lão Tư Hưng đã được Tây bổ làm chủ bãi. Đến nơi, tôi xuống xe, thấy cái nhà ngói lão Tư Hưng xây lại hai từng cao nghệu, nóc ngói đỏ au.
Đột nhiên ông Bảy từ trên xe nhảy xuống kéo tôi chỉ về đám người lô nhô cuối bãi, hấp tấp nói:
- Ghe lưới của chủ Hưng sắp ra khơi. Kìa thằng Vọi nó đi sau chót kìa.
Tôi nhìn theo tay ông Bảy Hân. Tuy một năm qua, nhưng tôi nhận ra đúng là thằng Vọi. Cái lưng mốc thích của nó phơi dưới nắng trưa, và tay nó cắp một cây nạng.
Hình như nó đi nạng quen rồi chăng, nên một chốc sau tôi chỉ còn thấy cái dáng đi của nó tập tễnh, mờ dần dưới cuối bãi.
28/1/2005
Anh Đức
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Bức tranh để lại

Bức tranh để lại

Tôi ngồi dựa lưng vào những cột gỗ còn sần sùi vết rìu đẽo. Bấy giờ ngày đã hết từ lâu và đêm xuống mênh mông trên bờ bể. Một đêm hè gió lặng. Tiếng sóng vỗ nghe chừng cũng âu yếm dịu dàng hơn. Anh phó chủ nhiệm tập đoàn đánh cá Mũi Né treo cây đèn bão lên cột nhà rồi ngồi ghé xuống bên cạnh tôi. Hai cánh tay buông thõng dài đến quá gối. Anh thẫn thờ nhìn tôi mất một lúc rồi cất giọng ồ ề hỏi:
- Ai nói với anh tôi giữ bức tranh đó mà anh lặn lội đi tầm tôi vậy?
- Tôi nghe một người quen nói. Một chiến sĩ cũng là người Nam Bộ.
Anh phó chủ nhiệm chồm người tới:
- Có phải là một đồng chí tiểu đoàn trưởng không?
- Phải, anh ấy là tiểu đoàn trưởng, tên là Danh.
- Thôi, đúng rồi. Đúng là anh Danh rồi!
Anh ta vừa kêu lên vừa lập cập để hai bàn tay lên gối chân tôi. Đôi mắt của người đàn ông Nam Bộ trạc bốn mươi tuổi này chớp lia lịa, hai hàng mi đen rậm nhíu nhíu lại. Anh ta thu hai bàn tay về, thở dài một thôi rồi lắc đầu:
- Bức tranh... bức tranh đó... không có ở đây đâu. Tôi không còn giữ nữa. Nhưng mất thì chắc chưa thể mất được. Tới bây giờ tôi vẫn tin là nó hãy còn. Anh à, bức tranh đó vẽ Cụ không được sắc sảo lắm đâu. Là vì do một anh thợ họa hình ở miệt vườn vẽ thôi mà. Nếu đem so sánh với những ảnh Cụ bây giờ thì đâu đẹp bằng được. Nhưng có điều tôi dám quyết với anh là bức tranh đó không có bạc vàng nào trên đời này sánh nổi. Bởi vì ở trên đời này chắc gì đã có một người thứ hai vẽ được...
Nói tới đây anh đưa tay lên cào cào ngực. Tôi có cảm giác như trong ngực anh bấy giờ có cái gì nóng lắm.
- Trời, mà người vẽ bức tranh đó lại chính là em tôi. Em của tôi đã họa bức tranh đó trong những giờ phút cuối cùng của đời nó... Thôi thì tôi cũng nói cho anh rõ hoàn cảnh gia đình của tôi. Cha mẹ anh em tôi đều chết sớm hết anh à. Tên nó là Đô. Tôi không muốn em tôi dốt nát, nên chi hồi đó một mình tôi đã làm lụng, đi gặt hái, đi câu lưới nuôi em tôi học hành. Nói thiệt với anh, tôi thì có phần hơi quê mùa cục mịch, đầu óc không đặng sáng sủa bằng em tôi. Với lại tánh tôi củ mỉ cù mì, chớ tánh em tôi nó gan góc lắm. Trong làng hễ ai bắt nạt tôi thì nó bênh tôi, dám chống chọi với bất cứ đứa nào hiếp đáp tôi.
Tính ra như vậy thì nó đã học hết lớp nhứt trường làng. Sau nó thi đậu tên tỉnh học. Học đâu gần được một năm thì thôi học. Ngay hồi nhỏ nó đã có hoa tay. Thôi học về đi làm ruộng đi câu kéo với tôi chớ nó vẫn ham hố vẽ vời. Khắp nhà tôi treo la liệt những hình, tranh của nó. Nào là hình lũ trẻ chăn trâu ngoài đồng, hình người đi chài cá, hình phong cảnh, đủ thứ.
Năm cái đình làng tôi được phép tu sửa, làng đã rước em tôi ra vẽ lại con kỳ lân nơi tấm bình phong trước đình. Hình con kỳ lân do em tôi vẽ mãi tới kháng chiến cũng còn. Sau Tây nó mới phá đi lấy gạch xây bót. Em tôi lại có tập họa hình. Họa được hình người rất giống. Ông già bà cả trong làng được nó họa cho, ai cũng đều ngợi khen. Không bao lâu cả làng đều gọi nó là thằng Tám họa hình. Vẽ một tấm hình nó được người ta trả một giạ lúa, lại được mời đi ăn giỗ. Cái gì chớ uống rượu thì tôi phải chạy em tôi. Thằng uống rượu cứng quá, càng uống mặt càng xanh tái chớ không đỏ. Lúc kháng chiến nó tham gia tự vệ. Năm bốn sáu đánh du kích bị trúng thương ở tay. Vết thương làm độc sưng vù lên. Ông bác sĩ ở tỉnh nói:
- Tám Đô à, tôi thấy chú phải chịu cho tôi cưa cái tay của chú, không cưa thì chết đa.
Em tôi đáp:
- Nếu không cưa mà phải thiệt mạng thì tôi chịu cưa. Còn cưa mà chết thì tôi giết ông.
- Nhưng không có cưa nghề đâu. Tôi cưa bằng cưa thợ mộc liệu chú có chịu nổi không?
Em tôi lặng lẽ bảo:
- Được, cứ cưa!
Và nó xoắn ngay tay áo lên. Từ nói đến làm không đầy mười lăm phút. Không có rượu an-côn, ông bác sĩ khử trùng lưỡi cưa bằng rượu đế. ổng cưa mà tay ổng còn rung thì anh biết. Ngược lại em tôi chẳng hé răng kêu một tiếng. Nó ngoảnh mặt đi nơi khác, mồ hôi chảy có giọt xuống hai bên màng tang... Đó, tánh khí của nó như vậy đó. Cụt mất tay trái rồi nó vẫn đi đánh chim sẻ, đi gài lựu đạn. Lúc đó bận rộn nhứt là những lúc sắp tới ngày sinh nhật Cụ. Tôi còn nhớ đồng chí chánh trị viên xã đội trưởng thường bảo nó:
- Thôi, Tám Đô, mày không không phải đi gài lựu đạn nữa. Gần tới ngày mười chín tháng năm rồi. Việc đánh chác để tụi tao, còn mầy ở nhà lo họa hình Cụ. Bà con ai cũng muốn có một tấm ảnh Cụ để treo. Vậy thì mày ở nhà vẽ. Kỷ niệm ngày sinh nhật của ông Cụ, mỗi nhà đều có ảnh thì quý lắm.
Thế làm thằng Đô em tôi tối ngày sáng đêm cặm cụi lo họa ảnh Cụ. Hồi đó vẫn còn vẽ theo ảnh cũ, Cụ trông gầy chớ đâu được hồng hào như bây giờ. Thằng em tôi vẽ mãi nên nó thuộc lòng như hết mọi nét trên khuôn mặt ông Cụ. Vẽ xong bức này lại vẽ tới bức khác. Bà con tới lui nhà tôi suốt ngày kính cẩn rước ảnh Cụ về treo. Em tôi vẽ xong cho mỗi nóc gia một bức rồi lại còn vẽ thêm một tấm thiệt lớn, tô màu coi rất sắc sảo. Trưa cái hôm vẽ xong nó hỏi tôi:
- Anh Bảy ơi, anh có biết em vẽ bức tranh lớn này để mần chi không?
Tôi chưa kịp đáp thì nó ghé vào tai tôi nói nhỏ:
- Để treo lên ngọn dừa lão ngoài chợ cho đồng bào nhìn thấy và để tụi lính nó coi. Kẻo tụi nó trách mình không cho nó biết chân dung của ông Cụ mình.
Em tôi nói rồi cười ha hả. Từ ngày kháng chiến bao giờ nó cũng cười vui như vậy. Năm đó nó ới có hăm hai tuổi. Mặc dù đã bị mất một tay nhưng lúc nào nó cũng lạc quan. Thằng em tôi hễ nó nói là nó làm thiệt. Chiều hôm đó mới nói với tôi đó thì sáng ngày đã nghe thấy bà con đi chợ về nói rum lên là ảnh Cụ đã thấy ở trên ngọn cây dừa lão. Bà con ở thị trấn được nhìn thấy ảnh Cụ, ai cũng cảm động rưng rưng. Bọn lính đi tuần chỉ dám đứng nghiêng ngó chớ không dám trèo lên lấy. Vì ở dưới gốc dừa có cắm tấm biển đề "Không ai được hạ ảnh Hồ Chủ tịch. Nếu trái lệnh sẽ bị trừng trị ngay tại đây". Thằng Tây xếp bót, tôi còn nhớ, tên nó là Mônôry, một thằng Tây rất trẻ, mới hăm sáu tuổi, đẹp trai, ở bên Tây qua có hơn một năm mà đã giết riêng ở Hiệp Hưng này gần ba chục người. Sáng đó thằng Mônôry nghe tụi lính về báo tin, thì nó liền đi ra tận nơi, đứng chắp hai tay sau lưng nhìn lên tranh Cụ rất lâu. Nhưng nó không ra lệnh tháo gỡ gì cả. Một chốc sau nó đích thân dẫn hai trung đội xộc vào làng. Du kích nổ súng. Đánh nhau tới chiều, bọn địch chết sáu bảy đứa. Lúc rút về chúng bắt theo một số người. Trong số người bị bắt có một đồng chí đảng là anh Chín. Bởi chân ảnh cao như chân sếu nên chúng tôi gọi ảnh là anh Chín Giò. Anh Chín Giò về tới bót thì bị lính ngụy nhận mặt. Thằng Mônôry cho điệu anh ra gốc dừa lão. Nó rút súng lục trỏ lên ngọn dừa bảo anh trèo lên tháo tấm tranh Cụ xuống. Anh Chín Giò thừa biết là lúc ta treo tranh không có bẫy lựu đạn gì cả, nhưng anh nói:
- Du kích có gài lựu đạn, tôi không dám leo.
Thằng Mônôry lên đạn súng lục:
- Trèo lên ngay không tao bắn tức khắc.
Anh Chín Giò đứng tại gốc cây dừa ngước nhìn lên ảnh Cụ. Thằng Mônôry giục lần thứ hai. Anh quay lại nhìn thẳng vào mặt nó lắc đầu. Nó liền giơ súng bắn chết anh tại chỗ. Anh Chín Giò chết rồi mà bức tranh chúng nó vẫn chưa đem xuống được. Thằng Mônôry tức tối như điên. Sau đó nó bắt đồng bào leo lên lấy ảnh, bà con không dám leo. Bắt lính, lính cũng không dám trèo. Thằng Mônôry rút súng dí sau lưng một thằng lính ngụy. Nhìn họng súng trong tay xếp bóp, thằng lính ngụy phải leo. Leo lên lưng chừng cây dừa trên ngọn thấy động chạm làm rơi mấy trái dừa non sạt sạt. Thằng lính hoảng quá, từ trên tuột xuống một cái rột. Nó chấp tay lạy thằng xếp lia lịt, bảo có bắn nó thì bắn chớ nó không dám leo lên nữa. Thằng xếp bất lực, cười gằn bỏ về. Thành ra bức tranh Cụ vẫn còn y nguyên trên ngọn dừa. Hai ba bữa sau xảy ra có một trận giông lớn, bức tranh mới bị gió thổi bay mất. Bà con tìm khắp bờ chuối đọt tre mà không gặp. Trong ấp tôi có một thằng cha tên Tư Râu, thuở giờ chuyên môn nói dóc. Lần đó y vê râu nghiêm trang nói với mọi người: "Thôi, đừng có kiếm chi cho mất công. Hồi đêm tôi nằm chiêm bao thấy ông thần gió tới báo cho tôi rằng chính ông đã đem bức tranh đó đi. Tôi mới trách ổng: "Đáng lẽ ngài muốn thỉnh cụ đi cũng phải cho bà con hay trước chớ?". ổng năn nỉ tôi: "Không thể cho hay trước đặng bây giờ tôi báo cáo cho anh biết, anh nói lại với bà con giùm tôi"... Thằng cha Tư Râu xưa nay nói dóc quá nên khi y nói gì ra cũng hay bị người ta chất vấn hoặc cãi lại, thế mà lần đó hình như không có ai phản đối y cả.
Anh Bảy phó chủ nhiệm kể đến đấy dừng lại, cởi áo ra rồi nói tiếp:
- Tôi là bạn thân với anh Chín Giò. Tôi nghe tin ảnh chết thì hết sức phục ảnh. Anh à, mình hiểu cái tinh thần của anh Chính nên mình khâm phục anh Chín là phải, nhưng tôi cứ hồ nghi rằng thằng Mônôry nó bắn chết anh Chín chớ chưa chắc nó biết được lý do anh Chín không chịu trèo lên là bởi làm sao?... Có khi nó tưởng anh Chín mình sợ bẫy lựu đạn cũng nên.
Tôi cũng phân vân đáp:
- Chẳng biết nó có hiểu được không?
Anh Bảy ngắt lời tôi:
- Không, rồi sự ấy nó phải hiểu. Sau đó một vài tháng có một người nữa, cũng như anh Chín, đã làm cho nó hiểu thêm. Người đó là em tôi. Phải, Tám Đô bị bắt sau đó hai tháng. Vì hầm bí mật bị chó săn đánh hơi được. Thằng Mônôry lần đầu tiên thí nghiệm chó săn thì bắt được em tôi. Kể ra nếu lúc Tám Đô nhảy lên khỏi hầm mà không bị một viên đạn lễu trúng trán và đùi thì nó đã chạy thoát. Nhưng vì bị thương khá nặng nên phải chịu bắt. Lúc đầu thằng Mônôry cũng cho em tôi là một du kích nào đó thôi. Nhưng mấy thằng ngụy người Hiệp Hưng bảo với thằng Mônôry:
- Thưa ông xếp, thằng này tên là Đô. Chính nó đã vẽ ảnh lãnh tụ của nó treo lên ngọn cây dừa hồi tháng trước. Lúc ông xếp chưa đổi về đây, năm nào nó cũng đều làm như vậy!
Thằng Mônôry biết ra việc ấy thì chiều hôm đó nó chưa đem bắn em tôi vội. Tờ mờ sáng hôm sau thình lình nó dẫn lính vây ráp bắt tất cả mọi người ở chợ và một số người ở Hiệp Hưng, lùa tất cả mọi người ra bãi cỏ gần cầu sắt để coi xử em tôi. Có người chạy vô xóm cho tôi hay. Tôi vì nóng lòng thương em, nên liều mạng mò ra, lẫn vào đám đông bà con. Khi tôi ra tới nơi thì đã thấy em tôi bị trói ngồi trên bãi cỏ. Thằng Mônôry nói tiếng Tây với mọi người. Tên lính thông ngôn dịch lại:
- Bữa nay ông xếp đem xử cái thằng đã vẽ ảnh Hồ Chí Minh. Thằng đó ông xếp đã ra lệnh thộp nó từ lâu. Nay chính tay ông xếp đã bắt được nó. Ông xếp muốn nó đền tội trước mặt mọi người, cho tất cả ai cũng đều đặng trông thấy.
Tôi nghe nó nói xong chỉ còn cố ráng đứng nhìn mặt em tôi một lần cuối, để khi súng nổ rồi tôi có thể nhớ thiệt lâu cái gương mặt em tôi trước khi nó chết. Mặt em tôi bấy giờ nhợt nhạt hẳn đi, vì vết thương ở đầu và chân chảy mất nhiều máu quá. Nhưng nói chung nó vẫn bình thường. Dưới mớ tóc đắp rủ lên mép trán, đôi mắt nó liếc nhìn tên xếp bót trông vừa bén lạnh lại vừa dữ tợn. Đôi mắt ấy khi bắt gặp tôi thì dịu hẳn ngay xuống, không buông tôi ra nữa, và cứ lặng lẽ nhìn cho đến lúc tôi phải quay mặt đi mới thôi. Có gần năm phút mà chúng nó vẫn chưa rục rịch gì. Nhìn về phía thằng Mônôry, tôi lạ quá, thấy nó cứ đứng thừ cái bộ mặt của nó ra. Một tay nó nắm cán súng lục đeo trễ bên hông, một tay bẹo cằm, có vẻ suy nghĩ lung lắm. Bọn lính đã ghìm những cây súng trường Anh đầu bằng, chỉ đợi thằng Mônôry hạ lệnh bắn vào em tôi. Vừa lúc đó thằng Mônôry giơ tay. Tôi nhắm mắt day mặt chỗ khác. Nhưng mãi không nghe thấy súng nổ, và mọi người xung quanh bỗng xôn xao cả lên. Tôi quay lại thấy thằng Mônôry vung mạnh tay ra hiệu cho bọn lính giạt qua hai bên. Nó vẫy tên lính thông ngôn cùng đi với nó lại trước mặt em tôi. Nó hỏi em tôi:
- Trước đây mày học vẽ ở đâu? Có học ở trường Gia Định không?
Em tôi lờ đi không đáp. Thằng Mônôry tự trỏ ngón tay cái vào ngực:
- Mày không rõ chớ tao cũng là họa sĩ đây. Thấy mày biết vẽ nên tao chưa nỡ bắn mày. Nhưng tao hỏi: Nếu bây giờ tao thả mày ra thì mày còn dám vẽ nữa không?
Em tôi trề môi đáp:
- Vẽ là nghề của tao mà.
- Bây giờ tao cho mày vẽ mày dám vẽ không?
- Vẽ cái gì?
- Vẽ gì tùy ý. Vẽ hình Hồ Chí Minh cũng được.
Em tôi đáp giọng cứng cỏi:
- Mày nói chuyện nghe ngu lắm. Hình lãnh tụ của tao mà sao tao không vẽ được. Bất
cứ ở đâu tao cũng vẽ được hết thảy!
Thằng xếp Mônôry nghe em tôi đáp thì nó giương cặp mắt xanh lè như mắt mèo nhìn suốt người em tôi. Nó day qua nói vào tai tên thông ngôn. Tên thông ngôn bảo em tôi:
- Ông xếp nói thiệt đấy. Nếu anh dám vẽ trước những mũi súng này thì ổng lấy danh dự của một người quân nhân bảo đảm không bắn anh bất tử. Nè, anh không biết, chớ ổng là một người có học vấn, trước kia hồi ở bên Tây ổng có học vẽ. Bây giờ thỉnh thoảng ổng cũng hay vẽ chơi. ổng muốn coi anh vẽ. ổng sẽ cho người lấy đủ giấy bút cho anh vẽ tại đây. Anh vẽ được chớ?
Em tôi hất ngược mớ tóc ra sau gật đầu không chút do dự. Tôi không ngờ thằng xếp bót có ý định lạ lùng như vậy. Ban đầu tôi nghi nó bày ra việc này để dẫn tới cái sự gì đây. Nhưng tôi rất tin em tôi. Từ trước tới nay nó chưa từng chịu thua trí thằng địch bao giờ. Thằng Mônôry sau khi thấy em tôi gật đầu, nó liền móc túi lấy ra một xâu thìa khóa quẳng cho một tên ngụy. Trong lúc tên ngụy chạy về bót thì thằng Mônôry ra lệnh mở trói cho em tôi. Nó đi đến đứng trước mặt em tôi, miệng bập bập cái ống píp. Nó lừ ngừ nhìn em tôi một lúc rồi rút phắt cái píp thuốc ra khỏi miệng, lên giọng:
- Tụi như chúng mày mà biết vẽ cái gì... Nếu mày biết vẽ ắt là mày phải có phần nào biết yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống. Tại sao mày không vẽ phong cảnh, vẽ động vật hoặc vẽ cái gì khác... mà lại đi vẽ thứ này để phá rối trị an?
Và nó hạ thấp giọng xuống:
- Mày có biết ông Pát không? Ông Pát là một nhà điêu khắc và họa sĩ có tài, rất nổi tiếng ở Paris. Ông sang bên này làm giám đốc trường mỹ thuật Gia Định để giáo dục cho tụi bây hiểu biết về cái đẹp, về nền nghệ thuật hội họa lâu đời của một nước văn minh lớn ở nước Pháp chúng tao. Thế mà tụi bây đã giết ổng, giết một người nghệ sĩ... Ông Pát có phải là một nhà quân sự gì đâu. Ông không phải là người cầm súng. Ông chỉ đi chung với những sĩ quan trong đoàn xe hộ tốngt trên đường Là Ngà. Tụi bây đã bắn ổng chết...
Nghe nó nói, em tôi im lặng một chốc rồi ngẩng lên bảo:
- Thứ như mày mà cũng nói chuyện thiên nhiên, cây cỏ. Trước khi mày mở miệng nói với tao câu đó đáng lẽ mày phải nhìn khắp chung quanh cái bót này coi có còn một cái cây nào còn sống được không? Cây có trái tụi mày cũng đốn, cây sắp ra trái tụi mày cũng chặt. Tới từng ngọn cỏ chúng mày cũng đạp lên... Mày nói mày là họa sĩ, thì tao cũng có thể tin cho mày đi. Mày lại nói nước Pháp có một nền nghệ thuật hội họa nổi danh. Có, cái đó có... Nhưng riêng tụi chúng mày thì đừng có xí phần vào, nghe không? Mày nói chúng tao giết chết ông Pát là giết một nghệ sĩ Pháp. Không, nhân dân Việt Nam chúng tao không bao giờ có ý định giết hại những người nghệ sĩ chân chính của nước Pháp. Trái lại chúng tao rất yêu mến những người đó. Mày có đọc quyển "Kháng chiến nhất định thắng lợi" của lãnh tụ tao chưa? Trong cuốn sách đó, lãnh tụ của chúng tao có nói rõ "... Chúng ta đánh bọn thực dân xâm lược Pháp, chúng ta không đánh nhân dân Pháp"... Ông Pát nào mà mày nói đó nếu quả ổng có chết thì ổng phải cam chịu thôi. Chúng tao nã súng vào đoàn xe chở lổn nhổn bọ sĩ quan xâm lược chúng mày, đạn liên thanh của chúng tao có nhận mặt được ông Pát mà chừa ổng ra được đâu?
Câu chuyện đối đáp qua lại giữa thằng Mônôry với em tôi vừa đến đấy thì tên lính ngụy về bót khi nãy đã ra tới. Nó đem đến đưa thằng Mônôry một cuộn giấy vẽ trắng tinh và một hộp màu hình chữ nhật bằng gỗ đánh vẹcni nâu bóng nhoáng. Thằng Mônôry cầm các thứ đi lại chỗ em tôi. Nó mở tờ giấy, thận trọng trải ra trên cỏ rồi đặt hộp màu bên cạnh. Tôi hồi hộp theo dõi từng cử chỉ của em tôi. Bà con trước đó không ai muốn đứng nhìn cảnh thương tâm sắp diễn ra thì giờ chen nhau mà coi cảnh em tôi đang loay hoay chuẩn bị vẽ trên bãi cỏ. Bấy giờ em tôi chỉ có được cánh tay phải và chân trái là còn lành lặn. Mà cánh tay phải vì bị trói nghịt lâu quá, vừa được cởi ra nhưng chắc bị tê hay sao nên em tôi nó cứ quơ quơ một lúc mới cử động được. Đầu tiên em tôi mở hộp màu ra. Tôi thấy cặp mắt nó vụt sáng rực lên trước những gói bột màu lổn nhổn, những bút, những than vẽ. Hộp màu ấy đối với nó quý lắm. Có bao giờ nó sắm được một hộp màu như vậy đâu. Em tôi đưa tay bươi bươi những gói màu. Nhưng cuối cùng nó chỉ cầm lấy một mẩu than. Tôi hơi ngạc nhiên. Tôi đoán có lẽ em tôi nó biết sức lực của nó không cho phép có thì giờ rảnh rỗi để tô màu tô mè gì nữa. Cho nên nó chỉ chọn lấy một mẩu than rồi đưa cùi tay trái chận xuống tờ giấy rà vuốt cho mặt giấy nằm im. Nhưng khổ nỗi gió ngoài vàm sông cái thổi vào làm tờ giấy nằm trên cỏ cứ phập phều, em tôi loay hoay mãi mà không sao vẽ được.
Thằng Mônôry thấy thế liền sai tên thông ngôn tức tốc chạy về bót vác lại một cái giá vẽ. Rồi tự tay nó bê cái giá vẽ lại đặt trước chỗ em tôi. Nó bố trí sắp xếp, hạ trục giá thấp xuống, áp tờ giấy lên bảng vẽ, ghim kim bốn góc. Xong rồi nó xoa xoa hai bàn tay vào nhau, bước lùi ra. Em tôi liền duỗi cái chân bị thương sang một bên, tỳ khuỷu tay cục xuống cỏ, rướn người tới. Tay phải em tôi cầm mẩu than nhanh nhẹn phác họa những đường trên không khí chớ chưa chạm lên mặt giấy. Bỗng thình lình một giọt máu từ trên trán nó nhễu xuống giữa tờ giấy. Em tôi dừng tay, đôi mày nhíu lại đăm đăm nhìn giọt máu. Và nó từ từ buông mẩu than đang cầm, đưa tay lên quệt máu nơi trán. Tức thì tôi cảm thấy khắp người tôi máu nóng ran. Thằng Mônôry biến sắc. Nó luôn đưa tay gãi gãi bộ ngực lông lá của nó. Bà con chung quanh chạo rạo cả lên. Có người buột miệng kêu "Trời ơi..." và tiếng đàn bà khóc sùi sụt. Anh ạ, em tôi bắt đầu vẽ bằng ngón tay trỏ chấm máu trên trán của nó. Trước tiên nó vẽ đôi mắt Cụ. Tất cả sức lực nó đều dành cho việc vẽ đôi mắt ấy. Tôi đứng nhìn mà chân cứ như giẫm phải lửa. Bấy giờ tôi không còn nặng lo về số phận của em tôi lắm mà lại lo không biết em tôi có đủ sức vẽ xong bức tranh Cụ hay không. Việc đó bấy giờ đã trở nên quan trọng hơn cả cái tính mạng của em tôi nhiều. Tôi chỉ đợi hễ em tôi ngước lên bắt gặp tôi lần nữa thì tôi sẽ nhìn nó, trợ tinh thần và khích lệ nó. Nhưng nó không nhìn tôi. Từ đó trở đi, đôi mắt nó chỉ dán lên bảng vẽ. Vẽ được một bên mắt trái Cụ, em tôi mệt quá ngất đi. Thằng Mônôry sai lính xách gầu ra bờ sông múc nước rẩy lên mặt em tôi. Em tôi tỉnh dậy thì máu trên ngón tay trỏ của nó vừa ráo lại. Nó đưa mắt nhìn đồng bào một lượt đoạn quệt máu trên trán cúi xuống vẽ. Lúc em tôi vẽ xong đôi mắt Cụ, tôi nhẹ nhõm cả người. Nhưng em tôi thì lại gục xuống một lần nữa. Bọn lính vốc nước còn lại trong gầu tưới lên người em tôi. Nó dần hồi tỉnh. Lần này nó ngồi dậy đưa ngón tay chấm phá rất nhanh. Đến lúc bức tranh gần thành hình, em tôi chõi khuỷu tay trái, nghiêng người ra phía sau để ngắm rồi mới ngã vật ra. Bọn lính kêu lên:
- Nó chết giấc nữa rồi!
- Đổ nước nữa đi!
Nhưng lần này chúng tưới trọn một gầu nước mà em tôi vẫn không động đậy. Thằng Mônôry chạy tới cầm chéo áo em tôi giật giật mấy cái. Em tôi vẫn nằm im, mặt ngửa ra dưới ánh mặt trời mười hai giờ trưa. Thằng Tây cúi xuống sát mặt em tôi xem một lúc rồi đứng thưỡn dậy, lẩm bẩm: 
- Chết rồi...
... Tôi cũng tính là em tôi phải chết chớ không thể nào sống đặng. Vì có bao nhiêu sức sống còn lại nó đã dốc ra hết. Nhưng tôi không khóc. Cái cảm giác đau đớn khi có đứa em ruột mình chết đi ở trong tôi bấy giờ mình như không cào cấu ruột gan tôi mạnh như trước. Thằng Mônôry thấy em tôi đã chết, nó đứng rũ ra một chốc. Nó không còn cái vẻ hống hách thường ngày của thằng xếp bót nữa. Nó đứng trước bức tranh rất lâu, nhìn những nét máu còn tươi rói trên tờ giấy... Anh ạ, bức tranh đó nói chung còn nhiều nét phụ chưa vẽ kịp, như râu tóc không vẽ được hết nét, bởi vì bao nhiêu nét đều phải dồn vào vẽ đôi mắt. Thiệt, đôi mắt của Cụ trong bức tranh ấy thì em tôi vẽ giỏi hơn tất cả những đôi mắt Cụ nó vẽ từ trước tới nay. Chỉ riêng nhìn đôi mắt không cũng có thể nhận ngay ra khuôn mặt nhân hậu của Cụ anh ạ... Trưa hôm đó, tôi đem xác em tôi về chôn...
Anh Bảy đang nói bỗng dừng lại. Không hiểu sao lúc ấy hai bàn tay tôi tự nhiên với ngoặc ra sau thân cột, run run rờ rẫm những vết rìu đẽo sần sùi trên gỗ. Và tôi hỏi:
- Còn bức tranh?
- Bức tranh thì sau đó thằng Mônôry cuộn lại đem về bót.
Tôi kêu lên:
- Nó lấy bức tranh à?
- Phải, nó lấy đem về... Tới cuối năm năm mươi thằng Mônôry sắp được về Tây. Nhưng số nó không đi khỏi nước mình đặng. Bót Hiệp Hưng bị bộ đội về đánh và thằng Mônôry chết trước một ngày nó lên đường đi Sài Gòn để về Tây. Anh em bộ đội lấy được trong buồng riêng của nó một cái va ly da. Trong va ly có nhiều bức tranh chính nó đã vẽ. Bức thì vẽ hình một chị phụ nữ lõa lồ đang oằm oại, bên dưới đề "Sau lúc hỏi cung", bức thì vẽ đồn bót cây cảnh ở Hiệp Hưng. Bức tranh Cụ của em tôi vẽ bằng máu tìm được trong góc va ly, đã cuộn lại, phía sau có ghi một dòng chữ Pháp. Anh Danh, chánh trị viên lúc trao bức tranh lại cho tôi đọc những câu văn nó ghi là: "Bức tranh này do một tù binh Việt Nam đã vẽ trong một hoàn cảnh hết sức khủng khiếp và kỳ quặc".
Anh Bảy phó chủ nhiệm thôi kể. Tôi được dịp thở ra một hơi. Anh Bảy đứng cầm lấy áo mặc vào và nói:
- Hồi đi tập kết tôi tính mang bức tranh theo nhưng bà con trong xã yêu cầu tôi để lại. Tôi đã nghe theo lời bà con mà để lại. Tiếc quá... nhưng thôi, để lại cho bà con mình ở trỏng thì có gì là đáng tiếc. Tôi cứ nghĩ sau này thống nhứt tìm lại bức tranh đó đưa vô bảo tàng thì quý lắm. Chắc chắn đến lúc đó bức tranh đã có ý nghĩa dài hơn cái ý nghĩa câu chuyện tôi vừa kể cho anh nghe nhiều lắm rồi.
28/1/2005
Anh Đức
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Sao phải là Khánh Ly

Sao phải là Khánh Ly?

Tên tuổi Khánh Ly gắn liền với những ca khúc Trịnh Công Sơn để trở thành “thương hiệu kép” nổi tiếng hàng đầu trong nhạc sử Việt Nam [*]. Cô vẫn được cho là “sinh ra để hát nhạc Trịnh Công Sơn”. Nhưng vì sao?
Diva này từng “bị tố cáo” là “không hát”, mà chỉ dùng chất giọng “sương mù lạnh ẩm” của mình để “xướng âm” theo cách “chân phương” nhất: “Không biểu cảm”, “không cao trào/thấp trào” - “không điều chỉnh cường độ âm thanh” gì hết (khác hẳn với Thái Thanh hay Lệ Thu: “biểu cảm” phong phú, “to/nhỏ, lên/xuống” đúng mực - khi “êm khẽ dịu dàng”, lúc “mãnh liệt dữ dội”). Ngoài ra, giọng cô cũng bị xem là “lạnh lẽo”, “hững hờ”, và “bải hoải” (so với cái “nóng bỏng”, “da diết”, hay “sôi nổi” của hai diva kia), còn phát âm của cô thì “lười lĩnh”, “nhòe cạnh”, và “buông lỏng” (chứ không “dụng công”, “sắc bén”, và “chắc nịch” như của hai “đỉnh cao” còn lại)! Chưa hết, người ca sĩ này còn đứng yên “như pho tượng”, nét mặt cũng “như pho tượng”, chỉ hai môi là buộc phải “động đậy” [**] (trong khi Thái Thanh thường “sống động”, còn Lệ Thu cũng có “chuyển động”, tuy không nhiều). Tôi tin nếu thủ đắc được thuật “phát âm bằng bụng”, cô cũng sẵn lòng cho hai môi “bất động” ngay tức thì?!
Ấy nhưng mà, thật lạ lùng và thú vị, toàn bộ những gì Khánh Ly bị “tố cáo” hóa ra lại là những “công phu”, những “bí quyết” độc nhất vô nhị - chưa (và sẽ không) ai thực hiện thành công được như thế ngoại trừ chính cô. Thật vậy, bạn có thể “thách” bất kỳ ai khác “hát như không hát”, “biểu cảm như không biểu cảm”, nhả chữ “lạnh lẽo, hững hờ, uể oải, lười lĩnh, nhòe cạnh, buông lơi”, và đứng yên “như một pho tượng” (mà không được để cho khán/thính giả “ngoảnh tai”, “rời mắt”, hay “dợm chân bỏ đi”, tất nhiên rồi)? Tin chắc đi: Bạn sẽ thắng cả trăm phần! Nhưng, một lần nữa, tại sao?
Vậy thì đây, vâng, lời đáp chính xác - lý do quan trọng nhất: Trên hết cả mọi thứ, chất giọng “mù sương ẩm lạnh” của người ca sĩ này không “hay”, mà là “quá hay”, “quá liêu trai”! Phát âm/ cấu âm của cô thật “chuẩn xác”, mà cũng thật “độc đáo”, “hút hồn” - chỉ một lần nghe qua, bạn sẽ không thể quên, cũng không thể nào nhầm với ai khác nữa. 
Chính Trịnh Công Sơn đã chọn Khánh Ly làm người “chuyển tải” các “thông điệp” của ông; ông biết rõ cô sẽ đáp ứng tốt nhất những “yêu cầu”, những “‎í đồ nghệ thuật” của mình. “Đúng là chỉ có Khánh Ly mới thể hiện đúng tâm trạng bài hát của tôi nhất”, ông trả lời phỏng vấn. [***]
Trịnh Công Sơn được cho là đã tạo ra một “cõi ảo” với mảng “tình ca” của ông; phải chăng chỉ chất giọng “sương ẩm lạnh mù” của Khánh Ly mới có thể “ướp” cho cái “cõi” kia được nguyên vẹn “ảo” như thế (chứ nếu là “nắng” (dù có “sáng đẹp”) với “nóng” (dẫu là “ấm áp”) - như Thái Thanh hay Lệ Thu chẳng hạn - thì cái “ảo” ấy rất có thể sẽ bị làm cho “bốc hơi” đi ít nhiều)?. Còn bản thân Khánh Ly? Hẳn cô cũng phải “kềm” không cho “thân nhiệt” vượt quá cái “ngưỡng… X độ bách phân” nào đấy; bằng không, chất giọng sẽ không còn đủ “lạnh” và sẽ “làm hỏng” tất cả? Mà còn cách “kiềm nhiệt” nào hiệu quả cho bằng “cử động ít nhất có thể”?
Nhưng đâu chỉ thế? Họ Trịnh đâu chỉ có “cõi ảo” với mảng “tình ca”, ông còn một “cõi rất thật” - “Việt Nam chiến tranh” - với mảng “ca khúc da vàng”, mà ở đó, giọng ca vị “ngôn sứ” của ông dù vẫn thế - không đổi - song thay vì “ướp” cho nguyên vẹn một “cõi ảo”, thì lần này cái làn “sương lạnh ẩm mù” ấy lại chở theo “hiệu ứng” khác hẳn - “nhuốm” cho nó - cái “cõi rất thật” ấy - một “màu khăn sô”, bằng “tiếng khóc khô” của một “tử thi sống” - nghe “chai sạn”, “rã rời”, và “hoang dại”. Mà cũng vậy, chẳng có lí nào một “tử thi” lại được phép “cử động” hay “biểu cảm”?!  
Dù sao, tôi vẫn tưởng Khánh Ly - qua Trịnh Công Sơn - còn tham vọng hơn thế? Cô muốn không chỉ khẳng định một “phong cách” hay một “thái độ”, mà định hình hẳn một “loại hình nghệ thuật”, trong đó người thể hiện phải tuân thủ các đòi hỏi gần như “quy luật”, hay có thể còn hơn cả thế - như những “nghi thức” - nghiêm ngặt mà tinh vi? Bạn hãy khoan bĩu môi - tôi muốn hỏi bạn đã từng “pha/uống trà Tàu” như nhà văn Nguyễn Tuân? Từng hiểu về “Trà Đạo” của người Nhật? Hay đã từng xem “tuồng Nô” (cũng của người Nhật, ở đấy diễn viên không được phép “để lộ facial expression” nào)? Hay, tốt hơn, bạn có từng nghe/nhìn “ca Trù Bắc Bộ”? [****]
Thế thì, Khánh Ly - với nhạc Trịnh Công Sơn - không chỉ là một “giọng hát”, mà còn là một “phong cách”, một “thái độ” trình diễn; qua đó, một “loại hình nghệ thuật mới” được thiết lập? Lười chữ và nghèo liên tưởng nhất, tôi chỉ gọi nó là “ca Trù Sài Gòn - ca Trù Khánh Ly/ Trịnh Công Sơn”.
Hôm nay, nhiều ca sĩ khác cũng hát nhạc của họ Trịnh (tất nhiên với “phong cách” và “thái độ” riêng của mỗi người, và cũng chưa hẳn đã là “dở”), chỉ có điều không ai “biết đứng yên” để hát loại “ca Trù” mới này, cũng không ai có thể trả lại cho cả “cõi ảo” lẫn “cõi rất thật” của ông cái “ẩm lạnh mù sương”, nguyên sơ và “huyền thoại”, như Khánh Ly đã làm ngày ấy nữa.
Chú thích:
[*] Trong số các bài hát của Khánh Ly ở “trang” này, tác phẩm của Trịnh Công Sơn chiếm chủ yếu. Không phải vì cô không hát nhạc ai khác, càng không phải cô hát những “người ấy” không hay, mà chỉ bởi cô không phải là người hát “hay nhất” những bài của họ, và chỉ vậy.
[**] Như trong hai clip này: Ru Ta Ngậm Ngùi và Đêm Cuối Cùng. 
[***] Điều này không có nghĩa Khánh Ly luôn luôn hát “hay nhất” các bài hát của Trịnh Công Sơn. Chính ông cũng xác nhận, với “Hạ Trắng” và “Xin Mặt Trời Ngủ Yên” thì Lệ Thu là vô địch (ấy là ông quên chưa kể các bài “Như Cánh Vạc Bay” và “Biển Nhớ”, mà Lệ Thu đã làm cho rất “lộng lẫy” sau đó?), còn với “Lời Buồn Thánh” thì phải là ca sĩ Bạch Yến.  
[****] Được biết vào khoảng những năm cuối thập niên 90 (thế kỷ trước), có đoàn nghiên cứu văn hóa của Đức đến Hà Nội, nhân dự buổi “giao lưu” có tiết mục “ca Trù”, đã (nhỏ nhẹ) nhận xét: Hình như đây không phải là Ca Trù “chính thống” của quí vị? Bởi họ thấy các “nghệ nhân” cứ “lúng la lúng liếng”, “đong đa đong đưa”…, mà theo chỗ họ hiểu về loại hình nghệ thuật (quý hóa) này của Việt Nam, thì các “đào nương” phải “đứng hoặc ngồi nghiêm”, “nét mặt cũng nghiêm”! Song “chủ nhà” có cho vàng cũng chả dám thú thật với “khách quí” rằng thì là vâng ạ, quả đấy là “hàng giả” - chả là các em văn công gái “đóng thế vai” - để “phục vụ nóng” cho “yêu cầu giao lưu tại chỗ”, chứ biết đào đâu ra “hàng thật” - là thứ đã kịp tuyệt chủng từ thời “Cải Cách Ruộng Đất” - bây giờ?.
Sài Gòn, 14/12/2012
Ấu Lăng
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Tại sao người ta còn mãi nghe họ hát

Tại sao người ta
còn mãi nghe họ hát?

Tại sao chúng ta còn nghe mãi những ca sĩ này hát những bài hát này, dù không bất kỳ ai trong số họ từng được mệnh danh là vocalist? Tất nhiên, có vẻ chẳng ai trong số các ca sĩ yêu quí của chúng ta ngày đó đã từng được đào tạo kỹ năng xướng âm hoặc thanh nhạc. (Mấy kẻ trong số họ có thể xướng âm ngay một dòng nhạc mà không tập trước? Bao nhiêu người có thể hát không cần hỗ trợ của dàn ampli cùng với loa?) Cũng thế, trong số các nhạc sĩ viết ca khúc cho họ hát cũng có mấy ai đã từng học qua hòa âm từ sơ đến cao cấp, nói gì đến đối âm “thuận” với đối âm “nghịch”, nói gì đến các kỹ thuật tẩu pháp - để biết thế nào là triển khai “nhạc đề”, thế nào là khai thác “cung”, “quãng”? Tóm lại, cả người viết ca khúc lẫn người hát đều chỉ là “nghiệp dư”, chỉ là “tự phát”, một cách hồn nhiên, thế thôi. Tuy nhiên, nhiều người trong chúng ta sẽ không đánh đổi dù chỉ một câu họ hát để lấy thậm chí cả một tủ CD “Tiếng Hát Thanh Lam”.

Không ít người đã trả lời rằng những ca sĩ của chúng ta ngày đó tuy không qua đào tạo hàn lâm nhưng được trời cho chất giọng rất hay, rất độc đáo, “chẳng ai giống ai”, “chẳng lẫn vào đâu được”. Họ chỉ cần cất tiếng hát lên một vài chữ, ta đã có thể nhận ra là ai - Carol Kim ắt phải khác Julie Quang, Connie Kim không hề giống Mai Lệ Huyền, Thanh Tuyền lại càng khó lẫn với Thanh Thúy. Duy Khánh thì không thể nào bị nhầm thành Chế Linh, Nhật Trường thành Hùng Cường, Tuấn Ngọc thành Sĩ Phú, Jo Marcel thành Elvis Phương cho được. Ca khúc họ hát cũng thế, cứ như thể đã được “đo ni đóng giày” vậy: Đúng như có người đã bảo, nghe “buồn vào hồn không tên” thì ắt là người này, “từng bước từng bước thầm” - hẳn là người kia, “gửi tới em gửi tới em một hạt mưa lẻ loi” - phải là người ấy, “cái trâm em cài là do người yêu em biếu đó” - chắc chắn là người nọ, “mỗi năm đến hè lòng man mác buồn” - thôi rồi, lại người khác nữa! Ấy chưa kể nhạc intro và phối khí: Chỉ “trong vòng đôi ba (thậm chí “một”) nốt nhạc”, ta đã nhận ra “bài quen, người quen”. Tóm lại, tất cả - từ giọng hát, đến bài hát, nhạc đệm - đều để lại ấn tượng “in hằn, khoét sâu, đâm thủng”, khiến người nghe phải “nhớ cả đời”, thậm chí “cả đến kiếp sau” - điều mà “nhạc ta” hôm nay có “mơ cũng chả được” (khiến một nhạc sĩ đương đại ganh tị đến mất cả kiên nhẫn, phải thét lên: “Thời này mà người ta cứ còn nghe mãi một loại nhạc… như thế là bất bình thường!”)
Một cách giải thích quen tai nữa là các ca sĩ ngày đó hát “có hồn” hơn, và các ca từ cũng “có ý nghĩa” hơn, đồng thời “văn vẻ” hơn. Trong hai điều vừa nêu, thực ra, điều thứ hai (ca từ) có tính quyết định: Nếu lời ca “vô nghĩa” hay “thô thiển”, ai có thể hát cho “ra hồn”? Và nó cũng đòi hỏi cách diễn tả phù hợp. Nhân đây không thể không nhớ đến những “ca” phối hợp trớ trêu giữa một bên là “ca từ ngày đó”, còn bên kia - “giọng hát bây giờ”, mà kết quả là người viết ca khúc phải than thở rằng ca sĩ “hát nhạc ông không ra được cái hồn”, hoặc thậm chí năn nỉ người hát “tha cho nhạc của ông”!
Lý do người ta đưa ra có khi còn cực đoan hơn thế. Chẳng hạn, theo mợ tôi - một người rất sành bếp núc - thì ‘các giọng hát ngày ấy là chim trời, cá biển, tự sinh tự trưởng, chẳng do ai nuôi nhốt, ắt “thịt” phải săn hơn, ngọt hơn, có giá trị dinh dưỡng hơn hẳn so với các “diva”, “divo” được sản xuất từ chuồng trại công nghiệp hôm nay, dù có tẩm ướp gia vị đủ loại thế nào thì cứ vẫn “không bở bục cũng dai nhách”, chưa kể phẩm mầu công nghiệp, dư lượng kháng sinh, mợ có muốn thử cũng chả đành lòng.’ Còn theo cậu tôi - rất sành hoa quả - thì ‘họ như quả tự nhiên chín cây, thơm, lành, mát, ngọt, ngon, bổ, đủ kiểu, chẳng như hôm nay, rặt hàng biến đổi gien hết canh tác bằng phân hóa học, thuốc trừ sâu, lại thu hoạch bằng thuốc kích phọt, thuốc thúc chín, rồi bảo quản bằng “phong phú và đa dạng” các hóa chất “chưa được kiểm định” khác, thảy đều “nằm ngoài danh mục cho phép”, bao giờ chán sống cậu mới ăn.’
Hẳn rằng tất cả những lý lẽ “yêu”/ “ghét”, “đẹp”/ “xấu”, “hay”/ “dở” của chúng ta đều chủ quan. (Như một “nhà” nổi tiếng nào đó đã phán: “Đẹp là gì? Ấy là con cóc cái đối với con cóc đực của nó!”) Chỉ cần lấy thí dụ về ca nhạc thôi: Michael Jackson có là tượng đài của bao nhiêu người thì cũng có bấy nhiêu kẻ bĩu môi. Whitney Houston đoạt hết Grammy này đến Grammy khác ư? Ái chà, nhưng bảo đảm trong túi xách của ô-sin nhà tôi sẽ chẳng bao giờ có CD của diva ấy. Thần tượng của bạn có giọng ca siêu phàm đến độ có thể “hát hay cả một danh bạ điện thoại” hả? Tốt thôi, nhưng ông (hay bà) ấy cứ việc nằm yên đấy trong sọt rác của một ai đấy khác, chả tại sao hết! Trở lại với những ca sĩ của chúng ta ngày đó, với chủ quan tôi, có thể sẽ không bao giờ thôi nghe họ không hẳn vì những giọng hát và những bài hát ấy “thực sự hay”, mà đơn giản tôi không chỉ nghe họ hát, cũng không chỉ nghe lại những ca khúc; tôi “nghe” lại một phần đời của tôi và của cả những người thiết thân nhất với tôi.
Trang “Saigon Hợp Tuyển” dưới đây để dành cho cậu mợ tôi và những ai cùng sở thích (Người xem có thể click vào tên mỗi bài hát để nghe/ nhìn clip.): http://aqpvn.blogspot.com/2013/05/test-10.html hoặc http://vimeo.com/channels/610380 hoặc http://www.youtube.com/user/aqpvn/videos?shelf_id=7&view=46&tag_id=UCoRqQu6VtsCc4v_2NVK08TQ.3.sg&sort=dd
Sài Gòn, 21/1/2014
Ấu Lăng
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Hỏi khán giả của Lệ Thu

Hỏi khán giả của Lệ Thu

Nếu hỏi giới showbiz Sài Gòn cũ ai là danh ca (từ nửa sau thập niên 60) có hàng trăm áo dài đẹp và vài chục đôi giày sang cùng với cát-xê “huyền thoại” - một triệu vnd (hay vài chục ký‎ vàng 24k) một tháng, thì họ cho bạn biết ngay. Và nữa, nếu hỏidiva nào “hiếu chiến” đến mức sáng đêm còn miệt mài với cái “chiếu bạc” hay “bàn mạt chược”, thì bạn cũng không phải chờ lâu mới có giải đáp.
Tất nhiên, chỉ đùa thôi, nhưng dù thế nào, tiếp cận một nghệ sĩ từ những góc độ “phi nghệ thuật” như vậy là thiếu “nhậy cảm”? Có chăng chỉ cần hỏi Ca sĩ nào từng được mệnh danh “Giọng Ca Vàng Ròng”, hay “Tiếng Hát Vàng Mười”, mặc dù câu trả lời sẽ vẫn thế - Lệ Thu!
Một điều thoạt có thể gây ngạc nhiên: Số người ngưỡng mộ Lệ Thu lẽ ra đã phải lớn hơn rất nhiều. Vậy, những lí do nào đã làm hạn chế số khán/thính giả tiềm năng của cô? Có thể kể: (1) Rất hiếm khi Lệ Thu xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng - truyền thanh hay truyền hình, (2) mỗi tối cô chỉ hát ở một phòng trà “độc quyền”, mà “vé vào cửa” là rất đỗi xa xỉ với hầu hết người Sài Gòn xưa, và (3) đĩa hay băng (nhạc nói chung, ca khúc Lệ Thu nói riêng) đòi hỏi các thiết bị quay đĩa (tourne-disque) hoặc quay băng (magnétophone hoặc máy nghe cassette) - tất cả đều đắt, vượt quá khả năng của giới lao động bình thường. Kết quả là, thứ nhất, chỉ có thành phần trung lưu trở lên mới có điều kiện thưởng thức giọng hát của ca sĩ này. Và thứ nhì? Có nhiều ca khúc Lệ Thu hát rất xuất sắc mà lại được rất ít người - kể cả những người yêu thích tiếng hát của cô - biết đến. (Để kiểm chứng, bạn thử click vào đây để nghe, và trả lời: (1) “Tên bài hát?”, và (2) “Bạn đã từng nghe bài này?”)
Lệ Thu vẫn được nhắc đến như “một trong những giọng hát tình khúc hay nhất của nền tân nhạc VN”. Vâng, hầu như người ta chỉ biết tên tuổi của cô gắn liền với những tình khúc “thời chiến” (Nước Mắt Mùa Thu, Mùa Thu Chết, Nửa Hồn Thương Đau, Hạ Trắng, Như Cánh Vạc Bay, Hoài Cảm, Tình Khúc Thứ Nhất, Xin Còn Gọi Tên Nhau, Chiều Tím, Dáng Ngọc, Chiếc Lá Cuối Cùng, Anh Cho Em Mùa Xuân, …) hay “tiền chiến” (Dang Dở [Tà Áo Xanh], Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, Lá Đổ Muôn Chiều,Bến Xuân, …) bởi những tác phẩm ấy quá phổ biến; tuy vậy, cũng ở “mảng” tình khúc này, tôi dám chắc còn không ít tuyệt phẩm do ca sĩ này hát mà bạn chưa từng biết, chẳng hạn: Về Trên Lá Cỏ Ngậm Ngùi, Mái Tóc Dạ Hương, Mắt Biếc, Yêu, Hoa Soan Bên Thềm Cũ, …? Mà không chỉ thế, có thể bạn cũng chưa biết: Gia tài của Lệ Thu không chỉ gồm các tình khúc “hiện đại” và “sang trọng”: Cô còn “lấn sân” qua mảng “sầu tình”, nhưng điều rất ư thú vị (và kỳ diệu nữa) là qua “bộ lọc Lệ Thu” nó bỗng dưng, chỉ trong “đường tơ kẽ tóc”, thoát khỏi thân phận “sên… sắc” để trở nên “quí phái” vô song. (Vâng, nhưng bạn đừng chỉ nghe Sang Ngang, Một Lần Cuối, Tình Buồn, mà hãy nghe cả Nửa Cuộc Tình Buồn, Tuyệt Vời Bóng Tối, Bài Tình Buồn,… nữa.) Và cuối cùng (tạm cho là vậy), một “mảng” khác của Lệ Thu - mảng đề tài “quê hương”, “thế sự”, mà bản Không Ai Ngăn Nổi Lời Ca tôi vừa “hỏi đố” bạn trên kia là một thí dụ - vẫn còn đang chờ được phám phá: Vang Bóng, Tình Quê Hương,Thương Quá Là Thương, Lời Yêu Dấu Cho VN, Xin Mặt Trời Sáng Trở Lại, Xin Cho Tôi, … Ở đó, người ta phát hiện một Lệ Thu khác - “về nguồn” - “nồng nàn” và “tha thiết” khác thường. [*]
Ngày ấy, mỗi lần (rất hiếm hoi, chủ yếu chỉ trong các show của Jo Marcel và Phạm Mạnh Cương) danh ca này xuất hiện trên TV, nhiều người phải tạm bỏ dở công việc để “nghe/ngắm” cô - không là “tuyệt sắc”, nhưng “kiêu sa mê hồn”! Ở vũ trường, mỗi khi Lệ Thu bước ra chỗ dành cho cô, cầm lấy micro, đứng im, chuẩn bị hát, thì “mọi người dừng khiêu vũ để nghe”.
Sức hút của giọng hát này ở đâu? Ở cách nhả chữ “điêu luyện”, “chắc nịch mà êm như nhung”? Ở kiểu “ngân rung” cuối mỗi câu nghe như sóng gợn, “hút hồn”? Hay ở chất giọng “trầm ấm” mà “trang trọng”, rất “gợi cảm”? (Lệ Thu chọn hát bằng giọng “thật”, không bằng “giả thanh” - ngoại trừ ở một đôi chỗ trong các bài Bến Xuân, Đêm Đông Lạnh Lẽo, Ly Rượu Mừng, và Vọng Ngày Xanh. Phải chăng chỉ bằng giọng “thật”, ca sĩ mới có thể “hát như rót từng dòng tâm sự đến người nghe”?)  
Có lẽ tất cả những nhận xét trên đêu xác đáng. Quả khó tìm được ai khác hát tiếng Việt phát âm từng chữ vừa đĩnh đạc chuẩn xác vừa biểu cảm tinh tế, vừa “hiện đại” vừa “kinh điển”, như ca sĩ này. Giọng đã sẵn khỏe, mỗi lúc lên “cao trào” nghe “mãnh liệt dữ dội” (chẳng hạn ở các bài Mùa Thu Chết, Chiếc Lá Cuối Cùng, Bài Tình Buồn,… nói trên), nhưng một trong những đặc điểm quyến rũ nhất của Lệ Thu là cô không phô trương “nội lực” (điều hiển nhiên thừa mứa trong làn hơi của cô), mà bao giờ cũng mở đầu “êm khẽ dịu dàng” (nhưng dầu là “êm”, “dịu” đến đâu cũng vẫn cho thấy người hát đang “nén” làn hơi sung mãn của mình), rồi “mạnh”, “lớn” dần, để đạt đến “đỉnh”, “bùng vỡ” ở chính xác những “lúc/nơi” cần phải “bùng vỡ” (cứ như thể do một nhạc trưởng điệu nghệ điều khiển vậy [**]), nghe rất “đắt” [***]. Người ta “hạnh phúc khi nghe Lệ Thu hát”.
Lệ Thu, cùng với Thái Thanh và Khánh Ly, đã trở thành biểu tượng, “hiện vật lịch sử” của Sài Gòn tân nhạc một thời; mỗi người trong số họ để lại hàng trăm “tác phẩm” mà họ là “đồng tác giả” (bên cạnh người viết ca khúc), góp phần giúp chúng vượt qua mọi sàng lọc nghiệt ngã của thời gian cũng như của số phận, để mãi ở lại trong lòng những người yêu nhạc Việt.

Chú thích:
[*] Để nghe đầy đủ hơn các ca khúc do Lệ Thu trình bầy, bạn click vào đây. Trang này để dành tặng cho những ai yêu mến tiếng hát Lệ Thu.
[**] Nhân nhắc đến “một nhạc trưởng điệu nghệ…”, tôi chợt liên tưởng và không khỏi ngạc nhiên: So với Thái Thanh và Khánh Ly, một người được đào tạo và hỗ trợ bởi môi trường sáng tác và trình diễn ca nhạc sẵn có của gia đình (nhạc sĩ Phạm Đình Chương kiêm ca sĩ Hoài Bắc, ca sĩ Hoài Trung, ca sĩ Thái Hằng, và nhạc sĩ Phạm Duy) và người kia - bởi chính tác giả các ca khúc cô thể hiện (nhạc sĩ Trịnh Công Sơn), thì Lệ Thu chẳng được đào tạo hay hỗ trợ bởi bất cứ một “thẩm quyền” âm nhạc nào; bởi đâu cô lại có thể đạt đến “đỉnh cao” đối lập với hai “đỉnh cao” kia? Vậy, bên cạnh sự thông minh, “trực cảm thẩm mỹ” của ca sĩ này thật đáng gờm? Điều này có thể thấy rõ nhất khi cô trình bày những “bài thơ phổ nhạc” (khi ấy, ngoài phần “nhạc”, người hát còn phải bảo toàn được giá trị (thi ca) cho phần “thơ” - tất nhiên phải giả định là “nhiệm vụ khó khăn” kia đã được người nhạc sĩ, về phần mình, chu toàn qua công đoạn “phổ nhạc” rồi). Vâng, khi nghe Lệ Thu hát Ngậm Ngùi (Huy Cận/Phạm Duy), Mộ Khúc (Xuân Diệu/Phạm Duy), Kẻ Ở (Quang Dũng/Trầm Tử Thiêng), Tình Khúc Thứ Nhất (Nguyễn Đình Toàn), Mắt Biếc (Cung Tiến), Đôi Bờ (Quang Dũng/Cung Tiến),…, có cảm tưởng cô chính là “thi nhân (chi) tri kỷ”, “nhạc sĩ (chi) tri âm” vậy: Những “Nàng-Thơ-được/bị-hóa-thân” ấy, qua Lệ Thu, lại hoàn nguyên hơi thở và nhan sắc tinh khôi của mình.
[***] Kỹ thuật “nén hơi” - “lấy hơi” - “bùng vỡ” của Lệ Thu có thể ví như cách “tiêu tiền” đích đáng và thông minh của một người thật sự giàu, có văn hóa, bản lĩnh, phong cách riêng của mình; nó rất khác với kiểu các ca sĩ hôm nay, lúc nào - kể cả lúc hát nhạc Trịnh Công Sơn - cũng tranh thủ gào thét quằn quại, chỉ cốt “khoe giọng khỏe”, mà nói cho cùng chả khác gì một “nhà giàu mới phất”, không dằn được thói vung tiền mọi nơi mọi lúc để phô trương?.
Sài Gòn, 12/12/2012
Ấu Lăng
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Biết nói gì về Thái Thanh

Biết nói gì về Thái Thanh?

Không chỉ một người, tiếp cận "hiện tượng" Thái Thanh từ góc độ "tiểu sử" (một tiểu sử "trải dài" vài thời kỳ lịch sử thăng trầm của đất nước, mà chủ yếu là "đất nước" VNCH trước 1975) cùng toàn bộ gia tài đồ sộ (năm bẩy trăm) các ca khúc bà đã hát (từ dân ca, tình ca, tâm ca, bi ca, hoan ca, hùng ca, đạo ca, ...), đã gọi bà là tiếng "khóc cười theo mệnh nước nổi trôi". Cũng không chỉ một người, từ góc độ "thưởng thức ca nhạc", mệnh danh bà là "tiếng hát vượt thời gian", "giọng ca vàng không tuổi" - chính xác là "The Ageless Golden Voice", như được in trên bìa một băng nhạc SG xưa. (Chưa kể đến năm 1998 tôi được nghe một danh xưng nữa dành cho danh ca, từ miệng một giáo viên mới ở Hà Nội vào Sài Gòn: "Ở ngoài ấy người ta gọi Thái Thanh là Tiếng Hát Lên Đồng"!) 
Những danh xưng ấy dành cho Thái Thanh tất nhiên không thuyết phục tất cả mọi người (Việt Nam), mà chỉ đúng đối với những ai yêu mến bà. Vì sao? Giọng hát của nữ danh ca này không dành cho những đôi tai (1) không chuộng các "âm tần cao", và/hay (2) không chuộng các "cường độ biểu cảm - đặc biệt là bi cảm - quá lớn" (gọi nôm na là "quá mùi"). Tuy nhiên con số những kẻ yêu (giọng hát) Thái Thanh là không nhỏ, và trong số ấy cũng không hề thiếu những tên tuổi lớn các nhà làm văn học nghệ thuật (như nhạc sĩ Phạm Đình Chương, nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Cung Tiến, danh cầm Nghiêm Phú Phi, nhà văn kiêm nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Du Tử Lê, nhà thơ Nguyên Sa, ...), cho nên những lời xưng tụng dành cho người ca sĩ ấy không thể "hàm hồ" được; chúng tất yếu phải "chính xác" và "xứng đáng". Trong chủ quan hạn hẹp của người viết bài này, tiếng hát Thái Thanh có thể ví như một "đặc sản", chỉ dành cho những kẻ "sành điệu", đồng thời cũng từ chối quyết liệt những ai không là "đồng điệu". Bạn sẽ nhăn mặt: "Làm gì có một đặc sản như thế"? Xin thưa rằng có: Quả sầu riêng! Đúng vậy, mặc ai có thể "bịt mũi xua tay", vẫn không hiếm người lõi đời "nghiện" nó, xem nó là "số Một", và nó luôn là một trong những loại quả "quí và đắt nhất". Vậy thì, vâng, có nhiều người tôi quen biết "nghiện" Thái Thanh (và nghiện cả sầu riêng)! Thậm chí đối với họ chỉ có mỗi một mình Thái Thanh biết "hát", còn những ca sĩ khác chỉ là "phát âm một cách khổ sở". (Tôi nhớ đến truyện biếm "TIẾNG HÁT" khi nghe ai phát biểu về Thái Thanh tương tự như vậy).
Nói về "ngôi vị" của Thái Thanh trong giới ca sĩ Sài Gòn trước 75 có lẽ không ai chính xác bằng "người trong giới", đặc biệt là một trong các danh ca hàng đầu thủa ấy - Lệ Thu. Năm 1970, nhân chuyến tham dự khai mạc Hội Chợ Osaka, Nhật Bản, Lệ Thu đã trả lời phỏng vấn của báo chí: "Nếu chị Thái Thanh có mặt ở đây và hát, mọi người sẽ cúi đầu khâm phục!". Cũng chính Lệ Thu, trong một ca khúc hải ngoại nhớ về Sài Gòn, đã "sửa" ca từ của một câu khi hát "Đâu rộn ràng tiếng hát Thái Thanh?" Kiêu ngạo và đắt giá nhất trong giới ca sĩ ngày đó, Lệ Thu chỉ chấp nhận "nghiêng đầu" trước Thái Thanh. 
Sự thật thì sao? Mặc dầu Thái Thanh đi trước cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề so với hai diva Lệ Thu và Khánh Ly (cũng như với hầu hết các ca sĩ khác), giọng lẫn cách hát của bà vẫn "trẻ trung", "hiện đại" và "độc đáo" nhất, đặc biệt với những ca khúc này:

1/ CHUYỆN TÌNH BUỒN
2/ Đạo Ca 8 - Giọt Chuông Cam Lộ
3/ Đạo Ca 9 - Chắp Tay Hoa
4/ Đêm mầu hồng
5/ NGÀY XƯA HOÀNG THỊ
6/ Ru Ta Ngậm Ngùi
7/ Tạ Ơn đời
8/ Tiếng Hát Trên Sông
9/ TÌNH SẦU - Du Tử Lê

Tôi vẫn tin là bạn không cần nhìn các ca sĩ (Việt Nam) "làm trò" khi họ hát, mà chỉ cần nghe cách phát âm cũng đủ để phân biệt và xếp hạng họ là loại ca sĩ nào. Nhưng đối với Thái Thanh thì khác, bạn nên ngắm "khẩu hình" của bà lúc bà hát - cái cách bà cấu âm (articulate) từng "âm", từng "chữ" - chuyển động của má, môi, cơ miệng, lưỡi, hàm (răng) trên, hàm (răng) dưới, xương quai hàm; điều đó tác động đến cả cặp lông mày, cũng như vầng trán, và tất nhiên rồi, cả đôi mắt nữa. Mà không chỉ thế, hãy nhìn thanh quản ở cổ, nhìn hai vai, và tay,..., của người hát. Cách "phát âm"/ "cấu âm" của Thái Thanh, bắt đầu từ "bộ máy phát âm", đã tác động hoàn toàn tự nhiên đến các cơ trên mặt, rồi lan tỏa toàn thân. Khi hát, Thái Thanh như "đang bơi", hay "đang bay", (theo nghĩa đen) trong âm nhạc, và toàn bộ ngôn ngữ cơ thể của người ca sĩ ấy toát lên thông điệp này: Được cất tiếng hát, đối với bà, là Tất Cả - là Sự Sống, là Hạnh Phúc vô bờ. 
Để thấy/ hiểu phần nào niềm hạnh phúc của "Người Đàn Bà Hát" Thái Thanh, bạn có thể xem các clip này (và đừng quên rằng lúc ấy bà đã U70):

1/ TÌNH HOÀI HƯƠNG
2/ Cỏ hồng
3/ Ngày Xưa Hoàng Thị
4/ Dòng Sông Xanh
5/ Tình ca
6/ Hoài Cảm

Và nếu muốn nghe đầy đủ hơn các bài hát của Thái Thanh, mời bạn click vào đây. Trang này được mở ra không với mục đích nào khác hơn là để dành tặng cho những ai yêu mến tiếng hát Thái Thanh. (Rất tiếc là chúng tôi không thể gửi tặng nó cho người ca sĩ ấy, vì bà đã vào ở hẳn một Viện Dưỡng Lão (ở Hoa Kỳ) từ mấy năm nay rồi).
Sài Gòn, 2/11/2012
Ấu Lăng
Theo https://www.vanchuongviet.org/

  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...